Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống’ Category

►Tháng 4: Tháng Tang

Posted by hoangtran204 on 28/04/2017

27/04/2017
Một người lính Thủy quân Lục chiến VNCH mang xác một đồng đội.

Một người lính Thủy quân Lục chiến VNCH mang xác một đồng đội.

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Không xây dựng khu tưởng niệm Hồ Chí Minh tại Moritzburg, Đức.

Posted by hoangtran204 on 06/09/2016

Tác giả:

2-9-2016

Trong cuộc họp tại thành phố Moritzburg giữa Phái đoàn của Diễn Đàn Việt Nam 21 (DĐVN 21) và giới thẩm quyền của thành phố Moritzburg vào ngày 23.08.2016, các ông Jörg Hänisch, Thị trưởng thành phố, Giáo sư Tiến sĩ Thomas Knittel, chủ tich ban chấp hành (Vorsteher) cơ sở Giáo hội Tin lành Diakonenhaus (DH) và ông Jens Knechtel, Giám đốc hành chánh (Verwaltungsleiter) của DH, đã khẳng định „không xây dựng khu tưởng niệm Hồ Chí Minh“.

Trước đó, hồi tháng 5, nhân dịp kỉ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh, chính quyền Việt Nam đã loan tin, sẽ có khu tưởng niệm Hồ Chí Minh tại thành phố này. Tin được loan tải trên một số tờ báo tại Việt Nam. Ngay sau đó một số nhà hoạt động gốc Việt tại Đức đã lên tiếng phản đối ý định trên với chính quyền địa phương.

Tại cuộc họp, Thị trưởng Hänisch cho biết Ủy ban kỹ thuật (Technischer Ausschuss/TA) Moritzburg vào ngày 04.08.2016 đã từ chối đơn xin xây cất (Bauantrag) của phía chủ trương lập khu tưởng niệm.

Nơi chính quyền VN dự tính xây tượng đài

Nơi chính quyền VN dự tính xây tượng đài

 

Ông Jens Knechtel nói thêm, cơ sở Giáo hội Tin Lành cho một người VN thuê một mảnh đất trong khuôn viên nhằm phục hồi lại chứng tích của các học sinh Việt Nam đã lưu trú trong ký túc xá „Käthe-Kollwitz“ vào thập niên 1950, chứ không phải để biến khu lưu niệm học sinh thành khu tưởng nhớ Hồ Chí Minh.

Sau khi có sự bất bình, phản kháng mạnh mẽ của cộng đồng Việt Nam tại Đức ban điều hành Giáo hội Tin lành DH sẽ xét lại những thỏa thuận trong hơp đồng thuê đất (Pachtvertrag), trong đó có phần tấm bảng đồng ghi các học sinh VIệt Nam tiếp đón HCM đến Moritzburg vào năm 1957.

Ở điểm này, TS Dương Hồng Ân đã giải thích rõ về lập trường người Việt Nam không chấp nhận những chứng tích có tiềm năng bị lạm dụng cho ý đồ chính trị. TS Ân cũng thông tin cho giới thẩm quyền Moritzburg biết có hai cựu học sinh VN tại Moritzburg ngỏ ý chỉ nên có một tấm biển đơn sơ ghi nhớ lưu học sinh Việt Nam đã từng ở đây, không nhất thiết phải nhớ tới HCM và nhất là không dựng tượng HCM.

Sau cuộc họp phái đoàn DĐVN21 đã được Ban Giám Đốc Giáo hội Tin lành DH và Thị trưởng hướng dẫn ra thăm mảnh đất được dự tính trùng tu khu lưu niệm học sinh VN tại Morizburg.

Cũng cùng ngày phái đoàn DĐVN 21 đã gặp bà Yvonne Olivier và các ông Patrick Frenkel và Christian Junker, đại diện đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (CDU) tại thành phố Morizburg.

TS Ân xác định giá trị cao của bản tuyên bố của chi bộ đảng Dân chủ CDU Moritzburg có lập trường rất rõ ràng không chấp nhận việc xây dựng tượng đài cho một cá nhân độc tài Cộng Sản, đồng thời cám ơn Đảng bộ CDU đã hỗ trợ cộng đồng VN tại CHLBĐ trong cuộc đầu tranh chống sùng bái cá nhân, lãnh tụ.

Tiến sĩ Dương Hồng Ân, trưởng phái đoàn DĐVN 21, cho biết các cuộc tiếp xúc tại thành phố Moritzburg đã diễn ra rất cởi mở trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Yêu cầu của DĐVN 21 „Không có khu tưởng niệm Hồ Chí Minh tại Morizburg-Đức“ đã được đáp ứng.

Thành quả này là kết quả chung cho mọi tổ chức, đoàn thể, và những cá nhân thiện chí trong cộng đồng Việt Nam tại CHLBĐ đã cùng kiên trì đấu tranh từ lúc giới báo chí truyền thông tiếng Việt của nhà nước CSVN loan tin, phóng đại về ý nghĩa trùng tu khu lưu niệm học sinh thành nơi tưởng niệm HCM gây hoang mang và phẫn nộ trong cộng đồng VN.

Theo DĐVN21

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck, người đã cứu 11.300 thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông hồi thập niên 1980

Posted by hoangtran204 on 10/08/2016

“Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời… Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới”.

anhbasàm

_____

 

Dr. Rupert Neudeck: Sống thanh đạm, hoạt động cao cả

Nguyễn Hữu Huấn

9-8-2016

Rất nhiều người đã cho rằng: Chúa Giêsu và triết gia người Pháp Albert Camus (1913-1960) là hai thần tượng của Dr. Rupert Neudeck, xuyên qua dụ ngôn “Người Samirita nhân hậu” trong Kinh Thánh và “huyền thoại Sisyphos” của Albert Camus, người đoạt giải Nobel văn học qua các sáng tác của ông đã đưa ra ánh sáng những vấn đề phải đặt ra cho lương tâm loài người trong thời đại này. 77 năm trên dương thế của Dr. Neudeck đều được tóm gọn trong niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa với lòng nhân hậu cứu độ tha nhân, bất chấp bất cứ chống đối nghịch cảnh nào, không khác gì một Sisyphos nhỏ bé phải lăn một tảng đá tròn khổng lồ lên đỉnh một ngọn núi dốc cao chót vót. Suốt cuộc đời hành sự nhân đạo cứu người của ông đều được phát xuất từ tinh thần bác ái Thiên Chúa Giáo, cộng với ý tưởng nhân bản qua lời của Albert Camus: “Con người không phải xấu hổ khi mình đang được hưởng hạnh phúc, nhưng họ sẽ phải xấu hổ khi chỉ biết giữ lấy hạnh phúc đó cho riêng mình.

H1

Tôi may mắn – có thể nói là một diễm phúc – lần đầu tiên được hội ngộ với Dr. Rupert Neudeck vào tháng 4 năm 1980, khi ông dẫn đầu phái đoàn của Ủy Ban Cap Anamur có ông Hans Voss (chủ tàu Cap Anamur – người đã hiến tặng tàu này để vớt thuyền nhân VN trong 3 năm mà không nhận tiền thuê mướn) và bà bác sĩ Bärbel Krumme, đến trại tỵ nạn Singapore thăm các thuyền nhân tỵ nạn VN được tàu Cap Anamur cứu vớt. Ông linh hoạt, nhanh nhẹn, áo chemise trắng, quần jean, vai đeo lủng lẳng túi xách màu xám lòng thòng dây nhợ từ cái máy thu băng và tươi cười hỏi thăm từng thuyền nhân ông gặp.

Cái tên “Rupert Neudeck” thật rất lạ và chẳng có ý nghĩa gì cho lắm đối với một thuyền nhân tỵ nạn vô danh vừa được tàu Cap Anamur cứu sống trước đó chì một tháng. Không thể ngờ rằng, từ hôm đó cho đến ngày ông lìa đời, tôi được theo chân ông và cùng với ủy ban Cap Anamur và Hội Mũ Xanh (cả hai đều do ông sáng lập), đã có những liên hệ mật thiết, từ các công tác thiện nguyện cứu người đến những sinh hoạt bình thường cá nhân, từ những chuyến công tác xa xôi đến những sợi dây vô hình gắn bó giữa hai gia đình thành một đại gia đình. 34 năm làm việc với gia đình ông, tôi đã học được rất nhiều điều cần phải học; 34 năm cùng chung niềm vui mỗi khi công tác hoàn thành như ý; 34 năm được ông hướng dẫn để vượt qua những khó khăn trong nhiều dự án… và 34 năm cũng là thời gian đủ để hiểu rõ con người ông, cá tính của ông và cả những ước vọng của ông.

Sống nhân đức, khổ hạnh, tự nghiêm khắc với mình, rất giản dị, hiền hoà và có đầu óc  khôi hài dí dỏm, nhưng lại có những suy nghĩ táo bạo khác người, bướng bỉnh, nhiều khi độc đoán, thẳng thắn chỉ trích chống đối, lì lợm và liều mạng, dám nói dám làm những gì mà người khác chưa nghĩ đến hoặc không dám nghĩ đến: đó là 2 con người đối nghịch trong cùng một con người mang tên Rupert Neudeck, nhưng ông lại thành công trong hầu hết những công việc nhân đạo mà ông muốn thực hiện, khiến những kẻ chống đối đả kích ông trước đây, sau này đều phải cảm phục kính trọng ông.

Trong suốt quá trình cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn VN từ năm 1979 đến năm 1988, Dr. Rupert Neudeck là người đứng mũi chịu sào trước những chống đối mãnh liệt của hầu hết các chính trị gia trong chính quyền Đức thời đó. Bây giờ, 37 năm đã trôi qua và Dr. Rupert Neudeck cũng không còn nữa, tôi xin kể vài câu chuyện rất ít người biết sau hơn 34 năm học hỏi theo gót chân ông, để tưởng nhớ đến ông và cũng để chúng ta thấy được con người của ông với những táo bạo liều lĩnh và tấm lòng nhân hậu của ông đối với các thuyền nhân tỵ nạn VN cũng như người tỵ nạn trên thế giới nói chung.

H2Dr. Neudeck và tác giả trên Cap Anamur II năm 1986

Thuở ban đầu, ít ai biết chuyện có nhiều phần tử cực đoan quá khích người Đức đã ném từng gói phân vào nhà ông như một hành động chống đối việc ông đang kêu gọi cứu vớt thuyền nhân VN. Ông không nản lòng và bà thì chỉ thấy tội nghệp cho họ, vì khi họ phải tự gói đóng  những thứ này thì chính họ đã phải ngửi trước mùi vị của nó. Nhiều người gọi ông là “tên quái gở” hay là “kẻ buôn người”.

Ông chỉ trích thẳng thừng chế độ quan liêu cứng ngắc của chính quyền Đức và sự thờ ơ của các chính trị gia Đức thời đó. Mặc dù là người tu xuất theo Dòng Tên (Jesuits), một tín đồ Công Giáo thuần thành, sau này ông vẫn phê bình cả Giáo Hội Công Giáo Đức là quá hoang phí tiền của để sửa sang nhà thờ, trưng bày hoa nến một cách xa hoa, hay chỉ biết ngày đêm cầu nguyện trong phòng kin mà không thực sự bằng hành động cứu giúp tha nhân đang khốn cùng chết chóc, nghèo đói vì chiến tranh hay thiên tai. Ông kêu gọi phải chấm dứt việc này vì theo ý ông, đó chính là Giáo Hội Công Giáo của ngày mai. Ông cũng không tán thành việc thu thuế nhà thờ từ các tín đồ Thiên Chúa Giáo mà ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân giới trẻ Đức bỏ đạo. Bù lại, ông vui mừng và hãnh diện là thuyền nhân tỵ nạn VN đã đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Đức hơn 10 vị Linh Mục và nhiều tu sĩ nam nữ, thí dụ chỉ trong một ghe tỵ nạn được cứu vớt vào đầu năm 1982 đã có đến 3 vị Linh Mục, 2 hiện ở Đức và 1 ở Úc. Ông còn can đảm công khai chỉ trích và lên án chính sách chà đạp nhân quyền của chính phủ Do Thái đối với người Palestine, một việc mà giới truyền thông Đức không bao giờ dám làm mà chỉ đưa tin và không bao giờ dám phê bình chỉ trích.

Hai lần con tàu Cap Anamur bắt buộc phải chấm dứt trở về cảng Hamburg là hai lần đã cứu vớt đủ số lượng thuyền nhân tỵ nạn VN đã được chính quyền Đức phê chuẩn chấp nhận vào định cư tại Đức. Ông đã liều mạng bất chấp luật lệ và hậu quả, ra lệnh cho chúng tôi mỗi lần trước khi trở về phải kéo dài thêm thời gian tìm cứu người vượt biển và cố gắng vớt thêm được càng nhiều càng tốt. Chính vì thế mà lần thứ nhất, tháng 5 năm 1982, chuyến cuối cùng của tàu Cap Anamur I đã mang theo 178 thuyền nhân tỵ nạn cập cảng Hamburg, trong khi con số được chấp thuận chỉ còn vỏn vẹn vài chục. Rồi đến tàu Cap Anamur II sau hơn 3 tháng hoạt động đã phải trở về Hamburg vào tháng 6 năm 1986 với 357 thuyền nhân, trong khi chỉ còn hơn 100 được chấp thuận trước đó. Ông đã mạo hiểm cố tình đẩy chính quyền Đức lúc bấy giờ vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải nhận thêm số người thặng dư này vì cả hai con tàu đều mang quốc tịch Đức và cảng mẹ cũng tại Đức (theo luật tỵ nạn LHQ lúc bấy giờ). Cũng trong thời gian này, chính quyền Đức đã hai lần trao tặng ông Huân Chương Danh Dự (Bundesverdienstkreuz), loại huân chương cao quý nhất của Đức; Hai lần ông đều từ chối và sẵn sàng đổi 2 huy chương đó lấy 2 chuyến tàu tiếp tục đi vớt thuyền nhân tỵ nạn VN.

H3Dr. Neudeck sinh hoạt văn nghệ với thuyền nhân trên tàu

Năm 1987, nước Đức cương quyết không nhận thêm thuyền nhân VN nữa, ông hợp tác ngay với hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp (Médecins du Monde) cho ra con tàu Cap Anamur III, mang quốc tịch Pháp, nước Pháp nhận hết thuyền nhân (905 người) và ủy ban Cap Anamur chịu tất cả mọi phí tổn. Khi các trại tỵ nạn đóng cửa không tiếp nhận thuyền nhân

Cùng với chương trình thanh lọc và cưỡng bức hồi hương, thì năm 1989 ông lại âm thầm cho ra khơi liên tiếp 2 con tàu (tháng 6 Cap Anamur IV và tháng 10 Cap Anamur V) với hai mục đích là đánh đuổi bọn hải tặc Thái Lan và giúp đỡ hướng dẫn thuyền nhân VN cập đảo. Đây là một hành động đi ngược lại luật lệ, ngược lại chính sách của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và các chính quyền đang có trại tỵ nạn tại Đông Nam Á thời bấy giờ.

Mỗi khi phát hiện được ghe vượt biển, chúng tôi đưa họ lên tàu, câu luôn cả chiếc ghe. Các thủy thủ có nhiệm vụ kiểm soát an toàn cho chiếc ghe hoặc sửa chữa máy nếu bị hư hại. Các nhân viên y tế khám sức khỏe, phát thuốc và chúng tôi phân phát lương thực cho mọi người. Tất cả đều được đựng trong những túi nylon hoặc chai bằng nhựa, không nhãn hiệu, không xuất xứ để tránh có thể bị phát hiện sau này. Thuyền trưởng có nhiệm vụ chọn ngày giờ tối đen nhất, không trăng sao, tắt tất cả đèn tàu trên boong, lái tàu tiến vào chỗ gần bờ nhất, rồi câu ghe xuống. Chúng tôi dùng đèn pin đưa từng người xuống ghe, giao tận tay anh tài công 1 búa tạ lớn và 1 súng bắn hỏa pháo, dặn dò khi vào đến bờ phải đập tan nát ghe và máy ghe, rồi bắn hỏa pháo để chúng tôi biết được họ đã an toàn cập bờ. Vừa nhìn thấy hỏa pháo, thuyền trưởng tức khắc cho tàu chạy ra xa, chờ khi trời vừa sáng lại tiến vào chạy ngay bờ quan sát. Không cần ống nhòm chúng tôi cũng thấy được chiếc ghe đen đậm màu vỡ nát trên bờ cát trắng với tiếng reo hò của những thuyền nhân trong trại thức sớm. Cứ thế, hơn một chục chiếc ghe cập bờ với hàng trăm thuyền nhân được bình an do quyết định âm thầm đầy táo bạo và liều lĩnh của Dr.Rupert Neudeck! Chúng tôi âm thầm ra đi và yên lặng trở về, giới báo chí truyền thông cũng chẳng hay biết gì.

Phải nói rằng, nơi nào trên thế giới chiến tranh khốc liệt nhất, người dân bị đầy đọa khốn cùng nhất, nơi nào không ai dám đến nhưng cần phải được cứu giúp thì đều có mặt Dr. Rupert Neudeck, bất chấp hiểm nguy, bất chấp luật lệ. Vào cuối thập niên 80, Nga Sô xua quân xâm chiếm Afghanistan và tàn sát dã man, khiến hàng trăm ngàn người dân vô tội tỵ nạn phải trốn chạy vào các hang hóc trong những dẫy núi hiểm trở tránh bom đạn, không nước uống, không thực phẩm, không thuốc men….

Năm 1986, ông đơn thân độc mã với bộ râu hàm, quấn khăn phủ đầu, cưỡi con lừa tả tơi không khác một tín đồ Hồi Giáo đi vào vùng kháng chiến quân Afghanistan (Mudschaheddin) chống quân xâm lăng Nga Sô gần biên giới Pakistan để quan sát và giúp đỡ thực phẩm thuốc men cho họ. Lần đó, đoàn của ông bị trực thăng Nga Sô phát hiện và bắn đuổi bằng súng máy và hỏa tiễn Ông phải trốn chạy hơn 30 tiếng đồng hồ mới thoát qua được biên giới Pakistan. Hai người trúng đạn và 1 con lừa bị đạn. Sau này ông kể lúc đó ông nghĩ mình sẽ không thoát khỏi cái chết nát thây, nhưng ông vững tin vào Thiên Chúa, nhớ về ba người con còn nhỏ dại và như một phép lạ, ông đã thoát chết trở về bình an.

H4Dr. Neudeck với kháng chiến quân Afghanistan năm 1986

Năm 1987 tại Uganda, nhà độc tài quân phiệt Milton Obote tàn sát tập thể dân chúng khiến họ phải chạy trốn đến biên giới Süd-Sudan, ông cũng có mặt tại đây và bị bọn lính chĩa súng bắt phải uống rượu trước khi chúng thả ông.

H5Dr.Neudeck in Syrien năm 2011

Năm 1988 khi đang cứu trợ dân tỵ nạn Eritrea thì hàng loạt máy bay Migs của quân đội Äthiopie thả bom xối xả. Ông theo đoàn tỵ nạn phải trốn lánh trong hầm sâu hàng giờ và ông thoát chết.

Năm 2001, khi nước Đức và nhiều quốc gia Âu Châu đang khủng hoảng vì bệnh dịch thịt bò (BSE), dân chúng sợ hãi căn bệnh chết người không dám ăn và hàng trăm ngàn con bò bị thiêu hủy không cần biết chúng có bị nhiễm hay không, trong khi người dân CS Bắc Hàn đang chết đói hàng loạt vì thiếu lương thực. Ông mướn ngay tàu chở theo hàng trăm con bò

chưa/ không nhiễm bệnh từ Âu Châu cứu đói người dân CS Bắc Hàn. Cho đến nay, tôi cũng không biết làm cách nào ông được phép mua lại những con bò ấy, tại sao chính quyền Đức cấp giấy phép cho ông và lý do gì một quốc gia CS khắc nghiệt Bắc Hàn lại đồng ý cho một con tàu viện trợ từ một quốc gia Âu Châu cập cảng. Ông chỉ cười và nói rằng, đây là căn bệnh cố hữu của tư bản nhà giàu, họ luôn… sợ chết, mà dân Bắc Hàn có ai chết vì thịt bò ông cứu trợ đâu?

Tháng 5 năm 2013 trong khi cứu trợ người tỵ nạn tại Syrien, 3 thành viên người Đức của ông trong tổ chức “Hội Mũ Xanh” bị phiến quân bắt cóc. Ông không sợ hãi hay nản lòng, không yêu cầu chính phủ can thiệp, không thông tin với báo chí mà tự giải quyết với năng lực và sự khôn khéo của mình. Cuối cùng cả 3 thành viên đã tự giải thoát trở về sau gần 3 tháng bị cầm tù.

Những câu chuyện trên cho người ta thấy rõ được con người nhân đạo quyết liệt của Dr. Rupert Neudeck: cứu sống sinh mạng con người phải cấp tốc tức khắc, không chần chừ do dự, không sợ hãi, không ràng buộc luât lệ, không tính toán hơn thiệt, không câu nệ phương thức, không phân biệt màu da, không phân biệt chính kiến… vì theo ông, tất cả đều là con người, và mỗi người đều có trách nhiệm hỗ trợ và cứu giúp lẫn nhau để cùng chung sống an bình.

Người ta vẫn không giải thích được, từ đâu và tại sao, một con người mang tên Dr. Rupert Neudeck, với đôi mắt luôn luôn suy tư, mũi to sần sùi với bộ râu trắng phau quanh hàm, một con người làm việc không ngừng nghỉ bất chấp thời gian và không gian, một con người lặn lội khắp nơi, bất chấp khó khăn hiểm nghèo… lại là một con người có một cuộc sống khổ hạnh, gầy còm, da bọc xương nặng chưa đầy 50 ký, ăn mặc giản dị, luôn luôn với cái túi xách lòng thòng trên vai, nhưng lại làm được những việc mà ít ai có thể làm được. Nhiều người phỏng vấn ông, ông trả lời: “Nói thật lòng, đây là một câu hỏi duy nhất mà tôi không có câu trả lời”. Nhiều nhà báo đã mô tả ông là “một cụ già trên 70 nhưng mang một thân xác của chàng thanh niên 18… gầy còm ốm đói”.

H6Dr. Neudeck thăm bệnh xá Tân Mỹ do Hội Mũ Xanh xây dựng

Tôi không tài nào quên được lần tháp tùng ông về Việt Nam sửa soạn cho hai dự án xây dựng nhân đạo tại Đồng Tháp Mười và U Minh (2006 và 2007) qua đóng góp tài chánh của cựu thuyền nhân VN tại Đức. Ông chọn hãng máy bay thật rẻ, giờ giấc bất tiện và phải chờ đổi chuyến bay rất lâu. Hành trình Frankfurt-Saigon kéo dài đến hai ngày trời vì phải chờ đổi chuyến bay tại xứ CS Bắc Hàn (Pjöngjang-Bình nhưỡng) 10 tiếng đồng hồ, cộng thêm 3 tiếng vì thời tiết xấu. Ông an ủi tôi rằng ít nhất ông có thì giờ yên tĩnh để đọc và viết sách. Ông với tôi gật gù trên hàng ghế vắng tanh, thay phiên nhau canh chừng mấy túi xách tay trước những cặp mắt cú vọ của bọn an ninh Bắc Hàn làm tôi lo sợ không ít.

Tôi mua cho ông 1 miếng bánh mì kẹp nhỏ hơn bàn tay và 1 ly cola khoảng 20 ml. Họ đòi 12 US cho miếng bánh mì kẹp và 8 US cho ly coca. Tôi hết hồn! Ông vứt trả lại hết, miệng lẩm bẩm “Die Kommunisten! Unglaublich!” (Bọn Cộng Sản! Không thể tưởng tượng nổi!). Ông bỏ đi trước tiếng la hét chửi bới đòi tiền của tên đàn ông bán hàng. Ông mở túi khoe hai ổ bánh mì kẹp của vợ ông gói cho ông đi đường rồi ăn ngon lành. Chúng tôi đến Saigon khoảng 2 giờ sáng, phi trường vắng tanh.

Chúng tôi về nhà của một cựu thuyền nhân Cap Anamur tên M., hiện đang làm thương mại tại đây và cũng là đại diện Hội Mũ Xanh tại VN. Bảy giờ sáng ông đã thức giấc đòi chở lên vùng cao nguyên lúc bấy giờ rất sôi động vì giáo dân Tin Lành nổi dậy chống đối sự đàn áp tôn giáo của chính quyền CS. Anh M. sửa soạn ăn sáng, nhưng ông nhất định lôi chiếc bánh mì kẹp còn lại trong túi xách ra ăn. Khi vừa mở bánh mì ra, tôi thấy có mấy … con gì đó lúc nhúc bên trong vì ông quên vẫn để trong túi xách hầm hơi nóng đã hơn 2 ngày. Ông bình thản nhặt từng con ra, rồi nói với chúng tôi rằng, nhiều người trên thế giới đang đói khát không có mà ăn, mình vứt ra rồi ăn có sao đâu, đừng hoang phí; hơn nữa đây là bánh mì mà bà Christel (vợ ông) đã làm cho ông. (Tác giả Nguyễn Hữu Huấn viết hơi quá lời.)

Suốt quãng đường Saigon-Kontum-Gia Lai-Saigon ông không ăn, không uống, mà chỉ xem xét, hỏi han và ghi chép, đến nỗi anh tài xế vừa mệt vừa đói không muốn lái xe nữa. Tôi năn nỉ ông cho dừng lại một quán bên đường, ông vẫn ghi chép rồi chau mày hỏi tôi “Cậu cũng phải ăn hay sao?”. Tất cả chúng tôi mệt lả người và đói khát trong khi ông vẫn… tỉnh bơ, âm thầm ghi chép làm việc. Chỉ 5 ngày ở VN, ông đi từ vùng cao nguyên xuống tận U Minh qua Rạch Giá, Vũng Tàu và đến cả Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh. Ông muốn nhìn tật mắt những nơi thuyền nhân VN đóng ghe vượt biển năm xưa như Bến Đá, Rạch Dừa, bến Ninh Kiều Cần Thơ, Rạch Giá… Tiếc thay những nơi này không còn như xưa. Tôi chở ông bằng xe gắn máy đi thăm nhà thờ Đức Bà, Chùa Vĩnh Nghiêm… rồi  ngồi ghế đẩu uống nước quán vỉa hè rất thoải mái. Đêm cuối cùng trước khi về lại Đức, anh M. có nhã ý mời ông dùng cơm tối trên một chuyến tàu lớn chạy vòng quanh trên sông Saigon. Ông đi với vẻ miễn cưỡng. Sau chuyến đi anh M. hỏi ông nghĩ sao, ông trả lời không nhân nhượng: “Uổng phí 3 tiếng đồng hồ làm việc, dùng số tiền ấy đi giúp người nghèo đói có phải tốt hơn không!”.

Năm 1986, gia đình ông nhận một chú bé thuyền nhân VN không cha mẹ thân nhân làm con nuôi. Ba năm sau thì được tin người cha ruột của chú bé này vừa được định cư tại Hoa Kỳ và có ý muốn nhận lại con. Ông muốn chính mình đưa chú bé giao tận tay cho gia đình (cha nuôi gặp cha ruột – như ông nói). Tôi liên lạc và thu xếp để ông đi. Người Việt tỵ nạn bên Hoa Kỳ muốn tiếp đón ông như một đại ân nhân thật trang trọng. Cả một phái đoàn người Việt áo quần chỉnh tề với bó hoa thật đẹp. Máy bay đáp xuống, hành khách lần lượt bước ra gần hết nhưng vẫn không ai thấy ông đâu và ai cũng lo sợ nhầm chuyến bay hoặc khả dĩ liệu ông đổi ý vào giờ chót chăng. Bỗng có người thấy một ông già với bộ râu xồm xoàm, gầy đét, quần jean áo bỏ ngoài đang ngồi trong một góc vắng cười đùa nói chuyện với một chú bé VN. Có người đến hỏi ông, ông mỉm cười tự giới thiệu. Lúc đó cả phái đoàn giật mình, đồng loạt cởi bỏ áo vét và cravattes, ngượng ngùng trao ông bó hoa. Ông từ chối mọi phỏng vấn, từ chối mọi tiếp đón để trao tận tay cậu bé cho người cha ruột. Ông từ chối đến khách sạn đòi nghỉ đêm tại nhà cha ruột của cậu bé và trở về lại Đức ngay sáng hôm sau.

