Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á’ Category

►Đô đốc Hải Quân Mỹ: “Chúng ta đã mất Biển Đông”(23-4-2018)

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2018

Đô Đốc Philip S. Davidson.  Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương (Hình: US Navy Photo

Trung Quốc đã hoàn tất việc biến 7 bãi đá ngầm tại Trường Sa mà họ cướp của Việt Nam năm 1988 thành 7 căn cứ quân sự khổng lồ.

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung bùng phát có thể làm sụp đổ chế độ hiện tại của Trung Quốc (28-3-2018)

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chiến Tranh | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ thay ngoại trưởng có tác động gì đến Biển Đông? (RFA, 16-3-2018)

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2018

Vụ việc Rex Tillerson sẽ bị Trump thay bằng một chính trị gia khác nay xảy ra như tin đã đồn đoán 6 tháng trước đây. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Ai ‘mua sạch’ 1500 bật lửa Zippo khi tàu sân bay Mỹ tới Việt Nam? (VOA, 15-3-2018)

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2018

Thông tin trên các trang “lề trái” không thuộc quản lý của chính quyền Việt Nam viết rằng “tướng lĩnh Việt Nam tranh nhau hốt sạch hộp quẹt Zippo” hay “các ‘đại biểu’ phía Việt Nam lên thăm và mua sạch rồi bán lại kiếm lời”.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Tàu sân bay Carl Vinson tới VN: Khi Hạm đội 3 và Hạm đội 7 phối hợp (7-3-2018)

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Việt Nam: Từ ‘mũi dùi của quốc tế cộng sản’ trở thành ‘lá chắn chống bành trướng TQ’

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2018

Quá cay đắng cho thân phận tôi đòi của CSBV. Từ một tên xung kích: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc” Lê Duẩn, 1965. Nay, đảng lại trở thành lá chắn ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á. Thế là sinh mạng của hơn 3 triệu bộ đội đã chết trong chiến tranh VN kể như bỏ.

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►VN muốn trấn an TQ về chuyến thăm của USS Carl Vinson (4-3-2018) — Mỏ Cá Voi Xanh

Posted by hoangtran204 trên 05/03/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Mỹ lơ là “mất kiểm soát” Trung Quốc từ khi nào? —TT Bill Clinton, và George W. Bush đã bảo lãnh cho Trung Quốc trỗi dậy (26-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Nước Mỹ bừng tỉnh cơn mê vì những kỳ vọng vào Trung Quốc sẽ trở thành một nước dân chủ —Mỹ nhận thức được mối đe dọa từ Trung Quốc từ lâu, nhưng phản ứng rất chậm (23-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2018

Trung Quốc đã không trở thành một nước dân chủ tự do mà trở thành một nước độc tài, đi xâm lăng các nước nhỏ.

Tất cả những cảnh báo cùng với dự đoán của các trí thức nổi tiếng như Robert Kagan, Aaron Friedberg và John Mearsheimer từ những năm 1990 đều cho rằng, sự trỗi dậy của Trung Quốc chắc chắn gây rắc rối.

Vào đầu năm 2009, TT Obama đã bắt đầu chuyển hướng, nhưng không có phản ứng mạnh mẽ lắm với TQ. Có lẻ vì nước Mỹ đang ở trong cơn khủng hoảng tài chính lớn nhất kể từ 1929-1933.

Chiến lược Xoay Trục về Châu Á của Mỹ từ 2009 là đi theo lời khuyến cáo trong bài Châu Á Đứng Dậy  của Aaron Friedberg 2008,  và các bài viết khác của Robert Kagan, và John Mearsheimer.

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Exxon Mobil ký thỏa thuận khí đốt với Việt Nam – Cá Voi Xanh (lot 118)- Quãng Ngãi

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2017

(Trần Hoàng) Đây là cách Mỹ trở lại Việt Nam. Khả năng Mỹ thuê Cảng Cam Ranh sẽ được công bố.

Hợp tác khai thác khí đốt trị giá 20 tỷ USD, sẽ đặt xong đường ống dẫn khí 2023. Ống dẫn khí nằm dưới biển, cách Quãng Ngãi 77 km, chạy vào bờ biển VN.

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►BắcHàn diễn binh nói “sẵn sàng tấn công hạt nhân” (tin 15-4-2017)

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2017

Bắc Hàn diễn binh 15-4 khoe vũ khí mới. Mỹ muốn TQ gây áp lực và khuyên lơn Kim Jong Un ngưng thử nghiệm vũ khí.

Bắc Hàn nói ‘sẵn sàng tấn công hạt nhân’

15-4-2017

BBC Tiếng Việt

15-4-2017

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Sau khi Trump lên tiếng hăm dọa, Tập tức tốc điện đàm nói với Trump rằng: Tập muốn có giải pháp hòa bình đối với Bắc Triều Tiên

Posted by hoangtran204 trên 13/04/2017

“Mềm nắn, rắng buông” đó là chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Tập điện đàm nói với Trump rằng: Tập muốn có giải pháp hòa bình đối với Bắc Triều Tiên

Fox News

Trần Hoàng (dịch)

12-4-2017

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chiến Lược doi pho Trung Quoc, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Trump trao Biển Đông cho Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2017

Thương lượng: sau cú dạo đầu của Trump (vụ TQ tịch thu tàu không người lái của Hải quân Mỹ; và vụ Rex Tillerson tuyên bố (giả vờ) sẽ không cho TQ tiếp cận các đảo ở Biển Đông…) ra vẻ như Trump sẽ chơi rắn với TQ và Mỹ sẽ không nhân nhượng với TQ như TT Obama đã làm. Nội nhiêu đó đã làm nhiều người VN và nhiều  quốc gia Á châu tỏ vẻ vui mừng tưởng rằng từ nay sẽ có một TT đảng Cộng Hòa Mỹ mạnh mẻ, có khả năng làm TQ chùn tay thâu tóm Biển Đông…

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Tri Hoa Ky, Chinh tri Trung Quoc, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Chuyện làm ăn mờ ám giữa gia đình Trump với Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2017

Chuyện làm ăn mờ ám giữa gia đình Trump với Trung Quốc

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Mỹ, Nhan Vat Chinh tri, Trung Quốc | Leave a Comment »

►Chính sách của 8 đời Tổng thống Mỹ: chơi với Trung Cộng, bao vây Nga đã chấm dứt; Bill Clinton nâng Tàu Cộng – Donald Trump trảm Tàu Cộng

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Sau khi bỏ VNCH 1973, 8 đời tổng thống Mỹ chơi với Tàu, bao vây Liên Xô- Nga.

Thập niên 1980s, Mỹ kêu gọi Châu âu để cùng nhau đầu tư vào Trung Cộng 500 tỷ đô la. Đài Loan, Hồng Kong (về sau) đầu tư vào Tàu cộng nhiều nhất. Đặng Tiểu Bình mở cửa tối đa, trong khi Tàu sao chép kỹ thuật, làm hàng giả, hàng nhái, đến mức không ai kiểm soát được.  Các nước Mỹ, phương tây đem kỹ thuật dây chuyền xe hơi, cơ khí, điện tử, computer, công nghệ hoá học, dược phẩm… thuê công nhân Tàu cộng làm việc mức lương 50 xu/ giờ (1980s) tăng dần đến 5 đô la một giờ như hiện nay thì bỏ chạy. Đức rút về, thuê mướn dân Ba Lan, và các nước đông âu làm hàng xe và các hàng hoá dân dụng, doanh nghiệp Mỹ rút dần hãng xưởng về mua đất Texas để sản xuất hàng hoá trong 2 năm sau của nhiệm kỳ 2 của TT Obama.

Bill Clinton nâng Tàu Cộng – Donald Trump trảm Tàu Cộng

7-2-2017

 
Ngọc Ẩn (Danlambao) – Vào ngày 3 tháng 8 năm 2000, TT Bill Clinton đọc diễn văn ở đại học John Hopkins kêu gọi quốc hội Hoa Kỳ bỏ phiếu chuẩn thuận China vào W.T.O và hưởng mức thuế từ zero đến 3% để nhập cảng hàng hóa vào Mỹ.

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Bộ trưởng Quốc phòng Mattis nói Mỹ chưa cần triển khai quân sự trên Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2017

Trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, James Mattis phải phát biểu như thế. Ông không thể nói thật, hay công bố các cuộc chuyển quân sắp xảy ra. Nhưng chắc chắn hiện nay Mỹ đang nhanh chóng chuyển thêm lực lượng hải quân và không quân qua vùng này trong năm 2017 để đối phố với TQ.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Ứng viên Ngoại trưởng Mỹ, Rex Tillerson tuyên bố cứng rắn: một, Trung Quốc phải dừng các hoạt động xây đảo và, hai là Trung Quốc không được phép tiếp cận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi sẽ ngăn chặn các hoạt động này của TQ

Posted by hoangtran204 trên 12/01/2017

Điều trần trước Tiểu bang Đối Ngoại Thượng viện Mỹ, Rex Tillerson đã tuyên bố dứt khoát và mạnh mẻ rằng: “Tôi sẽ ngăn chặn không cho Trung Quốc tiếp cận các quần đảo trên Biển Đông.”

“I would block China’s access to islands on China

theguardian.com/video/2017

Rex Tillerson tuyên bố cứng rắn: một, Trung Quốc phải dừng các hoạt động xây đảo và, hai là Trung Quốc không được phép tiếp cận những đảo (nhân tạo) này ở Biển Đông”.

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

► Ông Đinh Thế Huynh bắt đầu chuyến thăm Hoa Kỳ từ 23 đến 30-10-2016

Posted by hoangtran204 trên 26/10/2016

Người Việt

25-10-2016

Ông Đinh Thế Huynh (trái) và Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry tại cuộc họp báo sáng 25 Tháng Mười. (Hình: Bộ Ngoại Giao Mỹ)

Ông Đinh Thế Huynh (trái) và Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry tại cuộc họp báo sáng 25 Tháng Mười. (Hình: Bộ Ngoại Giao Mỹ)

WASHINGTON, DC (NV) – Dù đến Mỹ từ hôm Chủ Nhật 23 tháng Mười, nhưng sáng Thứ Ba, 25 Tháng Mười ông Đinh Thế Huynh, ủy viên Bộ Chính Trị, thường trực ban bí thư đảng CSVN, mới chính thức xuất hiện tại buổi đón tiếp tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ do Ngoại trưởng John Kerry chủ trì.

Tại cuộc họp báo kéo dài hơn 7 phút, cả hai ông John Kerry và Đinh Thế Huynh đã có bài phát biểu tuy mang tính xã giao nhưng cùng nhấn mạnh đến việc làm ‘sâu sắc thêm’ mối bang giao giữa hai nước, tiến về phía trước, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị, và sự phát triển chiến lược của nhau.

Trong bài phát biểu của mình, Ngoại trưởng John Kerry điểm lại lịch sử quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, nhắc đến việc Việt Nam nay có nền kinh tế theo tư bản chủ nghĩa, vấn đề tôn trọng hòa bình và các quy tắc của luật pháp ở biển Đông. Ông Kerry cũng không quên nhắc đến vấn đề tôn trọng nhân quyền và tự do của người dân Việt Nam, quyền của người lao động và cam kết về việc Hoa Kỳ tham gia TPP,…

Về phần mình, ông Đinh Thế Huynh coi ngoại trưởng John Kerry ‘như một người bạn’ của Việt Nam đồng thời nói rằng hai bên sẽ có cuộc hội đàm rất thẳng thắn về mối quan hệ giữa hai nước. Vẫn theo lời ông Huynh, là cả Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ thảo luận về cách thức để thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện giữa hai quốc gia và thắt chặt mối quan hệ ‘vì lợi ích của nhân dân hai nước vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.’

Đây là chuyến thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên của ông Đinh Thế Huynh và theo dự trù sẽ kéo dài 7 ngày. Ngoài thủ đô Washington DC ông Huynh sẽ đến New York và Boston với nhiều cuộc họp và gặp gỡ khác nhau.

* Chiến thuật ‘đu dây’

Trước khi đến Hoa Kỳ, ông Đinh Thế Huynh, nhân vật được xem là số hai trong đảng CSVN sau tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã có chuyến thăm Bắc Kinh 3 ngày kéo dài từ 19 đến 21 Tháng Mười, 2016.

Chiến thuật ‘đu dây’ thăm Trung Quốc trước khi đến Hoa Kỳ luôn được các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN áp dụng từ trước đến nay nhằm cân bằng mối quan hệ với hai cường quốc mà Việt Nam xem trọng nhất hiện nay.

Tuy nhiên với chuyến thăm này của ông Huynh, đảng CSVN, đặc biệt là ông Nguyễn Phú Trọng, muốn gởi ra một thông điệp quan trọng, mà theo bình luận của giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng là mang tính ‘quyết định’ trong quan hệ giữa Washington và Hà Nội.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc đại học George Mason University ở Arlington, Virginia, và cũng là một học giả của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS), Washington, DC, có bài viết trên trang web của CSIS hôm 21 Tháng Mười, nhận định, ông Huynh ‘là lãnh đạo cao thứ nhì trong đảng, ông là một ứng cử viên có thể thay thế Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi ông này quyết định nghỉ hưu trong hai năm, theo như dự trù.’

Vì thế, ông Huynh được coi là người “có đủ tư cách” nói chuyện với Washington, theo Giáo Sư Hùng.

Trong nhiều năm, thủ tục ngoại giao của Mỹ không bao giờ tiếp lãnh đạo đảng trong một hệ thống chính trị “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý,” vị giáo sư viết. Sự kiện mà Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm Washington, DC, cách đây hai năm đã phá bỏ thủ tục này.

Cũng trong chuyến thăm này, theo Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng, ông Trọng đưa ra hai tuyên bố quan trọng: Việt Nam sẽ làm mọi cách có thể để tham gia Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Hoa Kỳ chủ xướng và Mỹ là “lãnh vực ngoại giao quan trọng nhất trong chính sách ngoại giao của Việt Nam.”

Vẫn theo giáo sư, chuyến thăm của ông Huynh cũng có thể được xem như một phần trong chính sách “đu dây” của Việt Nam giữa các cường quốc. Là một quốc gia nhỏ nằm cạnh ông hàng xóm khổng lồ, với những tham vọng thế giới và khu vực, Việt Nam phải hòa giải với Trung Quốc, nhưng không tới mức làm mất sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền. Thành ra, chuyện Hà Nội tranh thủ xây dựng quan hệ với các cường quốc có khả năng và ý muốn để cân bằng với Trung Quốc là điều bình thường. (KN)

___________

Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ Harry Harris thăm Việt Nam

21:58 ngày 27/10/2016

Trong chuyến thăm Việt Nam, Đô đốc Harry B. Harris, Jr., Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ, tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương và nâng cao năng lực của Việt Nam, đặc biệt về an ninh hàng hải và thực thi pháp luật.


Trung tướng Phan Văn Giang (trái) và Đô đốc Harry B. Harris trong cuộc gặp tại Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Trung tướng Phan Văn Giang (trái) và Đô đốc Harry B. Harris trong cuộc gặp tại Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Trong chuyến thăm Hà Nội hôm 26.10, Đô đốc Harris đã gặp mặt Trung tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông Trần Đắc Lợi, Phó trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, và Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung.

Trong các cuộc gặp, Đô đốc Harris tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc tăng cường quan hệ song phương và nâng cao khả năng và năng lực của Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực an ninh hàng hải và thực thi pháp luật.

Đô đốc Harris đề cao hoạt động hợp tác quân sự gần đây giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, và hỗ trợ hoạt động gìn giữ hòa bình đa quốc gia.

Đô đốc Harris cũng đề cao hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong việc tiếp tục xử lý các vấn đề chiến tranh để lại, trong đó có tìm kiếm quân nhân mất tích và nỗ lực giảm các mối đe dọa từ vật liệu chưa nổ.

Trong thời gian còn lại của chuyến thăm, Đô đốc Harris sẽ tới Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và khánh thành một cơ sở bảo dưỡng và nâng hạ tàu của Cảnh sát Biển Việt Nam tại Bộ Tư lệnh vùng cảnh sát biển 2, tỉnh Quảng Nam, được xây dựng với sự hợp tác của Hoa Kỳ.

Hợp tác quân sự Hoa Kỳ – Việt Nam trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trong đó đáng chú ý là một loạt chương trình đối tác và hoạt động giao lưu hải quân.

* Chương trình Đối tác Thái Bình Dương là sứ mệnh sẵn sàng cho công tác cứu trợ thảm họa đa phương thường niên lớn nhất được tiến hành tại khu vực Ấn Độ – Châu Á – Thái Bình Dương. Chuyến thăm của tàu USNS Mercy tới Việt Nam đã ghi nhận hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nâng cao thông qua hoạt động diễn tập tìm kiếm và cứu hộ trên sông Hàn, Đà Nẵng.

Tàu Hải quân Nhân dân Việt Nam Khánh Hòa (K-123) và thủy thủ đoàn của tàu JDS Shimokita cùng tham gia hoạt động này. Chương trình Đối tác Thái Bình Dương nhấn mạnh mối quan hệ đang ngày càng trở nên sâu sắc giữa Hoa Kỳ, các quốc gia đối tác và Việt Nam.

* Hoạt động Giao lưu Hải quân (NEA) Việt Nam là một chương trình giao lưu hải quân song phương kéo dài nhiều ngày trên đất liền cũng như trên biển. NEA 2016 tập trung vào các hoạt động phi tác chiến và bao gồm các buổi thảo luận về quân y và luật hàng hải, các buổi trao đổi chuyên môn về ngành hàng hải, công tác y tế và kiểm soát thiệt hại trên tàu, và các hoạt động phục vụ cộng đồng trong đó có nhiều buổi biểu diễn của ban nhạc rock Orient Express của Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ.

* Chương trình Thiên thần Thái Bình Dương (Pacific Angel) hỗ trợ các nỗ lực xây dựng năng lực để đảm bảo quân đội trong khu vực sẵn sàng làm việc cùng nhau nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng nhân đạo trong trường hợp xảy ra thiên tai.

Trong chương trình Thiên thần Thái Bình Dương 16.2, các chuyên gia y tế Hoa Kỳ, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Úc đã tiến hành trợ giúp nhân đạo/các hoạt động dân sự-quân sự nhân đạo thông qua hoạt động chung để đưa chăm sóc y tế tới Kampot, Campuchia.

* Hoạt động chung tìm kiếm quân nhân: Từ năm 1985, thông qua Cơ quan Tìm kiếm Tù binh và Người mất tích (POW/MIA) Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và các cơ quan tiền nhiệm, và Văn phòng Hoa Kỳ Tìm kiếm Người Mỹ Mất tích tại Việt Nam, hoạt động hợp tác tìm kiếm quân nhân chung giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã giúp tìm kiếm hơn 700 người Mỹ từ Việt Nam và hơn 1.000 người tính chung tại Đông Nam Á.

* Làm sạch Dioxin: Việt Nam và Hoa Kỳ phối hợp tổ chức lễ khởi động xử lý nhiệt giai đoạn 2 và cũng là giai đoạn xử lý cuối cùng tại sân bay Đà Nẵng vào ngày 18.10. Giai đoạn 2 sẽ xử lý khoảng 45.000 mét khối đất và bùn ô nhiễm dioxin. Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5, Tổng thống Obama cam kết sẽ có những đóng góp ý nghĩa cho công tác làm sạch dioxin tại sân bay Biên Hòa.

* Chương trình Hành động Bom mìn Nhân đạo: Với các chương trình rộng khắp trên cả nước nhằm hỗ trợ một loạt hoạt động từ trợ giúp nạn nhân, giáo dục về nguy cơ, nâng cao năng lực, cho tới khảo sát và tháo dỡ bom mìn chưa phát nổ, Hoa Kỳ là nhà tài trợ riêng lẻ lớn nhất nhằm giải quyết các mối đe dọa từ vật liệu chưa phát nổ ở Việt Nam và kể từ năm 1993 đã đóng góp hơn 92 triệu USD.

Theo V.A

Lao động

 

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Chiến hạm Mỹ lại tuần tra Hoàng Sa để thách thức Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2016

Phát ngôn viên Hải quân Hoa Kỳ cho biết đã có 700 chuyến tuần tra trong năm vừa qua. (2015)

Hoàng Sa: Chiến hạm Mỹ lại tuần tra để thách thức Trung Quốc

RFI

Trọng Nghĩa

22-10-2016

Khu trục hạm có trang bị tên lửa dẫn đường USS Decatur (DDG 73) hoạt động tại Biển Đông. Ảnh chụp ngày 13/10/2016. REUTERS/Courtesy Diana Quinlan/U.S. Navy

Khu trục hạm có trang bị tên lửa dẫn đường USS Decatur (DDG 73) hoạt động tại Biển Đông. Ảnh chụp ngày 13/10/2016. REUTERS/Courtesy Diana Quinlan/U.S. Navy

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►Trump, Clinton và chính sách đối ngoại của họ ở các nước Châu Á

Posted by hoangtran204 trên 16/10/2016

Trump, Clinton và Châu Á

Ngô Nhân Dụng

Ngô Nhân Dụng

Nguoi-viet.com

Trong thời Chiến Tranh Lạnh, mỗi lần dân Mỹ đi bầu tổng thống người ta lại chú ý coi Cộng Sản Liên Xô sẽ “ủng hộ ứng cử viên nào!”

Năm 1968, ứng cử viên Richard Nixon đã sai Henry Kissinger đến gặp Anatoly Dobrynin, đại sứ Nga ở Washington để yêu cầu chính phủ Nga “trung lập,” đừng làm gì gây ảnh hưởng trên cuộc tranh cử. Ðể làm quà cho Dobrynin, Kissinger báo trước nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam, dù sau đó Cộng Sản có thắng cũng chấp nhận.

Năm nay, chính phủ Nga có vẻ muốn gây ảnh hưởng trong cuộc bầu cử. Một cố vấn của Vladimir Putin mới nói với phóng viên đài CNN rằng nếu bà Hillary Clinton thắng, “sẽ có chiến tranh!” Trước đó, Nga đã đưa hỏa tiễn Iskander-M đến aliningrad, phía Bắc Ba Lan và Lithuania; có khả năng gắn bom nguyên tử bắn tới các thành phố lớn ở Âu châu.

Trong khi đó, đài truyền hình NTV của chính phủ Nga bảo dân chúng hãy lo tìm chỗ tránh bom ngay gần nhà mình nhất, nếu cần thì có thể chạy tới ngay.

Các nước Châu Á, ngay cả Trung Cộng, không nước nào có vẻ muốn gây ảnh hưởng trên tâm lý cử tri Mỹ năm nay.

Chính quyền Bắc Kinh tất nhiên giữ miệng kín bưng; nhưng ngay cả dư luận dân chúng nước Tàu cũng phân vân trước cuộc tranh cử ở Mỹ. Vì cả giữa hai ứng cử viên đều chống Trung Cộng, họ không biết ai đắc cử thì lợi cho mình hơn!

Dân lên mạng internet ở Trung Quốc tỏ ra rất vui khi thấy trong cuộc tranh luận lần thứ nhì giữa Donald Trump và Hillary Clinton, cái tên “China” chỉ được nói tới bốn lần – cuộc tranh luận đầu nói 12 lần. Bớt nói tới, tức là bớt chửi!

Trong số các đồng minh của Mỹ ở Châu Á, dân Nhật Bản chú ý đến vụ bầu cử ở Mỹ hơn. Và họ rất lo ngại về ông Donald Trump. Trong khi tranh cử sơ bộ, ông Trump đả kích nước Nhật nhiều lần về “tội” bán quá nhiều hàng sang Mỹ và mua quá ít. Trong cuộc tranh luận đầu tiên, ông Trump lại nhắc đến Nhật Bản khi nói đến chính sách ngoại giao của ông. Ông chủ trương các nước đồng minh không trả tiền thì không được bảo vệ. Ðiều này ông đã từng nói, dọa sẽ không bảo vệ các nước miền Baltic nếu quân Nga tấn công, vì các nước này không đóng đủ tiền cho minh ước NATO. Ông Trump cũng từng đề nghị Nhật Bản, Nam Hàn, phải làm bom nguyên tử để tự bảo vệ, không nên để dân Mỹ phải chịu! Trong lần tranh luận đầu, ông Trump nói, “Chúng ta không thể bảo vệ Nhật Bản, một quái vật khổng lồ (a behemoth), đang bán cho chúng ta hàng triệu chiếc xe hơi!” Nghe những lời tuyên bố đó, dân Nhật nghiêng về phía bà Clinton cũng dễ hiểu.

Một nước nhỏ nhất Châu Á lại theo dõi cuộc tranh cử ở Mỹ rất kỹ là Singapore. Ðiều khiến chính quyền và năm triệu dân chúng hòn đảo này lo lắng là số phận thỏa hiệp Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partnership). Ông Trump chống TPP; cũng như chống các thỏa ước tự do mậu dịch khác. Bà Clinton cổ động cho TPP khi còn làm ngoại trưởng, nay cũng chống vì đa số đảng Dân Chủ vẫn chống. Nếu dân Singapore lo lắng tương lai TPP thì chắc dân Nhật, Malaysia, Brunei, Úc, Tân Tây Lan và Việt Nam, cũng lo như vậy.

Nhưng điều khiến dân Singapore lo lắng hơn cả vụ TPP, là chính sách Mỹ sẽ thay đổi ra sao trong việc đối đầu với Trung Cộng ở vùng biển Ðông Nam Á, nếu ông Trump đắc cử? Nước Mỹ hiện sử dụng một quân cảng ở Singapore, và quốc gia nhỏ xíu này được chính quyền Obama đặt lên tầm quan trọng ngang với Úc và Nhật Bản, một điều khiến Bắc Kinh đã tỏ ra tức giận. Nếu ông Trump nhìn các vấn đề ngoại giao theo lối tính toán lời lỗ khi kinh doanh, thì ông có thấy Singapore đáng bảo vệ hay không? Ông Miles Yu, giáo sư về lịch sử ngoại giao tại Học Viện Hải Quân Mỹ (US Naval Academy) ở Annapolis, Maryland, cho rằng bà Clinton sẽ gây khó khăn cho Bắc Kinh hơn ông Trump.

Nhưng liệu giới lãnh đạo Bắc Kinh có muốn ông Donald Trump lên làm tổng thống Mỹ hay không? Không ai biết. Họ ghét bà Hillary Clinton, điều này chắc chắn. Nhưng họ biết rõ về bà cựu ngoại trưởng Mỹ, biết bà muốn gì và suy nghĩ thế nào, sau 21 năm nằm trong chính quyền và Quốc Hội Mỹ. Có thể nói bà Clinton là ứng cử viên tổng thống được quốc tế biết rõ nhiều nhất, so với các cựu tổng thống Ronald Reagan, Bill Clinton và George W. Bush, cũng như Barack Obama, trc khi họ nhậm chức. Còn Donald Trump, ông hoàn toàn là một ẩn số. Nếu bà Clinton thất cử, nhiều người ở Bắc Kinh sẽ mở rượu mừng, nhưng sau đó họ sẽ bù đầu tìm hiểu xem ông Trump sắp làm gì!

Năm 2013, sau khi bà Clinton rời chức ngoại trưởng, tạp chí Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) của Trung Cộng đã viết rằng bà là “nhà chính trị Mỹ đáng ghét nhất;” đối với các công dân mạng ở Trung Quốc. Năm 1995, với tư cách đệ nhất phu nhân Mỹ đến dự hội nghị thế giới về phụ nữ tại Bắc Kinh, bà Clinton đã lớn tiếng đả kích chính quyền Trung Cộng xâm phạm nhân quyền; sau đó báo và đài của họ không còn loan báo bất cứ tin tức nào về bà nữa. Trong một thông điệp bị tiết lộ vào Tháng Chín năm 2015, bà Clinton đã chỉ trích chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là “vô liêm sỉ” (shameless), vì trong khi ông ta tổ chức một cuộc tiếp tân về “quyền tự do của phụ nữ” tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, thì chính quyền Trung Cộng đang bắt giữ năm phụ nữ Trung Hoa biểu tình ôn hòa tại Bắc Kinh, chỉ để biểu dương cùng những quyền tự do đó!

Năm 2008, bà Clinton đang giành nhau với ông Obama trong đảng Dân Chủ, bà đã đề nghị Tổng Thống George W. Bush hãy ra lệnh tẩy chay Thế Vận Hội ở Bắc Kinh.

Năm 2010, bà Clinton là chính khách Mỹ đầu tiên lên tiếng, ngay tại Hà Nội, rằng quyền tự do hàng hải trong vùng Biển Ðông là “quyền lợi quốc gia” của chính phủ Mỹ. Cộng Sản Trung Hoa coi bà là người chủ chốt tạo ra chính sách “chuyển trục sang Châu Á” của chính quyền Obama.

Trong số những emails mới bị WikiLeaks tiết lộ, có một bài diễn văn bà Clinton đọc cho các nhân viên ngân hàng Mỹ, do Goldman Sachs tổ chức vào năm 2013, trong đó bà kể những cuộc đối đầu với giới lãnh đạo Trung Cộng trong thời gian còn làm ngoại trưởng. Bà từng nói với các viên chức ngoại giao Trung Cộng rằng, nếu Bắc Kinh đòi làm chủ cả vùng Biển Ðông Nam Á, thì chính phủ Mỹ cũng có thể tuyên bố cả Thái Bình Dương là “Biển của nước Mỹ!” Bắc Kinh chỉ dựa trên những di vật như đồ gốm, thuyền đánh cá từ thời xa xưa để lại, trong khi nước Mỹ có chứng cớ là những chiến dịch quân sự thời Thế Chiến Thứ Hai: “Chúng tôi đã giải phóng Thái Bình Dương! Chúng tôi đã bảo vệ Thái Bình Dương! Chúng tôi có thể gọi đó là Biển Hoa Kỳ, từ bở biển California sang tận Philippines!” Khi nhà ngoại giao Trung Cộng đáp lại rằng nước Tàu có thể đòi Hawaii thuộc về mình, bà Clinton trả lời: “Xin lỗi, Nước Mỹ đã mua Hawaii! Có giấy tờ làm chứng!”

Trong bài diễn văn (có trả tiền) tại hãng Goldman Sachs, bà Clinton nói với cử tọa rằng Trung Cộng muốn làm chủ cả vùng biển Ðông Nam Á. Bà nói người Trung Hoa tha hồ đòi chủ quyền, đó là quyền của họ, nhưng nước Mỹ phải đẩy lùi họ. Nếu không bị ai đẩy lùi, Trung Cộng sẽ có thể “thắt họng” con đường chuyên chở 48% hàng hóa trao đổi trên thế giới, cũng như “chặn họng” các nước chung quanh vùng này.

Bà Clinton cũng tiết lộ rằng trong giới lãnh đạo nước Trung Hoa, các tướng lãnh là những người ủng hộ thái độ gây hấn của Bắc Hàn mạnh nhất, chính họ ảnh hưởng trên cả đảng Cộng Sản. Bà cho biết đã nói thẳng với Bắc Kinh rằng nếu họ không ngăn cản Bắc Hàn, thì nước Mỹ sẽ không thể bất động. Chính phủ Mỹ sẽ “đặt chung quanh nước Tàu một hàng rào hỏa tiễn phòng thủ.” Và “sẽ đưa nhiều chiến hạm tới vùng biển chung quanh.” Lời đe dọa này đã thể hiện trong năm 2016, khi Nam Hàn đón nhận hệ thống phòng thủ không phận (THAAD) và các cuộc tập trận chung với Nhật Bản và Nam Hàn.

Với tất cả những gì Bắc Kinh biết về thái độ của Hillary Clinton trong quá khứ, họ biết bà sẽ là một tổng thống Mỹ cứng rắn đối với Trung Cộng.

Nhưng không chắc họ sẽ vui mừng nếu ông Donald Trump đắc cử. Bởi vì họ không biết thực sự ông ta chủ trương thế nào. Hầu hết những lời ông chi trích Bắc Kinh đều dựa trên chủ trương chống tự do mậu dịch.

Ông Trump đã tỏ ra ngưỡng mộ Tổng Thống Nga Putin, coi là một nhà lãnh đạo “mạnh” hơn ông Obama. Liệu ông ta có khen tài ông Tập Cận Bình vì ông này cũng thâu tóm gần hết quyền hành vào trong tay sau ba năm tại chức hay không? Tập Cận Bình không thể đánh cá “ủng hộ” ông Trump được, vì đó là một con người khó đoán trước. Vì thế Bắc Kinh sẽ không muốn nói và làm gì ảnh hưởng tới cuộc tranh cử ở Mỹ. Vladimir Putin thì khác hẳn, ông muốn nhúng ta vào tất cả mọi nơi trên thế giới, nếu có thể!

https://anhbasam.wordpress.com/page/3/

___________

Châu Á Đứng Dậy (2008)

Sau khi TT Obama đắc cử, Aaron I. Friedberg đã  viết bài «    và  » đăng trong tạp chí Foreign Affair tháng 1 và 2/ 2009. (Trần Hoàng dịch)

Giáo sư  Aaron I. Friedberg đã  khuyến cáo  Mỹ nên quay trở lại Châu Á. Trong nhiệm kỳ đầu 2008-2012, TT Obama đã thực hiện đúng bài bản như trong bài Châu Á Đứng Dậy vạch ra.

Trong nhiệm kỳ 2 của TT Obama 2012-2016 mối quan hệ giữa Mỹ và Trung quốc có thay đổi gì như bài bình luận “Mỹ và Trung Quốc trong thế cờ mới” của tác giả Lữ Giang không?

Chắc chắn là KHÔNG.  Mời các bạn đọc các bài tiếp theo trong loạt bài này trong các ngày tới.

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►John Kerry: không còn dấu vết của cộng sản nữa, nói theo lý thuyết và kế hoạch kinh tế, “Chỉ có chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt” ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 14/10/2016

John Kerry: “Chỉ có chủ nghĩa tư bản” ở Việt Nam

BBC

13-10-2016

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry khi thăm Việt Nam ngày 7/8/2015. Ảnh: Getty Image

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry khi thăm Việt Nam ngày 7/8/2015. Ảnh: Getty Images

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói chỉ còn “chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt” tại Việt Nam.

Ông John Kerry đề cập Việt Nam khi phát biểu tại một hội thảo về internet, Virtuous Circle, ở California hôm 10/10.

“Chúng tôi đã mở cửa Cuba. Một trong những yếu tố trong ngoại giao của chúng tôi khi mở cửa Cuba là gia tăng sự tiếp cận internet cho người dân Cuba. Điều đó đang xảy ra. Không nhanh như chúng tôi muốn, nhưng đang xảy ra.”

“Bạn đến một nơi như Việt Nam. Tôi đã từng chiến đấu tại Việt Nam, chúng tôi được cho là đến để ngăn cản nơi này biến thành cộng sản. Chúng ta mất hơn 58.000 sinh mạng để làm điều đó trong 10 năm, cuộc chiến dài nhất lịch sử Hoa Kỳ. Và các bạn đoán được không? Cách chúng tôi làm là mở cửa và bình thường hóa quan hệ, mà John McCain và tôi đã dẫn đầu cùng nhau, dỡ bỏ cấm vận để có kinh doanh. Và nay không còn dấu vết của “chủ nghĩa cộng sản”, nói theo nghĩa là kế hoạch và lý thuyết kinh tế.”

“Ở đó là chủ nghĩa tư bản cuồng nhiệt, có internet mà người dân được tiếp cận. Đó vẫn là một quốc gia độc đảng độc đoán, và không may là vẫn còn vi phạm nhân quyền, nhiều thứ khác, nhưng theo thời gian, đất nước này đang thay đổi.”

Thay đổi đang diễn ra”

Ông John Kerry đã nhiều lần nói điều tương tự về Việt Nam trong một số sự kiện gần đây.

Hôm 4/10, khi thăm Brussels, Bỉ, Ngoại trưởng Mỹ nhắc lại quan điểm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ “nâng các tiêu chuẩn” tại Việt Nam.

Ông nói tiếp: “Tôi vừa quay lại đó với Tổng thống Mỹ loan báo việc mở Đại học Fulbright, hoàn toàn tự do về học thuật và sẽ đào tạo thế hệ lãnh đạo kế tiếp của Việt Nam tại một đất nước hoàn toàn tư bản ngày hôm nay, không phải cộng sản.”

“Hiện nay, Cộng sản chỉ còn trong lý thuyết kinh tế, và bạn không thấy một chút hơi thở nào của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.”

“Bạn thấy ở VN là chủ nghĩa độc đoán, một chính phủ độc đảng, và dĩ nhiên đó không phải là lựa chọn của chúng tôi.”

“Nhưng thay đổi đang diễn ra. Và lợi ích của những thỏa thuận thương mại này là chúng không đem lại cuộc đua xuống dưới, nếu được soạn thảo đàng hoàng, mà đem lại cuộc đua lên đỉnh cao.”

‘Tự hào’

Hôm 29/9, phát biểu tại Washington DC, Ngoại trưởng Mỹ lại nhắc đến ví dụ Việt Nam, rằng những gì đang diễn ra tại đây là “không thể tin được”.

“Hiện nay nhà cao tầng khắp mọi nơi, giao thông, người dân mặc quần jean xanh, đồ phương Tây, mong muốn giao lưu với thế giới. Lối sống thay đổi nhanh, có tầng lớp trung lưu, cơ hội đầu tư.”

Ông John Kerry nhấn mạnh “chuyển hóa thông qua ngoại giao”.

“Nếu anh tiến hành chiến tranh, thì phải đánh nhau cho đúng, và sau chiến tranh cũng phải làm cho đúng.”

“Tôi nghĩ chúng ta đã làm sai phần đầu, và đang làm đúng phần sau, và tôi rất tự hào về điều đó.”

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Mỹ và Liên Hiệp Âu Châu cảnh báo TQ không khiêu khích sau phán quyết về Biển Đông ngày 7-7-2016

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2016

Mỹ cảnh báo TQ không khiêu khích sau phán quyết về Biển Đông

Zing

Minh Anh

23-6-2016

PCA tổ chức phiên điều trần kín ở Hà Lan để nghe Philippines giải trình các luận điểm quanh vụ kiện Trung Quốc từ ngày 7 tới 13/7/2015. Ảnh: PCA

PCA tổ chức phiên điều trần kín ở Hà Lan để nghe Philippines giải trình các luận điểm quanh vụ kiện Trung Quốc từ ngày 7 tới 13/7/2015. Ảnh: PCA

Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 22/6 cảnh báo Trung Quốc không nên “hành động khiêu khích thêm” sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực ra phán quyết về vụ kiện ở Biển Đông.

Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) dự kiến sẽ ra phán quyết về vụ kiện do Philippines khởi xướng với những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Bà Colin Willet, Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á, nói Washington đang làm việc với các đồng minh và đối tác trong khu vực để bảo đảm một lập trường thống nhất.

“Mỹ có rất nhiều kế hoạch để đối phó với bất kỳ động thái nào của Trung Quốc trong khu vực”, bà Willet khẳng định.

(Reuters,15-6-2016, loan tin, hai hàng không mẫu hạm và 16 chiến hạm thuộc Đệ Tam Hạm Đội đã đến vùng biển Philippines để tập trận.)

Tuy không dự đoán kết quả vụ kiện, bà Willet nhấn mạnh “việc Trung Quốc không nên có thêm hành động khiêu khích nào cũng chính là vì lợi ích của nước này”.

Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ nói quan điểm của Washington là phán quyết của PCA ràng buộc đối với tất cả các bên.

Nữ quan chức ngoại giao Mỹ cũng từ chối trả lời về cách đối phó của Mỹ nếu Bắc Kinh kiên quyết không tuân thủ phán quyết. “Tôi nghĩ rằng đây là giai đoạn vô cùng quan trọng không chỉ với Mỹ, mà với cả khu vực. Mỹ hy vọng Trung Quốc sẽ xem phán quyết là cơ hội để tái khởi động những cuộc thảo luận nghiêm túc với các nước láng giềng”.

Trước việc Trung Quốc tuyên bố hơn 40 quốc gia đã ủng hộ lập trường của Bắc Kinh về vụ kiện, bà Willet nói “có nhiều điều đáng nghi ngờ về nhóm này”. Đến nay, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ) cho biết chỉ 8 nước đã công khai ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh, trong đó có Niger, Afghanistan và Niger…

Trước đó, ngày 20/6, Kyodo dẫn các nguồn tin ngoại giao cho biết một quan chức Trung Quốc lớn tiếng với các nhà ngoại giao ASEAN rằng, họ không loại trừ việc rút khỏi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 nếu phán quyết của PCA “trái với nền tảng vị thế” của Bắc Kinh.

Nhiều chuyên gia tin rằng phán quyết của PCA sẽ tạo bất lợi cho phía Trung Quốc. Bắc Kinh luôn khăng khăng sẽ không chấp nhận và không tôn trọng phán quyết của PCA dù Trung Quốc là một thành viên của UNCLOS từ năm 1996.

Ngày 22/1/2013, Philippines đệ đơn lên PCA, kiện cách Trung Quốc giải thích và áp dụng UNCLOS năm 1982. Tòa quốc tế sẽ ra phán quyết cuối cùng ngày 7/7, trong đó nêu rõ cách giải thích của Trung Quốc về “đường lưỡi bò” có hay không phù hợp UNCLOS.

Trong diễn biến liên quan, Ủy ban Châu Âu (EC) ngày 22/6 giới thiệu một dự thảo về chính sách của Liên minh châu Âu với Trung Quốc trong 5 năm tới.

Tuy không lên án trực tiếp đối tác thương mại quan trọng này, EU nêu rõ sẽ phản đối “các hành động đơn phương làm thay đổi hiện trường và gia tăng căng thẳng”. Dự thảo nhấn mạnh, EU mong muốn duy trì tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông và biển Hoa Đông. Các thành viên EU sẽ phải thông qua dự thảo này.

____

 

Tuổi Trẻ

EU cảnh báo Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

D. Kim Thoa

23-6-2016

TTO – Trong động thái nhắc nhở ngoại giao đầu tiên của Liên minh châu Âu (EU) với Trung Quốc, EU cho rằng tất cả các nước phải được quyền tự do đi lại trên Biển Đông.

Theo Reuters, quan điểm này được Ủy ban Châu Âu (EC) nêu ra ngày 22-6 trong một dự thảo văn bản mới về chính sách của EU với Trung Quốc trong 5 năm tới. Nhắc nhở đưa ra sau khi các máy bay chiến đấu Trung Quốc ngăn chặn một máy bay quân sự Mỹ tại Biển Đông tháng trước.

Ủy ban châu Âu tránh lên án trực tiếp Trung Quốc, một đối tác thương mại lớn của họ, nhưng cảnh báo rằng liên minh này sẽ phản đối “các hành động đơn phương có thể làm thay đổi hiện trạng và gây gia tăng căng thẳng”.

Điều này rõ ràng đề cập tới mối quan ngại của EU về hoạt động xây dựng và quân sự hóa các đảo của Trung Quốc tại Biển Đông.

Dự thảo chính sách của EU với Trung Quốc trong 5 năm tới viết: “EU muốn hoạt động tự do hàng hải và tự do trên không được duy trì tại Biển Đông và biển Hoa Đông”. Các quốc gia thành viên EU sẽ phải thông qua dự thảo này.

Trước nay EU thường nói họ giữ quan điểm trung lập với các tranh chấp tại Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước châu Á khác.

Tuy nhiên, Ủy ban châu Âu cho rằng: “Việc có một số lượng lớn hàng hóa thương mại đường biển quốc tế đi qua khu vực đó cho thấy, tự do hàng hải và tự do đường không là điều quan trọng hàng đầu với EU”.

Theo đó “EU sẽ vận động Trung Quốc đóng góp tích cực vào sự ổn định của khu vực… và ủng hộ một trật tự quốc tế dựa trên pháp luật”.

Bất kể cách dùng câu chữ rất cẩn trọng trong văn bản này của Ủy ban châu Âu, những căng thẳng giữa khối này và Trung Quốc vẫn không ngừng tăng thời gian qua. Tháng này ngoại trưởng Pháp Jean-Yves Le Drian đã đề nghị EU cần phải tiến hành các cuộc tuần tra “thường xuyên và rõ ràng” tại Biển Đông.

Trong một động thái khác cho thấy tình hình Biển Đông đang nóng hơn khi hôm nay, 23-6, tổng thống Indonesia sẽ đích thân tới quần đảo Natuna kiểm tra chiếc tàu cá Trung Quốc bị Indonesia bắt giữ vì đánh cá trái phép.

Ông Widodo muốn biểu thị tinh thần kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Indonesia sau khi Bắc Kinh nói họ có “chủ quyền chồng lấn” với Indonesia tại một số vùng biển.

anhbasam.wordpress.com

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chiến Lược doi pho Trung Quoc | Leave a Comment »

►TT Obama đã tuyên bố tại Hà Nội: Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam (23-5-2016)

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2016

Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam

23.05.2016  VOAtiengViet
Tổng thống Mỹ Barack Obama trong cuộc họp báo chung với Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang tại Hà Nội, ngày 23/5/2016.

Tổng thống Mỹ Barack Obama trong cuộc họp báo chung với Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang tại Hà Nội, ngày 23/5/2016.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố trong cuộc họp báo chung với Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang ngày 23/5 rằng Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Ông Obama nói quyết định dỡ bỏ lệnh cấm thể hiện sự thay đổi, phát triển trong quan hệ song phương giữa hai nước và không liên quan đến Trung Quốc hay một nước thứ ba nào khác.

Tuy nhiên, Tổng thống Obama lưu ý việc bán từng mặt hàng vũ khí sẽ được xem xét căn cứ vào tình hình nhân quyền của Việt Nam cũng như mục đích sử dụng vũ khí.

Chủ tịch Việt Nam hoan nghênh việc dỡ bỏ lệnh cấm. Ông Quang nói điều đó thể hiện quan hệ Việt-Mỹ đã hoàn toàn bình thường hóa.

 

Tổng thống Obama bước ra từ Chuyên cơ Air Force One tại Sân bay Nội Bài ở Hà Nội, ngày 22/5/2016.

Tổng thống Obama bước ra từ Chuyên cơ Air Force One tại Sân bay Nội Bài ở Hà Nội, ngày 22/5/2016.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đáp máy bay đến sân bay Nội Bài ở thủ đô Hà Nội vào khoảng 9 giờ 30 phút, giờ địa phương, tối Chủ nhật 22 tháng 5, bắt đầu chuyến thăm lịch sử đến nước cựu thù thời Chiến tranh Việt Nam.

Chuyên cơ Air Force Once chở nhà lãnh đạo Mỹ rời Washington trưa hôm qua và đã đáp xuống Hà Nội sớm hơn dự kiến vài giờ đồng hồ.

Truyền thông chính thức của nhà nước Việt Nam cho hay sau nghi lễ đón tiếp chính thức vào sáng thứ Hai, Tổng thống Obama sẽ gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Sau đó hai ông sẽ chủ trì một cuộc họp báo chung.

Nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cũng sẽ gặp gỡ với Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Chuyên cơ Air Force One của Tổng thống Obama đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội lúc 9:30 phút tối Chủ nhật (Ảnh: VOA/Thuc Pham).

Chuyên cơ Air Force One của Tổng thống Obama đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội lúc 9:30 phút tối Chủ nhật (Ảnh: VOA/Thuc Pham).

Trưa thứ Ba (24 tháng 5), Tổng thống Obama sẽ đáp máy bay đến Sài Gòn. Theo dự liệu, ông sẽ đi thăm chùa Ngọc Hoàng ở Quận 1, và sang ngày hôm sau ông sẽ gặp gỡ với các lãnh đạo doanh nghiệp trẻ ASEAN.

Sau đó, Tổng thống Mỹ sẽ rời Việt Nam để sang Nhật Bản dự Hội nghị Thượng đỉnh G7.

Ngoại trưởng John Kerry và một phái đoàn doanh nhân Mỹ tháp tùng Tổng thống Obama trong chuyến thăm Việt Nam.

Nguồn: Reuters, VietnamNet, Jerusalem 

Đó là nhận định của một tờ báo có tư tưởng dân tộc cực đoan của Trung Quốc về chuyến thăm sắp tới của Tổng thống Barack Obama.

Trong bài bình luận đăng hôm 19/5, tờ Hoàn cầu Thời báo viết rằng việc “Việt Nam tiến lại gần hơn Mỹ là một tiến trình tự nhiên đối với việc phát triển nền kinh tế dựa vào xuất khẩu ở Đông Nam Á, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc Hà Nội có ý định xa lánh Trung Quốc, vì điều đó sẽ làm tổn hại tới mối quan hệ kinh tế với một đối tác thương mại quan trọng”.

Ấn phẩm của tờ Nhân dân Nhật Báo thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc viết tiếp: “Phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam thúc đẩy hơn nữa các lợi ích quốc gia, và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nội địa trong một loạt các lĩnh vực như dệt may, giầy dép và điện tử”.

“Tuy nhiên, không có bất kỳ lý do gì khiến Trung Quốc ghen tị hoặc hoảng sợ về mối quan hệ gần gũi hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ,” tờ báo nhà nước Trung Quốc viết.

Tờ báo cũng dẫn lời Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói tuần trước rằng Bắc Kinh “vui mừng chứng kiến Việt Nam phát triển quan hệ bình thường với Hoa Kỳ”.

Hoàn cầu Thời báo viết rằng sự tự tin của Trung Quốc xuất phát từ “mối quan hệ kinh tế gần gũi” với Hà Nội, cũng như Việt Nam “không thể quay lưng với một thị trường tiêu dùng nhanh chóng của Trung Quốc”.

“Nếu Hoa Kỳ tính dùng Việt Nam để khống chế Trung Quốc thì đó là điều vô vọng,” tờ báo viết.

Bài xã luận được đăng tải vài ngày trước chuyến công du Việt Nam của Tổng thống Barack Obama.

Đây không phải là lần đầu tiên tờ báo thuộc cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc lên tiếng bình luận về quan hệ Việt – Mỹ.

Tổng thống Obama bắt tay với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau cuộc gặp tại Phòng Bầu dục ở Washington hôm 7/7/2015.

Tổng thống Obama bắt tay với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau cuộc gặp tại Phòng Bầu dục ở Washington hôm 7/7/2015

“Sức ép chính trị”

Hồi tháng bảy năm ngoái, khi bình luận về chuyến công du mang tính lịch sử của Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, Hoàn cầu Thời báo viết rằng Hà Nội “đang chịu sức ép chính trị ngày càng tăng từ Mỹ mà về lâu dài sẽ là một thách thức đối với sự ổn định của Việt Nam”.

Tờ báo nói thêm: “Mối quan hệ thân cận hơn giữa Việt Nam và Mỹ một phần là nhằm đối phó với Trung Quốc, và kéo theo biện pháp trả đũa từ Trung Quốc. Điều này sẽ gây áp lực lên cả ba phía, và khi đó, Việt Nam có thể trở thành kẻ chịu thiệt hại nhiều nhất”.

Việt Nam chưa lên tiếng về các bình luận do báo chí Trung Quốc về quan hệ Hà Nội – Washington.

Trong chuyến công du tới Việt Nam, Tổng thống Obama sẽ gặp các quan chức hàng đầu của Việt Nam như Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Theo Global Times, VOA

—————————————-
 
 

 

Mỹ và Việt Nam bàn chuyện đặt thiết bị quân sự ở Đà Nẵng

21.05.2016

Washington và Hà Nội đang thương thảo việc đặt các thiết bị quân sự ở Đà Nẵng để đối phó với các thiên tai trong khu vực. (Thật ra là xây dựng hệ thống radar để theo dõi các di chuyển tàu thuyền quân sự qua lại ở Biển Đông, lập căn cứ quân sự Mỹ ở Đà Nãng nhằm mục đích đối phó với TQ- Trần Hoàng).

Tờ Financial Times dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết như vậy hôm qua.

Báo này viết rằng việc đôi bên tính tới chuyện đặt các thiết bị ở thành phố nằm ở vị trí chiến cách không xa biển Đông phần nhiều mang tính biểu tượng, và đó cũng là một ví dụ cho thấy sự biến chuyển trong mối quan hệ giữa hai nước cựu thù, giữa lúc Bắc Kinh không che giấu tham vọng “nuốt trọn” biển Đông.

Lầu Năm Góc từ chối bình luận về thông tin trên. Trong khi đó các quan chức Mỹ không tiết lộ danh tính cho Financial Times biết rằng đôi bên nhấn mạnh vào việc dùng thiết bị quân sự sẽ được đặt ở Đà Nẵng để đối phó với thiên tai vì không muốn làm Trung Quốc tức giận.

Tin tức về việc Mỹ tính chuyện đặt thiết bị quân sự ở Việt Nam được loan đi trong bối cảnh Tổng thống Barack Obama sẽ tới Việt Nam sớm Chủ Nhật này, và trong khi chính quyền Hà Nội nhiều lần công khai kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận sát thương đã áp đặt nhiều chục năm qua.

Trong các cuộc tiếp xúc với báo chí trước chuyến thăm, quan chức Mỹ đều cho biết chưa đi tới quyết định cuối cùng về việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam.

Yếu tố nhân quyền

Phát biểu tại cuộc họp báo đầu tuần này, ông Daniel Kritenbrink, Giám đốc phụ trách các vấn đề châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, nói rằng nhân quyền luôn là một yếu tố trong việc đi tới quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận hay không.

Ông nói thêm: “Nhân quyền vẫn luôn là một thành tố quan trọng, nếu không nói là trung tâm, trong việc đưa mối quan hệ song phương tiến về phía trước. Việc xét tới yếu tố nhân quyền sẽ vẫn là một điều quan trọng trong bất kỳ quyết định bán vũ khí nào với Việt Nam hay với bất kỳ quốc gia nào”.

Trong cuộc họp báo, ông Kritenbrink cũng nói thêm rằng ông hy vọng đôi bên sẽ ký một số thỏa thuận thương mại trong chuyến thăm của ông Obama.

Tuy nhiên, kể cả khi lệnh cấm vận vũ khí được bở dỏ hoàn toàn, các quan chức Mỹ cho rằng Việt Nam nhiều khả năng sẽ không mua các loại vũ khí, như tên lửa chống tàu, vì điều đó có thể khiến Trung Quốc phật lòng.

Thay vào đó, Hoa Kỳ nhiều khả năng sẽ bán cho Việt Nam radar và các thiết bị để trinh sát tốt hơn vùng biển Đông.

Chưa rõ là đôi bên có bàn tới chuyện mua vũ khí khi ông Obama tới Việt Nam hay không.

Theo Financial Times, VOA

 —————————–

Nhà Trắng ‘theo dõi kỹ’ vụ cá chết ở Việt Nam

18.05.2016
Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ chính thức bắt đầu chuyến công du Việt Nam vào ngày 21/5.

Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ chính thức bắt đầu chuyến công du Việt Nam vào ngày 21/5.

Một phụ tá thân cận của Tổng thống Barack Obama đã nói như vậy với một nhóm các tổ chức của người Mỹ gốc Việt, ít ngày trước chuyến công du của nguyên thủ Hoa Kỳ.

Ông Ben Rhodes, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia, cùng quan chức ngoại giao Mỹ chiều 17/5 đã lắng nghe ý kiến của các nhà hoạt động cùng những tổ chức của người Việt ở hải ngoại tại văn phòng sát Nhà Trắng.

Sau cuộc gặp, ông Hoàng Tứ Duy, phát ngôn viên của Đảng Việt Tân, cho VOA Việt Ngữ biết rằng các đại diện tổ chức người Việt đã “đi sâu vào một số vấn đề nhân quyền như vụ bắt giữ luật sư Nguyễn Văn Đài, công an tra tấn hay vụ tuyệt thực của anh Trần Huỳnh Duy Thức”.

Ông Duy nói thêm rằng một chủ đề nóng bỏng ở Việt Nam hiện nay cũng đã được đề cập.

Chính blogger Điếu Cày có cho bên Hội đồng An ninh Quốc gia biết rằng, trong ba tuần lễ vừa qua đã diễn ra các cuộc biểu tình lớn ở Việt Nam tại nhiều thành phố. Và đây là mối quan tâm có thể nói là hàng đầu của người Việt Nam. Các vị khác có mặt hôm nay cũng nêu lên quan tâm đó luôn. Chính bên Tòa Bạch Ốc họ cũng biết về vấn đề này. Họ đang theo dõi cái đó rất là kỹ.

Ông nói thêm: “Vấn đề cá chết đã được nêu. Chính blogger Điếu Cày có cho bên Hội đồng An ninh Quốc gia biết rằng, trong ba tuần lễ vừa qua đã diễn ra các cuộc biểu tình lớn ở Việt Nam tại nhiều thành phố. Và đây là mối quan tâm có thể nói là hàng đầu của người Việt Nam. Các vị khác có mặt hôm nay cũng nêu lên quan tâm đó luôn. Chính bên Tòa Bạch Ốc họ cũng biết về vấn đề này. Họ đang theo dõi cái đó rất là kỹ. Họ đã nhận kiến nghị có hơn 100 nghìn chữ ký của đồng bào Việt Nam ở khắp mọi nơi. Họ nói họ đang chuẩn bị trả lời chính thức về cái này”.

Ông nói thêm: “Họ nói rằng, về lâu dài, đây là vấn đề cần sự trao đổi của hai quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự hai bên để làm sao tìm hiểu thêm các biện pháp khoa học để giải quyết vấn đề này, và đồng thời, đây cũng là vấn đề nền tảng về nhân quyền, khả năng bày tỏ chính kiến của người Việt Nam”.

Tận mắt chứng kiến

Theo ông Duy, những người Việt Nam tham dự cho biết, có thể xảy ra các cuộc biểu tình vì môi trường đúng ngày ông Obama đặt chân tới Hà Nội, và Tổng thống Mỹ “có thể chứng kiến những vấn đề mà mọi người đã nêu lên”.

Nhà Trắng thông báo Tổng thống Obama rời thủ đô Washington DC đi Việt Nam vào ngày 21/5 và sẽ bay đi Tokyo từ TP HCM vào ngày 25/5.

Phát ngôn viên của Đảng Việt Tân cho biết ông tin rằng Tổng thống Obama sẽ nói về vụ cá chết cũng như các cuộc biểu tình khi ông có mặt ở Việt Nam.

Ông Ben Rhodes, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ.

Ông Ben Rhodes, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ.

Lý giải về niềm tin này, ông Duy cho biết rằng “những người phụ tá của ông ấy cho biết đây là mối quan tâm của phía Hoa Kỳ, và có sức ép của cử tri qua kiến nghị hơn 100 nghìn người” trên trang web “We the People”.

Ông Duy cũng lên tiếng “phản bác” cáo buộc mà ông cho là “sai sự thật” của quan chức Việt Nam, cho rằng tổ chức Việt Tân kích động các cuộc biểu tình.

“Người ta biểu tình vì tương lai của con em họ. Không cần tổ chức nào kích động cả. Mỗi người đều nhận thấy cái thảm họa đó,” ông nói.

“Thử thách lớn lao”

Trong khi đó, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, một chuyên gia về quan hệ Việt – Mỹ từ Đại học George Mason ở Hoa Kỳ, nhận định rằng nhiều vấn đề sẽ được ông Obama mang ra thảo luận tại Việt Nam như mối quan hệ chiến lược, TPP hay biển Đông.

Nhà nghiên cứu này cũng nói thêm rằng các cuộc biểu tình của người dân về vụ cá chết “có tác động” tới chuyến thăm của ông Obama, và nó giống như một cuộc trắc nghiệm xử lý tình thế của tân chính phủ Việt Nam.

Chuyến thăm lần này là điều hai bên mong đợi, nhưng tự nhiên lại xảy ra vụ cá chết rồi xảy ra các cuộc biểu tình. Dĩ nhiên, những người tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam và ở bên Mỹ này họ phải nhân cơ hội đó để thúc đẩy vấn đề nhân quyền, và vì thế Việt Nam lại phải phản ứng lại. Thành ra đây là một thử thách rất lớn lao ở trong một thời điểm không thuận tiện.

Ông Hùng nói thêm: “Phép thử thì đúng. Nó rất khó khăn vì xảy ra trong thời điểm không thuận lợi. Năm 2006, trước khi ông Bush sang Việt Nam, những tiến triển về nhân quyền đã có đến nỗi Bộ Ngoại giao đề nghị bỏ Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần phải quan tâm về tự do tôn giáo. Đó là thời điểm thuận lợi”.

Ông nói tiếp: “Chuyến thăm lần này là điều hai bên mong đợi, nhưng tự nhiên lại xảy ra vụ cá chết rồi xảy ra các cuộc biểu tình. Dĩ nhiên, những người tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam và ở bên Mỹ này họ phải nhân cơ hội đó để thúc đẩy vấn đề nhân quyền, và vì thế Việt Nam lại phải phản ứng lại. Thành ra đây là một thử thách rất lớn lao ở trong một thời điểm không thuận tiện”.

Một cuộc thăm dò ý kiến do VOA Việt Ngữ thực hiện về những vấn đề bạn đọc mong chờ Tổng thống Obama sẽ mang ra bàn thảo ở Việt Nam cho thấy nhân quyền đứng đầu, sau đó tới biển Đông và thứ ba là vụ cá chết.

Các cuộc biểu tình bùng phát suốt từ đầu tháng Năm cho tới nay, và theo giới quan sát, sau khi “thả lỏng” ở đợt đầu, chính quyền đã siết chặt kiểm soát các cuộc xuống đường hôm 15/5.

Trên mạng xã hội hiện vẫn xuất hiện những lời kêu gọi xuống đường vì môi trường mà quan chức trong nước lo ngại sẽ biến thành “cuộc cách mạng cá” vào ngày 22/5 tới.

 ————————–

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chiến Lược doi pho Trung Quoc | Leave a Comment »

► Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí để vào Cam Ranh?

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2016

Mỹ đổi dỡ bỏ cấm vận vũ khí để vào Cam Ranh?

Thời Báo today

22-5-2016

Bóng ma của cuộc chiến tranh Việt Nam rốt cuộc đã phai nhòa tại cảng chiến lược Cam Ranh. Hơn 40 năm trước, các lực lượng Mỹ đã ồ ạt rút khỏi căn cứ nơi lính thủy đánh bộ tới, các máy bay B-52 nạp bom đạn và điều trị lính Mỹ bị thương.

Nay một số người Việt Nam đang mong quân đội Mỹ quay trở lại, The New York Times (NYT) cho biết.

“Trên Facebook, gần đây có một câu hỏi: Bạn muốn gì từ chuyến thăm của tổng thống Obama. Một số người nói họ muốn dân chủ. Còn tôi muốn người Mỹ quay lại vịnh Cam Ranh. Rất nhiều người cũng nhất trí với tôi”, ông Võ Văn Tạo, 63 tuổi, từng là một lính bộ binh miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ cho biết.

Theo lịch trình ông Obama tới Việt Nam vào đêm 22/5. Đây là chuyến thăm thứ ba của một tổng thống Mỹ tới Việt Nam kể từ sau khi chiến tranh kết thúc. Câu hỏi lớn (mà mọi người đang trông đợi) ông Obama trả lời là liệu Washington có dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam hay không. Chính quyền Việt Nam từ lâu đã yêu cầu Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận và Mỹ được tiếp cận Cam Ranh có thể là một phần của thỏa thuận, nhật báo NYT nhận định.

Với Nhà Trắng, quyết định dỡ bỏ cấm vận vũ khí vẫn là một vấn đề tranh luận khi một luồng quan điểm đòi Việt Nam phải cải thiện nhân quyền hơn nữa và bên kia là hỗ trợ năng lực cho Việt Nam tự vệ tốt hơn trước nguy cơ ngày càng tăng từ phía Trung Quốc ở Biển Đông. Theo NYT, căng thẳng với Trung Quốc đã leo thang ở Biển Đông và quan điểm trong chính quyền của ông Obama đã thay đổi thiên về hướng dỡ bỏ cấm vận, giới chức Mỹ nắm rõ nội tình thảo luận cho biết.

Theo NYT, chính phủ Việt Nam đứng trước sức ép chưa từng có từ Trung Quốc, biết rõ rằng không thể một mình đối phó với nguy cơ từ người hàng xóm khổng lồ và đang thận trọng tăng cường quan hệ với Mỹ. Bất chấp sự gần gũi về ý thức hệ, Việt Nam và Trung Quốc đã có xung đột về biển đảo ở Biển Đông trong những năm 1970 và 1980. Hai năm trước đây (2014), Trung Quốc đã ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan vào trong vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dẫn tới đụng độ căng thẳng trên biển và những vụ biểu tình chống Trung Quốc ở một số tỉnh thành của Việt Nam

Mới đây, Trung Quốc lại bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với các đường băng quân sự tại Biển Đông chỉ cách bờ biển Việt Nam 300 hải lý. Nhu cầu của Việt Nam lại trùng khớp với Mỹ, nước hiện đang khích lệ các quốc gia Đông Nam Á để tự phòng vệ tốt hơn, một nỗ lực nhằm giữ cho Mỹ khỏi bị cuốn vào một cuộc xung đột hải quân trực tiếp với Trung Quốc.

Triển vọng quay trở lại Cam Ranh, nơi Việt Nam đã xây dựng một cảng quốc tế mới, đã cung cấp một sự hấp dẫn khác cho việc Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí, theo NYT. Sự hiện diện của Mỹ tại đây sẽ cho phép các lực lượng Mỹ sử dụng hải cảng phía tây Biển Đông, bổ sung cho các cơ sở của Mỹ sẵn có tại Philippines trên trận tuyến biển.

“Nếu Mỹ có thể thường xuyên vào Cam Ranh, sẽ rất lợi thể để duy trì cân bằng quyền lực với Trung Quốc. Nếu như hiện nay có chuyện gì xảy ra ở Biển Đông, Mỹ phải mất một thời gian mới tới được khu vực.

Trong khi Trung Quốc có thể đến đó nhanh hơn”, ông Alexander L. Vuving, chuyên gia về Việt Nam tại Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu nhận định.

Việt Nam đã tuyên bố không thiết lập liên minh với nước này để chống nước kia và không cho nước ngoài lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ, đã làm rõ rằng sẽ không dành cho Mỹ ưu đãi sử dụng cơ sở đặc biệt nào nhưng sẽ cho phép chia sẻ (thực chất là tiếp đón, cung cấp dịch vụ hậu cần) căn cứ cùng với các quốc gia khác. Các tàu của Singapore, Nhật Bản, Pháp là các quốc gia đầu tiên sử dụng cảng quốc tế mới trong năm nay.

Theo các chuyên gia, Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam cũng là cách chứng tỏ thiện chí và thực sự bình thường hóa quan hệ hai nước Việt-Mỹ. Chuyên gia Vuving cho rằng để thể hiện thiện chí với thành phần bảo thủ trong quân đội Việt Nam, Mỹ cần phải thể hiện thiện chí bằng cách chấm dứt cấm vận vũ khí hoàn toàn. Làm như vậy sẽ “mở cánh cửa” cho hợp tác quân sự khắng khít hơn và việc tiếp cận Cam Ranh rất có thể sẽ diễn ra sau đó.

Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton B. Carter điều trần tại thượng viện Mỹ tháng trước đã ủng hộ việc bãi bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí với Việt Nam. Mới đây, trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách nhân quyền và lao động Tom Malinowski đã tới Hà Nội đánh giá lần cuối trước chuyến thăm của ông Obama. Một quan chức Mỹ thông báo ngắn gọn về chuyến công du rằng đã có những dấu hiệu tích cực từ Việt Nam. Ông Blinken còn ca ngợi một số tiến bộ của chính phủ Việt Nam về nhân quyền, đặt biệt là việc lần đầu tiên cho phép lập công đoàn độc lập. (CsVn hứa lèo như mọi khi, còn phía hành pháp Mỹ bày mưu và gật đầu chấp nhận, để cùng nhau dối gạt và thuyết phục quốc hội Mỹ xóa bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí- Trần Hoàng)

Tuy nhiên NYT (nhật báo The New York Times) đánh giá, dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận cũng không nên kỳ vọng sẽ có mua sắm lớn đối với các nhà thầu quốc phòng Mỹ. Kể từ khi Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vào năm 2014, cho phép mua sắm các loại trang bị phòng vệ hàng hải, Việt Nam đã không mua thiết bị nào của Mỹ, thậm chí không sắm hệ thống radar bờ biển. Chuyên gia về quốc phòng Việt Nam Carl Thayer cho rằng do Việt Nam thiếu kinh phí.

Vấn đề cũng sẽ tốn kém đối với Việt Nam khi thay đổi từ các thiết bị hạng nặng do Nga sản xuất (Nga vốn là nhà cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam từ lâu), sang các thiết bị do Mỹ chế tạo. Tuy nhiên, Việt Nam muốn đa dạng hóa nguồn cung để tránh phụ thuộc quá nhiều vào vũ khí Nga. Hà Nội cũng đang nhờ Ấn Độ huấn luyện thủy thủ đoàn cho các tàu ngầm do Nga sản xuất và đang tìm kiếm một số loại vũ khí của Israel.

Tuần trước, giới chức Việt Nam đã gặp các nhà thầu quân sự Mỹ bao gồm Boeing và Lockheed Martin trong một hội nghị chuyên đề tại Hà Nội để thảo luận về nhu cầu của quân đội Việt Nam. Ông Christopher W. Sfedu, tham dự hội nghị này là giám đốc một cơ sở cung cấp các thiết bị liên lạc ở Philadelphia cho biết, phần mềm viễn thông dường như là ưu tiên hàng đầu trong danh sách nhu cầu quân sự.

NYT nhìn nhận, Nga vẫn đang được hưởng ưu tiên ở Cam Ranh, với việc sử dụng căn cứ cho máy bay tiếp dầu phục vụ các chuyến bay trinh sát Guam. Được bảo vệ bởi các dãy núi phía nam và phía đông án ngữ Biển Đông, Vịnh Cam Ranh là nơi trú ẩn lớn nhất ở Đông Nam Á và có vị trí chiến lược nhất với cảng nước sâu.

Với ông Tạo, việc trở lại của Mỹ không thể diễn ra quá nhanh. “Người dân Việt Nam rất phẫn nộ với đường băng Trung Quốc ở Trường Sa. Chúng tôi tính nếu cất cánh từ đây chỉ mất một tiếng để đến oanh tạc Sài Gòn”, ông bức xúc nói về các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng phi pháp ở Biển Đông.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Quyền tự do lập Hội | Leave a Comment »

►Air Force One chở Tổng thống Obama vừa hạ cánh sân bay quốc tế Nội Bài lúc 21:30 ngày 22-5-2016

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2016

Thanh Niên

Ngọc Thắng – Trường Sơn – Thúy Hằng – Lê Nam – Phạm Dự

22-5-2016

Ảnh: Ngọc Thắng/ TN

Ảnh: Ngọc Thắng/ TN

Đúng 21 giờ 30 phút tối 22.5 chuyên cơ Air Force One chở Tổng thống Mỹ Barack Obama đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Nội Bài.

Tổng thống Mỹ có mặt tại Hà Nội sớm hơn giờ dự kiến 0 giờ 10 phút ngày 23.5 trước đó.

Ngay khi xuống sân bay, Tổng thống Obama đã lên xe, rời sân bay Nội Bài tới thẳng khách sạn.

An ninh được thắt chặt suốt toàn bộ quãng đường từ sân bay quốc tế Nội Bài tới nơi nghỉ của Tổng thống.

Thời điểm này, an ninh quanh khu vực một khách sạn 5 sao trên đường Đỗ Đức Dục (quận Nam Từ Liêm) được cho là Tổng thống Mỹ nghỉ ngơi trong đêm nay được kiểm soát cao độ.

Lực lượng an ninh, cảnh sát có mặt dày đặc từ khu vực đường Phạm Hùng, đầu cuối đường Đỗ Đức Dục và xung quanh khu vực khách sạn 5 sao.

Từ 19 giờ, các cổng chính dẫn vào khách sạn 5 sao trên đã được bảo vệ nghiêm ngặt. Lực lượng an ninh dày đặc. Rất nhiều người dân chờ đợi quanh đây, mong sẽ được chứng kiến giây phút đoàn xe của Tổng thống Obama đi qua.

Trước đó, an ninh sân bay Nội Bài trong suốt thời gian chờ đón Tổng thống Obama được kiểm soát chặt chẽ cao độ. Chỉ các phóng viên có thẻ báo chí và thẻ sự kiện được tham gia. An ninh hàng không và mật vụ Mỹ kiểm soát toàn bộ số người di chuyển quanh khu vực Nội Bài.

Đến thời điểm này, các hoạt động ngoài lề của Tổng thống Mỹ tại Hà Nội chưa được tiết lộ.

Theo chương trình dự kiến, sáng 23.5 lễ đón chính thức Tổng thống Obama sẽ diễn ra tại Phủ Chủ tịch. Sau lễ đón là cuộc Hội đàm giữa Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Barack Obama. Hai nhà lãnh đạo dự kiến sẽ dự lễ ký kết một số văn kiện và có cuộc họp báo chung. Cũng trong sáng 23.5 ông Obama sẽ có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

Chiều cùng ngày ông Obama sẽ có cuộc hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Văn phòng Chính phủ và tới chào xã giao Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Văn phòng T.Ư Đảng.

Trưa 24.5 ông Obama sẽ gặp gỡ và có bài phát biểu với công chúng Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình. Sự kiện do Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam và Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam tổ chức dự kiến thu hút khoảng 4.000 người tham dự. Chiều cùng ngày ông Obama sẽ rời Hà Nội đi TP.HCM.

Tại TP.HCM Tổng thống Obama dự kiến cũng sẽ có các cuộc gặp với lãnh đạo TP.HCM , tiếp xúc một số đại diện doanh nghiệp của Mỹ và Việt Nam cũng như gặp gỡ các thành viên của Sáng kiến lãnh đạo trẻ Đông Nam Á (YSEALI).

Dự kiến ông Obama cũng sẽ tới thăm chùa Ngọc Hoàng, ngôi chùa hơn 100 năm tuổi tại quận 1. Sau chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống Obama sẽ lên đường đến Nhật Bản vào chiều 25.5.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► “VN muốn dùng Mỹ làm con bài chiến lược”

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2016

23-5-2016

Đây là chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama, trong tổng số 10 chuyến thăm châu Á tới nay của ông. Ảnh: Reuters

Đây là chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama, trong tổng số 10 chuyến thăm châu Á tới nay của ông. Ảnh: Reuters

Việt Nam và Hoa Kỳ từ mấy năm qua chia sẻ một mối quan tâm chiến lược là ‘thách thức cua Trung Quốc’ và trong bối cảnh này, Việt Nam muốn dùng Hoa Kỳ như một ‘quân bài chiến lược’ như một ‘đối lực’ để đối phó với nước láng giềng phía Bắc, trên Biển Đông, theo một ý kiến học giả từ Mỹ.

Về phần mình, Hoa Kỳ từ lâu cũng muốn cân bằng lực lượng trên Biển Đông, trước thế và lực đang lên của Trung Quốc và muốn tìm kiếm đối tác, và tại Đông Nam Á, Việt Nam có ‘vai trò quan trọng nhất’, trong mắt Hoa Kỳ để Washington cân bằng, đối trọng với Bắc Kinh, vẫn ý kiến này cho hay.

Trao đổi với BBC tại Bàn tròn trực tuyến về chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Việt Nam và quan hệ song phương Việt – Mỹ, từ Washington D.C, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia chính trị và bang giao quốc tế nêu quan điểm:

“Theo tôi, vấn đề cốt lõi trong bang giao hai nước, là từ năm 2009 hai nước dường như có sự quan tâm chung về vấn đề chiến lược, đó là thách thức của Trung Quốc, phải giải quyết vấn đề đó. Về phía Việt Nam, Việt Nam có đường lối đa phương, đa diện hóa ngoại giao, thực sự khi thi hành phải tìm đối lực. Đối lực mà thực chất nhất, quan trọng nhất mà khả thi nhất là nước Mỹ thôi. Thành ra đối với Việt Nam, vấn đề dùng Mỹ như một con bài chiến lược rất là quan trọng.

“Về phía Mỹ, thực sự Mỹ là một cường quốc hải quân, Mỹ coi vùng Á châu – Thái Bình Dương là vùng quan trọng chiến lược và kinh tế quan trọng nhất trong thế ký 21, cho nên họ phải có hiện diện ở đó. Và nếu hiện diện ở đó, thì đòi hỏi rằng trong đó ít nhất phải có tương quan lực lượng thuận lợi, nếu Mỹ để cho Trung Quốc khống chế vùng đó, thì Mỹ sẽ hoàn toàn bị đẩy ra vùng đó và địa vị cường quốc của Mỹ sẽ bị giảm thiểu rất nhiều.

“Thành ra Mỹ muốn làm cân bằng lực lượng nào đó, thì Mỹ phải tìm ra những đối tác nào của mình để tạo ra cân bằng, thay vì là một cái rất siêu, tức là độc quyền một nước như Trung Quốc, thì điều đó khác. Trong đó có rất nhiều nước, nước Nhật (Bản), Đại Hàn (Hàn quốc) vân vân, thì trong Đông Nam Á, Việt Nam là có một vai trò quan trọng nhất trong việc thăng bằng lực lượng đó. Đối với Mỹ có quan niệm đó, đối với Việt Nam có quan niệm đó.

“Vấn đề là hai bên có tiến sâu lắm tới đó là tùy thuộc nhiều vấn đề mà hiện nay tôi thấy là chưa đến được đầy đủ vấn đề là tiềm năng hoàn toàn của nó, bởi vì còn có những lấn cấn khác, còn về lòng tin chiến lược, tôi thấy các vị đã đồng ý với tôi là gia tăng rất nhiều,” học giả Nguyễn Mạnh Hùng từ Mỹ nêu quan điểm.

‘Nhân tố thứ ba’

Cũng tại Bàn tròn thứ Năm về chuyến thăm của Obama, Tiến sỹ Đinh Hoàng Thắng, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Hợp tác Quốc tế, Viện Nghiên cứu Phát triển (VIDS), nêu quan điểm:

“Theo tôi vấn đề chất lượng chiến lược trong hợp tác Việt – Mỹ, vấn đề bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí và một số thỏa thuận về vấn đề nhân quyền trọng và ngoài khuôn khổ TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương), ba vấn đề này tập hợp thành cái bộ tam rất quan trọng. Và chúng ta sẽ đón chờ trong chuyến đi của ông Obama, bộ tam này sẽ được giải quyết như thế nào. Và nếu bộ tam này giải quyết như thế nào, thì không chỉ nó nói lên chất lượng chiến lược, cái tầm nhìn chiến lược của hai chính quyền và của hai lãnh đạo, mà nó còn nói lên đường hướng cho 5, 10 năm tới.

“Bởi vì các vị có nói là ông Obama sang cuối nhiệm kỳ có sao không, thì tôi nghĩ chiến lược, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam là nhất quán, đảng Cộng hòa hay Dân chủ lên, nếu có khác nhau, chỉ khác nhau về sắc thái, chứ còn về mặt chiến lược là sự nhất quán.

“Cho nên, những thỏa thuận sắp tới đây trong chuyến đi của ông Obama về ba vấn đề mà tôi nói, kết thành bộ tam, rất quan trọng. Trong ba vấn đề này có vấn đề bãi bỏ hoàn toàn vũ khí, để nói Việt – Mỹ đi từ chiến tranh, đi từ băng giá, và bây giờ là giai đoạn tìm thấy nhau. Trong giai đoạn tìm thấy nhau này, nó có một nhân tố mọi người có đề cập, nhưng mờ nhạt, đó là nhân tốt thứ ba, nhân tố thứ ba nó là một bóng ma ám ảnh khá mạnh đến quan hệ Việt – Mỹ.

“Và tại sao vấn đề nâng quan hệ đối tác lên đặt ra từ 2010, đến bây giờ là sáu năm rồi các ông vẫn nói với nhau là ‘thôi chúng ta tuy là đối tác toàn diện, nhưng thực chất chúng ta đã là đối tác chiến lược? Tức là vẫn chưa tuyên bố điều đó được, đó là vì nhân tố thứ ba, thì tôi với tư cách một nhà nghiên cứu độc lập, tôi hy vọng ông Obama lần này sang có thể khắc phục được, vượt qua được bóng đè của nhân tố thứ ba này và chính việc bãi bỏ hoàn toàn cầm vận vũ khí nó sẽ tác động cái này.

“Ở đây tôi không nói vấn đề quân sự đâu, chắc chắn Trung Quốc sẽ không sợ Mỹ bỏ cấm vận vũ khí (cho Việt Nam) xong sẽ có những diễn biến phức tạp, tôi nghĩ về tương quan lực lượng quân sự ở đây, tất cả các bên đều biết nhau cả, đây không phải là vấn đề quân sự, mà đây chính là vấn đề lòng tin chiến lược,” cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan nói với BBC.

Đặt nền tảng lâu dài

Hôm 21/5, từ Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Đại học Maine nói với BBC ông tin rằng Tổng thống Obama, người sẽ thăm Việt Nam từ ngày 23-25/5, sẽ hướng tới mục tiêu lâu dài trong quan hệ Mỹ – Việt hơn là những vấn đề ‘chính trị nhất thời’, ông nói:

“Xin nói là nhiều người không hiểu chuyến đi này của ông Obama, trước khi ông rời ghế Tổng thống, là một chuyến đi rất là quan trọng.

“Là bởi vì ông không bận tâm những chuyện chính trị nhất thời, cho nên có thể đặt nền tảng cho vấn đề quan hệ lâu dài giữa Mỹ và Việt Nam, cũng như ông Bill Clinton đã làm năm 2000, trước khi ông rời ghế Tổng thống.

“Nhiều người không đặt nhiều kỳ vọng vào chuyến thăm này, nhưng tôi nghĩ rằng đây là một chuyến đi rất quan trọng.”

Cho rằng ông Obama muốn đặt một di sản về quan hệ Mỹ – Việt qua chuyến đi, Giáo sư Long khẳng định Tổng thống kế nhiệm dù là ai cũng sẽ ‘tôn trọng’ nền tảng này, sử gia từ Mỹ nói:

“Tôi nghĩ để lại di sản như thế này thì rất quan trọng cho những người tiếp theo.

“Bởi vì đối với Chính phủ Mỹ, trừ trường hợp đi ngược lại quyền lợi của chính phủ Mỹ, còn khi một người Tổng thống trước đặt nền tảng thì các tổng thống sau luôn luôn thi hành nghiêm chỉnh.

“Đặc biệt nếu bà Clinton lên làm Tổng thống, thì bà Hillary Clinton sẽ đẩy mạnh những chính sách của ông Obama, bởi vì chính bà là người đã chủ trương chính sách xoay trục lại Á Đông, cũng như bảo vệ quyền lợi của Mỹ ở trên Biển Đông,” Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói với BBC.

Quý vị có thể theo dõi thêm về cuộc Tọa đàm của BBC về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama tại đây.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

Nguyễn Thu Trang: Thư gửi Q.H và 3 bộ trưởng: nói thêm về vụ “Cò viên chức lộng hành tại huyện Sóc Sơn

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2015

Nguyễn Thu Trang: Thư gửi Q.H và 3 bộ trưởng

– Bà Trương Thị Mai- Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội
– Ông Nguyễn Thái Bình -. Bộ trưởng Bộ nội vụ
– Ông Phạm Vũ Luận – Bộ trưởng Bộ giáo dục
– Ông Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ công an
Tôi là Nguyễn Thị Thu Trang, Phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM – Văn phòng đại diện tại Hà Nội – số 224 Kim Mã – Ba Đình – Hà Nội, xin trình bày với quý ông (bà) một việc như sau:

Ảnh baomoi.com

Trong thời gian vừa qua, tôi có thực hiện một loạt bài phóng sự điều tra “Cò viên chức lộng hành tại huyện Sóc Sơn”, trong đó phản ánh sự khốn khổ của 185 giáo viên huyện Sóc Sơn, bỗng nhiên mất việc. Họ cho biết, mình là nạn nhân của một đường dây chạy việc, chạy viên chức giáo dục xảy ra tại huyện Sóc Sơn – Hà Nôi. Ngay sau loạt bài, Bí thư thành ủy Hà Nội đã họp khẩn, chỉ đạo cơ quan Công an TP vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc báo nêu (tôi xin gửi kèm theo những tài liệu liên quan mà tôi đã từng cung cấp cho Công an Hà Nội)

Khoảng 1 tháng sau, tại cuộc giao ban báo chí của thành ủy Hà Nội, đại diện Công an HN đã công bố kết luận ban đầu rằng; “không có đường dây chạy viên chức giáo dục mà chỉ có một số đối tượng lợi dụng sự thiếu hiểu biết, lừa đảo, hòng chiếm đoạt tài sản của các giáo viên huyện Sóc Sơn”.

Tôi vô cùng bất ngờ về kết luận này. Tôi cho rằng đây chưa phải là sự thật. Bởi lẽ, trước đó khi thâm nhập thực tế suốt 2 tháng trời, tôi đã nhập vai một phụ nữ tên Giang, cùng các giáo viên bị đuổi việc, gặp gỡ các “cò mồi” như Ông Triệu- Phó công an xã Hồng Kỳ; ông Đàm Hữu Dũng – Trung tá, Giảng viên chính Học viện Kỹ Thuật Quân sự; bà Nguyễn Thị Toàn nguyên giáo viên trường Bắc Sơn A; ông Trần Văn Ánh- Cán bộ thuộc UBND huyện Sóc Sơn; cùng nhiều giáo viên mầm non đang công tác tại huyện Sóc Sơn đã và đang làm cò giáo dục… Tất cả đều thừa nhận rằng, họ đã chạy viên chức theo đường dây và lâu năm, giúp nhiều đối tượng vào viên chức thông qua vạy.

Tôi không tin là với tài trí, với chuyên môn, nghiệp vụ cao siêu của mình… Công an Hà Nội lại bất lực trước hiện tượng có quá nhiều dấu hiệu tiêu cực mà bất cứ ai cũng biết này? Họ có lí do gì để không đi thẳng vào bản chất sự việc?

Tôi thật sự kinh ngạc khi thấy mình đang từ một Nhà báo đấu tranh chống tiêu cực, cung cấp thông tin, tài liệu cho CQĐT, bỗng dưng biến thành đối tượng bị điều tra bất đắc dĩ. Ngoài việc bị CQĐT thu giữ chiếc điện thoại mà tôi từng sử dụng để liên lạc với cò mồi, cái tên Giang mà tôi mang trong quá trình nhập vai tác nghiệp, cũng bị đưa vào bản kết luận điều tra “tung” ra cho các báo trong cuộc họp giao ban Thành ủy. Dường như việc làm trong sạch xã hội, bài trừ cái xấu, cái ác của tôi đã không được chính quyền địa phương nhìn nhận khách quan. Tôi đã bị một số đối tượng xấu quấy rối điện thoại, đe dọa, những người giáo viên giúp đỡ tôi trong quá trình tác nghiệp cũng bị dọa giết. Tôi cảm thấy bất an nên quyết định viết thư ngỏ, kèm các tài liệu liên quan, gửi đến các ông (bà) với mong muốn sự việc sau đây sẽ được xem xét một cách thấu đáo.

Tôi xin nêu sơ lược diễn biến sự việc theo những gì mình thu thập được như sau; “Từ năm 2009 đến nay, 185 giáo viên của huyện Sóc Sơn được UBND huyện nhận vào làm với mức giá, trên, dưới 50 triệu đồng/1 người. Không có tiền thì không bao giờ xin nổi việc và ngược lại. Vì muốn có việc làm, nhiều giáo viên phải vay mượn tiền để chạy việc, thông qua các đường dây cò mồi, một số trường, đích thân hiệu trưởng nhận tiền theo giá chung. Nhưng mọi quyết định cuối cùng đều nằm ở huyện. Sau đó, các giáo viên này đều được đóng bảo hiểm, được lên lương khi đến hạn, được khen thưởng, khi có thành tích…

Mọi chuyện rất bình thường, cho đến khi chủ trương thi tuyển công chức, viên chức ngành giáo dục bắt đầu được thực hiện, các giáo viên huyện Sóc Sơn lại một lần nữa rơi vào vòng xoáy dữ dội của đồng tiền. Hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu tuyển dụng và nhu cầu chạy viên chức… Các giáo viên được mời chạy vào biên chế với mức giá “cắt cổ”. Hầu hết 185 giáo viên nói trên còn chưa kịp thu hồi vốn đã bỏ ra xin việc, lại phải rơi vào cuộc chạy đua vào biên chế với mức giá hàng trăm triệu đồng…

Trước khi họ bắt đầu nghiệp giáo viên, thì họ bị đẩy vào một cuộc thi ai cũng biết là sẽ trượt, nếu không có tiền. Nhiều giáo viên cho biết; “họ là nạn nhân của “văn hóa nhiệm kỳ”. Nghĩa là khi thay đổi bộ máy quan chức, lập tức có sự thay đổi hàng loạt về biên chế, các quy định… dẫn đến sự nhộn nhạo đến đau lòng của cái gọi là “những cuộc thi tuyển” kia.

Có rất nhiều đường dây chạy viên chức đã ra đời. Một số nhân vật “cò” xuất hiện mời chào những giáo viên nghèo chạy đua vào biên chế. Hầu hết họ đều là giáo viên, cán bộ công chức, viên chức, có mối quan hệ với những người có quyền hành. Trừ rất ít “cò” lừa lọc, đa số những “cò” đều hoạt động dựa trên uy tín lâu năm, lo cho nhiều trường hợp vào được biên chế… từ đó có tiếng để thu hút được nhiều người chạy. Một số “cò”, chính là người nhà của các quan chức, cán bộ nắm quyền sinh, quyền sát.

Trong các tài liệu mà tôi gửi kèm có đơn tố cáo và thư ngỏ của một giáo viên trẻ. Vì không tin vào tiêu cực, nên quyết tâm đi thi bằng thực lực của mình. Nhưng trước những gì diễn ra ngay tại phòng thi, chứng kiến sự tiêu cực đến trắng trợn, công khai…

Giáo viên này đã phải cay đắng viết thư ngỏ, nhờ một người có uy tín đăng lên mạng giúp để mong có ai đó nhìn xuống dùm. Có một chi tiếthài hước mà cay đắng trong đơn của tố cáo của giáo viên này: “Tất cả các phòng thi đều lắp camera quan sát, nhưng họ ngang nhiên “bảo kê” cho những thí sinh chép bài. Xin các cơ quan chức năng, khoan tin những lời tố cáo của tôi. Hãy mở cameera mà xem thôi sẽ thấy những gì tôi nói còn chưa đủ. Tôi chỉ xin, sau khi xem thì đừng đưa ra kết luận… tất cả các camera đều bị trục trặc kỹ thuật nhé!”

Kính thưa các ông (bà)

Đây là lần đầu tiên tôi phải viết thư ngỏ. Tôi viết để làm gì khi những tài liệu chuyển cho các ông (bà) đã nói lên tất cả rồi? Xin thưa! Đầu tiên là cho chính bản thân tôi được nhẹ lòng trước đã. Tôi viết như là để chính mình nói với mình rằng “đã cố gắng hết sức rồi”. Tôi cũng muốn nói với 185 giáo viên đang khốn đốn vì có quá nhiều tiêu cực trong bộ máy giáo dục, những kẻ lợi dụng kẽ hở của“cơ chế”, chính sách đã đẩy họ vào biết bao hệ lụy gia đình. Tôi đã đặt bản thân mình vào hoàn cảnh của họ để viết giúp họ một bức thư, như một tiếng kêu cứu thống thiết, gửi đến những người có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cao nhất có thể xem xét lại giúp họ…

Khi làm loạt phóng sự này, tôi đã mất 2 tháng trời lăn lộn, tìm hiểu mọi vấn đề, vào vai một người có nhu cầu chạy viên chức để tiếp cận những đường dây tiêu cực này. Tôi đã gặp, nhiều hoàn cảnh oái oăm. Có những “cò” chuyên chạy việc mà khi đến gần nhà họ hỏi thăm, ai cũng chỉ cho ngay. Có “cò” là sỹ quan quân đội cấp tá cũng không ngần ngại mang cái hàm cao quí ấy ra để tạo sự tin tưởng.

Với góc độ một nhà báo tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Báo đã đăng phóng sự điều tra của tôi, công an cũng đã vào cuộc, dùng tư liệu tác nghiệp của tôi để tìm ra những kẻ lừa đảo và khởi tố chúng. Tòa soạn cũng khen thưởng tôi mà không hiểu sao tôi lại đang sống trong bấn loạn, buồn bực thế này? Tôi thấy mình đang nợ những giáo viên khốn khổ một điều gì đó rất lớn? Tôi sợ niềm tin cuối cùng mà chúng tôi đã dành cho họ cũng tan biến hết. Họ cứ nghĩ, được báo chí nói lên sự thật thì tiêu cực sẽ chấm dứt? Nhưng không. Thật ngạc nhiên là ngay cả khi các cò bị bắt, thì những suất biên chế còn trống vẫn được mời chào chạy một cách trắng trợn. Chưa một ai có trách nhiệm chịu đối thoại với họ về vấn đề này.

Một trong những nhân vật của tôi cho biết: “Khi công an về điều tra thông tin báo nêu, họ không hỏi họ tiêu cực xảy ra như thế nào? Mà hỏi rằng: “Các cô quen nhà báo tên Giang trong hoàn cảnh nào? Tại sao đi cùng chị Giang? Nghe công an hỏi vậy, giáo viên này đã từ chối hợp tác vì cho rằng, câu hỏi không liên quan đến cái cần điều tra.Cái họ cần được khai là sự tiêu cực đó diễn ra như thế nào, chứ không phải là họ đã gặp nhà báo như thế nào?

Trong tài liệu quay phim mà tôi gửi cho quý ông (bà), rất nhiều cái tên được nhắc đến có liên quan đến người có trách nhiệm, hiện đang đương chức và có quyền sinh, quyền sát trong việc thi tuyển viên chức. Rất nhiều giáo viên đã chạy viên chức thành công, hiện đang làm việc tại các cơ sở giáo dục. Riêng năm 2014, cò Ánh khắng định đã chạy thành công 37 trường hợp”… Vậy vì lí do gì mà CQĐT khó vạch trần sự thật đến thế?

Tôi đã nghĩ rằng, có thể vì áp lực thời gian phải hoàn thành án? Có thể cái xấu đã quá tinh vi, ẩn náu không dấu vết… nên cơ quan điều tra đã chỉ tìm ra được cái ngọn của vấn đề. Còn cái gốc rễ của nó, cành lá của nó vẫn đang tồn tại ngang nhiên… thì cách giải quyết này cố phần bất nhẫn quá. Nó chỉ góp phần làm những người dân thấp cổ, bé họng mất niềm tin vào sự tử tế vốn hiếm hoi lúc này?

Thưa các ông (bà)!

Cái ngày những giáo viên được quay lại lớp còn mịt mờ quá. Tôi thấy mình đã không làm được gì cả? Cái mong muốn khi tôi bỏ hàng tháng để tác nghiệp ở huyện Sóc Sơn, không phải là để bắt mấy người được cho là lừa đảo kia, mà là để ai đó có trách nhiệm phải trả lại công bằng cho 185 giáo viên đang ngơ ngác, khốn đốn vì tiêu cực. Họ đã sống thế nào được khi không có cả đồng lương để nuôi con nhỏ, cha mẹ già?

Khi báo chí, các kênh truyền hình loan báo rằng: “Hà Nội không có nạn chạy viên chức”, tôi cũng như nhiều người đã phì cười vì tính hài hước của kết luận này. Tại sao lại chỉ có vài kẻ lừa đảo? Sao lại không hề có đường dây chạy công chức, viên chức, trong khi ai cũng biết đâu là sự thật? Câu hỏi này xin dành cho các ông (bà) trả lời.

Với tôi, cái quan trọng nhất vẫn là số phận của 185 giáo viên mất việc kia. Mong các quý vị hãy thấu hiểu nỗi đời của họ. Không chỉ đơn giản chỉ là chuyện mất việc, không lương, không tiền đâu. Hệ lụy kinh tế khó khăn, kéo theo mâu thuẫn gia đình. Đã có rất nhiều sự đổ vỡ hôn nhân sau khi các cô không có việc làm. Nhiều cô phải đi gánh gạch thuê để nuôi con. Rất nhiều hoàn cảnh bi đát đã xuất hiện, làm tôi day dứt. Giá mà tôi có thể đánh đổi tất cả những giải thưởng báo chí mà tôi được trao để lấy công việc cho họ.

Tôi không quên được buổi đầu khi gặp nhóm giáo viên đại diện cho 185 giáo viên bị đuổi việc này, có người còn nợ tiền xin việc. Có cô giáo nhà chẳng còn đồng nào để mua sữa cho con, chồng đi làm ca đêm, có mấy trăm ngàn trong túi cũng bị bọn cướp chặn đường, lột hết… Họ bế theo con nhỏ nheo nhóc, đói khổ đến gặp tôi, khẩn khoản xin tôi viết cho họ 1 bài điều tra. Họ muốn vạch trần sự thật xấu xa của một số kẻ lợi dụng vơ vét của những người nghèo… rồi đẩy họ vào bước đường cùng.

Những giáo viên khốn khổ bảo rằng; “Chị cứ giúp chúng em đi, rồi chúng em sẽ gom góp tiền để bồi dưỡng cho chị làm lộ phí đi đường”. Lời hứa đó làm tôi ứa nước mắt. Tôi thương họ hơn. Sao họ không nghĩ rằng lúc đó tôi ước gì mình là một đại gia, mở một trường mầm non thật lớn để tuyển hết họ vào dạy học. Sao họ không tin rằng tôi sẵn sàng lao vào hiểm nguy vì họ mà không có bất cứ điều kiện gì? Tôi đã phải cố gắng để không tràn nước mắt với những người cùng khổ này. Cay đắng thật, cái xấu đã lên lỏi vào đến tận tế bào của những người tốt mất rồi. Họ bất đắc dĩ trở thành nạn nhân của tiêu cực, tham nhũng, đút lót. Nên họ nghĩ lại phải dùng đến cả cách đút lót tiêu cực để phanh phui cái xấu,cái ác? Tôi đã phải cứng giọng, mắng át họ đi. Nhưng không phải là tôi ghét họ, mà là để mình không rơi nước mắt vì xót xa. Chúng ta đang phải sống trong một thời đại quái thai đến thế rồi sao?

Suốt quá trình đồng hành giúp đỡ 185 giáo viên này, tôi đã nặng trĩu tâm tư và ám ảnh về cái chết của một cô giáo trong số họ. Vì cay đắng, tủi nhục trong cơn hoạn nạn mất việc, không tiền… cô giáo này đã đổ bệnh mà chết. Vậy là cô đã là người bỏ cuộc đầu tiên. Đồng nghiệp của cô, 184 giáo viên còn lại vẫn tiếp tục hành trình tìm lại công việc chính đáng của mình… Tôi không rõ hành trình của họ sẽ đến đâu? Nhưng tôi mong, bức thư thành thật này của tôi, gửi đến ông (bà) một thông điệp nào đó và nhất định, những trăn trở này sẽ được trả lời…

Có lẽ tôi đã quá dài dòng, nên xin dừng bút tại đây. Một lần nữa, kính mong các ông (bà) xem xét đến tiếng kêu cứu thống thiết của những giáo viên này, sớm đưa họ về với trường, với lớp của mình…

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Thu Trang (facebook)

Posted in Công An, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Giao Duc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

► Xoay trục sang Châu Á: Tầm nhìn và Hành động

Posted by hoangtran204 trên 29/07/2015

Nguyễn Quang Dy

Theo Viet-Studies

“Tương lai chính trị sẽ được quyết định tại Châu Á, chứ không phải tại Afghanistan hay Iraq, và Mỹ sẽ ở ngay tại tâm điểm của hành động đó” (Hillary Clinton)

TỪ “XOAY TRỤC” ĐẾN “TÁI CÂN BẰNG” ĐẾN “XOAY TRỤC 2.0”: TIẾNG KÈN NGẬP NGỪNG

Quan điểm của Hillary Clinton về Châu Á có tầm nhìn chiến lược và được các nước Châu Á hoan nghênh (trừ Trung Quốc). Nếu bà Clinton được bầu làm Tổng thống thì sẽ là tin mừng đối với Châu Á (nhưng sẽ là tin buồn đối với Trung Quốc). Tuy nhiên, giữa tầm nhìn và hành động có một khoảng cách. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Gần đây người ta thường nói đến “Xoay trục sang Châu Á” như một cụm từ thông dụng và là tâm điểm chính sách Châu Á của chính quyền Obama. Vậy nó được hình thành như thế nào, thực chất là gì, và triển vọng ra sao? Thực ra ngay từ đầu, nó không phải là kết quả nghiên cứu sâu sắc của một think tank nào cả, mà là hệ quả do phản ứng linh hoạt và nhạy bén của các nhà ngoại giao Mỹ, đứng đầu là ngoại trưởng Hillary Clinton.

Chính Hillary Clinton là người đầu tiên đã tuyên bố tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (2009) rằng Mỹ có lợi ích chiến lược tại khu vực này (làm Trung Quốc tức giận). Các nhà quan sát coi đó là khởi đầu chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng”. Nhưng cả Trung Quốc lẫn các nước đồng minh của Mỹ tại khu vực vẫn chưa thực sự tin vào chủ trương này của Mỹ. Washington phải có tầm nhìn rõ ràng và hành động mạnh mẽ hơn.

Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (Hà Nội, 22/7/2011), ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuẩn bị kỹ hơn và đọc một bài diễn văn khẳng định lập trường của Mỹ tại Châu Á (làm ngoại trưởng Dương Khiết Trì tức giận bỏ ra ngoài). Hội nghị đó là một bước ngoặt, khi Mỹ khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của mình, xóa được phần nào nghi ngờ của đồng minh, và làm Trung Quốc lo ngại. Trong một lần đối thoại với bà Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc đã hỏi, “Tại sao các vị không xoay trục đi chỗ nào khác ngoài khu vực này?”

Vào tháng 11/2011, trong một bài dài đăng trên tạp chí “Foreign Policy”, ngoại trưởng Hillary Clinton đã lý giải chính sách “xoay trục” bằng một quan điểm mới là Mỹ chủ động chứ không phải bị động: Mỹ quyết định rút quân khỏi Iraq và Afghanistan là nhằm “xoay trục” sang Châu Á, chứ không phải là Mỹ bị động “thoái lui” trong thế yếu. Hillary Clinton đã đề xuất 6 hành động chủ chốt để “xoay trục” (trong đó có 4 điểm được “mượn” trong nội dung một báo cáo của CSIS). Nhưng tầm nhìn phải có hành đông kèm theo.

Trước khi Tổng thống Obama đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Bali (11/2011), ông đã quyết định đến thăm Australia để tuyên bố điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, như một hành động cụ thể để “xoay trục” sang Châu Á, nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh. Tuy nhiên, quyết định mang tính tượng trưng đó lại gây ấn tượng là chính sách “xoay trục” của Mỹ chủ yếu là điều động binh lực, nên không lâu bền. Vì vậy, 6 tháng sau, Washington đã điều chỉnh thuật ngữ “xoay trục” thành “tái cân bằng”.

Dù sao, đó là khởi đầu tốt đẹp mà bà Hillary Clinton đã có công đề xướng nhằm khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực, làm các nước đồng minh tạm yên tâm trước đe dọa ngày càng tăng của Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc sau đó, Washing ton đã không có hành động tiếp theo để biến nó thành một chiến lược nhất quán. Hơn nữa, Tổng thống Obama còn hoãn chuyến thăm 4 nước Châu Á và không dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Indonesia và Brunei (10/2013) vì chính phủ Mỹ “đóng cửa” (do hết kinh phí).

Quyết định không đúng lúc này đã làm cho Tổng thống “mất mặt”, gây hoang mang, nghi ngờ về chính sách “xoay trục” của Mỹ, đánh đi một tín hiệu xấu. Điều này làm người ta nhớ lại “Tiếng kèn Ngập ngừng” (Uncertain Trumpet, Maxwell Taylor, 1960). Tất nhiên Trung Quốc mừng ra mặt, tranh thủ phân hóa ASEAN, tuyên truyền là đừng tin vào Mỹ. Một khi đã mất lòng tin thì rất khó lấy lại. Tại sao một số nước ASEAN ngả theo Trung Quốc? Không phải họ chỉ sợ cái gậy của Trung Quốc, mà họ còn cần củ cà rốt của Trung Quốc.

Tháng 5/2014, Trung Quốc đột ngột đưa dàn khoan HD981 vào Biển Đông, và ráo riết xây dựng các căn cư quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo ngầm mà họ chiếm tại Trường Sa và Hoàng Sa. Hành động ngang ngược này đã làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm Washington giật mình. Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật là kẻ cướp muốn chiếm cả Biển Đông, không những đe dọa chủ quyền các nước khu vực mà còn đe dọa tự do hàng hải quốc tế, thách thức lợi ích chiến lược và vai trò cầm đầu của Mỹ.

Đây là bước ngoặt quan trọng làm người Mỹ phải điều chỉnh tư duy chiến lược, nhất là trong giới nghiên cứu và Quốc hội, buộc chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Mỹ đã đưa máy bay trinh sát và tàu chiến đến biển Đông để tuần tiễu, bất chấp Trung Quốc phản đối, đồng thời tăng cường quan hệ với Việt Nam, không chỉ về kinh tế chính trị mà còn cả về an ninh quốc phòng. Vừa rồi, Tổng thống Obama đã đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu dục, bất chấp nhiều ý kiến phản đối. Tổng thống Obama cũng quyết tâm đẩy nhanh quá trình đàm phán TPP, và bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam. Các nhà quan sát cho đây là bước ngoặt dẫn đến “Xoay trục 2.0”.

Bản chất chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” là nhằm “ngăn chặn” Trung Quốc trỗi dậy hung hãn như quái vật “Frankenstein” (Richard Nixon, 1994), đe dọa lợi ích chiến lược của Mỹ và thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ. Vì vậy, từ chỗ ban đầu tìm cách lý giải cho việc rút quân Mỹ khỏi Afghanistan và Iraq, nay Washington đã có lý do chính đáng để chuyển hướng ưu tiên chiến lược từ Trung Đông sang Châu Á-Thái Bình Dương. Có lẽ Mỹ nên cảm ơn Trung Quốc vì họ đã bộc lộ bản chất quái vật Frankenstein quá sớm.

Nhưng tầm nhìn mới đòi hỏi Washington cần phải có hành động mới quyết liệt và đồng bộ hơn. Nhiều người tại khu vực vẫn lo ngại “tiếng kèn ngập ngừng” của Mỹ. Họ cho rằng bà Susan Rice (Cố vấn An ninh Quốc gia) không hiểu biết mấy về khu vực này và cũng chẳng thực sự quan tâm, trong khi đó ông John Kerry (ngoại trưởng) tuy có kinh nghiệm, nhưng lại bị lôi cuốn vào bàn cờ Trung Đông và Châu Âu, nên không còn thơi gian cho Châu Á. Có lẽ vì vậy mà Tổng thống Obama đã hủy bỏ chuyến thăm Châu Á (2013). Hy vọng chuyến thăm Châu Á và Việt Nam dự kiến vào cuối năm nay không bị ông hủy bỏ như vậy.

Trước sưc ép kinh tế và quân sự của Trung Quốc hiện nay, các nước Châu Á rất cần Mỹ. Nhưng họ cần nhất một lập trường nhất quán (không phải là “tiếng kèn ngập ngừng”). Người Châu Á cần Mỹ không phải chỉ để đối phó với nguy cơ Trung Quốc trước măt, mà còn nhằm hợp tác lâu dài, giúp các nước khu vực phát triển và dân chủ hóa. Họ cần có những người hiểu biết và đồng cảm với khu vực, để lắng nghe những mối quan tâm lo lắng của họ. Đấy mới là ý nghĩa thực sự của chủ trương “Tham dự Tích cực” và “xoay trục”.

Nội dung “xoay trục” không phải chỉ có điều động binh lực Mỹ (như điều lính thủy đánh bộ đến Darwin) mà còn phải tăng cường sức mạnh quân sự cho các đồng minh tại khu vực (như bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam). “Xoay trục” không phải chỉ tăng cường hợp tác kinh tế khu vực để tránh lệ thuộc vào Trung Quốc (qua TPP) mà còn thúc đẩy hợp tác văn hóa giáo dục (như dự án Đại học Fulbright). Tuy nhiên, muốn biến tầm nhìn thành hiện thực, cần phải hành động kịp thời và quyết liệt hơn, vì nếu hành động quá ít và quá chậm (too little too late) thì sẽ mất cơ hội hoặc phải trả giá đắt. Nên nhớ là dự án Đại học Fulbright đã bị chậm lại gần hai thập kỷ, và chương trình đào tạo Fulbright (FETP) đã suýt nữa bị xóa sổ.

TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA MỸ Ở KHU VỰC: DUY TRÌ NGUYÊN TRẠNG

Lich sử tham dự của Mỹ tại Châu Á-Thái bình Dương có thể tóm tắt như sau. Trước và trong đại chiến thứ 2, đối thủ chính của Mỹ ở khu vực này là Nhật, đã canh tân giàu mạnh và quân sự hóa trở thành phát xít. Bắt đầu cuộc chiến, vì chủ quan khinh địch nên Mỹ đã bị Nhật bất ngờ nện cho một trận thua nhục nhã tại Trân Châu Cảng. Đừng tưởng Nhật bắt chước Phương Tây để hiện đại hóa thì sẽ giống phương tây, không đánh Mỹ. Lúc kết thúc cuộc chiến, để ra oai Mỹ đã nện cho Nhật 2 quả bom nguyên tử (tuy không cần thiết).

Sau chiến tranh, trong khi Nhật trở thành đồng minh chính của Mỹ thì Trung Quốc lại trở thành đối thủ chính của Mỹ tại khu vực này. Nhất là sau 1949, Trung Quốc đã trở thành cơn ác mộng mới, làm Mỹ phải đau đầu “ngăn chặn”, dẫn đến 2 cuộc chiến tranh đẫm máu tại Triều Tiên và Việt Nam, làm Mỹ hao tổn bao xương máu, tiền của và thời gian. Nhưng chống Trung Quốc mãi không ổn, Mỹ đã “xoay trục” bắt tay với Trung Quốc để rút khỏi Việt Nam, tập trung chống Liên Xô, và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại khu vực. Đó là “sáng kiến vĩ đại” của tiến sĩ Henry Kissinger, dẫn đến Shanghai Communique (1972). Đừng tưởng Mỹ bắt tay với Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ giống Nhật Bản, không chống Mỹ.

Không phải ông Kissinger không giỏi, và mưu kế của ông ấy không cao. Nhưng tầm nhìn của ông ấy khác với tầm nhìn của người Trung Quốc, và tư duy của người Mỹ khác với tư duy của người Trung Quốc. Ông Kissinger có thể chơi cờ vua giỏi, nhưng chắc không giỏi cờ tướng hay cờ vây. Ông ấy có thể thạo binh pháp Clausewitz, nhưng chắc không thạo binh pháp Tôn Tử. Không biết ông ấy có thực sự tin rằng “Constructive Engagement” là diệu kế có thể thuyết phục người Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” không, nhưng thực tế là ông ấy đã giúp Trung Quốc trở thành con quái vật Frankenstein. Chính sếp của ông ấy là cố Tổng thống Nixon đã nghĩ như vậy, và chính đệ tử của ông ấy là Robert Blackwill cũng nghĩ như vậy.

Trong khi Mỹ rút quân chiến đấu khỏi Việt Nam (theo Hiệp định Paris, 1973) và Bỏ rơi Nam Việt Nam (30/4/1975) thì Trung Quốc đã lợi dụng thời cơ “đục nước béo cò” chiếm mấy đảo của Việt Nam ở Biển Đông (1974). Mỹ biết nhưng đã lờ đi, không giúp hải quân VNCH chiếm lại. Chính sách Trung Quốc của Mỹ lúc đó đã “xoay trục” từ “ngăn chặn” thành “tham dự tích cực” (Constructive Engagement). Khi các “đại ca” đã bắt tay nhau, thì các “đàn em” sẽ bị hy sinh hoặc bị bỏ rơi, dù Việt Cộng hay Chống Cộng cũng vậy.

Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi Thailand (Utapao, Udon, Korat) và Philippines (Clark, Subic), chỉ giữ lại mấy căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Sự có mặt của Mỹ tại khu vực này giảm xuống tới mức thấp nhất, tạo ra một khoảng trống quyền lực, nhất là tại Đông Nam Á nơi các nước ASEAN yếu và dễ phân hóa. Biển Đông hầu như bị bỏ ngỏ, là cơ hội vàng đối với Trung Quốc. Nhưng lúc đó Trung Quốc còn yếu nên chưa dám liều, phải nghe theo Đặng Tiểu Bình “lặng lẽ chờ thời” để “ngư ông đắc lợi”.

Nay Tập Cận Bình lên ngôi đã củng cố xong quyền lực, thấy thời cơ tốt (hoặc vì nội bộ bất ổn) nên đã quyết định đẩy nhanh lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông (là nơi vừa xung yếu, vừa nhiều tài nguyên). Chính Tập Cận Bình đã buộc người Mỹ phải mở mắt, tạm biệt chủ thuyết “Tham dự Tích cực” (Constructive Engagement) của tiến sĩ Kissinger, để trở về tương lai với chủ thuyết “Ngăn chặn” (Containment). Nhưng “ngăn chặn” thế nào?

TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC: THAY ĐỔI NGUYÊN TRẠNG

Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đều có tham vọng bành trướng bá quyền, muốn nhòm ngó và thôn tính các nước láng giềng. Vấn đề chỉ là chờ thời gian và cơ hội. Không làm gì có chuyện Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” như người Mỹ tưởng. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã đủ mạnh, không những là cường quốc hạt nhân và quân sự, mà còn vượt qua Nhật Bản trở thành cường Quốc kinh tế thứ hai thế giới. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng thời cơ đã đến, có thể thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ, nhân lúc Mỹ đang lúng túng đối phó với khủng hoảng kéo dài tại Trung Đông và khủng hoảng mới tại Châu Âu.

Về phía Tây, Trung Quốc muốn bành trướng ra khu vực Trung Á giàu tài nguyên và khu vực Nam Á-Ấn Độ Dương có vị trí chiến lược quan trọng. Trong một thời gian dài, Trung Quốc đã thao túng được chính quyền quân sự Myanmar làm con bài để phân hóa ASEAN, và bành trướng Xuống Nam Á. Nhưng từ khi tình hình chính trị Myanmar thay đổi bất lợi cho Trung Quốc và có lợi cho Mỹ, thì hướng bành trướng này bị ngăn chặn. Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc gần đây đã thỏa thuận tài trợ cho Pakistan 46 tỷ USD.

Về phía Bắc, Trung Quốc từ lâu đã nhòm ngó và thèm muốn nguồn tài nguyên (dầu hỏa) tại khu vực Siberia rộng lớn, nhưng Nga không phải là đối thủ dễ chơi. Gần đây Trung Quốc lợi dụng cơ hội Nga bị Mỹ và Phương Tây cấm vận vì khủng hoảng Ukraine, để xich lại gần Nga như một “lá bài răn đe” Mỹ và để tranh thủ mua rẻ dầu hỏa của Nga. Nhưng Nga khó trở thành đồng minh chiến lược của Trung Quốc, vì Nga biết rõ tham vọng của Trung Quốc, và không quên Trung Quốc đã từng liên kết với Mỹ để chống Liên Xô.

Về phía Đông, sau khi “bình định” xong Hong Kong và Ma Cao, Trung Quốc muốn thôn tính nốt Đài Loan (là “lợi ích cốt lõi”) và các hải đảo tại Biển Hoa Đông. Việc Trung Quốc tuyên bố “khu vực nhận diện phòng không” tại Biển Hoa Đông và tranh chấp đảo “Điếu Ngư” (Senkaku) với Nhật Bản đã làm khu vực này nóng lên, và làm quan hệ Trung-Nhật căng thẳng. Tuy nhiên, lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu Nhật Bản và Hàn Quốc không phải là những đối thủ dễ chơi vì tiềm lực họ mạnh, và là đồng minh chiến lược của Mỹ.

Về phía Nam, khu vực Đông Nam Á, nhất là bán đảo Đông Dương và Biển Đông là khâu yếu nhất, dễ thôn tính nhất. Trong khi Việt Nam bị Trung Quốc thao túng, thì ASEAN cũng yếu và dễ bị phân hóa. Vai trò Việt Nam trong ASEAN quan trọng không phải vì tiềm lực kinh tế, mà vì địa chính trị đối với Trung Quốc. Trong lịch sử, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc là sau thỏa thuận dại dột tại Thành Đô (9/1990) vị trí địa chính trị của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa vì bị mắc kẹt trong cái bẫy ý thức hệ với Trung Quốc, bị Trung Quốc khống chế mọi mặt, cả kinh tế lẫn chính trị.

Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc ngang ngược tuyên bố chủ quyền “đường chin đoạn”, đem dàn khoan HD 981 đến Biển Đông xâm phạm chủ quyền Việt Nam (5/2014), ráo riết xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo đá ngầm mà họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một bước ngoặt mới trong tầm nhìn của lãnh đạo Bắc Kinh, làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm cho lãnh đạo Washington cũng phải giật mình lo ngại, buộc phải tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc. Chính nước cờ thế (gambit) này của Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ.

Ông Tập Cận Bình đã từ bỏ lời khuyên của ông Đăng Tiểu Bình, và làm ngược lại các lãnh đạo trước đó. Bắc Kinh đã triển khai một chính sách đối ngoại đầy tham vọng với “Giấc mộng Trung Hoa” (China Dream), “Giấc mộng Châu Á-Thái Bình Dương” (Asia-Pacific Dream), “Con đường Tơ lụa Trên biển” (Maritime Silk Road), với những quyết sách kinh tế táo bạo như lập “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á” (Asian Infrastructure Investment Bank) làm đối trọng với IMF. Trung Quốc không chỉ võ mồm, mà đầu tư rất lớn. Theo giáo sư David Shambaugh nếu cộng tất cả các khoản đầu tư của Trung Quốc vào các dự án lớn này, con số lên đến 1.41 ngàn tỷ USD. (Trong khi kế hoạch Marshal trước đây chỉ có 103 tỷ USD).

Như một quy luật, Trung Quốc càng giàu mạnh thì lại càng hung hăng, càng muốn thách thức và thay đổi trật tự thế giới cũ do Mỹ cầm đầu. Việc Trung Quốc gấp rút xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại Biển Đông nhằm kiểm soát toàn bộ vùng biển này là hành động tất yếu, chỉ là vấn đề thời gian. Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông bằng cách lấn dần từng mảng, như chuyện đã rồi, dù thiên hạ có phản đối nhưng chẳng ai làm gì được.

Nhiều người cho rằng Trung Quốc có tiềm lực kinh tế và quốc phòng rất mạnh (chỉ đứng sau Mỹ) nên có thể làm gì cũng được. Nhưng nếu xét kỹ thì “Gót chân Asin” của Trung Quốc không phải chỉ là vùng xa xôi hẻo lánh khó quản lý như Tây Tạng, Tân Cương, mà ở ngay tại các trung tâm lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến. Thứ nhất, đó là khoảng cách giàu nghèo và sự bất bình ngày càng tăng của dân chúng, ở thành phố cũng như nông thôn. Số lượng các cuộc biểu tình và bạo động ngày càng tăng, cả về số lượng và quy mô. Bóng ma Thiên An Môn vẫn còn lảng vảng đâu đây, để một ngày nào đó có thể nổi lên bóp cổ chế độ.

Thứ hai, Trung Quốc tuy giàu, nhưng thị trường tài chính/chứng khoán rất dễ bị tổn thương vì nó liên thông toàn cầu. Chỉ trong 3 tuần tháng 6/2015, Trung Quốc đã mất 3.400 tỷ USD (bằng 44% GDP quốc gia). Không biết sự kiện bán tháo chứng khoán gây náo loạn gần đây có “bàn tay thù địch” nào không, nhưng đó là một lời cảnh báo, chắc còn tiếp diễn. Chiến tranh mạng là con dao hai lưỡi đối với trung Quốc. Đó là cuộc chiến không có tiếng súng, không cần tuyên bố, xảy ra chớp nhoáng, nhưng hậu quả khôn lường. Thị trường chứng khoán có thể là mục tiêu đầu tiên của một cuộc chiến tranh mạng giữa các cường quốc.

Thứ ba, chưa biết đấu tranh quyền lực tại Trung Quốc do tập Cận Bình phát động dưới danh nghĩa chống tham nhũng (“đả hổ diệt ruồi”) sẽ dẫn tới đâu, nhưng người ta bắt đầu liên tưởng đến hệ quả “cách mạng văn hóa mới” như “quả bom nổ chậm”. Theo các giới nghiên cứu, 64% dân giàu Trung Quốc (vốn trên 1.6 triệu USD) đã và đang di cư ra nước ngoài. Nếu có biến động về chính trị hay tài chính thì cuộc di cư ồ ạt này (như “bỏ phiếu bằng chân”) sẽ làm nền kinh tế Trung Quốc kiệt quệ nhanh chóng. Có lẽ những lý do nội bộ này là động cơ chính thúc đẩy Bắc Kinh triển khai một chính sách đối ngoại hung hăng hơn, mặc dù tự làm cô lập mình, ngược lại với chiến dịch lấy lòng thiên hạ (“Charm Offensive”).

Trung Quốc sẽ tiếp tục chơi nưóc cờ thế (gambit). Những dấu hiệu gần đây cho thấy, nếu Việt Nam xích lại gần Mỹ, họ sẽ dùng cái gậy để tiếp tục dọa. Nếu biết ta yếu bóng vía, họ sẽ đe dọa bằng kế sách “bên miệng hố chiến tranh”, gây sức ép từ phía Bắc, phía Đông, hay phía Tây Nam. Nếu biết ta tham, họ sẽ dùng củ cà rốt để tiếp tục mua. Cái gậy hay củ cà rốt đều là “sức mạnh cứng” mà họ có thừa. Nhưng cái họ thiếu là “sức mạnh mềm”.

TẦM NHÌN MỚI Ở KHU VỰC: VƯỢT RA KHỎI ASEAN

ASEAN là một ý tưởng hay. Nhưng ASEAN 10 không phải là ASEAN 5. Đó là một bức tranh Mosaic, lắp ghép bằng các mảng miếng đa dạng có màu sắc khác nhau, rất dễ bị Trung Quốc phân hóa và thao túng. Đoàn kết ASEAN đến nay vẫn là khẩu hiệu suông. Muốn có một ASEAN mạnh, có tiếng nói chung, ép được Trung Quốc phải theo luật chơi (như “COC” và đàm phán đa phương), thì các nước ASEAN phải ra khỏi “cái hộp thể chế”. Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác là một điểm yếu hiện nay, khi đối phó với Trung Quốc.

“ARF” (Asian Regional Forum), East Asia Summit, APEC, v.v. là những ý tưởng tốt. Nhưng đến nay, nó chỉ là câu lạc bộ để thảo luận, chứ chưa phải để hành đông, trong khi đó cái bóng đen của con rồng Trung Quốc đã phủ khắp Biển Đông. Những gì mà ARF làm được còn quá ít và quá muộn không đủ đối phó với mối đe dọa của Trung Quốc. Phải có một khuân khổ mới hiệu quả hơn, làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực.

ASEAN + 1 là một ý tưởng đúng, nhưng đến nay chưa hiệu quả, vì còn thiếu một khuân khổ thích hợp, để gắn kết với TPP. Trong số các đối tác của ASEAN, Nhật Bản có vai trò quan trọng nhất khu vực Đông Á, nhưng trước đây còn rụt rè. Gần đây, trước sự đe dọa của Trung Quốc, chính phủ của thủ tướng Abe cứng rắn hơn, cuối cùng đã vượt ra khỏi được “cái hộp hiến pháp” để có vai trò an ninh khu vực. Tại Đối thoại Shangri-La, Singapore (29-31/5/2015) Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani đã đề xuất cùng 10 nước ASEAN tuần tra Biển Đông. Đây là một ý tưởng đúng, nhưng không khả thi (vì khó huy động cả 10 nước ASEAN).

Australia cũng là một đối tác quan trọng, nhưng lâu nay bị coi là “người ngoài” (odd man out), vì lợi ích chưa thực sự gắn bó với khu vực. Gần đây, Australia còn tự nguyện bỏ tiền ra tìm kiếm chuyến bay Malaysia Airlines 370 bị mất tích tại Ấn Độ Dương (nghe nói là để lấy lòng Trung Quốc). Về thương mại và đầu tư, Australia rất cần Trung Quốc. Nhưng sau khi Chính quyền Obama có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, điều động máy bay trinh sát đến tuần tra Biển Đông, thì Canberra đã thay đổi hẳn thái độ. Ngày 1/6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Kevin Andrews đã tuyên bố Australia sẽ tiếp tục cho máy bay quân sự bay qua Biển Đông ngay cả khi Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ).

Nhưng để duy trì lập trường và vai trò tích cực của Nhật Bản và Úc, gắn kết hai đối tác có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh tại Châu Á-Thái Bình Dương vào an ninh tập thể khu vực này, phải có một cơ chế mới hiệu quả hơn. Sự chuyển hóa tích cực của bức tranh địa chính trị tại khu vực này sẽ phụ thuôc vào ba yếu tố thiết yếu sau đây.

Thứ nhất, “tam giác đều” Mỹ-Trung-Viêt phải chuyển hóa nhanh thành “tam giác lệch”, với chiều Mỹ-Việt xích lại gần nhau hơn như đối tác chiến lược trên thực tế (de facto), đủ để Việt Nam tin tưởng mà bỏ chính sách “ba không” (thrre no’s) đang làm vô hiệu hóa khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam và vai trò Việt Nam trong khu vực. Nhưng muốn thực hiện được yếu tố thứ nhất, phải thực hiện nhanh yếu tố thứ hai.

Thứ hai, phải mau chóng lập “tứ giác chiến lược” (strategic rectangle) gồm Nhật-Việt-Úc-Phi, thành nhóm nước “tiên phong” (frontline) làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực. “Tứ giác chiến lược” này cần dựa trên “tầm nhìn Đông Á” và thể chế hóa như một “liên minh chiến lược” (strategic alliance). “Tư giác chiến lược” này có 3 lợi thế: (1) Dễ thực hiện vì cả bốn nước đã là đối tác chiến lược/toàn diện, (2) Không sợ “quá nhạy cảm” với Trung Quốc (như đối tác chiến lược Mỹ-Việt). (3) Làm đầu tầu kết nối các nước Đông Á, thực hiện “Tầm nhìn Đông Á” bằng hành động cụ thể (hợp tác quân sự, tập trận và tuần tra chung).

Thứ ba, phải mau chóng chuyển sang “fast track” để sớm biến TPP thành hiện thực, làm cơ sở hỗ trợ những nước yếu như Việt Nam khỏi phụ thuộc vào Trung Quốc, và gắn kết các nước khu vực Đông Á lại với nhau thành đồng minh “cùng hội cùng thuyền”.

TIẾN TỚI “XOAY TRỤC 3.0”: SỨC MẠNH THÔNG MINH

Từ “xoay trục” đến “tái cân bằng” và “xoay trục 2.0” là một quãng đường dài, nhưng vẫn còn “quá ít và quá muộn” (too little too late). Nói theo ngôn ngữ điện ảnh, thì “Chiếc cầu Còn xa” (A Bridge Too Far)” (tên một bộ phim chuyện của Joseph Levine, 1977). Có lẽ đã đến lúc phải nghĩ đến “Xoay trục 3.0”, để đối phó với Trung Quốc, không phải chỉ bằng “sức mạnh cứng” mà còn bằng “sức mạnh mềm” (vì đó chính là điểm yếu của Trung Quốc).

Về thực chất, chính sách “xoay trục” sang Châu Á là nhằm “tái cân bằng” lực lượng để “ngăn chặn” Trung Quốc bành trướng. Việc điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, cho máy bay trinh sát và tàu chiến tuần tra Biển Đông, mới chỉ là bước dạo đầu. Mỹ cam kết bố trí 60% lực lượng hải quân ở Châu Á-Thái Bình Dương (trong khi ở Đại Tây Dương là 40%). Hiện nay tỉ lệ bố trí tại hai nơi này là 50-50. Ngoài ra Mỹ phải giúp các nước đồng minh/bạn bè tại khu vực tăng cường lực lượng. Ví dụ, Mỹ đang bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam và từng bước nâng cấp quan hệ lên “đối tác chiến lược”, để hải quân Mỹ có thể sử dụng căn cứ Cam Ranh, và hải quân Việt Nam có thể tham gia tập trận và tuần tra.

Ngoài “xoay trục” bằng tái cân bằng “sức mạnh cứng” (hard power), Mỹ phải tái cân bằng “sức mạnh mềm” (soft power) để có “sức mạnh thông minh” (smart power). Muốn “xoay trục” nhanh và hiệu quả, thì cả hai phía phải “cùng xoay”. Vừa phải “xoay trục” về kinh tế (như thúc đẩy nhanh triển khai TPP) nhằm cô lập Trung Quốc, vừa phải “xoay trục” về văn hóa giáo dục (như triển khai nhanh dự án Đại học Fulbright) và tăng cường giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các nước, để hỗ trợ quá trình dân chủ hóa (là “sức mạnh mềm”).

Có một bài học lịch sử đáng nhớ. Tuy những người Pháp thực dân đã để lại một di sản thuộc địa đáng buồn tại Việt Nam, nhưng những người Pháp nhân văn cũng đã để lại những di sản văn hóa đáng quý. Đó là “hệ quả không định trước” (unintended consequences) cần trân trọng. Những cái tên như Alexandre De Rhodes, Alexandre Yersin, Louis Pasteur, v.v. đã trở thành những “thánh nhân” trong lòng người Việt. Trường Mỹ thuật Đông Dương đã để lại một thế hệ họa sĩ Việt tài năng mà tác phẩm của họ đã trở thành một hiện tượng bất tử, không thể lặp lại. Dù trải qua bao biến động cách mạng, những biệt thự Pháp tại hà Nội vẫn là dấu son của thành phố, và “văn hóa rượu vang” không thể thiếu trong một bữa tiệc. Người ta hay nói đùa (hay thật) là “ăn cơm tàu, ở nhà tây, lấy vợ nhật” mới sành điệu (high living).

Nhìn lại lịch sử giao lưu văn hóa với các cường quốc, không hiểu tại sao chỉ có người Pháp để lại được một số di sản văn hóa có ý nghĩa sâu đậm như vậy. Có lẽ vì vậy mà người Pháp đáng yêu hơn là đáng ghét. Trong khi người Trung Hoa đáng ghét hơn là đáng yêu (mặc dù ai cũng thích ăn “cơm tàu” và đọc “Tam Quốc”). Người Nga có nền văn hóa vĩ đại, đã từng là đồng minh chiến lược của Việt Nam, nhưng không hấp dẫn được thế hệ trẻ bằng Vodka và Tolstoy. Người Nhật đến Việt Nam rất sớm, nhưng không ở lâu, chỉ để lại vài hình tượng còn sót lại tại Faifo (Hội An) và “văn hóa Honda” thời hậu chiến. Người Mỹ thời chiến tranh Việt Nam và thời hậu chiến chỉ hấp dẫn người Việt bằng “văn hóa Hollywood và McDonald”. Nhưng sau 20 năm, đã có 16.500 sinh viên Việt Nam đi học Mỹ. Đó là một tài sản quý nối kết hai nước, như là “sức mạnh mềm”. Có lẽ đây là lý do Trung Quốc sợ Việt Nam “diễn biến hòa bình” và xui ta chống Mỹ. Vì vậy, Đại học Fulbright càng có ý nghĩa (nhưng đừng quá muộn).

Gần đây, Tổng thống Obama đã nhìn thấy tầm quan trọng của Châu Á-Thái Bình Dương, và quyết tâm “xoay trục”, để bảo vệ lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ, đồng thời bảo vệ các nước đồng minh và bạn bè ở khu vực trước mối đe dọa của Trung Quốc. Tầm nhìn mà bà Hillary Clinton đề xướng đang được chính quyền Obama triển khai. Chỉ có điều là hành động như thế nào để tầm nhìn có ý nghĩa và trở thành hiện thực (trước khi quá muộn). Bởi vì, trong khi người Mỹ và người Việt vẫn đang nhảy điệu “slow waltz” theo “tiếng kèn ngập ngừng”, thì người Trung Quốc không ngồi yên, đang nhảy “rock’n roll”.

Có người cho rằng, ông Obama đã có tầm nhìn và hiểu đúng về Trung Quốc, nhưng đáng tiếc điều đó không còn thực sự có ý nghĩa nữa (it doen’t really matter anymore). Bởi vì, những gì Trung Quốc đang làm tại Biển Đông hay Việt Nam có thể làm cho những gì Mỹ đang “xoay trục” trở thành quá ít và quá muộn (too little, too late).

THAM KHẢO

1. “A new era in US-Vietnam Relations”, A Report of the Sumitro Chair, CSIS, June 2014

2. “The South China Sea – The Struggle for Power in Asia”, Bill Hayton, Yale University Press, 2014. Book review, Ben Richardson, October 16, 2014.

3. “Pivot 2.0 : How the Administration and Congress Can Work Together to sustain American Engagement in Asia to 2016”, A Report of the Asia Program, CSIS, January 2015

4. “The time is right for president Obama to visit Vietnam in 2015”, Murray Hiebert & Phuong Nguyen, CSIS, February 19, 2015

5. “Obama got China right but it’s too late”. Andrew Perk, Observer, Fabruary 6, 2015

6. “A new US Grand strategy towards China”, Robert Blackwill & Ashley Tellis, The national Interest, April 13, 2015

7. “From Foe to Frenemy: Why the US is courting Vietnam”, David Brown, Foreign Affairs, June 29, 2015

8. With an absent US, China marches on”, Fareed Zakaria, Washington Post, July 2, 2015

NQD. July 16, 2015

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 18-7-15

 

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

►TPP và dân chủ hóa Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 07/07/2015

BBC

Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ

Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

06-07-2015

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm Hoa Kỳ trong thời gian 7-10/7/2015

Vào ngày 7 tháng 7 này, nếu không có bất ngờ vào phút chót, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ đặt chân vào Nhà Trắng theo lời mời của chính quyền của Tổng thống Mỹ Obama.

Chắc chắn đây sẽ là sự kiện lịch sử không chỉ vì lần đầu tiên một tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam thăm Mỹ mà còn vì lần đầu tiên tổng thống Mỹ tiếp người đứng đầu một đảng cộng sản không kiêm bất cứ chức vụ Nhà nước nào. Sự “phá lệ” này của chính quyền quán quân thế giới về chống cộng cho thấy Việt Nam quan trọng đến nhường nào trên bàn cờ chiến lược của Mỹ ở thế kỷ 21 mệnh danh “Xoay trục về Châu Á – Thái Bình Dương”.

Chặn đứng Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc là đối thủ lớn nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ thứ 21 ở Châu Á – Thái Bình Dương về quân sự và chính trị. Chiến lược xoay trục về châu Á – Thái Bình Dương để gấp rút ngăn chặn bành trướng lãnh thổ bằng vũ lực của Trung Quốc ở biển Đông được Tổng thống Mỹ Obama phát động vào đầu năm 2011 là hoàn toàn đúng đắn, tuy có chậm.

Thế nhưng sự thành công của chiến lược quân sự thế kỷ 21 nói trên của Mỹ lại phụ thuộc vào Việt Nam.

Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị xâm lược phần còn lại của quần đảo Trường Sa và chắc chắn sẽ thành công trong kế hoạch xâm lược này vì Việt Nam yếu hơn hẳn Trung Quốc, nhất là về phương tiện chiến tranh trên biển. Nói cách khác, học thuyết “chiến tranh nhân dân” của Việt Nam dựa trên phát huy sức người và địa hình trên đất liền mặc nhiên mất hiệu lực trong cuộc chiến trên biển.

 Việc Trung Quốc mở rộng xây lấn đảo ở Biển Đông được nhiều nước coi là hành vi bành trướng lãnh thổ

Có ý kiến cho rằng bằng cách bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, Mỹ có thể giúp nước này bảo vệ được lãnh thổ của mình ở biển Đông trước xâm lược Trung Quốc. Thế nhưng điều này không thực tế không chỉ vì Việt Nam không chạy đua vũ trang nổi với Trung Quốc hiện là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới trong khi Việt Nam lại đang cạn tiền, mà nhất là vì Việt Nam do Đảng Cộng sản kiểm soát chắc chắn không dám đánh trả Trung Quốc được coi là chỗ chống lưng duy nhất của chế độ độc tài của Đảng.

Chính vì vậy người viết bài này luôn khẳng định Mỹ cho, chứ đừng nói là bán, Việt Nam vũ khí thì Việt Nam cũng chẳng bao giờ dám dùng vũ khí ấy để đánh lại Trung Quốc. Để nói, việc chính quyền Việt Nam kêu gào Mỹ bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam là không thực chất, chẳng qua lấy Mỹ để hù dọa Trung Quốc, hòng làm nước này chùn bước trong kế hoạch đánh chiếm nốt quần đảo Trường Sa để chính quyền Hà Nội yên ổn được ngày nào hay ngày ấy.

Về phía Trung Quốc, nước bành trướng này đủ thông minh và thực tế để hiểu rằng kế hoạch của họ đánh chiếm nốt quần đảo Trường Sa nhằm hoàn tất độc chiếm biển Đông sẽ chỉ bị chặn lại nếu Mỹ tham chiến.

Do đó, chắc chắn Trung Quốc sẽ không bắn một phát đạn nào vào các lực lượng quân sự của Mỹ đang được rầm rộ triển khai tại vùng biển chiến lược này và thay vào đó sẽ đánh Mỹ bằng mồm rất hăng.

Như vậy, cách duy nhất để Mỹ có thể trực tiếp chặn đứng xâm lược của Trung Quốc là Mỹ phải được Việt Nam chính thức yêu cầu giúp tự vệ. Nói cách khác, chỉ khi nào Việt Nam ký kết liên minh quân sự với Mỹ thì Mỹ mới có cơ sở pháp lý để tham chiến.

Kịch bản Việt Nam trở thành đồng minh quân sự của Mỹ nếu diễn ra thì rất tuyệt bởi Việt Nam lúc đó không những bảo vệ được phần còn lại của quần đảo Trường Sa mà còn có thể giành lại các đảo thuộc quần đảo này cũng như toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay Trung Quốc.

Trong tình huống sau, một cuộc chiến kéo dài với liên quân Việt – Mỹ hoàn toàn có thể dẫn đến một sự rối loạn chính trị ở đại lục Trung Quốc, điều này đến lượt nó sẽ đe dọa trực tiếp sự sống còn của chế độ cộng sản tại đây.

Thế nhưng, chính quyền Việt Nam luôn khẳng định Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào vì hiểu rõ rằng cái giá để Việt Nam trở thành đồng minh quân sự của Mỹ chỉ có thể là từ bỏ chế độ cộng sản.

Để nói, không có Việt Nam với tư cách đồng minh quân sự thì dù Mỹ có đưa tàu chiến và máy bay chiến đấu vào biển Đông bao nhiêu đi chăng nữa thì Mỹ cũng sẽ chỉ là người ngoài cuộc, là khán giả bất đắc dĩ chứng kiến Trung Quốc hoàn tất xâm lăng quần đảo Trường Sa, đồng nhất với thất bại của chiến lược xoay trục về châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.

TPP: Mục tiêu chính trị cho Mỹ

 Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vừa ký đạo luật Quyền Thúc đẩy Thương mại (TPA), cho phép tổng thống quyền sớm hoàn tất tiến trình đàm phán các thỏa thuận thương mại, trong đó có Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Do đó, dân chủ hóa Việt Nam hay giải thể một cách hòa bình chế độ độc tài của Đảng cộng sản Việt Nam để Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ rõ ràng là yêu cầu cấp bách của cả hai nước.

Theo hướng này Mỹ bằng mọi cách phải gây sức ép buộc chính quyền Việt Nam chấm dứt đàn áp nhân quyền để tạo điều kiện thiết yếu cho phong trào dân chủ phát triển kể cả trong nội bộ Đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam. Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ sẽ đóng vai trò chủ chốt và Việt Nam đang đàm phán tham gia vì vậy nổi lên như một cơ hội gây sức ép hiếm có mà Mỹ tuyệt đối không thể bỏ qua.

Điều cần lưu ý là một khi chế độ cộng sản bị giải thể ở Việt Nam, thì điều này không những cùng lúc chấm dứt chế độ cộng sản ở Lào (Đảng nhân dân cách mạng cầm quyền ở Lào thoát thai từ Đảng lao động Việt Nam, nay là Đảng cộng sản Việt Nam) mà còn tác động quan trọng đến sự sụp đổ của Trung Quốc cộng sản, điều này kéo theo sự sụp đổ của Bắc Triều Tiên.

Tóm lại, dân chủ hóa Việt Nam một khi thành công sẽ tạo ra “hiệu ứng domino”, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền của các nước cộng sản cuối cùng trên thế giới và đây chắc chắn là mục tiêu quan trọng nhất mà Mỹ ngắm tới với xoay trục về châu Á – Thái Bình Dương.

Cũng có thể nói Mỹ giúp dân chủ hóa Việt Nam là một công được nhiều việc vậy!

TPP: Cửa thoát hiểm cho chính quyền Việt Nam

Như vậy, trong trường hợp Việt Nam, TPP giúp Mỹ đạt mục tiêu chính trị và tiếp đó quân sự là chính chứ không phải lợi ích kinh tế. Vấn đề là liệu TPP có thành công với tư cách là công cụ gây sức ép của Mỹ?

H1

Không nghi ngờ gì nữa, kinh tế Việt Nam đang bên bờ sụp đổ vì được thiết kế trên nền tảng các doanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp này hoạt động vô cùng yếu kém, luôn trong tình trạng phá sản.

Ngân sách quốc gia cạn kiệt đến mức từ tháng 8/2014 chính phủ Việt Nam đã tính chuyện vay nước ngoài 1 tỷ USD để đảo nợ nước ngoài và mới đây chính phủ còn buộc Ngân hàng Nhà nước cho chính phủ vay tiền từ dự trữ ngoại hối để chi thường xuyên. Trong khi đó dầu lửa đóng góp tới 1/3 ngân sách Nhà nước lại rớt giá thảm hại, đó là chưa kể nguồn thu từ dầu lửa chắc chắn bị đe dọa nghiêm trọng một khi Trung Quốc gây chiến với Việt Nam ở biển Đông.

Kinh tế quốc gia một khi sụp đổ tất kích hoạt sự nổi dậy của người dân, vốn đã có nhiều bất bình trong xã hội.

Để đối phó với những cuộc nổi dậy tiềm phát của người dân, chính quyền cộng sản hiện phải duy trì một đội quân đông tới 800 nghìn người gồm cả công an lẫn quân đội, không kể dân quân các loại. Thực vậy, lực lượng vũ trang được Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam quy định “tuyệt đối trung thành với Đảng”, đặt bảo vệ chế độ cộng sản trên cả bảo vệ Tổ Quốc. Vậy nên, nếu không có TPP được dự kiến mang về cho Việt Nam số tiền đạt tới 36 tỷ USD vào năm 2025, chính quyền Việt Nam sẽ khó mà duy trì bộ máy đàn áp đông đảo nói trên.

Tóm lại, với TPP chính quyền cộng sản Việt Nam hy vọng tránh khỏi sụp đổ đã cận kề.

 Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ: "Chiến lược xoay trục về Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ chỉ có tiền đồ rõ ràng khi Tổng thống Obama cùng với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tạo nên một bước ngoặt cho dân chủ hóa Việt Nam"

TPP là công cụ dân chủ hóa

Mỹ cho Việt Nam hưởng Quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR) cũng như đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “những quốc gia đặc biệt quan tâm” (CPC) về tôn giáo để Việt Nam được gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) nhằm khích lệ Việt Nam cải thiện nhân quyền. Thế nhưng, đã 8 năm trôi qua kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nhân quyền ở Việt Nam không những không được cải thiện mà còn bị vi phạm trầm trọng hơn rất nhiều.

Để không lặp lại sai lầm của PNTR và WTO, chính phủ Mỹ phải kiên quyết yêu cầu chính phủ Việt Nam chấm dứt đàn áp nhân quyền bằng việc loại bỏ các điều 79, 88 và 258 Bộ Luật hình sự, trả tự do vô điều kiện cho tất cả các tù nhân chính trị – tù nhân lương tâm, cải cách Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm chấm dứt tra tấn… cũng như thực hiện đầy đủ quyền tự do ngôn luận và các quyền con người cơ bản khác được quy định tại Điều 25 Hiến pháp Việt Nam) để chính phủ Mỹ có thể ký TPP với chính phủ Việt Nam. Một khi chính phủ Việt Nam cam kết chấm dứt đàn áp nhân quyền thì cam kết này phải được ghi ngay trong Hiệp định.

Mặc dầu vậy cũng có thể tính tới kịch bản phía Việt Nam không chịu điều kiện về nhân quyền mà Mỹ đưa ra, đồng nhất với Việt Nam không tham gia TPP nữa. Tất nhiên trong trường hợp đó chính quyền Việt Nam sẽ phải quay sang Trung Quốc để tìm sự cứu rỗi về tài chính với cái giá mặc cho Trung Quốc đánh chiếm nốt quần đảo Trường Sa cũng như mặc cho nước này muốn làm gì thì làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Một khi Trung Quốc chiếm nốt quần đảo Trường Sa với sự đồng lõa của chính quyền cộng sản Việt Nam, thì đó sẽ là lúc các lực lượng yêu nước nhất tề nổi dậy nhằm thiết lập một chính quyền dân chủ nhằm liên minh quân sự với Mỹ, bảo vệ thành công lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông.

Kết luận lại, chiến lược xoay trục về Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ chỉ có tiền đồ rõ ràng khi Tổng thống Obama cùng với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tạo nên một bước ngoặt cho dân chủ hóa Việt Nam.

Tác giả là một nhà bất đồng chính kiến và tù nhân chính trị Việt Nam, hiện là học giả tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.

————–

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

25-6-2015

 

 

aus-us-300x155

Thời Đệ nhị thế chiến

Thế chiến Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.

Mặc dù đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.

Hôm sau Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại 20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính họ, để ngăn ngừa hậu họa.

Năm 1942 đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie, tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,

Từ ngày 4 tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974 đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới

Tháng 4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2) có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.

Mặt trận châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm mới xong.

Năm 1957 C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm 1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng Sãn Xô viết.

Truyện sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng, hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ, chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”

Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.

Sau 1945 Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu chiến (4)

Cuộc nội chiến Trung Hoa

Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng 8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.

Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc – Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

Tháng 3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12- 9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

Nhiều người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy, Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)

Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

Dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

Nhưng cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)

Quốc Dân Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (9)

Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.

Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác ngay trong năm sau.

Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan. Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho dã tâm của mình.

Chiến dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954

Giữa năm 1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không nhường đất cho CS.

Đài Loan thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm

Năm 1946 Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.

Trung Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ không hy vọng gì chiến thắng.(12)

Việt Minh được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích, VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)

Cuối năm 1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.

Đầu thập niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn chinh Đông Dương nói:

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)

Đúng ra Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin tưởng Staline.

Salan giữ chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay CS.

Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15). Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).

Navarre cũng dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km, rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó, phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5 ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.

Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19), Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000 người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược.

Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Pháp cũng như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.

TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22). Xin sơ lược như sau:

Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp từ bỏ cuộc chiến.

Đô đốc Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng 98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig Trung Cộng nếu có.

Cuộc tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.

1- Lập liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.

Những lý do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên” trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và cao xạ cho VM.

Ba Lê chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.

Người Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn trong trại.

Khi Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.

Chiều ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng. Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho xong.

Tất cả nỗ lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm 1966 mới được tiết lộ)

“Một quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”

Cuối thư nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.

Còn một nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng rắn từ chối nói.

“Chúng tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại ĐBP”

Chiến dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.

Màn bi kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch. Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954 ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong trai giam.

Dù Anh có đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định (không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.

Như thế quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã xong không thể đổ lỗi cho Anh(23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
– Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)

Ba điều kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.

Việc Hoa Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc quành lịch sử.

Bernard Fall nói

“Trong trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ. (27)

Từ năm 1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…

ĐBP đã khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng họ được (28).

Tính già hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP, bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN

Cuộc chiến Việt Nam

Bernard Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)

Hai cuốn sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.

Ký giả Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.

Năm 1954 Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản trở hành pháp thực hiện Kên kên.

Bất ngờ cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS

Tháng 2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng mạnh

Đầu tháng 3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)

Tổng thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965). Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100 người

Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson quyết không để VN lọt vào tay CS.

Chính sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét

“Ta cần phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)

Johnson đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch, Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.

Các chiến dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng, từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân (34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.

Cuộc chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại

CSBV đưa 84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370 tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần 20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.

Năm 1965 tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn 41%, cuối 1968 chỉ còn 35%(35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.

Johnson-McNamara thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.

Năm 1969, Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm 1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.

Năm 1969 Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người, năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân 1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.

VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,

Kế đó cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914 bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.

Kissinger đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác. Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung Cộng, hòa với Nga.

Trong tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson

(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)

Nixon là người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay. Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga, bang giao với Trung Cộng

Trước sự thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.

Sau ngày ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.

Quốc hội Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…

Quốc hội lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không còn là mối nguy đe dọa ĐNA.

Nhờ xương máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.

Từ thập niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu Thuấn.

Mấy chục năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế, niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng hung dữ hơn trước.

Nay ngân sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.

Nga từ bỏ chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước Mỹ thành tro bụi.

Tác giả Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ

“Tháng 3 và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.

Trong khi Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi, như thế không thể thắng được cuộc chiến.

Tại một đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là điều không có gì khó hiểu.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/96717/hoa-ky-va-van-de-tu-bo-dong-minh/2015/06

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »