Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh’ Category

►Tại sao Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ năm 1999 bị trì hoãn? (Nguyễn Công Khế, 22-10-2017)

Posted by hoangtran204 trên 26/10/2017

– Mất cơ hội phát triển đất nước vì sự bảo thủ, khăng khăng muốn đi theo con đường XHCN.

-Tôn thờ Trung Quốc; không dám đi trước TQ. 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam, Kinh Te | Leave a Comment »

►Một Vành đai, Một con Đường: Kế hoạch nghìn tỷ USD của TQ để lập trật tự kinh tế thế giới mới

Posted by hoangtran204 trên 10/08/2017

One Belt, One Road = OBOR = một vành đai,  một con đường.

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Chiến Lược doi pho Trung Quoc, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Phi Châu, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Lào, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | Leave a Comment »

►Một Vành đai, Một con Đường hay còn gọi là Obor, kế hoạch bành trướng của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 10/08/2017

OBOR = One Belt, One Road = một vành đai, một con đường.

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Chiến Lược doi pho Trung Quoc, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Phi Châu, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Leave a Comment »

►Chính phủ vay hơn 606.000 tỷ bù đắp bội chi ngân sách đến 2018 -(Vay từ 2010-2015 là 846.900 tỷ)

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2017

-Năm 2015, vay 300 ngàn tỷ.
-Năm 2016, Chính phủ vay 452.000 tỷ đồng (khoảng 20 tỷ USD) vneconomy
-Năm 2017, khoảng 172,3 nghìn tỷ đồng; và
-Năm 2018 khoảng 186,9 nghìn tỷ đồng.
Trước đó, trong giai đoạn 2010-2015, Chính phủ đã vay tổng cộng hơn 846.900 tỷ đồng qua kênh trái phiếu.  Nguồn  VNEconomy (11-10-2016)
 
Chính phủ vay hơn 600.000 tỷ bù đắp bội chi ngân sách đến 2018
25-4-2017

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

►Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: nợ công tăng rất nhanh, mức tăng trung bình trong 5 năm qua là 18,4%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế -Chính phủ yêu cầu nghiên cứu huy động vàng, ngoại tệ trong dân

Posted by hoangtran204 trên 08/01/2017

trong bối cảnh World Bank sẽ chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam

Nợ công tăng nhanh gấp ba tốc độ tăng trưởng

Tuổi Trẻ, 7-1-2017

TTO – Tại hội nghị của Bộ Tài chính chiều 7-1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tỉ lệ nợ công tăng rất nhanh, mức tăng trung bình trong năm năm qua là 18,4%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. 

(TT Phúc hàm ý rằng: nhiệm kỳ 2 của thủ tướng N. Tấn Dũng hoàn toàn thất bại, phải đi vay nợ suốt 5 năm qua 2011-2016.)

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam, Ngân sách thâm thủng | Leave a Comment »

►Nội Các và Ban Tham Mưu của Donald Trump

Posted by hoangtran204 trên 27/12/2016

Nguyễn Xuân Nghĩa 

26-12-2016

vanews.org

Còn một tháng nữa, ông Donald Trump sẽ tuyên thệ nhậm chức. Chúng ta đã được thêm dữ kiện để nhìn ra sự xuất hiện của một chính quyền có những mục tiêu lẫn phương thức hành động chưa từng thấy từ nhiều thập niên, ít ra là từ thời Tổng thống Ronald Reagan của Mỹ, và hai Thủ tướng Helmut Kohl của Đức và Margareth Thatcher của Anh.

Chính quyền Trump theo đuổi một ý thức hệ có màu sắc cách mạng sẽ làm thay đổi cả nước Mỹ lẫn thế giới.

Nhớ lại thì ngay sau khi bất ngờ thắng cử đêm mùng tám rạng mùng chín Tháng 11, ông Trump liên tục gây bất ngờ khi chuẩn bị nhân sự – tương đối khá nhanh và ồn ào – rồi thăm viếng các tiểu bang đã giúp ông lên làm Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ để vừa cảm tạ vừa tái xác nhận nhiều chủ trương khi tranh cử. Ông còn gây bất ngờ hơn nữa khi trực tiếp nói chuyện với Tổng thống Thái Anh Văn của Đài Loan làm Bắc Kinh giật mình. Chưa nhậm chức ông đã can thiệp với các doanh nghiệp như Carrier, Ford, Boeing, Lockheed Martin, v.v… nhằm đạt các hứa hẹn như giữ lại việc làm hoặc đòi rà lại giá biểu cung cấp cho chính quyền ông cho là quá cao, từ chiếc Air Force One cho tới chiến đấu cơ F-35. Chi tiết gây sôi nổi là không lãnh vực nào mà Tổng thống Tân cử không nêu ý kiến, từ kinh tế đến giáo dục, môi sinh, cựu chiến binh hay chiến lược đối ngoại, v.v… và thường thì trực tiếp nêu ý kiến qua trương mục Twitter của ông.

Tức là ông cướp luôn diễn đàn của truyền thông báo chí để mỗi ngày gây ra một chuyện.

Khi tranh cử, Donald Trump khéo đóng kịch thô lỗ và ăn nói khật khùng để tranh thủ niềm tien của quần chúng bất mãn, rồi từ vị trí của một tay ngang chưa từng hoạt động chính trị mà loại bỏ được các đối thủ có thế giá trong 16 chuẩn ứng cử viên của đảng Cộng Hòa. Sau đó ông tập trung vào chiếm phiếu Đại cử tri của các tiểu bang có vấn đề mà thắng ứng cử viên Hillary Clinton của đảng Dân Chủ. Đắc cử rồi, ông Trump mới cho thấy một bộ mặt hoàn toàn khác và dần dần định hình chiều hướng lãnh đạo của mình.

Trong nội các và ban tham mưu, người ta thấy vai trò của các doanh gia có sở trường đàm phán và ngã giá – nhiều khi bằng áp lực thô bạo – để đạt thỏa thuận có lợi cho nước Mỹ. Ông còn lập ra hai cơ chế tham mưu mới về ngoại thương và giản chánh, nhằm xét lại chánh sách tự do thương mại, thí dụ như với Bắc Kinh, hay giản lược chế độ kiểm soát hành chánh để giải phóng khả năng đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp. Về an ninh và quân sự, ông mời các tướng lãnh có thực tài và trí tuệ vào bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ, hoạch định chiến lược diệt trừ khủng bố và phát huy sức mạnh của Hoa Kỳ. Kết hợp an ninh với kinh tế, ông cho thấy Chính quyền Trump sẽ hung hãn tranh thắng với nhiều nước khác, từ Trung Cộng tới Iran, Mexico.

Chưa chấp chánh thì Chính quyền Trump đã cho thấy một ý thức hệ mới, trái ngược với chính sách “cải tạo xã hội” của vị tiền nhiệm, mà cũng khác với nhiều chủ trương của các Tổng thống trước. Đặc tính của Chính quyền Trump là khinh thường các khu vực sản xuất kém năng suất, chế diễu các thành phần hay chánh sách xã hội chủ nghĩa bao cấp, và đề cao những ai có tham vọng làm giàu, có khả năng kinh doanh. Chìm sâu ở dưới và hoàn toàn không mặc cảm là triệt để ngợi ca doanh lợi vì doanh lợi tạo ra công việc và sự thịnh vượng nên sẽ bảo vệ sức mạnh của nước Mỹ.

Chúng ta có thể thấy được một cuộc cách mạng văn hóa trong cái lý tưởng Donald Trump, trái hẳn với những chủ trương “phải đạo chính trị” ngày nay. Đây là một khía cạnh khác của “chủ nghĩa quốc gia Hoa Kỳ” đã từng đưa nước Mỹ lên vị trí siêu cường.

Trong hơn một tháng ông Trump chuẩn bị như bão táp, người ta có thể nêu câu hỏi rằng Chính quyền Trump sẽ hung hăng hay chín chắn, táo bạo hay lạnh lùng, và có gặp mâu thuẫn giữa các nhân vật tham gia nội các và dàn cố vấn của Tổng thống không?

Sở dĩ như vậy là do ông Trump chọn ba tướng lãnh bị hồi hưu vì khác biệt quan điểm với Chính quyền vào vai trò Tổng trưởng Quốc phòng (James Mattis), Nội an (John Kelly) và Cố vấn An ninh Quốc gia (Mike Flynn) để bổ túc cho sự yếu kém của ông về an ninh và quân sự. Nhưng lại mời một doanh gia vào chức vụ quan trọng nhất Nội các là Ngoại trưởng, để tận dụng khả năng đàm phán cho có kết quả của ông Rex Tillerson, Tổng quản trị CEO của ExxonMobile. Trong tổ hợp dầu khí này, ông Tillerson là người nắm vững chi tiết gần như tình báo về từng quốc gia đối tác và phải đạt yêu cầu là có hợp đồng có lợi nhất cho doanh nghiệp. Nay ông sẽ phải đạt yêu cầu đó cho… Hoa Kỳ, theo chỉ thị của người làm chánh sách đối ngoại là Tổng thống Trump.

Donald Trump cũng chọn nhiều tỷ phú vào các chức vụ then chốt khác không chỉ vì họ có tiền, hoặc đã chi tiền cho cuộc tranh cử, mà vì họ là doanh gia thành công và có khả năng thực hiện mục tiêu cải cách. Hệ thống giáo dục là bà Betsy DeVos, giải tỏa chế độ kiểm soát kinh doanh là ông Carl Icahn, điều chỉnh chế độ ngoại thương là ông Wilbur Ross ngồi ghế Tổng trưởng Thương mại. Các doanh gia đó không tham chính để kiếm tiền mà vì họ đồng ý với yêu cầu cải cách của ông Trump.

Ngoại trừ thường hợp của Giáo sư Peter Navarro – vào chức vụ của một cơ chế mới sẽ làm Bắc Kinh nổi điên là Hội đồng Thương mại Quốc gia vì lập trường rất diều hâu chống Trung Cộng về cả an ninh lẫn kinh tế – ông Trump không mời các giáo sư đại học hay học giả. Ông cũng tránh các chính trị gia chuyên nghiệp, trừ phi là dùng đòn phép của họ để phá vỡ hệ thống cấu kết chính trị tại Thủ đô Washington nhằm khai thông ách tắc và vét sạch bùn lầy trong quan hệ bán chác giữa chính trường với doanh trường. Đó là trường hợp của Nghị sĩ Jeff Session vào vị trí Tổng trưởng Tư pháp hay nguyên Thống đốc Rick Perry vào ghế Tổng trưởng Năng lượng.

Cũng vì chiều hướng đó, ông bị các chính khách, học giả và báo chí thiên tả đả kích nặng. Nhưng chúng ta chẳng nên ngạc nhiên về những lời đả kích này mà nên nhìn vào thực tế.

Xét tới đặc tính của “Chính quyền Cách mạng” Donald Trump, người ta hoài nghi là ban tham mưu của ộng Trump có ít kinh nghiệm. Mọi Chính quyền đều có tám vị trí then chốt nhất là Tổng thống, Phó Tổng thống, Đổng lý Văn phòng (Chief of Staff, tương đương với Bộ trưởng Phủ Tổng thống), và năm Tổng trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Tư pháp, Ngân khố và Thương mại. Tám nhân vật này của Chính quyền Trump có tổng cộng 138 năm thâm niên trong hai lãnh vực là công vụ (quân và dân sự trong chính quyền) hay kinh doanh, so với 152 năm của Chính quyền Bush 43 hay 122 năm của Chính quyền Obama. Khác biệt là hệ thống nhân sự Trump có 83 năm thâm niên trên doanh trường so với chỉ có năm năm của hệ thống Obama, hay 72 năm của hệ thống Bush 43.

Nghĩa là dù sao khác biệt cũng chẳng nhiều lắm so với một Hành pháp Cộng Hòa! Thời xưa, một Giáo sư Kinh tế từng làm Tổng trưởng Lao động rồi Ngân khố của Tổng thống Richard Nixon rồi Chủ tịch tổ hợp Bechtel trong tám năm, trước khi là Ngoại trưởng có thế giá của Ronald Reagan, đấy là ông George Shultz. Ông lên kế nhiệm một Ngoại trưởng đã từng là Đại tướng, Alexander Haig. Thời đó, mấy ai phàn nàn chuyện ông tướng hay doanh gia đi làm Ngoại trưởng? Thời nay, người ta quên trí nhớ nên mới om xòm phê phán việc doanh gia Tillerson của đất Texas đi làm Ngoại trưởng.

Một khía cạnh khác về ý thức hệ là lằn ranh tả hữu, cấp tiến hay bảo thủ.

Đảng Dân Chủ thiên tả thì đề cao công bằng xã hội và vai trò can thiệp của nhà nước; đảng Cộng Hòa hữu khuynh lại đòi phát triển kinh tế và giới hạn vai trò của nhà nước. Đấy là sự khác biệt chung, đã tồn tại từ những năm 1960. Từ 30 năm trước, các dân biểu nghị sĩ Cộng Hòa có khuynh hướng bảo thủ hơn, nhất là từ quãng 2010. Trong khi đó, Quốc hội Dân Chủ lại ngày càng thiên tả hơn, nhưng bất công xã hội cũng gia tăng trong tám năm qua và là một trong nhiều nguyên nhân của cuộc Cách mạng Donald Trump, với sự nổi loạn của thành phần trung lưu thấp chống lại giới thượng lưu ưu tú bên đảng Dân Chủ.

Nếu chấm điểm về ý thức hệ thì ông Trump có mời một số dân biểu nghị sĩ vào nội các, và thành phần nhân sự này có khuynh hướng bảo thủ, nhưng nói chung cũng chẳng bảo thủ hơn Quốc hội Cộng Hòa khóa 115. Khi chấp chánh, Hành pháp Donald Trump phải trước hết đàm phán với Lập pháp Cộng Hòa và rất có hy vọng đồng điệu trong chiều hướng bảo thủ ấy, ngoại trừ hai lãnh vực có dị biệt với đa số Cộng Hòa là can thiệp vào ngoại thương để bảo hộ mậu dịch. Tuy nhiên, trong hai lãnh vực này, ông Trump lại có thể được hậu thuẫn bất ngờ từ phía Dân Chủ!

Khi ấy ta đừng quên một Giáo sư kinh tế đã sớm vạch ra những bất toàn của chế độ tự do thương mại làm Hoa Kỳ bị thiệt hại, là Peter Navarro. Ông hợp tác với ban tranh cử Donald Trump ngay từ đầu và sẽ là Chủ tịch Hội đồng Thương mại Quốc gia để cố vấn Tổng thống về chánh sách và luật lệ liên quan đến ngoại thương, nhưng lồng trong một viễn kiến rất Trump là kinh tế chỉ là một phần của an ninh thôi. Và đấy mới là điều khiến Trung Cộng lúng túng. Giáo sư Peter Navarro đã phục vụ trong đoàn Peace Corp tại Đông Nam Á và theo dõi sự bành trướng của Trung Cộng từ lâu, nhưng cũng là một đảng viên Dân Chủ!

Sau cùng, kết luận bất ngờ nhất cho một năm có quá nhiều bất ngờ, chính là việc dân Mỹ không bầu Donald Trump làm Tổng thống vì là ông người đạo cao đức trọng. Họ không cần chuyện đó mà cần một hệ thống lãnh đạo được việc! Ông Trump và nội các đang thành hình có đặc tính là thiết thực được việc ngoài chiến trường và trên doanh trường, mà cùng coi chính trường là nơi phải cải cách để ra khỏi nguyên trạng bế tắc ngày nay.

Vì vậy, cuộc Cách mạng Trump đang khởi đầu!….

© Nguyễn Xuân Nghĩa

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

►Tô Huy Rứa: “con đường của Đảng CSVN đang đi, được chứng minh bằng sự thành công của Trung Cộng”

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2016

Hóa ra, anh Rứa cũng chỉ có rứa mà thôi!

Trần Xuân Thái (Tác giả gửi BVB)

14-2-2016

Thứ sáu tuần rồi, tui đi thông dịch cho anh Tô Huy Rứa ở Nhật khi anh ta hội kiến với ông tỉnh trưởng tỉnh Nara.

Nói thật, tui đi dịch cũng nhiều cho quan chức cao cấp của Việt Nam sang đây, nhưng chưa thấy ai dốt như anh Rứa này.

Hội kiến, mà ông tỉnh trưởng của Nhật là người nói; còn anh Rứa thì trả lời bằng cách cầm tờ giấy do ai đó viết sẵn để anh ta đọc.

Ông tỉnh trưởng Nhật nói: “Tôi nghe tiếng tiên sinh là Trưởng Ban Lý luận Trung ương Đảng CSVN, rất hân hạnh được tiên sinh ghé thăm tỉnh của tôi và diện kiến. Tôi là người thích triết học Mác, hân hạnh được nghe tiên sinh chỉ giáo.”

Anh Rứa nghe mình dịch xong, cầm tờ giấy viết sẵn lên, đọc, tự giới thiệu một hơi nào là Trưởng Ban Lý luận Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tiến sĩ Triết học, chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống tư tưởng lý luận cho Đảng CSVN v.v..

Anh ta đọc khoảng 15 phút, dài quá nhớ sao hết! Mình chỉ còn thuộc lòng cái đoạn này:

“Chúng tôi kiên định lập trường xây dựng xã hội chủ nghĩa với giai cấp công nhân làm nòng cốt… ”

Tóm lại, mình cũng chẳng biết anh ta đang nói, chào hỏi xã giao với quan chức ngoại quốc ở Nara hay là đọc diễn văn báo cáo chính trị tại Hội trường Ba Đình.

Đang nhắm mắt, nhắm mũi dịch cái bài diễn văn của anh Rứa thì đột nhiên tỉnh trưởng Nara lên tiếng ngắt lời: “Tiên sinh nói rằng Đảng CSVN kiên định lập trường xây dựng chủ nghĩa xã hội với giai cấp công nhân làm tiên phong nòng cốt thì tôi còn hiểu; nhưng mà cái câu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì vậy? Theo tôi, kinh tế thị trường tức là theo nền kinh tế tự do của Tư bản chủ nghĩa; mà theo nền kinh tế thị trường, tức là phủ nhận toàn bộ các giá trị học thuyết của Mác, khi đã chấp nhận cho dân làm giàu thì đồng nghĩa chấp nhận sự bóc lột sức lao động theo cách nói của Mác. Mà đã chấp nhận sự bóc lột giai cấp công nhân thì tức là đã cho toàn bộ lý luận đầy tính nhân văn của Mác vào sọt rác rồi. Mà đã cho lý luận Mác vào sọt rác thì còn kiên định trên con đường theo Mác là nghĩa làm sao? Tiên sinh nói mâu thuẫn quá, tôi thật sự không thể lý giải được.”

Tới đây thì anh Rứa bí đường, nên nói đại là con đường của Đảng CSVN đang đi, được chứng minh bằng sự thành công của Trung Cộng.

Nghe tới đó Tỉnh Trưởng Nara cũng ngán tới cổ rồi.

Mình ngồi bên, nói thêm cho ông ta bằng tiếng Nhật: “Ông không biết đó thôi, dân VN tui nói thằng cha này ngu nhất nước Việt. Cả 90 triệu người Việt đều biết con đường XHCN là con đường thê thảm. Chỉ có “vị giáo sư Triết” này nó không biết mà thôi. Ông làm ơn đừng có nói chuyện Triết học làm quái gì với hắn. Tiến sĩ giấy đó ông ơi. Ông hỏi một hơi nữa, nó mắc cỡ vì bị lộ tẩy cái dốt và xạo đó thì khó nói chuyện tiếp.”

Ông tỉnh trưởng nghe xong, cười tủm tỉm và nói không biết cho mình hay cho anh Rứa: “Tiếc rằng Nhật Bản không có Hội đồng Lý luận Trung ương vạch ra đường đi cho dân chúng. Hy vọng lần sau có cơ hội gặp tiên sinh nhờ chỉ giáo thêm”.

Nghe tới đây, mình nói với anh Rứa: “Tui ở Nhật lâu. Nhật Bổn mà nghe kiểu vuốt lưng như vầy là họ hết muốn nói chuyện với mình rồi đó. Nói gì lẹ lẹ, rồi đi cho rồi.”

Anh Rứa hơi quê, kể cũng tội nghiệp. Ở VN, anh quen nói chuyện với dân theo kiểu học thuộc lòng, đâu có ai dám ngắt ngang lời anh.

Không ngờ bị Nhật Bổn phang ngang một phát, còn bị họ tỏ ý khinh rẻ nữa, làm anh hết đường đỡ.

Nhật đang ghét Trung Cộng tới cổ, anh lại đem Trung Cộng ra mà khen thì chẳng biết anh có được ai dạy cho học về ngoại giao để anh ra nước ngoài hay không!!!

Mình về khách sạn, nằm ngủ, nghĩ tới “cuộc họp” đó mà mắc cười. Biết vậy, từ chối từ đầu, đừng đi cho khỏi nhức đầu. Nay mới có cớ để khẳng định rõ hơn: “Hóa ra, Rứa cũng chỉ có rứa mà thôi. Rứa là người Bắc, được coi là “nhà lý luận” đúng ‘tiêu chuẩn mà Tổng Trọng đặt ra’. May mà Tổng Trọng không ‘chấm’ (hoặc do quá tuổi) Tổng bí thư khóa 12, nếu cái ghế ấy mà vào ‘đít’ lão Rứa, chắc Việt Nam cứ kéo dài tình trạng nghèo và lạc hậu ‘như rứa’  mãi”!

Trần Xuân Thái (Tác giả gửi BVB)

————————

Mỹ đổi tên đường, Trung Cộng nổi điên

Con đường này là nơi Trung Cộng đặt tòa đại sứ. Như vậy, tòa đại sứ Trung Cộng tại Hoa Kỳ đặt tai 3505 International Place, từ nay sẽ có địa chỉ mới  Liu Xiaobo Plaza.

Cali Today News – Trung Cộng phản ứng mạnh mẽ khi Thượng Viện Hoa Kỳ đồng loạt thông qua việc đổi tên đường từ International Place ở Hoa Thịnh Đốn thành đường mang tên Lưu Hiểu Ba, một nhà văn bị bắt sau vụ thảm sát Thiên An Môn, một nhà đối kháng lừng danh của Trung Cộng từ vụ ThiênAn Môn đến nay, một khôi nguyên Nobel Hòa Bình (2010) bị nhốt tù từ năm 2008 đến nay qua bản án 11 năm tù vì tội soạn thảo tuyên ngôn 08 nhằm bảo vệ cải tổ chính trị hòa bình tại Trung Quốc.

Con đường này là nơi Trung Cộng đặt tòa đại sứ. Như vậy, tòa đại sứ Trung Cộng tại Hoa Kỳ đặt tai 3505 International Place, sẽ có tên mới 1 Liu Xiaobo Plaza.

Như vậy, mọi thư tín và công văn của tòa đại sứ Trung Cộng tại Mỹ sẽ phải ghi tên nhà đối kháng Lưu Hiểu Ba.

Báo chí Trung Cộng tấn công sự thay đổi này, xem là một hành động chơi dơ, trước đà vươn lên của Trung Cộng.

Luật đổi tên đường nói trên do thượng nghị sĩ Ted Cruz đề ra, và được thượng nghị sĩ Marco Rubio, cũng như thượng nghị sĩ Pat Toomey đồng bảo trợ.

Trần Thị Sông Dinh

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

►Hòa giải, những bàn tay gỗ

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2015

Blog RFA

CanhCo

02-05-2015

Ba mươi ngày trong tháng Tư của năm 2015 âm thầm theo dõi những bài viết, hình ảnh trong và ngoài nước là dịp may nhận chân gần như toàn bộ quá khứ, một quá khứ rất gần bởi chỉ 40 năm, thời gian chưa đủ hình thành được một chu kỳ mà lịch sử cần, nhưng lại quá đủ để thấy được diện mạo của hai phía trong ngày kỷ niệm 40 năm này.

Bên thắng cuộc, chữ của Huy Đức, định hình đảng cộng sản Việt Nam một cách cay đắng, vẫn cười rất tươi và hát rất vui về cái ngày mà phía ngược lại chưa lau khô hết được nước mắt.

Hình ảnh của VNCH từ cách ăn mặc, cho tới sinh hoạt trong học đường, chợ búa, ngay cả những lần đồng bào đi bỏ phiếu được khoe đầy trên Facebook khiến lứa trẻ sinh sau 30 tháng 4 có thể hình dung ra một thời kỳ mà Sài Gòn hãnh diện là hòn ngọc viễn đông. Những tấm ảnh ấy đa số do phóng viên nước ngoài chụp trước khi miền Nam sụp đổ. Càng về sau năm 75 càng hiếm dần những hình ảnh sống động tiếp tục miêu tả những gì mà người dân Sài Gòn sống cùng.

Gần 5 tháng sau ngày giải phóng, ngày 22/ 9/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là “Tiền Ngân hàng Việt Nam”, còn gọi là tiền giải phóng, với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500 đồng tiền của chế độ cũ.

Không một phóng viên nào chụp được vẻ mặt thẫn thờ tuyệt vọng của dân chúng trong ba lần đổi tiền. Gia tài dành dụm bao nhiêu năm không cánh mà bay. Người cha trở về nhà với một nhúm giấy bạc xấu xí mà giá trị chỉ sống được một tháng. Toàn bộ số tiền có thể mua vài căn nhà nay đã ra tro. Không giải thích, không trả lời người dân, các ông bà chủ mới của “Ngân hàng không tiền gửi Việt Nam” lạnh lùng phát cho dân một số tiền như nhau và phấn khởi báo cáo với Chủ tịch nước đã làm tròn bổn phận.

Ba năm sau, ngày 2/5/1978 Nhà nước tiếp tục công bố đổi tiền lần thứ 2 trên phạm vi toàn quốc, với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới.

7 năm sau đó, vào ngày 14/9/1985 Nhà nước lại công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới để phục vụ cuộc cách mạng về giá và lương. Lần đổi tiền thứ ba này đã thật sự lột sạch tới những đồng bạc ki cóp cuối cùng trong những gia đình miền Nam, trong khi đó miền Bắc không bị ảnh hưởng bao nhiêu vì đã quen với chế độ tem phiếu và thắt lưng buộc bụng từ những ngày chiến tranh chống Mỹ.

Đổi tiền là cách trưng thu tài sản đồng đều cho mọi người dân miền Nam vì thực tế dân miền Bắc không có bao nhiêu tiền để mà mất. Chính quyền “cách mạng” còn tiến thêm một bước qua việc đánh “tư sản mại bản” một cách khốc liệt trên toàn miền Nam. Hình thức cướp cạn có văn bản, có nghị quyết này đã giết bao nhiêu gia đình lúc ấy và chẳng những thế còn bao nhiêu gia đình phải sống mòn trong suốt 38 năm sau đó?

Năm 1977 chính quyền cách mạng đã phát động cuộc tố cáo và truy nã các thành phần mà họ gọi là tư sản mại bản tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Hình ảnh cải cách ruộng đất tại miền Bắc được lập lại, hàng chục ngàn gia đình bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thu và số phận của những con người bị chụp cho cái mũ tư sản mại bản ấy không khác gì những con thú hoang không còn nơi ẩn núp.

Theo Huy Đức trong Bên Thắng cuộc thì ngày đánh tư sản mại bản xảy ra các nhân vật gốc Hoa như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên, Lý Long Thân, Trần Thành cùng lúc trước sau bị bắt giam để trả lời tại sao họ lại giàu có như vậy. Có tội hay không có tội là chuyện của họ và bên thắng cuộc nhưng hàng chục ngàn gia đình khác bị đám 30 tháng tư chỉ điểm cũng cùng một số phận trắng tay thì ai sẽ là người trách nhiệm đây?

Sau cuộc đánh tư sản mại bản chính quyền cách mạng tiếp tục đánh dân miền Nam bằng một chính sách rất ác độc mang một tên gọi mỹ miều là Xây dựng vùng kinh tế mới.

Kinh tế mới là những khu đất hoang hóa, hay rừng sâu nước độc khó canh tác thành công nếu không có một kế hoạch tổng lực và dồi dào phương tiện. Hàng trăm ngàn người dân đang sống đạm bạc nhưng an lành trong thành phố bị cưỡng ép bằng những ngôn từ đầy hăm dọa lên xe về nơi mà con người khó có khả năng thích hợp. Những chuyến xe chất đầy quang gánh, quần áo tả tơi hướng về Lộc Ninh, Phước Long, Buôn Mê Thuột, Bù Gia Mập cùng hàng trăm địa diêm nổi tiếng khác của miền Nam, ghé vào và vất họ xuống với vài căn nhà mới vội vã dựng lên xiêu vẹo và chắp vá. Họ đi không nỡ ở không xong, cuộc hành trình về vùng kinh tế mới đã khép lại với hàng chục ngàn người bỏ thây vì muỗi mòng rắn rít.

Từ đó ba chữ Kinh tế mới ám ảnh họ như ma quỷ, như ác thú. Bốn mươi năm sau khi nhớ lại đoạn đường này nhiều gia đình vẫn còn ngơ ngác tự hỏi tại sao chính quyền cách mạng lại thúc ép dân vào nơi hang hùm nọc rắn như vậy? Ý đồ đích thực của họ là gì? Tận diệt một thế hệ miền Nam không thích nghi được với chủ nghĩa cộng sản hay tư duy kinh tế kiểu cộng sản đã khiến họ mù quàng chơi những canh bạc mà vốn liếng duy nhất họ có chỉ là mạng sống của người dân?

Bốn mươi năm, các bài viết nói về hòa hợp hòa giải giữa chính quyền hiện tại và hàng triệu người bị bắt, bị cải tạo cũng như hàng triệu đồng bào vượt biển tìm tự do đã bỏ mình hay suốt đời mang hận vì cướp biển Thái Lan rộ lên khắp các trang mạng. Chính quyển, họ, những khuôn mặt bóng nhẫy, láng bóng nói lời hòa giải như đào kép trong một gánh hát đình. Họ thể hiện sự ban ơn một lần nữa như họ đã giải phóng miền Nam là đã ban ơn cho đám lưu dân mất gốc này. Cách nói, cách thể hiện qua các nghị quyết hòa giải dân tộc khẳng định một thái độ: ban phát, xin cho.

Hãy nói về tù nhân cải tạo.

Ừ thì chiến tranh, người thắng kẻ thua. Thắng được phép giam giữ và cho ra khỏi trại giam lúc nào thuộc về kẻ giữ chìa khóa. Quốc tế cũng phải đứng ngoài vì quốc tế đối với cộng sản cũng chỉ là chiếc phao trong lúc túng cùng bị gậy. Bây giờ hòa giải là hòa giải thế nào? Chìa tay ra nói với anh: thôi mình bỏ qua nhé, anh đánh tôi không chết thì tôi nhốt anh cho vui, nếu lỡ tay có người chết thì cũng đâu bằng bom thả chùm chùm lên miền Bắc? thế nhé, ta cùng ngồi nâng chén giải oan hát bài hòa giải có vui hơn không?

Nếu thái độ ấy diễn ra như kịch bản này phác thảo không biết có mấy người đưa tay hòa giải? Huống chi bàn tay mà phe thắng cuộc đưa ra là bàn tay giả, chúng có thể rớt bất cứ lúc nào nếu người được hòa giải xiết nó quá mạnh.

Gia đình tôi không có liên quan tới VNCH nên chúng tôi không cần sự hòa giải của bên thắng cuộc. Nhưng gia đình tôi là nạn nhân của cả ba vụ, từ đổi tiền đến đánh tư sản mại bản và cuối cùng là chết dần chết mòn trên vùng kinh tế mới.

Tôi không cần chính quyền này nói lời hòa giải với tôi.

Điều tôi cần là chính quyền phải kéo nhau tới nhà của từng thành viên trong gia đình tôi, bây giờ còn lại 30 người, cúi đầu thật thấp và xin lỗi với thái độ chân thành. Tài sản bị mất tôi kể như xung vào công quỹ quốc gia mặc dù tôi biết chắc cán bộ thành phố là những kẻ tận thu và tư túi những tài sản ấy.

Phải sòng phẳng với lịch sử và nhận trách nhiệm trước nạn nhân. Hòa giải chỉ là chiêu bài không thể thực hiện từ một phía. Chúng tôi không chấp nhận hòa giải vì mình là nạn nhân trực tiếp cũng như hàng chục triệu người miền Nam khác. Các ông là thủ phạm làm cho bao người sống trong nước mắt thì phải xin lỗi thật tâm nếu lương tâm con người trong các ông cắn rứt. Chỉ có lời xin lỗi mới đúng với các ông, đúng với tinh thần dành cho kẻ phạm tội với nhân dân, với lịch sử.

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Miền Nam sau 30-4-1975 | 1 Comment »

►Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: ‘Lời’ vào túi ông lớn, ‘lỗ’ thủng túi ông nào?

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

25-09-2014

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, TVN vừa nhận được bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về vấn đề mở cửa cho kinh tế tư nhân phát triển. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, TVN xin trân trọng đăng tải bài viết dưới đây. Và hy vọng nhận được các ý kiến tham góp xung quanh chủ đề này của bạn đọc gần xa, nhất là của những doanh nghiệp tư nhân.

 

Cái cách chúng ta vận hành xã hội đã khiến tư duy đó trở nên khó thay đổi. (Lê Kên Thành)

Trong thời kỳ đơn sơ, những người chủ tư bản bao giờ cũng sở hữu toàn bộ nhà máy của mình. Nhưng đến một lúc nào đó, khi quan hệ sản xuất phát triển, họ nhận ra rằng nếu cứ ôm khư khư quyền sở hữu độc nhất đó, thì xí nghiệp của họ sẽ mãi mãi không thể tăng năng suất, không thể lớn mạnh.

Đủ trả giá cho sự trì trệ

Họ hiểu rằng phải cổ phần hóa, phải bán cổ phiếu ra ngoài, phải tập trung vốn và năng lực của nhiều người. Sự tập trung đó sẽ giúp nhà máy của họ lớn gấp 10 lần. Nhà tư bản khi nhận ra điều đó đã sẵn sàng đối mặt với nguy cơ mất vai trò làm chủ.

Nói cách khác, họ sẵn sàng “treo cổ” mình, sẵn sàng làm chủ mình, vì họ nhìn thấy trước mặt là khoản lợi nhuận khổng lồ, là sự phát triển đáng để họ trả giá.

Còn ở nước ta thì sao? Chúng ta đã có đủ bài học và trả giá bởi sự trì trệ trong phát triển, một khi nền kinh tế hoạt động trong sự bất bình đẳng giữa các thành phần, các khu vực kinh tế.  Rõ ràng, hiện tượng độc quyền trong kinh tế là hiện tượng không lành mạnh, và không thể không thay đổi.

Có điều, kể cả khi Nhà nước muốn cổ phần hóa, thì không ít những người lãnh đạo các tập đoàn, DNNN lại không muốn làm việc đó và tìm mọi cách để quá trình đó chậm lại.  Nếu những người lãnh đạo tập đoàn lại bắt tay với những cấp cao hơn họ, thì hiệu ứng tất yếu sẽ xảy ra là quá trình cổ phần hóa sẽ chậm lại, kéo lùi sự tiến bộ của xã hội.

Cần đặt ra một câu hỏi: Tại sao các tập đoàn làm ăn thua lỗ mà những người quản lý các tập đoàn vẫn cố tình kéo chậm lại quá trình cổ phần hóa. Có lẽ ai cũng hiểu, chỉ họ cố tình không hiểu? Vì việc đó có liên quan gì đến sinh mệnh của họ đâu? Lời họ vẫn hưởng nhiều, lỗ họ vẫn hưởng nhiều. Phần lỗ thực sự là nhân dân chịu, đất nước chịu.

Vấn đề là, nếu nhà nước tiến hành cổ phần hóa, và có không ít tư nhân tham gia, trở thành những người đồng sở hữu của những doanh nghiệp đó, thì bức tranh vô lý đó sẽ… không còn. Sẽ không bao giờ có chuyện cả con tàu Vinakhủng bị đắm trước mặt xã hội với khối nợ 80.000 tỷ. Vì những quan chức quản lý tập đoàn sẽ không được phép ngồi yên cho đến lúc đó.

Những người chủ của tập đoàn, những người cùng góp vốn sẽ giám sát sự điều hành của các quản lý, lãnh đạo tập đoàn và buộc họ phải chịu trách nhiệm với sự thua lỗ đó. Họ sẽ không thể phá nát cả một tập đoàn kinh tế, đẩy gánh nợ lên vai những người dân rồi an lành về hưu, hay quá lắm là chịu vài năm tù, trong khi hậu quả họ gây ra là không thể đo đếm.

Nếu không làm được việc đó, thì có nghĩa là chúng ta đã thua kém những nhà tư bản mà Marx nói, những người đã dám “treo cổ” mình vì sự phát triển.

Cách vận hành xã hội khiến tư duy trở nên khó thay đổi?

Nhiều người cho rằng bộ phận kinh tế tư nhân của chúng ta hiện nay không đủ sức gánh vác nền kinh tế nếu như Nhà nước trao cho họ sứ mệnh trong việc xóa bỏ độc quyền. Nhưng có lẽ, trước hết là do tư duy ấu trĩ, xơ cứng, giáo điều và phi thực tiễn của chúng ta, đã dẫn đến cách đối xử với bộ phận này trong suốt một thời gian dài không đúng. Tư duy đó dẫn đến hiện tượng, có một giai đoạn rất dài xã hội đương nhiên phân biệt Nhà nước là chính thống, tư nhân là phụ và …bất hợp pháp. Tư duy đó đã ăn sâu. Hiện nay chúng ta đang có sự thay đổi, nhìn nhận lại cách tư duy đó, nhưng cũng vẫn còn nửa vời.

Ví như tại sao DNNN đi mua gạo để giữ giá cho người nông dân, thì được coi là hành động tốt, cứu giúp người nông dân lúc khó khăn. Còn DNTN cũng đi mua gạo tích trữ, thì bị gọi là… đầu cơ. Tại sao cùng một sự việc, DNNN được coi là người bảo vệ, là người hùng, còn DNTN lại bị nhìn với ánh mắt “xấu xa”?

Đến giờ, trong rất nhiều cuộc họp, không ít các vị lãnh đạo vẫn nói: Tại sao các anh cứ để mấy “thằng tư nhân” làm việc đó? Ngay cả trong ngôn từ đã thể hiện sự định kiến, thiếu tôn trọng. Thực chất “thằng tư nhân” là ai? Hay “thằng tư nhân” cũng chính là nhân dân, là bộ phận chủ yếu của xã hội?

Tư duy coi thường kinh tế tư nhân và những người làm kinh tế tư nhân còn ăn sâu vào cả đa số dân chúng. Là một người làm kinh tế tư nhân từ những ngày đầu như tôi, càng hiểu điều đó rõ hơn ai hết. Không đâu xa, khi ra ứng cử ĐBQH, tôi nhận ra,  luôn đặt một vấn đề “ông tư nhân” sẽ giúp người ta cái gì?  Chẳng gì cả.

Cách mà xã hội đang vận hành sẽ tạo ra cho người ta tư duy như thế. Đặt một ông tư nhân bên cạnh một ông giám đốc, một ông lãnh đạo sở nào đó, thì họ thấy rõ ràng những ông lãnh đạo… quan trọng hơn. Tôi không dùng điều đó để biện minh về việc mình không trúng cử, nhưng tôi cảm nhận được việc đó và tôi hiểu được lý do vì sao họ lại tư duy như thế.

Cái cách chúng ta vận hành xã hội đã khiến tư duy đó trở nên khó thay đổi.

Cái cách tư duy đó đã khiến kinh tế tư nhân lẽ ra phát triển tự nhiên, lành mạnh lại không thể thẳng đường mà bước, vì muốn bước sẽ phải chộp giật, cơ hội, luồn lách. Nó không tạo ra được gốc rễ về văn hóa cho sự phát triển, không tạo ra triết lý cho sự phát triển. Thế nên khu vực này trở nên yếu đuối vô cùng là bởi thế. Giờ đã nhìn thấy ở đâu đó sự khuyến khích dành cho bộ phận này. Nhưng chúng ta chắc sẽ phải mất thêm thời gian để chờ nó phát triển.

Tôi vẫn tin một khi được khuyến khích, một khi được trao cơ hội, những người trẻ của đất nước với trí tuệ của mình, sự nhiệt thành của mình, tầm nhìn rộng lớn của mình, sẽ nắm được cơ hội đó và thay đổi vận mệnh. Thế hệ tôi chẳng qua chỉ là những người mở đường và buộc phải mở đường.
Chúng tôi đột phá, chúng tôi phải trả giá nhưng sự đột phát đó không lâu bền, nếu tư duy kinh tế không thực sự thay đổi. Mà những người như chúng tôi vẫn mong mỏi hơn bao giờ hết, rằng một ngày nào đó, cái mới sẽ được tự do thênh thang tiến bước!
(Còn nữa)
Tô Lan Hương (TuanVietNam)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Chống tư duy độc quyền: Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

Chống tư duy độc quyền:

Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Tô Lan Hương (TuanVietNam)

24-9-2014

Con trai cố TBT Lê Duẩn: Tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành.

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Tuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu phần ba bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Như trong các phần trước tôi đã phân tích, nếu chỉ nói về chuyện độc quyền kinh tế thôi, thì chúng ta đã nói quá nhiều trong bao năm qua mà mọi thứ vẫn bộn bề.

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành. Gốc rễ của vấn đề chính là tư duy độc quyền đã được chúng ta chấp nhận một cách hiển nhiên trong mọi mặt của đời sống này. Và chừng nào không thay đổi được gốc rễ đó, chừng đó chúng ta sẽ vẫn cứ loay hoay…

Tình yêu và thói quen nguy hiểm

Thời tôi còn đi học, tôi luôn được dạy rằng cái ưu việt nhất của CNXH là không có sự độc quyền, cái xấu xa nhất của CNTB là sự độc quyền. Chúng ta tưởng rằng xã hội chúng ta xây dựng là xã hội không có độc quyền. Thế nhưng đến thời điểm này, những khiếm khuyết của một cung cách quản lý bộc lộ và thậm chí kéo theo những hệ lụy ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội, lại chính là tư duy độc quyền.

Đến mức, chúng ta “đến” với sự độc quyền một cách hiển nhiên, nhẹ nhàng, không cảm thấy áy náy, cũng không bị sự ràng buộc của pháp luật.

Độc quyền không ở đâu xa. Độc quyền xuất hiện từ những cái rất nhỏ bé thế trong đời sống của xã hội chúng ta.

Đã từng có thời chúng ta độc quyền về cách thể hiện văn hóa, ấu trĩ đến mức cấm đoán cả việc thể hiện tình yêu, vì cho rằng tình yêu làm ủy mị con người. Nhưng tình yêu, suy cho cùng, là khởi điểm của sự sống. Tình yêu vừa vĩ đại, vừa trong sáng, vừa ma mị, vừa của thiên nhiên, vừa thuộc về con người. Sinh con là việc bắt buộc để duy trì nòi giống. Nhưng để có thể kéo được hai con người đến được với nhau là phải nhờ tình yêu. Cuộc sống tinh vi, tinh vi ghê gớm ở chỗ đó.  Và những tồn tại mạnh mẽ, những tồn tại khiến cuộc sống thăng hoa và sáng tạo đều khởi nguồn từ tình yêu.

Tôi yêu vô cùng những bài hát nói về tình yêu của nước Nga. Trong suốt cuộc chiến tranh vệ quốc của họ, họ nói về tình yêu thoải mái, tự do và tràn ngập, không bị cấm đoán. Họ nói về đôi môi, về vóc dáng người yêu… Nếu ở Việt Nam, nói về cái đó, chúng ta bị gọi là xác thịt. Nhưng đã nói đến tình yêu, phải yêu một bờ vai, một làn môi, một ánh mắt nào đó, chứ không thể chỉ yêu một cái bóng. Thế mà tâm lý xã hội ta đã từng có thời phủ định những cái rất thật, rất cuộc sống đó.

Và tâm lý đó có khi còn thể hiện ở những tiêu chí về tổ chức.

Nếu anh không tham gia một tổ chức, anh không thể đảm nhận cương vị nọ kia.  Vì thế, có những người có tài quản lý, có năng lực lãnh đạo nhưng sẽ không bao giờ phát huy, hoặc cống hiến được tài năng của họ cho xã hội. Những điều đó đang phản ánh rất rõ hình ảnh của xã hội hiện nay. Và chừng nào chúng ta còn những kiểu tư duy như thế, chừng đó chúng ta không bao giờ có thể chống độc quyền, dù là độc quyền trong lĩnh vực kinh tế hay bất cứ lĩnh vực khác.

Cái mới hôm qua- cái cũ hôm nay

Thời mới bắt đầu cuộc cách mạng, Lenin có thể sử dụng cả những con người tư sản làm chức vụ cao trong Nhà nước. Ngay cả ở Việt Nam, Bác Hồ cũng thế.

Chức vụ Chính ủy ra đời trong Hồng quân Liên Xô vì rất nhiều nhà lãnh đạo quân sự không phải là đảng viên cộng sản. Những lãnh tụ cộng sản hiểu rằng, con người để điều binh khiển tướng, tiến hành cuộc chiến vẫn phải là nhà quân sự chuyên nghiệp, thế nên mới cần những nhà tư tưởng đứng bên cạnh họ.

Nói thế để thấy rằng thời điểm đó, những ông tổ của tư tưởng mà chúng ta đi theo hoàn toàn không mang tư duy độc quyền. Sau này, Lenin có những chính sách kinh tế mới mang cả màu sắc của xã hội trước, sử dụng sự ưu việt của xã hội đó. Nghĩa là họ – những lãnh tụ cộng sản đã dám sáng tạo ngay từ khởi điểm ban đầu của sự sáng tạo cách mạng, chứ không phải đợi đến mãi sau này, khi sự sáng tạo đó đã biến thành cũ kỹ.

Khi cái mới đã trở nên lạc hậu và bộc lộ nhiều nhược điểm và đòi hỏi buộc phải sáng tạo. Đó là điều mà lớp hậu sinh như tôi khâm phục họ: Những người vừa làm ra một cái mới, một cái mới hãy còn nóng hổi nhưng đã kịp thấy nó cũ và đã kịp thấy cái cần phải thay đổi.

Cuộc sống và quy luật cái chung- cái riêng

Lúc còn sống, cha tôi luôn muốn cắt nghĩa: Cuộc sống là gì, tồn tại là gì? Vì suy cho cùng tất cả những gì chúng ta làm là để cho cuộc sống tốt lên, để cho tồn tại nó lâu dài hơn.  Cha tôi cho rằng suy cho cùng mỗi con người là một tồn tại, hai vợ chồng là một tồn tại, cả xã hội là một tồn tại.

Nhưng 03 là 01 và 01 cũng phải là 03: 01 con người – 02 vợ chồng – cả xã hội là một khối tồn tại thống nhất, nhưng cũng phải là 03 khối tồn tại độc lập trong cái khối thống nhất đó.

Và chúng ta sẽ phải tôn trọng từng cái sự tồn tại đó, phải nhấn mạnh được từng tồn tại đó, để bảo vệ sự tồn tại chung, cũng như chúng ta không thể tách rời một tồn tại nào đó với cái khối tồn tại chung đó. Khi chúng ta đang nói đến tập thể, chúng ta phải nói theo cách đó: Muốn cái chung tồn tại, thì những cái riêng này buộc phải tồn tại.

Còn nếu anh xóa đi một trong những phần đó, nếu anh tìm cách o ép một trong những phần đó, thì tự anh đã xóa đi một sự tồn tại và cũng xóa luôn sự tồn tại của cái chung.  Không cần kiến thức cao siêu, chỉ cần hiểu cuộc sống là hiểu được quy luật này. Nếu không nói được liên kết cốt lõi này, thì không hiểu được cuộc sống.

Chúng ta nói tài sản này là của nhân dân. Nhưng người dân không hiểu điều đó nếu không được sở hữu nó. Khi chúng ta cổ phần hóa và chia cho người dân, họ sẽ hiểu ngay lập tức. Một nhà máy hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước, do một số con người cụ thể điều hành, không nhân dân nào có thể hiểu đó là tài sản của mình.

Người ta phải có quyền thật thì người ta mới cảm nhận được sự sở hữu của mình ở tài sản đó, mới bảo vệ, gây dựng tài sản đó bằng tài năng, mồ hôi lao động của mình.

Quay lại câu chuyện độc quyền, một con người đang sống là đang…. độc quyền chính bản thân mình. Không ai có thể sống thay mình được. Nhưng con người này nếu không biết tiến đến một cuộc sống gia đình, đẻ ra những đứa con của mình là bản thân họ đang kết thúc cuộc sống.

Đó là cách sống phi tự nhiên. Cuộc sống chỉ tiếp tục nếu anh kết hợp với một người khác, sinh ra những đứa con, có trách nhiệm với xã hội đó và nhận những quyền lợi từ mối liên kết này mang lại.

Sẽ vô cùng biến dạng nếu một người nào đó chỉ nghĩ đến cá nhân người ta, một người nào đó chỉ nghĩ đến gia đình người ta, hay một nhóm người nào đó chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhóm mình, và cho rằng mình sống văn minh hơn người khác. Điều đó là rất không đúng. Chúng ta tiếc thay lại đang chứa đựng những sự “biến dạng” đó trong xã hội mình.

Độc quyền kinh tế chỉ là một khía cạnh của tư duy độc quyền, của khối tồn tại đang bị biến dạng đó và không thể tách rời khỏi những tồn tại khác. Nên cái cần sửa chữa không chỉ là chuyện độc quyền trong kinh tế, mà là sửa chữa cả tư duy.

Còn bây giờ nếu chúng ta cứ nhìn ra một vài hiện tượng độc quyền lẻ tẻ và loay hoay tìm cách tháo gỡ nó, thì chúng ta sẽ giống như những người mải mê bắt sâu trên ngọn cây mà không biết rằng con sâu đã đục khoét cái cây đó từ gốc rễ.

Nếu dàn nhạc không có nhạc trưởng đại tài?

Tôi luôn nghĩ ông Karl Marx, ông Lenin nếu còn sống, với những con người trí tuệ như thế, lý luận của họ nhất định sẽ thay đổi. Nếu còn sống, họ sẽ lãnh đạo xã hội theo một cách khác. Bởi trong lúc tăm tối nhất của xã hội, họ đã nghĩ ra những cái rất đúng về quy luật cuộc sống.

Thế thì nếu đang sống ở thời đại này, họ sẽ nhìn ra những cái khác.

Bất cứ thời điểm lịch sử ngặt nghèo nào cũng cần có những nhân tố đặc biệt, những cá nhân kiệt xuất có thể mang đến sự thay đổi. Cái xã hội Việt Nam cần bây giờ là những cá nhân như thế: Những người tìm ra được hướng đi mới, đủ sức mạnh, đủ can đảm tổ chức, sắp xếp lại xã hội theo hướng đi đó. Những người tạo ra hệ thống đó, rồi kiểm soát nó và phát triển nó, xử lý những yếu tố phát sinh trong hệ thống đó.

Một dàn nhạc dù toàn nhạc công giỏi, nhưng không có nghĩa sẽ đánh được một bản giao hưởng hay nếu không có một người nhạc trưởng đại tài, thổi hồn cho bản nhạc. Người nhạc sĩ viết ra bản nhạc hay đã đành, nhưng tạo ra sức sống cho toàn bộ bản nhạc đó phải là người nhạc trưởng, để thính giả cảm nhận được nốt này là lá rơi, nốt kia là gió thổi…

Có những người từng hỏi tôi về sự thay đổi của đất nước và thời điểm của sự thay đổi đó. Sự thay đổi đó có thể là ngày mai, có thể là 100 năm, 200 năm hoặc … không bao giờ. Điều đó tùy thuộc vào ý chí, bản lĩnh và sự dũng cảm của cả một dân tộc. Trong lịch sử từng có những hiện tượng có những dân tộc đã đi đến sự suy tàn, khi dân tộc không thể thay đổi để tiệm cận với cái mới mang ý nghĩa là cái tiên tiến, cái phát triển của thời đại.

Đã có những đế chế hùng mạnh, những nền văn minh rực rỡ trong lịch sử đã bị hủy diệt một cách ghê gớm. Những ví dụ đó chứng tỏ một điều nếu tổ chức xã hội không tốt, dân tộc có thể đi đến suy tàn.

Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi.
——————-
* bài này của Tô Lan Hương (con gái của Tô Huy Rứa, Ủy viên BCT)
* PCT: Lê Kiến Thành thời sinh viên và NCS nổi tiếng là soái Nga vì đi buôn đôla băng hộ chiếu Đỏ (Ngoại giao, Đặc biệt VIP), mối chuyến buôn đầy cả cặp sansonaise tiền đô và lãi cũng chừng đó rồi ôm đô về HN mua BĐS, kinh doanh, lập ngân hàng Techcombank…

Hồi đó bọn SV hay NCS quèn chỉ có vài ba trăm đô, ai có đến ngàn đo là xưng “tá”, chục ngàn là “tướng” với “soái” rồi, mà Thành đã có hàng triệu đô tiền mặt… xứng danh đại soái con Duẩn. Hồi đó buốn đola ở Nga lãi hơn buôn ma túy. Vợ chồng Văn Tiến Dũng cùng đi buôn cũng thua Thành, vì không thể đi lại nhiều như Thành…

Đi buôn mà qua sân bay Seremenchevo và Nội Bài hải quan Nga và Việt đều chạy theo xách đồ, không được phép kiểm tra gì, Thành ta chỉ xách (và không cho ai xách) cái vali con đầy tiền đôla thôi…

Thành không thèm học hành gì, chỉ đi chơi và đi buôn, mà bọn Nga vẫn phải cho bằng đỏ tiến sĩ rất nhanh gọn. (Có bọn học hộ, làm bằng TS “hộ” nữa…)

Đấy là tôi nghe “Việt cộng” kháo nhau trong SV, NCS khắp nơi như thế… Ai cũng “biết thế” mà không nói ra thôi!. PCT

* Tẽm: Đm, giỏi thật, ngày xưa thấy người ta có của cải chữ nghĩa thì bọn nó ghen ghét, hô hào giết sạch. Bây giờ bọn vô sản đã thâu tóm được của cải kếch xù, có bằng “tiến sĩ”, trở thành trí phú địa hào thời đại mới thì bắt đầu giở triết lý này nọ rất nhân văn nhân bản, chuẩn bị cho cuộc thoát thân tháo chạy. Một cuộc thay tên đổi chủ ngoạn mục, chỉ chết đám dân đen ngu muội muôn đời bị lợi dụng xương máu.

*Hồ báu Tài: Lê Duẩn là một người rất cực kì “kiên định” tiến lên XHCN trong cái đám “đệ tử của ông Hù”. Vì vậy mà quê huơng VN ta đã có công cuộc “Phỏng Giái” làm chết hàng triệu mạng người, hàng trăm ngàn người phải vào tù khổ sai bỏ mạng nơi rừng sâu nước độc. Cũng vì kiên định tiến lên XHCN đó mà ta có nhiều năm đất nước nghèo đói thiếu ăn, bo bo là chính, than bùn và trấu để đốt bếp, áo quần không đủ che cụ Hồ lủng lẳng. Nếu Lê Duẩn còn sống thì chúng ta có thể sẽ có một bài viết khác với tựa đề “Dân tộc VN đã sáng suốt khi chọn (hồi nào?) đảng CSVN lãnh đạo” của cùng một tác giả cũng nên. Lê Kiên Thành có đủ can đảm nói về những cái Sai, những cái Tầm Bậy, những cái Ác mà cha anh đã làm bao giờ chưa nhể??? Can đảm lên một tí xem nào!!!!

*Tự hỏi: Ông Lê Kiến Thành trở thành triệu phú $ bất động sản chỉ do tài năng cá nhân hay có nhờ một chút “độc quyền về lợi ích”?

* Ngô Văn Gạch: Bài này viết quá viển vông, ông Thành mắc cái gène của ông Lê Duẩn là bàn về những chuyện hiển nhiên, rõ nhất là phần có tiêu đề “Cuộc sống và quy luật cái chung- cái riêng.”

Chẳng hiểu ông Thành có biết ai là bố đẻ ra cái “độc quyền” ở nước ta không? Chắc là ông thừa biết vì ông đã du học nước ngoài trong thời kỳ chiến tranh mà lúc ấy chúng tôi đi “đánh MỸ là đánh cho Liên xô”.

Ông Thành viết: “Nếu anh không tham gia một tổ chức, anh không thể đảm nhận cương vị nọ kia.” Sao ông không nói thẳng ra “tổ chức” là Đảng? Nếu ông không là người của “tổ chức” (Đảng) thì chắc chắn việc làm ăn hay kinh doanh của ông không thể phất được như ngày nay. CÁc nước khác thì làm chính trị bàng kinh tế, còn nước CS ta thì muốn làm kinh tế thì phải làm chính trị trước đã, người tàu ngày trước gọi là “buôn vua”. Đó là câu trả lời của Lã Bất Vi, tóm tắt là “muốn lãi ta thì phải buôn to, muốn lãi thật to thì buôn vua.”

Bài này nội dung là của con một ông to đã chết, tác già cũng là còn một quan to còn sống (Tô Lan Hương là con ông Tô Huy Rưá) mà nêu được câu “Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi” thì là điều đáng mừng. Thế nhưng con đường cũ mà dân tộc ta đã đi do Đảng lãnh dạo thì không sáng suốt nên mới dãn đến tình trạng hiên nay, còn
“con đường sáng suốt nhất để bước đi” thì không thấy ông Thành nêu ra.

Xin nhắc ông Thành là cậu Ủn hậu duệ của Kim Nhật Thành (nhà độc tài lãnh đạo Bắc Triều tiên trước kia) gần đây đã tuyên bố: “Đời ông ta dã sai, đời bố ta đã sai, nay ta không sửa chữa thì có tội với lịch sử.” Mong ông Thành sáng suốt giống như cậu Ủn tuyên bố.

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách ‘che chở’ DNNN

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2014

Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách ‘che chở’ DNNN

25-09-2014

Phân Tích – Báo Một Thế Giới

LTS: Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, TNV vừa nhận được bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về vấn đề mở cửa cho kinh tế tư nhân phát triển. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, TVN xin trân trọng đăng tải bài viết dưới đây. Và hy vọng nhận được các ý kiến tham góp xung quanh chủ đề này của bạn đọc gần xa, nhất là của những doanh nghiệp tư nhân.

Ông Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Bao năm làm đủ cách 'che chở' DNNN
 

Những sự cố nhỏ, tình cờ, sẽ không khiến bộ máy tàn lụi, mà thậm chí còn tạo ra những kháng thể cho bộ máy, giúp nó hoàn chỉnh dần lên. Một khi ngân hàng phải tự bảo vệ sự sinh tồn của mình, nó sẽ học được cách phản ứng nhanh nhạy, tức thời, phải biết tự bảo vệ mình. (Lê Kiên Thành)

Khi tôi còn trẻ, tôi có đọc được một câu Karl Marx viết: “Nếu lợi nhuận lên đến 300% thì có treo cổ nhà tư bản lên, họ cũng sẽ làm”. Lúc đó tôi cứ hoài nghi mãi. Nói họ sống vì lợi nhuận thì còn được, chứ chết vì lợi nhuận thì nghe có vẻ vô lý quá. Nhưng sau này tôi mới hiểu ra, hình ảnh “treo cổ những nhà tư bản” mà Marx muốn nói là một sự phủ định. Tức là những nhà tư bản sẵn sàng phủ định chính mình vì sự phát triển, và “lợi nhuận” chỉ là một cách nói, một cách ví von về sự phát triển.

Dám nghĩ, dám thay đổi- đúng đắn đến nhường nào

Tôi đi làm kinh tế tư nhân từ khi người ta còn cấm Đảng viên làm kinh tế. Tôi tham gia lĩnh vực kinh doanh tài chính từ những ngày đầu khi các ngân hàng tư nhân mới bắt đầu hình thành. Và tôi muốn bắt đầu câu chuyện từ chính chỗ này.

Ngày xưa khi chúng ta mới mở cửa, thì vẫn có quan niệm cho rằng, tư nhân có thể làm tất cả, trừ kinh doanh tài chính. Thời điểm chưa có ngân hàng tư nhân nào ra đời, tôi nghe các chuyên gia kinh tế nói rằng: Đất nước mở cửa rồi, cho tư nhân bán phở đi, cho tư nhân sản xuất đi, nhưng tài chính là cái cốt lõi để làm nên CNXH và sẽ chi phối tất cả thì tư nhân không được tham gia.

Nhưng rồi đến một thời điểm, đã có những người dám nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ, thì ngay cả một lĩnh vực nhạy cảm như tài chính cũng có thể cho phép tư nhân vào cuộc. Cuối cùng đã có một người dám tư duy theo một cách hoàn toàn khác với tư duy cũ:  Anh tư nhân có thể làm ngân hàng, nhưng tôi sẽ kiểm soát về mặt lãi suất, về mặt con người. Tổng Giám đốc của ngân hàng tư nhân cũng phải do nhà nước chỉ định; chủ tịch HĐQT ngân hàng cũng phải do Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn.

Và cứ nhìn vào những gì mà quyết định đó mang lại trong suốt mấy chục năm qua, thì sẽ thấy việc dám nghĩ, dám thay đổi đúng đắn đến nhường nào.

Tuy rằng hoạt động của các ngân hàng Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm và không tránh khỏi việc bộc lộ những nhược điểm, nhưng những tác động tích cực của sự ra đời các ngân hàng tư nhân vào đời sống là vô cùng rõ ràng.

Khi chúng ta chủ trương để các ngân hàng tư nhân phát triển, toàn bộ tài chính lưu thông mạnh mẽ hơn, kích thích cả bên khối ngân hàng quốc doanh phải kinh doanh hiệu quả hơn nếu muốn tồn tại.

Trước đó, chúng ta chỉ có những quỹ tín dụng nhân dân vì người ta cho rằng mô hình đó dễ kiểm soát, bởi nó rất đơn sơ. Nhưng sự thật là sự đơn sơ đó đã xảy ra thiệt hại khôn lường, khi mà các qũy tín dụng nhân dân đã vỡ nợ tràn lan do cơ chế quản lý quá đơn giản và yếu kém.

Những con châu chấu và những con người

Tôi luôn có sự liên tưởng giữa những doanh nghiệp lớn đã từng “đổ bể” ở nước ta với những quỹ tín dụng nhân dân đơn sơ từng đổ bể năm nào. Hệt như những con châu chấu và những con người.

Con châu chấu dù lớn đến mấy cũng chỉ là con châu chấu: Tim chỉ 02 ngăn, máu vẫn là màu xanh, không có lục phủ ngũ tạng. Cơ chế vận hành của nó đơn sơ như vậy nên chỉ cần trái gió trở trời là nó chết. Con người thì khác, vì con người có một cơ chế vận hành tinh vi vô cùng.

Nói thế không có nghĩa là không có con người chết, không có ngân hàng “thăng trầm”, vì bộ máy nào cũng sẽ có những khiếm khuyết nhất định. Nhưng khi mà anh dám tổ chức ra một ngân hàng hoàn chỉnh, tinh vi như bộ máy của con người, thì những nguy cơ sẽ được hạn chế đến mức tối đa.

Những sự cố nhỏ, tình cờ, sẽ không khiến bộ máy tàn lụi, mà thậm chí còn tạo ra những kháng thể cho bộ máy, giúp nó hoàn chỉnh dần lên. Một khi ngân hàng phải tự bảo vệ sự sinh tồn của mình, nó sẽ học được cách phản ứng nhanh nhạy, tức thời, phải biết tự bảo vệ mình. Đó là bài học quý giá từ thực tiễn. Nó giống như việc chúng ta đi tiêm chủng hàng năm, chúng ta cấy virus vào người để tạo ra kháng thể. Kháng thể đó bảo vệ chúng ta khỏi nguy cơ bệnh tật.

Mỗi khi nhìn lại những gì chúng ta đã mạnh dạn thay đổi ở lĩnh vực ngân hàng, tôi lại băn khoăn không cắt nghĩa nổi tại sao chúng ta lại không làm được việc đó với những bộ phận khác của nền kinh tế? Tại sao chúng ta trong suốt bao năm qua vẫn tìm mọi cách bảo vệ, che chở cho những doanh nghiệp nhà nước như bảo vệ một bào thai trong bụng mẹ, dù chúng ta đã có đủ bài học nhãn tiền khi mà sự che chở vô lý đó đã vô tình tạo ra những hậu quả khôn lường?
————
Trần Hoàng: Sự nghèo nàn của VN là do thể chế đảng CSVN và nhà nước muốn nắm quyền hành chỉ đạo và cai trị. Họ nghĩ rằng làm như thế thì đảng sẽ nắm độc quyền lãnh đạo.
Nền kinh tế VN là do sự chỉ huy của đảng và nhà nước. Đảng và nhà nước kiểm soát tài chánh. 1954-1989, nhà nước thành lập quỹ tín dụng nhân dân vì nó dễ kiểm soát và chỉ có ngân hàng nhà nước. Họ không cho tư nhân tham gia trong lãnh vực thành lập ngân hàng.
Theo Lê Kiên Thành:  ngân hàng tư nhân ra đời 1990s vì sự đổ nợ tràn lan của các quỹ tín dụng nhân dân đã thành lập trước đó.
1. “Trước đó, chúng ta chỉ có những quỹ tín dụng nhân dân vì người ta cho rằng mô hình đó dễ kiểm soát, bởi nó rất đơn sơ. Nhưng sự thật là sự đơn sơ đó đã xảy ra thiệt hại khôn lường, khi mà các qũy tín dụng nhân dân đã vỡ nợ tràn lan do cơ chế quản lý quá đơn giản và yếu kém.”
2. Nhưng rồi đến một thời điểm (khoảng 1990s), đã có những người dám nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ, thì ngay cả một lĩnh vực nhạy cảm như tài chính cũng có thể cho phép tư nhân vào cuộc. Cuối cùng đã có một người dám tư duy theo một cách hoàn toàn khác với tư duy cũ:  Anh tư nhân có thể làm ngân hàng, nhưng tôi sẽ kiểm soát về mặt lãi suất, về mặt con người. Tổng Giám đốc của ngân hàng tư nhân cũng phải do nhà nước chỉ định; chủ tịch HĐQT ngân hàng cũng phải do Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn.Và cứ nhìn vào những gì mà quyết định đó mang lại trong suốt mấy chục năm qua, thì sẽ thấy việc dám nghĩ, dám thay đổi đúng đắn đến nhường nào.(Còn tiếp)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Mức thu nhập (hay lợi tức) tính theo đầu người năm 2012 của Việt Nam- 28 năm đội sổ nhờ có đảng lãnh đạo

Posted by hoangtran204 trên 27/10/2013

“Nằm sát sàn, hàng trăm năm cũng không sợ té…”   blogger Đinh Tấn Lực

GDP per capita = the value of all final goods and services produced within a country in a given year, divided by the average (or mid-year) population for the same year.

GDP per capita là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất được trong một nước trong năm ghi nhận, chia cho dân số của cùng năm đó

GDP per capita  là mức thu nhập (hay lợi tức) tính theo đầu người mỗi năm.

Chú  ý, mức thu nhập của nước CHXHXN Việt Nam bắt đầu được Ngân Hàng Thế Giới  (World Bank) ghi nhận kể từ 1985.

GDP Per Capita  Năm 2012 cuả 6 nước trong vùng Đông Nam Á và Trung Quốc.

CHXHCN Việt Nam nhờ có đảng lãnh đạo nên năm nào cũng đội sổ kể từ 1985- 2012.

28 năm đội sổ kể từ  đổi mới 1986  (Lê Duẩn mất 7-1986)

Nhưng thời đổi mới (hiện nay chúng ta vẫn còn ở trong giai đoạn này thì phải) được ghi nhận là đời sống của người dân được xem là khá nhất kể từ khi đảng CSVN nắm quyền từ hồi 1954 ở Miền Bắc.

Trong tiểu sử Lê Duẩn -phần ĐÁNH GIÁ- các bạn đọc hãy chú ý  về các lời khen ngợi của các nhà trí thức về Lê Duẩn, và cũng để ý rằng thực tế về đổi mới chỉ xuất hiện sau khi Lê Duẩn mất. 

1980      25.156 1988   374.354 1995     16.926 2002   4.079 2009     6.717
1981       69.6 1989     95.77 1996       5.593 2003   3.303 2010     12
1982      95.401 1990     36.031 1997       3.095 2004   7.895 2011
1983      49.487 1991      81.817 1998      8.11 2005    8.394 2012
1984      64.897 1992     37.705 1999      4.108 2006     7.503 2013
1985      91.602 1993       8.379 2000    -1.768 2007    8.349 2014
1986   453.538 1994       9.483 2001     -0.31 2008   23.115 2015
1987   360.357

Ghi chú:

Từ 2011-2015 chưa cập có số liệu, vì IMF chỉ thống kê tới 2010

Việt kiều bắt đầu gởi tiền về Việt Nam kể từ 1990, và đã làm cho lạm phát giảm dần.

-Con số lạm phát thật sự của các năm 1986, 1987, 1988 lên đến 900%. Đảng và nhà nước quá mắc cở nên giảm bớt xuống còn 453% và 360%.

-Lý do thật sự mà đảng CSVN và nhà nước quyết định rút quân khỏi Kampuchia trong thời hạn 1986-1989 là vì mức lạm phát của VN trong năm 1985, 1986, lên tới mức kinh hoàng.

Vào năm 1985, Liên Xô không viện trợ xăng dầu cho VN nửa, vì nền kinh tế và tài chánh LX đang ngắt ngoải do giá dầu hỏa chỉ từ  37 đô la / 1 thùng của năm 1980, đã rớt xuống còn 14 đô/ 1 thùng, và giá này kéo dài liên tiếp quá lâu vào  những năm sau đó và LX sụp đổ (dầu là nguồn đẻ ra tiền của LX).

http://chartsbin.com/view/oau

Nhấp chuột vào Reference and Data table để xem chi tiết giá dầu từng năm

Bên trái là giá dầu vào năm ấy, bên phải là giá dầu theo giá trị đồng đô la 2009 (đã điều chỉnh theo lạm phát.)

 

 

1977 13.92 49.24
1978 14.02 46.13
1979 31.61 93.41
1980 36.83 95.89
1981 35.93 84.80
1982 32.97 73.30
1983 29.55 63.65
1984 28.78 59.43
1985 27.56 54.95
1986 14.43 28.25
1987 18.44 34.82
1988 14.92 27.06
1989 18.23 31.53
1990 23.73 38.94
1991 20.00 31.51
1992 19.32 29.54
1993 16.97 25.20
1994 15.82 22.90
1995 17.02 23.95
1996 20.67 28.26
1997 19.09 25.52
1998 12.72 16.74
1999 17.97 23.14
2000 28.50 35.50
2001 24.44 29.61
2002 25.02 29.84
2003 28.83 33.62
2004 38.27 43.46
2005 54.52 59.89
2006 65.14 69.32
2007 72.39 74.90
2008 97.26 96.91
2009 61.67 61.67

Giá dầu hạ trong 5 năm liên tiếp, 1986-1990, đã làm Liên Xô sụp đổ.

Trong thời gian 1986-1990, giá dầu hạ 30%, làm Liên Xô bị khủng hoảng kinh tế, lạm phát; cùng lúc ây , thời tiết quá lạnh, và bị mất mùa lúa mì trong 5 năm liên tiếp 1985-1990. Chính phủ phải mượn tiền chi tiêu, và bội chi ngân sách trong giai đoạn 1980-1990, sau cùng thì kiệt quệ, và chế độ cộng sản sụp đổ 1990. 15 nước Đông Âu sụp đổ trước vì nhận viện trợ của Liên Xô.

Việt Cộng, nhận viện trợ xăng dầu của Liên Xô từ 1954-1986. Liên Xô suy kể từ 1978, và ngày càng suy sụp từ 1980-1986 sau khi cố tổ chức Olympic.  LX buộc lòng phải cắt giảm viện trợ cho Đông Âu và Việt Cộng. Cả nước VN te tua khi Hà Nội không còn nhận được viện trợ của TQ (kể từ 1975), chỉ nhận viện trợ nhỏ giọt của LX từ 1977-1985, và bị Liên Xô cắt hẳn viện trợ kể từ (1986). Cả nước VN ở bên lề nạn đói, cả nước bị cúp điện, xe điện chạy bằng than từ 1976, lạm phát lên 400% đến 900%, buộc lòng phải tuân lệnh Mỹ và LHQ rút quân khỏi Kampuchia 1986-1989

 

 

——
GPD per Capita  năm 2012 của Việt Nam = 1600 đô la Mỹ /. Đem con số này chia cho 12 tháng, thì đó là lợi tức hay mức thu nhập hàng tháng của 1 người Việt Nam trong năm ngoái (bất kể người ấy là em bé 3 tuổi hay người 70 tuổi, có đi làm việc hay không). 
—–

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

►Bắt bớ, tù đày hay thả con tin…tùy thuộc vào nhu cầu đòi hỏi được thỏa mãn hay không

Posted by hoangtran204 trên 03/10/2013

Vài suy nghĩ về án tù của Lê Quốc Quân

Người Buôn Gió

Theo FB Người Buôn Gió

Chia sẻ bài viết này

Với mức án 30 tháng tù giam, cộng 600 triệu tiền truy thu và 1,2 tỷ tiền phạt. Mức án cao nhất so với khung mà viện kiểm sát đưa ra với Lê Quốc Quân với tội danh ” trốn thuế ”. Cùng với những diễn biến xảy ra từ khi điều tra vụ án này, đến hoạt động của nhân dân, an ninh, cảnh sát bên ngoài phiên tòa và cả đài truyền hình Việt Nam cất công đưa tin về vụ án trốn thuế mấy trăm triệu. Tất cả đều cho thấy đây là một vụ án nằm ngoài khuôn khổ của một vụ trốn thuế bình thường. Chắc khỏi cần đi sâu phân tích những khuất tất, mờ ám của vụ án này. Một khi tòa án đã bất chấp mọi thông lệ bình thường để kết án tù bằng được Lê Quốc Quân, thì ai cũng biết phiên tòa được quyết định bởi một thế lực còn cao hơn cả luật pháp. Điều gì dẫn tới sự can thiệp này từ phía thế lực cao hơn cả tòa án đó. ? Cái thế lực huy động nguồn nhân lực đồ sộ, kinh phí đến hàng tỷ, suốt mấy năm trời ròng rã từ Nam ra Bắc bắt cả phụ nữ mang bầu. Chỉ để kết án bằng được Lê Quốc Quân trốn thuế vài trăm triệu. Hẳn nhiên mục đích của thế lực ấy phải nằm ngoài chuyện Lê Quốc Quân ” trốn thuế ” vài trăm triệu. Đến giờ thì cũng chẳng cần nhắc đến tiểu sử của Lê Quốc Quân, vì ngày hôm nay thế giới đã nhắc quá nhiều về anh, thông tin của anh tràn ngập trên mọi phương tiện truyền thông.

Vụ án Lê Quốc Quân định đem ra xử khi CTN Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ, thế nhưng người ta đã gác lại đợi sau chuyến đi của thủ tuớng Nguyễn Tấn Dũng đến Hoa Kỳ. Cả hai chuyến đi này đều không đem lại kết quả như mong đợi của Việt Nam. CTN Sang được đón tiếp trong sự thờ ơ, còn thủ tướng Dũng dù các nguồn cố gắng vận động dăm lần bảy lượt để cho thủ tướng có cơ hội tiếp xúc với tổng thống Hoa Kỳ Obama cũng không đem lại kết quả. Cuối cùng thủ tướng Dũng đành tiếp Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ tại một nơi không lấy gì làm trang trọng với tầm cỡ của một nguyên thủ quốc gia.

Cuộc tiếp kiến với IMF và WB cũng không mang lại kết quả như ý là vận động cho Việt Nam được mượn thêm tiền. Thậm chí là nguồn ODA cũng bị đóng băng vì đòi hỏi VN phải có nguồn vốn đối lưu tương xứng. Câu trả lời của các tổ chức tín dụng lớn nhất thế giới có trụ sở ở Hoa Kỳ này là ; Việt Nam hãy tự điều chỉnh chính sách kinh tế của mình trước rồi hãy nói đến chuyện mượn tiền nong sau. Chúng tôi làm ăn, không nói đến chuyện nhân quyền ở đây.Điều chỉnh chính sách kinh tế, hay cải cách chính sách kinh tế là một thách đố quá khó đối với một quốc gia mà nhà nước do một đảng độc tài điều hành. Bởi những tập đoàn nhà nước là những tấm bình phong để mang lại nguồn lợi ngầm cho quan chức đảng, nó cũng chính là mạch máu nuôi dưỡng sự tồn vong của đảng, nó đem lại những bổng lộc khiến các đảng viên phải cố gắng phục vụ trung thành cho Đảng để kiếm chác được.

Với hàng loạt trụ sở hoành tráng của ĐCS , cũng như những món tiền khổng lồ để phục vụ tuyên truyền, bảo vệ ĐCS, dùng cho ĐCS…ai cũng hiểu mấy chục ngàn VND đảng phí của các đảng viên đóng hàng tháng, không thể đáp ứng được cho chính các đảng viên ấy trà thuốc khi họp chi bộ, giấy in để đọc các nghị quyết. Vậy tiền chi cho Đảng lấy ở đâu ra.? Lấy bằng cách nào.?

Con bài nhân quyền của phía Việt Nam dùng để mặc cả tiền nong với phương Tây đã vào giai đoạn hết tác dụng . Giờ có bắt thêm hàng chục người bất đồng chính kiến hay các blogge phản biện đều chỉ khiến phương Tây thêm cười nhạt.Vào lúc này họ sẵn sàng khen ngợi Việt Nam đã cải thiện về nhân quyền nữa cơ, có tiến bộ lắm, đáng khen lắm. Nhưng mà vay tiền, viện trợ thì lại là chuyện kinh tế, chuyện ông làm ăn thế nào, có hiệu quả hay không.? Tôi trông giỏ tôi bỏ thóc, trông vào cung cách làm ăn của ông có khả năng phát triển hay không tôi đầu tư cho vay.

Thiết nghĩ mọi vấn đề về tiền nong đã rõ ràng. Chuyện nhân quyền không còn là lá bài hữu dụng . Chẳng phải phương Tây ghi nhận tiến bộ về nhân quyền, mà ngay cả Vatican cũng hài lòng với sự tiến bộ về tôn giáo của các ông. Vấn đề bây giờ là các ông hãy phát triển kinh tế lành mạnh và có khả năng phát triển đi. Mọi cái khác ông làm rất đáng khen. Luật sư Lê Quốc Quân, người Việt Nam có học bổng ở Hoa Kỳ và lại là một giáo dân uy tín của Công giáo Việt Nam, một tri thức yêu nước, một người mong muốn cải cách sự dân chủ, quyền con người bỗng nhiên anh bị bắt về tội ” trốn thuế ”. Và khi lá bài nhân quyền để đổi kinh tế, viện trợ không được như ý. Lê Quốc Quân bị người ta kết án nặng nhất so với bất kỳ các vụ án tương tự, thậm chí cả những vụ án mà số tiền trốn thuế gấp vài chục lần. Người ta định bắt anh vì mục đích khác, khi mục đích ấy không còn hữu dụng, lẽ ra phải thả cho anh với mức án hợp lý để lấy sự nhân hòa. Nhưng họ lại hành xử theo cách của người bán đào đêm 30 Tết. Không còn ai mua đào, quất,người bán dùng gậy vụt cho tan nát những cây đào, quất rồi bỏ đó cho người công ty vệ sinh đến dọn, khỏi mất công chở về.

Nếu phiên tòa hôm nay, Lê Quốc Quân nhận tội và xin khoan hồng. Có lẽ anh cũng tạo cho những người bắt anh được lối thoát để họ thành công về dư luận, hể hả thỏa mãn quyền lực tối cao của mình khép ai có tội là có tội. Nhưng anh không làm thế, chẳng ai đi đổi 20 tháng tù giam còn lại của một vụ án bất công, để xin xỏ mong được chuyển thành án treo. Đến một thằng lưu manh, thực dụng như Lái Gió cũng chẳng dại gì đi đổi cái giá ấy. Dẫu biết một ngày tù là thiên thu tại ngoại, là xa lìa con thơ, vợ dại, mẹ già, anh chị em và bằng hữu. Huống chi là một người trí sĩ có tấm lòng với quê hương, một tín đồ Công Giáo nhiệt thành như luật sư Lê Quốc Quân.

Bài phân tích trước khi xử một tháng, tôi đã đặt khả năng Lê Quốc Quân bị 30 tháng tù giam. Nhưng hy vọng những người kết án anh cân nhắc lợi hại cho họ, bởi có giam được anh thêm 20 tháng tù nữa thì cũng chả nghĩa lý gì thời gian vèo cái là qua. Trái lại uy tín của anh và sự quý trọng anh của những người thương mến anh càng dâng cao và lan tỏa. Còn xử anh án treo và thử thách thì không những vô hiệu hóa anh trong vòng kiềm tỏa,mà vẫn có thể đánh vào uy tín của anh qua những lần kiểm điểm hàng tháng, trình diện tại địa phương, đi đâu phải khai báo xin xỏ. Trong khi đó vẫn được tiếng là không nặng tay với người bất đồng chính kiến, không phân biệt đối xử giữa người bất đồng chính kiến với những người khác cũng trốn thuế trước đó bị xử tội danh như vậy.Nhưng xử án treo là chính quyền phải đủ mạnh, đủ lực. Cũng như Gia Cát Lượng ngày xưa 7 lần bắt và thả Mạch Hoạch. Phải đủ lực để điều khiển cuộc chơi, phải tin vào bản thân mình còn sức lực, trí tuệ và khả năng như Gia Cát Lượng lúc đó mới dám chơi cuộc chơi vờn giỡn như thế.

Có lẽ những người phụ trách vụ án Lê Quốc Quân, cũng chẳng còn niềm tin là họ sẽ còn trụ được đến 20 tháng nữa chăng ?. Thế nên mới quyết giam được ngày nào hay ngày ấy cho khỏi mất công lập chuyên án theo dõi, vô hiệu hóa, ngăn chặn. Chấp nhận để Lê Quốc Quân đi vào lịch sử không phải vì tội ”trốn thuế ” nữa mà như một vị anh hùng đối lập.

Mà cũng có thể là thế lắm, cho mày làm anh hùng đối lập sau này cũng đựơc. Vì lúc đó tao đâu có còn chức quyền nữa mà quan tâm chuyện mày đối lập hay không.? Thật bi hài cho những người chủ trương kết án Lê Quốc Quân hôm nay, nếu suy nghĩ thế thực sự tồn tại ảnh hưởng đến quyết định của họ.

Bài viết theo phản ánh quan điểm cá nhân, nếu có điểm nào đụng đến những quan điểm khác xin được lượng thứ vì trình độ hạn hẹp.

http://danluan.org

basam.info

http://nguoibuongio1972.blogspot.com/

——————————

Trần Hoàng: Đảng và nhà nước chỉ muốn tiền.  Kế hoạch xin tiền của họ khá đơn giản. Bắt ai đó làm con tin, và đòi các nước cho vay thêm tiền, viện trợ này kia nọ, hoặc đòi  các nước ngoài phải cho VN vào tổ chức kinh tế này kia nọ…nếu âu châu và Mỹ thỏa mãn, thì thả người; nếu không thỏa mãn theo đòi hỏi, thì nạn nhân bị án tù.

Trong suốt 20 năm qua, đảng và nha nước  thường bắt bớ các nhân vật bất đồng chính kiến, rồi khuấy động dư luận thế giới chừng 5-7 tháng. Chính phủ các nước phương tây vừa giao thiệp với VN, mà vừa coi trọng nhân quyền, nên vào các “dịp” này, họ thường mời thủ tướng hay chủ tịch nước ra nước ngoài…đàm đạo.

Vậy là vào rọ, việc mặc cả bắt đầu. Trước chuyến công du, lãnh đạo  gọi phone xuống tòa án, thế là tòa án sẽ đình hoãn đưa nạn nhân ra tòa.  Trong khi đang công du ở nước ngoài, thì thủ tướng hoặc chủ tịch nước dùng nạn nhân để thương lượng. Nếu đạt được kết quả như mong muốn, thì khi họ trở về lại VN,  nạn nhân được tha bổng như trường hợp Nguyễn Phương  Uyên.  Nếu kết quả không như mong muốn, thì nạn nhân vào tù, như trường hợp Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần.

Bổn cũ này được dùng đi, dùng lại từ năm 1991 cho đến nay.

Sau hơn 22 năm bị lừa, năm 2013, chính phủ các nước Âu Châu và Mỹ chừng như đã hiểu rõ bài bản của đảng và nhà nước, nên năm nay họ đã thay đổi chiến lược.

Đảng và Nhà Nước cũng thay đổi chút ít chiến lược. Chủ tịch Sang đi theo chiều kim đồng hồ, qua Mỹ trước, rồi qua Châu Âu cầu viện; còn Thủ tướng Dũng thì đi ngược chiều kim đồng hồ, qua Châu Âu trước, rồi qua Mỹ xin mượn tiền: chui vào IMF và WB mượn, nhưng báo chí VN loan tin rùm trời là đến trụ sở LHQ ở New York họp! 

Năm nay, các nước  tiếp chủ tịch nước hoặc thủ tướng VN rất gượng gạo. Khi Chủ tịch Sang qua Mỹ tháng 7, Mỹ bán cái và đổ thừa tại vì nhà nước VN chưa làm này, chưa làm kia, nên họ không thể thỏa mãn điều kiện vay mượn, rất khó lòng vào được TPP…Sợ quá, nên khi Chủ tịch Sang về lại VN báo cáo, Bộ chính trị họp, phái TT Dũng công du. Để làm cử chỉ đẹp,  Nguyễn Phương Uyên được tha bổng ra khỏi tù. 

Khi TT Dũng qua Mỹ,  TT Obama không chịu gặp mặt, đừa việc cho thuộc cấp ra đón, mặc kệ cho Nhà Nước ta bắn tin, săn đón, đi ngã sau hỏi dò…xin cho TT Dũng gặp Obama. Nhưng thuộc cấp nói là: TT Obama của tao đang gặp khó khăn vì quốc hội phản đối bọn mày, và bộ máy chính phủ phải đóng cửa vào đầu tháng 10 vì  quốc hội không chuẩn thuận bảo hiểm sức khỏe …rồi gợi ý hay bán cái TT Dũng  qua gặp các tổ chức tài chánh nói chuyện. Bọn  (IMF) Quỹ Tiền Tệ Thế Giới, và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank)…biết rõ tẩy nhà nước VN qua đây chỉ là mượn tiền, nhưng cũng phải giả lả tiếp chiếu lệ. TT Dũng không mượn tiền được, đó là một tin buồn, không thỏa mãn được nguyện vọng, nên Ls Lê Quốc Quân vào tù để chờ mặc cả cuối năm.  

Ls Lê Quốc Quân phải vào tù là thế đấy. Nhưng, nhà nước chưa mất hết  hy vọng vì trong vài tháng tới  tòa phúc thẩm sẽ đem Ls Quân ra xử, tạo thêm một cơ hội cuối cùng  cho thủ tướng và chủ tịch nước ra “công du”nước ngoài lần nữa. Kỳ tới Nhà Nước sẽ công du qua Úc hay nước nào?

————-

*Tại sao lâu nay, các nước và các tổ chức tín dụng cho VN mượn tiền khá dễ dãi, mà không cho các nước Phi Châu mượn? 

_Vì các tổ chức tài chánh biết rõ VN là một nước xuất khẩu dầu hỏa. Mỗi ngày VN bán 400.000 thùng dầu, và mỗi năm bán hơn 9 tỷ tấn ga. Số tiền này đủ để VN trả góp tiền nợ 140 tỷ đô la.

*Tại sao các tổ chức tín dụng không cho VN mượn tiền nữa? 

Sẽ quá nguy hiểm để cho VN vay thêm tiền vì có nguy cơ VN không trả được nợ.

Năm sau cao hơn năm trước,  năm nào VN cũng đi mượn tiền, và IMF lẫn WB đều biết rõ thói quen ấy của nhà nước  VN từ hơn 20 năm qua. Đầu năm nay, dựa vào các nguồn tin của WB và IMF, các nhà kinh tế và tài chánh VN đã cho biết số nợ thật sự của chính phú VN. Báo chí VN đồng loạt đăng tin:  nhà nước VN đang nợ 140 tỷ đô la của các nước ngoài và các tổ chức quốc tế. (VN  nợ 95% của GDP hoặc 120% của GDP của năm 2012. GDP của VN năm 2012 là 138 tỷ đô la). 

Nhà nước VN cũng biết vậy, nợ đã lên tới đỉnh, không thể đi mượn tiền được nữa,  nên cách đây 3 tháng, họ đã công bố xây dựng nhà máy in tiền đồng lớn hơn, và sẽ đưa vào hoạt động in tiền vào năm 2014. Nhà nước VN không còn có đủ tiền đô la để thuê Úc in như đã làm trong 14 năm qua.

In tiền:

_để trả cho các chi phí bộ máy chính phủ hơn 6 triệu công chức và 8 triệu người thuộc hộ gia đình có công với cách mạng (10% dân số),

_để nuôi 93 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh (và 11.000 công ty con) đang thua lỗ,  

_để dùng tiền đồng mua lại tiền đô la của Việt kiều gởi về hàng năm (10-12 tỷ đô) và lấy tiền này đi trả nợ ngoại quốc…

_để cứu nguy hệ thống ngân hàng đang thua lỗ.

In tiền là một việc làm quá nguy hiểm (gây nạn lạm phát, đồng tiền mất giá, dân sẽ nổi loạn).

In tiền: có nghĩa là năm 2014 và 2015 vật giá ở VN sẽ gia tăng khủng khiếp. Ai có tiền đô, vàng…nên cất giữ từ bây giờ, đừng bán ra số nhiều, mà cũng đừng gởi vào ngân hàng của nhà nước, vì các ngân hàng hiện nay cũng trên đà sụp đổ vì vốn liếng đang kẹt vào các món nợ xấu, kẹt trong 200.000 căn hộ cao cấp và trung cấp chưa bán được…  

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | 1 Comment »

►The Phnom-Penh Post: Vòng xoáy đi xuống của Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2013

Tác giả: Roger Mitton

Người dịch: Trần Hoàng 

Những ngày này, Việt Nam trở nên một quốc gia ảm đạm. Hầu hết mỗi bài báo viết về quốc gia này, dù là có liên quan đến kinh tế, tham nhũng, đàn áp chính trị, hay giá bia, đều cực kỳ ảm đạm.

Có lẽ điều đáng u sầu nhất là câu chuyện của nhà báo Nguyễn Phương Linh trên tờ Financial Times cuối tháng trước, bài báo đó mô tả hoàn cảnh của những người có cuộc sống cực kỳ gian khổ được gọi là “những cái xác biết đi” (zombies).

Họ là hàng chục ngàn công nhân của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ở quốc gia này, hầu hết đang nằm trong tình trạng làm ăn không hiệu quả, tham nhũng một cách có hệ thống và phần lớn đang sắp phá sản.

Bà Linh tiết lộ, nhiều người trong số những công nhân này đã không được trả lương trong nhiều tháng nay, và trong bối cảnh những khoản nợ khủng khiếp của các công ty này, chắc chắn là họ sẽ không bao giờ được trả lương.

Ngay cả trong trường hợp, không chắc sẽ xảy ra, là họ cuối cùng  nhận được khoản lương bị thiếu nợ, thì số tiền ít ỏi đó cũng sẽ chỉ mua được ít đồ hơn bình thường vì nạn lạm phát gia tăng và đồng tiền mất giá chưa từng có.

Thế nhưng, trong thị trường lao động đình trệ của Việt Nam, những người lao động nghèo này không dám rời bỏ cái kén giả tạo về sự  an toàn rằng: là công nhân viên nhà nước.

Chế độ cộng sản không thể sa thải họ. Điều đó sẽ chỉ đẩy nhanh cuộc cách mạng sắp tới và không thể tránh khỏi.

Vì vậy, đảng CS sẽ làm tất cả những gì có thể để giữ cho các công nhân này trong các nhà máy, chứ không phải ở  ngoài đường – ngay cả khi họ không nhận được lương.

Chuyện này luôn luôn giống nhau. Người công nhân bị ảnh hưởng nặng nhất khi nền kinh tế thất bại, và rất ít quốc gia đã thất bại một cách bi thảm như Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 5% trong năm ngoái, và trong hai tháng đầu năm nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là rất ít ỏi, 630 triệu USD, giảm 62% so với cùng thời gian  năm ngoái.

Đối với một quốc gia có một lực lượng lao động tăng trung bình 1 triệu người mỗi năm, thì lượng đầu tư   giảm 2/3 không chỉ là thảm họa cho Việt Nam, mà còn làm cho các nước láng giềng lo lắng về các hậu quả mang tính bạo lực.

Cho đến nay, kết quả thất bại thảm hại của VN là điều mà nhiều người đã đoán trước được.

Trong một thế giới toàn cầu hóa như ngày hôm nay, một nền kinh tế chỉ huy từ trên xuống đơn giản là điều không thể chấp nhận, đặc biệt là khi các nhà lãnh đạo đất nước này là một lũ  dốt nát và tham nhũng, đang sống trong một thế giới Xô Viết tưởng tượng nào đó (nơi mà hãng xưởng luôn luôn vượt năng suất lao động hàng năm).

Nhưng họ không thể che dấu sự thực được mãi. Như những người đã xem bộ phim Dawn of the Dead đều biết, những xác chết biết đi (zombies) hay những công nhân  không thể bị đánh bại.

Họ có thể đi lòng vòng như những công nhân chăm chỉ trong khi họ  cọng thêm vào số giờ làm việc trong hãng xưởng không chịu trả lương, nhưng họ cứ tiếp tục trở lại làm việc, bất chấp tầng lớp lãnh đạo cố gắng chế diễu họ hay xỉa xói họ.  

Hiện thực đó vẫn chưa được các bộ não cứng nhắc ngồi ở Bộ Chính Trị tại Hà Nội ghi nhận, mặc dù có một vài người trong số họ đã tỏ dấu hiệu khó chịu trước tình hình.

Không chỉ bởi những cuộc đình công ngày càng tăng trên cả nước, thậm chí không phải sự gia tăng đáng báo động của các vụ cướp bóc trên đường phố, của các vụ vào tận nhà để cướp, mà là bởi những ý kiến phản kháng chính quyền đầy táo bạo và lan rộng.

Trong một toan tính làm dịu tình hình xuống và dường như để giải quyết các tai họa của các tập đoàn và hãng xưởng quốc doanh,  Đảng CSVN đã soạn ra một dự thảo Hiến Pháp, và trong một nhượng bộ hiếm thấy, yêu cầu công chúng đóng góp ý kiến cho dự thảo.

Không nghi ngờ gì, Bộ Chính Trị không bao giờ mong đợi những con người xanh xao mất hết sức sống, bình thường hay sợ hải (sẽ) đóng góp bất cứ ý kiến gì, hoặc nếu có, các ý kiến ấy chỉ là các phát biểu chấp thuận nhẹ nhàng.

Trên thực tế, họ đã thu nhận được một cơn lốc chửi rủa tơi bời, hầu hết các ý kiến tập trung vào sự thất bại thảm hại của Đảng CSVN trong việc điều hành đất nước.

Những người góp ý kiến công khai, bao gồm các sinh viên,  trí thức,  luật sư và các cựu công chức, đã và đang nhấn mạnh rằng họ sẽ không bao giờ lùi bước, ngay cả khi, giống như  nhà chỉ trích và nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, họ bị sa thải hoặc thậm chí bị bỏ tù.

Họ muốn các cuộc bầu cử có tính chất dân chủ và tôn trọng nhân quyền, và trên tất cả,  loại bỏ Điều 4 Hiến pháp, điều này quy định rằng chỉ có một đảng được chấp thuận hoạt động ở Việt Nam là Đảng CSVN và cũng là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước.

Điều 4 phải ra đi. Càng sớm càng tốt. Sau đó tình hình u tối sẽ được dỡ bỏ và những công nhân vốn xanh xao mất hết sức sống đã phải chịu cực khổ lâu nay, cùng với đồng bào của họ, có thể hướng đến một cuộc sống bình thường, có ý nghĩa – và nhận được tiền lương đúng lúc.

nguồn:  http://www.phnompenhpost.com

Người dịch: Trần Hoàng @2013

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

Đảng và nhà nước làm giàu nhờ vào các tập đoàn bòn rút và chia lại cho các đảng viên cao cấp

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2012

Trích từ

Quả đấm bông thay vì quả đấm thép

24-5-2012

Phỏng vấn

(TBKTSG) – Câu chuyện đổ bể của Vinashin và Vinalines cho thấy chiến lược tạo ra những “quả đấm thép” trong công nghiệp hóa ở Việt Nam không thể không được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. TBKTSG đã có cuộc trao đổi về vấn đề này với TS. Nguyễn Tú Anh, Phó trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

TBKTSG: Theo ông, với tình hình đã và đang diễn ra với các “quả đấm thép”, liệu chiến lược công nghiệp hóa sẽ đi về đâu? 

Ông Nguyễn Tú Anh: Nếu vẫn tiếp tục như thế mà không thay đổi thì chiến lược công nghiệp hóa chắc chắn sẽ phải thất bại.

TBKTSG: Vấn đề lớn nhất rút ra từ những đổ vỡ này là gì?

– Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng ở đây là quản trị. Tức là dòng vốn đổ vào cho các tập đoàn này đã không kiểm soát được. Lỗ mà không ai biết, đến khi vỡ ra rồi, mới hay.

TBKTSG: Như vậy, sự đổ vỡ là do cách thức thực hiện chứ không phải do chọn ngành?

– Tôi không nói là tất cả những ngành được lựa chọn để phát triển đều đúng. Có một thời chúng ta đã chọn rất nhiều ngành mũi nhọn, tương tự như một quả mít vậy, chỗ nào cũng mũi nhọn cả. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thất bại vì việc lựa chọn không dựa trên lợi thế gì cả. Công nghiệp ô tô là một ví dụ cụ thể.

Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch:

Cần tách bạch hai việc

Vấn đề phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải hàng hải là đúng bởi đó là những ngành kinh tế mang tính chiến lược quốc gia. Xác định ngành gì là mũi nhọn phải dựa trên lợi thế tĩnh và động của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Ví dụ, Việt Nam có chiều dài bờ biển lớn, đây là lợi thế không phải quốc gia nào cũng có trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết Trung ương về kinh tế biển cũng nói rõ, ngành đóng tàu, ngành vận tải biển là những ngành cần thiết cho nền kinh tế. Việc định hình những ngành chiến lược gắn liền với quá trình xây dựng, công nghiệp hóa đất nước, đặc biệt là kinh tế biển, cần có những chính sách phát triển phù hợp. Còn việc xử lý các tập đoàn làm ăn thua lỗ lại là chuyện khác. Cần tách bạch hai việc với nhau.

Tuy nhiên, khi xác định ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải biển là ưu tiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì chúng ta lại thiếu chính sách để các thành phần kinh tế tham gia mà chỉ tập trung cho một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đây cũng là một nguyên nhân khiến ngành đó không phát triển được.

Sắp tới, tôi cho rằng không nên tập trung nguồn lực đầu tư vào các tập đoàn, công ty nhà nước nữa. Rất tiếc, đề án tái cơ cấu kinh tế mà Chính phủ trình Quốc hội mới chỉ đưa ra cái khung, mới ở dạng ý tưởng chứ chưa hẳn là đề án đầy đủ. Điều quan trọng, không phải chỉ xác định phát triển ngành gì mà còn là làm cách nào, dựa trên nguồn lực nào.

TS. Nguyễn Quang A:

Mềm quá thì tiêu!

Tập đoàn nhà nước ở Việt Nam là một sự tập trung quyền lực hết sức mạnh mẽ. Mà đã tập trung quyền lực, cho nó được ưu ái nhiều hơn thì ắt sẽ dẫn đến một tình trạng mà giới kinh tế học gọi là ràng buộc ngân sách mềm. Tức là ở bên ngoài mang vào cho doanh nghiệp chứ không phải do tự doanh nghiệp làm ra. Điều này dẫn đến hệ quả là làm cho người lãnh đạo doanh nghiệp đó sinh ra tâm lý ỷ lại, chẳng phải lo lắng gì cả. Cần gì phải lo khi mà được ưu ái đến vậy. Thiếu tiền, đã có ngân hàng cho vay hoặc lỗ lã thì được bù theo chỉ đạo.

Ngược lại, ngân sách cứng là doanh nghiệp phải tự lo, tự xoay xở. Ví dụ, muốn có một khoản vay tín dụng, phải bị ngân hàng săm soi tính hiệu quả. Khi ngân hàng làm vậy, họ đã thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng, đó là làm cho ràng buộc ngân sách của doanh nghiệp cứng lên. Nếu hai điều kiện cơ bản để một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là ràng buộc ngân sách cứng và cạnh tranh thì cả hai điều kiện ấy đều thiếu đối với các tập đoàn nhà nước Việt Nam.

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng CIEM:

Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật!

Trong khi hàng triệu người dân phải tính từng đồng bạc, từng mớ rau, quả trứng thì sự phung phí một cách vô lối ở các tập đoàn như thế rõ ràng là một tội lỗi. Tội lỗi đối với nền kinh tế. Tội lỗi đối với người dân. Đây chính là lúc Nhà nước phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách cầu thị và dẫu có đắng cay, cũng phải làm để có thể gầy dựng lại từ đống đổ nát này. Trước mắt, cần phải xem xét toàn diện khung pháp lý về quản trị đối với các tập đoàn nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Câu hỏi đặt ra là còn những “tên tuổi” nào chưa bị phát hiện

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

Hàn Quốc xây xựng nhà máy điện hạt nhân cho Việt Nam – Nguồn gốc tấm bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế

Posted by hoangtran204 trên 10/04/2012

Thủ tướng VN đã được trường Đại học Hàn Quốc (Korea University) trao tặng bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế.

Thành tích kinh tế của ông Ng Tấn Dũng trong 6 năm cầm quyền là: Kinh tế VN đang trên đà phá sản, nợ công của chính phủ đi vay mượn nước ngoài lên 57 tỷ đô la, và nợ của 81 trong số 91 Tổng Công ty và tập đoàn quốc doanh vay nước ngoài là hơn 60 tỷ USD (nguồn) và (nguồn 2).  Năm 2010, vì Vinashin làm ăn lỗ lả, mất hết vốn, chính tàu hàng của Vinashin bị Hàn quốc bắt giữ xiết nợ.

Về lạm phát, VN đứng hàng đầu châu á, và đứng thứ nhì thế giới trong 6 năm liên tiếp. Tiền đồng Việt Nam được coi là kém giá trị hạng nhất, hoặc hạng nhì thế giới trong suốt thời gian ông Dũng làm thủ tướng.

Vậy mà Đại Học Korea còn khen đểu và  tặng bằng tiến sĩ kinh tế cho ông ta!

Bên cạnh ấy, thì Nam Hàn rất cáo già, vì lý do trao tặng là để cám ơn sự hậu hỷ như sau:

1.  “Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc khoảng 8,46 tỉ USD, chỉ sau đối tác Trung Quốc, tương đương 83% tổng giá trị nhập siêu năm 2011”. (nguồn  ở cuối bài này); và,

 2.  Hàn Quốc có được miếng bánh thơm trong hợp đồng trị giá hàng tỷ đô la dưới đây:

VN ‘ưu tiên Hàn Quốc’ trong dự án hạt nhân

Nguồn  BBC

Truyền thông Hàn Quốc hôm 29/3 cho biết Hàn Quốc được nêu danh là nhà thầu ưu tiên trong dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.

Tờ Chosun Ilbo trích tuyên bố của Bộ Kinh tế Trí thức Hàn Quốc cho biết hai nước vừa ký kết “Thoả thuận tăng cường hợp tác phát triển năng lượng hạt nhân ở Việt Nam vì mục đích hoà bình”.

Chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng diễn ra ngay sau khi các lãnh đạo thế giới vừa khép lại Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân năm 2012 tại Seoul trong hai ngày 26 và 27/3.

Trên trang tin điện tử của chính phủ Việt Nam cho biết thêm thoả thuận này được ký giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Kinh tế Trí thức Hàn Quốc,

Trang tin này cho biết chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của ông Dũng nhằm “thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển mạnh mẽ và sâu sắc hơn”.

Ngoài thỏa thuận hạt nhân, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký văn kiện hợp tác phát triển trong lĩnh vực tài chính cũng như các thỏa thuận về mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với Công ty Dầu khí quốc gia Hàn Quốc.

Các dự án khác còn bao gồm việc thu xếp vốn và cung cấp thiết bị cho dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.

Hai nước cũng nói sẽ phối hợp chặt chẽ trong việc hỗ trợ và bảo vệ phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc.

Nghiên cứu khả thi

Về dự án hạt nhân, tờ Chosun Ilbo cho biết, Việt Nam và Hàn Quốc sẽ “bắt đầu tiến hành nghiên cứu tính khả thi trong thời hạn một năm ngay từ tháng sau”.

Theo tờ báo, sau khi công đoạn này kết thúc, hai bên sẽ ký kết một thoả thuận chính thức sau khi Quốc hội Việt Nam chuẩn thuận.

Việt Nam dự định đến năm 2030 xây dựng tám nhà máy điện hạt nhân.

Nga đã thắng thầu hai nhà máy đầu tiên và đang tiến gần tới giai đoạn khai móng cho nhà máy đầu, trong khi Nhật Bản đang tiến hành các nghiên cứu khảo sát tính khả thi cho hai nhà máy thứ ba và thứ tư.

Một nhà máy điện hạt nhân của Hàn Quốc
Chính phủ Hàn Quốc muốn xuất khẩu công nghệ hạt nhân

Hàn Quốc đang cạnh tranh để xây các nhà máy tiếp theo trong bối cảnh nước này bắt đầu muốn xuất khẩu công nghệ hạt nhân.

Tờ Chosun Ilbo nói Hàn Quốc “dường như có cơ hội tốt để thắng thầu bốn nhà máy còn lại”.

Cuối năm 2009, Hàn Quốc giành được hợp đồng xây bốn nhà máy điện hạt nhân ở Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).

Sự kiện này đánh dấu việc lần đầu tiên Hàn Quốc trở thành nước xuất khẩu công nghệ hạt nhân như Mỹ, Pháp, Nhật và một số nước khác.

Kể từ năm 2009, Hàn Quốc đã thương lượng cho các hợp đồng xây nhà máy điện hạt nhân ở Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam, nhưng chưa có thỏa thuận nào được ký.

iến sĩ danh dự

“Thủ tướng Dũng là một lãnh đạo đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển đất nước và nâng địa vị đất nước trên trường quốc tế.” Lời của Kim Byoung-chul, Chủ tịch Đại học Hàn Quốc

Trong khi đó, báo Korea Herald cho hay, trường Đại học Hàn Quốc (Korea University) đã trao tặng bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Dũng cũng có “buổi diễn thuyết đặc biệt” về chủ đề kinh tế Việt Nam và quan hệ với Hàn Quốc tại lễ trao bằng hôm 28/3.

Chủ tịch trường Đại học Hàn Quốc, ông Kim Byoung-chul được dẫn lời nói: “Thủ tướng Dũng là một lãnh đạo đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển đất nước và nâng địa vị đất nước trên trường quốc tế”.

Trong chương trình của chuyến thăm Hàn Quốc, ông Dũng cũng có buổi gặp mặt chủ bàn tròn với các tập đoàn, viện nghiên cứu, tổ chức kinh tế hàng đầu Hàn Quốc hôm 29/3.

Giới quan sát nhận định quan hệ Việt – Hàn ngày càng thắt chặt, với việc mới đây hai nước tiến hành đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng lần thứ nhất.

http://www.koreaherald.com/national/…20120329000795

******************************************************

Nhiều nguồn tin trên internet cho biết, trước năm 1975, Miền Nam Việt Nam được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, các đô thị miền Nam rất được xem là văn minh và nền kinh tế của miền Nam Việt Nam có nhiều điểm vượt trội so với Nam Hàn. Ngành giáo dục, khoa học kỹ thuật, nông lâm súc, Y khoa…và số lượng các các nhà khoa học VN cũng vượt xa Nam Hàn. Nhưng rồi miền Bắc đem quân tấn công khắp các tỉnh thành ở miền Nam, làm cho công cuộc phát triển kinh tế có phần chậm lại, nhưng vẫn hề thua sút Nam Hàn. 

Sài gòn 1965 hay 1971?

Sau khi miền Bắc chiếm được miền Nam, đảng lãnh đạo cả nước VN tiến lên XHCN. Các đỉnh cao của trí tuệ loài người dẫn dắt toàn dân đi được một vòng mấy chục năm, thì bị lạc. Đến ngày nay, đảng vẫn chưa đưa cả nước đặt chân đến được chỗ ngày xưa miền Nam đã từng có nền văn minh như thế. Thôi, đành ôm chân Nam Hàn vậy.  

Nhập siêu từ Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

22-3-2012

Nếu Việt Nam không sớm thay đổi cơ cấu kinh tế thì càng tăng trưởng thương mại bao nhiêu, nguy cơ nhập siêu sẽ càng tăng lên bấy nhiêu.

Nguồn:Kinh tế và dự báo

Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc khoảng 8,46 tỉ USD, chỉ sau đối tác Trung Quốc, tương đương 83% tổng giá trị nhập siêu năm 2011.

Điều đáng nói là nguy cơ nhập siêu đang gia tăng mà chưa có biện pháp rõ rệt nào để cải thiện. PV đã trao đổi với ông Đặng Xuân Thanh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

Vì sao nhập siêu từ Hàn Quốc lại ngày càng tăng, thưa ông?

Nguyên nhân cơ bản nhất là sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế của Việt Nam và đây là điều không thể thay đổi một sớm một chiều. Mặc dù Việt Nam xuất siêu lớn sang Nhật và Mỹ, nhưng xét về tổng thể thì vẫn là nhập siêu. Điều này tác động đến cán cân vãng lai, lạm phát, tiêu dùng.

Yếu tố quan trọng thứ hai là sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam chậm được cải thiện, dẫn đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới cũng kém hơn nhiều nước, khiến khó xuất khẩu hơn. Điều đó cũng dẫn đến nhập siêu.

Cụ thể là cơ cấu thương mại của Việt Nam mất cân đối như thế nào?

Sự mất cân đối về cơ cấu thể hiện ở chỗ hàng xuất sang Hàn Quốc chủ yếu là sản phẩm thô như dầu, than, cao su, thủy hải sản, nhưng Việt Nam lại nhập các sản phẩm tinh chế từ dầu lửa, linh kiện để doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam lắp ráp, nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng cuối cùng từ chăn, tấm trải giường, gối, nệm đến sản phẩm xa xỉ như ôtô.

Hàn Quốc cũng có chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 2011, Hàn Quốc đã trở thành 1 trong 9 nước có giá trị thương mại vượt 1.000 tỉ USD. Quốc gia này hiện cũng là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Rõ ràng, nếu Việt Nam không sớm thay đổi cơ cấu thì càng tăng trưởng thương mại bao nhiêu, nguy cơ nhập siêu sẽ càng tăng lên bấy nhiêu.

Hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc và ASEAN (năm 2009) đã khiến nhập siêu của Việt Nam tăng mạnh. Có lẽ chúng ta đã tính toán chưa tốt về thời điểm, khiến bị lép vế về lợi ích so với những gì doanh nghiệp Hàn Quốc đạt được?

Tôi không nghĩ rằng chúng ta không tận dụng được cơ hội từ hiệp định này. Bằng chứng là năm 2011 xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng rất mạnh, trên 50%, đạt 4,6 tỉ USD. Trong khi đó, nhập khẩu chỉ tăng 32%. Nghĩa là mặc dù nhập siêu lớn, nhưng Việt Nam cũng đã gia tăng được xuất khẩu vào Hàn Quốc.

Tuy nhiên, nếu vẫn chỉ là mức tăng như thế thì tình trạng nhập siêu sẽ khó được cải thiện. Đặc biệt trong bối cảnh hậu khủng hoảng, các nước đang đẩy mạnh tái cấu trúc thì Hàn Quốc cũng vậy. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, Hàn Quốc đã rất thành công trong tái cấu trúc. Lần này, họ bị tác động ít và đã kịp thời khôi phục đà tăng trưởng.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng đang lột xác và có sức cạnh tranh cao. Samsung, chẳng hạn, đang cạnh tranh rất mạnh trên thị trường điện tử thế giới. Ở Việt Nam, giá trị xuất khẩu của công ty này đã đạt gần 5 tỉ USD (năm 2011). Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nước này là rất lớn. Tuy nhiên, họ lại nhập khẩu một lượng linh kiện lớn từ nước họ để sản xuất, bán sản phẩm tại Việt Nam và xuất khẩu.

Rõ ràng, nếu chúng ta không tái cấu trúc nền kinh tế, không đẩy mạnh sản xuất linh kiện, công nghiệp hỗ trợ thì sẽ không cải thiện được tình hình.

Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam. Nhưng doanh nghiệp Việt lại không thể cung cấp linh kiện cho họ. Theo ông, nên làm gì để cải thiện điều này?

Mặc dù chúng ta rất cần các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng nếu cứ thu hút vốn bằng những ưu đãi về đất đai, tài nguyên, giá nhân công rẻ thì sẽ không hiệu quả. Bởi vì như thế, chúng ta đã bán rẻ tiềm năng mà chỉ thu được giá trị gia tăng thấp. Đó là chưa nói đến chuyện chuyển giá để trốn thuế.

Chúng ta không thể thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà nên lựa chọn để giúp Việt Nam tiến nhanh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghĩa là không thể dừng lại ở việc lắp ráp như 10-15 năm vừa qua. Gần đây, Samsung đã mở rộng hoạt động lắp ráp ở Việt Nam nhưng doanh nghiệp trong nước chỉ cung cấp được bao bì, dịch vụ in ấn… Còn hàng loạt chi tiết, linh kiện đều được nhập khẩu từ Hàn Quốc hay lấy từ doanh nghiệp vệ tinh của họ tại Việt Nam.

Nếu dừng lại ở đây, chỉ vài năm nữa, các nước như Campuchia, Bangladesh sẽ tiến tới trình độ lắp ráp như Việt Nam. Khi ấy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển cơ sở sang các nước đó. Nếu chuyện này xảy ra, lao động Việt Nam sẽ như thế nào?

Dường như Hàn Quốc có chính sách tận dụng môi trường đầu tư ưu đãi ở Việt Nam và nhập khẩu linh kiện từ nước họ để sản xuất ra sản phẩm, bán cho người tiêu dùng Việt Nam và xuất khẩu? Như vậy, họ có lợi quá?

Khó trách các công ty Hàn Quốc, vì lợi nhuận luôn được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu. Chúng ta nên nhìn lại chính mình thì hơn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực lắp ráp ôtô, Việt Nam có chiến lược ngành công nghiệp ôtô. Trong đó, quy định các doanh nghiệp phải nội địa hóa bao nhiêu phần trăm trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, chúng ta đã không đạt được điều đó khi các điều kiện vẫn cho phép họ khai thác lợi nhuận từ cung cách cũ.

Còn doanh nghiệp Việt Nam chỉ nhắm đến lợi ích thu được từ xuất khẩu, từ lao động giá rẻ, tài nguyên sẵn có. Các đơn vị sản xuất linh kiện lắp ráp thì vắng bóng. Nói nôm na, sân bóng để trống thì chuyện bị sút tung lưới là bình thường.

Người Hàn Quốc còn cho chúng ta bài học quý giá về cách làm thương hiệu và thúc đẩy xuất khẩu. Họ bao sân hết hàng hóa tiêu dùng, từ hàng hóa cấp thấp đến cấp cao như mỹ phẩm, sản phẩm điện tử và ôtô. Có thể nói doanh nghiệp của họ đang tiếp cận rất tốt thị trường Việt Nam.

Bên cạnh chính sách đầu tư hiệu quả, dường như Hàn Quốc có chính sách xuất khẩu sản phẩm văn hóa trước, sau đó là hàng hóa tiêu dùng gắn với văn hóa đó?

Đây là chiến lược rất rõ ràng của Hàn Quốc. Khi tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nước này đã xúc tiến mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu quốc gia. Thành công của quốc gia này là do sự thống nhất ở mọi cấp nhà nước và sự phối hợp ăn ý giữa các nhà hoạch định chính sách với khối doanh nghiệp trong thúc đẩy xuất khẩu.

Bằng chiến lược trên, doanh nghiệp Hàn Quốc đã tiếp cận cả những thị trường xa xôi như Mỹ Latinh, Trung Đông, châu Phi. Thị phần họ giành được ngày một nhiều hơn. Nhờ đó, giá trị thương mại năm 2011 của Hàn Quốc đã vượt con số 1.000 tỉ USD và xuất siêu hơn 300 tỉ USD.

Có thể nói họ đã rất thành công trong công nghiệp văn hóa. Đây là khái niệm rộng lớn, không chỉ bao gồm giá trị vật chất, mà cả phi vật chất. Tức là đầu tiên họ làm cho người tiêu dùng cảm thấy hấp dẫn với nét văn hóa, con người Hàn Quốc, sau đó khiến người tiêu dùng muốn giống họ từ cách trang điểm, trang phục đến sử dụng các sản phẩm đắt tiền như ôtô. Nếu xem truyền hình, phim ảnh của Hàn Quốc phải chiếm đến 1/3 tổng số phim. Đó là sự quảng bá văn hóa, giúp bán hàng rất hiệu quả.

Việt Nam và Hàn Quốc đang chuẩn bị đàm phán Hiệp định thương mại tự do. Nếu nhìn từ Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc, có thể thấy có nhiều cơ hội chúng ta chưa tận dụng tốt. Như vậy, với hiệp định mới, liệu chúng ta có thể gia tăng xuất khẩu sang nước này?

Việc đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương với Hàn Quốc sẽ đặt Việt Nam đứng trước một thách thức mới, vì Hiệp định thương mại ASEAN – Hàn Quốc đã bước vào giai đoạn mới 2012-2014 với việc tiếp tục giảm một số dòng thuế. Trong bối cảnh chúng ta vẫn bị nhập siêu cao, câu hỏi đặt ra là liệu Hiệp định mới có thực sự cần thiết vào lúc này hay không.

Các nhà kinh tế học có thể cho rằng nên trì hoãn việc đàm phán thêm một thời gian nữa. Song theo tôi, chúng ta phải mạnh dạn hơn. Việt Nam không chỉ sẽ đàm phán với Hàn Quốc, mà còn với nhiều nước khác nữa như với Liên minh châu Âu và các nước liên quan đến Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương. Đó là cơ chế hợp tác thương mại ở cấp độ cao. Xu thế hội nhập này là tất yếu, buộc Việt Nam phải có những hợp tác thương mại sâu hơn nữa.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Kinh Te | Leave a Comment »

►Nhà máy lọc dầu Dung Quất cần thêm 1,5 đến 2 tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2012

Xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn 3 tỷ, mới khánh thành 6-1-2011,  vẫn đang còn trả nợ hàng tháng, nay nhà máy cần thêm tiền. Mặc dù  Nhà máy DQ lỗ mỗi ngày là 500 000 đô la, hay 120 -150 triệu đô la mỗi năm. Lọc 1 tấn dầu thô tiền công từ 5–30 đô tùy theo giá dầu ngoài thị trường cao hay thấp, Nhà máy DQ  luôn luôn báo cáo là chạy hết công suất 100%, nhưng khi tổng kết từ đầu năm 2009, đến tháng 8-2011, tổng số xăng dầu lọc được trong hơn 2 năm rưỡi qua chỉ có 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại.

Nay nhà máy cần thêm tiền!

Để xây dựng nhà máy lọc dầu công suất 10 triệu tấn một năm, thời giá lúc xây dựng chỉ có à 1,2 đến 1,5 tỷ. Nhưng Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất đã đầu tư vào hơn 3 tỷ đô để xây dựng lọc dầu thô loại ngọt, ít lưu huỳnh, độ acid rất thấp, chỉ  dành riêng cho giếng dầu Bạch Hổ. Nhưng sau thời gian khai thác hơn 20 năm qua, giếng Bạch Hổ nay đã cạn, không còn dầu ngọt nữa, nhà máy DQ vì thế đã phải mua dầu ngọt rất đắt tiền pha trộn với dầu chua (chứa nhiều lưu huỳnh, nên độ acid rất cao), phá tan các van lọc trong hệ thống lọc của Dung Quất.

Đó là lý do tại sao nhà máy DQ hoàn thành đầu năm 2009, chạy cà ạch cà ụi, thử tới, thử lui, và khánh thành đầu năm 2011, nhưng chỉ chạy chừng 4  tháng, lại phải thay van 1 lần, vì acid trong dầu chua rất cao hơn dầu ngọt, đã phá tan hệ thống van lọc. Thực tế là phải thay van mới lọc được dầu, nhưng nhà máy phải nói tréo qua là: nghĩ bảo dưỡng…định kỳ.

Nhà máy đã thuê Nhật tới thay van và tái thiết kế lại các van để nhà máy có thể lọc dầu chua, nhưng xem ra khó có thể tiếp tục lọc lâu dài, Nếu phá bỏ nhà máy bán sắt vụn thì tiếc, và cần phải có tiền, khoảng 1,5 tỷ đô la, để xây dựng nhà máy lọc dầu chua.

Vào ngày 6-1-2011, Tổng Giám Đốc Dung Quất công bố bán 49% nhà máy, với giá 1,2 đến 1,5 tỷ đô la, nhưng không một công ty nước ngoài nào mua,  vì giá xây dựng mới của một nhà máy lọc dầu (chua)  chỉ có 1,5 tỷ đô la.

Sau một năm bán không ai mua, nay Dung Quất đổi chiến thuật,  nói trớ qua là: cần nâng công suất lọc từ 6 triệu tấn lên 10 triệu tấn mỗi năm và đang kêu gọi nhà nước bỏ thêm 2 tỷ đô la vào. 

Chú ý: dầu thô được chia thành 2 loại, dầu chua và dầu ngọt. Dầu thô có nhiều lưu huỳnh (độ acid rất cao) gọi là dầu chua. Xây dựng nhà máy lọc dầu chua giá thành hiện nay là 1,2- 1,5 tỷ đô. Và dầu thô có chứa ít lưu huỳnh gọi là dầu ngọt. Dầu ngọt giá rất đắt và lọc rất dễ, nhưng kết cấu máy móc và hệ thống van của nhà máy lọc dầu ngọt khác với nhà máy lọc dầu chua. Đem dầu chua lọc ở nhà máy lọc dầu ngọt ở Dung Quất thì van bị hỏng rất nhanh, vì acid ăn mòn hệ thống van lọc.

Để dễ hình dung sự khác biệt hãy tạm lấy thí dụ mua 1 truyền hình màu ở Mỹ, hệ NTSC đem về VN. Xem phim thì được, nhưng hình chỉ có hai màu đen trắng. Nhờ thợ gắn bộ chuyển hệ qua Pal-DK thì phải trả thêm tiền. Người xem sẽ nhìn thấy hình có đủ màu, nhưng hình không rõ nét, và  mờ. Cuối cùng, nhiều gia đình bỏ luôn và mua loai truyền hình đa hệ hay chỉ có hệ Pal-DK. Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất hiện đang ở tình trạng chuyển hệ. Nên chỉ còn cách phá bỏ, bán sắt vụn, và xây dựng nhà máy mới. Do sản phẩm xăng giá thành cao và phẩm chất xấu, thua xăng Singapore, đó là lý do tại sao các công ty hàng không của vn không chịu mua xăng Dung Quất, mà cứ tiếp tục nhập xăng singapore.

Ngay từ năm 1993, khi đảng CSVN muốn xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, tỉnh Quãng Ngãi, đã có nhiều công ty nước ngoài và các Việt Kiều góp ý là không nên xây dựng ở Quãng Ngãi, vì dầu thô khai thác ở ngoài khơi Vũng Tàu, vận chuyển 600 km mới về đến Quãng Ngãi (quãng đường này còn dài hơn vận chuyển tới các nhà máy lọc dầu ở Singapore), và sau khi lọc xong, thì phải chại ngược vô Nam hoặc ra Bắc…phí vận chuyển do đó sẽ tăng cao. Nói cách nào thì đảng vẫn không nghe, đảng theo đúng phương châm: đã quyết định thì phải làm, bất chấp thiệt hại! Ngày nay thì tai hại trước mắt. Dâu thô khai thác ra, phải bán hết cho Nhật, cho Singapore, và đi mua xăng của Singapore! Và khi đem về VN, các loại thuế và phí đánh vào giá xăng làm cho 1 lít xăng ở VN luôn luôn cao hơn 20-25% giá 1 lít xăng ở Mỹ. Giá này thì người dân VN phải trả, còn đa số cán bộ đảng cấp quận huyện trở lên thì được cấp  xe công, đổ xăng chùa, không phải trả tiền. 

 

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Cần 1,5 – 2 tỷ USD để mở rộng, nâng cấp

http://www.sggp.org.vn/dautukt/2012/2/280955/

Gần 2 giờ trò chuyện với Tổng Giám đốc Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) Nguyễn Hoài Giang (ảnh), người đang “cầm lái” con tàu khổng lồ Dung Quất (vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD) vận hành trơn tru, giúp chúng tôi cảm nhận được bầu nhiệt huyết, khát vọng trong ông với những toan tính về ngành lọc hóa dầu trong tương lai.

– PV: Ông đánh giá thế nào việc thị trường xăng dầu năm qua có nhiều biến động, trong khi công suất của nhà máy 6,5 triệu tấn/năm chưa thể điều tiết thị trường?

 

– Ông NGUYỄN HOÀI GIANG (ảnh) : Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất hiện nay dù chạy tối đa 100% công suất cũng chỉ đáp ứng 30% nhu cầu toàn quốc nên chưa đủ sức điều tiết mạnh mẽ nhu cầu thị trường khi có biến động, bởi trên 70% lượng xăng dầu chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu. Vì thế, ngay từ khi đi vào vận hành, chúng tôi đã có kế hoạch mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 10 triệu tấn/năm; đồng thời có những bước chuẩn bị xây dựng NMLD số 2, số 3 để đáp ứng 100% nhu cầu xăng dầu trong cả nước. Mở rộng và nâng cấp NMLD Dung Quất là bài toán lớn, vốn khoảng 1,5-2 tỷ USD nên cần nghiên cứu chi tiết, thấu đáo và triệt để cả về công nghệ, kỹ thuật, môi trường và thị trường thương mại. Vì vậy, phải mất 5-6 năm dự án mở rộng mới xong, lúc đó bức tranh về thị trường xăng dầu toàn quốc sẽ sáng hơn bây giờ.

– Tiến độ mở rộng sản phẩm hóa dầu có khả quan?

– Chúng tôi đang tiến hành bước nghiên cứu khả thi chi tiết với nhà thầu Nhật Bản, đến tháng 3 năm nay mới kết thúc, sau đó mới tính đến các bước khác.

Hiện NMLD Dung Quất cùng với nhà máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene (PP) đã có thể coi là tổ hợp lọc – hóa dầu rồi. Tuy nhiên, tổ hợp này vẫn còn ở quy mô nhỏ, chủng loại cũng chưa đa dạng so với các nước khác trên thế giới (mới có 8 loại sản phẩm); chưa đa dạng về mặt tổng thể để chúng ta có thể kéo theo, đầu tư các ngành công nghiệp – dịch vụ vệ tinh, công nghiệp nhẹ sử dụng đầu ra của NMLD. Vì vậy, dừng lại ở đây là thất bại, chúng ta phải bước tiếp bằng cách nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất.

– Đóng góp của NMLD cho nguồn thu ngân sách Nhà nước khoảng 14.000 tỷ đồng/năm, nhưng lợi ích của người dân dường như vẫn chưa rõ?

– Hàng đêm, khi nhìn ngọn đuốc của nhà máy, những ánh đèn trong các phân khu công nghệ bật sáng lung linh, NMLD Dung Quất như một thành phố thu nhỏ nhưng trăn trở lớn của chúng tôi là làm sao ngọn lửa đó thật sự sưởi ấm cho những người dân nghèo, những người đã nhường đất cho nhà máy. Tuy nhiên, hiệu quả đó phải lan tỏa từ từ, bằng chứng là nguồn lợi của NMLD đã quay ngược lại phục vụ lợi ích của người dân Quảng Ngãi, khu vực miền Trung, giúp nâng cao tổng thể đời sống văn hóa – xã hội, lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tầng, giao thông, dịch vụ phát triển… thu hút nhân lực, lao động, tạo thêm việc làm.

– Theo ông, chỉ nên mở rộng, nâng cấp thay vì xây mới nhà máy lọc dầu?

– Hai cái đó khác nhau, chúng ta vẫn phải xây mới, và nhu cầu đó vẫn đang được triển khai, bởi có lọc dầu mới có hóa dầu. Ở NMLD Dung Quất hiện đã có lọc dầu, hóa dầu rồi, việc nâng cấp mở rộng là bước tiếp theo để nâng cao sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm để phát triển tiếp các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dịch vụ ăn theo. Chúng ta đã đầu tư vào đây, đã sẵn có hạ tầng, cảng biển nước sâu, thành phố Vạn Tường, đường giao thông, cung cấp điện, xử lý chất thải, xử lý nước, dự án công nghiệp dịch vụ ăn theo (Doosan, cảng Gemadept…) nên nâng cấp, mở rộng là bước kế thừa những lợi thế của hạ tầng sẵn có, khác hẳn với việc đầu tư mới tốn kém hơn rất nhiều.

Kế hoạch nâng cấp, mở rộng vẫn đang được tiến hành và nhà nước vẫn đang kêu gọi đầu tư vào NMLD số 2, số 3, hai vấn đề này không mâu thuẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau đưa ngành lọc hóa dầu nước ta lên tầm cao hơn.

– Việt Nam tự sản xuất xăng – dầu có khó không?

– Thật ra sản xuất xăng – dầu không khó khăn gì cả, bởi việc này các nước khác đã làm từ lâu rồi, chúng ta theo sau mà thôi, chẳng qua với chúng ta dự án này quá mới, hiện đại, phức tạp so với những dự án khác trong nước. Xây dựng NMLD Dung Quất, chúng ta tự hào đã thành công, nhưng đây mới chỉ là thành công bước đầu, còn khiêm tốn.

Ông có nghĩ đến ngày Việt Nam xuất xăng – dầu ra thế giới?

– Ước mơ thì có, nhưng đừng bao giờ mơ ước viển vông. Với tôi, ước mơ bao giờ cũng gắn với thực tế và khả thi nhất trong thời gian nhất định. Còn bây giờ, hãy đáp ứng và cung cấp đầy đủ các nhu cầu xăng dầu nội địa cho đất nước, rồi hãy nghĩ đến xuất khẩu. Để vươn ra thế giới, cạnh tranh với thế giới thì ngay bây giờ, chúng ta phải nhen nhóm và đốt lên được ngọn lửa trong trái tim; bắc những nhịp cầu, đặt những nền móng đầu tiên cho thế hệ tiếp theo, để họ có bản lĩnh, kinh nghiệm biến ước mơ đó thành hiện thực.

HÀ MINH (thực hiện)

———————

Chủ Nhật, 29/01/2012 | 11:29

http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/213188-con-dao-phai-du-sac-de-cat-nhung-cuc-cung-loi-thoi.aspx

“Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời”

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những DNTN hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

————

Mời các bạn coi thêm ở đây về Petrovietnam và  Dung Quất: http://wp.me/po94e-1×5

——————–

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la), chiếm 40% GDP. Nhân sự điều hành 100 công ty quốc doanh và tập đoàn là con cháu, bà con thân thích của 14 ủy viên Bộ Chính Trị và 174 ủy viên trung ương Đảng.  Đây là sân sau, là nơi vừa làm vừa chơi và thua lỗ hàng năm, vừa là nơi hút tiền cho các nhân vật cao cấp trong chính quyền.

Bộ tài Chánh báo cáo đầu năm 2012: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Tagged: | Leave a Comment »

Ngân hàng VN: nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2011

Sau gần một năm đổ thừa cho các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là nguồn gốc gây ra bất ổn nền kinh tế, làm xáo trộn bất động sản, gây việc tăng lãi suất từ 14-22%, gây lạm phát (đồng tiền mất giá, vật giá leo thang)…để rồi có kế hoạch dẹp bớt các ngân hàng này.

(Trong thời gian qua, các ngân hàng TMCP tăng lãi suất lên 22% để thu hút người dân bỏ tiền vào ngân hàng, vì các ngân hàng cần có vốn đạt đủ mức 3000 tỉ để tiếp tục đăng ký hoạt động chiếu theo nghị định của chính phủ  141/2006. )

Nay có tin:

Nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã lên đến 75.000 tỷ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước” – ông Nghĩa nói.

Ngân hàng Việt Nam chỉ bảo hiểm 50 triệu đồng. Ai gởi vào ngân hàng dưới số tiền nầy (thí dụ gởi 30 triệu đồng) và sau đó nếu ngân hàng có bị sụp đổ, thì người ấy chỉ được bồi hoàn 30 triệu đồng. Có người khác gởi vào ngân hàng 80 triệu đồng, nếu ngân hàng này bị phá sản, thì người này chỉ được bồi hoàn 50 triệu, và mất trắng tay 30 triệu đồng. Có dư tiền, cứ  mua đô la Mỹ và vàng để giữ là an toàn.

********************************************

Sẽ mở sàn vàng quốc gia

Thứ Sáu, 07/10/2011

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng giải pháp kinh doanh vàng tài khoản sẽ rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá

Ngày 7-10 tại Hà Nội, đã diễn ra hội thảo về triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Liên thông với thị trường quốc tế

Quan điểm chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là chỉ cho phép một số NH có lựa chọn huy động vốn bằng vàng và NHNN sẽ quản lý số vàng này. NHNN cho phép các NH trên phát hành chứng chỉ vàng, chứng chỉ này được mua bán trên thị trường. NHNN cũng có thể trả phí nhất định để sử dụng vàng của các NH thương mại nhằm phục vụ mục đích dự trữ, can thiệp thị trường khi cần thiết.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết cơ quan này đang mắc kẹt với nhiệm vụ cân bằng giá vàng trong nước với quốc tế, trong khi không có nguồn vàng sản xuất trong nước.

Theo ông Nghĩa, giải pháp cho kinh doanh vàng tài khoản sẽ có hiệu ứng tốt, phù hợp xu thế hiện nay vì tạo được sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước với thế giới một cách nhanh nhất, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá.
Bên cạnh đó, cho mở lại vàng tài khoản cũng có nhiều lợi ích như không tốn thêm ngoại tệ cho việc nhập vàng nhưng vẫn có thể đáp ứng nhu cầu của dân; tiết kiệm được chi phí xã hội khi tận dụng nguồn lực vàng trong dân; triệt tiêu cơ hội làm giá, đầu cơ của giới kinh doanh vàng; hạn chế tình trạng nhập lậu vàng; kiểm soát được số lượng vàng xuất, nhập thông qua hạn mức giao dịch trên tài khoản…

“Lãnh đạo của NHNN đã trình bày các giải pháp trong đề án quản lý, kinh doanh vàng với Chính phủ. Theo đó, sẽ cho mở sàn vàng quốc gia để mua bán vàng chứng chỉ và vàng tài khoản” – ông Nghĩa nói.

Thanh lọc ngân hàng: Không dọa!

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia về việc lập kế hoạch tái cấu trúc hệ thống NH để có thể triển khai ngay trong những tháng cuối năm.
Nhiệm vụ này được xem là cấp thiết vì nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước. Hiện nay, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đang gấp rút xây dựng đề án này” – ông Nghĩa nói.
Đây là đợt tái cấu trúc lần thứ 2 của hệ thống NH Việt Nam. Theo đề án của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, tái cấu trúc NH lần này vẫn như trước nhưng nhấn mạnh vấn đề giám sát và quản trị rủi ro.
Đây là điểm yếu nhất của hệ thống NH vì hiện nay, nhiều hệ thống giám sát rủi ro của các NH thương mại chỉ là “hàng mã”, lập ra để đối phó với quy định của NHNN.
NHNN chủ trương tăng trưởng tín dụng trong những năm tới không quá 20%, tổng phương tiện thanh toán không quá 16% nên chắc chắn các NH nhỏ sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ lặp lại hiện tượng xé rào đi đêm lãi suất.
“Tôi đã đề nghị Chính phủ phải làm thật chứ không dọa. Muốn kinh tế đi lên vững chắc, dứt khoát phải có hệ thống NH sạch. Giai đoạn trước đã loại bỏ 16 NH yếu kém, lần này số lượng chắc chắn sẽ không dừng ở con số đó” – ông Nghĩa nói.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một NH trong khi luật chỉ cho phép 5%. “Việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra” – ông Nghĩa nói.

*

Khu vực ngân hàng đang yếu đi

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết khu vực NH đang yếu đi với tỉ lệ nợ xấu tính đến hết tháng 6-2011 là 75.000 tỉ đồng, ở mức 3,13%, cao hơn nhiều so với mức 2,16% vào cuối năm 2010 và đang tiếp tục tăng nhanh.

Đáng lo ngại là nợ nhóm 5 (nợ mất vốn) chiếm tới 47%. Gần đây, NH có tổng tài sản lớn là NN-PTNT đã công bố số nợ xấu 6,7%, các NH lớn khác cũng đều báo cáo con số nợ xấu cao.*

                                                                          ***********************************************

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

29-7-2011

*TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng “các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống“. Hóa ra, lãi suất ngân hàng gia tăng tới 14% rồi 20% là do các ngân hàng thượng mại không có vốn( hay vốn ảo) đã cần tiền của người dân, nên đã nâng cao lãi suất.

Khi được hỏi: * Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay? ông Khiêm trả lời như sau

_Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm, hay làm nửa vời.

*Vốn ảo: vào tháng 10, 2011, “Ông (Nghĩa) cũng cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một ngân hàng trong khi luật chỉ cho phép 5%. Theo ông Nghĩa, việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra.”

*hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 2010

—————

Không “nuông chiều” các ngân hàng yếu kém

Nguyễn Hoài

20-4-2010

Một chuyên gia nhận định, nếu thực hiện nghiêm Nghị định 141/CP thì qua 2010, chỉ còn 20 ngân hàng thương mại cổ phần được phép tồn tại với mức vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng.

Đó là cơ hội tốt để gạt bỏ những cơ thể ốm yếu, nhưng liệu Nhà nước có “làm nghiêm”?

Tại hội thảo “Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng – Xu  thế thế giới và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phối hợp với Thời báo Ngân hàng tổ chức tuần trước, các chuyên gia đã gióng lên những cảnh báo về nguy cơ gây mất an toàn hệ thống của những ngân hàng nhỏ, tiềm lực yếu nhưng không chịu sáp nhập hoặc mua bán lại (M&A).

Chỉ thích “riêng một góc trời”

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho biết, tính đến tháng 3/2010, trong số 39 ngân hàng thương mại cổ phần, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có 21/39 ngân hàng thương mại cổ phần dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Đứng đầu “câu lạc bộ trên 3.000 tỷ đồng” là Vietcombank với 12.100 tỷ đồng (650 triệu USD) nhưng có thể bị VietinBank “qua mặt” vì vốn điều lệ của ngân hàng này đang là 11.252 tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lên mức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng. Tiếp theo là Eximbank (8.800 tỷ đồng), ACB (7.814 tỷ đồng), Sacombank (6.700 tỷ đồng), LienVietBank (3.300 tỷ đồng)…

Tuy nhiên, nếu theo quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 thì cả Vietcombank lẫn VietinBank không được xếp vào “nhóm cổ phần” vì nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và số ngân hàng có mức vốn trên 3.000 tỷ đồng rất ít. “Rõ ràng, quy mô các ngân hàng thương mại cổ phần quá nhỏ bé trong khi số lượng lại tương đối nhiều so với quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 100 tỷ USD của năm 2009”, ông Ánh nhận xét.

Trở lại với Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngay từ 2006, Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngân hàng quy mô nhỏ.

Theo đó, hết năm 2008, các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141.

Ngân hàng Nhà nước nói gì?

Đáng lẽ, về nguyên tắc, nếu không đảm bảo mức vốn này thì phải giải thể, hoặc thực hiện các thương vụ M&A, nhưng xem ra, điều này là chưa thể và cội nguồn của vấn đề lại xuất phát từ cả hai phía: ngân hàng và cơ quan quản lý.

Trước hết, quan điểm “riêng một góc trời” vẫn còn ngự trị rất lớn trong cách hành xử của nhiều ngân hàng. Điều này được nhận thấy rất rõ, hiện có gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần nhưng yếu tố “ngoại” mới chỉ có ở một số ngân hàng như Techcombank, ABBank, SeABank…, trong khi chưa hề có một vụ M&A nào trong ngành ngân hàng trong nhiều năm gần đây.

Thứ hai là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan quản lý. Mặc dù gần 10 ngân hàng bị chậm trễ tăng vốn điều lệ theo lộ trình gần một năm như nói trên, nhưng cơ quan quản lý vẫn nương tay và liệu điều này có tiếp tục đối với mức vốn 3.000 tỷ đồng hay không thì vẫn là dấu hỏi.

Đem vấn đề này trao đổi với Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập ngân hàng, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Một điểm đáng lưu ý khác, theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là 10% và 20% vốn điều lệ. Từ 2010, vốn điều lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng và có ý kiến rằng, nếu chất lượng hoạt động của một ngân hàng nào kém cỏi thì mức độ ảnh hưởng đến hệ thống sẽ rất khó lường.

Đã có một tình huống được giả định rằng, một “đại gia” nào đó gửi vốn cho các thể nhân đứng tên ở vài ba ngân hàng. Sau đó, “đại gia” này dùng các cổ đông “hờ” gây áp lực cho hội đồng quản trị và ban điều hành phải giải ngân cho các dự án của mình. Trong điều kiện thị trường ổn định thì có thể “chưa làm sao” nhưng chẳng may “đại gia” mất thanh khoản thì thử hỏi hậu họa sẽ như thế nào?

Cũng theo Thống đốc thì mức vốn góp theo Nghị định 59 sẽ giảm còn một nửa khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được thực thi. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp, thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.

Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu trong hệ thống ngân hàng.

Nhưng giả sử, hết năm 2010, có ngân hàng không đủ khả năng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng thì cơ quan quản lý có thêm một lần “nới tay” như năm ngoái?

———-

Ngân hàng yếu kém, xử lý thế nào?

4-10-2011

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, để tái cấu trúc ngân hàng nên được bắt đầu từ việc thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

– Thưa ông, thực tế cho thấy hiện nay số lượng ngân hàng trong nước quá nhiều, trong đó nhiều ngân hàng năng lực yếu kém làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế?

Theo báo cáo của NHNN sau khi họp với 12 ngân hàng lớn cho biết, 12 ngân hàng này chiếm 85% tổng số tín dụng ở Việt Nam. Như vậy, còn khoảng hơn 30 ngân hàng Việt Nam và gần 50 ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chỉ chiếm có 15% tổng dư nợ trên thị trường. Do vậy, có thể thấy, hơn 30 ngân hàng trong nước của chúng ta ở quy mô rất nhỏ.

Các ngân hàng nhỏ này do không huy động được nhiều vốn trong dân, buộc phải tìm cách đẩy lãi suất huy động lên để thu hút người gửi tiền. Vì ngân hàng này không có dịch vụ đặc biệt, không có phương pháp quản lý tốt cho khách hàng, nên đem lãi suất ra để làm dụng cụ huy động vốn. Do vậy, chính những ngân hàng nhỏ khởi động cho cuộc đua tăng lãi suất huy động. Ngân hàng lớn do lo sợ khách hàng rút vốn để gửi sang nơi có lãi suất cao hơn nên cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng.

Việc cạnh tranh bằng lãi suất thế này sẽ khiến dòng vốn chạy vòng quanh, từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao rồi lại tiếp tục chạy sang nơi có lãi suất cao hơn nữa… chứ không có tác dụng huy động thêm được nguồn vốn trong nhân dân. Hậu quả là lãi suất cao đẩy chi phí, giá tiêu dùng lên, đẩy lạm phát lên… Đó là vấn đề ở Việt Nam, nó trái ngược với một số chuyên gia nước ngoài cho rằng, ở Việt Nam lạm phát cao nên phải đẩy lãi suất cao để kìm chế lạm phát. Theo tôi, chính lãi suất cao đã góp phần đẩy giá tiêu dùng tăng lên, làm tăng lạm phát.

– Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nên được xem xét bắt đầu từ đâu?

Trong số hơn 30 ngân hàng nhỏ cần sàng lọc ra ngân hàng nào quản lý tốt, ngân hàng nào quản lý không tốt. Nếu ngân hàng quản lý tốt, phải giúp đỡ cho họ lớn mạnh hơn về công nghệ, con người, năng lực quản lý… Vấn đề còn lại là những ngân hàng quản lý không tốt, cần phân tích xem không tốt chỗ nào? Ví dụ như cho vay bất động sản quá nhiều, gây rủi ro cao, thu hồi tiền không được, thiếu thanh khoản thanh toán cho các chủ tài khoản…

Ngay cả trường hợp một số ngân hàng chưa thể tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng cũng cần lưu ý, nếu như vận động ít rủi ro, thanh khoản tốt thì vẫn là ngân hàng hoạt động tốt, nhưng cho dù ngân hàng có vốn điều lệ 5.000 hay 6.000 tỷ đồng mà hoạt động nhiều rủi ro có thể đi đến tình trạng không đủ thanh khoản để giải quyết hoạt động thì vẫn nguy hiểm như thường. Cho nên cần phải thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

Vậy với những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, quản lý rủi ro không tốt nên tái cấu trúc lại theo hướng nào?

NHNN cần phải tăng cường thanh kiểm tra xem ngân hàng nào khó khăn đến đâu để có hướng giải quyết đến đó.

Trước hết, cần giải quyết với những ngân hàng không có khả năng để thu hồi nợ. Tôi được biết, các nước trên thế giới, trong khi thanh tra, kiểm tra phát hiện ngân hàng đang đứng trên bờ phá sản, không đủ thanh khoản để giải quyết vấn đề hoạt động hàng ngày, ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng trung ương đến đóng cửa ngân hàng và cơ quan bảo hiểm tài khoản sẽ trả cho mỗi chủ tài khoản 200.000 USD. Ở Việt Nam thì mỗi chủ tài khoản được chi trả 50 triệu đồng. Trường hợp này, NHNN là cơ quan quản lý nhà nước áp dụng luật bảo hiểm ngân hàng để thanh toán cho các chủ tài khoản được bảo hiểm theo luật pháp.

Nếu ngân hàng nhỏ cho những nhà vay nợ có đủ tài sản và có khả năng thanh toán được, nhưng tạm thời không có tiền mặt thì NHNN có thể cho ngân hàng nhỏ này vay tiền để giải quyết thanh khoản. Sau này, những khoản nợ thu lại được đem trả lại cho Nhà nước.

Để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, giải pháp cho ngân hàng nhỏ sát nhập với các ngân hàng lớn có là giải pháp khả thi?

Việc để các ngân hàng nhỏ sát nhập vào ngân hàng lớn không phải là điều dễ làm. Các ngân hàng lớn nếu muốn sát nhập các ngân hàng nhỏ thì cũng sẽ lựa chọn những ngân hàng đang hoạt động tốt để sát nhập. Họ không việc gì phải sát nhập những ngân hàng đang ở mức nguy hiểm để mang cục nợ vào mình. Bởi sát nhập những ngân hàng này nghĩa là ngân hàng lớn phải lãnh cả những khoản nợ khó đòi và nợ xấu của ngân hàng nhỏ. Cho nên, rất khó để nói đến vấn đề sát nhập đối với các ngân hàng đang ở mức nguy hiểm vào ngân hàng lớn đang hoạt động tốt.

Trường hợp phải sát nhập là các ngân hàng nhỏ không còn con đường nào khác, nếu không sát nhập thì cũng tự chết. Lúc đó, các ngân hàng đang hoạt động xấu thương lượng với các ngân hàng lớn khác, nhưng sẽ là với mức giá thực chất hiện tại. Ví dụ như ngân hàng này có vốn là 5.000 tỷ nhưng cho vay không đòi được, nợ xấu… chỉ còn đáng giá vài tỷ đồng thôi. Hoặc không muốn bị hậu quả về hình sự trong khi hoạt động có sai phạm…  lúc đó thương lượng với ngân hàng lớn, nếu có lợi thì có thể các ngân hàng lớn có thể sát nhập theo hướng có lợi cho mình.

Thưa ông, vậy thì có nên để các ngân hàng nhỏ sát nhập lại với nhau?

Hiện nay, chúng ta đang có hơn 30 ngân hàng nhỏ, nếu ngân hàng nào tự đứng một mình phát triển được thì cứ tự đứng mà phát triển. Còn nếu các ngân hàng nhỏ, mặc dù hoạt động còn tốt nhưng lường trước những khó khăn sắp tới có thể hội nhau lại tạo thành lực lượng mạnh hơn thì cũng nên sát nhập với nhau.

Tuy nhiên, những ngân hàng đang khó khăn, ốm yếu như nhau mà lại sát nhập với nhau thì lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, vấn đề này, NHNN cần phải có sự thanh tra, giám sát khách quan, nếu ngân hàng nào không thể hoạt động được nữa thì không nên để tồn tại làm ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Còn những trường hợp ngân hàng sát nhập lại mà có thể mạnh hơn thì NHNN cần có sự tư vấn, giúp đỡ cho các ngân hàng này sát nhập.

Theo tôi, có một số ngân hàng cần phải ngồi với nhau bàn bạc xem nợ xấu, nợ tốt sau khi cân đối có còn sống được hay không? NHNN sẽ là người tư vấn cho nhóm ngân hàng đó nhập lại với nhau, xem xét xem nhiều chi nhánh quá thì bỏ bớt, nhiều nhân viên quá thì giảm bớt nhân viên, nhiều nợ xấu quá thì tìm cách đòi. Trong lộ trình 5 năm, 10 năm, nếu ngân hàng mới này thiếu thanh khoản nhưng vấn có nợ tốt thì NHNN có thể cho vay thanh khoản để hoạt động…

Có ý kiến cho rằng, NHNN có thể bỏ vốn mua cổ phần của ngân hàng nhỏ đang trong tình trạng nguy hiểm để nắm quyền quản lý?

Tôi cho rằng, NHNN không nên mua lại các ngân hàng kiểu này. Bởi không việc gì NHNN phải bỏ vốn ra để mua ngân hàng yếu. NHNN nên đi giám sát “sức khỏe” của các ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng nào yếu kém thì NHNN có biện pháp xử lý  theo luật định để giúp các ngân hàng trở nên mạnh khỏe. Còn nếu ngân hàng quá yếu kém không “cứu chữa” được thì NHNN xử lý theo theo cách cho phá sản, đóng cửa…

Xin cảm ơn ông!

————————

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

Thứ Sáu, 29/07/2011

TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống

* Phóng viên: Ông bình luận gì trước đánh giá rằng hệ thống ngân hàng (NH) thương mại đang đối diện với nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo… trong 10 kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô mà Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) khóa XII gửi QH khóa XIII?– TS Cao Sỹ Kiêm: Đúng là có hiện tượng này nhưng không phải tất cả các NH đều như vậy. Những rủi ro này chủ yếu rơi vào các NH mới, phát triển nghiệp vụ chưa cao và công nghệ kém, chất lượng và nguồn lực thấp… Khả năng huy động và sử dụng vốn kém sẽ làm cho thanh khoản luôn báo động và khi ra thị trường vốn sẽ làm rối loạn thị trường này. Những rủi ro trên chưa tới mức báo động nhưng đối với một số NH thương mại là thật sự khó khăn. Hiện có khoảng 7-8 NH luôn trong tình trạng khó khăn, nếu không được củng cố kịp thời sẽ rất phức tạp.

Kiến nghị mạnh tay loại bỏ những NH thương mại yếu kém của Ủy ban Kinh tế của QH khóa XII là chuẩn xác. Trong kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế cũng có nội dung sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, đặc biệt là với những NH thương mại thời gian vừa qua đã bộc lộ khả năng yếu kém. Việc sắp xếp lại này vừa bảo đảm sự lành mạnh của từng NH, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa NH với các lĩnh vực trong thị trường vốn như thị trường bất động sản, chứng khoán, các nghiệp vụ tiền gửi… để bảo đảm sự an toàn của hoạt động hệ thống.

* Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay?

– Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu loại bỏ những NH thương mại yếu kém có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền?

– Mỗi NH yếu kém phải có cách xử lý khác nhau. Như vậy sẽ không xảy ra phản ứng dây chuyền mà còn làm cho hệ thống NH lành mạnh hơn. Muốn vậy, cần tiến hành rà soát lại toàn hệ thống, để nếu NH nào yếu thì có sự trợ giúp; NH nào yếu kém quá, mất khả năng thanh toán lâu dài thì cũng cần sắp xếp lại, thậm chí phải xóa sổ.

* Ông nghĩ sao trước ý kiến cho rằng quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ nhưng có quá nhiều NH thương mại ?

– Số lượng NH hiện nay so với yêu cầu nền kinh tế và sự phát triển chưa phải là nhiều. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất lượng phục vụ, như chất lượng tín dụng, chất lượng thanh toán và tính an toàn chưa cao, vốn cũng chưa lớn. Cần sắp xếp lại hệ thống NH để giảm thiểu tối đa rủi ro và đủ sức cạnh tranh.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm hay làm nửa vời.

Phạm Dương (thực hiện)

—————–

trích bài báo dưới đây:

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của DNNN còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

 

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước (tác giả Vũ Thành Tự An) Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

 

 

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

 

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

Trung Quốc trúng thầu $1.3 tỷ xây dựng nhà máy điện ở tỉnhTrà Vinh

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2011

 

Bị cáo buộc ‘kém năng lực’ và ‘chậm trễ’ nhưng vẫn trúng thầu

HÀ NỘI (TH) – Nhà cầm quyền Hà Nội vừa cho một tổ hợp công ty của Trung Quốc trúng thầu xây dựng một nhà máy nhiệt điện chạy than ở tỉnh Trà Vinh với tổng vốn đầu tư lên khoảng 1.3 tỉ USD.

 

Một người thợ đang hành nghề trên một cột điện ở trung tâm thành phố Hà Nội. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Theo bản tin hãng Reuters hôm Thứ Sáu, Tập đoàn Ðiện Lực Việt Nam (EVN) đã chọn một tổ hợp của Trung Quốc để thực hiện dự án nhiệt điện Duyên Hải 3 đặt tại tỉnh Trà Vinh.

EVN ký hợp đồng với tổ hợp các công ty Chengda-Dec-Swepdi-Zepc trong ngày Thứ Sáu, 5 tháng 8, để xây dựng nhà máy nói trên có công suất 1,245 MW theo hình thức “thiết kế-cung cấp-lắp đặt.”

Bản tin Reuters dựa vào bản tin của TTXVN nói các ngân hàng Trung Quốc sẽ cấp tín dụng 85% trong số 1.3 tỉ USD cho dự án, phần còn lại do EVN cung cấp. Người ta không thấy nêu tên các ngân hàng nào của Trung Quốc cấp tín dụng và với lãi suất bao nhiêu, thời hạn bao lâu.

Theo nguồn tin, nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3 sẽ có 2 tổ máy và bắt đầu hoạt động từ quí thứ ba năm 2015, sử dụng 3.5 triệu tấn than do các mỏ than ở tỉnh Quảng Ninh cung cấp.

Ðiều đáng để ý là nhà máy này mua than từ mỏ nội địa ở tỉnh Quảng Ninh, tức là phải vận chuyển đường biển từ Bắc vào Nam, trong khi một số nhà máy nhiệt điện chạy than ở miền Bắc lại dùng than nhập cảng.

Nhiệt điện Duyên Hải 3 là một phần của dự án nhiệt điện tổng cộng 4,200 MW. Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 đã bắt đầu xây dựng từ tháng 9, 2010 với tốn phí đầu tư 1.5 tỉ USD và cũng có công suất 1,245 MW.

Bản tin của “Cổng thông tin Chính phủ” ngày 19 tháng 9, 2010 khi đưa tin “Khởi công nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1” cho hay nhà máy này được trao cho nhà thầu “Tập đoàn Ðông Phương” của Trung Quốc tên tắt là DEC với tốn phí lên tới 29,245 tỉ đồng VN hay tròm trèm 15 tỉ USD.

Nhà máy nhiệt điện này cũng gồm 2 tổ máy (2 X 622) tức nhiều phần cùng một nhà sản xuất như nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3. Có sự khác biệt đáng đặt dấu hỏi là nhà máy số 3 lại rẻ hơn nhà máy số 1 tới khoảng 200 triệu USD dù ký hợp đồng sau gần một năm và lại có thể cùng là một nhóm nhà thầu (vì gồm cả DEC) và có thể cùng một chủng loại thiết bị, nhà máy điện.

Phần lớn các dự án điện và thủy điện và một số dự án lớn khác ở Việt Nam đều được trao cho các nhà thầu Trung quốc, do các ngân hàng Trung Quốc tài trợ.

Ngày 17 tháng 11, 2010, báo SGTT đưa ra lời kêu ca “5 dự án nhiệt điện chậm trễ” đều do các nhà thầu Trung Quốc. Mùa nóng năm ngoái, Việt Nam thiếu điện nghiêm trọng nên tình trạng cúp điện xảy ra tràn lan cả nước, gây thiệt hại kinh tế và xã hội nghiêm trọng.

Tờ SGTT đặt dấu hỏi là: “Sự chậm trễ rất đáng lo ngại ở các công trình này đang đặt ra vấn đề: có tiếp tục để cho các nhà thầu đó tham gia vào các gói thầu tiếp theo”. Các dự án điện do nhà thầu Trung quốc thực hiện đều chậm trễ từ một đến 3 năm mà báo VNMedia nói rằng có đến “1001 nguyên nhân.”

Ðài truyền hình VTV ngày 18 tháng 7, 2011 vừa qua đếm thấy 7 dự án vừa thủy điện vừa nhiệt điện đều “chậm tiến độ” đều do các nhà thầu Trung Quốc. Tất cả đều là các dự án điện rất lớn từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Sơn Ðộng, Mạo Khê.

Nay thì nhà thầu Trung Quốc vẫn trúng thầu. Một trong những nguyên nhân chính, theo VTV, là nhà thầu Trung Quốc bỏ thầu thấp để dành mối, trong khi những nhà thầu này đều “yếu kém về năng lực.”

nguồn

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Đảng CSVN | 1 Comment »

Khi tăng trưởng kinh tế (GDP) của VN là dựa trên…tăng nợ

Posted by hoangtran204 trên 04/05/2011

Tốc độ tăng trưởng tín dụng của VN năm 2007 là 52%, trong khi tăng trưởng GDP chỉ 8,4%.

Sang năm 2009 tăng tín dụng 37,5%, thì GDP tăng trưởng 5,3%.

Đến năm 2010 tăng tín dụng 31%, thì GDP tăngtrưởng  6,7%.

“Như vậy kết quả tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn ngân hàng.” Hay nói cách khác là khi mượn tiền gia tăng, thì GDP gia tăng. Năm nào mượn được tiền ít đi, thì GDP giảm.

Trong 10 năm qua, vì muốn mượn thêm tiền của nước ngoài để có cơ hội ăn chận tiền ký kết hợp đồng (hưởng 10-30%), chính phủ thường cho báo chí tung tin và đi khoe với các nước ngoài là họ làm kinh tế ngày càng tốt, do đó chỉ số GDP mới tăng. Nhưng muốn GDP tăng thì chỉ có 2 cách là xuất cảng hàng hóa và làm dịch vụ cho thật nhiều, chi tiêu phải ít, tiêu dung của dân chúng phải cao. Đó là các khó khăn mà VN không làm nổi hoặc chỉ làm được 1 chừng mực nào đó thôi. Vì vậy, muốn chỉ số GDP tăng thì các cố vấn kinh tế cho chính phủ tại VN xúi các ngân hàng cho vay mượn mua bất động sản và đẩy giá nhà đất lên. Kết quả là các nước ngoài cho VN mượn thêm tiền. Tuy vậy, sau khi có khủng hoảng tài chánh vào năm 2008, các nhà đầu tư nước ngoài thay đổi điều kiện cho mượn tiền.  Họ chỉ coi hàng năm VN xuất khẩu được bao nhiêu tấn dầu hỏa, xuất cảng bao nhiêu tấn hải sản,  thì họ dựa theo đó để tính toán số tiền cho chính phủ VN mượn.

Khi tăng trưởng dựa trên… tăng nợ

03-05- 2011

(Tamnhin.net) – Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng dựa trên tăng nợ chứ không phải vốn. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp có thói quen dùng nợ, vay nợ làm vốn. Tăng nợ thể hiện rõ nhất là dư nợ hiện bằng 1,2 lần GDP trong khi tiết kiệm chỉ chiếm 30% và đầu tư 40% GDP.
TS Trần Du Lịch đã nhấn mạnh điều này khi đề cập tới đặc điểm chính của thị trường tài chính Việt Nam trong phát biểu tại buổi tọa đàm trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao về kinh doanh tại Việt Nam (Vietnam Business Summit).
Theo TS Trần Du Lịch, nền kinh tế tăng trưởng dựa trên nợ chứa đựng những bất ổn đối với cả các doanh nghiệp và kinh tế nhà nước. Vì vậy đòi hỏi phải cấu trúc lại thị trường tài chính với bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam thiếu cân đối giữa vốn ngắn hạn và dài hạn, giữa thị trường vốn và tiền tệ, giữa định chế tài chính tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng.
Tất cả những sự mất cân đối này cần phải tái cấu trúc để thị trường tài chính Việt Nam thực sự phát triển bền vững.
T.S Trần Du Lịch cho rằng, việc tái cấu trúc thị trường tài chính gồm 3 khâu chính:
-Trước hết tái cấu trúc thị trường tài chính để phát triển thị trường vốn, từ đó huy động cho đầu tư bằng vốn chứ không phải từ nợ.
– Giảm gánh nặng hệ thống NHTM khi mà đáng ra các NHTM chỉ đóng vai trò chính trong thị trường tiền tệ huy động ngắn hạn thì giờ đảm đương cả việc huy động vốn trung và dài hạn. Việc bảo đảm tín dụng không chỉ cho nền kinh tế mà trong nhiều thời điểm đảm bảo cho cả ngân sách thông qua việc mua TPCP (Trái Phiếu của Chính Phủ).
-Phát triển định chế tín dụng phi ngân hàng, cùng thị trường chứng khoán tạo ra thị trường huy động vốn giảm đi phần nợ trong cơ cấu thị trường.
Có như vậy thì thị trường tài chính Việt Nam mới phát huy được vai trò tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng trong sự phát triển đồng bộ, tạo sự ổn định trong phát triển tương lai. Từ đó tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế 10 năm 2011-2020.
T.S Trần Du Lịch nêu rõ, thị trường tài chính Việt Nam gồm thị trường vốn và tiền tệ có 3 đặc điểm: là thị trường còn rất trẻ, năng động và mất cân đối nhưng có nhiều triển vọng.
Hệ thống ngân hàng thương mại mới có 20 tuổi từ những năm 90. Đến nay có 52 ngân hàng thương mại với 2098 chi nhánh và hơn 5240 PGD (phòng giao dịch) trên cả nước. Tập trung tại 3 vùng trọng điểm kinh tế.
Khối quốc doanh chiếm 62 % số điểm giao dịch, ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 36% và nước ngoài chiếm 2%. Theo đó hệ thống ngân hàng đáp ứng 97% yêu cầu tín dụng, còn các hệ thống tài chính phi ngân hàng chỉ đáp ứng 3% nhu cầu.
Riêng thị trường chứng khoán mới 10 năm tuổi, vốn hóa thị trường mới chiếm 40% GDP.
Cơ cấu thị trường vốn vẫn chủ yếu dựa trên khối ngân hàng thương mại. Nguồn vốn huy động là vốn ngắn hạn là chính.
Trong 3 năm vừa qua thị trường tài chính đã đứng vững trước những biến động khôn lường của tình hình kinh tế chính trị trên thế giới. Tuy nhiên nền kinh tế bộc lộ những yếu kém mang tính cơ cấu.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2007 tới 52% trong khi tăng trưởng GDP chỉ 8,4%. Sang năm 2009 tăng tín dụng 37,5% GDP tăng 5,3%. Năm 2010 tăng 31% thì GDP tăng 6,7%. Như vậy kết quả tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn ngân hàng.
Minh Đăng

Bài nầy nói về Tăng Trưởng GDP của  VN là do tăng nợ, mượn tiền nước ngoài

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu?

In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16
https://i0.wp.com/www.claireperry.org.uk/images/content/sterling-384.jpgPhải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)! Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

====

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/49379/Canh-bao-no-cua-doanh-nghiep-nha-nuoc.html

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*)
Thứ Tư,  9/3/2011, 22:36 (GMT+7)

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

nguồn


Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

Tập đoàn đóng tàu nhà nước Việt Nam gặp bội phần khó khăn

Posted by hoangtran204 trên 02/01/2011

Nguồn: Radio Australia

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

29.12.2010

Tập đoàn đóng tàu nhà nước của Việt Nam Vinashin đang gặp khó khăn tài chính sẽ có một cuộc họp với các chủ nợ nước ngoài trong hai tuần vì đã trễ hẹn chi trả một món nợ lớn. Nó hiện đang nợ hơn 4,3 tỉ đô la và chính quyền từ chối giúp đỡ trực tiếp công ty này. Tuy nhiên chính phủ đã gián tiếp tạo ra những món vay không lãi để trả lương cho hàng nghìn công nhân Vinashin và cũng đã cho công ty miễn thuế trong ba năm. Những khó khăn của Vinashin có thể làm tổn thương đến việc chính quyền và những công ty nhà nước khác trong việc vay vốn từ nước ngoài.

Dẫn chương trình: Claudette Werden
Bình luận: Tiến sĩ Adam McCarty, Mekong Economics, Việt Nam; Tiến sĩ Lê Đăng Doanh phân viện Kinh tế, Đại học Hà Nội

Nghe phần âm thanh buổi thảo luận

WERDEN: Đây là lần thứ hai trong tháng công ty quốc tế Moody’s đã giảm điểm tín dụng của Việt Nam.

Thị trường hiện đang theo dõi kỹ lưỡng việc chính phủ sẽ đi bao xa để ngăn chặn việc tập đoàn Vinashin bị khó khăn này sụp đổ hoàn toàn.

Nhưng chính phủ đã từ chối chấp nhận trách nhiệm về món nợ vốn đang làm thị trường không hài lòng – theo giải thích của nhà kinh tế học – Tiến sĩ McCarty.

McCARTY: Đây là một công ty do nhà nước sở hữu và rõ ràng là nhà nước sẽ không giúp đỡ nó, vì thế điều này đang tạo ra rất nhiều tín hiệu đáng sợ đến hệ thống tài chính.

WERDEN: Để biện hộ, cựu cố vấn kinh tế chính phủ, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nói rằng chính quyền đang cẩn trọng vì họ không muốn tạo ra một tiền lệ trong thời điểm mà những công ty nhà nước khác cũng đang gặp những khó khăn tài chính tương tự như Vinashin. Nhưng ông thừa nhận rằng công ty này sẽ không thể tự cứu mình được.

LÊ ĐĂNG DOANH: Thật vậy, tôi không chắc là Vinashin có thể làm được việc này, như tổng giám đốc của Vinashin đã tự tuyên bố rằng theo ông, trong năm 2010, Vinashin đã hoàn toàn không thể trả phần nợ quá hạn, không rõ nó sẽ ra sao trong năm 2011.

WERDEN: Những nhà phân tích như Tiến sĩ McCarty nói rằng những khó khăn tài chính của Vinashin là kết quả của việc quản lý yếu kém và những quyết định đầu tư sai lầm.

McCARTY: Như những tập đoàn khác, họ đã tách dần ra khỏi chức năng kinh tế cốt lõi của mình và tham gia vào các lĩnh vực địa ốc và ngân hàng, thị trường chứng khoán và bất kỳ những lĩnh vực khác ngoại trừ việc đóng tàu và ngay cả trong lĩnh vực đóng tàu họ cũng gặp những khó khăn cơ bản về tính cạnh tranh, họ thật sự cần có sự góp ý, quản lý và kiểm tra chất lượng từ nước ngoài, vì thế sự việc trở nên phức tạp khi họ lại tham gia vào những lĩnh vực khác, cũng có nhiều công ty nhà nước khác làm điều này, vì thế họ đều bị ảnh hưởng phần nào.

WERDEN: Vinashin nói rằng họ đang tiến hành việc xem xét về hoạt động và nguồn tài chính và kết quả sẽ được trình bày tại cuộc họp với chủ nợ vào tháng Giêng.

Nhưng Tiến sĩ Lê nói rằng việc Vinashin chậm trả nợ sẽ tạo ra hệ quả đối với những công ty Việt Nam khác.

LÊ ĐĂNG DOANH: Các nhà đầu tư tài chính sẽ cẩn trọng hơn và sẽ tốn kém hoặc đắt đỏ hơn khi các công ty Việt Nam đi vay mượn từ thị trường quốc tế vì tôi nghĩ rằng sau việc công ty xếp hạng tín dụng giảm điểm đánh giá, các công ty Việt Nam sẽ phải trả lãi cao hơn.

WERDEN: Và việc chính phủ cố gắng tách rời khỏi Vinashin đã đưa ra những câu hỏi về việc liệu sẽ có người quản lý phá sản được đưa vào, bằng cách nào, và họ là sẽ là ai.

McCARTY: Đây là một tình huống vô cùng phức tạp vì nếu chính phủ không ra tay giúp đỡ các công ty nhà nước của mình thì điều gì sẽ xảy ra khi chúng bị phá sản? Ai sẽ là người thanh lý chúng và ai sẽ thay thế chúng?

WERDEN: Bất chấp những khó khăn của Vinashin, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng, chủ yếu nhờ vào các ngành kỹ nghệ năng động hơn như dệt may, quần áo, xuất khẩu nông sản và du lịch. Các nhà phân tích nói rằng trong khi Vinashin là một sự xấu hổ của chính phủ, sự thất bại của các công ty nhà nước chắc sẽ không gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tương lai tài chính của quốc gia này.

nguồn Thảo luận

và ở đây  http://www.x-cafevn.org/node/1539

————

sự thất bại của các công ty nhà nước chắc sẽ không gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tương lai tài chính của quốc gia này.”

đúng thế, vì các nước  nhật, Đài Loan, Trung Quốc đã, đang và sẽ nhảy vào bơm tiền tiếp cho Việt nam, và buộc chính phủ VN phải ký các hiệp ước nhượng lại các vùng rừng, đất đai, và các đảo Phú Quốc cho các nước nầy xây dựng làm ăn trong 50 năm. Như họ đã làm ở vùng Móng  Cái (cho Trung Quốc thuê 50 năm), hơn 10 tỉnh ở miền Bắc đã cho nước ngoài thuê hơn 300 000 mẫu đất (1 mẫu=10 000 mét vuông)  rừng đầu nguồn như ở bài nầy : Bộ trưởng NN&PTNT: Không báo sai số liệu đất rừng cho thuê

Nhưng ông Lê Quang Bình đại biểu tỉnh Thanh Hóa sau khi đi điều tra về đã báo cáo là có 19 tỉnh cho thuê 400 000 mẫu rừng chứ không phải chỉ có 10 tỉnh cho thuê 300000 mẫu đất như chính phủ nói và hầu hết đất đai nằm ở khu vực trọng yếu về quốc phòng và an ninh!  đọc bài báo nầy ở đây Cho nước ngoài thuê đất rừng:Chính phủ nói 10, QH bảo 18

————

Cho nước ngoài thuê đất rừng:Chính phủ nói 10, QH bảo 18
Cập nhật lúc 14:41, Thứ Sáu, 11/06/2010 (GMT+7)
,

– Sau giải trình của Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát về tình hình cho nước ngoài thuê đất trồng rừng ở phiên chất vấn sáng nay (11/6), Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh QH Lê Quang Bình đứng lên nói không phải 10 mà có đến 18 tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư, “vênh” gần gấp đôi với báo cáo của Chính phủ.

>> Bộ NN&PTNT: Cho thuê đất rừng đã được thẩm định quốc phòng
>> Nóng bỏng nghị trường

Địa phương “sơ suất”

Trực tiếp đi giám sát ở địa phương và nắm thông tin từ Bộ Quốc phòng, Công an, ông Lê Quang Bình (ĐB tỉnh Thanh Hóa) khẳng định đã có 19 dự án nước ngoài được cấp phép đầu tư tại 18 tỉnh, với diện tích suýt soát 400.000 ha, không phải 10 tỉnh với 305.353 ha như báo cáo của Chính phủ. Đáng chú ý, hầu hết đất nằm ở khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh.

Trước đó, Bộ trưởng Phát cho rằng “có thông tin thiếu chính xác” là Chính phủ cho thuê 305.353 ha, trong khi đó mới chỉ là chấp thuận về chủ trương và diện tích trong văn bản giao cho thuê 50 năm chỉ là 15.664ha.

 

Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát: Có thông tin thiếu chính xác là Chính phủ cho thuê 305.353 ha
Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát: Có thông tin thiếu chính xác là Chính phủ cho thuê 305.353 ha…

Giải trình tiếp sức cho Bộ trưởng NN&PTNT, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc cũng khẳng định số diện tích đất trồng rừng giao cho các dự án đầu tư nước ngoài thực tế “khoảng trên 380.000 ha”.

Bộ trưởng NN&PTNT cũng cho hay theo Luật đầu tư và Luật đất đai, UBND cấp tỉnh mới là nơi xét duyệt dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp, các bộ “chỉ có ý kiến khi được địa phương yêu cầu“.

ĐB Lê Như Tiến (Quảng Trị) đặt câu hỏi: “Các địa phương lý giải đã thực hiện đúng luật đầu tư nhưng việc làm này có phù hợp với pháp luật về an ninh quốc gia, biên giới, bảo vệ môi trường, tài nguyên rừng hay chỉ cần đúng Luật đầu tư là đủ?”.

Ông Phát vẫn quả quyết địa phương đã nghiêm túc tuân thủ luật pháp thời điểm đó. Tuy nhiên, có những nơi “sơ suất” trong cấp phép đầu tư bao gồm cả đất đã giao cho dân, hoặc có rừng.

 

Mô tả ảnh.
Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh Lê Quang Bình: 18 chứ không phải 10 tỉnh đã cấp phép cho nước ngoài thuê đất trồng rừng

“Đấy là thiếu sót. Chúng tôi đã đề nghị UBND các tỉnh liên quan kiểm điểm trách nhiệm của các sở, ban, ngành khi thẩm định, tham mưu”, ông nói.

Hoàn toàn không thỏa mãn với câu trả lời trên, ĐB Lê Như Tiến so sánh câu chữ bản báo cáo do chính Bộ NN&PTNT thảo ra với giải trình của Bộ trưởng. Ông Tiến nhận xét, báo cáo ghi rõ ràng 10 tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 305.353,4 ha. Hơn nữa, Bộ trưởng nói đến thẩm quyền của tỉnh, nhưng “chúng tôi nghĩ khác, với tư cách quản lý ngành, toàn bộ lĩnh vực NN&PTNT, Bộ trưởng có trách nhiệm gì?”.

Câu trả lời tiếp đó của Bộ trưởng Phát là: Các địa phương đã cấp giấy chứng nhận đầu tư không có nghĩa đã giao đất cho các nhà đầu tư. Trên cơ sở giấy chứng nhận, các nhà đầu tư phối hợp với chính quyền cấp huyện, xã tiến hành khảo sát, làm rõ từng khu đất cụ thể. Chỉ giao đất khi có đủ điều kiện.

 

Mô tả ảnh.
ĐB Nguyễn Đình Xuân: Gần 400.000 ha bằng diện tích tỉnh Tây Ninh

Địa phương có thiếu sót. Khi cấp giấy chỉ căn cứ vào thông tin khảo sát sơ bộ nên có nơi đã duyệt bao gồm cả diện tích đã giao cho một số ít bà con nông dân, thậm chí giao cho dự án khác. Nhưng trong quá trình khảo sát cụ thể để tiến tới giao đất, sẽ loại ra những khu đất đó”, Bộ trưởng nói.

Tôi quản lý rừng, Bộ khác quản đất

Một đại biểu khác cũng không đồng tình với giải trình của Bộ trưởng – Giám đốc một Vườn quốc gia tỉnh Tây Ninh Nguyễn Đình Xuân nhận xét: “Thực sự Bộ trưởng không nắm vấn đề”.

Bộ trưởng nói chỉ có hơn 300.000 ha dự kiến cho thuê, chứ chưa phải cho thuê. Nhưng nếu dư luận không phát hiện kịp thời thì đương nhiên sẽ cho thuê. Việc đình chỉ cho thuê là ngoài ý muốn của Bộ trưởng cũng như của các vị đã ký tờ giấy này.

Gần 400 nghìn ha có nghĩa bằng diện tích của tỉnh Tây Ninh. Thế mà ở trên vẫn chưa biết, thế thử hỏi trách nhiệm tổng tư lệnh ngành của Bộ trưởng tới đâu?”, ông Xuân thắc mắc.

 

Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc : Chính phủ đã có phương án cương quyết xử lý những dự án nào hợp lý, quy mô vừa phải thì cho tiếp tục, những dự án nào không hợp lý, không đúng, chiếm lĩnh quá nhiều diện tích, ảnh hưởng quốc phòng an ninh thì dứt khoát rút giấy phép.
ĐB Lê Như Tiến (Quảng Trị): Chúng tôi nghĩ khác

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hay Bộ của ông có trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng, trong khi Bộ Tài nguyên – Môi trường mới quản lý về đất. Các địa phương cho thuê đất chứ không cho thuê rừng nên không hỏi ý kiến Bộ NN&PTNT.

Trước những chất vấn dồn dập đổ về với ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc đứng lên khẳng định Chính phủ sẽ “kiên quyết xử lý như xử lý sân golf”.

Theo ông Phúc, những dự án nào không hợp lý, không đúng, chiếm lĩnh quá nhiều diện tích, ảnh hưởng quốc phòng an ninh thì dứt khoát rút giấy phép.

Tiếp thu kiến nghị của UB Quốc phòng – An ninh, Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng cho rằng cần xem xét lại phân cấp đối với các địa phương trong quyết định chủ trương đầu tư.

  • Xuân Linh – Ảnh: Lê Anh Dũng

—–

Bộ trưởng NN&PTNT: Không báo sai số liệu đất rừng cho thuê
Cập nhật lúc 04:48, Thứ Năm, 17/06/2010 (GMT+7)
,

– Trong giải trình gửi Quốc hội hôm qua (16/6), Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định số liệu của Bộ về diện tích đất rừng cho nước ngoài thuê là đúng. Thống kê này thấp hơn con số do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh chỉ ra trong phiên chất vấn ông Phát sáng 11/6.

>> Nóng bỏng kỳ họp thứ 7
>> Chính phủ nói 10, Quốc hội bảo 18
>> ’Kiên quyết dừng cho nước ngoài thuê đất rừng’

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hay, sau phiên chất vấn, Bộ đã kiểm tra số liệu tổng hợp báo cáo của 29 tỉnh, làm việc với Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Vụ Quốc phòng và An ninh để đối chiếu.

Số liệu mà ông Phát gửi QH ngày 7/6 được tổng hợp cuối năm ngoái, từ báo cáo của 29 tỉnh và kiểm tra thực tế ở 2 tỉnh (Lạng Sơn, Quảng Ninh) và mời 4 tỉnh lên làm việc. Theo đó, có 10 tỉnh cho thuê đất với diện tích 305.353,4 ha.

Như vậy, ông Phát vẫn không nói gì đến chỉ đạo kiểm tra của Thủ tướng vào đầu tháng 3 năm nay.

Trong khi đó, theo Ủy ban Quốc phòng – An ninh QH, có tới 18 tỉnh cho thuê đất trồng rừng với diện tích 398.374 ha.

 

Mô tả ảnh.
Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh Lê Quang Bình

“Kết quả rà soát cho thấy, 18 tỉnh được Ủy ban Quốc phòng – An ninh đề cập đều có doanh nghiệp nước ngoài đầu tư. Tuy nhiên, không phải tất cả 18 tỉnh đều có doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp để trồng rừng”, Bộ trưởng Phát khẳng định.

Cụ thể, 10 tỉnh có doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp trồng rừng là Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum, Khánh Hoà và Bình Dương (như Bộ NN&PTNT thống kê).

4 tỉnh (Thanh Hoá, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai) có DN nước ngoài đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản.

2 tỉnh (Lâm Đồng, Bình Thuận) có DN nước ngoài đầu tư các dự án tổng hợp (trồng chè, trồng hoa, cây nông lâm kết hợp, chăn nuôi, du lịch sinh thái).

2 tỉnh (Yên Bái, Hoà Bình) hiện không có doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng. Yên Bái chưa có DN thuê đất trồng rừng, chỉ có nhà đầu tư Thái Lan khai thác và sản xuất tranh đá.

Tỉnh Hòa Bình có 2 DN đã được cấp phép thành lập song Công ty TNHH đầu tư và phát triển lâm nghiệp Grandsource – Brunei không hoạt động,̀ UBND tỉnh đã thu lại giấy phép. Công ty hữu hạn cổ phần công nghiệp Giai Hào – Đài Loan không thuê đất trồng rừng trong tỉnh mà thuê ở Khánh Hòa, đã được Bộ NN&PTNT tổng hợp, báo cáo.

Mô tả ảnh.
Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát


Về sự chênh lệch diện tích đất, Bộ trưởng giải thích, các cơ quan công an thống kê diện tích dự kiến theo giấy phép đầu tư của các tỉnh.

Bộ NN&PTNT thống kê diện tích dự kiến theo giấy chứng nhận đầu tư và quyết định phê duyệt qui hoạch chi tiết chính thức của các tỉnh có DN nước ngoài thuê đất lâm nghiệp trồng rừng.

Cụ thể, trong 10 tỉnh có DN nước ngoài thuê đất lâm nghiệp trồng rừng thì tại 9 tỉnh (Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum, Khánh Hòa và Bình Dương) số liệu của 3 cơ quan là thống nhất.

Riêng tại Nghệ An, số liệu của Bộ NN&PTNT thấp hơn 53.151,7 ha do UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty InnovGreen với diện tích dự kiến là 70.000 ha. Nhưng sau khi bóc tách các khu vực ảnh hưởng an ninh, quốc phòng, UBND tỉnh đã chính thức phê duyệt qui hoạch chi tiết vùng nguyên liệu cho dự án chỉ với 16.848,3ha. Đây là số liệu Bộ NN&PTNT đã nêu.

Diện tích chênh lệch còn lại (39.868,9 ha) nằm ở 8 tỉnh có DN được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng không thuê đất trồng rừng mà xây dựng nhà máy chế biến lâm sản, làm dự án khác hoặc DN đã bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư.

Ở Thanh Hóa, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh (không phải UBND tỉnh) cấp giấy phép đầu tư cho Công ty InnovGreen trồng rừng trên qui mô 21.000 ha nhưng thực chất công ty này chỉ được cấp 15 ha đất để làm nhà máy chế biến trong khu công nghiệp Nghi Sơn.

Các tỉnh còn lại (Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận, Yên Bái) có diện tích thuộc dự án nhà máy chế biến lâm sản hay dự án tổng hợp khác (trồng chè, trồng hoa, cây nông lâm kết hợp, chăn nuôi, du lịch sinh thái).

Như vậy, đến thời điểm này, có 10 tỉnh có doanh nghiệp nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng với tổng diện tích 305.353,4 ha, trong đó, diện tích đã cho thuê là 15.664,45 ha, diện tích liên doanh liên kết trồng rừng 18.160 ha, đúng như đã báo cáo Quốc hội”, Bộ trưởng Phát nhận định.

Theo ông Phát, Thủ tướng đã giao Bộ KH&ĐT chủ trì tiếp tục rà soát và báo cáo Thủ tướng việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện các dự án nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

  • Lê Nhung – Ảnh: Lê Anh Dũng

 

 

Vietnam state ship builder in double trouble

Updated December 29, 2010 21:23:05

Vietnam’s financially troubled state owned ship builder, Vinashin, will hold a meeting with its foreign creditors in two weeks time because it has defaulted on a major loan. It owes more than US$4.3 billion and the government refuses to bail out the ship builder directly. But it has indirectly organised interest free loans to pay thousands of Vinashin’s workers and has also provided the company with tax concessions for three years. Vinashin’s problems could seriously harm the ability of the government and other state backed enterprises to borrow funds internationally.

Presenter: Claudette Werden
Speakers: Dr Adam McCarty, Mekong Economics, Vietnam; Dr Le Dang Doanh, economic college, Hanoi University

WERDEN: It’s the second time this month that the international agency, Moodys, has downgraded Vietnam’s credit rating.

The markets are now carefully watching just how far the government is prepared to go to prevent the total collapse of the troubled ship builder, Vinashin.

But the government’s refusal to take responsibility for the debt is making the market unhappy – as the economist, Dr Adam McCarty, explains.

McCARTY: They are state owned and apparently is not going to underwrite them so that’s sending a lot of pretty scary signals through the financial system.

WERDEN: In its defence, the former government economic adviser, Dr Le Dang Doanh, says the government is being cautious because it doesn’t want to a create a precedent at a time when there are other state owned enterprises that face similar financial problems as Vinashin. But he admits the company is unlikely to be able to save itself.

LE DANG DOANH: Really, I’m not sure Vinashin could do it, as the chief executive officer from Vinashin has declared by himself that according to him in 2010, Vinashin is completely unable to pay the overdue debt, how does this look like in 2011, it’s not clear.

WERDEN: Analysts like Dr McCarty say Vinashin’s financial problems are the result of poor management and bad investment decisions.

McCARTY: They, like other corporations, drifted away from their core business and went into real estate and banking, stock market and everything else except ship building and even in ship building they’ve got some core problems of competitiveness, they really need foreign input, management and quality control, so it just compounded that they were doing these other things, so quite a few state enterprises have done that as well, so they’re all hurting a bit.

WERDEN: Vinashin says it’s conducting a review of its operations and cash flow and that the results will be presented at January’s creditors’ meeting.

But Dr Le says the failure of Vinashin to pay back its loans will have a flow on effect for other Vietnamese companies.

LE DANG DOANH: The financial investor will be more cautious and it should be also more costly or expensive for Vietnamese companies to borrow at the international market because, I think, after the downgrading of the ratings agency, Vietnamese companies must pay a higher interest rate.

WERDEN: And the government’s attempts to distance itself from Vinashin have raised questions about whether – and how – receivers will be brought in and who they might be.

McCARTY: It’s a very peculiar situation because if the state doesn’t bail out its own state owned enterprises, then when they go bankrupt what happens? Who liquidates them, who takes them over?

WERDEN: Despite Vinashin’s problems, Vietnam’s economy continues to grow mainly from its more dynamic garment, textile, agricultural export and tourism industries. Analysts say while Vinashin is an embarrassment for the government, the failings of the country’s state run enterprises are unlikely to do any major damage to the nation’s financial prospects.

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

Nhiều Biệt Thự Giá Hàng Triệu Đô La Đang ‘Bỏ Hoang’ ở Hà Nội

Posted by hoangtran204 trên 11/12/2010

Trong những năm 1992-1996, trước khi có cuộc khủng hoảng kinh tế tại Á Châu vào năm 1997, tại Thái  Lan người ta đã nhìn thấy nhiều nhà xây dựng và bỏ hoang vì không có ai mua. Các chủ bất động sản, sau đó, không có tiền trả lại cho ngân hàng và đã cùng nhau phá sản, dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế ở Á Châu 1997. Lần nầy, với các căn nhà hoang ở ngoài Hà Nội liệu sẽ có xẩy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế ở VN hay không?

Biệt thự triệu đô ‘bỏ hoang’ ở Hà Nội

Hàng loạt biệt thự xây thô rộng hàng trăm mét vuông ở các khu đô thị Pháp Vân, Văn Quán… bị “bỏ hoang” 5-6 năm nay, cỏ mọc un tùm. Trên thị trường, giá của những biệt thự này lên tới 20-30 tỷ đồng.

Trong khu đô thị mới Pháp Vân – Tứ Hiệp (quận Hoàng Mai) có hàng chục biệt thự chưa có người ở, để cỏ dại mọc um tùm, rác tràn lan.
Những ngôi biệt thự này đã được chủ đầu tư khu đô thị bán cho người dân từ 5-6 năm trước đây.
Có biệt thự đã qua nhiều chủ nhân, song vẫn chưa có người đến ở. Phần lớn chủ nhân là người không có nhu cầu ở, mua bán biệt thự để đầu tư kiếm lời.
Biệt thự nằm giữa khu đô thị đầy đủ hạ tầng, vị trí đẹp, nên có giá hàng chục tỷ đồng.
Khu đô thị Văn Quán (quận Hà Đông) cũng có khá nhiều biệt thự “bỏ hoang” tại vị trí mặt đường đẹp.
Có biệt thự được tận dụng làm nơi bán hàng.
Hay chỉ treo biển quảng cáo.
Theo một số chuyên gia xây dựng, cần đánh thuế chuyển nhượng cao với những người mua bán nhà đất nhiều lần để tránh tình trạng đầu cơ.
Biệt thự “bỏ hoang” xen lẫn những biệt thự đã hoàn thiện như bức tranh vẽ dang dở trong khu đô thị.

Đoàn Loan

http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Bat-Dong-san/2010/12/3BA23AE3/

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Kinh Te | Leave a Comment »