H7Dr.Neudeck in Somalia/Phi Châu

Năm 1987 sau khi con tàu Cap Anamur III về Pháp, nhiều đoàn thể tổ chức người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ (sau này là Úc và Canada), đã nhiều lần mời Dr. Rupert Neudeck và một số vị ân nhân khác của thuyền nhân tỵ nạn VN sang Hoa Kỳ để vinh danh, đồng thời quyên góp cho những công tác cứu người vượt biển của ủy ban Cap Anamur và tổ chức Medicins du Monde của Pháp do ông Bernard Kouchner và Alain Deloche lãnh đạo. Dr. Rupert Neudeck luôn luôn từ chối không tham dự mặc dù tôi cố gắng đốc thúc. Ông suy nghĩ khác, vì theo ông, vinh danh là thừa thãi vô ích, ông không thích được vinh danh và ông muốn tôi nói với người Việt bên Hoa Kỳ rằng, nước Mỹ phải có trách nhiệm với thuyền nhân VN và người Mỹ gốc Việt có dư thừa điều kiện và khả năng sao không vận động cho ra một con tàu như ông để tự cứu chính dân tộc mình !!!

H8Dr. Neudeck tại khu vực người tỵ nạn Kurden

Dr. Rupert Neudeck được rất nhiều đài truyền hình, đài phát thanh hay các tổ chức người Đức mời phỏng vấn hoặc diễn thuyết. Ông yêu cầu chuyển tất cả mọi thù lao vào trương mục của Cap Anamur hay Hội Mũ Xanh. Ông từ chối không nghỉ trong khách sạn 5 sao và cũng yêu cầu chuyển chi phí khách sạn cho hai tổ chức của ông. Bất cứ đi đâu trong nước Đức ông đều đi xe lửa và có vẻ thích thú khoe với tôi rằng ông có vé xe lửa bớt 50% nên rẻ lắm. Mỗi lần có việc lên Hamburg hay vùng Bắc Đức ông đều nghỉ đêm trong nhà tôi. Ngại ông không hợp thức ăn VN, tôi mời ông đến nhà hàng. Không những ông từ chối mà còn không cho vợ tôi nấu nướng gì rồi tự xuống bếp, khi thì chọn hộp xúp gà với nui, khi thì ăn miếng bánh mì lát chấm với súp thịt hộp Gulasch và một ly nước suối, nói chuyện dăm câu rồi đi ngủ. Lần nào ông cũng thức giấc rất sớm, uống vội tách cà phê không đường, đem theo một chai nước suối nhỏ, ít lát bánh mì và một trái táo, đủ làm hành trang cho một ngày của ông.

Tôi chở ông đến trạm xe lửa, khi thì đi Bá Linh, khi thì Stuttgart, München hoặc nơi nào đó vì ông liên tiếp có những cuộc hẹn quan trọng. Nhiều lần vào mùa đông, buổi sáng giá rét, ông mượn tôi chiếc áo len để mặc vì vội đi nên quên. Có lần trước khi chở ông đến đài truyền hình ARD, tôi chợt thấy ông choàng chiếc khăn quấn cổ màu xanh của hội đá banh FC Schalke 04. Ông giật mình cởi ra ngay rồi hỏi mượn tôi chiếc khăn khác. Ông bảo có một thanh niên Đức gần nhà ông biết ông là Fan của hội này nên mang đến tặng ông và khi đi ông vơ đại chiếc khăn đó choàng vào cổ. Tôi nghĩ đá banh là sở thích của ông, nhưng ông lại bảo, ông chưa từng đi xem đá banh, kể cả trên truyền hình. Tôi nghĩ sở thích của ông là… “làm việc nhân đạo, cứu giúp người tỵ nạn”.

Một lần khi sửa soạn tổ chức đại hội Cap Anamur tại Troisdorf, ông bảo tôi và một số anh em trong ban tổ chức ghé nhà ông nghỉ đêm. Vì mang sẵn túi ngủ nên chúng tôi xin ngủ trên sàn nhà trong phòng khách. Ông bà và con cái ngủ hết trên lầu. Đang đêm khuya có ai bật đèn, chúng tôi choàng dậy thấy ông mặc quần áo lót trắng cụt ngủn, tay ôm chiếc gối vuông, lum kum lần mò trong ánh sáng ngọn đèn mờ. Ông bảo ông đang tìm chỗ ngủ và nói chúng tôi xích gọn lại cho ông nằm chung, vì tối hôm ấy bà Neudeck cũng rủ một người bạn gái bác sĩ trong Cap Anamur về nhà. Ông bảo ông không thể nằm chung một phòng với cả hai người đàn bà. Trong khi chúng tôi thì thầm với nhau vừa buồn cười vừa thấy kính mến vô vàn một con người nổi tiếng được cả thế giới biết đến, lại bình thường giản dị đến thế… thì ông đã ngáy khò khò ngủ say bên cạnh từ lúc nào. Chắc các anh em này vẫn không thể quên được đêm hôm ấy.

Cũng có lần tôi hướng dẫn một số anh chị em đến nhà ông để bàn họp. Vợ tôi vì đã quen nhà ông nên rủ vài chị đi pha cà phê và nước trà. Gia đình ông vẫn sử dụng bình pha cà phê thời thập niên 80, cái máy cũ rích kêu rồn rột như vòi nước bị nghẹt. Cả một ngăn tủ ly tách hiệu Ikea thì đủ màu, đủ kiểu, đủ cỡ không có cái nào giống cái nào, cứ như ngoài chợ trời. Một chị khệ nệ bưng khay cà phê vừa đi vừa nói tiếng Việt: “Quý vị coi chừng nhé, uống cà phê phải để ý coi chừng bị rách môi đó” vì chị thấy nhiều ly tách bị mẻ miệng.

Tuy thế, ông rất vui tính và dí dỏm.

Một nhà báo Đức hỏi ông tại sao mỗi lần ông xuất hiện thì có hàng trăm người VN xếp hàng nối đuôi nhau muốn chụp ảnh với ông, ông trả lời: “Bạn không biết sao? Tôi là người được chụp ảnh nhiều nhất nước Đức đến nỗi các ông bà chính trị gia phải phát ghen lên đấy!”

Ông kể cho tôi rằng thuở ban đầu, ông có 2 người bạn chính trị gia kiên quyết ủng hộ ông, đó là ông Dr. Ernst Albrecht (thủ hiến tiểu bang Niedersachsen) và ông Johannes Rau (thủ hiến tiểu bang Nordrhein-Westfalen, sau này là tổng thống Đức) và hai chính trị gia chống đối ông mãnh liệt nhất là ông Franz Josef Strauß (thủ hiến tiểu bang Bayern) và ông Holger Börner (thủ hiến tiểu bang Hessen). Ông dí dỏm đại ý rằng, cứ để 2 phe cấu xé nhau đi, mình ở giữa, làm… ngư ông hưởng lợi. Và “cái lợi” đó chính là 11.300 thuyền nhân VN tỵ nạn đã được cứu sống – ông nói.

Khoảng 15 năm trước, trong một lần ghé thăm gia đình ông, bà Christel Neudeck bới trong đống cây cỏ héo ngoài góc vườn nhỏ chỉ cho chúng tôi một đầu người được đúc bằng đồng rất nặng. Một điêu khắc gia nổi tiếng tại Đức vì cảm phục và quý mến ông nên đã khắc và đúc tượng đầu của Dr. Rupert Neudeck và chính tay mang đến tặng gia đình ông bà và bà miễn cưỡng phải nhận. Bức tượng rất đẹp và rất giống ông. Bà Neudeck cũng… dị đoan, thắc mắc nói với chúng tôi rằng, chồng bà vẫn còn sống, sao lại có người mang đến tặng như thế, nên bà đem ra giấu ở góc vườn dưới đám lá khô. Bà bảo chúng tôi mang về nhà và phải hứa khi hữu sự thì phải mang trả lại cho ông… Nhưng thật lòng chúng tôi không bao giờ muốn trả lại cho ông!

H9Dr.Neudeck với chim hòa bình tại Afghanistan

Cách đây vài năm ông bị mổ tim lần thứ nhất. Khi tỉnh dậy ông mới biết vị bác sĩ mổ tim cứu sống ông lại là một thuyền nhân VN được tàu Cap Anamur cứu sống gia đình anh, khi anh mới được 3 tuổi. Ông nắm tay vị bác sĩ này và nói: “Năm xưa tôi cứu sống anh và người VN, năm nay anh cứu sống tôi, như thế người Việt tỵ nạn và  tôi huề với nhau, chúng ta không ai còn nợ nần ai nữa!”.

Ông nhiều lần kể cho tôi những chuyện thật hy hữu với khuôn mặt rạng rỡ thích thú rằng, một lần sau khi dự hội nghị về người tỵ nạn thế giới của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Hoa Thịnh Đốn, ông gọi một chiếc  taxi. Anh tài xế vừa lái vừa ngoảnh cổ nhìn ông hỏi: “Ông có biết ông Neudeck ở bên Đức không?” Ông cười và trả lời “Ông ta là ai? Tôi không biết”. Anh taxi hơi ngượng nói lại: “Tôi nhìn ông sao giống ông Neudeck quá, ông ấy cứu vớt tôi từ ngoài biển đấy!”.  Cả hai cùng cười… để rồi anh taxi nhất định không nhận tiền ông. Ông nói với tôi: “Thì ra cuốc xe này đáng giá cả một mạng người”.

Một lần khác trên phố Manhattan/New York khi ông đang lững thững đi bộ qua toà nhà World Trade Center (cũ), chợt có một chị từ trong tòa nhà bước ra ôm chầm lấy ông la lớn: “Ông là ông Neudeck-Cap Anamur  phải không? Tôi là Cap Anamur 6 đây, ông nhớ không?”. Lại một anh khác chạy đến nắm tay ông nói: “Kính chào ông Neudeck, tôi Cap Anamur 12 đây”… Ông chẳng hiểu Cap Anamur 6 hay Cap Anamur 12 là gì nhưng vẫn tươi cười trả lời: “Tôi nhớ chứ! Tôi nhớ chứ!”… Ông kể cho tôi rồi hỏi: “Không nhẽ tôi nổi tiếng đến thế sao?”.

Tháng giêng năm 2014, một phụ nữ VN được chọn tham dự chương trình “Wer wird Millionär ?” của Günther Jauch và thắng  được 125.000 Euro. Cô tên là Đinh Quỳnh Anh Rohm, cô và gia đình được tàu Cap Anamur cứu sống năm 1982 khi cô mới 5 tuổi. Dr. Rupert Neudeck vui và hãnh diện lắm. Ông đến thăm vợ chồng cô và đích thân mời gia đình cô đến tham dự lễ kỷ niệm 35 năm con tàu Cap Anamur ngày 09 tháng 8 năm 2014 tại cảng Hamburg. Ông bảo đó chính là nguồn an ủi nhất của ông và gia đình khi ông đã khổ công tranh đấu đem những người tỵ nạn VN này vào nước Đức và ngày nay, họ là những “nhà vô địch thế giới về sự hội nhập”, thành công trên tất cả mọi lãnh vực trong xã hội Đức này.

Có lẽ trong thời gian cuối đời, niềm an ủi thảnh thơi nhất của ông là quây quần đùa nghịch với 5 đứa cháu nội ngoại. Ông không muốn bất cứ ai quấy rầy ông trong thời gian đàn cháu nội ngoại đến thăm  ông. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng một ông già gầy tong teo gập chân quỳ xuống bò rạp trên sàn làm con ngựa già để đứa cháu 3 tuổi cưỡi quanh nhà. Chính đứa cháu này đã muốn hóa phép cho ông sống lại nhưng không tìm được cây đũa thần – như bà Neudeck rưng rưng kể lại.

Ít người biết được là ông bà Dr.Rupert Neudeck có những liên hệ mật thiết với rất nhiều nhân vật quan trọng và chính trị gia nhiều quyền lực khi xưa và đương thời. Có ai biết rằng sau hai lần tái nhiệm chức vụ thủ tướng nước Đức (2009-2013 và 2013-2017), bà Angela Merkel đều mời ông bà Dr.Rupert Neudeck đến tư gia trò chuyện. Các vị cựu chủ tịch quốc hội Đức như bà Rita Süssmuth và ông Wolfgang Thierse, cựu Tổng Thống Đức ông Johannes Rau (75), đương kim bộ trưởng tài chánh Đức ông Dr. Wolfgang Schäuble, cựu chủ tịch đảng SPD cũng là cựu phó thủ tướng Đức ông Franz Müntefering, cựu phó chủ tịch liên đảng CDU/CSU tại quốc hội Đức ông Arnold Vaatz, cựu giám đốc cơ quan tình báo và bộ trưởng ngoại giao Đức ông Klaus Kinkel… nhiều thống đốc tiểu bang hay cựu bộ trưởng liên bang Đức như ông Dr.Ernst Albrecht (84), bà Sabine Leutheusse-Schnarrenberger, ông Gerhard Rudolf Baum, ông Dr.Norbert Blüm…. và rất nhiều vị khác kể không hết, trong đó phải nhắc đến bà Marion Gräfin Dönhoff (93 sáng lập tuần báo Die Zeit) và ông Karl-Heinz Böhm (86 tài tử điện ảnh Áo, với nhiều hoạt động nhân đạo tại Phi Châu).

H10Ông bà Neudeck và thủ tướng Đức Angela Merkel (2006)

Tất cả đều là bạn bè thân hữu sát cánh bên ông. Ông coi cựu phó tổng thống Đức gốc Việt Philipp Rösler như một người con và rất thích thú khi ông này biết và hiểu rất rành mạch về thuyền nhân tỵ nạn VN. Ông Peter Scholl-Latour (90, nhà báo nổi tiếng, trước đây ủng hộ việc gởi con tàu “Cap Anamur” cứu vớt thuyền nhân VN của Dr. Rupert Neudeck, sau này lại hỗ trợ ông qua mục đích nhân đạo của “Hội Mũ Xanh”), hay ông Günter Grass (88, văn hào với giải Nobel văn chương) cho đến khi qua đời vào tháng 4 năm 2015 cũng đều là bạn đồng hành với ông. Ngay đến ông Aiman A. Mazyek (chủ tịch hội đồng trung ương Muslime tại CHLB Đức) và ông Musa Ataman (chủ tịch cộng đồng Kurden tại Bonn) cũng đã từng cộng tác và ủng hộ ông.

Tôi hẹn gặp lại ông nhân dịp lễ trao giải “Erich Fromm Preis 2016” ngày 6 tháng 4 năm 2016 tại Stuttgart. Đây là lần đầu tiên giải này được trao tặng cho một đôi vợ chồng là ông Rupert Neudeck và bà Christel Neudeck. Ai có ngờ đâu, đây là lần cuối cùng tôi gặp ông. Sức khỏe ông suy sụp thấy rõ. Trong phần diễn thuyết ngày hôm đó, tôi thấy ông ngập ngừng qua dấu hiệu quên trước quên sau. Ông mệt mỏi đi xuống và nói tôi lấy cho ông một ly nước suối. Bà Christel Neudeck thay ông trả lời phỏng vấn của giới truyền thông hoặc cám ơn quan khách đến chia vui cùng ông bà. Trước đó, ngày 30 tháng 1 năm 2016, ông tham dự ngày hội Tết Nguyên Đán Bính Thân của người Việt tỵ nạn tại Bielefeld. Ông cảm thấy mỏi mệt, tức ngực và khó thở nên đi ra khỏi phòng và yêu cầu tôi chở ông về, trong khi chương trình vẫn còn đang tiếp tục. Chính bà Christel Neudeck đã nhiều lần lo lắng và cảnh cáo ông, nhưng ông vẫn nói mình còn rất nhiều việc phải làm.

H11Nụ hôn khi nhận giải “Erich Fromm Preis” tháng 4 năm 2016

Dr.Rupert Neudeck lần đầu tiên bị mổ tuyến tiền liệt (Prostata) khoảng 2 tuần trước lễ khánh thành bia ty nạn thuyền nhân VN ngày 28 tháng 4 năm 2007 tại Troisdorf, nơi gia đình ông cư trú. Ông gắng gượng lững thững một mình lái xe đạp đến tham dự và tuyên bố rằng: “Troisdorf chính là thủ đô của người Việt tỵ nạn tại Đức”.

Cũng hai tuần trước đại hội Công Giáo VN tại Đức kỳ thứ 40 tại Aschaffenburg từ 14 đến 16 tháng 5 năm 2016, ông phải nhập viện mổ tim lần thứ 3 chỉ trong vòng 4. Lần này ông không đến tham dự được năm sau này và nằm hôn mê trên giường bệnh cho đến khi lìa đời lúc 8 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi (1939-2016). Có những lúc ngón tay ông đã cử động, cũng có những lúc ông đã mở mắt nhìn vợ và con cháu mình và gật đầu khi được hỏi ông có muốn nghe nhạc Mozart không. Những niềm hy vọng chợt lóe lên trong sự mong đợi khát khao của gia đình, nhưng ai ngờ đâu đó chỉ như ngọn nến chợt bừng sáng trước khi thật sự lịm tắt. Ông đã thật sự vĩnh viễn ra đi.

Lễ mai táng ông được tổ chức âm thầm và giản dị trong gia đình và thân hữu vỏn vẹn chưa đến 30 người vào ngày 8 tháng 6 năm 2016. Quan tài dành cho ông là 6 miếng ván gỗ thô, không sơn màu, không chạm trổ, không hoa, không nến, nằm cô đơn dưới bậc thềm Cung Thánh trong ngôi nhà thờ nhỏ gần nhà ông. Con cái và thân nhân ông tự khiêng ông đến nơi an nghỉ cuối cùng trong một nghĩa địa nhỏ tại Troisdorf.

Người thân vĩnh biệt ông với từng nắm đất và những cánh hoa dại mọc bên đường. Giữ đúng lời hứa với bà Christel Neudeck trước kia, tôi kính cẩn đặt tượng đồng khắc đầu ông trên mộ.

H12

H13Nơi an nghỉ cuối cùng của một con người suốt đời xả thân cứu giúp đồng loại.

Một tuần sau, ngày 14 tháng 6 năm 2016, Toà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Koeln và tang quyến tổ chức Thánh Lễ tưởng niệm ông tại Vương Cung Thánh Đường St.Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ tế cùng với 12 Linh Mục Việt Nam (đa số đều được tàu Cap Anamur cứu sống trước đây). Gần 2.000 người tham dự, hầu hết là thuyền nhân Việt Nam đến từ các nơi trong nước Đức và các quốc gia lân cận.

Hầu hết các Chùa Việt Nam và các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam trên toàn nước Đức đồng loạt tổ chức lễ tưởng niệm và cầu hồn cho ông như một nghĩa cử cám ơn và thương tiếc vị ân nhân đã cứu sống họ và gia đình.

Ngày 25 tháng 6 năm 2016, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức cũng tổ chức Thánh Lễ cầu nguyện cho linh hồn ông tại Thánh Đường St. Hippolitus trong thành phố Troisdorf, nơi gia đình ông cư ngụ, với 9 Linh mục Việt Nam và hơn 500 giáo dân.

Không những người Việt tỵ nạn thương tiếc ông mà người dân Đức cũng bày tỏ lòng quý mến một con người đã thay đổi được bộ mặt của nước Đức qua nhiều hành động khác nhau. Trên một chuyến xe lửa trong thành phố Koeln ngay trong ngày lễ tưởng niệm ông (14.6.2016) có người đã viết trên 1 toa xe dòng chữ “R.I.P. Rupert Neudeck” (Rest In Peace – Rupert Neudeck – Yên Nghỉ Trong An Bình).

H14

Một tấm hình khác xuất hiện trên Internet cho thấy hình con tàu nhân đạo Cap Anamur được xâm trên đùi một thanh niên Việt Nam như một ghi nhớ con tàu này đã cứu sống anh.

H15

Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời….

Kính thưa ông Dr.Rupert Neudeck,

Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới.

Để tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck

Hamburg, tháng 7 năm 2016

_________

Tưởng niệm ân nhân Rupert Neudeck (1939-2016)

Lyhuong.net

 

Rupert Neudeck_html_m2c31bcb8

 

 

 

Dr. Rupert Neudeck sinh 14.5.1939 tại Danzig trong một gia đình có 4 anh chị em.

Ngày 30.01.1945 gia đình ông chạy trốn chiến tranh trong mùa đông lạnh lẽo với mẹ. Hồng quân Xô Viết tràn vào Balan, tàu quân y “Wilhelm Gustloff” sơ tán đưa người tỵ nạn ra khỏi cảng Danzig. Khoảng 10.300 người chạy tỵ nạn trên tàu nầy bị thủy lôi của Xô Viết đánh chìm. Hàng ngàn người trên tàu thiệt mạng. Gia đình ông Neudeck nhờ lỡ tàu mà sống sót. Chính biến cố lịch sử đau thương đó ảnh hưởng đến đời sống và việc làm nhân đạo của ông sau nầy.

Khi gia đình đến định cư tại Hagen, Dr Rupert Neudeck xong trung học vào đại học theo phân khoa thần học, triết học, xã hội học tại đại học Bonn, Münster và Salzburg. Năm 1961 ông gia nhập Dòng Tên, nhưng ít năm sau ông ra khỏi Dòng và tiếp tục học.

Năm 1972, ông đậu bằng tiến sĩ triết học và lập gia đình, vợ là bà Christel có 2 con gái 1 con trai là Yvonne, Milena , Marcel và 1 cháu ngoại. Ngoài đời ông còn có hàng trăm ngàn con cháu do bàn tay cứu vớt của ông.

Khởi đầu ông làm nhà báo cho đài phát thanh Công giáo ở Köln và từ năm 1976 làm nhà báo tự do.

Năm 1977, ông làm biên tập viên chính trị cho đài phát thanh Deutschlandfunk . Trước làng sóng người Việt vượt biển tìm tự do và nhiều thảm kịch về thuyền nhân ở Biển Đông gợi ông nhớ lại câu chuyện tỵ nạn của chính mình nhờ may mắn nên còn sống sót.

Rupert Neudeck_html_6b81bc2Năm 1979 vợ chồng Dr Rupert Neudeck, Christel. sáng lập Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e.V. (Ủy ban Cap Anamur/Bác sĩ cấp cứu Đức). Ủng hộ tổ chức này có các nhân vật nổi tiếng của Đức như: nhà văn đoạt giải Nobel Heinrich Böll, Helmut Schmidt, Alfred Biolek, Bruno Ganz, Norbert Blüm, Peter Scholl-Latour, Frank Alte. Cùng một nhóm thân hữu thành lập Ủy ban “Ein Schiff für Vietnam” và thuê tàu Cap Anamur có trọng tải 6600 tấn dài 118,7 m, rộng 17m, cao 9m, hầm tàu 7,3m làm nhiệm vụ cứu các thuyền nhân Việt Nam (chủ tàu ở Hamburg không lấy tiền thuê chỉ cho mượn).

Ngày 09.8.1979 lúc 15g23 do thuyền trưởng Klaus Buck tàu CAP ANAMUR khởi hành từ cảng Kobe của Nhật ra Biển Đông với lòng nhân đạo cứu vớt các thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ độc tài CS. Các bác sĩ, y tá phần lớn người Đức làm việc thiện nguyện, trên tàu có một trực thăng do cựu thiếu tá Pilot người Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam bay tìm, hướng dẫn các ghe thuyền lênh đênh, mất định hướng trên biển đến với tàu Cap Anamur. Thuỷ thủ đoàn là những người Phi, Cap Anamur I vớt những ghe vượt biển trong hoàn cảnh “thập tử nhất sinh”.

Tính đến tháng 5.1982, Cap Anamur I cứu được 9.507 thuyền nhân Việt Nam đưa vào các trại tị nạn Sem Bawang (Singapore), Palawan và Bataan (Phi luật Tân), Galang (Indonesia) tạm trú một thời gian ngắn chờ định cư Tây Ðức hoặc đến các đệ tam quốc gia trên thế giới.

Cap Anamur I hoạt động 22 tháng phải ngưng công tác nhân đạo, ngày 25. 6. 1982 trở về cảng Hamburg, mang theo 287 thuyền nhân VN. Ông Hans Voss chủ tàu không lấy tiền mướn, nhưng chi phí mỗi tháng cho Cap Anamur. khoảng 400.000DM.

Cap Anamur II. hoạt động từ tháng 3 đến tháng 6.1986 vớt 888 người, và mang 357 người về cảng Hamburg. Lần cuối cùng chính phủ Đức chỉ nhận 22 người của Cap Anamur III và từ đó chấm dứt không nhận thêm thuyền nhân Việt Nam.

Cap Amur IV và Cap Anamur V tiếp tục hoạt động, tiếp tế lương thực và nước uống, cứu người vượt biển thoát khỏi tay bọn hải tặc và đưa họ đến được bến bờ bình an.

Số người được Cap Anamur vớt trên 11 ngàn người, nhưng số người được đoàn tụ gia đình trên 30 ngàn người. Bất cứ nơi nào có tiếng khóc than, cầu xin là có ông tìm đến để giúp đỡ.

Hồi tưởng cuộc đời tỵ nạn sau 30.4.1975 người Việt bất chấp mọi hiểm nguy đổi cả mạng sống để vượt khỏi Việt Nam, nhiều nơi trên thế giới dựng bia, đánh dấu thời gian người Việt Nam bỏ nước ra đi tìm tự do.

Ngày 12 tháng 9 năm 2009, người Việt tại Đức dựng tượng đài bằng đồng với bia tri ân Cap Annamur và nhân dân Đức tại cảng Hamburg. Buổi lễ khánh thành và tri ân nước Đức được tổ chức trang trọng và có sự hiện diện của Bộ trưởng nội vụ Wolfgang Schäuble, chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) Franz Müntefering, cựu thống đốc tiểu bang Niedersachsen Ernst Albrecht (người đầu tiên nhận thuyền nhân vào Đức), ông Philipp Rösler bộ trưởng kinh tế và nhiều nhân vật khác cùng hơn 1200 người Việt

Sau khi hoàn thành sứ mạng nhân đạo cứu thuyền nhân Việt Nam, Uỷ Ban Cap Anamur vẫn tiếp tục giúp đỡ cho nhiều người tỵ nạn chiến tranh xây dựng lại nhà cửa, trường học … Tháng 4 năm 2003 ông là người đồng sáng lập tổ chức hòa bình quốc tế Grünhelme eV (Mũ bảo hiểm xanh lá cây) nhằm giúp xây dựng lại những trường học, làng mạc trong các vùng bị chiến tranh tàn phá tại Congo Kosovo, Sudan, Syria, Iraq, Afghanistan, Nordafrika, Colombia, Ethiopia Haiti, Macedonia Albania v.v… và cả Việt Nam

Ông đã nhiều lần tới thăm Israel và vùng lãnh thổ Palestine để tìm hiểu hàng rào ngăn cách mà Israel đã dựng lên, cùng hiện trạng sinh sống của người Palestine ở Bờ Tây. Năm 2005 ông đã xuất bản quyển “Ich will nicht mehr schweigen. Recht und Gerechtigkeit in Palästina” (Tôi sẽ không im lặng nữa. Luật pháp và Công lý ở Palestine) nhằm bênh vực những người Palestine và bị Hội hữu nghị Đức-Israel chỉ trích dữ dội.

Những thập niên qua, trong việc cứu trợ nhân đạo, ông còn xuất bản nhiều tác phẩm phát xuất từ sự rung động trái tim của ông bà Neudeck, như tác phẩm Die Menschenretter von Cap Anamur; ông luôn hãnh diện về vệc cứu vớt thuyền nhân VN hội nhập thành công tốt đẹp, thế hệ thứ II trở thành những công dân ưu tú của nước Đức luôn bảo tồn văn hoá và bản sắc dân tộc.

Rupert Neudeck_html_m782c647eNăm 2009 kỷ niệm 30 năm người Việt tại München, ông viết trong Đặc San Hồi tưởng đời Tỵ Nạn. „Người Đức chúng ta, giờ đây bao gồm cả 80.000 người Đức gốc Việt, hãy nhận như một lời nguyện suốt đời. Bất kỳ nơi đâu, trên mặt đất, dưới nước hay trên trời, nếu có người bị tra tấn, hành hạ, bị theo dõi, xua đuổi, bị đánh đập, ép buộc lao động, bị giam giữ dưới các chế độ độc tài, chúng ta phải can thiệp cho họ.“

Ngày 09.8.2014 tại Hamburg kỷ niệm 35 năm tỵ nạn của người VN và cũng là sinh nhật thứ 75 của ông, mọi người đều chúc tụng mong ông khoẻ mạnh sống lâu, để ông giúp những người chạy trốn chế độ độc tài, chiến tranh bớt khổ đau.

Ông bị bệnh tim được giải phẩu chửa trị nhiều lần, dù sức yếu nhưng ông thường bay đến nhiều nơi vận động giúp đỡ làn sóng người tỵ nạn Syrien và Phi châu bị chết đuối trên biển Điạ Trung Hải… nhưng cuộc đời không tránh khỏi quy luật của tạo hóa „sinh lão bệnh tử“. Ngày 31.5.2016 ông qua đời hưởngthọ 77 tuổi, trong sự thương tiếc của Cộng Đồng Người Việt tại Đức cũng như trên thế giới.

Ông Ulrich Kasparick, cũng là bạn của TS Rupert Neudeck, ngỏ ý trước sự ra đi của TS Neudeck“, trái tim của Rupert lớn đến nỗi không ai có thể mổ tim ông được, tim ông đủ chứa được toàn thế giới.

Tiến sĩ Wolfgang Thierse, cựu chủ tịch Quốc Hội Đức, đã phát biểu trong buổi lễ : „Ủy Ban CAP ANAMUR và HỘI MŨ XANH đều là hai tổ chức nhân đạo nhỏ bé có tính cách gia đình và không bị ràng buộc vào những thủ tục hành chánh rườm rà, nhưng là một ràng buộc liên kết vĩ đại của trách nhiệm dấn thân của từng cá nhân, lòng đam mê, sự căng thẳng, tính bền chí và nỗi hân hoan trong từng dự án nhân đạo. Ông nói tiếp: „Lòng đam mê hoạt động nhân đạo cứu người của ông bà Christel và Rupert Neudeck đã truyền nhiễm đến rất nhiều người, để từ đó họ tích cực trực tiếp hỗ trợ hoặc đóng góp tài chánh cho tổ chức nhân đạo của ông bà“. Ông cũng ngỏ lời khen ngợi: „Ông bà Neudeck đã đóng góp một phần nào đó để bộ mặt của nước Đức được tươi sáng hơn“.

Đài truyền hình WDR của Đức dùng một danh từ “Menschenfischer” – “Kẻ chài lưới người” để nhắc đến ông Dr. Rupert Neudeck, tờ báo khác lại nhắc đến ông Neudeck với một danh gọi khác trong Phúc Âm là người Samaritanô nhân hậu thương người. Người Việt Nam chúng ta gọi ông là một vị Thánh, một Bồ Tác, Tin ông qua đời nơi nào có Cộng Đồng Việt Nam dù Công Giáo hay Phật Giáo đều có Thánh lễ, cầu kinh trang trọng để tưởng niệm người đại ân nhân của chúng ta .

Thủ tướng Angela Merkel khen ngợi Dr. Rupert Neudeck: “Một gương mẫu thực sự của nhân loại đang sống. Đất nước mất đi một nhà hoạt động thế giới về nhân quyền và tình người. Rupert Neudeck không bao giờ dùng bản thân để lạm dụng; ông luôn luôn nhìn thấy nó như là nhiệm vụ của mình để đóng góp thiết thực nhằm giảm bớt đau khổ của con người.” Và chia buồn với bà quả phụ Christel Neudeck không quên công ơn bà „đã giúp vào việc làm nhân đạo của chồng”.

Tổng thống Đức Joachim Gauck khen ngợi Dr. Rupert Neudeck là một người chiến đấu cho con người gặp khó khăn. Số phận của những người nghèo ở các khu vực xung đột luôn ở trong trái tim của ông. “Ông Neudeck đã thấy và đã hành động – và kéo dài suốt đời.” Công việc của ông Neudeck là một “tấm gương sáng nhân hậu từ một cá nhân có thể làm được. Dr. Rupert luôn luôn là một tấm gương cho chúng ta.”

Rupert Neudeck_html_m7df51477Ngày14 tháng Sáu lễ tưởng niệm Dr. Neudeck tại Thánh đường St Aposteln do Tòa Tổng Giám Mục Giáo phận Köln tổ chức và Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ lễ, với 12 linh mục người Việt, có những LM ngày xưa được tàu Cap Anamur cứu vớt.

Lúc 10 giờ người con trai của ông Neudeck mang tấm hình lớn của thân phụ để trên giá cao bên phải Cung Thánh và một bó hoa của nhà thờ, tấm hình với đôi mắt nhìn xa như chờ đón những người con trở về, chính đôi mắt thiên thần đó từng nhìn thấy nỗi đau của những con người bất hạnh, bị đàn áp và chạy trốn. Nhiều người đến trước di ảnh tưởng niệm ông với những giọt nước mắc thương tiếc. Nếu ngày xa xưa ấy không được ông cứu giúp thì không thể có cuộc sống như ngày nay trên nước Đức. Trên thềm của Cung thánh nhiều tràn hoa đẹp, hai tràn hoa với biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH là những người Việt Nam yêu tự do và dân chủ phải rời bỏ Quê hương vì lý do chính trị.

Rupert Neudeck_html_m6bfc765Người Việt tại Munich cũng như Berlin ở xa Köln/ Cologne phải đi trước từ tối thứ Hai. Đoàn người từ München và vùng phụ cận thuê xe Bus 78 chỗ khởi hành lúc 22:30 tối ngày 13/6 đến Köln 6:30 sáng 14.6. Chúng tôi in hình Dr. Neudeck cũng như tàu Cap Anamur I để trước xe, khởi hành Sr. Hiền và những Kitô hữu cùng đọc kinh, Lạy Cha, Kinh kính mừng và kinh cầu hồn cho Dr. Neudeck, Cầu xin chúa ban bình an cho đoàn München đi đến nơi về đến chốn, chúng tôi có thêm tình thân đồng hương nổng ấm, nhiều anh chị sau 35 năm mới gặp nhau, ôn lại chuyện cũ của những ngày lênh đênh trên biển, may mắn được Cap Anamur vớt, lên tàu được 1 tiếng thì mưa bảo sóng to nếu không được Cap Anamur vớt thì ghe đã chìm xuống lòng đại dương làm mồi cho cá mập! Nhiều ghe thoát khỏi hải tặc Thái. Có những anh chị không được Cap Anamur vớt cũng cùng đồng hành với chúng tôi đi tham dự Thánh lễ góp lời cầu nguyện. Thể hiện tấm lòng biết ơn của người Việt với đại ân nhân, những người không xin được nghĩ phép và những người lớn tuổi điện thoại cho tôi xin đóng góp tiền thuê xe, tiền phúng điếu theo kiểu Việt Nam. Chúng tôi là những người quý trọng đại ân nhân Dr. Neudeck ở München tổ chức chuyến đi được đồng hương tin tưởng là một niềm vui khó quên. Chúng tôi không nhận tiền của người nào, ai đi có mặt trên xe thì tính theo đầu người chia đều nhau. (Riêng chi phí tràn bông 200 € được anh chị Trần Minh Ân ngay từ đầu chịu hết, nhưng có thêm gia đình Nguyễn Phước Thành và Hưng cũng muốn đóng góp, tôi đề nghị anh em Nguyễn Phước Thành đóng 100€, thật cảm động bác Phú 93 tuổi hưởng tiền già, Bác muốn đóng góp thêm 100€ tôi cảm ơn bác xin nhận 10€ danh dự góp vào tràn bông, tôi trả lại cho anh chị Ân 10€. Ngày cuối bác Nguyễn Kim Định, anh Mã Bé gọi xin đóng góp. Cám ơn tấm lòng của quý vị mạnh thường quân, tôi không nhận thêm tiền vì tràn bông đã đặt xong). Anh Thu nhận của người bạn 10€ phúng điếu, nếu trả lại thì người ta buồn, nên chúng tôi bỏ 10€ đó vào tiền lễ tại nhà Thờ. Tràn bông cũng héo tàn, nhưng lòng người là những cánh hoa tươi đẹp, nở mãi không tàn đó là lòng ngưỡng mộ và nhớ ơn đại ân nhân Dr. Neudeck.

Các cơ quan truyền thông Đức tường thuật khen ngợi về tình nghiã sau đậm của Thuyền nhân VN đối với Dr. Neudeck, trong nhà thờ không còn chỗ. Đoàn chúng tôi tới sớm có chỗ ngồi, phái đoàn Hamburg xe bus tới trể nhiều người phải đứng ngoài sân…Thánh lễ tưởng niệm cữ hành trang trọng, hơn một ngàn người Đức-Việt cùng hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn Dr. Rupert Neudeck sớm vào nước Chúa nghỉ ngơi. Chia buồn với gia đình bà Neudeck ông cựu chủ tịch Quốc hội, Cha xứ nhà thờ, đại diện người Việt là bác sĩ Nguyễn Đình Quang 38 tuổi là một thuyền nhân được con tàu CAP ANAMUR vớt năm 1981 từng mổ tim cho ông Neudeck. Dr. Quang nói „Trong trái tim chúng tôi vẫn sẽ mãi giữ hình ảnh Rupert Neudeck, suốt cuộc đời này sẽ không quên ông, vì chúng tôi mang ơn ông, vì tình yêu thương của chính ông và gia đình ông dành cho chúng tôi quá to lớn!…“

Trong những năm cuối sức khoẻ yếu kém ông Neudeck đi ít hơn trước, dù có quá nhiều dự án chưa được thực hiện. Cuối đời của ông vấn đề tỵ nạn vẫn là mối quan tâm lớn nhất trong trái tim của ông. Gia đình ông Neudeck không nhận tiền phúng điếu, nhưng dự án nhân đạo của ông còn tiếp tục nếu quý đồng hương có tấm lòng hãy tiếp tục hỗ trợ cho. Gruenhelme e.V

https://gruenhelme.de/spenden-blank/online-spendenformular-3

Chính quyền Troidorf sẽ có một địa điểm trong thành phố hay con đường mang tên Dr. Rupert Neudeck. Cộng Đồng Người Việt sẽ xin phép dựng tấm bia tưởng niệm để phần đầu bằng đồng đen của nhà điêu khắc đã làm từ nhiều năm trước. Chi phí đó nhờ quý đồng hương góp tay. Ban tổ chức sẽ thông báo số Konto để việc kiểm soát minh bạch tiền thu có chi phí.

Dr. Rupert Neudeck đã nhận nhiều giải thưởng cao quý

1978 – Cavaliere-Orden der Republik Somalia

1985 – Theodor-Heuss-Medaille

1991 – Bruno-Kreisky-Preis für Verdienste um die Menschenrechte- Giải Nhân quyền Bruno-Kreisky

1998 – Erich-Kästner-Preis des Presseclubs Dresden e.V.

1999 – Frankfurter Walter-Dirks-Preis

2003 – Marion Dönhoff Preis

2005 – Ehrendoktorwürde der Westfälischen Wilhelms-Universität Münster

2006 – Europäischer Sozialpreis

2007 – Steiger Award in Bochum

2007 – Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen

2011 – Ehrendoktorwürde der Universität Prizren

2012 – Ritter der Ehrenlegion

2014 Deutschlands Bürger des Jahres vom Bundesverband Deutscher Zeitungsverleger

2014 – Internationaler Menschenrechtspreis, Dr. Rainer Hildebrandt-Medaille

2015 – Bürgerpreis der deutschen Zeitungen

2016 – Erich-Fromm-Preis an das Ehepaar Neudeck

2016 – „Den Bornheimer“ der Europaschule Bornheim

Rupert Neudeck được bầu chọn vào danh sách Unsere Besten.

Hình đoàn München đến Köln

https://goo.gl/photos/t9uu5DvvMFuBZmru6

Mời độc giả nghe tường thuật Thánh Lễ Cầu Nguyện

http://bit.ly/28V9Qwu

http://bit.ly/28W8L89

http://bit.ly/28U6HvR

http://bit.ly/295QVRH

Nguyễn Quý Đại

KÖLN/ Cologne:

Câu nói từ thời La Mã cổ đại: “Chưa ghé Köln, có nghĩa là chưa đến nước Đức” là thành phố lớn thứ 4 và là một trong những thành phố cổ nhất của nước Đức.

Được xem là một trong những thành phố cổ kính nhất của châu Âu, Köln/Cologne giống như cuốn sách ba chiều về lịch sử và kiến trúc, mà nổi bật nhất là các kiến trúc nhà thờ được xây dựng từ thời trung cổ.

Nhà thờ lớn Kölner Dom được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1996. Kiến trúc Dom tổng hợp giữa hội họa và điêu khắc được xây dựng vào tháng 8/1248 và việc thi công dở dang suốt thời Trung cổ, đến năm 1880 mới hoàn thành. Nhà thờ lớn này là một trong những nhà thờ lớn nhất trên thế giới, được xây dựng theo kiến trúc Gotich thuần túy rộng 45m, dài 144,5m với hai tháp đôi khổng lồ cao 157m. Bên trong nhà thờ, chậm bước dọc lối đi chính và ngắm những mái vòm Gothic cao nhất thế giới cùng bốn bức tường được trang trí bằng các bức bích họa mô tả cảnh trong Kinh thánh, các cửa sổ đều được lắp kính đổi màu lộng lẫy, nhiều chi tiết trang trí, vật dụng được dát vàng.

Nhà thờ Kölner Dom còn lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật kiến trúc thế kỷ 12. Trong số các bảo vật được trưng bày trong 6 gian phòng trên tầng 3 của nhà thờ, nổi tiếng nhất là cỗ quan tài bằng đá mạ vàng chạm trổ rất đẹp. Tương truyền trong quan tài có thánh cốt của 3 nhà thông thái (ba Vua) trong sách Phúc Âm. Năm 1864, khi mở nắp quan tài, người ta đã tìm thấy các bộ xương và quần áo có niên đại 2.000 năm. Gần bên cỗ quan tài là cây thập tự lớn được chạm khắc trên gỗ sồi vẫn còn dấu sơn và mạ vàng. Nhà thờ có 11 quả chuông, nổi bật nhất là chiếc chuông rung tự do lớn nhất thế giới mang tên “Chuông của Thánh Peter”, nặng 24 tấn.

Thánh lễ cầu nguyện cho Dr. Rupert Neudeck tại Thánh đường St Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki (Tổng Giám Mục tổng giáo phận Köln) chủ lễ. Thánh đường St Aposteln cổ khởi đầu từ cuối thế kỷ thứ 9 về lịch sử văn hóa là 12 nhà thờ trong nội thành theo phong cách Kiến trúc Roman (tiếng Anh: Romanesque. Phần lớn các nhà thờ này đã hư hại nặng trong chiến tranh, mãi đến năm 1985 việc tái kiến thiết mới hoàn thành.

Ngày 18 tháng 9 năm 1965 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phong thánh đường nầy lên bậc Tiểu Vương Cung Thánh Đường.

Posted in Nhan Vat, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

► Hoàn tất trùng tu nghĩa trang thuyền nhân Việt ở Bataan, Philippines, sau 10 năm ấp ủ

Posted by hoangtran204 on 07/08/2016

Hoàn tất trùng tu nghĩa trang thuyền nhân Việt ở Bataan sau 10 năm ấp ủ

6-8-2016

Buổi lễ có sự tham dự của 30 thành viên trong đoàn văn khố thuyền nhân Việt Nam. (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)

Lê Hữu Thành/Người Việt (từ Manila) 6-8-2016

PHILIPPINES (NV) – “Có lẽ đây là một cảm giác vừa vui mừng vừa bùi ngùi. Vui mừng vì sau bao nhiêu năm có thể nói là một thập niên rồi mới có dịp tạo cảnh mồ yên mả đẹp cho những đồng bào bất hạnh nằm lại nơi đây.” Sư Budhano Minh Trí từ chùa Bửu Môn, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, cho biết cảm tưởng của mình khi cùng lãnh đạo các tôn giáo khác đến chứng minh cho lễ khánh thành nghĩa trang thuyền nhân Việt Nam tại Bataan, Philippines

Sáng ngày 4 tháng 8 năm 2016, khoảng 30 người trong đoàn văn khố thuyền nhân Việt Nam từ Manila trải qua chặng đường hơn 4 tiếng đến Bataan, trong vùng vịnh Subic để tổ chức lễ khánh thành nghĩa trang thuyền nhân Việt hay còn gọi là công viên tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam.

Linh Mục Phạm Chánh và Linh Mục Nguyễn Ngọc Dũng rảy nước thánh cầu nguyện cho những đồng bào không may nằm lại nơi này. (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)

Theo ông Nguyễn Văn Sơn, thuộc tổ chức văn khố thuyền nhân Việt Nam thì đây là dự án do tổ chức thiện nguyện VHelp ở Úc gây quỹ và văn khố thuyền nhân Việt Nam thực hiện từ năm ngoái và đến bây giờ mới hoàn tất. Quy mô khoảng 5 ngàn mét vuông gồm các hạng mục như nhà nguyện, cổng nghĩa trang và làm lại khoảng 300 bia mộ, trồng các hàng cọc xung quanh để đánh dấu nghĩa trang….

“Mặc dù quý vị thấy xung quanh vẫn còn ngổn ngang các vật dụng xây dựng vì điều kiện thời tiết và nhân công nên nhà thầu đã không hoàn thành dự án đúng thời gian như chúng tôi muốn. Nhưng có thể nói đến 80, 90% đã xong, và vì sự chuẩn bị các nhóm của nhiều quốc gia nên không thể đình hoãn được.

“Chúng tôi đến đây ngày hôm nay với sự chứng giám của lãnh đạo các tôn giáo như Phật Giáo là Thượng Tọa Thích Phước Tấn và Sư Minh Trí, cũng như về Thiên Chúa Giáo chúng tôi có linh mục Nguyễn Ngọc Dũng và Phạm Chánh để cùng chứng minh lễ khánh thành ngày hôm nay cùng với khoảng 30 thành viên đến từ nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Úc và Việt Nam để tưởng niệm các đồng bào nằm xuống khu nghĩa trang này, đồng thời cảm ơn chính phủ cũng như nhân dân Philippines đã có những cái công sức, giúp đỡ cũng như bảo tồn những ký ức, kỷ niệm thời sinh hoạt của Người Việt tại đây,” ông Nguyễn Văn Sơn cho hay.

Sư Minh Trí và Thượng Tọa Thích Phước Tấn làm lễ cầu nguyện cho công trình nghĩa trang. (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)

Cảm thấy hạnh phúc khi thấy người Việt đến thăm nghĩa trang

Đó là tâm sự của ông Marion C.Mamauag, giám đốc phát triển kinh doanh của cơ quan cải cách và phát triển hạ tầng Philippines (BCDA), trực thuộc phủ tổng thống, tổ chức quản lý trực tiếp trung tâm tiến hành thủ tục tị nạn Bataan, nay là công viên công nghệ Bataan.

Ông Đặng Trung Chính (phải) đại diện tổ chức VHelp trao kỷ niệm chương cho ông Marion C. Mamauag, giám đốc phát triển kinh doanh của cơ quan cải cách và phát triển hạ tầng Philippines (BCDA). (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)


“Cách người Việt Nam tôn vinh người chết bằng việc tới đây và khôi phục lại các nghĩa trang làm cho tôi thấy niềm tự hào dân tộc. Bởi vì mọi người đến đây làm nhắc nhớ lại những kỷ niệm, kinh nghiệm sống của những người qua đời ở đây cho chúng tôi.

“Đây là một cảm giác tốt khi nhìn thấy những người mới tham quan nơi này,” ông Marion bày tỏ.

Ông Nguyễn Văn Sơn chia sẻ rằng chính cơ quan BCDA đã hướng dẫn tổ chức văn khố thuyền nhân Việt Nam trong việc xin giấy phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi để hoàn tất dự án. Mặt khác về Ban Quản Trị trung tâm tiến hành thủ tục tị nạn Bataan đã mở cửa đón tiếp đoàn trong tình thân và trong một sự quyến luyến. Vì trong ban quản trị trại hiện nay có khá nhiều những nhân viên trước đây đã từng là thiện nguyện viên giúp đỡ người tị nạn trong 25, 30 năm trước.

Bia mộ thuyền nhân Việt Nam cho những ngôi mộ vô danh. (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)

Trả lời câu hỏi liệu của Người Việt liệu có khó khăn gì từ phía đại sứ quán Việt Nam trong quá trình xây dựng nghĩa trang, ông Marion nói rằng đây không phải là một dự án chính trị, mà là một dự án nhân đạo.

“Tôi nghĩ rằng sẽ không có vấn đề với chính phủ Việt Nam khi phát triển nơi này vì đây là một di tích lịch sử. Không chỉ người Việt Nam mà người dân Cambodia và Lào cũng đã được tiến hành thủ tục tị nạn ở đây trong những năm 1980.

“Thực tế đây là một nghĩa trang thuyền nhân Việt Nam, vì vậy không có vấn đề khi xây dựng nó và làm cho nó đẹp hơn,” ông Marion khẳng định.

Công trình ấp ủ 10 năm qua

Tháng 4 năm 2006, lần đầu tiên ông Trần Đông, và tổ chức văn khố thuyền nhân Việt Nam ghé thăm nghĩa trang Bataan, nơi có khoảng 300 ngôi mộ được mai táng trong cảnh mồ xiêu mả lạc. Hầu hết các ngôi mộ ở đây chỉ được đánh dấu bằng những vòng đá nhỏ to khác nhau, chỉ có vài ngôi mộ được xây kiên cố cũng không còn nguyên vẹn.

Mùa mưa ở đây thì nước ngập các ngôi mộ và làm xói mòn. Mùa khô thì cỏ tranh mọc quá đầu người khiến những ai đến đây thăm viếng không khỏi xót xa.

“Trong 10 năm qua dự án trùng tu nghĩa trang thuyền nhân Việt Nam ở Bataan lúc nào cũng ở trong trái tim tôi. Ngày hôm nay nhìn thấy những khó khăn đã trôi qua, và sắp tới dự án trên đà hoàn tất và sẽ hoàn thành 100% trong vòng một tháng tới khiến tôi cảm thấy rất vui và hạnh phúc.

“Khu nghĩa trang này là khu nghĩa trang lớn cuối cùng trên đoạn đường trùng tu tất cả mộ thuyền nhân Việt Nam tìm thấy được trong vùng Đông Nam Á gồm có Malaysia, Indonesia và Philippines. Xong khu nghĩa trang này thì chúng tôi cũng có thể nói nhiệm vụ, bổn phận của chúng ta đối với những đồng bào bỏ thân, chết oan ở rừng hoang đảo vắng nơi xứ người cũng đã hoàn thành,” ông Trần Đông chia sẻ cảm xúc.

Ông Trần Đông (ngoài cùng bên phải) phát biểu tại buổi lễ khánh thành nghĩa trang thuyền nhân. (Hình: Lê Hữu Thành/Người Việt)

Sư Budhano Minh Trí bùi ngùi: “Trong số nửa triệu người được định cư ở các nước tự do để có tương lai cho bản thân, gia đình và con cháu thì những đồng bào này lại nằm ở đây rất là hiu quạnh.”

“Dù sao nữa thì đây là một công trình rất đáng để chúng ta thực hiện, rất đáng để chúng ta quan tâm tại vì những đồng bào này là chứng nhân thực sự, họ đã bỏ đất nước ra đi để tìm tự do và sự hi sinh của họ nói lên 1 phần nào ý nghĩa của sự tự do là khi cần đi tìm tự do, khi cần chối bỏ độc tài thì người ta sẵn sàng hi sinh cả mạng sống của mình,” Sư Minh Trí nói thêm.

Trung tâm tiến hành thủ tục tị nạn Bataan, Philippines mở cửa năm 1980 và đóng cửa vào năm 1990 khi làn sóng thuyền nhân giảm dần. Trong quá trình hoạt động có khoảng 400 ngàn người đã đến trại này để học văn hóa, học nghề, tiếng Anh để đi định cư ở các nước, phần nhiều là sang Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, làn sóng thuyền nhân Việt Nam vẫn chưa chấp dứt khi những năm gần đây người Việt Nam vẫn bỏ nước ra đi để tìm tự do.

Sư Budhano Minh Trí cho rằng: “Đó là một điều rất là đáng tiếc, tại vì 40 năm trước hàng triệu người bỏ nước ra đi vì họ không chấp nhận độc tài và muốn hưởng sự tự do. 40 năm qua, vẫn còn một số người vẫn tiếp tục ra đi vì Việt Nam chưa có được sự tự do. Hoàn cảnh đất nước có thể thay đổi nhưng độc tài vẫn còn, đó là lý do tại sao một số đồng bào vẫn bỏ nước ra đi bằng hình thức này hay hình thức khác.”

Nguoi-viet.com

 

 

Posted in Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Chúng ta có thể làm được gì cho đất nước?

Posted by hoangtran204 on 29/10/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

28-10-2015

Với chữ “chúng ta” ở đây, tôi chỉ giới hạn trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại.

Nghe nói cộng đồng ấy đã lên đến trên dưới bốn triệu người sống rải rác trên khoảng một trăm quốc gia trên thế giới. Đó là một cộng đồng khá đa tạp, bao gồm nhiều thành phần khác nhau, những cách thức rời bỏ quê hương khác nhau, từ những người vượt biên và những cựu tù nhân chính trị được ra đi chính thức đến những người được thân nhân bảo lãnh, các cựu du học sinh và những người quyết định định cư ở nước ngoài chỉ vì lý do thuần tuý kinh tế.

Tuy đa tạp như vậy, nhưng tất cả đều có một số điểm chung. Chung ở hoàn cảnh: lưu vong. Chung ở tâm thế: tâm thế lưu vong. Theo các nhà Lưu vong học, tâm thế ấy bao gồm bốn điểm chính: Thứ nhất, tất cả đều chia sẻ một số ký ức tập thể chung liên quan đến nguồn cội. Thứ hai, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều cảm thấy ít nhiều lạc lõng trên đất khách. Thứ ba, tất cả đều không nguôi nhớ về quê cũ, thi vị hoá quá khứ, đau đáu theo dõi từng diễn biến trong đời sống chính trị ở cái nơi mình đã bỏ ra đi. Cuối cùng, thứ tư, như là hệ quả của ba đặc điểm vừa nêu, tất cả đều sống trong trạng thái ở giữa: giữa quê cũ và quê mới, giữa quá khứ và hiện tại, giữa hoài niệm và hoài bão, giữa đây và đó.

Trong các đặc điểm vừa nêu, điều đáng chú ý nhất là những ám ảnh về quê cũ. Những ám ảnh ấy có nhiều biểu hiện khác nhau. Có người thấy thoả mãn với việc thỉnh thoảng bay về quê hương như một du khách. Có người thường xuyên theo dõi các biến chuyển ở quê hương một cách thụ động. Có người trăn trở muốn làm một cái gì đó để thay đổi tình hình đất nước. Chính với nhóm người sau cùng này, một câu hỏi thường được đặt ra: Liệu những nỗ lực của họ có thành hiện thực? Hay nói cách khác, rộng hơn, liệu những người đó có thể làm được gì cho đất nước?

Để trả lời câu hỏi ấy, không thể không nhìn lại kinh nghiệm của các cộng đồng lưu vong trên thế giới. Sau năm 1917, cả hàng triệu người Nga bỏ nước ra đi. Sau năm 1945, hàng triệu người Đông Âu bỏ nước ra đi. Họ, cũng giống chúng ta, không ngớt thao thức về đất nước, và một số khá đông cũng tìm mọi cách để dân chủ hoá đất nước của họ. Nhưng họ còn hơn chúng ta ở một điểm: Trong họ, có nhiều tài năng có tầm vóc thế giới, nhiều tên tuổi nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khác nhau, từ khoa học đến văn học nghệ thuật. Cuối cùng, họ đã làm được gì cho đất nước của họ?

Câu trả lời khá buồn: hầu như không được gì cả. Từ đầu thập niên 1980 trở về trước, bất chấp những sự phê phán và phản kháng của các cộng đồng lưu vong ở nước ngoài, các chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu vẫn vững mạnh. Cuối thập niên 1980, các chế độ cộng sản ở những nơi ấy lần lượt sụp đổ vì những lý do khác chứ không hề từ những nỗ lực tranh đấu từ bên ngoài. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, các cộng đồng lưu vong cũng không đóng góp được gì trong quá trình dân chủ hoá chế độ. Từ trước đến sau, các cộng đồng lưu vong đều là những kẻ ngoại cuộc, bất lực và vô vọng.

So với các cộng đồng lưu vong Nga và Đông Âu trước đây, cộng đồng lưu vong Việt Nam có gì khác?

Có.

Cái khác căn bản nhất là ở thời đại: Chúng ta, may mắn hơn, sống trong thời toàn cầu hoá, trong đó, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet, phát triển vượt bậc khiến quan hệ trong và ngoài nước được dễ dàng và vô cùng nhanh chóng. Trước, những tiếng nói phản kháng của những người lưu vong, kể cả những người từng đoạt giải Nobel về văn chương, từ Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008) đến Joseph Brodsky (1940-1996), đều chỉ vang lên ở Tây phương chứ không vọng về được trong nước họ. Bây giờ, với chúng ta, tình hình khác hẳn. Bất cứ tiếng nói nào được cất lên ở hải ngoại, qua mạng lưới internet, được người trong nước nghe ngay tức khắc. Con đường ngược lại cũng tương tự: một tiếng kêu từ trong nước, trong vòng tích tắc, đã được tiếp nhận ở hải ngoại.

Với những quan hệ chặt chẽ giữa trong và ngoài nước như vậy, những nỗ lực tranh đấu của người Việt ở nước ngoài sẽ dễ có hiệu quả hơn. Hiệu quả ấy có thể thấy trên hai khía cạnh: Thứ nhất, người Việt ở hải ngoại đóng góp phần lớn vào tiến trình quốc tế hoá cuộc đấu tranh trong nước. Một trong những lý do chính làm cho các chính phủ Tây phương cũng như các tổ chức về nhân quyền trên thế giới biết đến những sự đàn áp thô bạo của chính quyền Việt Nam chính là nhờ các nỗ lực vận động của người Việt ở nước ngoài. Không có họ, các tiếng gào thét cất lên từ trong nước rất dễ tan biến vào hư không. Thứ hai, điều người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp cho những người Việt tranh đấu ở trong nước là về phương diện lý luận. Người Việt ở trong nước có nhiều kinh nghiệm trực tiếp về sự độc tài và tàn ác của chế độ, nhưng điều họ thiếu là những kinh nghiệm về dân chủ cũng như tầm nhìn bao quát về địa chính trị vốn là mặt mạnh của những người Việt Nam ở hải ngoại.

Nói cách tóm tắt, qua các mạng truyền thông xã hội, người Việt trong và ngoài nước cùng bắt tay nhau trên con đường tranh đấu cho tự do và dân chủ. Mỗi bên đều có mặt mạnh và mặt yếu nhưng qua sự hợp tác, các mặt yếu sẽ được khắc phục và các mặt mạnh sẽ được phát huy. Tất cả sẽ góp phần hình thành nên một trận tuyến chung trong việc dân chủ hoá đất nước.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Thời Sự, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | 1 Comment »

►Phản biện bài viết Nghề Ăn Cắp Của Người Việt tại Đức của Phạm Thị Hoài

Posted by hoangtran204 on 03/08/2015

Đàn Chim Việt

Thạch Đạt Lang

31-07-2015

Nước Đức có 2 cộng đồng? (Ảnh em bé cầm 2 cờ trong cuộc biểu tình chống TQ ở Frankfurt hôm 5/6/2011

Con ơi giữ lấy nghề cha
Một ngày chôm, chỉa bằng ba năm làm!

Sau hơn 2 tháng đi chu du các cõi ta bà thế giới, từ Frankfurt qua San José, Orange County (California), đến Houston (Texas) rồi Calgary, Canada, tôi trở về Đức.

Hai tháng hơn không có đồng hồ báo thức, ăn ngủ kỹ, không màng đến thời sự thế giới lẫn Việt Nam, chỉ tận hưởng những niềm vui, cảnh đẹp, thức ăn ngon, lạ…nhất là ở Calgary, thăm viện bảo tàng Dinosaur, lễ hội Cowboys độc nhất còn lại của Canada với những bữa ăn sáng, trưa chùa ( không phải trả tiền ) thật ngon.

Trở về Đức, vào đọc Đàn Chim Việt info, gặp ngay bài của Phạm Thị Hoài viết về tật ăn cắp vặt của người Việt Nam tại Đức, tôi khá ngỡ ngàng.

Tôi không ngỡ ngàng về chuyện ăn cắp vặt của người Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới, nhưng tựa bài khiến tôi ngạc nhiên, bởi nó ngụ ý chua chát, mỉa mai, đồng thời có nhiều điểm có thể gây hiểu lầm, phẫn nộ cho nhiều người, nhất là những người Việt Nam tị nạn cộng sản ra đi từ miến Nam sau năm 1975.

Do đó, tôi đã viết ngay một ý kiến phản biện bài viết, nhưng rồi cảm thấy chưa nói đủ, đành phải viết thêm bài phảm biện này cho độc giả được rõ ràng hơn về cộng đồng người Việt Nam tại Đức.

Điểm sai lầm quan trọng trong bài của Phạm Thị Hoài là không nói rõ người Việt Nam tại Đức có 2 cộng đồng, phân biệt rõ rệt như các tác giả Đỗ Trường và Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu) đã viết trong các bài tôi được đọc trước đây trên ĐCV.

Hai cộng đồng này không hề có liên lạc, sinh hoạt hay dính dáng gì đến nhau và cũng gần như phân chia ranh giới rõ ràng. Cộng đồng mà Phạm Thị Hoài nói đến chủ yếu nằm ở Đông Berlin, miền đất thuộc cộng sản Đông Đức trước đây. Cộng Đồng của người Việt tị nạn CS nằm bên phần đất phía tây của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Cộng đồng thứ nhất, có tên Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản, thành lập vào những năm đầu của thập niên 80. Trước tháng 4/1975 chỉ có khoảng 200 sinh viên Việt Nam du học từ miền Nam tại Tây Đức cũ ( BRD=Bundes Republik Deutschland=Cộng Hòa Liên Bang Đức ). Do số lượng ít ỏi nên chưa hình thành được một cộng đồng VN.

Đến đầu thập niên 80 số lượng người Việt Nam ở Tây Đức tăng lên do chính phủ Đức nhận theo quota của chương trình ODP, cộng với số thuyền nhân do các thương thuyền của Đức cùng với gần 10.000 người do tàu Cap Anamur của Tiến sĩ Rupert Neudeck vớt ở biển Đông, cộng đồng này gồm hầu hết những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, ngoại trừ số người Hoa trên tầu Hải Hồng và một số ít người Bắc ra đi từ Hải Phòng được thương thuyền Đức vớt.

Tổng cộng đến cuối năm 1986, cộng đồng Người Việt Tị Nạn CS (viết tắt CĐNVTNCSVN ) có khoảng 40.000 người, phân tán, rải rác trong nhiều tiểu bang, thành phố chứ không túm tụm lại thành một nhóm hay khu phố.

Do có chính sách giúp đỡ, tái định cư rõ rệt, tất cả những người Việt Nam đến Đức theo chương trình ODP hoặc được tàu Đức vớt, đều được chính phủ Đức, các hội thiện như Caritas, Hồng Thập Tự…giúp đỡ trong chuyện học hành, đào tạo nghề nghiệp, tìm kiếm nhà cửa, việc làm, trường học…

Do đó, hầu hết đã nhanh chóng ổn định đời sống, dễ dàng hội nhập vào đời sống mới, hoàn toàn không có việc trộm cắp, buôn bán ma túy, thuốc là, cướp của giết người hay thanh toán nhau để tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn.

Cộng Đồng NVTNCSVN trong thời gian đó đã có rất nhiều sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị…giới thiệu với người dân Tây Đức về đất nước Việt Nam như tổ chức Tết Việt Nam, giỗ tổ Hùng Vương, biểu tình chống chế độ cộng sản ngày 30/04 tại Bonn ( thủ đô của Tấy Đức cũ )… tạo được nhiều thiện cảm, ấn tượng đẹp đẽ với người dân Tây Đức.

Cộng đồng NVTNCS này hầu như không có liên hệ gì với những sinh hoạt của tòa đại sứ CSVN, ngoại trừ một thiểu số rất ít, dính dáng chuyện giấy tờ hộ tịch, hôn thú, visa…

Xin nói về cộng đồng thứ hai, cộng đồng mà Phạm Thị Hoài đề cập trong bài.

Trước tháng 09 năm 1989 có khoảng 60.000 Việt Nam sống, du học và làm việc theo dạng khách thợ (Guest Worker) ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức cũ (DDR=Deutsche Demokratie Republik), đa số sống ở phía đông Berlin và các thàn phố Leipzig, Dresden, Cottbus…Khi bức tường Berlin sụp đổ, một làn sóng người dân Đông Đức tràn qua Tây Đức trong số có nhiều người VN nói trên.

Ngày 3.10.1990 nước Đức thống nhất, cái tên DDR hoàn toàn bị xóa xổ, 60.000 người VN đột nhiên trở thành một gánh nặng cho chính quyền Đức, họ sống chùm đụp vào nhau, làm đủ mọi nghề nghiệp để sinh tồn vì không còn nhà máy, không cò chỗ làm, không nơi cấp dưỡng…

Trong lúc giao thời, một số lớn bung ra tham gia vào sinh hoạt buôn lậu thuốc lá, thành lập băng đảng tội phạm đưa người nhập cảnh lậu từ biên giới Ba Lan vào Đức.

Sau khi kế hoạch giao trả 60.000 người khách thợ lại cho cộng sản VN bất thành vì sự gian trá, bội tín của chế độ CSVN, dù đã ký kết hiệp ước và chi trả 100.000.000 Đức Mã ( Deutsche Mark khi chưa có đồng Euro ), chính phủ Đức quyết định tái định cư 60.000 người này dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại vì gánh nặng tài chính cho việc thống nhất, trong đó chỉ riêng việc tái định cư cho đám hồng quân Liên Xô đóng trên Đông Đức cũ cũa đã tốn 150 tỉ Euro ( 150.000.000.000 ), chưa kể việc xây dựng lại hệ thống Infastructure trên phần đất mà chế độ CS Đức cai trị mấy chục năm dài đã bị xuống cấp thê thảm.

Cộng đồng VN thứ hai này được thành lập với con số 60.000 người, nay phát triển lên với khoảng 85.000 người. Do không có chính sách trợ giúp rõ ràng nên hầu hết những người khách thợ này phải mưu sinh bằng mọi cách, đủ mọi ngành nghề từ hợp pháp đến bất hợp pháp, từ mở nhà hàng, tiệm may, sửa, buôn bán quần áo jeans dỏm đến làm nail, buôn thuốc lá lậu…

Với chính sách cấp Duldung ( tạm dung ) và cho phép cư trú có thời hạn ( Begrenzte Aufenthaltsgenehmigung ) nếu chứng minh được đang có thu nhập hoặc nghề nghiệp tự sinh sống, những người Việt Nam nói trên được phép ở lại nước Đức. Theo thời gian, dần dần hầu hết trở nên hợp pháp, được nhập quốc tịch, bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang đoàn tụ …
Đa số sống lương thiện nhưng cũng không ít những kẻ chỉ mong làm giầu nhanh chóng, bất chính, một số trong họ thành lập băng đảng, cấu kết với tòa đại sứ CSVN ở Berlin, tổ chức đưa người nhập cảnh lậu qua Đức, Thụy Sĩ…bằng nhiều cách.

Việc thanh toán nhau đẫm máu giữa các băng đảng Quảng Bình, Nghệ An…tranh giành ảnh hưởng, khu vực làm ăn đã một thời làm ồn ào xã hội Đức ở Đông Berlin.

Bà Phạm Thị Hoài khi viết bài đã không nói rõ nước Đức hai cộng đồng, có thể chi do vô tình nhựng chắc chắn gây ngộ nhận về toàn thể người Việt đang sinh sống tại Đức.

Bài viết của Phạm Thị Hoài cũng không nói rõ nguyên nhân gây ra bệnh ăn cắp của người Việt ở Đức trong cộng đồng mà bà đề cập tới, mà cũng không riêng gì ở Đức, báo chí hàng ngày đăng rôm rả việc tiếp viên hàng không VN bị bắt vì ăn trộm hàng hóa trong siêu thị ở Nhật, Úc…, nguyên nhân chính là do chế độ cộng sản Việt Nam khốn nạn, gian manh, xảo quyệt, tàn ác, hèn nhát…mà Nguyễn Thiện Nhân là một trong những tên lãnh đạo đã gây ra.

Xã hội nào, con người đó. Khi những tên lãnh đạo cao nhất điều hành đất nước bằng ăn cắp, tham những, hối lộ, rút ruột công trình, bán đất bán biển.. để làm giầu với hàng trăm triệu, hàng tỉ đô la Mỹ không bị lên án, kết tội, tất nhiên đất nước đó sẽ sinh sản ra những con người mới nứt mắt đã thạo nghề hai ngón.

Tuy nhiên, nếu chỉ kết tội những kẻ ăn cắp từ vài trăm đến vài ngàn Euro mà quên đi những kẻ ăn cắp bạc tỉ đô la Mỹ thì thật cũng đáng buồn.

© Thạch Đạt Lang

© Đàn Chim Việt

—————————————————

Nghề ăn cắp của người Việt ở Đức

Báo Trẻ

Phạm Thị Hoài

28-07-2015

Có lần tôi đi một phiên tòa xử nhanh hai thanh niên Việt Nam ăn trộm trong cửa hàng. Một chàng diện Nike Air Max chói chang. Một chàng quần bò Dolce Gabbana rất xước. Cả hai đều mới sang Đức hai tuần trước, đơn xin tị nạn còn chưa nộp. Họ ăn trộm phụ kiện, nước hoa và mỹ phẩm trị giá gần 1000 Euro, trong một cửa hàng mà họ hiển nhiên là những vật thể lạ.

Xã hội tư bản tân tiến một thế kỷ rưỡi sau Marx đã xóa đi nhiều ranh giới giữa các giai cấp đối kháng, song lại mở rộng khoảng cách giữa các đẳng cấp. Hai thanh niên Nghệ An này chỉ cần đặt một nửa bàn chân vào cửa hàng đó là toàn hộ hệ thống báo động của nó đã đỏ rực. Hình phạt cho mỗi chàng là một cuối tuần quản thúc, tức chiều tối thứ Sáu khăn gói đến Nhà Quản thúc Thanh thiếu niên ở, chiều tối Chủ nhật được về. Đại diện tư pháp cho thanh thiếu niên cằn nhằn rằng thế hơi nặng, phạt lao động công ích là đủ rồi. Công tố viên nhún vai. Thẩm phán thở dài, biết rằng sớm muộn cũng gặp lại họ, nhiều phần sớm hơn phần muộn.

Người Việt ở Đức hoàn toàn vắng mặt trong những tội phạm cỡ lớn như khủng bố, đe dọa an ninh quốc gia; rất khiêm tốn trong những tội phạm tài chính và công nghệ cao; khá thứ yếu trong những lĩnh vực như ma túy, mại dâm…; quả thật không thể sánh vai các bạn thuộc khối Đông Âu cũ do Nga dẫn đầu; nhưng lừng danh trước hết với mafia thuốc lá lậu và ngay sau đó có thứ hạng đáng kể là những người ăn trộm, có lẽ chỉ đứng sau Rumani.

Trong ba năm gần đây, mỗi năm cộng đồng 84.000 người Việt ở Đức phạm khoảng 5000 vụ hình sự, trong đó trên dưới 1000 vụ là tội ăn cắp. Để so sánh: cộng đồng Trung Quốc 110.000 người, mỗi năm trên dưới 200 vụ ăn cắp. Trừ tranh tượng nghệ thuật và bí mật công nghệ, nói chung không có thứ gì mà người Việt ở đây không thể và không nỡ ăn cắp, từ mèo nhà hàng xóm, xe nôi, xe đạp, hộ chiếu, thẻ tín dụng, điện, nước, biển số, đến nhân thân, vịt trời…; làm nấm ăn cắp nấm, làm xúc xích ăn cắp xúc xích, làm quán ăn cắp tất cả những gì không còn nguyên niêm phong; song phổ biến nhất là ăn cắp trong cửa hàng.

Có thời, đồ ăn cắp được bày ngang nhiên ở nhiều góc Trung tâm Thương mại Đồng Xuân, khu chợ Việt Nam nổi tiếng tại quận Lichtenberg. Đồng bào xúm xít mua đồ tốt giá rẻ, từ hộp thuốc đánh răng, kem dưỡng da, rượu, cà-phê đến túi xách, áo da, quần bò hàng hiệu. Sự nghiệp bán thuốc lá lậu đã góp phần xây dựng cộng đồng người Việt ở miền Đông nước Đức trong 25 năm qua, song thời hoàng kim của nó đã là dĩ vãng, trong khi ăn cắp thì tương lai còn khá vững bền.

Người Việt bán thuốc lá lậu tại Đức - NGUỒN: SPIEGEL TV

Ta hãy nhớ lại: Ngày 10/5/1996, cuộc chiến giành quyền kiểm soát thị trường thuốc lá lậu ở Berlin giữa các băng đảng Việt Nam – mở màn ngày 6/12/1992 với một xác người Việt ở một bãi đậu xe tại quận Marzahn, Đông Berlin – đạt tới đỉnh cao ghê rợn: sáu người Việt bị hành hình trong một căn hộ chung cư cũng ở quận Marzahn, tất cả tay đều bị trói, mỗi người lĩnh chính xác hai viên đạn của băng Ngọc Thiện bắn vào đầu. Bốn ngày sau, để “tháng Năm đẫm máu” đi vào lịch sử tội phạm của thành phố này, băng Quảng Bình “bị hại” đáp lễ bằng ba xác người Việt vứt ở đường tàu quận Lichtenberg.

Một người Việt bị giết trong các cuộc thanh trừng của mafia thuốc lá - NGUỒN: SPIEGEL TV MAGAZIN

Mafia Việt Nam một thuở, nghe thì kinh, đếm xác nạn nhân càng kinh, song diện mạo thật thì thô sơ đến bất ngờ. Một số lính, được trìu mến hay trọng thị hay e sợ hay tất cả trộn lại – chỉ trừ không giễu nhại – gọi là “bộ đội”, quân chủ lực của băng Quảng Bình, sa vào tay cảnh sát Berlin không phải như trong phim hình sự, sau những pha săn lùng, đột nhập nghẹt thở. Mà đơn giản là ngớ ngẩn. Sau một phiên tòa xử tội ăn trộm một chiếc sơ-mi, một bộ đồ tắm và một chiếc quần short trị giá gần 500 DM trong cửa hàng xa xỉ KaDeWe, bị cáo là một phụ nữ Việt nhất định không chịu rời khỏi phòng xét xử. Cô run rẩy bảo, “bộ đội” đang chờ trước cửa tòa án, “bộ đội” sẽ bắt cóc cô để tra khảo, dù cô không khai gì trước tòa. Một trong những “bộ đội” ấy, súng giắt cạp quần ngẩn ngơ, gần như lao thẳng vào tay cảnh sát, và ngay trong ngày hôm ấy sào huyệt của Quảng Bình bị lật tung, một trong hai khẩu Kalashnikov thu được ở đó chính là vũ khí đoạt mạng ba người ở đường tàu. Vài hôm sau, một trong những “bộ đội” đang bị truy nã cũng dính lưới, không phải trong khi chôn sống một ai đó ngoài rừng, mà trong khi ăn trộm tại một cửa hàng ở quận Lichtenberg.

Ăn cắp vậy là đã góp phần thanh toán mafia thuốc lá, chuyện của người Việt thường trớ trêu như thế. Không bao giờ nghề buôn lậu thuốc lá của người Việt ở đây còn đạt tới quy mô huy hoàng của những năm chín mươi đó nữa. Đức không còn là điểm đến hấp dẫn nhất. Chính ở thời điểm đó, Anh quốc nổi lên, với lợi nhuận kếch xù từ nghề trồng cỏ. Người Việt nghèo nhưng nhiều tham vọng. Họ muốn giàu, nhưng phải là giàu một cục, thật nhanh, thật xổi. Chắt chiu những đồng tiền lẻ để khấm khá dần lên từng đời như người Tàu ở nước ngoài thì chẳng bõ.

Tháng Ba năm nay, một phụ nữ Việt Nam vừa bị kết án hai năm sáu tháng tù vì tội bán đồ ăn cắp tổng trị giá 136.000 Euro trong cửa hàng châu Á này - NGUỒN: MORGENPOST SACHSEN

Tuy một bước đổi đời bằng nghề cầm nhầm thì khó, song ăn trộm ở đây một ngày vẫn hơn đi cày ở nhà cả tháng. Và khác xa huyền thoại, đồng bào tôi – nhất là thế hệ hai chàng Nike và Dolce Gabbana – còn thiếu cần cù hơn cả thiếu kiên nhẫn. Ăn trộm là nghề nhàn, dạo phố, tia hàng, đi làm như đi chơi mà thu nhập không thua đứng đường bán thuốc lá từ sáng sớm đến tối mịt, tức mỗi tháng trên dưới một ngàn Euro, chưa kể tiền nhà, tiền bảo hiểm y tế và khoảng 350 Euro trợ cấp tị nạn, tất cả do nhà nước trả. Môi trường lại vô tận, nhân loại còn thì siêu thị còn, siêu thị còn thì người Việt còn. Và gần như không mất vốn. Một cái kìm cắt tem từ. Một cái túi lót lớp giấy bạc để tránh báo động khi qua cổng từ, gần đây người Việt giàu sáng kiến còn khâu luôn lớp giấy bạc vào mặt trong áo khoác. Và không cần qua đào tạo. Hôm trước theo đàn anh đàn chị đi tia, hôm sau tự mình đã ngon lành khánh thành công ty một thành viên hai ngón. Và ít mạo hiểm. Khung hình phạt cao nhất là năm năm, nhưng có ăn cắp cả Nữ thần Chiến thắng lẫn bốn con ngựa trên cổng thành Brandenburger Tor cũng chưa chắc được tuyên bản án ấy. Xã hội càng yên thì luật pháp càng hiền. Trong thực tế, không mấy người Việt phải ngồi nhiều hơn vài ba tháng. Phần lớn chỉ phạt tiền, mỗi tháng trả dần vài ba chục, án tù thường chuyển thành chế độ hưởng án treo. Thanh thiếu niên chưa tròn hai mốt tuổi thường chỉ bị cảnh cáo, phạt lao động công ích, tức dọn dẹp lau chùi ngay trong trại, hay quản thúc cuối tuần. Có lần tôi suýt phì cười vì bản án dành cho một thanh niên Việt Nam ăn cắp 17 gói cà-phê: bắt về trại đi học tiếng Đức!

Thế là hôm ấy khi ra cửa, tôi bảo, hai cháu chịu khó đi học tiếng Đức nhé, đừng ăn trộm nữa.

Chàng Dolce Gabbana đáp, bọn phát-xít, nó xử oan, cháu có cầm đồ đâu.

Cầm đồ ở đây không phải là cầm đồ mà là cầm đồ. Tôi đã tưởng mình khá thông thạo ngôn ngữ của đồng bào ở Berlin, song có lần hỏi một chị làm nghề gì và nghe câu trả lời, em nhặt tay nhặt chân, tôi vẫn hơi sững sờ. Ám ảnh của chiến tranh mấy chục năm trước vụt hiện về: đó là một buổi sáng, từ hầm trú ẩn nơi sơ tán chui lên, đứa trẻ khi ấy là tôi cùng người lớn và những đứa trẻ khác lặng lẽ đi nhặt những mẩu chân tay vô danh, có cái là nguyên một tảng ở khúc hông và bẹn, văng rải rác gần một hố bom mới toanh. Nhưng ở Berlin, người phụ nữ Việt Nam nọ là chủ một tiệm làm móng, việc thường trực là lấy khóe, tỉa da thừa ở móng tay móng chân.

Tôi hỏi, cái gì cầm đồ?

Chàng Nike nhanh nhẹn giải thích, đồ thì cháu cầm, thằng này – hất hàm về phía Dolce Gabbana – chỉ bóc tem thôi. Nhưng cháu đã ra đến cửa đâu. Luật pháp đéo gì, bất công!

Tôi bảo, bóc tem với cầm đồ thì đúng là định ăn trộm rồi, oan với ai nữa.

Dolce Gabbana trừng mắt: Cô bênh bọn Đức lợn hử? Người Việt thì phải giúp người Việt chứ! Cô có phải người Việt không hử?

Vâng, tôi đúng là người Việt, sống ở Đức. Tháng trước, ở TTTM Đồng Xuân, trong lễ hội “40 năm hội nhập và phát triển” của người Việt ở Đức, ông Nguyễn Thiện Nhân, tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đức, thay mặt chính phủ Việt Nam cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của chính phủ và nhân dân Đức, rồi kết thúc bài phát biểu bằng tiếng Đức của mình với lời gửi gắm đến cộng đồng người Việt đang sống ở đây: Đồng bào hãy chứng tỏ lòng biết ơn nước Đức bằng cách tôn trọng luật pháp Đức. Hóa ra là chuyện ơn huệ. Vậy việc hai khách du lịch Việt Nam vừa ăn trộm ở Zürich thật không đáng để làm ồn. Họ vừa không có gì mang ơn Thụy Sĩ để phải tôn trọng luật pháp nước này, vừa quá vặt vãnh so với hệ thống công ty hai ngón, chẳng hạn của người Việt ở Đức.

H1H1

anhbasam.wordpress.com

Posted in Công nhân xuất khẩu lao động nước ngoài, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Không phải tạm dung!

Posted by hoangtran204 on 07/03/2015

Không phải tạm dung!
Monday, February 23, 2015

Lệ Hoa Wilson

Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải Quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Đại gia đình tác giả (áo đỏ, đứng thứ 2 từ trái) trong lần cậu con trai út tốt nghiệp đại học UC Berkeley. (Hình: Tác giả cung cấp)

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảng. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.

Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:

“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.

Tôi trả lời:

“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”

Viên trung sĩ vội nói:

“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng,vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:

“Chồng bà yêu cầu tòa đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay.”

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:

“Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật…”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :

“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng Hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng Sản.

Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:

“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà.”

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:

“Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”

Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.

Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.

Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:

“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn.”

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông

“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”

Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp.”

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…” Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:

“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”

Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:

“Dạ tôi cũng không biết chắc.”

Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Đại gia đình tác giả chụp trong dịp Tết. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.

Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.

Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.

Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến Pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.

Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.

Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done.”

Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…

Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.

 

Nguồn: nguoi-viet.com

Bạn đọc viết, chủ đề: “30 Tháng Tư, 1975 – 2015: Tị Nạn và Hội Nhập”

 

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Câu chuyện tình Mỹ-Việt: David Brown – Tuyết Lê-Brown

Posted by hoangtran204 on 20/02/2015

Người Việt

Hà Giang

18-02-2015

WESTMINSTER, CA (NV) Chiều 29 Tết, trong khi trong bếp còn ngổn ngang với đám bánh Tét đang gói dở, nhà ngoại giao kỳ cựu, chuyên gia quốc tế về Ðông Á, cây bút phân tích tình hình biển Ðông nổi tiếng, David Brown, được cử đi chợ mua… nước mắm.

 Bà Tuyết Lê-Brown gói bánh Tét chuẩn bị mừng Tết Ất Mùi tại nhà riêng ở Fresno, California. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Lý do là vì, vợ ông, bà Tuyết Lê-Brown (tên Việt là Bạch Tuyết) chợt nhận ra rằng có lẽ chai nước mắm ở nhà không đủ để nấu món thịt kho trứng, món ăn Tết truyền thống của người miền Nam Việt Nam.

Việc phải đi mua nước mắm vào giờ chót, theo bà Bạch Tuyết, cũng phần lớn là “lỗi tại ông,” vì “ông ấy rất mê nước mắm, cho nước mắm vào hầu hết mọi món ăn.”

“Tôi mà không cản thì chắc ông ấy uống cả nước mắm nữa!” Bà Bạch Tuyết “than phiền” bằng cái giọng không giấu được hạnh phúc và niềm hãnh diện: “Ông ấy yêu Việt Nam còn hơn cả tôi yêu Việt Nam nữa!”

Tổ ấm ở Fresno

Chốc nữa đây, khi mua xong và mang được chai nước mắm về nhà, phân tích gia David Brown sẽ được vợ “điều động” lau bát đĩa, hút bụi, dọn bàn thờ, và lo mọi chi tiết cho việc trang hoàng nhà cửa đón Tết. Thỉnh thoảng ông cũng sẽ được vợ vời vào bếp, nhờ nếm xem món thịt kho đã đủ nhừ, nêm nếm có vừa miệng chưa, một công tác ông… rất thích.

Tổ chức ăn một cái Tết hàng năm theo đúng truyền thống Việt Nam là một trong những điều, mà dù bất cứ trong hoàn cảnh khó khăn nào, bà Bạch Tuyết cũng cố gắng thực hiện, để nhắc các con bà là “chúng có dòng máu Việt Nam” trong huyết quản.

Trong khi đó, nói về hôn nhân của mình, ông David Brown, trong một lần trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, tỏ bày: “Tôi rất hạnh phúc khi kết hôn với nhà tôi. Hai chúng tôi đều rất quan tâm đến Việt Nam. Tôi thấy mình gắn bó với Việt Nam như đã gắn bó với gia đình vợ, cả hai cùng mong mỏi những điều tốt nhất cho đất nước này…”

Ai bảo rằng những cuộc hôn nhân dị chủng thường gặp nhiều sóng gió?

Ông David Brown giúp vợ nêm cho vừa miệng món thịt kho trứng, món ăn Tết truyền thống của người miền Nam. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Thiên duyên tiền định

Cặp đôi Tuyết Lê-Brown và David Brown là hai khuôn mặt quen thuộc trong giới “mê” mạng xã hội Facebook, cả ở Mỹ lẫn ở Việt Nam. Những hình ảnh và “status” thường xuyên xuất hiện trên Facebook cho thấy sinh hoạt đầm ấm của hai người chia sẻ một mục đích chung.

Nhưng phải có cơ duyên đến thăm, sinh hoạt với họ vài hôm tại tư gia, mới thấy rõ hơn cuộc sống hàng ngày của cặp “chồng Mỹ vợ Việt” khá đặc biệt này.

Ðiểm đặc biệt đầu tiên là bà Bạch Tuyết “rất Mỹ!” Mỹ trong phong thái, trong cách phục sức, trong cách phát âm tiếng Anh không chỗ nào chê. Ngược lại, ông David Brown rất Việt Nam. Việt Nam trong lối nói tiếng Việt gần như hoàn chỉnh, với số ngữ vựng, sự am hiểu về tình hình chính trị Việt Nam có lẽ còn nhiều hơn một người Việt Nam quan tâm chuyện Việt Nam, và nhất là cách hoàn toàn lệ thuộc vào vợ trong sinh hoạt gia đình, để cho nội tướng của mình sắp đặt, điều khiển mọi việc, kể cả việc… sai đi chợ.

Ngày tôi đến Fresno thăm hai ông bà, xe vừa trườn tới trước nhà, hai người đã ra đón chào tận cửa. Trong khi ông nhanh nhẹn mở cốp xe giúp khiêng vali, máy ảnh, bà lách tách bấm máy chụp hình chồng với khách, rồi lại trao máy cho chồng chụp khách với mình. Ân cần, trang trọng, tạo cho khách cảm giác họ là người khách quý. Phong thái của giới ngoại giao!

Buổi tối hôm ấy, sau bữa cơm, trong phòng khách đầy dấu tích nhiều của nước Á Ðông mà ông David Brown từng đến để đại diện Hoa Kỳ, như Việt Nam, Japan, Malaysia… tôi được dịp ngồi nghe hai vợ chồng ông thay phiên nhau kể về mối tình dài gần 50 năm của mình. Không khí trong phòng thêm đầm ấm hơn mỗi khi có những chi tiết người này không nhớ phải quay qua hỏi người kia. Cả những thoáng mắt nhìn nhau.

Tất cả bắt đầu khi chàng thanh niên David Brown, 22 tuổi, nhân viên ngành phục vụ nước ngoài (foreign service) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, được cử đến phục vụ tại Việt Nam năm 1965, thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang.

Lê Thị Bạch Tuyết và David Brown thuở còn hẹn hò. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Phi cơ vừa đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, khi hơi nóng của bầu không khí ẩm ướt phả thẳng vào mặt, ông Brown kể, ông đã nhận thức ngay là ông còn rất nhiều điều phải học, và thứ tiếng Việt Nam mà ông được dạy cả hàng năm trước đó, chẳng là gì cả. Cách phát âm các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, của ông còn rất khác so với người bản xứ.

Với ông, khả năng nói tiếng địa phương vô cùng quan trọng. Công việc của một nhân viên ngành “foreign services” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là phải dùng tài ngoại giao, sự duyên dáng của mình để kết bạn với người bản xứ. Phải tìm ra ai là ai, mình có thể nói chuyện với người nào, ai là người có thể giúp mình tìm hiểu vùng đất xa lạ, nhưng phải nhanh chóng am tường. Hơn thế nữa, ông lại là một nhân viên thuộc Phòng Chính Trị.

Khoảng năm 1967, số nhân sự thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam lên đến trên dưới 30 người. David Brown và khoảng 6, 7 nhân viên trẻ, độc thân khác được biệt phái đi đến các tỉnh để mở rộng tầm hoạt động.

Nhớ lại thời gian này, ông Brown nói với nụ cười, “lúc đó ai cũng tưởng tôi là CIA, vì biết nói, biết viết tiếng Việt thì chắc chắn phải là ‘xịa’ rồi.” Thật ra ông được giao cho chức vụ “District Senior Advisor,” của trong “Chương Trình Ðiều Nghiên, Toán Lưu Ðộng,” địa bàn hoạt động là Biên Hòa, Hố Nai, Tam Hiệp, Long Bình, làm việc tại trụ sở của USAID, Biên Hòa.

Và Biên Hòa chính là nơi ông gặp cô gái miền Nam Việt Nam tên Tuyết, người sau này cùng ông chia sẻ cuộc đời.

Bà Tuyết Lê-Brown cho biết lúc đó mới 17 tuổi, bà đã phải “nói dối” là mình 18, để được USAID nhận vào làm nhân viên trả lời điện thoại.

“Hồi ấy còn nhỏ lắm, nhưng tôi đã để ý đến David vì đôi mắt xanh, dáng người cao lớn, và vì lối phát âm tiếng Việt rất chuẩn.” Bà nhớ lại.

Một buổi chiều, khi cả hai cùng phải làm việc trễ, chàng trẻ tuổi David đánh bạo ngỏ ý muốn đưa cô Bạch Tuyết về nhà trên chiếc xe gắn máy của mình. Ngẫm nghĩ giây lát, Bạch Tuyết gật đầu bằng lòng, một quyết định trói chặt cuộc đời hai người với nhau từ đó.

Cô dâu Lê Thị Bạch Tuyết và chú rể David Brown bước ra khỏi nhà thờ sau lễ cưới. (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Vượt khác biệt văn hóa

Trả lời câu hỏi về những khó khăn phải đối diện vì hai nền văn hóa khác nhau, bà Tuyết Lê-Brown kể về vụ “chạm trán” ngay từ hôm đầu tiên của họ.

“Hôm ấy, trên đường về, David đưa tay chạm vào đùi tôi. Tôi sợ quá, vừa giận, vừa sợ, hất ngay tay anh ta ra.” Tuyết Lê-Brown kể.

Thế là suốt con đường về, cô Bạch Tuyết im lặng không nói chuyện với David nữa, mặc cho chàng trai Mỹ hết lời xin lỗi.

Phản ứng bất ngờ của người con gái Việt Nam khiến David ngỡ ngàng. Cố gắng phân tích, ông chợt vỡ lẽ ra rằng trong thời gian dài được huấn luyện về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã thiếu sót không giải thích cho ông (và các đồng nghiệp) biết tí gì về cách đối xử với phái nữ của đất nước này.

Ngỡ ngàng thứ hai là gia đình Tuyết, nhất là người cha, hoàn toàn phản đối việc con gái mình có một người bạn trai ngoại quốc. Ông Brown cho biết điều này làm ông hết sức ngạc nhiên, ông cứ tưởng mình đẹp trai, là nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, vừa oai, vừa nhiều tiền, thì cha mẹ Tuyết chắc chắn sẽ sẵn sàng đón nhận. Ông lầm. Dù nghèo, dù tài chánh gia đình khó khăn, bằng lòng cho con gái lấy một người Mỹ, theo văn hóa Việt Nam thời đó, là một quyết định mà cả hai người trẻ thật lòng yêu nhau này, phải mất một thời gian lâu mới thuyết phục được cha mẹ Tuyết chấp nhận.

Ông Brown cho biết trong nhiều tháng trời, cứ cuối tuần là đến nhà hầu chuyện với thân phụ của Tuyết vài tiếng đồng hồ, đa số là chuyện chính trị Việt Nam, chỉ để mong được thấy Tuyết thấp thoáng xuất hiện lúc mang nước ra mời.

Cuối cùng, ông cảm thấy mình “chiến thắng vinh quang” khi được phép đưa Tuyết đi chơi riêng. Tuy gọi là riêng, lúc nào thân phụ Tuyết cũng phái đứa em trai, làm “escort,” đi cùng. Tuyết và David phải dần dà tìm cách hối lộ cậu em để hai người có được những giây phút riêng tư.

Khi biết không thể ngăn cản được mối tình thắm thiết của hai người, người cha đưa ra ba điều kiện: Thứ nhất, chàng trai David phải có người sang cưới hỏi con gái ông theo đúng phong tục Việt Nam; thứ hai, phải theo đạo Công Giáo của vợ; và các con sau này cũng phải theo đạo Công Giáo.

Ông David Brown (trái) và hai con gái cùng vợ là bà Tuyết Lê-Brown (phải). (Hình: Gia đình David Brown cung cấp)

Tình yêu như sức mạnh phi thường khiến David vượt qua tất cả. Hôn lễ của hai người được cử hành vào Tháng Sáu, 1969, một thời gian ngắn trước khi David Brown được chuyển về lại Hoa Kỳ.

Lấy được nhau rồi, họ phải đối diện nhiều khác biệt văn hóa khác, chẳng hạn việc giúp đỡ gia đình.

Ông Brown kể: “Chúng tôi thường xuyên phải gửi tiền về Việt Nam. Chúng tôi cãi cọ hoài về việc đó. Tôi thấy nó chẳng hợp lý gì cả. Chúng tôi cũng đang phải cố gắng gầy dựng cho cuộc sống của chính mình. Mãi sau này tôi mới hiểu tâm trạng của Tuyết, hiểu rằng, nàng cũng như bao nhiêu người khác đều cảm thấy mình, vì may mắn hơn, có trách nhiệm phải lo lắng cho người thân còn ở lại.”

“Lúc đó bà Tuyết đã thuyết phục ông bằng cách nào?” Tôi hỏi.

“Ồ, bằng cách khi con chúng tôi còn nhỏ, mà bà tự đi tìm việc làm. Tuyết làm người bán hàng ở một tiệm quần áo đàn ông, rồi sau đó làm ở một tiệm bán vải. Chỉ một thời gian ngắn, Tuyết nhận được một cái “pin” khen thưởng của cửa tiệm, là người tiếp khách tốt nhất.” Ông Brown kể, rồi kết luận: “Có lẽ hành động của vợ đã làm tôi xấu hổ, khiến tôi bằng lòng giúp đỡ gia đình nàng. Tôi nghĩ vậy.”

Rồi trước đôi mắt ngạc nhiên của vợ, ông chia sẻ nhận định của mình, có thể là lần đầu: “Tuyết có lẽ là người đàn bà Việt Nam tuyệt vời nhất mà tôi gặp, thông minh, tràn đầy sức sống, bướng bỉnh, không cho phép cuộc đời đánh bại mình. Với tôi, Tuyết không là một người đàn bà chỉ hấp dẫn về thể chất. Nàng có một sức mạnh ý chí. Lấy chồng rồi, vừa lo cho con, vừa lo trách nhiệm của một người vợ nhân viên ngoại giao, nàng còn học thêm để lấy cho xong bằng cao học trong ngành y tế tâm thần.”

“Và giờ đây, khi nhìn vợ, thỉnh thoảng tôi lại tự nhủ mình là người đàn ông may mắn, vì Tuyết đến với tôi, thực sự hoàn toàn không phải là việc đến với một người đàn ông Mỹ nhiều tiền.” Ông thú nhận.

Ông bà David Brown có hai con gái, một người tốt nghiệp Ðại Học Harvard, người kia tốt nghiệp Brown University, một cháu trai hơn ba tuổi. Họ định cư ở thành phố Fresno, California. Bà Tuyết Lê-Brown là một Tham Vấn Tâm Lý Lâm Sàng (Board licensed Clinical Psychotherapist).

Khi không đọc sách, trả lời phỏng vấn, hay viết những bài phân tích cho các tờ Asia Times, Asia Sentinel, East Asia Forum… David Brown giúp vợ nấu ăn, làm vườn, và nhất là đi chợ, mua những thứ để nấu món ăn thuần túy Việt Nam, chẳng hạn như… nước mắm.

Về thức ăn ngày Tết, ông thích thịt kho, dưa món, và mê bánh Tét hơn bánh Chưng. “Ðương nhiên, vì ông ấy có vợ là người miền Nam!” Bà Tuyết dí dỏm khẳng định.

Posted in Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Dự luật S-219, “Ngày Hành trình tìm Tự do”– Vì đảng CSVN đàn áp khắc nghiệt, 300.000 người VN đã định cư ở Canada

Posted by hoangtran204 on 10/02/2015

Tranh luận về Dự luật S-219, “Ngày Hành trình tìm Tự do”

Trà Mi dịch

Một em bé thuyền nhân được tiếp đọ tại Canada. Nguồn: Photo Features Ltd.Cuộc thảo luận bắt đầu với dân biểu Mark Adler (đảng Bảo thủ Cấp tiến Canada, CPC, York Center). Ông Adler đề nghị đọc Dự luật S-219 lần thứ nhì và sau đó đưa vào nghiên cứu ở ủy ban của Hạ Viện.

Biên bản cuộc tranh luận tại Hạ viện Canada chiều ngày 5 tháng Hai, 2015

Dân biểu Mark Adler (York Centre, CPC):

Ông Adler nói, Thưa ông Chủ Tịch Hạ viện, ngày 30 tháng Tư năm 1975, chiến tranh Việt Nam kết thúc. Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam, rơi vào tay đoàn quân xâm lược Cộng sản phía bắc, nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đó. 30 Tháng 4 năm 1975 là ngày bắt đầu một chương mới trong đời sống của người dân miền Nam Việt Nam.

Đó là khởi đầu của một cuộc di cư của hàng triệu người phải rời bỏ Việt Nam, mảnh đất mà, qua nhiều thế hệ, họ đã gọi là quê hương. Họ phải bỏ đi để tránh khỏi những đối xử khắc nghiệt và sự đàn áp nhân quyền của một nhà nước độc tài; bách hại dân tộc ít người, tôn giáo, chính trị; đàn áp chính trị đối với cựu quân cán chính miền Nam Việt Nam và gia đình họ; đẩy họ đến ở vùng sâu vùng xa [“vùng kinh tế mới”]; với điều kiện sống ngày càng bi đát vì thiếu lương thực, lụt lội và hạn hán. Đến năm 1979 đã có khoảng 600.000 người Việt Nam phải bỏ nước ra đi.

Trong ba năm sau đó, nhãn hiệu “thuyền nhân” đã trở thành quen thuộc với thế giới khi người Việt Nam bắt đầu tìm đường thoát khỏi quê hương trên chiếc thuyền nhỏ, đi tìm nơi tạm trú ở các nước láng giềng.

Nhiều quốc gia đã từ chối không cho họ vào đất liền. Cao ủy Ti nạn Liên Hiệp Quốc báo cáo có ít nhất 250.000 người Việt Nam bỏ mình trên biển vì chết đuối, bệnh tật, đói khát, và hải tặc tấn công, cướp bóc, hãm hiếp, và bắt cóc.

Để đối phó với cuộc khủng hoảng nhân đạo này, Canada đã trả lời bằng cách mở rộng cửa của chúng ta. Giữa năm 1975 và 1976, Canada đã nhận 6.500 người tị nạn chính trị rời Việt Nam sau ngày Sài Gòn sụp đổ. Trong tháng 10 năm 1976, Canada nhận 180 thuyền nhân. Trong tháng 8 năm 1977, đã cam kết nhận thêm 450 người. Năm 1978, Chính phủ đã đồng ý đón nhận 50 gia đình thuyền nhân mỗi tháng. Đến năm 1980, khoảng 120.000 người tị nạn Việt Nam đã được Canada rộng mở vòng tay chào đón. Ngoài ra, tiếp tục bày tỏ mối quan tâm với thuyền nhân, Canada khuyến khích các nước khác cùng mở cửa đón thuyền nhân.

Tới năm 1986, Cao ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cảm kích vai trò của Canada trong việc đón nhận nhiều người tị nạn từ miền Nam Việt Nam vì thế nhân dân Canada đã được tặng thưởng Huân chương Nansen vì những “đóng góp lớn và bền vững giúp người tị nạn”.

Huân chương Nansen. Nguồn: UNHCR.

Huy chương này trong khung cảnh giúp người tị nạn tương đương với giải thưởng Nobel, và đánh dấu lần duy nhất trong lịch sử thế giới mà cả một quốc gia đã nhận vinh dự như thế. Đó là lý do tại sao tôi rất tự hào, cùng với Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, làm người cùng đỡ đầu dự luật S-219, “Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do”, với ba mục đích.

Đầu tiên, nó sẽ xác định 30 tháng 4 là một ngày để tưởng niệm cuộc di cư của người tị nạn [cộng sản] từ miền Nam Việt Nam.

Thứ hai, nó vinh danh vai trò nhân đạo phi thường của chính phủ cũng như những gia đình bảo trợ, của những cơ quan thiện nguyện, các cộng đồng, các hội đường và nhà thờ, và các nhóm tôn giáo khác nhau đã, một cách rất nồng nhiệt, cùng bảo lãnh rất nhiều người Việt Nam vào sống cùng với những gia đình người Canada.

Thứ ba, nó cũng cần lưu ý rằng thời kỳ này trong lịch sử Canada là một giai đoạn mà thế hệ trẻ Canada hôm nay nhiều người không biết đến. Vì lý do đó, ngày 30 tháng Tư còn có thể xem là một ngày để suy ngẫm và giáo dục. Tất cả người dân Canada nên biết đến câu chuyện của những người tị nạn Việt Nam bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương, những nỗ lực nhân đạo lớn của người dân Canada để đón nhận họ, và sự thành công bất chấp nghịch cảnh mà cộng đồng năng động người Việt tại Canada là tiêu biểu.

Canada là một trong những nước đầu tiên mở rộng vòng tay chào đón những người tị nạn Việt Nam. Khi người dân Việt Nam đang cần được giúp đỡ, người Canada từ tất cả mọi tầng lớp xã hội đã đáp lời kêu gọi mà không do dự và đã mở cửa ngôi nhà nhà và mở rộng con tim để đón nhận hơn 60.000 người tị nạn Đông Dương đang rất cần một nơi để dựng lại cuộc đời.

Đây là con số người tị nạn tính trên đầu người cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong thời gian này. Vai trò của Canada trong việc mở cửa đón nhận rất nhiều người tị nạn Việt Nam là một ví dụ về những điểm ưu việt của Canada. Đó là một minh chứng xác thực về giá trị Canada.

Sau đây là đại cương chương trình ấy đã hoạt động thế nào.

Chính phủ liên bang đã mở một chương trình tư nhân bảo lãnh trong đó các tổ chức như nhà thờ và những nhóm gồm ít nhất năm công dân đã trưởng thành sẽ bảo lãnh cho gia đình người tị nạn và chăm sóc họ trong một năm.

Cứ mỗi một người tị nạn được tư nhân bảo trợ, chính phủ sẽ đón nhận và chăm lo cho một người tị nạn khác. Canada là quốc gia tiên phong trong chương trình tư nhân bảo trợ người tị nạn, tạo điều kiện cho đất nước của chúng ta đón nhận một số lượng lớn người tị nạn đồng thời cũng làm giảm được chi phí quốc gia và là mẫu mực cho thế giới.

Nếu không có những nỗ lực đầy nhân đạo của hàng ngàn người dân Canada, và sự lãnh đạo, hỗ trợ và hợp tác của chính phủ Canada, cũng như các cơ quan tị nạn, các tổ chức phi chính phủ, và các nhóm tôn giáo, thì sự an cư cho một số lượng lớn người tị nạn trong trường hợp khẩn cấp và khó khăn như vậy sẽ đơn giản là không thể nào thực hiện được.

Trong Kinh Thánh đã viết, cứu một mạng người là cứu cả một thế hệ. Hôm nay có khoảng 300.000 người gốc Việt sinh sống tại Canada. Hơn 100.000 người hiện sinh sống ở Toronto và vùng phụ cận.

39 năm qua, mỗi ngày 30 tháng Tư, người Canada gốc Việt đã tập hợp để ghi nhớ một sự khởi đầu mới và để cảm ơn Canada. Trong năm 2015, cộng đồng người Canada gốc Việt sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm định cư thuyền nhân đến Canada.

Dự luật này là biểu tượng của một truyền thống lâu đời của Canada như một ngọn hải đăng của tự do và dân chủ, một quốc gia đã hào hiệp đón nhận những người tị nạn, những người vô tội buộc lòng phải phải rời bỏ quê hương.

Một trong những điểm đáng chú ý hơn nữa trong câu chuyện này là có nhiều thuyền nhân đến Canada ngày nay đã chính họ trở thành những người bảo lãnh những người tị nạn. Họ đã hợp tác với Chính phủ Canada, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ của chúng ta, để đưa những người tị nạn Việt Nam sau cùng, những người sống lây lất, không có tư cách pháp nhân, ở khu vực Đông Nam Á, ở những nơi như Thái Lan và Philippines, trong gần 40 năm qua. Thật là một di sản đáng tự hào, và một phương cách tuyệt vời để đánh dấu cuộc hành trình tìm tự do của họ: bằng cách giúp đỡ những người [tị nạn] khác.

Đây là một dự luật quan trọng, và hôm nay tôi xin với tất cả các thành viên [ở hạ viện] ủng hộ và đưa nó về phía trước. Sự công nhận của quốc gia ngày 30 tháng Tư này sẽ là một niềm tự hào cho những người Canada gốc Việt và cho tất cả nhân dân Canada; nó cũng làm nổi bật tinh thần Canada hào phóng và tinh thần quốc gia tôn trọng tự do. Đất nước chúng ta là một quốc gia do những người nhập cư xây dựng, và các cộng đồng của chúng ta giàu lên nhờ những mảng di sản văn hóa sinh động trong đó.

Canada sẽ không bao giờ trở lại chính sách tị nạn nhục nhã và hèn hạ của thời trước và trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai, một giai đoạn mà “không [nhận] người nào đã là quá nhiều” là chuẩn mực của quá khứ đó. Sự hào hiệp và tình nồng ấm của Canada đón nhận người nhập cư và người tị nạn là một trong những truyền thống thiêng liêng nhất của dân tộc ta. Những cam kết lịch sử và tiếp tục của chúng ta với tính đa nguyên là một cam kết mà chúng ta, trong trách nhiệm của một chính phủ, phải cố gắng công nhận và làm rạng danh bất cứ khi nào có thể.

Dự luật này cũng sẽ cho một cơ hội tổng hợp, một nơi mà tất cả chúng ta hợp nhất về mặt giá trị, bất kể chủng tộc, tôn giáo, màu da, hay tín ngưỡng. Nó còn rất quan trọng để tất cả dân Canada nhớ đến và suy ngẫm về việc lịch sử đất nước của chúng ta đã đóng góp cho một nền văn hóa đa nguyên, đa dạng, và đón nhận như thế nào.

Dự luật này cũng sẽ chúng ta một cơ hội tuyệt vời để suy nghĩ về những ưu điểm và sự đa dạng mà cộng đồng người Việt Nam đã mang lại cho đất nước và để cảm ơn họ đã góp phần vào nền văn hóa đa nguyên của chúng ta. Tất cả chúng ta có thể học được đôi điều từ những người tị nạn, những người sẵn sàng mạo hiểm hy sinh tất cả để được sống trong tự do, vì một cuộc sống không có tự do thì không còn gì là cuộc sống nữa.

Tôi là một người Canada thế hệ thứ nhất, và dự luật này đã khiến tôi suy tư về kinh nghiệm của riêng mình, là con của một người sống sót sau Holocaust; cha tôi đến Canada không có gì hơn một mảnh áo trên lưng, với một hàng số xăm trên cánh tay, nhưng quan trọng nhất là niềm hy vọng trong trái tim mình. Đối với rất nhiều người tị nạn đến Canada, giống như những người sống sót sau Holocaust, những thuyền nhân Việt Nam, các Kitô hữu bị bách hại và người Yazidis ở miền bắc Iraq và Syria, và rất nhiều người khác, mỗi người trong số họ đã có quyền quay lưng lại với nhân loại, nhưng họ không làm như vậy. Họ đã đến Canada để tìm hy vọng, hy vọng cho chính họ, đúng thế, nhưng quan trọng hơn, hy vọng cho con cái của họ để chúng không bị buộc phải sống dưới ách áp bức, khủng bố. Họ đã đến Canada vì Canada là một mốc hiệu ánh sáng của thế giới, một quốc gia đứng trong thế mạnh, hãnh diện, tôn trọng những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, và chế độ pháp trị.

“Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do” sẽ chúng ta một cơ hội để suy ngẫm về cam kết của chúng ta với những gì tốt nhất của các giá trị Canada. Nó sẽ cho chúng ta một lý do khác để giới thiệu Canada là nước tốt nhất trên thế giới để gọi là nhà.

Hôm nay tôi xin tất cả quý vị đồng viện ủng hộ thông qua dự luật S-219 và giúp chúng ta tuyên bố 30 tháng Tư là ngày Hành trình tìm Tự do của đất nước Canada tuyệt vời này.

Dân biểu Anne Minh-Thu Quach (Beauharnois—Salaberry, đảng Tân Dân chủ, NDP):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi xin cảm ơn đồng nghiệp bên đối diện đã có một bài phát biểu rất cảm động.

Tôi chỉ muốn hỏi một câu hỏi để chúng ta thực sự có thể nói chuyện về hòa giải và con đường tiến tới dân chủ và tự do ngôn luận. Tôi muốn biết quý đồng viện sẽ tranh đấu để chính phủ của ông cho tất cả mọi người Việt có cơ hội để bày tỏ ý kiến của mình trước ủy ban hay không?

Chúng ta biết rằng tại ủy ban ở Thượng viện, chỉ có những người ủng hộ dự luật này được điều trần. Tôi hy vọng rằng trong tinh thần đối thoại chân thật, cởi mở và thẳng thắn, ủy ban ở Hạ viện sẽ lắng nghe người Việt Nam từ tất cả mọi tầng lớp xã hội để cuối cùng chúng ta có thể nói chuyện về hòa giải và đi tới hướng đến sự tôn trọng nhân quyền.

Dân biểu Mark Adler:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, dự luật này không phải là về vấn đề hòa giải. Dự luật này, đầu tiên, là để ghi nhớ và thứ đến là để tuyên dương tinh thần tuyệt vời của Canada, để biết chúng ta là ai, và vinh danh giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, và thể chế pháp trị của người Canada. Chúng ta đang ở đây tại Hạ viện ngày hôm nay là một ví dụ về điều này. Chúng ta đang tranh luận về dự luật ở đây trong Hạ viện hôm nay.

Tôi hiểu những gì quý đồng viện vừa đề cập đến. Tại ủy ban ở Thượng viện một người đại diện – tôi tin rằng đó là Đại sứ Việt Nam – đã đệ trình một lá thư thay mặt của chế độ cộng sản Việt Nam để bày tỏ quan điểm của họ về “Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do”, và theo tôi hiểu thì họ kịch liệt phản đối dự luật này. Ông [Đại sứ] đã gửi nhận định của ông bằng văn bản. Đáng tiếc thay, những nhận định đó không phải bằng tiếng Pháp và chúng đã không được dịch kịp thời hạn để được đưa vào hồ sơ.

Đây là một dự luật quan trọng, và tôi thực sự hy vọng rằng, trong tinh thần và giá trị Canada của chúng ta, tất cả quý đồng viện sẽ sẽ ủng hộ nó.

Dân biểu Kevin Lamoureux (Winnipeg North, đảng Tự do, Lib.):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, câu hỏi của tôi dựa trên phần trả lời cho câu hỏi trước đó liên quan đến ông Đại sứ Việt Nam. Tôi nghĩ rằng có sự ủng hộ để dự luật này được đưa tới ủy ban nghiên cứu. Quý đồng viện có ở vị trí để bảo đảm cho những người những người có thể đang lắng nghe hoặc quan tâm muốn điều trần tại Ủy ban về về dự luật này rằng sẽ có sự đại diện công bằng trong giai đoạn nghiên cứu tại ủy ban để tất cả những ai muốn điều trần đều có cơ hội bày tỏ không?

Dân biểu Mark Adler:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, Tôi đã đọc biên bản của cuộc tranh luận tại Thượng viện, và thấy có bốn phiếu của Đảng Tự do chống lại dự luật, và 14 phiếu trắng. Tôi hơi bối rối rằng có phải đảng Tự do quan tâm muốn nghe quan điểm của chính quyền cộng sản Việt Nam, dù rằng họ [đảng Tự do] dường như đã quyết định sẽ không ủng hộ dự luật này. Có lẽ tôi không nên ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng đây là sự gây bất ngờ, ngay cả cho các dân biểu đảng Tân Dân chủ [NDP] rằng đảng Tự do quan tâm muốn nghe buổi điều trần đó.

Tôi sẽ bị sốc nếu đảng NDP chống lại một dự luật nhằm xiển dương những giá trị lớn của Canada của chúng ta về tự do và dân chủ, nhưng, mặt khác, hãy nhớ rằng những người trong lúc họ khó khăn đã được dân Canada giúp đỡ. Lòng hào hiệp của dân Canada và tinh thần trong sáng của Canada tán dương giá trị của đất nước này đã đón nhận rất nhiều người tị nạn đến đây và họ đã gầy dựng lại những cuộc sống tuyệt vời cho chính họ. Chúng ta, như một quốc gia, được hưởng lợi vì sự hiện diện của họ.

Dân biểu Anne Minh-Thu Quach:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất hân hoan đứng đây tại Hạ viện ngày hôm nay để nói chuyện về Dự luật S-219, một dự luật rất quan trọng, được đệ trình tại Thượng viện và nhằm lập ra một ngày quốc lễ kỷ niệm của cuộc di cư của người tị nạn Việt Nam và và sự kiện họ được đón nhận ở Canada.

Đôi khi chúng ta quên mất ý nghĩa thực sự của cuộc sống ở đây trong một xã hội dân chủ nơi mà người công dân có thể lựa chọn đại biểu Quốc hội của họ, và cả hai, người dân và người được dân cử, đều có thể an toàn thực thi quyền tự do ngôn luận. Hầu hết dân số trên thế giới không thể thực thi được cái quyền cơ bản đó.

Nếu hôm nay tôi có thể đứng đây là một dân biểu Quốc hội và nói chuyện tại Hạ viện là nhờ bố mẹ tôi đã chạy trốn khỏi Việt Nam và đã tìm được nơi nương náu ở đây, tại Canada, để bắt đầu xây dựng gia đình, sống trong thanh bình, và làm việc nuôi thân.

Bản thân tôi, Anne Minh-Thu Quach, sinh ra ở và lớn lên ở Canada, và cũng nhờ sự dũng cảm của cha mẹ tôi và sự đón nhận của Canada nên hôm nay tôi mới có thể tham gia vào đời sống dân chủ của đất nước này.

Tôi muốn dành một vài phút để kể lại chuyện bố mẹ tôi phải bỏ chạy khỏi Việt Nam và đến Canada như thế nào. Năm 1979, sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, cha mẹ tôi đã quyết định rời bỏ đất nước của mình vì những điều kiện sống khủng khiếp do một chế độ chính trị mới áp đặt và với hy vọng tìm được một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác. Họ không còn có thể chịu đựng nổi những hạn chế, bạo lực và bất công đã xảy ra sau chiến tranh.

Họ chụp ngay lấy cơ hội đầu tiên để trốn đi vào giữa đêm khuya, trong bí mật, với hai người anh của tôi, mới được một tuổi và ba tuổi vào thời điểm đó. Họ tìm đường ra môt một bến cảng và trả cho những kẻ buôn người bằng tất cả phần đồ đạc cuối cùng của họ, tất cả những gì bố mẹ tôi đã mang theo. Họ lên một chiếc thuyền, định hướng chỉ bằng một chiếc la bàn, nói cách khác, họ đi bất cứ nơi nào, bất cứ nơi nào người thuyền trưởng đưa họ đi, và cũng không biết chắc người lái thuyền sẽ mang họ tới được một bờ bến an toàn hay không.

Họ sống tại một trại tị nạn ở Indonesia suốt 18 tháng, trước khi Hội Chữ thập đỏ đến đón họ đi. Sau đó, họ đến Canada. Họ không có căn cước; họ không có đồ đạc. Tay trắng, bố mẹ tôi chỉ có mạng sống của họ và của hai anh của tôi. Canada đã cho cấp họ giấy tờ và đón nhận họ như những người tị nạn với cả tấm lòng quảng đại.

[Cả Quốc hội vỗ bàn ủng hộ, “Nghe, nghe!”]

[Dân biểu Anne Minh-Thu Quach nói tiếp,] Vâng, thực sự là thế.

Khi đến Canada, cha mẹ tôi đã phải học tất cả mọi thứ: làm thế nào để sống còn trong mùa đông, học nói tiếng Pháp, học lái xe, đi tìm việc làm, nấu thực phẩm theo cách của Canada. Trong một thời gian ngắn, họ phải học cách sống trong quốc gia mới của mình.

Cũng nhờ có những người như Captain Pierre Pellerin, Ginette Malenfant, Nicole Leduc và Estelle, bà nay đã qua đời, đã đón tiếp cha mẹ tôi, nhưng cũng còn có những người khác, kể cả Fred và Bonnie Cappuccino và rất nhiều người Canada đã mở cửa cho gia đình tôi và đón nhận hàng ngàn người Việt Nam như thể chúng tôi là một phần của gia đình riêng của chính họ. Từ thời điểm đó, nhiều người tị nạn Việt Nam đã có thể bắt đầu hội nhập vào đời sống Canada và đóng góp cho Canada. Xin chân thành cám ơn, thay mặt cho mọi người Việt Nam.

Tuy nhiên, giống như hơn 1,5 triệu người tị nạn, bố mẹ tôi là thuyền nhân. Canada đón nhận 137.000 người tị nạn Việt Nam vào lúc đó. Chính phủ liên bang cũng đã thiết lập một chương trình tư nhân bảo lãnh cho phép các cơ quan và công dân Canada đón nhận một gia đình của những người tị nạn, chu cấp và hỗ trợ cho họ trong một năm. Cứ mỗi người tị nạn được tư nhân bảo trợ thì chính phủ sẽ bảo lãnh cho một người tị nạn khác. Cả một phong trào đoàn kết đã thành hình.

Dài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam tại Ottawa. Nguồn: www.heroines.ca

Ở đây, tại Ottawa, ở góc đường Preston và Somerset, có một tượng đài kỷ niệm thuyền nhân. Marion Dewar, thị trưởng thành phố Ottawa lúc đó và là mẹ của bạn đồng viện của chúng tôi từ Ottawa Centre [dân biểu NDP, Paul Dewer], làm việc hết mình để đón nhận hàng ngàn người tị nạn Việt Nam, nhiều người đến nỗi khu phố Tàu ở đây tại Ottawa, trong thực tế, phần lớn là một xóm Việt Nam, nơi có những cửa hàng bán phở nổi tiếng, ăn vào thật ấm và dễ chịu, đặc biệt là vào những ngày trời lạnh như hôm nay.

Chiến tranh Việt Nam là kết quả của 50 năm chiến tranh lạnh đã chia đôi thế giới. Vì những lý do ý thức hệ, đã có chiến tranh tại nhiều nước, gia đình đã phân tán, đàn ông và phụ nữ đã bị sát hại. Hôm nay, chúng ta không còn sống trong thế giới lưỡng cực mà ở đó tất cả mọi người đã cố gắng áp đặt sự thật của họ lên người khác. Thời điểm hôm nay đã chín muồi để chúng ta bắt đầu một cuộc đối thoại thực sự.

Trước đây, tôi đã nói về sự cởi mở và đối thoại, vì đây là những gì mà chúng ta thực sự cần có. Cộng đồng người Việt Nam, tại Canada và trên toàn thế giới, đang phân hóa vì những khác biệt về kinh tế, chính trị và tôn giáo.

Một bàn tròn phải được đặt ra, cho mọi người đều có quyền bày tỏ quan điểm của mình. Đây là cách chúng ta sẽ tiến bộ và để bảo đảm rằng thế giới sẽ thay đổi.

Tôi nghĩ rằng Dự luật S-219 cho chúng ta một cơ hội thật tốt để có cuộc đối thoại này, xét rằng nó còn góp thêm một khía cạnh tích cực vào việc tưởng niệm thông thường bằng cách nhấn mạnh đến sự đón nhận người tị nạn của Canada.

Trong sự tôn trọng đối với người tị nạn và để công nhận việc nhân dân Canada đã mở vòng tay đón nhận người tị nạn Việt Nam bắt đầu từ năm 1975, tôi nghĩ rằng nó xứng đáng được một ủy ban của quốc hội nghiên cứu. Tất cả tùy ở chính chúng ta – lớp hậu duệ của những người tị nạn, những người lưu vong và di dân – cũng như tất cả những người dân Canada khác, những người cởi mở và quan tâm đến cuộc đối thoại này, sẽ giúp khởi đầu cuộc thảo luận và tranh luận về việc tưởng niệm người [tị nạn] Việt Nam.

Tôi đã may mắn được đi Việt Nam để thăm hỏi gia đình của tôi và tìm hiểu vùng đất của tổ tiên tôi. Đó là một đất nước tuyệt vời, nơi của những con người rất đặc biệt và cởi mở. Tôi vẫn còn có nhiều bà con họ hàng sống ở đó, và tôi muốn họ và tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam có cơ hội như tôi đang có, để họ có thể sống trong hòa bình, an ninh và hưởng đời sống dân chủ và các quyền con người cơ bản và phổ quát như tôi đang có.

Thật không may, đó chưa phải là thực tế cho tất cả mọi người ở Việt Nam. Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia vào bảy công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Quyền con người cũng được xác định trong bản Hiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, luật sư, nhà báo, người viết blog và các công dân bình thường vẫn tiếp tục bị bắt giữ, xét xử và bỏ tù chỉ vì bày tỏ ý kiến riêng của họ.

Hôm nay, chúng ta không phải sợ hãi khi nói sự thật. Mỗi con người có quyền được sống, quyền tự do và có cơ hội bình đẳng. Vì vậy, tôi xin với tay đến tất cả người Việt Nam, và tất cả những người Canada, những người muốn thực hiện cuộc đối thoại này với tôi và với các dân biểu.

Dự luật S-219 cho chúng ta một cơ hội để trao đổi, vì các vết thương đã thưc sự chưa lành. Chúng ta phải nắm lấy cơ hội này để cùng ngồi lại quanh bàn, như tôi đã nói, là người Việt Nam từ tất cả các tầng lớp xã hội, cho tiến trình đối thoại và hàn gắn có thể bắt đầu và sau cùng thì chúng ta mới có thể nhìn về tương lai.

Như quý đồng viện bên đối diện cho biết, vị Đại sứ của Việt Nam đã không thể điều trần ở Thượng viện. Tôi đã nhận được rất nhiều email từ những người Việt Nam khác sống khác ở Canada, những người đã muốn tham gia vào cuộc tranh luận này nhưng đã không thể tham gia vào cuộc tranh luận được tổ chức tại Thượng viện.

Dự luật này cần qua từng bước một trong Quốc hội của Canada, và tôi muốn nó phải được cứu xét ở ủy ban và ủy ban cần xét đến tất cả mọi quan điểm khi nghiên cứu. Thật không may, như đã nói, ủy ban [ở Thượng viện] đã không nghe được tất cả các nhân chứng, nhưng tôi tin rằng tại đây, Hạ viện Quốc hội Canada, có thể làm tốt hơn và có thể lắng nghe tất cả mọi người ở giai đoạn thứ hai. Không chỉ là có thể, tôi tin rằng nó [ủy ban nghiên cứu] phải nghe [từ nhiều phía].

Để chứng minh giá trị của chúng ta trong tinh thần cởi mở, dân chủ, sự cảm thông và lòng hào hiệp như đã được thực hiện, chúng ta nên cho phép cuộc tranh luận được tiếp tục. Xin hãy không nghi ngờ gì về điểm này: Tôi đang đặt câu hỏi, vì tôi tin rằng tiến trình này có thể được cải tiến. Trên thực tế tôi đồng ý với dự luật này, và rất quan trọng để cuộc tranh luận này vẫn được tiếp tục.

Một ghi nhận có phần tích cực hơn, vì năm mới của châu Á, năm mới âm lịch, sẽ rơi vào ngày 18 tháng Hai, tôi xin chúc tất cả mọi người một cái Tết vui vẻ. “Tết’ là năm mới trong tiếng Việt. Với tất cả mọi người Việt Nam ở khắp mọi nơi ở Canada và những nơi khác,

[Dân biểu Anne Minh-Thu Quách nói bằng tiếng Việt]

Chúc mừng năm mới!

Dân biểu Kevin Lamoureux:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi thực sự trân trọng những ý kiến mà quý đồng viện vừa đưa vào biên bản.

Bà đã làm một công việc phi thường khi trình bày một sự việc mà tôi tin có thể thấy trên khắp đất nước của chúng ta, ở những gia đình người tị nạn đã đến Canada và đã thành công trong cuộc sống. Tôi đoan chắc rằng cha mẹ bà và cộng đồng của bàô sẽ đặc biệt tự hào về những điều bà vừa phát biểu.

Đối với quý đồng viện đã cùng đỡ đầu cho Dự luật S-219 này, tôi phải nói rằng tôi hơi thất vọng vì cách ông đã chọn để trả lời câu hỏi [của tôi].

Dự luật S-219 nếu được đưa vào ủy ban nghiên cứu thì đó là điều tốt. Tôi ủng hộ việc đưa Dự luật S-219 vào ủy ban. Tôi không đánh giá cao những lời nói bóng gió cho rằng Đảng Tự do không ủng hộ việc dự luật S-219 được đưa vào ủy ban nghiên cứ. Đó là một việc làm rất có giá trị.

Cũng giống như quý đồng viện vừa phát biểu, tôi đặt vấn đề về tầm quan trọng của việc điều trần ở ủy ban vì nó là vấn đề đã được đề cập đến. Tôi nghĩ rằng đó là việc đúng đắn và tôi đã hơi thất vọng với hàm ý của quý đồng viện [bên đối diện] cho là tôi có thể không ủng hỗ trợ dự luật này.

Tôi ủng hộ dự luật này vì một số lý do mà tôi muốn nêu lên ở đây. Tuy nhiên, trước khi làm việc đó, tôi muốn thưa rằng chỉ mới mùa hè vừa qua, tôi đã du lịch đến Việt Nam. Tôi đã có cơ hội đi thăm các nước ở châu Á, và đó là một kinh nghiệm rất thú vị.

Tôi đi với con gái tôi. Một trong những điểm mà cô ấy thực cảm kích là số lượng xe tay ga, vì cô ấy thích xe máy. Nếu có cơ hội đi du lịch trong những khu vực có mật độ cao, quý vị sẽ biết được làm sao người ta di chuyển trong một khu vực rất nhỏ.

Cá nhân tôi rất thích cảnh tương tác ở chợ. Tôi đã có cơ hội đến thăm các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tôi xin kể về một cửa hàng nến giúp người khuyết tật có công việc làm, sản xuất những cây nến 100% bằng sáp ong. Đồng thời, cũng có nhà máy sản xuất lớn, đặc biệt là một công ty làm bao bì. Đó là một đất nước xinh đẹp.

Có lẽ tôi có thể đề cập đến một số thông điệp chính mà tôi nghĩ rằng chúng tôi muốn nhấn mạnh.

Chung cuộc thì dự luật đề nghị chọn ngày này [30 tháng Tư] để công nhận cuộc hành trình, cuộc đấu tranh, sự hy sinh, và sự sống còn của thuyền nhân Việt Nam và ghi nhớ tầm quan trọng lịch sử của cuộc hành trình của họ đến Canada.

Một ngày như vậy sẽ là một cơ hội để nâng cao nhận thức và để làm tăng sự hiểu biết về hoàn cảnh của những người tị nạn trên thế giới và thông cảm được sức chịu đựng của những người tị nạn.

Điều quan trọng cần biết là đa số người tị nạn đã không thể giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, nhưng lúc đó cũng là thời điểm có nhiều thách thức về mặt kinh tế. Hoàn cảnh đó đã làm phức tạp hơn cho đời sống của người tị nạn đến Canada.

Đây là ngày để tán dương những gia đình người Canada, các tổ chức từ thiện, các nhóm tôn giáo, và các tổ chức phi chính phủ đã bảo lãnh khoảng 34.000 người tị nạn Việt Nam đến Canada và giúp họ tái định cư và hội nhập trong khỏang năm 1979 -1980.

Đây cũng là ngày cho mọi người cơ hội để tuyên dương những đóng góp liên tục của người Canada gốc Việt trong tất cả các mọi mặt của đời sống và xã hội Canada, kể cả y học, kỹ thuật, kinh doanh, khoa học, luật pháp, học viện, nghệ thuật, truyền thông, dịch vụ dân sự và cộng đồng, và, như đã được chứng minh, cả ở lãnh vực chính trị.

Những đóng góp vừa kể và nhiều hơn nữa cho cộng đồng của chúng ta là những cống hiến to lớn của cộng đồng người Việt Nam, mà toàn thể xã hội Canada đã yêu mến, nuôi dưỡng, và nay đã trở thành tơ sợi trong mảnh lụa đa văn hóa của chúng ta.

Khi tôi lần đầu tiên được bầu làm dân biểu, tôi đã có cơ hội giữ nhiệm vụ phê bình phụ trách đa văn hóa ở tỉnh bang Manitoba. Đó thật là một kinh nghiệm quý báu. Một trong những đặc ân của tôi là đã được đến thăm “trung tâm Sài Gòn”, nằm trong Giữa thành phố Winnipeg. Đó là một khu nhà ở và một người Việt Nam ở đó, ông Trần Ba, người mà tôi đã trở nên rất gần gũi trong nhiều năm qua, đã làm một công việc phi thường trong việc chỉ dẫn cho không chỉ riêng cá nhân như tôi, mà còn cho nhiều người khác về những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Chúng tôi cũng rất tự hào ở Winnipeg biết rằng trong hầu hết tất cả các trung tâm lớn hiện nay và ở mọi miền của đất nước, chúng ta thấy một di sản phong phú, vì những đóng góp của người Việt Nam trong suốt vài thập kỷ vừa qua.

Tôi vẫn nhớ, đi từ trung tâm Sài Gòn, đó là một khu nhà ở đẹp, đến một tượng đài. Cũng như quý đồng viện vừa kể đến một một tượng đài ở Ottawa. Có một đài tưởng niệm bên đường đối diện trường Đại học Winnipeg làm nổi bật một phần rất quan trọng trong lịch sử của Canada.

Một tuyên bố mà vị lãnh đạo của tôi thường đề cập đến là sức mạnh lớn nhất của Canada là sự đa nguyên của chúng ta. Nó, rốt cuộc đã cho chúng ta có được tiềm năng lớn nhất [để xây dựng] tương lai của chúng ta. Chúng ta cần phải rất tự hào về một quốc gia tương đối trẻ của mình. Tôi đã có cơ hội để nói về Folklorama, mà người dân Winnipeg và dân chúng từ khắp nơi trên thế giới đã tham gia. Qua 35 năm, chúng tôi đã nhìn thấy cộng đồng người Việt trực tiếp tham gia vào đủ loại gian hàng khác nhau và các cùng chia sẻ văn hóa và di sản.

Tôi đã cảm kích được việc này kể từ khi tôi được bầu làm dân biểu vào năm 1988. Trong 20 năm đầu tiên của cuộc đời một người dân cử, mỗi ngày tôi sẽ lái xe ngang Manor Sài Gòn, một chung cư tám tầng xinh đẹp. Nó đã làm cuộc sống của tôi thêm phong phú.

Còn một số điểm khác tôi xin nhanh chóng đề cập đến. Công nhận Ngày Hành trình tìm Tự do, với chúng ta là việc quan trọng, nó đánh dấu một ngày trọng đại đối với lịch sử chung của cộng đồng người Việt Nam trên khắp thế giới. Nó ghi nhận sự kiện Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sự chiếm lãnh miền Nam Việt Nam của bắc quân, và việc thành lập chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, đồng thời là điểm bắt đầu của cuộc di cư hàng loạt của hàng triệu người dân Việt Nam rời bỏ quê hương của họ.

Đại đa số những người Việt Nam đến Canada vào ngày 1 tháng Giêng năm 1975 là người tị nạn; Canada lúc đó đã có khoảng 1.500 người gốc Việt sinh sống, phần lớn ở Quebec. Sau cuộc khủng hoảng thuyền nhân giữa năm những 1979 và 1982, có khỏang 69.000 người đã đến tị nạn tại Canada. Nhóm người tuyệt vời này cuối cùng đã định cư ở tất cả mọi miền đất nước và họ đã làm phong phú thêm cho đời sống của tất cả người dân Canada. Tôi mong muốn được thấy dự luật này cuối cùng sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban.

Dân biểu Bob Dechert (Thư ký Quốc hội cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp, CPC):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất vinh dự được nói chuyện hôm nay để ủng hộ Dự luật S-219. Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt đầu tiên được bổ nhiệm vào Thượng viện qua đề nghị của chính phủ của chúng tôi. Ông đã làm việc đại diện cộng đồng người Việt khắp Canada rất tốt.

Tôi cũng muốn cảm ơn quý đồng viện, dân biểu đại diện vùng York Center, đã đỡ đầu cho dự luật này tại Hạ viện, và với bài phát biểu rất hùng hồn của ông vài phút trước đây. Ông là một người, qua lịch sử gia đình của chính mình, đã thấu hiểu nỗi đau, nghịch cảnh và cuộc đấu tranh để đến được Canada. Ông đề cập đến cha của ông một người sống sót sau Holocaust, là một nạn nhân của Tiến sĩ Mengele. Chỉ mới hơn một tuần trước đây, vào dịp kỷ niệm 70 năm giải phóng trại tập trung Auschwitz Birkenau, ông đã nói về cuộc đấu tranh của cha ông tại đó và hành trình của cha ông đến Canada.

Đối với tôi, dự luật này kể lại câu chuyện của cộng đồng người Canada gốc Việt và cuộc đấu tranh của họ để tìm đến Canada, nhưng nó cũng là một câu chuyện mà chúng tôi đã nghe hơn một lần, được lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử Canada. Đó là chuyện của Canada. Đó là câu chuyện của tất cả chúng ta. Rất nhiều người dân Canada đã đến đây từ những nơi bị chiến tranh tàn phá, từ những nghịch cảnh và áp bức vô cùng, và đã tranh đấu vượt khó khăn ở những tình cảnh vô cùng để đến được đất nước này. Họ đã tìm được một nơi nương náu và tìm thấy tự do ở Canada.

Đây là một đất nước mà tất cả chúng ta yêu quý. Tất cả người dân Canada, bất kể nguồn gốc, có bổn phận để tìm hiểu những câu chuyện thế này và để hiểu những câu chuyện này đã đóng góp cho đất nước tuyệt vời của chúng ta như thế nào.

Tôi rất cảm kích có được cơ hội để lên tiếng ủng hộ dự luật quan trọng này. Như tôi đã đề cập, nó công nhận có những người đã thiệt mạng và những đau khổ mà họ đã phải đã trải qua trong cuộc di cư của người Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào ngày 30 Tháng 4 năm 1975, ngày mà Sài Gòn rơi vào tay Cộng sản. Đó là một cuộc chiến, như chúng ta đều biết, hoành hành trong hơn 10 năm. Một cuộc chiến đẫm máu và bạo lực, và cuộc sống của người dân đã bị xé nát. Nó đã làm mất đi quá nhiều sinh linh vô tội.

Đó không phải là một ngày kỷ niệm hạnh phúc, nhưng đó là một ngày mà chúng ta phải nhớ. Chúng ta phải nhớ những sự kiện lịch sử và cần biết những sự kiện đó đã ảnh hưởng thế nào đến mọi người trên khắp thế giới, đặc biệt là những người ở Canada.

Canada đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ hàng chục ngàn người tị nạn sau khi Sài Gòn sụp đổ, theo Ủy ban Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, có hơn 1,5 triệu người Việt Nam bị buộc phải trốn khỏi quê hương của họ dưới sự đe dọa của một cuộc sống bi đát, và một điều cần được lưu ý, là sự vi phạm nhân quyền tràn lan ở đó.

Trong thảm họa nhân đạo ngay sau đó [sự kiện thuyền nhân], người dân Canada đã hợp lực làm bất cứ điều gì chúng ta có thể giúp được. Một thời khắc quan trọng đã đến vào tháng Bảy năm 1979, chính phủ Bảo thủ lúc đó, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Joe Clark và nội các của ông, theo đề nghị của Bộ trưởng Nhập cư Ron Atkey lúc đó, đã nhận thấy hoàn cảnh của những người Việt Nam tị nạn này và đồng ý đón nhận 50.000 người tị nạn Việt Nam trong năm sau. Đó là một con số rất đáng kể Canada đã đón nhận trong một năm. Bộ trưởng Ron Atkey là một người bạn của tôi, người tôi đã biết trong hơn 30 năm. Ông là một luật sư rất tốt ở vùng Toronto ngày nay. Ông là chứng minh tốt nhất của chính phủ Canada vào thời điểm đó.

Nỗ lực này cuối cùng đã đưa hơn 60.000 thuyền nhân, như những người tị nạn được gọi như thế, đến đây định cư và xây dựng cuộc sống mới trên đất nước tuyệt vời của chúng ta. Người ta ước tính rằng đã có 34.000 thuyền nhân đã được các gia đình Canada, những tổ chức từ thiện, các nhóm tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ, bảo lãnh và và 26.000 người khác được chính phủ Canada trực tiếp bảo lãnh.

Một em bé thuyền nhân được tiếp đọ tại Canada. Nguồn: Photo Features Ltd.

Ở khắp nơi tại Canada, các nhóm nhà thờ và các tổ chức cộng đồng khác, bảo trợ nhiều gia đình người tị nạn đến Canada. Tôi biết điều đó đã xảy bằng một con số lớn trong thành phố Mississauga của tôi và ở thành phố Hamilton nơi mà tôi đã lớn lên. Lúc còn trẻ, tôi đã đi học ở trung học và đại học với một số người trẻ thuộc những gia đình người tị nạn khi đó. Tôi tận mắt chứng kiến nỗi đau họ đã trải qua hằn trên khuôn mặt của họ những người đã phải bỏ lại quê hương để đến Canada.

Quý đồng viện phía bên kia đã nói đến cú sốc của những người ở vùng nhiệt đới như Việt Nam đến ở một nơi rất lạnh. Hãy trở về thực tại, chúng ta đang ở vào đầu tháng Hai ở Ottawa, và bất kỳ người trong chúng ta đã ở ngoài đường hôm nay đều biết thời tiết ở đây rất lạnh. Thật là một cú sốc cho những người đã phải hứng chịu quá nhiều trong cuộc sống của họ.

Đó là một ví dụ chưa từng có về lòng bác ái của người dân Canada đối với vô số những người đang cần được giúp đỡ. Hơn một phần tư của một triệu người tị nạn Việt Nam đã thiệt mạng trong lòng biển trong cuộc đi tị nạn từ Việt Nam. Trên hành trình đó, 250.000 linh hồn đã mất. Tình hình tại quê hương đã phải là rất tuyệt vọng thì họ mới chấp nhận rủi ro rất lớn, liều mạng lên đường tìm đến tự do. Một số người đã ngã bệnh, trong khi những người khác đã chết đuối hoặc là nạn nhân của bạo lực của quân cướp biển, bị bắt cóc, và đã phải nhận chịu những hình thức bạo lực khác.

Làn sóng người tị nạn Việt Nam đến Canada và ổn định cuộc sống mới trên một đất nước xa lạ là một tấm gương ngời sáng về cách người Canada đáp ứng trước một thảm họa thế giới. Hành động bác ái của Canada gồm nhiều giai tầng, cộng đồng, và chính phủ. Nhiều gia đình người Canada đã đón người tị nạn vào ở chung nhà và giúp họ tìm việc làm và đi học. Đây được coi là một thời điểm mẫu mực trong lịch sử bảo vệ nhân đạo của Canada, và trong thực tế, là một yếu tố góp phần vào quyết định của Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng Nansen cho toàn dân Canada trong năm 1986. Đây là lần đầu tiên và duy nhất huy chương danh dự này được trao cho cả một quốc gia.

Do sự thành công vượt trội của chương trình bảo trợ tư nhân trong thời gian này, nó đã trở thành một phần cơ bản của chương trình tái định cư người tị nạn của Canada.

Đóng góp vào những câu chuyện thành công của những người tị nạn Việt Nam định cư ở Canada là chính những người Việt Nam tị nạn. Người Canada gốc Việt đang tham gia tích cực vào đời sống xã hội ở Canada, nổi bật trong kinh doanh, chính trị, nghệ thuật, thể thao, và các nỗ lực nhân đạo.

Đây chỉ là một vài ví dụ. Kim Phúc, một người nạn nhân chiến tranh Việt Nam được quốc tế công nhận, đã sáng lập một tổ chức ở Canada để giúp trẻ em nạn nhân chiến tranh. Paul Nguyen, một người Canada gốc Việt thế hệ thứ hai có cha mẹ là người sang Canada tị nạn, là một người đã nhận giải thưởng Paul Yuzyk về Đa Văn hóa năm 2010 . Kim Thúy, một tác giả nổi tiếng quốc tế, nhận giải thưởng văn chương của Toàn Quyền Canada cho cuốn sách của bà kể lại chuyện đời của mình. Đây chỉ là một vài trong số rất nhiều câu chuyện tuyệt vời của những người dân Canada gốc Việt đã kể lại những câu chuyện đời của họ và đóng góp vào sự phát triển của đất nước chúng ta.

Cộng đồng người Việt Nam tị nạn trên toàn thế giới đã gọi 30 Tháng Tư là Ngày Tháng tư Đen. Chọn ngày hôm đó ở Canada để làm rạng danh cộng đồng Canada gốc Việt của chúng ta là để bầy tỏ sự ủng hộ của chúng ta với một cộng đồng đã lớn mạnh ở đất nước này, về kinh tế, văn hóa, và xã hội. Dự luật S-219 đề nghị chọn 30 tháng 4 là Ngày Hành trình tìm Tự do ở Canada, là một ngày sẽ ghi nhận sự hy sinh của người dân Việt Nam trong một giai đoạn rất đen tối trong lịch sử thế giới.

Chủ nhật ngày đầu Tháng Hai vừa qua, tôi đã tham dự lễ mừng Tết hàng năm ở Mississauga tại Trung tâm quốc tế gần sân bay Toronto. Thủ tướng Chính phủ [Spephan Harper], Thượng nghị sĩ Ngô [Thanh Hải], và rất nhiều nhân sĩ đã phát biểu. Đó là một hội trường khoảng 15.000 người. Đây là lần thứ tám tôi đã có cơ hội để tham gia với những người Việt trong những ngày Tết hàng năm.

Đã có rất nhiều bài diễn văn về Dự luật S-219. Thật là một kinh ngạc với tôi khi thấy sự cực lực ủng hộ của cộng đồng người Việt Nam tại Toronto cho dự luật này. Họ biết dự luật này kể lại câu chuyện đời của họ.

Tôi cũng muốn đề cập đến “Tribute to Liberty”, tổ chức đang xây dựng đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Nó ở rất gần trong khu vực quốc hội, gần Tối cao Pháp viện. Chính phủ đã tặng 1,5 triệu đô-la góp phần vào dự án đó. Tôi khuyến khích tất cả mọi người dân Canada truy cập vào trang web, http://www.tributetoliberty.ca, và đóng góp. Người dân Canada gốc Việt sẽ là một phần rất quan trọng của những người được vinh danh trên di tích đó. Họ là một ví dụ trong số hàng trăm ngàn người dân Canada là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, những người đã đấu tranh để đến được Canada.

Mẫu đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản - Tribute to Liberty (Ottawa). Nguồn: Tributetoliberty.ca

Với tất cả những lý do này, để làm rạng danh hơn 300.000 người Canada gốc Việt, những người đóng góp cho sự thịnh vượng và phát triển của Canada là những công dân tích cực làm việc trong xã hội chúng ta, tôi muốn cổ vũ tất cả quý đồng viện của tôi ở đây ủng hộ việc thông qua Dự luật S-219.

Dân biểu Lysane Blanchette-Lamothe (Pierrefonds-Dollard, NDP)

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất hân hoan phát biểu về dự luật mà chúng ta đang bàn luận.

Đầu tiên, dù không muốn nhắc lại những gì đã nói trong cuộc tranh luận này cho đến nay, nhưng tôi vẫn muốn nói rằng tôi tự hào hôm nay chúng ta có thể nói chuyện về sự đóng góp của người Canada gốc Việt. Dự luật này một lần nữa cho chúng ta một cơ hội để cảm ơn họ vì những đóng góp của họ cho cộng đồng của chúng ta trên khắp Canada.

Trong khu vực bầu cử Pierrefonds-Dollard, có một cộng đồng người Canada gốc Việt năng động, họ là một cộng đồng không nhất thiết chúng ta luôn nhìn thấy, nhưng họ hiện hữu. Đây là một cộng đồng đã tích hợp vào các thớ sợi của cả cộng đồng dân Canada nên đôi khi người ta không chú ý. Tuy nhiên, họ có mặt khắp nơi và hội nhập rất tốt vào các lĩnh vực xã hội, kinh tế, cộng đồng và giải trí.

Và vì thế tôi không thể nói về dự luật này mà không nhắc đến họ. Tôi cám ơn họ đã là một phần của cộng đồng của chúng ta và những đóng góp vô giá mà họ đem lại.

Tôi cũng nhân cơ hội này để nói rằng ngày lễ kỷ niệm là có thể có vì tại một thời điểm nào đó trong lịch sử của Canada, chúng ta đã mở cửa và chúng ta quyết định, như là một quốc gia và một xã hội, để đón nhận những người đang tìm nơi nương náu sau một cơn khủng hoảng lớn. Khi cuộc chiến gây ra nhiều bi kịch của con người kết thúc, Canada đã mở cửa và nhận người vào, và nay họ là một phần không thể tách rời của cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị của Canada.

Lý do tôi đưa vấn đề qua hình thức này, và tôi không che đậy, là người bình phụ trách về vần đề công dân và dân nhập cư cho đảng Tân Dân chủ, NDP, tôi có thể nói rằng mọi thứ ở Canada đã thay đổi kể từ thời điểm đó.

Hãy xem qua một con số đơn giản. Sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam, khoảng 60.000 Việt Nam được nhận vào Canada. Sáu mươi nghìn người tìm nơi ẩn náu và tìm thấy nó ở đây, ở nước ta.

Tôi không thể không so sánh nó với cuộc khủng hoảng ở Trung Đông hiện nay, đặc biệt là ở Syria. Liên Hiệp Quốc cho chúng ta biết rằng đây là cuộc khủng hoảng chưa từng có. Hàng trăm ngàn người đã tìm cách lánh nạn bên trong hoặc bên ngoài Syria, nhưng ông bộ trưởng nói với chúng ta rằng cho đến nay, chỉ có 1.300 người tị nạn Syria đã được nhận vào Canada kể từ đầu cuộc khủng hoảng, thật không may.

Cam kết nhận 1.300 người tị nạn mà ông bộ trưởng cho biết rằng ông đang gặp khó khăn gỡ khó có thể tưởng tượng để thự hiện đúng hạn là điều đáng xấu hổ khi chúng ta so sánh nó với sự cởi mở, khi chúng ta, khoảng 30 năm trước, khi chúng ta đón nhận 60.000 người đã chạy trốn sự gian khổ ở xứ của họ. Tôi nghĩ rằng những con số đã tự nó đã có thể nói cho mình.

[Dân biểu Lysane Blanchette-Lamothe (Pierrefonds-Dollard, NDP) dùng phần còn lại của thời gian tranh luận để tiếp tục phê bình chính sách đón nhận dân nhập cư và người tị nạn hiện nay của chính phủ Bảo thủ Cấp tiến đương nhiệm. Và ở phần cuối bài phát biểu, bà Blanchette-Lamothe kết luận,]

Tôi muốn kết thúc bằng một điểm tích cực bằng cách nhắc nhở mọi người rằng chúng ta đang nói về người Canada gốc Việt Nam và những đóng góp hiện nay của họ. Thật đáng khâm phục, không chỉ vì những gì họ đã đóng góp với Canada, mà còn vì những thử thách thức mà họ đã vượt qua. Tất cả những người tị nạn tại Canada đề phải trải qua những thách đố như thế. Không có ai lại chọn làm người tị nạn cả. Tôi không thể nào tưởng tượng được, nhưng tôi có thể hiểu được, thử thách mà những người tị nạn đã phải vượt qua khi họ phải rời bỏ người yêu thương, nơi họ hằng yêu mến, bỏ lại nền văn hóa, bỏ lại đất nước và khí hậu quen thuộc, đôi khi trong những khoảnh khắc vội vàng. Nhìn thấy thành công những con người ấy ngày nay thúc giục tôi cảm ơn tất cả dân Canada nói chung đã mở rộng vòng tay, đã góp phần vào các chương trình xã hội, đã cởi mở đón nhận những người tị nạn này. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta ở đây trong Hạ viện nên chào kính tất cả những người tị nạn, kể cả những người tị nạn Việt Nam đã tới 30 năm trước đây, và chúc mừng họ đã vượt qua trở ngại và trở thành một phần của gia đình lớn của xã hội Canada.

Quý ông Peter Kent, cựu bộ trưởng phụ trách Môi trường, dân biểu (Thornhill, CPC):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, trong vài phút còn lại của buổi tranh luận, tôi xin được nhiệt tình ủng hộ Dự luật S-219, Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do.

Tôi đã làm việc tại Việt Nam trong một thời gian khá dài khi còn là nhà báo trong những thập niên 1960, 1970, 1980, và ngay cả vào những năm 1990. Tôi được đặc ân đáng ngờ là đã có mặt ở Sài Gòn vào ngày đen tối đó, 30 tháng Tư năm 1975, khi tôi được di tản khỏi căn cứ của Hoa Kỳ cùng với những người Mỹ sau cùng, những công dân của các nước thứ ba khác, và hơn 7.000 công dân Việt Nam có mặt ở đó. Tôi đã theo dõi với mối quan tâm lớn trong những năm đen tối của những trại cải tạo suốt những năm còn lại của thập niên 1970 và sau đó, và tiếp tục với một mối quan tâm lớn tới hoàn cảnh của những người buộc lòng phải để rời khỏi đất nước của họ để tìm một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác.

Tôi có thể cam đoan với những đồng viện đã bày tỏ quan tâm, quý vị dân biểu vùng Beauharnois-Salaberry và Winnipeg North, rằng dự luật này sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban. Ủy ban sẽ nghe điều trần của nhân chứng thuộc mọi quan điểm, và tôi mong được gặp Đại sứ Việt Nam trong thời gian nghiên cứu của ủy ban sắp đến.

Tôi sẽ nói với ông Đại sứ rằng dự luật này không phải là một sự lên án đối với chính phủ [CHXHCNVN] hiện nay. Chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ và tốt với chính phủ hiện tại. Dự luật này mô tả lại một thời điểm đặc biệt tối tăm và hành trình tìm tự do của hàng trăm ngàn người. Trong số này, 60.000 người tị nạn đã đến Canada. Trên thực tế, Việtt Nam có tự do hơn không phải nhờ chiến tranh nhưng vì những áp lực của tư bản, vì một nền kinh lế tự do, và vì ý chí của nhân dân muốn có một cuộc sống tốt hơn ở Việt Nam.

Để kết luận, ý nghĩa của việc tưởng niệm Ngày Hành hành trình tìm Tự do thực sự là ở ba phương diện. Nó sẽ đánh dấu những sự kiện bi thảm sau khi Sài Gòn sụp đổ và sự di cư của những người tị nạn Việt Nam. Nó cũng sẽ vinh danh tất cả những người Canada, những người đã vượt qua mọi thách thức để chào đón những người tị nạn đang bị chấn thương tinh thần, và giúp họ thích nghi với cuộc sống mới và tốt hơn trong một vùng đất mới và xa lạ. Sau cùng, nó sẽ tán dương những đóng góp lạ thường mà những người tị nạn Việt Nam đã thực hiện để xây dựng đất nước tuyệt vời của chúng ta.

Điều này vừa mới được chứng minh trong cuối tuần qua nhân dịp lễ Tết ở Toronto, nơi mà quý đồng viện đều biết rằng Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu trước một đám đông hơn 10.000 người Canada gốc Việt Nam.

Tất cả người dân Canada nên biết đến những câu chuyện của những người tị nạn Việt Nam bị buộc phải rời bỏ quê hương, những nỗ lực nhân đạo lớn của người Canada đã thể hiện trên khắp mọi miền từ bờ Bắc Thái Bình Dương đến bờ biển Bắc Cực qua bờ Bắc Đại Tây Dương, và đã thắng nghịch cảnh mà hiện thân là cộng đồng năng động của người Việt Nam tại Canada ngày nay.

Quyền Chủ tịch Hạ viện (Ông Barry Devolin):

Thời gian để xem xét Dự luật đã hết hạn và được đưa vào bậc sau cùng cùng của thứ tự ưu tiên trong tập hồ sơ ở Hạ viện.

Quý dân biểu vùng Thornhill sẽ có sáu phút khi vấn đề này trở lại cuộc thảo luận trước Hạ viện.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: 41st PARLIAMENT, 2nd SESSION, EDITED HANSARD • NUMBER 170. Thursday, February 5, 2015, House of Commons Debates, Private Members’ Business, Journey to Freedom Day Act.

dcvonline.net

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Cuộc vận động chính trị lịch sử

Posted by hoangtran204 on 22/03/2012

Lời tựa: Trong cuộc vận động thỉnh nguyện thư từ tháng 2, tháng 3 vừa qua, có hơn 1000 người Việt về thủ đô Washington DC tham dự vào các ngày 5 và 6 tháng 3. Đó là một cố gắng rất lớn của người Việt chúng ta.

Nước Mỹ rất rộng lớn.  Người Việt ở  Mỹ sống rãi rác trên khắp 50 tiểu bang. Ngoài một số người sống ở tập trung trong  6-7  tiểu bang (ở trong các thành phố lớn). Những người khác sống rãi rác và thưa thớt trong các tiểu bang còn lại. Có nơi, chỉ là một nhúm vài chục, hoặc vài trăm người, có vùng chỉ vài ba ngàn người sống lưa thưa rải rác.

Để về tham dự cuộc vận động chính trị lần này, người Việt phải dành rất nhiều thời gian, tiền bạc để chuẩn bị. Ở các tiểu bang  gần hoặc xa vùng thủ đô, nhiều người đã lái xe từ 2-8 tiếng mới tới nơi. Khi đi xa, tính đi tính lại thì mỗi giờ trung bình chỉ lái được 100 km (dẫu cho có lái 70-75 miles/ giờ). Xăng ở Mỹ lúc này giá 3,5 đô/ gần 4 lít; vẫn còn thua giá xăng ở Việt Nam, 1 lít/ 23 000 ngàn đồng. Lái xe trên đường cao tốc, với xe nhỏ, thì  mỗi giờ mất chừng 8 lít xăng (30 miles/ 1 gallon);  xe có 6 cylinder, V6,  hay minivan ngốn hết 10-12 lít (25 miles/ 1 gallon). 

Đặc biệt có khoảng 50- 80 người Việt từ Canada lái xe 10-18 tiếng đồng hồ về DC tham dự. Có một số người Việt từ Úc đến  góp mặt ủng hộ và chắc có lẻ ở các nước khác nữa, nhưng vì nhiềul ý do, họ không muốn lên tiếng. 

Người Việt ở các tiểu bang miền tây như California, Texas thì phải mua vé  máy bay qua Washington DC. Từ California qua thủ đô Washington mất 6 giờ bay. Vé mùa này cũng khoảng 350-500 đô/ 1 vé. Chỗ ăn chỗ ở cũng là một vấn đề. Nếu không có bà con bạn bè ở vùng ấy, người ở xa đến  mướn khách sạn ở vùng này cũng tốn khoảng 80-150 đô một ngày, chưa tính chi tiêu ăn uống.

Những ngày tháng 3 ấy thời tiết rất lạnh, nhiệt độ vào khoảng 0-2 độ C, gió lạnh buốt. Trên mạng còn viết rằng: có rất nhiều bác lớn tuổi 65-75 muốn về tham dự, nhưng con cháu bận đi làm hoặc ở xa nên đành ở nhà nghe ngóng và sụt sùi không yên. Thế mới biết tình người Việt Nam của mình đối với đất nước và đối với nhau luôn luôn là nồng ấm, dù là ở cách xa đến đâu. Rất cảm kích và biết ơn những người đã bỏ thời gian ký thỉnh nguyện thư, vận động những người khác ký thỉnh nguyện thư và đặc biệt là những người đã về tham dự tại DC. Cuộc vận động lần này rất qui mô, phổ biến rất rộng rãi trên internet và báo chí. Người tham dự ký TNT rất hăng hái, mạnh mẻ, hơn 150 000 ngàn người trong vòng 30 ngày là một nổ lực rất lớn của người Việt chúng ta.

Cuộc vận động chính trị lịch sử

Tác giả Đỗ Thành Công

nguồn danchimviet.info

http://www.danchimviet.info/archives/54701

Tôi đến Washington DC vào chiều thứ bảy, gặp gỡ và trao đổi với một số thân hữu trong 2 ngày cuối tuần, trước khi có mặt tại phòng họp Toà Bạch Ốc trưa Thứ Hai, ngày 5 tháng 3. Đây là lần thứ ba tôi vào Toà Bạch Ốc và lần nào thì cũng phải đi qua trạm kiểm soát này. Tuy phòng họp khác, nhưng phạm vi và hình thức, thì có thể khẳng định là địa điểm nằm trong khu vực thuộc Toà Bạch Ốc.

Khác với các lần trước, khi vào Toà Bạch Ốc và Quốc Hội với tư cách Phát ngôn nhân của Đảng Dân chủ Nhân dân, lần này tôi đi như một công dân Mỹ gốc Việt, ký Thỉnh Nguyện Thư cùng với mọi người, đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ phải áp lực với Hà Nội về nhân quyền. Tôi cũng ý thức được là mình đi thay cho gần 150 ngàn đồng hương đã ký tên trong Thỉnh Nguyện Thư, nhưng không có cơ hội để tham dự, trong đó theo ước lượng của tôi, có thể có hơn 10 ngàn người Việt, đang định cư ở Bắc California.

Những bức ảnh được dựng bên ngoài tòa Bạch Ốc

Thỉnh Nguyện Thư đòi hỏi Chính quyền Obama cần vận dụng yếu tố nhân quyền trong chính sách thương mại, áp lực Hà Nội phải tôn trọng nhân quyền, thả các tù nhân chính trị, cụ thể là Linh mục Nguyễn Văn Lý, Ts. Cù Huy Hà Vũ, Việt Khang và nhiều người khác.

Với sự vận động hữu hiệu của hệ thống truyền thông SBTN, qua anh Trúc Hồ và sự tiếp tay hỗ trợ của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, thuộc Boat People SOS, kết quả là gần 150 ngàn người Việt tại Hoa Kỳ đã ký tên trong Thỉnh Nguyện Thư. Đây là một cú “bỏ phiếu” lịch sử chưa từng có trong quá trình đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Hải ngoại.

Hai ngày tham dự vận động nhân quyền với Cộng Đồng, tôi cảm nhận được tâm tư và nguyện vọng của hơn 1000 người Việt có mặt tại Hoa Thịnh Đốn và nổi thao thức, hồ hởi của gần 150 ngàn chử ký trên Thỉnh Nguyện Thư. Tôi nghĩ đây là thời điểm của lịch sử mà không phải lúc nào cũng có thể xảy ra, vì vậy có mặt cùng với các tấm lòng yêu thương đất nước, gặp gỡ nhiều người đã bỏ thời gian, tiền bạc, công việc v.v….để hội tụ tại Hoa Thịnh Đốn là một cơ duyên. Tôi cũng nghĩ, chắc khó có được một khoảng khắc như thế này lần thứ hai. Tôi đánh giá, đây là một cuộc vận động chính trị lịch sử tại hải ngoại, nó khẳng định một số yếu tố như sau:

– Sự lên tiếng đồng loạt chưa bao giờ xảy ra với gần 150 ngàn chữ ký trong một thời gian rất ngắn, để bày tỏ quan tâm của người Mỹ gốc Việt, của Cộng Đồng Người Việt tại Hoa kỳ, trước tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam và yêu cầu Chính quyền Obama phải có thái độ cụ thể, đã đánh động được dư luận ở tầm vóc quốc tế.

– Vận dụng được sức mạnh của truyền thông, khai dụng yếu tố kỹ thuật toàn cầu từ trang nhà của Toà Bạch Ốc, cho mục tiêu đấu tranh và đã thể hiện được yếu tố Đoàn kết Cộng Đồng. Sự kiện này, vừa chứng tỏ sức mạnh của Cộng Đồng đối với chính giới Hoa Kỳ, vừa đánh tan được dư luận cho là thụ động, bảo hoà, an phận của Cộng Đồng Người Việt sau hơn 35 năm bỏ nước ra đi.

– Làm hỏng luận điệu tuyên truyền của Hà Nội đối với người dân trong nước khi rêu rao tập thể người Việt tại Mỹ nói riêng và Hải ngoại nói chung là khúc ruột nối dài của Đảng. Gần 150 ngàn chử ký của Thỉnh Nguyện Thư đã bẽ gãy luận điểu tuyên truyền cho rằng chỉ có một bộ phận nhỏ “phản động” tại hải ngoại, còn mang tâm lý thù hằn, chống phá nhà nước CHXHCNVN.

– Gây dựng lại niềm tin không những cho Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ và Hải Ngoại mà còn thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cho các Lực lượng Dân chủ và Nhân dân tại Việt Nam.

– Bản Thỉnh Nguyện Thư với kết quả ngoạn mục, được viết ngay trên trang nhà của Tòa Bạch Ốc, chính là bản cáo trạng, tố cáo bản chất độc tài, chà đạp nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội. Hình thức và nội dung này có giá trị và sức mạnh ngoại vận vô cùng hữu hiệu, hơn bất cứ cuộc điều trần nào về Nhân quyền.

Một số diễn tiến của sự việc

Khi số lượng chử ký đã lên đến hơn 50 ngàn, nhà cầm quyền Hà Nội đã bộc lộ tâm lý hoảng hốt. Thông tin ghi nhận, Bộ ngoại giao Hà Nội đã thăm dò phía Toà Đại sứ Mỹ tại Hà nội về Thỉnh Nguyện Thư và bày tỏ sự quan ngại của họ. (Tin trên mạng cho biết:  Hà nội đã yêu cầu tòa đại sứ Mỹ đóng trang web có thỉnh nguyện thư).

Ngược lại, phía Lập pháp Hoa kỳ khi đuợc thông tin về cuộc vận động trên, đã tham gia tích cực trong tiến trình áp lực Hành Pháp, họ đã thúc đẩy Hành Pháp phải quan tâm đến đòi hỏi của Cộng Đồng. Các Dân biểu trụ cột của Cộng Đồng Nam và Bắc California, đã đồng loạt lên tiếng và hổ trợ chúng ta.

Trong khi đó, phía Hành Pháp, Chính quyền Obama đã phải có thái độ đáp ứng. Theo qui định của Thỉnh Nguyện Thư trên trang nhà Toà Bạch Ốc, nếu đạt con số ký tên trong thời gian tối thiểu, nội dung Thỉnh Nguyên Thư sẽ được nhân viên Toà Bạch Ốc chú ý. Bước thứ hai là họ sẽ cử chuyên viên về lãnh vực chuyên môn để tham khảo, tìm hiểu nguyện vọng của Thỉnh Nguyện Thư, và sau cùng, bước thứ ba, sẽ có phúc đáp, trả lời trực tiếp của đại diện từ Toà Bạch Ốc.

Đó là tiến trình về Thỉnh Nguyện Thư, tiến trình này không có phần phải tiếp Cộng Đồng ngay tại Toà Bạch Ốc, hay trực tiếp lắng nghe Thỉnh Nguyện Thư của Cộng Đồng ở bất cứ hình thức nào. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, chưa tới 3 tuần lễ đã đạt con số hơn 130 ngàn chử ký, điều này có thể đã áp lực lên Văn phòng Tiếp cận Công chúng. Vì vậy, đã dẫn đến việc tổ chức cuộc tiếp đón đại diện Cộng Đồng tại Toà Bạch Ốc, hay đi xa hơn nữa là có “tin”, sẽ có Tổng Thống đến gặp phái đoàn trong ngày 5 tháng 3 v.v…..

Có thể nói, về mặt đấu tranh, mục tiêu Thỉnh Nguyện Thư đã đạt được thành quả to lớn. Chúng ta muốn nội dung Thỉnh Nguyên Thư phải đến tận tay Tổng Thống Hoa Kỳ, Barack Obama. Chúng ta cũng mong muốn Hoa Kỳ phải áp lực với Hà Nội trong quan hệ thương mại. Dĩ nhiên việc Hoa Kỳ sẽ có thái độ và hành xử thế nào với Hà Nội, còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng mục tiêu Thỉnh Nguyện Thư tố cáo Hà Nội đã và đang vi phạm nhân quyền, và gần nhất là đang giam giữ Việt Khang, chỉ vì anh cất lên tiếng ca bày tỏ lòng yêu nước, mục tiêu đó đã hoàn toàn đạt được kết quả mỹ mãn. Nếu không có một số lượng người ký tên đáng kể, vượt qua chỉ tiêu của trang nhà Toà Bạch Ốc, sẽ không có cuộc gặp mặt tại Toà Bạch Ốc, và cuộc vận động Quốc Hội của hơn 500 người từ hơn 45 tiểu bang trên toàn nước Mỹ. Đồng thời, nội dung của Thỉnh Nguyên Thư, cũng không đặt lên bàn của TT Hoa Kỳ để Barack Obama biết là Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ muốn gì.

Trong quá khứ chúng ta đã tiến hành nhiều công tác ngoại vận. Các hình thức vận động qui mô như đăng Thỉnh Nguyên Thư trên báo Hoa Kỳ với phí tổn rất cao, hay ở tầm vóc nhỏ hơn như gửi thư thẳng tới Tòa Bạch Ốc v.v…Tất cả các hình thức đó đều có thể khẳng định là không đến tay TT Hoa Kỳ, ngoại trừ lần gặp mặt ông TT George W. Bush hồi năm 2007 với 4 đại diện của Đảng phái và Tổ chức Nhân quyền. Lần này, với thành quả vận động ngoại vận vô cùng ngoạn mục. Nội dung Thỉnh Nguyện Thư đã đến tay TT Hoa Kỳ, như vậy chiến dịch đã đạt mục tiêu.

Nếu cuộc họp ở Toà Bạch Ốc dĩễn ra suông sẻ theo dự tính, có lẽ đã không có vấn đề tranh luận và gây nhiều ngộ nhận. Qua kinh nghiệm ngoại vận, nếu chúng ta thụ động, không lên tiếng, không đấu tranh, không vận động và không đòi hỏi, thì làm sao Chính quyền biết chúng ta muốn gì? Đồng thời, cũng cần phải hiểu để tránh tâm lý thất vọng là hướng giải quyết như thế nào, còn tuỳ thuộc vào bối cảnh chính trị từ Lập Pháp lẫn Hành Pháp. Thông thường, các giới chức ngoại giao và chính trị chuyên nghiệp, đều trả lời nước đôi, hoặc họ không đủ thẩm quyền để hưá hẹn, hoặc chẳng dại gì hứa rồi không làm được thì hố to.

Cuộc họp ở Toà Bạch Ốc ngày 5 tháng 3 năm 2012 đã diễn ra trong khuôn khổ như vậy. Việc tổ chức gặp Cộng Đồng theo đánh giá của tôi là sáng kiến từ Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Đây là văn phòng mới thành lập, nhân viên thiếu kinh nghiệm và không có sở trường về ngoại vận. Đối với đòi hỏi của Cộng Đồng Người Việt, yêu cầu Chính quyền Obama phải có hướng giải quyết để áp lực Hà Nội trên lãnh vực nhân quyền đã vượt ra khỏi phạm vi chuyên nghiệp của Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Đó là lý do chúng ta thấy cuộc tổ chức sơ sót và vấp phải một số khuyết điểm. Quan trọng nhất, chương trình thảo luận đã bị thay đổi giờ chót, bị chi phối, làm đảo lộn mọi thứ và gây bất mãn từ nhiều người tham dự.

Tại sao lại thay đổi chương trình? Ai thắng, ai bại trong chíến dịch Thỉnh Nguyện Thư?

Thành phần tham dự chương trình tại Toà Bạch Ốc, cao cấp có ông Jon Carson, Giám đốc Văn Phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Ông Jon đã thay mặt TT Obama để chào mừng mọi người, cho biết TT Hoa Kỳ rất quan tâm về nhân quyền và tuyên bổ “cuộc vận động bằng Thỉnh Nguyện Thư của quý vị với con số 130 ngàn chữ ký là một hiện tượng”. Bỏ ra những xáo ngữ, thành phần tham dự trong chương trình và những thay đổi giờ chót, cho thấy sự lúng túng từ phiá Hành Pháp.

Trong chương trình, lúc đầu không có Michael Posner, phụ tá Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách về Nhân Quyền, Dân chủ và Lao Động. Người đại diện do Bộ Ngoại Giao chỉ định tham dự hội thảo là Robert Bailey, chỉ là “Vietnam Human Rights Officer”, nhân viên về Nhân quyền Việt Nam. Ông Michael đến vào lúc chót, nâng tằm vóc cuộc họp tại Toà Bạch Ốc đúng ý nghĩa của Thỉnh Nguyện Thư. Dù vậy, nó cũng cho thấy, quyết định của Văn phòng Toà Bạch Ốc, không phải từ Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng, khi đưa ông Michael Posner đến tham dự vào giờ chót là quyết định bị áp lực, không phải quyết định có chủ ý.

Michael Posner là chuyên viên dày dạn kinh nghiệm về lãnh vực nhân quyền, ông đã từng gặp một số thân nhân của các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam. Năm 2009 tại khách sạn New World Sài Gòn, Michael đã gặp mẹ của Nguyễn Bắc Truyển, em Bs. Lê Nguyên Sang, Luật sư Lê Công Định, Luật sư Đặng Dũng và nhiều người khác, để tìm hiểu về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Trước khi được đề cử làm phụ tá bà Ngoại trưởng Hillary Clinton, ông Michael là luật sư và đã từng sáng lập Tổ chức có tên là Nhân Quyền Trên Hết – “Human Rights First”. Vì vậy, nhờ vào kinh nghiêm hoạt động trong lãnh vực nhân quyền, Michael được để ý và cất nhắc, từ đó bước vào lãnh vực chính trị.

Trong cuộc điều trần tại Quốc hội Hoa kỳ hồi tháng 5 năm 2011, ông Michael Posner, phát biểu về chính sách của Hoa Kỳ về Dân chủ như sau: “ Chính quyền Obama tin tưởng rằng sự chuyển tiếp các nền dân chủ phải tự phát từ chính các quốc gia đó. Thử thách nằm ở chính nhân dân và những người lãnh đạo tại các khu vực này, nhằm tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn, một tương lai mà các chính quyền phải có trách nhiệm trả lời trước những khát vọng của quần chúng và nhận trọng trách để bảo vệ nhân quyền, các giá trị tự do căn bản và lòng tự trọng của quần chúng, vì họ xứng đáng được đối xử như vậy. Nước Mỹ luôn đặt trọng tâm và kỳ vọng vào sự thành công của họ và chúng ta có thể giữ vai trò rất hệ trọng để ủng hộ họ. “

Mặc dù Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng lo nhiệm vụ tổ chức cuộc gặp, nhưng chương trình và nội dung thì Toà Bạch Ốc quyết định, vì nó tế nhị và vượt ra khỏi phạm vi chuyên môn của Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng. Sự kiện Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã vận động Thỉnh Nguyện Thư với gần 150 ngàn chữ ký trong thời gian kỷ lục, đã nói lên mối quan tâm sâu xa của Cộng Đồng. Sự kiện này, cũng chứng tỏ Hành Pháp, thời gian qua đã lơ là trong lãnh vực nhân quyền và đó là lý do để Hà Nội gia tăng cường độ vi phạm, liên tục đàn áp các nhà bất đống chính kiến, bắt giam vô tội vạ các anh chị em dân chủ với các bản án tùy tiện.

Bản Thỉnh Nguyện Thư cũng cho thấy sự mềm mỏng của Chính quyền Obama trước thái độ “bất chấp dư luận” của Hà Nội. Điều này, vô hình chung, tạo điều kiện cho Hà Nội, được “đàng chân lân đàng đầu” leo thang đàn áp. Vì vậy, nên Cộng Đồng Người Việt mới phẫn nộ và nổ lực lên tiếng trong một mặt trận chung, dẫn đến kết quả bất ngờ với Thỉnh Nguyện Thư lịch sử.

Cuộc họp ở Toà Bạch Ốc để lên án Hà Nội vi phạm nhân quyền, nhưng cũng mặc nhiên xác nhận một sự kiện mà phiá Hành Pháp không muốn đề cập đến, đó là họ đã coi nhẹ lãnh vực nhân quyền khi đối đầu với Hà Nội trong thời gian qua. Đó là lý do Toà Bạch Ốc đã phải thay đổi chương trình, cắt bỏ các phần thuyết trình có chất lượng về nhân quyền, đề nghị chọn lựa những thành phần “trẻ”, nhưng thực chất là thiếu kinh nghiệm để dễ dàng điều hướng.

Có thể nói, Toà Bạch Ốc không muốn thấy trong ngày 5 tháng 3, ngay tại khuôn viên Toà Bạch Ốc, Cộng Đồng Người Việt, không những tố cáo Hà Nội vi phạm nhân quyền mà còn qui trách nhiệm cho Hành Pháp đã không làm tròn chức năng của họ. Hãy tưởng tượng nếu thuyết trình viên không phải Billy Le, Cindy Dinh mà là những chuyên viên kinh nghiệm và dày dạn về nhân quyền, hiểu rỏ chính sách ngoại vận của Hoa Kỳ và Hà Nội, thì cuộc hội thảo sẽ diễn ra theo chiều hướng nào? Liệu cô Tuyết Dương, cố vần về dân quyền và di trú thuộc Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng, có thể lèo lái nội dung cuộc thảo luận theo hướng của Toà Bạch Ốc không?

Thỉnh Nguyện Thư và cuộc vận động chính giới tại Hoa Thịnh Đốn trong hai ngày 5 và 6 tháng 3 năm 2012 là một thành quả ngoại vận vô cùng tốt đẹp của Cộng Đồng Người Việt. Nếu phải xác định ai thắng, ai bại thì có thể nói là Cộng Đồng Người Việt đã thắng vẻ vang. Vì không riêng gì Hành Pháp Hoa Kỳ phải nhượng bộ trước sức mạnh ngoại vận, phiá Lập Pháp đã nhận ra khả năng vận động của Cộng Đồng, ngay cả nhà cầm quyền Cộng sản cũng đã bị hố to.

Từ nay về sau, các luận điệu như Cộng Đồng Người Việt là khúc ruột của Tổ quốc, hay họ chỉ là những kẻ thua trận, bọn quá khích thiểu số, bọn khủng bố v.v… đều không đủ sức thuyết phục, không những đối với Nhân dân trong nước mà ngay cả đối với các chính giới Hoa Kỳ. Nói cách khác, gần 150 ngàn chử ký là những lá phiếu của Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, vả vào mặt chế độ và tố cáo bản chất độc tài, vi phạm nhân quyền của Hà Nội trước công luận thế giới.

Cái gì đã và sẽ xảy ra?

Sự việc đáng tiếc lẽ ra có thể giải quyết trước. Khi Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng gửi thư qua email trước ngày 5 tháng 3, họ đã đề trên lá thư mời rỏ ràng là “National Vietnamese American Leaders Briefing”. Chính trong tiêu đề in trong tờ chương trình, phần thuyết trình cũng ghi rõ “Updates from Young Vietnamese Leaders on Diaspora Communities” một cụm từ dễ gây ngộ nhận, vì nó gần trùng với tiêu đề đã từng sử dụng cho cuộc hội thảo hồi tháng 7 năm 2011, tại Washington DC do Boat People SOS tổ chức.

Nói cách khác, những người trong cuộc lúc đó có trách nhiệm phải liên lạc và yêu cầu Văn Phòng Tiếp Cận Cộng Đồng thay đổi hình thức lẫn nội dung ngay từ đầu để tránh ngộ nhận. Thay vì đợi đến lúc đã rồi thì mới phản đối, bước ra khỏi phòng họp, hoặc giải thích, biện hộ vòng vo thì “tình ngay, lý gian”, gây ra những tổn hại, nghi kỵ không cần thiết và vô bổ trong Cộng Đồng.

Thành qủa của gần 150 ngàn chử ký đòi hỏi Hành Pháp phải cứng rắn trong các chính sách đối ngoại với Hà Nội có giá trị vô cùng to lớn. Đây là sức mạnh của Cộng Đồng, đặt điều kiện và bày tỏ các nguyện vọng trên mặt trận ngoại vận cũng như vận động chính trị, có lợi cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân quyền. Thành quả này, không phải của riêng ai, không phải của SBTN hay Boat People SOS, nó là nổ lực và tài sản chung của cả Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ và Hải Ngoại. Và vì vậy, cần thẩm định và đánh giá trung thực, khách quan để tránh thái độ ‘công thần” hay “độc quyền” hoặc “cầm nhầm”. Tất cả chỉ có hại cho đại cuộc; vừa làm nản lòng những người đã góp sức đấu tranh, vừa tự làm giảm giá trị của mình trong mắt quần chúng.

Tôi vẫn tin rằng chúng ta “nhân vô thập toàn”. Đã có những thiếu sót, khuyết điểm trong việc tổ chức và những khuyết điểm này cần phải học hỏi, rút kinh nghiệm để hoàn hảo hơn. Nhưng nếu khuyết điểm là vấp vào bản chất của lòng “tự cao, tự đại”, của “độc đoán” trong cách hành xử và giải quyết công việc, thì sẽ tự làm hại mình, bị tảy chay, cô lập và dẫn đến hậu quả của thất bại, không sớm thì muộn.

Việc dấu tên thành phần ban thuyết trình “trẻ”, đợi đến phút chót mới biết đã không phải là quyết định có lợi. Nếu “Billy Le” có vấn đề, không hội đủ tiêu chuẩn của sự khách quan tối thiểu, đại diện cho gần 150 ngàn chữ ký để thuyết trình tại Toà Bạch Ốc, thì việc dấu tên thành phần thuyết trình, phút chót mới công bố, đã góp phần tạo ra những dư luận bất lợi.

Cuộc thuyết trình tại Toà Bạch Ốc, không phải chỉ thay mặt SBTN hay Boat People SOS, mà là thay mặt cho gần 150 ngàn chữ ký. Phải ý thức điều này để thấy tầm vóc hệ trọng của vấn đề, thì mới không vấp khuyết điểm chủ quan trong quyết định chọn nhân sự, thay mặt cả Cộng Đồng Người Việt Hải ngoại. Trong số gần 200 quan khách tham dự tại Toà Bạch Ốc, có nhiều người tại Washington DC, đủ khả năng và tầm vóc để nói thay cho Cộng Đồng.

Sự kiện Toà Bạch Ốc đòi hỏi phải để người “trẻ” chỉ là thủ thuật, trẻ mà không đủ kinh nghiệm đấu tranh, trẻ mà hiện diện chỉ để làm dáng, trẻ nhưng không đủ vai vế để thay mặt Cộng Đồng, thì cần phải xét lại yếu tổ “trẻ”. Toà Bạch Ốc có nhu cầu của họ, nhưng Toà Bạch Ốc cũng không muốn thấy Cộng Đồng người Việt đề nghị huỷ bỏ cuộc gặp mặt vì chương trình chỉ để “trình diễn”, không thể hiện mối quan tâm sâu xa của hàng trăm ngàn chữ ký và hàng triệu triệu người Việt đang quan tâm đến Nhân quyền. Có thể nói ngày 5 tháng 3 có hàng triệu triệu trái tim, trong nước lẫn hải ngoại, đang hướng về cuộc họp tại Washington DC trong Toà Bạch Ốc. Vì vậy, những sơ sót đã làm nhiều người thất vọng, và không ít người đã phải quay mặt để dấu những giọt nước mắt chua chát.

Chúng ta mới chỉ đạt được thành quả bước đầu, chúng ta vừa mới chứng tỏ sức mạnh vận động ngoại vận của Cộng Đồng đối với Hành Pháp và Lập Pháp. Cần khai dụng sức mạnh này một cách khách quan và hiệu quả hơn nữa, nếu không thì gần 150 ngàn chữ ký của Cộng Đồng cũng chỉ nằm ở giá trị của biểu tượng. Đây là thử thách cho chúng ta và cho các anh chị em đang làm công tác vận động chính trị. Với kinh nghiệm vận động hậu trường, chúng ta hiểu rỏ, chính trị Mỹ là chính trị thực tiễn, quyền lợi đôi bên đều được cân nhắc và tính toán để không có ai là người thắng kẻ thua.

Phiá Hành Pháp lẫn Lập Pháp đều có những nhu cầu của họ, và nếu chúng ta đáp ứng các nhu cầu này, những đòi hỏi và vận động của chúng ta có thể được lắng nghe và hồi đáp. Nói cách khác, đòi hỏi suông không phải là hướng giải quyết khả thi. Chúng ta đã đòi hỏi, phần còn lại chúng ta vận dụng sức mạnh, qua hình thức lá phiếu và vận động tài chánh, biến đòi hỏi thành hiện thực.

Không phải chỉ có Nhân Quyền

Chúng ta đấu tranh không phải chỉ đòi hỏi nhân quyền. Nhân quyền chỉ là một điểm của mặt trận Tự do và Dân chủ. Ngày nào chế độ độc tài CSVN còn hiện hữu, ngày đó nhân quyền còn tiếp tục bị vi phạm và chà đạp. Với bản chất tráo trở và đang bị tứ bề thọ địch, Hà Nội sẽ càng phải đàn áp mãnh liệt hơn bao giờ hết để bám víu độc quyền. Sẽ còn nhiều Việt Khang, Bùi thị Minh Hằng, Cù Huy Hà Vũ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày, Đinh Đăng Định v.v…vào tù, vì họ đã nói thay cho hàng triệu triệu người dân Việt.

Vì vậy, mục tiêu trước mặt của Cộng Đồng Hải ngoại là vận dụng sức mạnh ngoại vận để đấu tranh, làm lợi và hổ trợ cho mục tiêu lâu dài của nhân dân trong nước, làm suy yếu chế độ độc tài, toàn trị, phản dân, hại nước. Hiện nay, các chế độ độc tài đang đi vào thời kỳ thoái trào và sẽ bị tiêu diệt bởi xu thế của lịch sử. Không có gì phải ngần ngại và sợ hãi để nói thẳng vào mặt của chế độ độc tài CSVN là “chở thuyền cũng là dân và lật thuyến cũng chính là dân”.

Ngày 13 tháng 3 năm 2012, một tuần sau cuộc họp ở Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi đã có mặt trong cuộc vận động gây qũy tranh cử cho nữ Dân biểu Zoe Lofgren. Tại đây, tôi đã trao đổi với bà Dân biểu Zoe về cuộc họp tại Hoa Thịnh Đốn, và bà cũng đã ghi nhận những trục trặc. Trước đó, tôi cũng đã gửi tài liệu nhân quyền và so sánh trong lãnh vực này, từ thời Cựu TT George Bush tới đương kim TT Hoa Kỳ Barack Obama. Bên cạnh yếu tố nhân quyền, tôi cũng đã đề cập đến trào lưu Dân chủ và Cách mạng tại Trung Đông, mà chính sách ngoại vận của Mỹ, theo chủ trương làm bạn với chính quyền độc tài thay vì nhân dân, không phải là đối sách có lợi, cho cả Mỹ lẫn nhân dân Việt Nam.

Bài học về cách mạng ở Trung Đông, qua sự kiện TT Ai Cập, bạn thân của nhiều đời TT Hoa Kỳ, hiện đang đứng trước giá treo cổ là bằng chứng cho thấy lịch sử đang đi theo hướng nào. Tôi cũng nhấn mạnh đến mối quan tâm của Hà Nội hiện nay, trong việc đang ráo riết vận động mua vũ khí tối tân của Mỹ, cũng như nhờ cậy đồng minh Mỹ, giúp đỡ trong lãnh vực này. Theo tin mới nhất, Nga sẽ bán 48 chiến đấu cơ tối tân Su-35 cho Trung Quốc, trong khi Su-30 đã bán cho Việt Nam, đang bị trở ngại kỷ thuật. Điều này càng khẳng định mối lo ngại của Hà Nội, trước viễn ảnh bị Nga Sô đi đêm Trung Quốc, bán đứng và đâm sau lưng Hà Nội.

Mối quan hệ Mỹ- Việt sẽ vượt ra khỏi tầm vận động chính trị của chúng ta. Vì quyền lợi khu vực và chính sách ngoại giao ngắn hạn, Chính quyền Obama có thể sẽ bỏ quên những đòi hỏi của Cộng Đồng. Điều này từng xảy ra và sẽ xảy ra trong bối cảnh quan hệ Mỹ- Việt trước thế cần quân bình và cầm chân Trung Quốc tại Đông Nam Á. Dù thế nào, chúng ta cũng cần nhận ra sức mạnh của Cộng Đồng đứng ở đâu trong cuộc vận động chính trị hiện nay.

Với khả năng vận dụng gần 150 ngàn chữ ký trong thời gian kỷ lục, chúng ta đã tạo ra ấn tượng mạnh mẽ để ảnh hưởng đến chính giới Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới. Cứ tưởng tượng, nếu một khối cử tri Việt sẽ bỏ cho một vị Dân cử nào đó, ở Texas hay California, thì sự ảnh hưởng sẽ mạnh mẽ cở nào! Cứ tưởng tượng, chỉ cần mỗi một người ký tên trong Thỉnh Nguyên Thư tự nguyện ghi danh đi bầu, và mỗi người ký tặng một dollar vào quỹ tranh cử Tổng Thống, hay Dân biểu, Thượng Nghị sĩ, sẽ là sức mạnh. Và sức mạnh sẽ được đo lường ở mức độ vận động có kế hoạch, đồng bộ, không mơ hồ hay chỉ nói chung chung.

Người Mỹ có câu, “show me the money” hay “talk is cheap” để xác định yếu tính thực tiển. Đã đến lúc, gần 150 ngàn chữ ký phải bước qua giai đoạn biểu tượng, để chứng tỏ sức mạnh của lá phiếu và khả năng tài chánh, áp lực lên Lập pháp lẫn Hành Pháp, để thúc đẩy những chính sách có lợi cho nổ lực đấu tranh trên mặt trận Nhân quyền, Dân chủ và Tự do cho Việt Nam.

Chuyện bên lề

Tôi đã từng từ chối cuộc gặp mặt ở Toà Bạch Ốc với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Councils) vì không phải chúng ta cứ “goị dạ bảo vâng”. Khi tôi tham dự các cuộc họp ở tầm vóc quốc gia, tôi ý thức vai trò của mình không đại diện cho cá nhân, hay đảng phái, mà tôi đang thay mặt cho đồng bào của tôi, hàng triệu triệu người Việt trong ngoài nước, đang khao khát Dân chủ, Tự do. Chúng ta có nhu cầu khai dụng ngoại vận để có lợi cho đại cuộc, nhưng cũng không vì vậy mà đánh mất bản chất tự trọng của Dân tộc. Vì nhiều lý do, khó có thể đảo ngược quyết định của Toà Bạch Ốc, nhưng cũng đừng để họ đánh giá chúng ta. Có thể có người nói tôi bị “chảnh” theo cách nói sau này. Nhưng nếu “chảnh” vì đồng bào, vì tự ái dân tộc, thì tại sao lại không “chảnh” để khỏi phải hối tiếc.

Trong cuộc vận động tại Quốc Hội, tôi đã phải xót xa khi thấy hàng trăm đồng bào đứng bơ vơ như rắn mất đầu, không biết phải làm gì vì người chịu trách nhiệm chưa có mặt vì nhiều lý do. Chương trình vận động Quốc Hội đã không kịp gửi trước đêm hôm đó. Gần 2 tiếng đồng hồ đứng lạnh cóng ngoài hành lang Quốc Hội, chỉ vì sơ sót, vừa mất thời gian, vừa lộn xộn và hỗn độn đã gây nhiều phiền muộn. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ đó chỉ là những khuyết điểm không thể tránh khỏi trong quá trình tổ chức, không vì vậy mà phải lên án, chê trách.

Một ngày sau cuộc vận động ở Quốc Hội, Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam đã được Ùy ban Đối Ngoại Hạ Viện thông qua. Có thể đây là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể nhờ nổ lực vận động chính trị của Cộng Đồng. Hà nội đã vội vã lên tiếng phản đối và bài bác Dự luật. Điều này càng làm rỏ bộ mặt trơ tráo của chế độ, khi không biết xấu hổ tuyên bố “trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được rất nhiều những thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lãnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.”

Hai ngày sau cuộc vận động tại Hoa Thịnh Đốn, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng về trường hợp bắt giữ anh Đinh Đăng Định, một giáo viên ở Tây Nguyên, đã gia nhập hàng ngũ chiến sĩ dân chủ, đã mạnh mẽ phê phán chế độ độc tài và kêu gọi huỷ bỏ điều 4 Hiến pháp. Anh Đinh Đăng Định không giống như Ls. Lê Công Định hay Linh mục Nguyễn Văn Lý, trường hợp của anh không gây tiếng vang và không có nhiều người biết đến, dù vậy Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng phản bác. Phải chăng họ đã học được bài học và thay đổi hướng giải quyết đối với các chính sách leo thang, vi phạm nhân quyền của Hà Nội.

Có nhiều người hỏi tôi nếu có cơ hội gặp TT Barack Obama, giống như lần gặp ông TT George Bush năm 2007, tôi sẽ đề nghị những gì. Thực sự, điều tôi ngại không phải là tìm câu hỏi cho ông Obama, mà tôi lo ông sẽ hỏi ngược lại tôi: “Cộng Đồng Việt Nam muốn Chính phủ Hoa Kỳ áp lực Hà nội về mặt thương mại, để họ tôn trọng nhân quyền. Nhưng tôi biết qúy vị đã gửi gần 10 tỷ dollars về Việt Nam hàng năm, đồng tiền này cũng đang tiếp tay củng cố nền kinh tế XHCN, tại sao Cộng Đồng lại không áp lực với Hà Nội?” Có lẽ tôi sẽ không có câu trả lời? Nói theo cách của người miền Nam là “cứng họng”.

Năm 2010, giao dịch thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ gần 20 tỷ dollars, trong khi đó con số không chính thức, Cộng Đồng Người Việt đã gửi về cho gia đình, hoặc đầu tư lên đến gần 10 tỷ dollars. Đây là những nghịch lý mà chúng ta cần nhìn lại, không thể đấm ngực nói lỗi tại tôi mọi đàng, rồi mong chờ người khác giải quyết. Chúng ta có trách nhiệm với gia đình, thân nhân nhưng cũng có trách nhiệm với Đất nước, và Dân tộc. Mỗi người cần tự vấn và có kế sách khả thi. Cần hiểu rằng trong số 1 dollar gửi về cho thân nhân, có thể hơn 50 xu đã làm đòn bẩy để nuôi sống cơ chế tham nhũng, độc tài.

Phải chăng, nên bắt đầu từ những người tiên phong đã ký Thỉnh Nguyện Thư? Phải chăng, con số 150 ngàn chữ ký là biểu tượng của cả trăm ngàn con tim đang sẵn sàng nhập cuộc nhưng chưa biết phải làm gì? Đừng để họ như rắn mất đầu trong ngày 6 tháng 3 năm 2012 tại khuôn viên Quốc Hội? Hãy bắt đầu cho một Vận hội mới của Dân Tộc. Đâu rồi những lãnh đạo “trẻ” có đủ bản lãnh để lèo lái trong cơn thử thách?. Lãnh đạo là tiên liệu, là đi tiên phong chứ không phải tự phong. Tôi mong chúng ta có thêm nhiều lãnh đạo, trong cũng như ngoài nước, ở cùng ý nghĩa đó để Dân tộc và Đất nước được hồi sinh.

Cách mạng là một sự thay đổi, đột biến và đảo lộn mọi thứ. Không ai ngờ, ngọn lữa tự thiêu của anh sinh viên bán hàng rong Mahamed Bouzzizi ở Tunisia năm 2010, đã quật ngã hàng loạt chế độ độc tài tại Trung Đông và Bắc Phi. Chính vì Hà nội đã dập tắt lời ca tiếng hát Việt Khang, nên đã làm hứng khởi cho bản Thỉnh Nguyên Thư lịch sử. Ngày nào Cách Mạng Việt Nam bùng nổ? Chúng ta chưa có câu trả lời. Nhưng điều chúng ta có thể khẳng định là một chế độ độc tài, toàn trị như CSVN, một chế độ cai trị dựa trên bạo lực, nhà tù và súng đạn, thì thời gian để chế độ tồn tại sẽ đếm từng ngày.

Đỗ Thành Công

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »