Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra’ Category

►Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8 và ngày 2/9

Posted by hoangtran204 on 05/09/2016

___
Cảnh người trèo tường vào tòa nhà Bắc Bộ phủ. Ảnh Tư liệu

 

Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8 và ngày 2/9

Hoàng Bùi
Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân”, và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 được ghi nhận:

– Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
– Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
– Đập tan ách phát-xít Nhật
– Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.Để hiểu rõ cái sự giành này, hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày tháng tám. Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại. Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước.Như vậy vào thời điểm này, chế độ phong kiến quân chủ đã bị xóa bỏ trên đất nước Việt Nam, và sự đô hộ của Pháp cũng không còn, vì thế việc xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ không có công của Việt Minh, đồng thời, việc lật đổ sự đô hộ của Pháp cũng không có công của Việt Minh. Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: “cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền”. Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động chiếm lấy một cách bạo lực thứ vốn không phải của mình.

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Việc từ chối giúp đỡ từ lực lượng ngoại quốc bảo vệ quyền lực của mình, tránh gây đổ máu cho người Việt cho thấy vua Bảo Đại đã rất coi trọng tinh thần dân tộc, đồng bào, truyền thống “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Vì vậy, không thể nói Việt Minh đập tan ách phát xít Nhật, mà phải nói rằng vua Bảo Đại và chính phủ của ông đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình. Quả là “gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau khi cướp chính quyền, để củng cố tính chính danh của mình, Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao, và sau đó thì lựa thời cơ tống vua ra nước ngoài. (Đúng là bọn đểu cáng lừa đảo)

Trong hồi ký của vua Bảo Đại, ông cũng kể về những điểm này.

Vậy sau khi giành được chính quyền, và chính quyền đó có về tay nhân dân không? Có lẽ câu trả lời đã rõ sau 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam vẫn chẳng có một chút quyền gì, nhân dân Việt Nam không được bầu cử một cách thực sự, không được sở hữu đất đai, không được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó không có, những điều khác chỉ là hão huyền.

Và vì vậy, cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân đó, 70 năm qua vẫn chưa xong.

————
.

Một số link tham khảo để kiếm chứng sự kiện được viết bên trên, được lấy từ báo lề phải và từ chính người trong cuộc nói, kẻo lại bảo xuyên tạc và bôi nhọ.

Lời người trong cuộc kể về diễn biến ngày 17 và 19 tháng 8.
http://vnexpress.net/…/ky-uc-cuoc-tong-khoi-nghia-o-ha-noi-…
 
Tổng quan về CMT8.
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cách_mạng_tháng_Tám
 
Vua Bảo Đại:https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Bảo_Đại

_______________

16 nhận xét :

  • Rất mong các nhà lý luận CS được trả lương ( thuế của dân ) hãy lịch sự, nhã nhặn, tương kính… trả lời bài viét này. Nếu không phản biện được một cách ” văn minh ” thì xin cúí mặt và trả lại thẻ đảng.

    Trả lời

  • 70 năm vẫn chưa xong, thêm 100 năm nữa cũng chưa xong.

    Trả lời

  • Với những người có tri thức, có trí tuệ, không thể hiểu khác đi được. Có muốn hiểu lệch đi, khác đi cũng không thể được. Lịch sử là lịch sử, sự thật vẫn là sự thật. Không thể tô đen thành trắng, tô trắng thành đen được. Không thể ăn cướp lại bắt phải hiểu đấy là chính danh được. Vậy mà … quá nhiều người tin (là nói thời bây giờ, giữa TK 21, chứ không kể cái thời mông muội vô minh). 😥

    Trả lời

  • Bài viết với những sử liệu chính xác và rõ như ban ngày. Với thời đại internet, nếu còn tin vào những gì mà đảng gọi là “cách mạng tháng 8” thì rõ ràng chỉ là loài nhai lại!

    Trả lời

  • Những điều “Bác” nói ngày 02/09/1945:

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Thì ra “Bác” còn là nhà tiên tri vĩ đại.

    Trả lời

  • Bây giờ cứ trích nguyên văn những lời tố cáo của ông Hồ đối với bọn cướp nước và bán nước, thấy trúng 100% về bọn cướp chính quyền đang tồn tại hiện nay.

    Trả lời

  • Nếu dân ta mà biết được việc CS “đuổi Phap đi” để “rước Tàu về” thì ai ủng hộ?

    Trả lời

  • Cứ theo suy ngẫm thì CMT8 và Chiến dịch HCM là hư ảo.
    Năm 1975, bộ đội miền Bắc thoải mái tràn xuống vì quân VNCH chỉ chạy, không chống trả. Duy nhất ở Xuân Lộc có đụng độ thì bộ đội miền Bắc thua, phải đi vòng qua.

    Trả lời

  • Thực ra dùng cụm từ “cướp chính quyền” mới lột tả được đúng bản chất của sự việc và mới có vẻ công nông chứ không có vẻ tiểu tư sản hơn là “giành chính quyền”.

    Trả lời

  • “Giành/cướp chính quyền về tay nhân dân” là một cái bánh vẽ không thể to hơn.
    Đúng bản chất phải là “giành quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối về tay Việt Minh”
    Với bản chất của một toán cướp,lại thêm nắm đủ loại súng đạn trong tay,mấy “ông chủ” nhân dân chỉ còn biết è cổ ra đóng mấy trăm loại thuế,phí để bọn cướp cùng đám con cháu tha hồ phè phỡn,ăn chơi.

    Trả lời

  • Năm 1945 Vua Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim không thể ngờ được rằng hai vị đã phạm phải một sai lầm rất lớn xuất phát từ lòng nhân đạo của mình. Nếu hai vị nhờ quân Nhật ra tay thì nước ta đã tránh được 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, bây giờ VN đã là nước phát triển huy hoàng bậc nhất châu Á.

    Trả lời

  • Âu cũng là số kiếp của dân tộc, vận nước đến hồi bỉ!

  • Hồi ký Con Rồng Việt Nam:
    “Ngày 27-2-46, mới 7 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. ông H (HCM) gọi tôi:
    – Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ không?
    Nghe tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
    – Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ. Tình hình rất khó khăn, tôi biết chắc người Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
    – Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ cộng hòa…
    Ông ta nài nỉ:
    – Ngài thay chỗ cho tôi và tôi trở lại thành cố vấn thay Ngài …
    – Thế nhưng ai trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được quốc hội tấn phong, y như kiểu mọi chính phủ dân chủ thường làm.
    – Nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn lấy ai tùy Ngài.
    Ông ta trấn an tôi như vậy.”
    Cựu hoàng hỏi ý hai nhân vật là Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim. Cho rằng VM bị khó khăn và họ thành thực, Trần Trọng Kim khuyên cựu hoàng nên nhận lời. Bảo Đại bèn trả lời “đồng ý”.
    10 giờ, ông H gọi điện thoại thúc đưa danh sách chính phủ gấp để chuyển qua Quốc Hội.
    12 giờ, Bảo Đại trả lời đã sẵn sàng. Nhưng “đến 13 giờ thì chuông điện thoại reo. Ông H mời tôi đến gặp ông ta.
    – Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài trong lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng…” (12)

    Trả lời

  • Cướp chính quyền từ tay nhân dân mới chính xác.

    Trả lời

  • 1)Đuổi Pháp ra khỏi Việt nam là công của Nhật: Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông dương. Pháp phải rút về nước.
    2)Đuổi Nhật ra khỏi Việt nam là công của Mỹ: Ngày 6/8/1945 và 9/8/1045 Mỹ thả 2 quả bom ở 2 đảo Hyroshima và Janasaki. Nhật đầu hàng đồng minh và rút về nước.
    3)Xóa bỏ chế độ Phong kiến là công của Ngô đình Diệm: Ngày 26/10/1955 qua Trưng cầu dân ý. nhân dân miền nam truất phế Bảo Đại xóa bỏ chế độ phong kiến thành lập chế độ Cộng hòa và bầu Ngô đình Diệm làm Tổng thống Việt nam cộng hòa, một nước tự do dân chủ như các nước phương Tây.
    Sao Nhật, Mỹ, Diệm. không kể công mà cộng sản kể công mãi vậy.

    _____________

Lợi dụng cuộc Mít-tinh ngày 17-8-1945 của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim, một nhóm người mang theo  đỏ, cờ búa liềm với thái độ hùng hổ nhảy lên khán đài giành lấy quyền tổ chức,…Thế là cuộc mít-ting của những công chức hiền lành bổng chốc trở thành cuộc biểu dương của Mặt Trận Việt Minh:  “Quả lừa lịch sử bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.”

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8) Chú ý lá cờ vàng, 3 sọc đỏ (gọi là cờ quẻ ly vì có sọc ở giữa không liền nét)

Co Que Ly

(http://thien2012.multiply.com/journal/item/11?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem)

Sách sử và báo chí của đảng gọi biến cố đó là “cướp chính quyền” của chính phủ Trần Trọng Kim, còn các văn-nô, thơ-nô gọi đó là Cách mạng mùa Thu!

Nhóm từ “cướp chính quyền” nói về biến cố này là rất chính xác. Xưa nay, để lật đổ một chính quyền tàn ác, độc tài, bất lương thì người dân đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ấy, chứ chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời tháng 4-1945 mà từ người đứng đầu cho đến các bộ trưởng là các nhân vật uy tín, tài trí, và là các trí thức cở lớn của VN lúc bấy giờ, thì việc lật đổ chỉ có gọi bằng từ cướp chính quyền.

Tuy tồn tại với thời gian rất ngắn, nhưng nhiều người VN cho rằng chính phủ Trần Trong Kim cũng đã có đủ thời gian để làm nhiều việc hành chánh rất quan trọng mà kết quả là miền Nam Việt Nam được thừa hưởng những thành quả này từ 1945-1975.   (4trang 12)

Họ là chính phủ lương thiện nhất và không từng làm một hành động nào tàn ác, hay tham nhũng; thậm chí chính họ đã thành công trong việc yêu cầu Pháp và Nhật phóng thích tất cả các tù nhân chính trị ngoài côn đảo và các nhà tù trong đất liền; nhờ chính phủ Trần Trọng Kim, mà Lê Duẫn, Phạm Hùng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh được trả tự do rời khỏi Côn Đảo; Đỗ Mười được rời khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Và về sau nhóm này đã trở thành các con quỷ dữ, đã gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975, chiến tranh Kampuchea làm chết hơn 5 triệu người VN.

Do đó hành động cướp chính quyền của ông HCM và các đảng viên CS Đông Dương không thể gọi là cách mạng, nên chữ chính xác nhất là “cướp chính quyền”.

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

►Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim ( tác giả Phạm Cao Dương)

►Gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ Mắc Lừa Bọn Du Côn”

__

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ Mắc Lừa Bọn Du Côn”

Posted by hoangtran204 on 01/09/2016

Mắc lừa bọn du côn

Tác giả:

Chính phủ Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim 17-4-1945

 

 

 

 

 

 

Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945.  Trong lúc tình hình Hà Nội và Bắc Bộ xáo trộn, chính phủ Trần Trọng Kim cử bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn ra Bắc, thay mặt chính phủ giải quyết tại chỗ những vấn đề khẩn cấp.  Sau khi gặp các yếu nhân Hà Nội, Hoàng Xuân Hãn gởi điện về Huế, đề nghị lập một cơ cấu chính trị mới gọi là Uỷ ban Giám đốc Chính trị miền Bắc (Comité directeur de la politique du Nord).

Ngày 16-8-1945, chính phủ Trần Trọng Kim đề cử thành phần Ủy ban nầy như sau:  Nguyễn Xuân Chữ (chủ tịch) và bốn uỷ viên là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tường Long.  Tuy nhiên, ngoài bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, bốn uỷ viên kia đều vắng mặt.  (Nguyễn Xuân Chữ,Hồi ký, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tr. 280.)

Lý do là vì VM đã tung cán bộ đe dọa từng người.  Phan Kế Toại không xuất hiện (có thể đã theo VM, con là Phan Kế Bảo, một cán bộ VM), Trần Văn Lai bận việc ở tòa đô trưởng, Đặng Thai Mai hoàn toàn không ra mặt, Nguyễn Tường Long bị bệnh chưa làm việc được.

Ngày 17-8-1945, Tổng Hội Công Chức do chính quyền Trần Trọng Kim thành lập, tổ chức cuộc mít-tinh tại Nhà hát lớn, Hà Nội, nhằm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong khi các diễn giả của Tổng Hội Công Chức đang nói chuyện ở Nhà hát lớn, thì một người nào đó (chắc chắn là cán bộ VM) ở trên lầu Nhà hát lớn quăng xuống một lá cờ đỏ sao vàng của VM.  Thế là cán bộ VM chụp lấy thời cơ, biến cuộc mít-tinh của Tổng Hội Công Chức thành cuộc biểu tình tuần hành, quay qua ủng hộ mặt trận VM. (Theo lời kể của một số người ngày nay lớn tuổi, đã từng tham dự cuộc mít-tinh ngày 17-8-1945 tại Hà Nội.)

Ngày 19-8-1945, VM tiếp tục tổ chức biểu tình, chiếm Bắc bộ phủ (phủ toàn quyền Pháp cũ), cướp chính quyền Hà Nội.  Việt Minh làm chủ được Hà Nội từ ngày 20-8-1945, nhưng những cuộc bạo động vẫn tiếp diễn.  Bạo động bắt nguồn từ cả hai phía: Bạo động của VM tiêu diệt những phần tử đối kháng; bạo động của những đảng phái đối lập chống lại VM.  Tại Hà Giang, Vĩnh Yên và Hà Đông, VM gặp sự kháng cự mạnh mẽ của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài Gòn: 1970, tr. 258.)

Ngày 21-8-1945, VM vận động các đoàn thể họp mít-tinh tại Hà Nội, lập ra một kiến nghị gồm ba điểm: 1) Yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và giao quyền cho một chính phủ lâm thời do Mặt trận VM thành lập. 2) Yêu cầu Mặt trận VM thảo luận với các đảng phái khác để thành lập chính phủ lâm thời. 3) Yêu cầu tất cả các đảng phái, các tầng lớp dân chúng ủng hộ chính phủ lâm thời để củng cố nền độc lập quốc gia.  Bản kiến nghị nầy  được chuyển bằng điện tín về Huế. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 137.)

Về phía Nhật, tại bộ tham mưu quân đoàn 38 của Nhật đóng ở Hà Nội, người Nhật chủ trương rằng quân đội Nhật bại trận, nhưng sẽ không nhượng chỗ cho quân Đồng minh thắng trận, mà chỉ nhượng cho những ai có khả năng tiếp tục nhiệm vụ lịch sử của Nhật Bản, là giải phóng châu Á ra khỏi tay thực dân da trắng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 136.)  Vì vậy, khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Nhật tại Đông Dương hạ võ khí, rút lui vào các căn cứ quân sự, chờ ngày bị giải giới, để cho người Việt tự do hoạt động trước khi quân Đồng minh có mặt.

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có lực lượng võ trang để giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chế độ.  Lúc đó, các cơ quan hành chánh theo truyền thống cũ từ thời Pháp thuộc, chỉ có một số lính lệ hoặc bảo an binh giữ trật tự các cơ quan, không được trang bị đầy đủ, chỉ có tính cách hình thức hoặc lễ nghi.

Thời gian nầy là cơ hội thuận tiện cho lực lượng VM tung hoành, không bị ai chận đứng.  Đây là một trong những lý do giải thích vì sao chỉ với một lực lượng nhỏ khoảng dưới 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers,sđd. tr. 182) mà VM cướp được chính quyền.

VUA BẢO ĐẠI TRÁNH NỘI CHIẾN

Sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945, Phạm Quỳnh cùng Trần Văn Chương, (nội các phó tổng trưởng), và Nguyễn Duy Quang, nội các đại thần, đã họp riêng với vua Bảo Đại chiều ngày 15-8-1945.  Nội dung cuộc họp không được tiết lộ, nhưng cuộc họp đã bị Phạm Khắc Hòe, lúc đó thế Phạm Quỳnh làm tổng lý ngự tiền văn phòng của vua Bảo Đại, biết và bí mật báo cáo với mật trận VM cộng sản. (Phạm Khắc Hòe, Những ngày cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994,  tt. 55-57.)

Về phía người Nhật, được tin VM nổi lên ở ngoài Bắc, viên đại sứ Nhật ở Huế là Massayuki Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại, đề nghị vua Bảo Đại dùng lực lượng của Nhật tiêu diệt VM, vì tuy thất trận trên thế giới, quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn, đủ sức can thiệp va đàn áp VM chỉ là một lực lượng nhỏ bé, thiếu trang bị so với quân đội Nhật.

Lo sợ nội chiến xảy ra trước sự lợi dụng của ngoại bang, vua Bảo Đại từ chối đề nghị của Yokoyama.  (Theo lời kể của ông Phan Văn Vỹ, nhị đẳng thị vệ thời vua Bảo Đại, người trực gác buổi tối khi Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại.  Ông cho biết chính ông đã đánh thức và báo tin cho nhà vua, để nhà vua ra tiếp khách.)

Một thông tin khác cho biết thêm rằng viên đại sứ Nhật ở Huế xác định với vua Bảo Đại rằng chỉ cần 2 giờ đồng hồ là quân đội Nhật sẽ dẹp tan cuộc nổi loạn ở Huế. (Daniel Grandclément, Bao Dai ou les derniers jours de l’empire d’Annam,Paris: Éditions Jean-Claude Lattès, 1997, tr. 157.)

Không phải chỉ nói với vua Bảo Đại, người Nhật còn đề nghị với thủ tướng Trần Trọng Kim.  Sau đây là lời thuật của Trần Trọng Kim:  “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay.  Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”.  Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận.”  (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 93.)

Ngày 18-8-1945, Trần Trọng Kim dự tính tập họp các lực lượng quốc gia, lập ra “Uỷ ban cứu quốc”, đưa ra bản tuyên ngôn kêu gọi các đảng phái chính trị cùng nhau cổ võ nền thống nhất và độc lập dân tộc. (Bảo Đại,Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 177.)  Công việc chưa tiến hành thì tình hình tiếp tục thay đổi nhanh chóng.

VẬN ĐỘNG NGOẠI GIAO QUỐC TẾ

Về đối ngoại, vua Bảo Đại hoàn toàn không biết Pháp đã chuẩn bị tái chiếm Đông Dương ngay từ  Hội nghị Brazzaville ở Congo, được xem là thủ phủ của Pháp tại Phi Châu, từ 30-1 đến 8-2-1944.  Thiếu thông tin liên lạc, nhà vua cũng không biết được quyết định trong tối hậu thư Potsdam gởi cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. (Anh, Hoa Kỳ họp hội nghị Potsdam, ngoại ô Berlin soạn tối hậu thư, Trung Hoa gởi điện văn đồng ý.)  Theo tối hậu thư nầy, sau khi Nhật đầu hàng, ở Đông Dương, Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) sẽ giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh sẽ giải giới quân Nhật ở nam vĩ tuyến 16.

Vua Bảo Đại gởi công hàm ngày 18-8-1945 kêu gọi sự ủng hộ của các cường quốc trên thế giới là Hoa Kỳ, Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng lãnh đạo), Anh Quốc, nhất là kêu gọi Pháp trao trả độc lập lại cho Việt Nam, đừng tái lập nền cai trị Pháp dưới bất cứ một hình thức nào.

Các bản công hàm nầy bằng tiếng Pháp được các đài phát thanh Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và Tokyo công bố rộng rãi.  De Gaulle im lặng vì De Gaulle muốn tái chiếm Đông Dương.  Chủ trương thực dân của De Gaulle thể hiện rõ trong tuyên bố Brazzaville (Phi Châu) ngày 8-2-1944, cũng như trong tuyên bố ngày 24-3-1945, quyết định tái lập Liên bang Đông Dương.

Các nước Đồng minh cũng hoàn toàn im lặng. (Bảo Đại, sđd, tt. 177-179; và David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 361.)  Lý do sự im lặng của các nước Tây phương bắt nguồn từ sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương sau khi tổng thống Hoa Kỳ là Franklin Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 (trong nhiệm kỳ).  Phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương.

Truman chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương, để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu.  Lúc đó Hoa Kỳ muốn đoàn kết các nước Tây Âu chống lại sự bành trướng của Liên Xô.  (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31; và Spencer C. Tucker chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume three, Santa Barbara, California: 1998, tr. 888.)

Tại Việt Nam, tiếp tay với vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương gởi qua Âu Châu một thông điệp, nhờ bạn bè của bà giúp đỡ, lên tiếng kêu gọi các nước trong khối Tự do can thiệp, để kiến tạo hòa bình cho Việt Nam, nhưng vô vọng vì chẳng ai đáp ứng lời kêu gọi của bà.

Trong lúc vua Bảo Đại nao núng vì Pháp không chịu tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, và các nước Đồng minh không đáp ứng nguyện vọng độc lập của người Việt do nhà vua đưa ra, thì ngày 21-8-1945, mặt trận VM gởi điện vào Huế yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

GIÃ TỪ NGAI VÀNG

Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội, chấp nhận rút lui, và xin từ chức ngày 20-8-1945.  Vua Bảo Đại yêu cầu chính phủ Trần Trọng kim ở lại xử lý thường vụ và ủy cho Trần Trọng Kim lập chính phủ khác.

Khi được điện tín ngày 21-8-1945 từ Hà Nội của mặt trận VM, thủ tướng Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại:  “Xin Ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào.  Việc đã nguy cấp lắm rồi, Ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả.  Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả.  Mình thế lực không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 92-93.)

Louis XVI là vua nước Pháp, trị vì 1774-1792.  Tuy cách mạng Pháp xảy ra năm 1789, nhưng đến năm 1792 Louis XVI mới chính thức bị lật đổ và bị lên máy chém năm 1793.  Nicholas II, hoàng đế cuối cùng của nước Nga, trị vì 1894-1917, bị truất phế sau cách mạng cộng sản năm 1917.  Ông ta và toàn gia đình bị cộng sản Nga bắn chết năm 1918.

Ngoài lời khuyên trên đây, vua Bảo Đại nhận thấy chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu tan rã.  “Sáng ngày hôm sau 23, chung quanh tôi hoàn toàn trống rỗng.  Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một Bộ trưởng nào vào điện.  Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại sân chầu vắng lạnh.  Trong dịp quốc lễ gần đây, chưa tới hai tháng, sân chầu đã đầy ních các quan và kẻ thân hoàng cung.  Bữa nay, chỉ còn riêng hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, còn trung thành đứng cạnh tôi mà thôi.” (Bảo Đại, sđd. tr. 184.)  Nói một cách khác, nhà vua cảm thấy cô đơn, cô thế và hoàn toàn bị bỏ rơi.

Chẳng những cận thần tránh mặt, nhà vua cũng không được các cường quốc đáp ứng lời kêu gọi của mình.  “…Trong khi lời kêu gọi của tôi gởi cho tổng thống Truman, cho thống chế Tưởng Giới Thạch, cho quốc vương Anh, cho tướng De Gaulle lại im lìm không có hồi âm...” (Bảo Đại,sđd. tr. 184.)

Trong lúc cô thế, vua Bảo Đại lại không biết lai lịch Hồ Chí Minh, và VM.  Cũng như nhiều người Việt lúc đó, nhà vua tưởng rằng Hồ Chí Minh và VM là những người yêu nước, được quần chúng ủng hộ, và được cả các nước Đồng minh giúp đỡ (theo lời tuyên truyền của VM), nên nhà vua sẵn sàng giao quyền cho Hồ Chí Minh và VM.  Ngoài ra, một điểm quan trọng là vua Bảo Đại là người bản tính hiền lành, không tham quyền cố vị, không thiết tha quyền lực, không có cá tính mạnh, đến độ nhà vua bị xem là yếu đuối.

Suốt trong thời gian cầm quyền, Bảo Đại hoàn toàn không ra lệnh giết hay khủng bố, tù đày một người nào.  Có thể nói không một người nào tiếp xúc với Bảo Đại, kể cả những địch thủ của ông ta, mà trách cứ về tính tình Bảo Đại.

Vì tất cả các lý do trên, cuối cùng vua Bảo Đại quyết định thoái vị theo lời yêu cầu của bức điện từ Hà Nội ngày 21-8-1945.  Ngày 25-8-1945, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị và thông báo cho đại diện VM ở Huế biết.  Chiếu thoái vị được niêm yết ở Phu Văn Lâu, ở phía ngoài hoàng thành Huế, nơi công bố các chiếu dụ, mệnh lệnh của nhà vua, kết quả thi Hội và thi Đình.

Sau đó lễ thoái vị diễn ra ngày 30-8-1945 tại Ngọ môn, Huế.  Nhà vua trao bảo kiếm và quốc ấn, tượng trưng uy quyền của triều đình nhà Nguyễn, cho phái đoàn đại diện VM từ Hà Nội vào là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận.

KẾT LUẬN

Triều đại vua Bảo Đại kéo dài trong 20 năm (1926-1945), nhưng từ 1926 đến 1932 là thời kỳ ông còn du học.  Vua Bảo Đại chỉ thực sự cầm quyền từ 1932 cho đến 1945.  Lúc vua Bảo Đại thoái vị, còn gần hai tháng nữa ông đầy 32 tuổi.  Từ nay cựu hoàng dùng tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.

Như thế là chấm dứt triều đại Bảo Đại (trị vì 1926-1945), chấm dứt nhà Nguyễn (1802-1945), và chấm dứt luôn nền quân chủ ở Việt Nam.  Lúc đó, đảng CSĐD và mặt trận VM tuy chỉ có khoảng dưới 5,000 đảng viên, nhưng là đoàn thể chính trị có tổ chức, nhất là tổ chức hạ tầng cơ sở khắp nước, nên nhanh tay cướp được chính quyền ở Hà Nội cũng như ở các địa phương.  Các đảng phái khác ở trong nước cũng như  ở Trung Hoa, thiếu chuẩn bị, đành thất thế. (Năm 1960, trong một chuyến dã ngoại, HCM rĩ tai nói nhỏ với phóng viên báo Nhân Dân rằng khi Việt Minh cướp chính quyền 1945, đảng CsĐD có không tới 500 đảng viên trên toàn quốc.)

Với tấm lòng yêu nước, đoàn kết và hiếu hoà, vua Bảo Đại chấp nhận thoái vị, tuyên bố trao quyền cho VM, tạo ra một thời cơ lịch sử rất thuận lợi cho Hồ Chí Minh và mặt trận VM, giúp cho ông ta và chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa thế kế tục chính thống hợp pháp, chẳng những trước quốc dân Việt Nam, mà cả trên chính trường quốc tế.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, Hồ Chí Minh và VM để lộ bản chất CS, đi ngược lại với ý nguyện của dân tộc, nên sau khi thoát khỏi sự kiểm soát của VM, gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 146.) (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)

TRẦN GIA PHỤNG 

(Toronto, Canada, 4-3-2015)

© Đàn Chim Việt 

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim ( tác giả Phạm Cao Dương)

Posted by hoangtran204 on 01/09/2016

Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim được Hoàng Đế Bảo Đại thành lập sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, ngày Nhật đảo chính Pháp và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, rất ngắn, từ ngày 17 tháng 4 năm 1945 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945 kể cả thời gian xử lý thường vụ. Tổng cộng hơn bốn tháng.

Chính phủ này thường bị những người Cộng Sản và luôn cả các tác giả các sách giáo khoa hay những nhà nghiên cứu chuyên môn ở miền Bắc thời trước và sau năm 1975 trực tiếp hay gián tiếp gọi là bù nhìn, là Việt gian, là tay sai của Nhật (4). Nhiều học giả ngoại quốc cũng gọi theo như vậy hay cố tình không nói tới. Các tác giả của miền Nam và ở hải ngoại, trái lại, đã tỏ ra thận trọng và có cảm tình hơn. Vũ Ngự Chiêu, một tiến sĩ sử học được huấn luyện ở Hoa Kỳ, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về lịch sử Việt Nam hiện đại, qua tác phẩm song ngữ Anh Việt: The Other Side of the 1945 Revolution: The Empire of Viet-Nam (3-8/1945), A new Interpretation – Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945: Đế Quốc Việt-Nam (3-8/1945), (5) và Lê Xuân Khoa, một cựu giáo sư triết học thuộc Viện Đại Học Saigon và một chuyên gia về người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ sau này, qua Việt Nam, 1945-1995: Chiến Tranh, Tị Nạn, Bài Học Lịch Sử, Tập I (6), là hai trường hợp điển hình cần được ghi nhận.

Sáu mươi năm đã trôi qua, đã đến lúc người ta phải nhận định lại bản chất và vai trò của chính phủ này và người đứng đầu nó cho chân thật và rõ ràng hơn, đồng thời những thành quả, dầu cho là giới hạn của nó. Đây là một nhận thức căn bản trước khi người ta nói tới Cách Mạng Tháng Tám hay Việt Minh Cướp Chính Quyền của năm 1945.

Tai nạn lịch sử hay cái thế “chẳng đặng đừng”

“Tai nạn lịch sử“ là chữ của Vũ Ngự Chiêu (7). Vũ Ngự Chiêu dùng chữ này để gọi chính phủ Trần Trọng Kim vì theo ông nó “được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật”. Nhận định này không chỉ đúng với hoàn cảnh đương thời mà đúng luôn cả cho hoàn cảnh, tâm tư của chính Trần Trọng Kim và luôn cả vị hoàng đế đương thời là vua Bảo Đại. Cả hai đều bị đặt vào thế “chẳng đặng đừng”, nói theo lối của người Miền Nam.

Cả hai đều không trông đợi, nói theo ngôn ngữ bình thường. Riêng Trần Trọng Kim, với bản chất là một nhà giáo, một tác giả của bộ sách Giáo Khoa Thư cho đến hiện tại người ta vẫn còn in lại và vẫn còn ưa đọc và viết nhiều về nó, với bản chất là một nhà nghiên cứu về lịch sử, triết học, một dịch giả của thơ Đường, đặc biệt là Việt Nam Sử Lược, một tác phẩm vừa là giáo khoa, vừa là nghiên cứu phổ thông cho đến những ngày hiện tại vẫn còn được nhiều người tin cậy và cẩn trọng giữ gìn, đã tỏ ra chẳng bao giờ mong đợi, với tuổi ngoài sáu mươi của thời đó, ít nhất đã hai lần từ chối để nhường chỗ cho Ngô Đình Diệm và một lần từ chức nhưng luôn luôn ở vào thế “chẵng đặng đừng” phải chấp nhận đứng ra lập chính phủ hay ở lại để xử lý thường vụ trong tất cả mọi giới hạn của nó. Bảo Đại cũng vậy.

Sau này trong hồi ký của ông, vị thủ tướng bất đắc dĩ này đã kể lại rằng sau gần mười ngày chờ đợi và cứ cách ba bốn hôm ông lại đến gặp cố vấn tối cao Nhật để hỏi tin tức vê ông Diệm để được trả lời là “chưa biết ông Diệm ở đâu” sau là “ông Diệm đau chưa về được”, rồi vì Bảo Đại “sốt ruột, triệu tôi vào bảo chịu khó lập chính phủ mới”. Tâm sự của hai người đã được giãi bầy qua lời kể lại sau đây:

“Ngài nói:- Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.
Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:- Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (8)

Và Trần Trọng Kim đã thành lập được một chính phủ với danh sách các bộ trưởng được đệ trình lên nhà vua vào sáng ngày 17 tháng 4 năm 1945.

Học thức, tư tưởng và đức hạnh

Là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu không đảng phái, không bè đảng, không có sẵn người, Trần Trọng Kim đã dựa theo tiêu chuẩn nào để lựa chọn người cho nội các của mình?

Cũng trong hồi ký của ông, nhà chính trị gia bất đắc dĩ này đã cho biết là phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.

Nhận xét về danh sách này, Bảo Đại phê là “Được”, còn Tối Cao Cố Vấn Nhật Yokohama thì chúc mừng là “cụ đã chọn được người rất đứng đắn.” (6)

Cũng cần phải để ý là trong những ngày đầu này, người đã cộng tác chặt chẽ với Trần Trọng Kim là Hoàng Xuân Hãn, thạc sĩ toán học (9) và cũng là một nhà giáo được sự kính mến của hầu hết các nhà trí thức trẻ đương thời. Điều này tất nhiên là dễ hiểu.

Hai nhà giáo bất đắc dĩ phải làm chính trị, vốn quen nhau từ trước, cộng tác chặt chẽ với nhau là một chuyện tự nhiên. Nó cũng là một dữ kiện cần thiết giúp ta giải thích tại sao chính phủ Trần Trong Kim lại chú trọng nhiều đến các công tác văn hóa và giáo dục, nhất là giáo dục mà thành quả đã tồn tại đến tận ngày nay và có thể rất lâu sau này.

Chính phủ đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập này gồm có một thủ tướng với danh xưng nội các tổng trưởng và mười bộ trưởng với hai người là giáo sư, bốn người là y sĩ, bốn người là luật sư và một ngươi là kỹ sư. Đây là lần đầu danh xưng bộ trưởng đã dùng thay cho danh xưng thượng thư, cùng với sự xuất hiện của nhiều bộ mới như ngoại giao, thanh niên, y tế, tiếp tế… nhằm đáp ứng nhu cầu của thời cuộc, thay vì chỉ có lục bộ như thời trước.

Trong số các bộ, không bộ quốc phòng. Trần Trọng Kim trong hồi ký của ông có giải thích điều này bằng nhiều lý lẽ, nhưng sự thiếu vắng bộ quốc phòng đã gây ra cho chính phủ của ông nhiều trở ngại khi tình thế thay đổi và nhất là khi quân Nhật bị giải giáp và Việt Minh cướp chính quyền.

Bốn tháng đầy rẫy những khó khăn nhưng những thành quả đạt được không phải là không đáng ghi nhận

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại có hơn bốn tháng kể cả thời gian xử lý thường vụ, và đã gặp rất nhiều trở ngại do hoàn cảnh của đất nước đương thời gây ra trong đó có nạn đói, có chiến tranh, có quân đội Nhật chiếm đóng và chiếm đóng vào lúc họ gần bị thất trận, có sự thiếu thật tình của người Nhật, có kinh tế khó khăn, có những sự chống đối trong nội bộ, có sự chỉ trích của dư luận do trình độ hiểu biết còn thấp kém, do sự nông nổi nhất thời hay bị tuyên truyền sai lạc, doạt nạt bằng bạo lực và ghen tị, có sự thiếu các phương tiện truyền thông và di chuyển, quan trọng nhất là thiếu nhân sự nhất là ở các địa phương (10) và các phương tiện để duy trì an ninh.

Nhưng nguy hiểm nhất là sự phá hoại của Cộng Sản được người Mỹ nhất thời giúp đỡ, hoạt động ngụy trang dưới danh hiệu Việt Minh với mục duy nhất là cướp chính quyền và cướp chính quyền bằng đủ mọi cách. Từ ngữ bù nhìn đã được họ sử dụng để chỉ cả Bảo Đại lẫn nội các Trần Trong Kim.

Điển hình là qua tờ Cờ Giải Phóng thời đó tác giả Tân Trào đã viết “Thân phận bù nhìn nó (chính phủ Trần Trọng Kim) chỉ có thể giữ việc bù nhìn… nhiệm vụ cuả nó là bọc nhung vào cái ách của Nhật, đầu độc đồng bào, thái độ của nó là ca ngợi Nhật, vào hùa với Nhật áp bức bóc lột nhân dân”.

Đây là đoạn văn đã được Dương Trung Quốc trích dẫn trong tác phẩm của ông với lời ghi chú tiếp theo về thái độ của những người cách mạng: “Thái độ của những người cách mạng là cương quyết vạch trần bản chất của nội các Trần Trọng Kim, thức tỉnh những người có ảo tưởng về “bánh vẽ độc lập” của Nhật và vạch rõ chỉ có một con đường duy nhất là tiến tới thành lập một chính quyền cách mạng của nhân dân như chỉ thị của Tổng Bộ Việt Minh đã đưa ra ngay trước ngày nội các này thành lập” (11).

Xin đọc kỹ tám chữ sau cùng: ngay trước ngày nội các này thành lập, không để cho nó có thì giờ hoạt động. Nói theo ngôn ngữ thông thường, họ đã đánh phủ đầu ngay từ rất sớm. Sau đó đã từ chối mọi sự cộng tác dù cho Trần Trọng Kim qua Phan Kế Toại, cho người móc nối và đề nghị gặp và đề nghị mà người viết sẽ trình bày chi tiết hơn ở phần dưới bài này. Một điều tất nhiên và dễ nhiểu: Đảng Cộng Sản muốn rằng họ phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền.

Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính các tương trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca… đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện.

Những thành quả này đã được các sách vở của phía những người không Cộng Sản nói tới và đặc biệt Vũ Ngự Chiêu, người đầu tiên nghiên cứu tương đối kỹ càng và có phương pháp dựa trên các tài liệu đủ loại nhất là các tài liệu lấy từ văn khố Pháp hay các sách báo đương thời, thay vì chỉ sử dụng những tài liệu mang nặng tính cách tuyên truyền.

Theo ông “Tài liệu chính thức của Cộng sản Việt Nam và các học giả thường hạ thấp giá trị nhhững kế hoạch của chính phủ Kim như “cải cách giấy”, hay độ lượng hơn, chỉ thuần là những tuyên cáo về ý định của chính phủ. Từ thời điểm này của lich sử nhìn lại, trong bốn tháng cầm quyền, chính phủ Kim chỉ có thì giờ ban hành hết dụ này qua sắc luật khác, và những cuộc cải cách ấy có rất ít ảnh hưởng đến đám đông. Tuy nhiên, các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ hơn những lời nhận định sơ sài trên. Các kế hoạch của chính phủ Kim phản ảnh quan điểm tổng quát của giới thượng lưu và trí thức về một nước Việt Nam không-ảnh-hưởng Pháp ở cao điểm của chủ thuyết Đại Á và tinh thần quốc gia Việt Nam. Hơn nữa, trái ngược với niềm tin phổ quát, Kim và các cộng sự viên phần nào thực hiện những chương trình trên. Bởi thế các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu vào sâu chi tiết, và trên vị thế lịch sử của chúng” (12).

Đi xa hơn, Lê Xuân Khoa đã khẳng định là không riêng Trần Trọng Kim mà luôn cả Bảo Đại “không phải là “bù nhìn” cuả Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thưc tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Chủ tich Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao Ủy Bollaert” (13).

Nổi bật nhất và tồn tại lâu dài nhất là chủ trương và nỗ lực Việt hóa giáo dục của chính phủ Trần Trọng Kim qua chương trình Hoàng Xuân Hãn, một chủ trương đã được thực hiện ngay từ những tháng cuối cùng của năm học 1944-1945 đầy những biến cố khủng khiếp với một kỳ thi tiểu học thành công như một bằng chứng cụ thể không thể chối cãi được của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và các phụ huynh và các nhà giáo đương thời. Chủ trương có tính cách cấp thời mang nặng tinh thần quốc gia độc lập này đã mở đầu cho một bước ngoặt mới trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

Nó đã tồn tại và phát triển liên tục trên toàn quốc Việt Nam bất kể là quốc gia hay cộng sản cho đến tận ngày nay nhưng rất ít được người ta chú ý tới, y hệt như những nỗ lực âm thầm của các nhà giáo ở bất cứ thời nào, bất cứ địa phương nào trên lãnh thổ Việt Nam và bây giờ là ở hải ngoại. Kèm theo với giáo dục là sự vận dụng và tổ chức hàng ngũ thanh thiếu niên thời này hướng tới ý thức trách nhiệm và những hành động cụ thể để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của xã hội và của dân tộc đương thời như cứu đói, chống nạn mù chữ…

Năm lần tiếp xúc và mời Việt Minh hợp tác đều bị chối từ

Trước ngày 19 tháng 8, có ít nhất năm lần chính phủ Trần Trọng Kim đã tiếp xúc với đại diện Việt Minh mời hợp tác. Những chi tiết liên quan tới các cuộc tiếp xúc này đã được những nhân vật chính trong các biến cố này là Trần Trọng Kim (14) và Nguyễn Xuân Chữ (15) thuộc chính phủ của nhà vua đương thời và Lê Trọng Nghĩa (sinh 1922-2015), tự xưng tên là giáo sư Lê Ngọc trong thời gian tiếp xúc, người đại diện cho Việt Minh trong tất cả các buổi họp mặt kể lại trong hồi ký của mình (16).

Trần Trọng Kim hồi đầu tháng 8 ra Bắc với mục đích đòi trả lại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và xứ Nam Bộ cùng các cơ sở mà người Nhật còn chiếm giữ cho chính phủ Việt Nam, hủy bỏ chế độ phủ toàn quyền vốn có từ trước, từ thời Pháp thuộc, đồng thời đòi trả tự do cho các thanh niên theo Việt Minh đi tuyên truyền bị Nhật bắt rất nhiều ở Hà Nội. Phan Kế Toại là Khâm Sai Bắc Bộ lúc đó. Ông vốn là một tổng đốc có tiếng là thanh liêm trước khi được Trần Trọng Kim chỉ định vào chức vụ này.

Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ là chủ tịch của Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc. Ủy ban này gồm có năm người, bốn người kia là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai (lúc đó là thị trưởng Hà Nội), Đặng Thai Mai, nhà giáo và Nguyễn Tường Long tức nhà văn Hoàng Đạo.

Lê Trọng Nghĩa, không ró lẽ là đảng viên đảng Dân Chủ của Dương Đức Hiền và Vũ Đình Hòe, lúc đó đã là đảng viên Đảng Cộng Sản, mới vượt nhà pha Hỏa Lò ra và được Trung Ương của Đảng Cộng Sản điều về công tác Mặt Trận và được giao cho phụ trách khối Dân Chủ trong Mặt Trận Việt Minh ở Hà Nội và một số thành phố miền Bắc, trên lý thuyết dưới quyền Tổng Thư Ký Dương Đức Hiền nhưng trên thực tế là dưới quyền của Lê Đức Thọ, người vừa thay mặt Trung Ương Cộng Sản vừa thay mặt Tổng Bộ Việt Minh. Cả hai người này lúc đó đều đi họp ở Tân Trào nên không có mặt ở Hà Nội trong thời gian tiếp xúc.

Cuộc họp thứ nhất có tính cách bí mật được thực hiện vào một buối sáng không rõ ngày nào nhưng có lẽ vào cuối tháng bảy vì theo Lê Trọng Nghĩa, nó chỉ cách buổi móc nối tiếp theo nhằm dẫn tới cuộc tiếp xúc của ông với Thủ Tướng Trần Trong Kim ít ngày và Trần Trọng Kim thì có mặt ở Hà Nội vào đầu tháng 8. Địa điểm là tại dinh Khâm sai, trong giờ làm việc. Trong buổi họp này đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa đã trình bày chủ trương và hoạt động chống Nhật của bên mình và cục diện chiến tranh, chuyện Hoa quân nhập Việt và đồng minh có thể đổ bộ. Phan Kế Toại thì lắng nghe, hỏi và đề nghị “tiếp tục giữ mối quan hệ, liên lạc nhưng chú ý giữ kín đáo…” Bốn chữ “chú ý giữ kín đáo” cho phép người ta nghi rằng cuộc tiếp xúc này của Phan Kế Toại là của riêng cá nhân ông.

Cuộc tiếp xúc lần thứ hai quan trọng hơn, nếu không nói là quan trọng nhất vì đó là do sáng kiến của chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim khi ông ra Bắc để như đã nói ở trên điều đình với người Nhật về việc thâu hồi toằn bộ lãnh thổ, các cơ sở hành chánh cũ của Pháp, xin tha và trả lại hết các các binh sĩ và sĩ quan Việt Nam mà quân Nhật còn giam giữ ở khắp nơi để chức đội quân bảo an cùng súng ống để võ trang cho đội quân này, đồng thời can thiệp cho các thanh niên bị người Nhật bắt giữ.

Cả hai nhân vật chủ chốt trong trong cuộc gặp gỡ này là Thủ Tướng Trần Trọng Kim và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa đều đã kể lại trong các hồi ký của minh. Thời gian gặp gỡ là đầu tháng 8, người móc nối cho cuộc gặp gỡ là Phan Kế Toại và địa điểm là phòng khách Phủ Khâm Sai Bắc Bộ. Vì đây là một cuộc tiếp xúc quan trọng, nó phản ảnh quan điểm cuả cả hai phía, có những chi tiết trùng hợp và những chi tiết khác biệt nên người viết thấy cần phải ghi lại đầy đủ, kể cả lý do của cuộc tiếp xúc để người đọc có thể đối chiếu và thấy rõ nột dung của cuộc trao đổi như thế nào.

Trần Trọng Kim viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi”:“Đảng Việt Minh lúc ây rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.

“Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói ‘chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?

“Người ấy nói: – Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trì nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.

– Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.

– Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.

– Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.

– Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia.

“Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.

“Tôi nói: – Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?

– Chúng tôi sẽ cướp quyền để tỏ cho cả nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.

– Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?

– Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.

– Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”. (17)

Đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa cũng mở đầu bằng chuyến ra Bắc của Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những mục tiêu tương tự nhưng thêm mục tiêu là để xem xét tình hình sau vụ Việt Minh đánh đồn Bần Yên Nhân. Ông viết: trong hồi ký của mình:

“Ngay từ phút đầu, qua thái độ và vẻ mệt nhọc, hơi khô khan của ông Kim, khi nghe ông Toại giới thiệu, tôi linh cảm thấy như cuộc gặp gỡ và cá nhân tôi không được coi trọng đúng mức. Phải chăng vì mình quá trẻ và lại chỉ đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như ý ông Thủ Tướng trông đợi.“Với ý thức là một cán bộ của Mặt Trận VM, tôi đàng hoàng trình bày ngắn gọn chương trình hành động của Mặt trận, nêu lên cái ưu thế của VM là đã cùng đứng về phía Đồng Minh chống lại phát xít Nhật ngay từ nhiều năm.. Ông nghe, tôi thấy cũng có vẻ chú ý nhưng không hỏi gì thêm. Rồi đến lượt ông phác ra điều mà chính phủ ông chủ trương, đã và đang làm: chương trình xây dựng một nước Việt Nam mới, chống thực dân và thống nhất… Đoạn, không đi xa thêm như lúc đầu tôi tưởng, ông lại lạnh lùng nói một cách trống không nhưng mà là để kết luận: ’Lịch sử sẽ phán xét cộng việc của chúng tôi!’ (Những câu nói này đã gợi cho tôi nhớ ngay đến quyển Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim thời đi học. ” (18)

So sánh các chi tiết được hai bên kể lại, người ta thấy phần quan trọng nhất của buổi họp với những lời lẽ được trao đổi liên quan tới lập luận cuả hai bên về đường lối đi tới hoàn toàn độc lập, những tai hại mà người dân phải lãnh chịu, đăc biệt gợi ý của Trần Trọng Kim mời Việt Minh vào chính phủ làm việc đã được Trần Trọng Kim tường thuật đầy đủ, trong khi Lê Trong Nghĩa thì hoàn toàn không nói tới. Trái lại, người đại diện Việt Minh này lại khẳng định là Trần Trọng Kim đã không đề nghị gì cả qua câu ông viết: “Đoạn, không đi xa thêm như lúc dầu tôi tưởng, ông lại lạnh lùng nói một cách trống không nhưng là để kết luận: ’Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tô!

Giữa hai tường thuật này, người viết nghĩ rẳng Trần Trọng Kim đã nói thật vì bản chất của ông là một nhà giáo, một sử gia, lại chịu ảnh hưởng của Khổng Mạnh và phần nào Phật Giáo, đồng thời ông viết hồi ký của mình vào lúc về già, chưa kể tới sự mệt mỏi muốn rút lui của ông vào lúc đó. Chính người đại diện cho Việt Minh cũng nhận thấy sự mệt mỏi này của vị thủ tướng ngay lúc mới vào họp. Không những thế, mục tiêu chính yếu của Trần Trọng Kim khi yêu cầu Phan Kế Toại móc nối và cho mời đại diện Việt Minh vào gặp ông ở Dinh Khâm Sai trong chuyến ra Bắc với rất nhiều việc phải làm không thể chỉ là để tìm hiểu suông. Cuối cùng là trong câu “Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tôi!” hai chữ chúng tôi hoàn toàn lạc lõng không hợp với toàn thể mạch văn. Chúng phải là các ông như trong câu của Trần Trọng Kim và cả phần đối thoại với những lời căn vặn được lập đi, lập lại như Trần Trọng Kim thuật lại mới hợp lý.

Nếu ta tin rằng Trần Trọng Kim đã nhớ đầy đủ và đã tường trình trung thực về cuộc gặp gời này thì câu tiếp theo sẽ là tại sao Lê Trọng Nghĩa lại nói ngược lại: “Trần Trọng Kim đã không đi xa hơn nữa? Ta có thể có hai giải thích.

Thứ nhất, Trần Trọng Nghĩa sống trong chế độ cộng sản khi viết hồi ký này, do đó đã bị cấm hay không dán viết hết sự thực, nhất là sự thực về bản chất chiếm lãnh độc quyền lãnh đạo đất nước bằng mọi giá, mọi phương tiện kể cả phững phương tiện bất nhân tàn bạo nhất qua câu nói “mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”, một câu nói không một nhân vật nào dám nói trong suốt lịch sử dân tộc kể cả vào những lúc nguy nan nhất. Một câu nói ông có thể đã được học trong khi được các lãnh tụ cộng sản huấn luyện.

Giải thích thứ hai là Lê Trọng Nghĩa mang mặc cảm bị coi thường vì còn quá trẻ. Sự kiện còn quá trẻ của người đại diện Việt Minh được cả hai bên ghi nhận. Trần Trọng Kim gọi Lê Trọng Nghĩa là thiếu niên (ông Toại đưa một thiếu niên đến), còn chính đương sự thì dùng chữ quá trẻ (phải chăng vì mình quá trẻ). Trần Trọng Kim chỉ kể như vậy thôi, không nói thêm gì về yếu tố này mà chuyển ngay sang phần nội dung của cuộc trao đổi. Còn Lê Trọng Nghĩa thì ngay từ lúc đầu đã cho biết là ông “linh cảm thấy như cuộc gặp gỡ và cá nhân tôi không được coi trọng đúng mức. Phải chăng vì mình quá trẻ và lại đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như ý ông thủ tướng trông đợi….. Lúc ấy, tôi đã cảm thấy hơi nóng nóng mặt.

Những chi tiết này cho phép ta đặt giả thuyết rằng phải chăng ngay từ phút đầu tiên, người thiếu niên đại diện cho Mặt Trận Việt Minh đã bị mặc cảm quá trẻ, bị coi thường, từ đó mất hết bình tĩnh, không còn nghe rõ và nghe hết những gì người mà ông có dịp gặp gỡ đã đề nghị hay vặn hỏi, để chỉ còn trả lời ngang bướng như một thiếu niên còn nông nổi, ở tuổi trên dưới hai mươi mà thôi.

Cuối cùng với tâm trạng đầy bất mãn, bực tức và mặc cảm, ông đã kết luận rằng “từ đó tôi cảm thấy không hào hứng và quan tâm nhiều lắm nữa đến mối liên lạc với các lãnh đạo cao cấp chóp bu của chính quyền để dồn hết tâm sức đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng – mà tôi thấy rõ lúc đó còn đuối – để chuẩn bị gấp cho cuộc võ trang khởi nghĩa như chỉ thị của trung ương đã nêu và tình hình đang thôi thúc…” và tất cả những gì ông nói với hay trả lời Trần Trọng Kim đều là dựa theo chỉ thị của Trung Ương Đảng Cộng Sản và những gì ông được học tập trước đó. Điều này cũng cho thấy là trong thời gian này ông hoạt động một mình; các người trực tiếp lãnh đạo của ông như Lê Đức Thọ, Dương Đức Hiền đều đi họp ở Tân Trào. Những người khác đứng sau lưng ông lúc đó cũng chưa nhận được chỉ thị nào rõ rệt.

Cuộc họp thứ ba xảy ra vào buổi sáng ngày 16 tháng 8 tại Dinh Khâm Sai và cũng do Phan Kế Toại đứng ra móc nối. Người được tìm kiếm cũng là “Giáo Sư Lê Ngọc” bí danh của Lê Trọng Nghĩa. Về chi tiết của cuộc tiếp xúc này, ta chỉ có bài hồi ký của ông này. Phan Kế Toại không để lại hồi ký và luôn cả truyện kể cho người thứ ba. Viên chánh văn phòng và hai hay ba cộng sự viên của ông cũng như các nhân vật mang tên Khang và Trần Đình Long cũng vậy.

Ông Khang lúc ấy đã đã chính thức trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Quân Sự Cách Mạng Hà Nội (điều này có thể cho phép các sử gia ở trong nước tìm hiểu xem nhân vật tên Khang này là ai) , còn Trần Đình Long là một thứ cố vấn mới được xứ ủy Đảng Cộng Sản cử đến. Lần này có lẽ vì tình hình khẩn trương hơn trước và vì tổ chức của Việt Minh và Đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã ró hẳn hoi, kèm theo với các nhân sự với những chức vụ đứng đầu, đồng thời rút kinh nghiệm lần trước, bên phía Việt Minh có tới ba đại diện, thay vì một người. Nội dung của cuộc trao đổi cũng đã được Lê Trọng Nghĩa tường thuật rõ ràng đầy đủ hơn như sau:

Hai bên đều nhấn mạnh đến tình hình khẩn cấp, lợi ích cao cả của đất, vận mệnh dân tộc… Ông Khâm sai chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với Chính phủ cụ Trần và vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Từ tốn, lịch sự, anh Khang đã thẳng thắn đáp lại là tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho VM, chúng tôi đã đủ danh nghĩa và đã sẵn sàng. Anh còn đề xuất thêm việc chuyển số vũ khí nghe nói Nhật sắp giao cho Phủ Khâm sai… để chống thực dân đang lăm le đe dọa.

Phát biểu của đại diện Việt Minh cho ta thấy rõ chủ tâm từ đầu đến cuối trong thời gian này là phải cướp trọn vẹn quyền hành thay vì chỉ tham gia chính phủ, đúng với chủ trương căn bản của họ: Đảng Cộng Sản phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền.

Cuộc tiếp xúc lần thứ tư xảy ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 và đại diện cho phía chính phủ là Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn, một nhà giáo, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam có uy tín, một “học giả lỗi lạc, bậc thày đáng kính” (lời của Lê Trọng Nghĩa) nhất đương thời. Vào lúc này tình thế đã không còn như trước nữa vì từ ngày hôm trước, ngày 17, Việt Minh đã cướp ngang được cuộc biểu tình của Tổng Hội Công Chức để mừng đất nước được hoàn toàn độc lập sau khi Nhật Bản đã đầu hàng và để ủng hộ nhà vua và chính phủ Trần Trọng Kim.

Chi tiết về cuộc biểu tình và chuyện Việt Minh cướp máy vi âm để biến tất cả thành của Việt Minh đều đã được các sách giáo khoa cũng như các sách khác ở trong vùng Quốc Gia hay ở Miền Nam nói tới đầy đủ, còn các sách ở miền Bắc trước kia và luôn cả hiện tại đã nói rất sơ lược hay không hề nói tới.

Đồng thời Việt Minh cũa đột nhập vào tòa soạn báo Tin Mới, dùng võ lực bắt ép các báo này phải loan những tin tức có lợi cho họ. Khâm Sai Phan Kế Toại thì đã bỏ nhiệm sở. Địa điểm của cuộc tiếp xúc lần này tại ngôi nhà số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, một biệt thự của một công chức cao cấp, thân thuộc của Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Bá Chính, từ lâu đã để cho Việt Minh sử dụng như trụ sở chính của họ ngay tại Hà Nội. Lê Trọng Nghĩa, tác giả của hồi ký duy nhất có nói về cuộc gặp gỡ này và cũng là người duy nhất đã tiếp chuyện Hoàng Xuân Hãn vì hai thượng cấp của ông Nghĩa, người mang tên Khang bận ở phòng bên cạnh (hay không muốn tiếp, hay thấy không cần tiếp nữa) đã kể lại như sau:

“Đúng hẹn 8 giờ sáng, ông Hãn một mình đến, được mời vào phòng giữa, phòng khách của gia đình trước bố trí bộ xa lông gụ đen, nửa cổ nửa kim mà ông chủ nhà tốt bụng còn để nguyên lại đó. Ông ăn mặc chỉnh tề (so với chúng tôi quần dài, sơ mi vắn tay) trông vẻ hiền lành nhưng không giấu được những cử chỉ hấp tấp của người đang xúc động. Tôi trịnh trọng mời. Ông cũng không chờ thêm, tự giới thiệu ngay là người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội lúc đó, đến để thông báo một tin, đúng hơn là những tin thục hết sức bất ngờ:“Ông cho biết ông Khâm sai Phan Kế Toại ngay từ đêm 17 (!) đã từ bỏ nhiệm vụ và rời nhiệm sở (Dinh Khâm sai).. Chính phủ Nhà Vua hôm nay, 18, đã cử bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Chủ tịch UB Chính trị kiêm nhiệm thay… Tôi nghe mà giật mình.
 
Ông lại chầm chậm tiếp, đại ý nói Việt Minh các ông chắc đã kiểm soát được tất cả thôi. Nhưng chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng minh đã bắt đầu lên đường chia nhau vào chiếm nam, bắc vỹ tuyến 16 nước ta rồi. Ông ngừng lấy hơi rồi rồi như tự than: đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa thôi! Tôi như ù tai, nhưng cũng còn nghe ông nói: Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Ông gợi ý luôn: Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn nhưng để cho Chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả…”

Cuộc tiếp xúc lần thứ năm tức là lần cuối cùng, trước khi xảy ra cuộc cướp chính quyền, chữ Lê Trọng Nghĩa dùng trong hồi ký của ông, cũng xảy ra vào ngày 18 tháng 8, vào lúc 2 giờ chiều. Người đại diện cho Chính Phủ là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và cho Việt Minh vẫn là Lê Trọng Nghĩa và địa điểm là Dinh Khâm Sai. Lần này sáng kiến đã đến bất ngờ và từ phía Việt Minh và nhằm do thám tình hình chứ không phải là để đối thoại hợp tác. Theo Lê Trọng Nghĩa, sau khi gặp Hoàng Xuân Hãn, ông này đã sang phòng bên gặp thượng cấp của mình để tường trình thì …”Ai đó lại lên tiếng ngay: Này, cậu phải nhanh chân nữa lên, vào ngay Dinh Khâm sai xem sao đi, khéo mà họ – tôi nắm bắt được ý là nói đến Đại Việt – ‘nẫng tay trên’ mất thì toi cả nút đấy!

Cuộc gặp gỡ lần chót này được cả hai phía là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa kể lại qua hồi ký của hai người. Điều cần biết là Bác Sĩ Chữ lúc này là Chủ Tịch Ủy Ban Giám Độc Chính Trị Miền Bắc. Ủy Ban này gồm có năm ủy viên là Phan Kế Toại, Nguyễn Tường Long, Trần Văn Lai, lúc đó là Thị Trưởng Hà Nội, Đặng Thái Mai và ông. Nhưng vào thời điểm này Phan Kế Toại đã từ bỏ nhiệm sở, Đặng Thái Mai thì tản cư vào Thanh Hóa chưa về, Nguyễn Tường Long thì bị bịnh thương hàn phải vào nằm bệnh viện, còn Trần Văn Lai thì bận việc bên tòa thị chính nên chỉ có một mình Bác Sĩ Chữ với vị thế không rõ ràng, khâm sai không ra khâm sai, chủ tịch không ra chủ tịch, đảm đương mọi chuyện, ra lệnh không ai thi hành. Về buổi họp này, hai hồi ký đã kể lại khác nhau.

Theo Lê Trọng Nghĩa thì “Mười bốn giờ ngày 18, một tôi mình đạp xe đạp tới Dinh Khâm Sai. Ông Chữ, ông Chương, ông Chánh văn phòng và một số người nữa đã thấy tề tựu, có vẻ nôn nóng chờ.” Còn theo Bác Sĩ Chữ thì “Tối thứ Bẩy, thanh niên Việt Minh, lần này đến có một người, gặp lại mỗ y sĩ. (19)” Tại sao lại có sự sai biệt về giờ giấc như vậy và tại sao không hẹn trước khi đến mà khi Lê Trọng Nghĩa tới nơi thì toàn bộ ban tham mưu của Bác Sĩ Chữ đã tề tựu và nôn nóng chờ? Riêng Bác Sĩ Chữ đã dùng hai chữ “lần này” trong lời tường thuật và trong phần trước còn cho biết thêm là trước đó ông đã có dịp gặp người thanh niên ở Phủ Khâm Sai do Phan Kế Toại mời cả hai bên tới.

Nhưng dù được tường thuật khác nhau, cuộc gặp gỡ lần cuối này cũng đã không mang lai kết quả gì vì một bên đã có mục tiêu tối hậu, có đến chỉ là để do thám tình hình và rất vội vã vì sợ “Đại Việt nẫng tay trên thì toi cả nút”, còn một bên thì vừa mới lãnh trách nhiệm trong cùng ngày, còn rất nhiều do dự lại biết rõ kẻ địch là Cộng Sản và chỉ muốn cướp chính quyền. Có họp cũng vô ích.

Trong năm lần gặp gỡ kể trên, ngoại trừ cuộc gặp gỡ lần thứ năm, bốn lần đầu lần nào phía chính phủ cũng đưa ra những đề nghị mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để cứu nước nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh với Đảng Cộng Sản đứng đằng sau đã chủ trương cướp chính quyền từ đó một mình lãnh đạo đất để thực hiện cuộc cách mạng riêng của mình bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra cho dân tộc, phản ảnh qua những câu trả lời của người đại diện Việt Minh cho những câu hỏi do chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim đặt ra và kể lại. Biến cố 19 tháng 8 do đó đã xảy ra.

Cách Mạng hay Cướp Chính Quyền

Từ ngữ cách Mạng trong lịch sử Việt Nam hiện đại là một từ ngữ mới nhưng là một từ ngữ đẹp. Nó liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, sự hy sinh và lòng ái quốc. Điển hình là trường hợp của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mà chính những người Cộng Sản cũng phải công nhận và nể sợ. “Cách Mạng” là đánh đuổi người Pháp, giành độc lập cho Việt Nam dù phải hy sinh, kể cả hy sinh chính mạng sống của mình.

“Cướp”, trái lại, là một từ ngữ xấu, là dùng bạo lực và công khai hay bằng mưu mô lừa lọc trước đó để giật từ tay người khác cái gì không phải của mình, đặc biệt là vào những lúc tình hình hỗn loạn, an ninh không được bảo đảm. Hai danh từ hoàn toàn không giống nhau nhưng đã được những người tạo ra biến cố 19 tháng 8 năm 1945 dùng để chỉ việc làm của mình và đã chấp nhận sự nghịch lý này cho đến tận ngày nay. Về phía những người chống lại, dường như thái độ cũng chưa dứt khoát. Mặc dầu đa số và trong các lớp học, từ ngữ “Cướp” được dùng nhiều hơn nhưng đôi khi người ta cũng dùng hai chữ “Cách Mạng” và gọi biến cố này là Cách Mạng Tháng Tám và thêm vô năm chữ Việt Minh cướp chính quyền.

Điều này dễ hiểu vì việc sử dụng những từ ngữ này buổi đầu là do những người đương thời có dịp tham gia hay chứng kiến biến cố 19/8/1945 lúc khởi đầu. Họ có thể là những người chống đối ngay từ đầu nhưng cũng có thể là những người đã vì lý do này hay lý do khác theo và ủng hộ Việt Minh trong buổi đầu rồi sau đó chuyển hướng. Điều cần được ghi nhớ là những người Cộng Sản trong thời gian trước biền cố này đã quyết tâm và dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi cuốn quần chúng theo mình trong đó có tuyên truyền, dọa dẫm xuyên qua những đội võ trang tuyên truyền của họ. Điều này đã được Trần Trọng Kim và Nguyễn Xuân Chữ nói rõ trong các hồi ký của hai nhân vật chính yếu này.

Riêng Nguyễn Tường Bách, một lãnh tụ Đại Việt Dân Chính đương thời đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của ông khi ông cùng với nhà văn Khái Hưng đến gặp Dương Đức Hiền, lãnh đạo Đảng Dân Chủ, lúc đó đã gia nhập Việt Minh. “Nếu các anh cứ lừng khừng nhừ thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” (20) là câu nói nguyên văn của Dương Đức Hiền với Nguyễn Tường Bách và Khái Hưng nhằm thuyết phục hai người này phải dứt khoát gia nhập Việt Minh.

Tất nhiên là hai người không sợ, nhưng với những người khác thì sợ nhất là những người có dính dáng với chính quyền Pháp và quân đôi Nhật trước và trong thới đó, đúng như phân tích của Nguyễn Xuân Chữ về thành phần của những người theo Việt Minh trong hồi ký của ông. Không sợ sao được khi mình có quá khứ thân hay đã cộng tác với Pháp hay Nhật, khi “Báo chí bí mật không ngớt nhấn mạnh đến tinh thần triệt để cách mạng và phải thẳng tay trừng trị bọn ‘bù nhìn tay sai bán nước’ một cách có phân biệt. Công tác trừ gian, trừng trị một cách đích đáng, chính xác có chọn lọc một số tên đầu sỏ như trùm mật thám ác ôn (Phán Sinh, Võ Văn Cầm…) đang được đầu óc giầu tưởng tượng của quần chúng thổi phồng lên như những câu chuyện thần thoại…

Các đội tuyên truyền võ trang do Võ Nguyên Giáp chỉ huy được thành lập 1944 chắc chắn là để làm những công tác này chứ không phải chỉ là để đánh mấy đồn Nhật. Một trong số những người đã tham gia các đội này là Nhạc Sĩ Văn Cao. Người ta khó mà hiểu được trường hợp hoàn toàn nghịch lý trong con người của Văn Cao khi đối chiếu những bài hát mang mầu sách hoài cổ, hoàn toàn đẹp và lãng mạn ông làm trước đó với thái độ cuả ông khi ông chờ đợi lãnh súng và tham gia đội vũ trang: “Hôm nay phố đông người hơn và tôi thấy lòng vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang.”(21).

Không chỉ dùng thủ đoạn với người khác, các người chủ động còn dùng thủ đoạn với chính mình. Lê Trọng Nghĩa (sinh 1922) khi kể lại hoạt động của ông trong ngày 19/8 đã cho biết ông luôn luôn dẫn đầu và những nhân vật lãnh đạo ông mang tên Khang, tên Bình theo sau cả chục mét. Để làm gì? Ai cũng có thể đoán được. y hệt sự kiện xua đàn bà, trẻ con đi trước trong các cuộc biểu tình chống chính quyền ở miền Nam mà báo hay nhiều người đã thuật lại.

Danh từ cách mạng còn được hiểu là thay thế cái cũ tệ hại bằng một cái mới tốt hơn, trong chính trị là thay một chế độ với những nhân vật tồi tệ, bất nhân bằng một chế độ với những nhân vật tốt hơn, đạo đức hơn, đặc biệt là trong một xã hội chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Mạnh. Áp dụng nhận định này vào biến cố 19 tháng 8, bình thường người ta phải suy luận là chính phủ Trần Trọng Kim phải là một chính phủ tệ hại là Việt gian, bù nhìn, tay sai, thân Nhật. Điều này như người viết đã trình bày ở trên là hoàn toàn không đúng. Ngoài những lý do đã được nêu, ngay chính người đại diện Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa, cũng phải công nhận là chính phủ này còn có sức thu hút trong những ngày cuối của nó, khi ông nói tới một buổi họp đầy xúc động của nhiều nhân vật thuộc nhóm Thanh Nghị, có lẽ là buổi họp cuối cùng để chia tay, trong đó Vũ Đình Hòe và Đỗ Đức Dục dứt khoát ra chiến khu với Việt Minh.

Nhóm Thanh Nghị, đúng hơn là Hội Tân Việt Nam được thành lập theo Dụ số 7 của Bảo Đại, đã thu hút được rất đông trí thức tên tuổi đương thời và dùng tờ Thanh Nghị làm cơ quan ngôn luận để phổ biến tư tưởng trong giới trí thức, thanh niên, sinh viên. Các nhân vật tham gia vận động thành lập nhóm này gồm có: Đào Duy Anh, Phan Anh, Phạm Đỗ Bình (tức Nhật Trương), Đỗ Đức Dục, Ngô Thúc Địch, Trần Khánh Giư (tức Khái Hưng), Ngô Tử Hạ, Vũ Văn Hiền, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy Hưng, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Lân, Vũ Đình Liên, Phạm Lợi, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Quang Oánh, Tôn Quang Phiệt, Phạm Khắc Quảng, Phạm Huy Quát, Ngô Bích San, Nguyễn Hữu Tảo, Hoàng Thúc Tấn, Nguyễn Đình Thụ, Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống), Bùi Như Uyên, Lê Huy Vận, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, và do Vũ Đình Hòe làm tổng thư ký.

Danh sách này cho thấy nhóm này bao gồm các trí thức chuyên gia nổi tiếng nhất đương thời. Cả một nhóm đông như vậy mà chỉ có hai người quyết định đi theo Việt Minh chứng tỏ đa số đứng về phía chính phủ, đặc biệt nếu ta để ý tới chủ trương cuả hội này như giữ vững nền độc lập và thống nhất quốc gia Việt Nam trong phạm vi ‘Đại Đông Á’, đoàn kết hết thảy các giới trong xã hội và các khuynh hướng chính trị…, những chủ trương phù hợp với chủ trương của chính phủ Trần Trọng Kim.

Tóm lại, hai chữ cách mạng trong trường hợp này do đó cần phải được xét lại, ít nhất là bởi các sử gia, những người tìm sự thực của quá khứ, nhất là sự thức liên hệ tới hai nhà nghiên cứu sử học tiền phong của thời hiện đại, đồng thời cũng là hai nhà giáo dục lớn, những người đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền giáo dục bằng tiếng Việt Nam của một nước Việt Nam độc lập.

Bây giờ nói tới bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Bản tuyên ngôn này cũng bị nhiều người coi là không cần thiết vì từ ngày 11/3 trước đó, Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người kế vị vua Tự Đức đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ mà Tự Đức đã kết với người Pháp rồi và Hồ Chí Minh đã làm một việc thừa, không cần thiết. Đi sâu hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng, còn bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh thì dài lòng thòng, mang nặng tính cách xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ cột liên hệ tới độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp. (Lời lẻ trong bản tuyên ngôn nhằm nói với nước ngoài, chứ không phải nói cho công dân trong nước) Có điều là tác giả có những chủ trương riêng của mình (nhằm ve vãn Mỹ hậu thuẩn viện trợ tiền bạc, nhưng TT Mỹ Truman không mắc mưu, vì biết rõ HCM là cộng sản quốc tế, nên dù HCM đã tự giải tán đảng CS Đông Dương và nhiều lần viết thư gởi cho Truman 1945 và 1946, nhưng vẫn không nhận được hồi âm). Nhưng đây chỉ là nhận định tổng quát, người học sử cần phải đọc kỹ hơn trước khi đối chiếu hai văn bản.

Riêng về từ ngữ cướp, một tác giả người Việt ở hải ngoại có uy tín, ông Minh Võ, tác giả của tác phẩm mới nhất và cũng là đầy đủ nhất về Hồ Chí Minh, trong một bài viết đăng trên Nhật Báo Người Việt ở Quận Cam, California, vào trung tuần tháng 8 vừa qua đã vượt ra khỏi ngày này (19/8/45) và đã cung cấp rất nhiều chi tiết liên hệ. Người đọc có thể tìm đọc sách hay bài viết của ông để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Chú thích:

(1) Saigon: Vĩnh Sơn, 1969.

(2) “Các cuộc tiếp xúc giữa Việt Minh với chính phủ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (6), VIII, 1994, tr. 4 – 6; số 6 (7), IX, 1994, tr. 9 – 11.

(3) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, Những Bài Học Quí Báu của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

(4) Điển hình, người viết xin đơn cử ba tác phẩm sau đây: Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Phạm Xuân Nam, Bùi Đình Thanh. Lịch Sử Việt Nam, tập II. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1989. Lương Minh, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Ngọc Cơ, Trần Bá Đệ, Trịnh Vương Hồng, Chương Thâu. Lịch Sử Việt Nam Giản Yếu. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, 2000. Dương Trung Quốc. Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919 – 1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (Tái bản lần thứ hai), 2002. Ba tác phẩm này đều được xuất bản sau năm 1975, trước đó là các tác phẩm của Trần Huy Liệu, nguyên bộ trưởng tuyên truyền trong chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh. Các tác giả của hai tác phẩm trên đã trực tiếp dùng hai chữ bù nhìn để chỉ nội các Trần Trọng Kim. Trần Huy Liệu thì dùng hai chữ này ngay trong nhan đề của một bài viết của ông. Riêng Giáo Sư Dương Trung Quốc thì tỏ vẻ thận trọng vàdè dặt hơn khi đưa ra nhận xét: “Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức tên tuổi, lại chưa hề làm quan, cùng với hứa hẹn ‘phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập’, ‘giải quyết nạn đói’, thống nhất chủ quyền lãnh thổ’ v..v… phần nào có làm cho một bộ phận dân chúng bị ảo tưởng về nền độc lập trao trả cho Bảo Đại. Nhưng ông vẫn dùng hai chữ bù nhìn và thêm vào hai chữ thân Nhật, tr. 394.

(5) Houston: Văn Hóa, 1996. Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu cũng là người chủ trương dùng sự thực sử như một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc.. Xin xem “Sự thực sử học : một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc”, trong Văn Học, số 225, tháng 5 & 6, 2005, tr. 164 – 194, xuất bản tại Hoa Kỳ.

(6) Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004.

(7) The other Side…. Phía Bên Kia….., đã dẫn-, tr. 29 và 82.

(8) Một Cơn Gió Bụi, đã dẫn, tr. 50 – 51.

(9) chữ dành riêng để gọi một văn bằng của Pháp nổi tiếng là khó, không giống với những bằng được gọi là thạc sĩ bây giờ.

(10) Trần Trong Kim, đã dẫn -, tr. 57

(11) Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử, đã dẫn, tr. 394.

(12) The Other Side… Phía Bên Kia, đã dẫn, tr. 87.

(13) Việt Nam: 1945 – 1995…., đã dẫn,tr.59. Thực ra là Sainteny chứ không phải Bollaert.

(14) -đã dẫn-

(15) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ: Những Bai Học Quí Báu Của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

(16) Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc Giữa Đại Diện Việt Minh Với Chính Phụ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (06), VIII,. 1994, tr. 4 6 và số 6 (07), IX, 1994, tr. 9 -.

(17) – sách đã dẫn -, tr. 86 – 87.

(18) Lê Trọng Nghĩa, Hồi ký đã dẫn.

(19) đã dẫn, tr. 283

(20) Hồi ký đã dẫn, tr. 154.

(21) Xin xem hồi ký của nhạc sĩ này trong Một Chặng Đường Văn Hóa, Tập Hồi Ức và Tư Liệu Về Đề Cương Văn Hóa của Đảng và Đời Sống Tư Tưởng Văn Nghệ, 1943 -, tr. 110

Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Chính phủ của hai ông

Cũng cần phải để ý là trong thời gian được gọi là cách mạng này, người cộng sản đã triệt để sử dụng đường lối tuyên truyền kèm theo với bạo lực để đạt mục tiêu. Từ ngữ võ trang tuyên truyền đã nói lên sự hiện diện của bạo lực này. Sau đó khi chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh được thành lập, người ta thấy có Bộ Tuyên truyền với Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng mà Trần Huy Liệu thì là người đã ngụy tạo ra anh hùng Lê Văn Tám theo như tiết lộ của một giáo sư sử học nổi tiếng và uy tín nhất trong giới sử học ở trong nước hiện tại. Cũng chính Trần Huy Liệu sau này đã trở thành Viện trưởng Viện Sử học Hà Nội và là giáo sư sử học.

Trước hết là về con người của Bảo Đại. Ai cũng biết là ông này đã được cho sang Pháp du học, nhưng bình thường người ta vẫn nghĩ rằng một hoàng tử, sau này bị coi là ham ăn chơi, vô trách nhiệm, thì học hành chỉ là để lấy lệ. Nhưng Hoàng Xuân Hãn lúc đó vì cũng du học ở Pháp và ở gần nhà Bảo Đại nên “thỉnh thoảng được mời lên chơi, gặp để khuyến khích ông Bảo Đại học lúc ấy. Tôi còn nhớ, nhiều khi lên ông ấy hỏi một bài toán gì đấy. Tôi giúp ông ấy như thế. Ông ấy rất dễ thương, lúc ấy là một người con giai còn trẻ đẹp, học hành cũng không phải là dốt đâu; qua những câu hỏi tôi biết rằng là người có học cả.” [5] Điều nên để ý là Hoàng Xuân Hãn giúp Bảo Đại về toán, còn Bảo Đại sau này học về chính trị học để về nước làm vua. Đó là thời đi học. Đến thời Bảo Đại làm vua, Hoàng Xuân Hãn lại có dịp gặp Bảo Đại hai lần nữa trước khi được tiếp xúc và tham gia chính phủ Trần Trọng Kim. Lần đầu vào năm 1934, tức hai năm sau khi Bảo Đại lên ngôi và thực hiện một số cải cách nhưng bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại, để đưa quà của ông Charles cho Bảo Đại. Lần thứ hai vào khoảng năm 1942, 43 để tặng sách, cuốn Danh từ khoa học.

Lần thứ nhất “ông tiếp tôi. Ông ấy ngồi ì không nói một tiếng nào, hay cứ nói tiếng một như thế. Sau rồi tôi nói với ông: Tôi ở Pháp về, chưa chắc đã ở lại được đâu. Ông hỏi tại sao, tôi cũng nói: Bên này, chính người Pháp nói với tôi: Về đây ông bị đè nén, không có thể làm việc được. Nhưng mà người thanh niên Việt Nam, nhiều người nhìn vào ngài, về cải cách này, cải cách kia, thì phải làm cái gì, chứ mà ai cũng để ý tới tới nhất là thanh niên Việt Nam. Ông ấy chỉ giả nhời tôi một câu, lúc ấy ông chỉ nói: Làm thì làm với ai? Làm với ai? Tôi cũng nói qua là hiện bây giờ họ có đưa ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Diệm về đấy. Ông ấy cũng cười. Ông cười. Ông ấy lắc đầu rồi thôi. Ông không nói câu nào nữa cả.” Lần thứ hai, “Thấy bộ ông ấy buồn lắm. Trông ông ấy buồn lắm và ông ấy không dám nói một cái gì hết cả. Mà hồi ấy, người Nhật đã ở đấy nhiều rồi đấy. ông ấy chỉ cám ơn, thế thôi.” [6]

Im lặng, không nói gì, buồn lắm, Làm thì làm với ai? Làm với ai? Đây là tâm sự của một vị vua muốn làm nhưng không ai là người cộng sự và cộng sự tốt, luôn luôn bị bao vây bởi người Pháp sau thêm người Nhật và phải đề phòng những kẻ gần gũi với mình. Người viết bài này không hiểu Bảo Đại có dịp đọc Lão Tử hay không, nhưng thái độ này là một cách sinh tồn tốt nhất. Nó phù hợp với câu nói của Trần Trọng Kim về vị vua này với Hoàng Xuân Hãn và được Hoàng Xuân Hãn kể lại: “Cái thằng Bảo Đại nó ngốc lắm, gặp nó làm gì?” và Hoàng Xuân Hãn trả lời: “Mình nghe tiếng thì thế, mà sự thực chưa chắc đã thế đâu. Cụ có thì giờ thì cụ cứ gặp đi, rồi cụ hãy nói sau.” Kết quả của cuộc gặp mặt là khi ra Trần Trọng Kim đã nói với Hoàng Xuân Hãn rằng: “Lạ lắm!“… “Tôi vào gặp ông Bảo Đại, nghĩa là ông ấy biết hết cả các chuyện chứ không phải ngốc như người ta nói.” [7]

Còn chính Trần Trọng Kim thì viết rằng “Từ trước tôi không biết vua Bảo-Đại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp hình như ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng bảy tháng tư tôi vào yết kiến thấy có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn.” [8] Những điều đúng đắn đó là gì? Trần Trọng Kim kể tiếp: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước.” [9]

Nhận định này của Bảo Đại phản ảnh rõ rệt quan điểm của ông và việc ông làm để đối phó với tình hình lúc bấy giờ. Nó là quan điểm của đa số những trí thức nổi tiếng đương thời trong đó có Phan Anh mà ta sẽ xét tới trong phần sau.

Để hiểu đầy đủ nhận xét này, ta cần nhớ là Trần Trọng Kim mới ở Tân Gia Ba [Singapore] về và chắc chắn biết rõ những gì đang xảy ra trên thế giới vào thời điểm này. Cũng vậy với sự kiện Bảo Đại gửi thư cho các vị lãnh đạo của Mỹ và của Pháp. Câu hỏi được đặt ra là làm sao Bảo Đại ở trong cung mà lại có thể biết hết các chuyện như vậy được? Một giả thuyết đương nhiên phải được đặt ra. Đó là qua người Nhật. Người viết sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác.

Bây giờ ta xét tới trường hợp Phan Anh. Vị Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim và sau là bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh này xuất thân là một luật sư hành nghề ở Hà Nội và là một trong những trí thức chủ trương Nguyệt san Thanh nghị, thường được gọi là Nhóm Thanh nghị.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho sử gia Na Uy Stein Tonnesson, để đáp lại câu hỏi “các ông nghĩ thế nào mà lại nhận lời mời của Bảo Đại“, Phan Anh cho biết có hai mục tiêu. Thứ nhất là để đuổi người Pháp vẫn còn được người Nhật giữ trong bộ máy hành chánh thời đó ra khỏi bộ máy này và thứ hai, tạm thời làm việc với người Nhật nhưng giữ trung lập, không là “đồng tác giả” (co-auteurs), không là “kẻ hợp tác.” Đây là nguyên văn câu trả lời của ông:

“Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoãn cúi đầu trước Nhật. Thâm ý là chờ đợi xem thế nào? Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳ trong bộ máy hành chánh. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ: toàn là người Pháp. Họ đã mất con bài chính trị, thì phải giữ con bài hành chính. Để làm gì? Thế đấy! Hai khả năng: Hoặc Nhật sẽ bại trận, thì người Pháp cần giữ bộ máy hành chính để rồi đặt lại nền thống trị; hoặc trái lại người Nhật còn ở lại, thì ổn rồi người Pháp cứ tiếp tục, với sự giúp đỡ của chính quốc, tiếp tục nắm một mảnh nhỏ quyền hành. Trong hai khả năng ấy thì khả năng thứ nhất hiện thực hơn. Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chánh để còn có vai trò trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chánh, lại còn trận địa kín nữa chứ.“Tôi với tư cách người yêu nước, tôi đã quan sát tình hình ấy.

Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, thanh niên công chức làm việc đó.“Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không là “đồng tác giả” (co-auteurs), không phải là “kẻ hợp tác” với họ; phải giữ thế trung lập.” [10]

Đối chiếu nhận định này với nhận định của Bảo Đại trong cuộc trao đổi giữa nhà vua và Trần Trọng Kim và với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 11.3.1945 của vị Hoàng đế thiếu may mắn và có thể nói là bất hạnh này, người ta thấy có nhiều điểm giống nhau cũng như những nỗ lực thu hồi các cơ sở hành chính lại cho chính phủ Nam Triều.

Về bản chất của chính phủ Trần Trọng Kim, khi được hỏi là “chính phủ này có phải là chính phủ bù nhìn không“, Phan Anh đã khẳng định: ”Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập.” [11]

Với nhận định này và để giữ thế trung lập, trong chính phủ Trần Trọng Kim đã không có Bộ Quốc phòng. Phan Anh giải thích: “Trong chính phủ Trần Trọng Kim có một bộ mà chúng tôi phải suy nghĩ nhiều: Bộ “Quốc phòng” hay Bộ “Quân lực” hoặc Bộ “Chiến tranh”. Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có Bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy, chúng tôi lập Bộ Thanh niên.” [12] Cần để ý là trong suốt cuộc phỏng vấn, Phan Anh luôn luôn dùng nhân xưng đại danh từ chúng tôi và để chỉ mình ông dùng tiến tôi. Cách thức làm việc quan niệm và tư cách của Phan Anh được biểu lộ qua chi tiết này. Phan Anh đã không đặt cái tôi lên trên tập thể trí thức mà ông chỉ là một.

Về những ngày cuối của chính phủ Trần Trọng Kim và những nỗ lực của chính phủ này cũng như của Hoàng đế Bảo Đại, Phan Anh đã nhận định và kể lại:

“Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông thấy rõ. Chính phủ ấy khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đã tự coi không phải là những người ‘lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước’, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hòa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim.
 
Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy. Đấy tôi khẳng định như vậy đấy. Nhưng cũng phải có chứng cớ. Đây chứng cớ: Ngay ngày hôm sau mà chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng thì chính phủ Trần Trọng Kim đệ đơn từ chức lên nhà vua và thông báo tin ấy cho tất cả các tỉnh, đồng thời nói ý định của mình nói sẵn sàng giao quyền cho quốc dân [người viết bài này đánh máy đậm]. Cụ thể hơn nữa, Chính phủ gửi thông điệp cho các nhân vật ghi trong thông điệp cho các nhân vật đại diện cho tất cả các giới và các địa phương, mời đi Huế để nghiên cứu vấn đề thành lập một chính phủ mới.
 
Trong số các nhân vật ghi trong thông điệp, tôi nhờ có hai vị mà ai cũng biết thuộc tổ chức Việt Minh. Đó là hai bạn tôi, anh Bùi Công Trừng một nhà cách mạng và cộng sản trứ danh và anh Lê Văn Hiến, sau này trở thành Bộ trưởng Tài chính. Hai nhân vật thuộc miền Nam. Lẽ dĩ nhiên thông điệp trên đã không có thể chấp hành được, bởi vì Việt Minh chủ trương khác. Phong trào do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã khởi động (người viết bài này dành chữ đậm).” [13]

Nhưng ít nhất Phan Anh cũng là một trong những người mang thông điệp này ra Bắc và nửa đường thì ông đã bị Việt Minh bắt, theo báo cáo của những người bắt ông, như là một đại Việt gian.

Trên đây là một số chi tiết liên hệ tới một biến cố vô cùng lớn lao và vô cùng quan trọng. Biến cố này đã làm thay đổi hoàn toàn sự diễn tiến của lịch sử dân tộc Việt Nam về đủ mọi phương diện. Đường lối được gọi là cách mạng hiểu theo nghĩa đơn giản ban đầu bởi người dân bình thường và ngay cả những trí thức yêu nước và luôn cả Bảo Đại khi ông thoái vị, đã không được giữ như mọi người mong muốn. Mặt trận Việt Minh ngay từ đầu đã chủ trương cướp chính quyền để thực hiện cách mạng theo đường lối riêng của họ. Họ “có chủ trương khác” theo Phan Anh.

Đó không phải là chủ trương và đường lối của Hoàng đế Bảo Đại khi còn ở ngôi cũng như của đa số các trí thức và những người trẻ đương thời, điển hình là những người tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, những người không phải chỉ là xu thời mà có những cái nhìn rất rõ rệt và thực tế về tình hình Việt Nanh ở thời điểm đương thời đã suy nghĩ và hành động nhất trí từ đầu cho đến chót, đã thực hiện được những thành quả vô cùng quan trọng trong phạm vi nội trị và luôn cả đã giữ cho người Việt và nhất là giới thanh niên đứng ngoài cuộc chiến đã đến ngày tàn của người Nhật, khỏi phải chết oan uổng và mang tiếng là theo phe bại trận. Đây không phải là một việc làm đơn giản và dễ dàng.

Những cố gắng của Trần Trọng Kim, Phan Anh, nói riêng và cả chính phủ đương thời, đứng sau là Hoàng đế Bảo Đại phải được ghi nhận khi người ta nói tới những thành quả họ đã đạt được trong một thời gian ngắn ngủi kỷ lục mà họ lãnh trách nhiệm lèo lái đất nước vào thời điểm vô cùng khó khăn tế nhị đó. Sự tế nhị này có thể được thấy rõ một phần nào nếu người ta để ý tới cuộc tiếp kiến Tsuchihashi Yuichi của Bảo Đại vào cuối tháng 5.1945, khi viên tướng Tổng Tư lệnh quân đội Nhật ghé qua Huế, ở hoàng cung và yêu cầu nhà vua hạ lệnh động viên, coi như một hành động biểu lộ sự hỗ trợ Thiên hoàng với chủ trương Đại Đông Á cùng cách trả lời vừa khéo léo vừa khẳng định quyền tự do nhận định về quyền lợi của đất nước và dân tộc mình. [14]

__________________

(1/9/2005)

Chú Thích:

[1] Phạm Cao Dương, “Sau 60 năm nhìn lại: 19/8/1945 – 2/9/1945 – Cách mạng hay cướp chính quyền? – Lịch sử nào cho tuổi trẻ học đường Việt Nam?” http://danluan.org/node/2269(BT)

[2] Tr. 443-445; tái bản bổ sung năm 2000, NXB Văn học, Hà Nội, đổi tên là Hồi ký Thanh Nghị, bài này bị bỏ (chú thích của Thụy Khuê).

[3] Califomia: Văn Nghệ, 2002, tr. 125-169 và 171-182.

[4] Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 370-378.

[5] Thụy Khuê, sđd, tr. 126.

[6] Thụy Khuê, sđd, tr. 128.

[7] Thụy Khuê, sđd, tr. 133.

[8] Một cơn gió bụi, sđd, tr. 49.

[9] Một cơn gió bụi, sđd, tr. 51.

[10] Thụy Khuê, sđd, tr. 178-174.

[11] Thụy Khuê, sđd, tr. 174.

[12] Thụy Khuê, sđd, tr. 174 – 175.

[13] Thụy Khuê, sđd, tr. 180 – 181.

[14] S.M. Bao Dai. Le Dragon d’annam. Paris, Plon, 1980. tr. 108-109.
Nguồn: Tạp chí Khởi Hành số 129, tháng 7.2007, tr. 26-28.

———-

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/05/31/ve-chinh-phu-cua-bao-dai-va-tran-trong-kim/

https://nghiencuulichsu.com/2014/05/29/ve-chinh-phu-cua-bao-dai-va-tran-trong-kim

______

Bài báo viết về sự liên hệ của nhóm OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ với HCM năm 1944 và 1945.

Henry Prunier kể lại rằng quân đội Mỹ đã từ chối lời đề nghị của ông Hồ Chí Minh muốn hiến dâng gái đẹp người Việt và thảo mộc kích dục cho quân Mỹ.

http://nytimes.com/2013/04/18/world/asia/henry-a-prunier-army-operative-who-helped-trained-vietnamese-troops-dies-at-91.html?

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Chính phủ Trần Trọng Kim 17-4-1945 đến 23-8-1945

Posted by hoangtran204 on 01/09/2016

 

Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức

Tác giả:

 

Chính phủ Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim

 

Sau khi quân đội Nhật Bản ở Đông Dương đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokoyama đến yết kiến vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tại điện Thái Hòa trong hoàng thành Huế sáng ngày 11-3, giải thích những hành động mới nhứt của Nhật Bản tại Việt Nam và tuyên bố muốn đem “châu Á trả về cho người châu Á”.

Yokoyama còn nói rằng ông ta có “nhiệm vụ dâng nền độc lập” lên vua Bảo Đại, đồng thời kêu gọi Việt Nam cùng các nước Đông Dương gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật Bản đứng đầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 159.) Khối nầy do chính phủ Nhật Bản công bố thành lập ngày 1-8-1940.

Chiều 11-3-1945, vua Bảo Đại triệu tập cơ mật viện, các thượng thư và các hoàng thân để thảo luận tình hình mới.

Cuộc họp đưa đến kết quả là nhà vua cùng các thượng thư Phạm Quỳnh (bộ Lại), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Ưng Hy (bộ Lễ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Trần Thanh Đạt (bộ Học) và Trương Như Đính (bộ Công), đồng ký bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP do Phạm Quỳnh soạn.
Đọc tiếp »

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Tại sao Ngô Đình Diệm không làm thủ tướng năm 1945

Posted by hoangtran204 on 31/08/2016

Lịch sử như những mắt xích liên kết nhau. Muốn tìm hiểu tình hình chính trị VN và thế giới hiện nay, thì phải biết rõ lịch sử VN trong giai đoạn 1945. Các chế độ chính trị ở VN trong 70 năm qua đều có nguồn gốc từ 1945. Muốn hiểu rõ chính sách đối ngoại, hành động của các nhân vật trong đảng csvn và tình hình VN sẽ đi về đâu trong các thập niên tới, phải hiểu giai đoạn lịch sử quang cột mốc 1945.

Tại sao Ngô Đình Diệm không làm thủ tướng năm 1945

Tác giả:

29-8-2016 

1.- VUA BẢO ĐẠI TÌM KIẾM NGƯỜI XƯA

Sau khi đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, Nhật Bản quyết định trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11-3-1945 và tìm chọn người lập chính phủ. Nhà vua nhờ người Nhật tìm quan Lại bộ Thượng thư (năm 1933) là Ngô Đình Diệm đang ở Sài Gòn, nhưng đợi mãi không gặp, vua giao cho học giả Trần Trọng Kim làm thủ tướng.

Ông Trần Trọng Kim

Ông Trần Trọng Kim

Vua Bảo Đại xác nhận điều nầy trong đạo dụ số 5 ngày 17-4-1945, chuẩn y nội các Trần Trọng Kim. Nhà vua tuyên bố: “Trẫm đã định giao quyền tổ-chức Nội-các mới cho nguyên Lại bộ thượng-thư Ngô-đình-Diệm và đã nhờ Quí-quan tối-cao Cố-vấn [Nhật tên Masayuki Yokoyama] và sắc phong Ngự-tiền văn-phòng gửi thư và đánh điện tuyên triệu. Nhưng ngày hôm qua Quí-quan tối cao Cố-vấn phúc rằng Ngô khanh đau không về chầu được.” (Nguyễn Duy Phương, Lịch-sử và nội-các đầu tiên Việt-Nam, Hà-Nội: Việt-Đông xuất-bản cục, 1945, tr. 4.)

Kể lại chuyện vua Bảo Đại gợi ý việc lập chính phủ, Trần Trọng Kim thuật như sau:

Tôi tâu rằng: “Việc lập chính phủ, Ngài nên dùng người đã dự định từ trước, như Ngô-Đình-Diệm chẳng hạn, để có tổ chức sẵn sàng. Tôi nay phần thì già yếu bệnh tật, phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị, tôi xin Ngài cho tôi về nghỉ.

Ngài nói: “Trẫm có điện gọi cả Ngô-Đình-Diệm về, sao không thấy về.

Tôi tâu: “Khi tôi qua Sàigòn, có gặp Ngô-Đình-Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. Còn tôi thì xin Ngài cho tôi ra Bắc.

Ngài nói: “Vậy ông ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc.”

Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm, và có mấy người như bọn ông Hoàng-Xuân-Hãn đều bảo tôi thử trở lại. Tôi chờ đến gần mười ngày. Cách đó ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin tức gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Đó là lời tối cao cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại.

Vua Bảo Đại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)

Như thế, theo Trần Trọng Kim, vua Bảo Đại thực tâm có ý muốn tìm Ngô Đình Diệm về Huế lập chính phủ, nhưng sau lần thứ hai nhờ người Nhật, thì được tin ông Diệm đau không về Huế được. Vua Bảo Đại phải mời Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Trần Trọng Kim kiếm cách từ chối, thì vua Bảo Đại nói:

Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải là độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tức họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh thì rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.

Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng, tôi không dám nhận chức gì cả, song Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức….” (Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)

Ông Kim nói đã gặp ông Diệm ở Sài Gòn, vì khi ông Kim từ Bangkok về đến Sài Gòn ngày 30-3-1945 và tạm trú ba ngày tại nhà một người Nhật tên là Mitsuhiro Matsushita, thì ông Kim gặp ông Diệm tại đây. Đây là lần đầu tiên hai người gặp nhau. (Masaya Shiraishi, “The Background to the Formation of the Tran Trong Kim Cabinet in April 1945:Japanese Plans for Governing Vietnam”, đăng trong sách Indochina In The 1940s And 1950s, Takashi Shiraishi và Motoo Furuta chủ biên, New York: Cornell, 1992, tr. 138.)

Vua Bảo Đại. Ảnh Wikipedia

Vua Bảo Đại. Ảnh Wikipedia

2.- CHỦ TRƯƠNG CỦA NGƯỜI NHẬT

Về phía người Nhật, người Nhật tính toán thật kỹ ngay từ khi mới đến Đông Dương năm 1940. Người Nhật chủ trương chẳng những duy trì sự cai trị của người Pháp mà còn khuyến khích và tăng cường sự hợp tác giữa hai bên Pháp-Nhật. Bộ tổng tham mưu quân đội Nhật và đại tướng Hideki Tojo, thủ tướng Nhật từ 17-10-1941 đến 22-7-1944, cho rằng loại bỏ người Pháp ở Đông Dương đồng nghĩa với việc người Nhật phải tăng quân tại Đông Dương và nhứt là phải lo tổ chức hành chánh và bảo vệ Đông Dương cùng những hệ lụy phức tạp khác. Lúc đó, Đông Dương là thuộc địa của thực dân da trắng duy nhứt ở Đông Nam Á dưới sự kiểm soát của người Nhật. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd. tt. 114-115.)

Tuy nhiên, người Nhật vẫn chuẩn bị những lá bài dự bị để ứng phó với tình thế khi cần. Ví dụ trường hợp Trần Trọng Kim và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với Ngô Đình Diệm.

Hầu Cường Để

Hầu Cường Để

Trần Trọng Kim (1882-1953), sinh tại Hà Tĩnh, học trường Vinh, rồi trường thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua học trường Thuộc Địa ở Paris, rồi trường Sư phạm Melun. Tốt nghiệp năm 1911, ông về nước dạy học rồi làm thanh tra tiểu học và cuối cùng hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu năm 1920 tại Hà Nội. Do những trao đổi về văn hóa với người Nhật, Trần Trọng Kim bị người Pháp nghi ngờ và theo dõi. Năm 1943, người Nhật đưa Trần Trọng Kim vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc, rồi đưa hai ông cùng Trần Văn Ân và Nguyễn Văn Sâm qua Singapore, đầu năm 1944. Tại đây ông Trạc từ trần vào cuối năm 1944. Đầu năm 1945, ông Kim đi Bangkok. Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, đại uý Michio Kuga, thuộc văn phòng liên lạc quân đội Nhật ở Sài Gòn qua Bangkok đưa ông Kim về Việt Nam ngày 30-3. Trần Trọng Kim đến Huế ngày 5-4-1945 và được mời triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945.

Ngô Đình Diệm

Ngô Đình Diệm

Trường hợp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Ngô Đình Diệm cũng do người Nhật sắp đặt. Cường Để qua Nhật từ 1906, thời phong trào Đông du. Pháp biết được hoạt động Đông du, liền liên lạc với Nhật và yêu cầu Nhật trục xuất nhóm Đông du để đổi lại nhiều quyền lợi kinh tế ở Đông Dương. Phan Bội Châu và Cường Để phải rời Nhật Bản năm 1909. Riêng Cường Để, sau một thời gian lưu lạc ở Trung Hoa và các nước Âu Châu, trở lại Nhật năm 1915 theo lời mời của chính khách Nhật là Inukai Ki (Khuyển Dưỡng Nghị). Từ đó, Cường Để âm thầm hoạt động giữa Nhật Bản và Trung Hoa. Năm 1936, Cường Để thành lập Việt Nam Độc Lập Vận Động Đồng Minh Hội. Tổ chức nầy đổi tên thành Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội năm 1938, gọi tắt là Đồng Minh Hội, trụ sở chính tại Tokyo, với sự giúp đỡ của đại tá tình báo Nhật là Takaji Wachi. Đồng Minh Hội ra mắt ngày 12-3-1939.

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để liên lạc ở trong nước với giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh, giao cho Trần Quang Vinh và Trần Văn Ân phụ trách liên lạc miền Nam, Ngô Đình Diệm và Phan Thúc Ngô phụ trách liên lạc miền Trung, Dương Bá Trạc, Vũ Đình Dy và Nguyễn Xuân Chữ phụ trách liên lạc miền Bắc. (Trần Mỹ Vân, A Vietnamese Royal Exile in Japan, Prince Cường Để(1882-1951), New York: Routledge, 2005, tt. 142-143.) Trong số những người theo Cường Để trên đây, năm 1943, Vũ Đình Dy ở Hà Nội và Phan Thúc Ngô ở Huế, qua Nhật gặp Cường Để. (Masaya Shiraishi, bđd.sđd. tt. 116-118.)

Ngô Đình Diệm (1901-1963) xuất thân từ Trường Hậu bổ Huế năm 1921, làm quan lên dần tới thượng thư bộ Lại năm 1933, nhưng từ chức ba tháng sau đó. Ông tham gia Quang Phục Hội do Cường Để lãnh đạo năm 1939. Ông Diệm bị Pháp nghi ngờ nên vào tháng 7-1944, viên thư ký Tòa lãnh sự Nhật ở Huế là Masao Ishida nhờ hiến binh Nhật (Kempeitai) giúp bảo vệ ông Diệm. Người Nhật đưa ông Diệm vào Đà Nẵng, rồi đưa ông Diệm đáp máy bay quân sự Nhật vào Sài Gòn. Từ đó, ông Diệm được đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn trực tiếp bảo vệ. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 118.)

Được tin Ngô Đình Diệm bị Pháp theo dõi và đe dọa, từ Vĩnh Long, giám mục Ngô Đình Thục, gởi cho đô đốc Jean Decoux, toàn quyền Pháp ở Đông Dương, một thư viết tay bằng tiếng Pháp đề ngày 21-8-1944, với lời lẽ rất thống thiết bảo lãnh em mình. (Nguyên văn thư nầy được photocopy và đăng trong sách Nguyên Vũ, Paris Xuân 96, Houston, Nxb. Văn Hóa, tr. 172 và đăng lại trên Internet.

3.- NHẬT QUYẾT ĐỊNH ĐẢO CHÁNH

Trong khi đó, người Nhật gởi Vũ Đình Dy từ Nhật về lại Sài Gòn với mục đích là thay mặt Cường Để liên lạc với các thành phần thân Nhật và kiếm cách đưa họ qua Nhật. Vũ Đình Dy cùng Ngô Đình Diệm hội họp với nhóm hoạt động chính trị thân Nhật như Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn… Cuộc họp đưa đến thỏa thuận vào tháng 10-1944 là cùng nhau hợp tác dưới sự lãnh đạo của Ngô Đình Diệm, đồng thời đề nghị người Nhật thành lập một chính quyền mới do ông Diệm lãnh đạo khi điều kiện thuận lợi. Cũng vào tháng 10-1944, thiếu tướng Saburõ Kawamura, tham mưu trưởng đạo quân Nhật đồn trú tại Sài Gòn đi Nhật, đưa Lê Toàn cùng một đồng đội của Toàn đi theo. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 118.)

Những biến chuyển trên đây cho thấy là sắp đến lúc quân đội Nhật tổ chức lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương. Thật vậy, trong cuộc họp ngày 14-9-1944, Hội đồng tối cao Kế hoạch Chiến tranh của Nhật Bản bàn về “Những biện pháp đối với Đông Dương thuộc Pháp nhằm đối phó với sự thay đổi tình hình”, vì lúc đó tại Âu Châu, Đức bắt đầu thất bại, chính phủ Vichy thân Đức ở Pháp do thống chế Pétain cầm đầu sụp đổ vào tháng 8-1944, và thiếu tướng Charles de Gaulle về Paris lập chính phủ lâm thời.

Trong cuộc họp nầy, Hội đồng tối cao Kế hoạch Chiến tranh dự tính rằng biện pháp quân sự ở Đông Dương chỉ được sử dụng trong hoàn cảnh không thể tránh được. Điều nầy phản ảnh chủ trương của giới quân sự cao cấp, không muốn sử dụng quân đội để lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương, bởi vì lúc đó Nhật đang tập trung lực lượng cho chiến dịchPhilippines. Tuy nhiên, giới quân sự Nhật ở Đông Dương lại diễn dịch quyết định ngày14-9 rằng đã đến lúc cần phải lật đổ Pháp bằng quân sự. Khi từ Tokyo về Sài Gòn, thiếu tướng Kawamura ra lệnh soạn thảo dự án cai trị Đông Dương sau cuộc đảo chánh quân sự.

Theo Hidezumi Hayashi, lúc đó là trung tá hiến binh Nhật đồng thời là phụ tá chính trị cho thiếu tướng Kawamura, thì bản dự thảo nầy phỏng theo cách cai trị của quân đội Nhật ở các vùng khác do Nhật chiếm đóng tại Đông Nam Á. Hayashi không đồng ý kế hoạch nầy vì ba lý do: 1) Quân đội Nhật ở Đông Dương cần tập trung ở Cánh đồng Chum (Lào), vì vậy không nên dính sâu vào những vấn đề chính trị. 2) Đông Dương không đủ tài nguyên cần thiết cho cuộc cai trị của quân đội. 3) Cần thu phục nhân tâm dân bản xứ Đông Dương nhằm đừng đẩy họ về phía Đồng minh Tây phương. Để lôi kéo họ thì cần thỏa mãn nguyện vọng sâu xa của họ là giải thoát khỏi ách thống trị của Pháp, nghĩa là phải trả độc lập cho họ. Tuy nhiên, không thể tức khắc chuyển giao nền hành chánh trung ương (toàn quyền Pháp ở Đông Dương) cho ba nước Việt, Miên, Lào, nên quân đội Nhật phải tạm thời đảm trách một thời gian cho đến khi chuyển giao được cho ba nước nầy.

Dựa trên những quan niệm trên đây, Hayashi đưa ra đề nghị trao trả độc lập cho ba nước Đông Dương và thành lập một chính quyền thân Nhật ở Việt Nam do Cường Để đứng đầu và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Ngày 27-12-1944, Hayashi trình lên thiếu tướng Saburõ Kawamura, nay là tham mưu trưởng Quân đoàn 38 vì từ tháng 12-1944, đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn được chuyển đổi thành Quân đoàn 38. Thiếu tướng Kawamura chính thức thừa nhận kế hoạch Hayashi trong một cuộc họp quân sự trong ngày hôm sau 28-12-1944. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 120-121.)

Tuy nhiên nhiên kế hoạch nầy phải đợi sự chấp thuận của tân tư lệnh Quân đoàn 38 là trung tướngYũichi Tsuchihashi. Sau khi bàn giao đơn vị cũ ở Timor, trung tướng Tsuchihashi đến Sài Gòn ngày 14-11-1944 và nhận chức vụ mới là tư lệnh Quân đoàn 38 ngày 14-12-1944 thay trung tướng Kazumoto Machijiri. Ngay sau đó, trung tướng Tsuchihashi rời Sài Gòn đi Hà Nội ngày 18-12-1944 để gặp toàn quyền Pháp tại Đông Dương là đô đốc Jean Decoux. Như thế, kế hoạch của Hayashi được thiếu tướng Kawamura thông qua, nhưng chưa được tân tư lệnh Quân đoàn 38 chấp thuận

Từ tháng 4-1944, Mamoru Shigemitsu lên làm bộ tưởng bộ Ngoại giao Nhật Bản. Ông nầy liền hối thúc việc lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương. Shigemitsu cho rằng trao trả độc lập cho các nước trong vùng Nhật chiếm đóng, sẽ gây trở ngại cho Mỹ hay Tây Âu khó trở lui các nước nầy dầu Nhật Bản thất trận. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd. tt. 121-122.)

Đại tướng Yoshihiro Umezu, tham mưu trưởng quân đội Nhật, trả lời đồng ý trên nguyên tắc, nhưng cần phải nghiên cứu cẩn thận và chuẩn bị đầy đủ. Tuy nhiên, do việc quân đội Nhật thất bại ở Philippines, nên quân đội Nhật nay cũng muốn sớm làm chủ Đông Dương, để biến Đông Dương thành hậu cứ của quân đội Nhật ở Đông Nam Á. Vì vậy, tháng 12-1944, đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn được đổi thành Quân đoàn 38. Lúc đó, ngày 11 và 12-1-1945, phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc mạnh mẽ khắp Đông Dương và trên Biển Đông, gây thiệt hại nặng cho hải quân Nhật tại vùng nầy. Người Nhật cho rằng đó là dấu hiệu lực lượng Đồng minh sắp đổ bộ Đông Dương. Tuy việc đổ bộ không xảy ra, nhưng người Nhật nghĩ rằng đã đến lúc phải dứt khoát lật đổ Pháp ở Đông Dương. Người Nhật lo ngại nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương vâng lệnh chính phủ De Gaulle, làm nội ứng cho quân Đồng minh thì rất tai hại cho quân Nhật.

Như thế là giữa bộ Ngoại giao và bộ tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Tokyo đồng thuận việc lật đổ nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương, nhưng lại xảy ra những bất đồng khác trong nội bộ người Nhật, nhất là việc giao cho ai lãnh đạo Việt Nam và việc sắp đặt bộ máy hành chánhtại Đông Dương giữa giới ngoại giao và giới quân sự. Cuộc tranh cãi trong nội bộ người Nhật gay gắt đến nỗi vào đầu tháng 3-1945, đại sứ Nhật Shunichi Matsumoto từ chức, trước khi quân Nhật đảo chánh.

4.- KHÔNG MỜI CƯỜNG ĐỂ

Riêng về vấn đề nhà cầm quyền Việt Nam, để tránh xáo trộn, gây thêm khó khăn, bộ Ngoại giao Nhật cũng như bộ Tổng tham mưu quân đội Nhật quyết định duy trì vua Bảo Đại ở ngôi báu, giữ nguyên nền hành chánh bản xứ, không đưa hoàng thân Cường Để về nước thay thế vua Bảo Đại. Tháng 1-1945, có một phái đoàn từ Tokyo đến Việt Nam vận động đưa Cường Để lên ngôi. Thiếu tướng tham mưu trưởng Quân đoàn 38 là Kawamura hỏi ý trung tướng tư lệnh là Tsuchihashi, thì Tsuchihashi trả lời: “Tốt nhất là từ chối.” Cuối tháng 2-1945, một nhân vật từ Tokyo đến Sài Gòn, nói với trung tướng Tsuchihashi là nên đưa Cường Để về Sài Gòn, thì Tsuchihachi trả lời gay gắt:“Đưa ông ta về đây thì phải biết rằng khi ông ta đến phi cảng Sài Gòn, tôi sẽ gởi ông ta ra nhà tù Côn Sơn.” (Masaya Shirashi,bđd.sđd. tr. 135.

Sau cuộc đảo chánh thành công ngày 9-3-1945 trên toàn Đông Dương, cố vấn tối cao Masayuki Yokoyama, tổng lãnh sự Akira Konagaya và lãnh sự Taizõ Watanabe đến điện Thái Hòa, trong hoàng cung ở Huế, sáng 11-3-1945, triều yết vua Bảo Đại. Mở đầu cuộc đàm đạo, vua Bảo Đại thẳng thắn bày tỏ nỗi kinh ngạc của nhà vua với Yokoyama là tại sao ông đại sứ không nói chuyện với hoàng thân Cường Để là người sát cánh với chính quyền Nhật trong cuộc tranh đấu chống Pháp, mà lại đến hoàng cung nói chuyện với nhà vua. Đáp lại, Yokoyama cho rằng việc Cường Để đã qua, không còn thích hợp. Yokoyama giải thích với vua Bảo Đại về những hành động mới nhứt của Nhật trên toàn cõi Đông Dương và tuyên bố “muốn đem châu Á trả về cho người châu Á.” Ông ta còn nói rằng ông ta “có nhiệm vụ dâng nền độc lập” lên vua Bảo Đại, đồng thời kêu gọi Việt Nam cùng các nước Đông Dương gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu. Khối nầy đã được chính phủ Nhật công bố thành lập ngày 1-8-1940, cách đó 5 năm. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 158-159.)

Ngay chiều 11-3-1945, vua Bảo Đại triệu tập Cơ mật viện, các thượng thư, các hoàng thân để thảo luận tình hình mới. Cuộc họp đưa đến kết quả là nhà vua cùng các thượng thư Phạm Quỳnh (bộ Lại), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Ưng Hy (bộ Lễ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Trần Thanh Đạt (bộ Học), Trương Như Đính (bộ Công) đồng ký BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP do Phạm Quỳnh soạn. Như thế, sau hơn 60 năm bị người Pháp bảo hộ từ năm 1884, nay nước Việt Nam chính thức độc lập do tình hình thế giới biến chuyển và do sự can thiệp của Nhật Bản. Sau đó, Phạm Quỳnh cùng toàn thể 5 thượng thư từ chức.

Vua Bảo Đại liền triệu tập nhân sĩ khắp nước về Huế để thăm dò việc thành lập chính phủ mới. Nhà vua nghĩ rằng người có thể đáp ứng được tình thế mới là cựu thượng thư bộ Lại Ngô Đình Diệm. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chính. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm mặc dầu ông đang sống ở Sài Gòn.

Vua Bảo Đại liền mời Trần Trọng Kim, nhưng như trên đã viết, ông Kim đề nghị nhà vua nhờ người Nhật tìm kiếm Ngô Đình Diệm lần nữa. Lần nầy, người Nhật giao việc liên lạc với ông Diệm cho Hidezumi Hayashi, trung tá hiến binh Nhật. Hayashi là tác giả kế hoạch ngày 27-12-1944, đề nghị đưa hoàng thân Cường Để về Việt Nam cầm quyền và đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng. Ông Diệm lúc đó đang ở Vĩnh Long với giám mục Ngô Đình Thục.

Khi gặp nhau, ông Diệm cho Hayashi biết ông ta không có ý định làm thủ tướng theo lời mời của vua Bảo Đại, mà ông Diệm chỉ muốn một điều là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về Việt Nam thay thế vua Bảo Đại. Ông Diệm tỏ ra bất bình Hayashi không báo cho ông biết tin tức đảo chính ngày 9-3, vì Hayashi liên lạc cá nhân khá thân tình với ông Diệm trong thời gian người Nhật bảo vệ ông Diệm ở Sài Gòn. Một lý do khác khiến ông Diệm từ chối lời mời của vua Bảo Đai vì ông Diệm nhận định rằng tình hình người Nhật đang suy yếu một cách nhanh chóng, và thật là thiếu sáng suốt nếu lập chính phủ dưới sự chiếm đóng của người Nhật. Cuối cùng, theo đề nghị của Hayashi, ông Diệm viết thư cho vua Bảo Đại bằng tiếng Pháp, từ chối lời mời của nhà vua, đơn thuần chỉ vì lý do sức khỏe. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd., tt. 137-138.)

Trần Trọng Kim cũng được thông báo cho biết tin nầy, nên ông Kim mới nhận lời mời lần thứ hai của vua Bảo Đại, đứng ra thành lập nội các. (Masaya Shiraishi, bđd sđd. tt. 138-139.) Nội các Trần Trọng Kim trình diện ngày 17-4-1945, gồm những nhà trí thức khoa bảng cùng chuyên viên, và đặc biệt không có người thân Nhật, dầu nội các nầy do Nhật bảo trợ

KẾT LUẬN 

Ngay từ khi mới đến Đông Dương, chính sách của Nhật là kiểm soát Đông Dương nhưng vẫn để cho Pháp cai trị Đông Dương, để Nhật khỏi bận tâm chuyện hành chánh và an ninh, cho đến khi tình thế bắt buộc, mới lật đổ Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945. Trong lúc khó khăn, Nhật lại càng không muốn tạo thêm khó khăn mới, nên không thay đổi nền quân chủ ở Việt Nam. Vì vậy, dầu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Ngô Đình Diệm đã từng sát cánh hoạt động với người Nhật, cũng không được người Nhật đưa về nước cầm quyền. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì người Nhật không chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để mà chọn vua Bảo Đại, nên người Nhật không mời Ngô Đình Diệm. (Trần Trọng Kim, sđd. tt. 49-50.)

Về phía Ngô Đình Diệm, có thể ông Diệm không vui lòng khi thấy người Nhật không thực tâm và thờ ơ với mình, chuyển lời mời của vua Bảo Đại đến ông quá trễ, và nhất là khi thấy tình thế của người Nhật không được sáng sủa, Nhật đang suy yếu dần, ông Diệm liền từ chối lời mời của vua Bảo Đại.

Có người đặt ra một câu hỏi là nếu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về làm vua và ông Diệm làm thủ tướng năm 1945, thì Việt Nam sẽ đi về đâu? Câu hỏi không bao giờ có phần trả lời vì không thể quay ngược thời gian để làm lại lịch sử.

(Toronto, 29-8-2016)

 © Trần Gia Phụng

 © Đàn Chim Việt

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Vài Sự Thật về Cách Mạng tháng 8, 1945 – Gs Nguyễn Đình Cống

Posted by hoangtran204 on 18/08/2016

GS. Nguyễn Đình Cống: VÀI SỰ THẬT VỀ CÁCH MẠNG THÁNG 8 – 1945

 
 


Nguyễn Đình Cống
16.08.2016VÀI ĐÁNH GIÁ NHẦM TRONG CM THÁNG 8Nhân dịp kỷ niệm CM tháng 8, ngoài những điều nhiều người đã biết, đã thuộc lòng, cũng nên nhìn vào vài đánh giá và tuyên truyền nhầm, sai sự thật để hiểu thêm lịch sử. Xin bắt đầu từ tháng 5- 1941, khi Đảng Cộng sản thành lập Mặt trận Việt Minh (VM) với mục tiêu : “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
Tuyên bố công khai là thế, mục tiêu trước mắt là như vậy, rất tốt đẹp, rất rõ ràng, nhưng xét ra việc thực tế đã làm được, mục tiêu chính và lâu dài không hoàn toàn đúng như thế.

Đêm 9 tháng 3- 1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất VN không còn một người Pháp cai trị.
Ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp.
(Ngày 17) Tháng 4- 1945, giải tán Triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng.
Ngày 15 – 8 Nhật đầu hàng Đồng minh.
Ngày 17 – 8 Chính quyền Hà nội tổ chức Mit tinh, treo Cờ Quẻ Ly để chào mừng nước Việt Nam độc lập. Cuộc mit tinh này đã bị người của VM cướp đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương Cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo VM.
Từ trước ngày 17-8 thủ tướng Trần Trọng Kim, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã 5 lần tiếp xúc, hội đàm với đại diiện của VM tại Hà nội ( Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang) với đề nghị mời người của VM tham gia Chính phủ hoặc hợp tác lập Chính phủ liên hiệp để chuẩn bị đón tiếp quân Đồng minh, nhường quyền kiểm soát phần lớn đất nước cho VM một cách hòa bình. Nhưng cả 5 lần đều bị đại diện VM từ chối với tuyên bố là VM đủ lực lượng để cướp toàn bộ chính quyền mà không cần sự hợp tác nào hết, chỉ có đấu tranh một mất một còn.

Để tỏ rõ thiện chí không dùng bạo lực, chính phủ ông Kim và Bảo Đại không thành lập quân đội, không có Bộ Quốc phòng.

Ngày 19-8-1945 Việt Minh cướp chính quyền ở Hà nội. Sau đó việc cướp chính quyền lan rộng ra toàn quốc. Việc cướp này diễn ra dễ dàng, nhanh chóng vì không gặp phải sự chống đối . Ngày 25-8 vua Bảo Đại thoái vị.

 

Về việc tuyên bố độc lập của Bảo Đại và sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim hiện có 2 luồng nhận định rất khác nhau. Theo tuyên truyền của VM thì bọn ông Kim chỉ là một lũ bù nhìn, tay sai cho Nhật, là bọn Việt gian bán nước. Ngược lại, theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý, Chính phủ bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước, có trình độ cao, có tinh thần dân tộc mạnh và đã làm được nhiều điều có ích lợi cho dân tộc. Nếu như VM không kiên quyết tiêu diệt mà hợp tác với họ thì vận mệnh đất nước có lẽ đã khác nhiều. Việc này như thế nào xin để lịch sử phán xét.

Riêng chuyện CM tháng 8 đã đánh Pháp, đã đuổi Nhậtgiành độc lập mà trên 70 năm qua nhiều người Việt vẫn tin và khẳng định như vậy thì thực tế lịch sử đã chỉ ra rõ ràng là không đúng. Trong thời gian diễn ra CM tháng 8, Việt Minh không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật nào. VM quả thực đã lợi dụng được thời cơ và điều kiện rất thuận lợi để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim khi Pháp đã bị Nhật loại bỏ, Nhật đã đầu hàng, chính quyền hợp pháp không có quân đội, không chống lại.

Hơn nữa khi Cách Mạng sắp nổ ra, tổng chỉ huy quân Nhật tại VN có đề nghị với Bảo Đại và Trần Trọng Kim, rằng nếu phiá Việt Nam yêu cầu, thì quân đội Nhật sẽ giúp bảo vệ chính quyền và đánh tan Việt Minh. Nhưng các ông đã không đồng ý, nghĩ rằng như thế là huynh đệ tương tàn, là làm đổ máu của người Việt một cách không cần thiết. Ông Kim còn đòi Nhật thả nhiều thanh niên Việt Minh bị Nhật bắt giam trước đó. Nhật đã thả họ. Trong tuyên ngôn thoái vị, Bảo Đại nêu cao tình đoàn kết dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. VM cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần một thế kỷ đất nước bị đô hộ. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu lại chỉ ra rằng trước đó mấy tháng nước VN đã độc lập, đã thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Mặc dầu lúc đó trên lãnh thổ còn có quân Nhật, nhưng Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa, VN có chính phủ riêng, Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Nếu cứ khăng khăng cho rằng Bảo Đại và Trần Trọng Kim bị lệ thuộc vào Nhật thì sau khi Nhật đầu hàng họ cũng đã thoát khỏi sự lệ thuộc đó và độc lập của VN được bảo đảm. Như vậy thì CM tháng 8 đã không đánh Pháp, không đuổi Nhật, càng không giành độc lập cho đất nước. Từ tháng 4- 1945, và đặc biệt từ sau 15- 8 nước VN đã hoàn toàn độc lập. CM tháng 8 chỉ làm một việc duy nhất là cướp chính quyền để thay đổi chế độ và bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là tuyên ngôn lần thứ hai, sau tuyên ngôn của Bảo Đại.

Đảng Cộng sản đang trên đà thắng lợi thì ngày 01 tháng 11- 1945 tuyên bố tự giải tán. Một số người cho rằng đây là một nước cờ khá cao của Đảng, nhằm bảo toàn lực lượng trước sự phá hoại, khủng bố của các thế lực thù địch. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu không chấp nhận lời giải thích ấy, cho rằng đó là một sự dối trá, một nước cờ quá thấp, định dùng nó để đánh lừa chính phủ Mỹ, nhưng đã không qua mắt được tình báo của họ.

Nguyên do là Hồ Chí Minh biết Mỹ ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp. VM đã từng xem Mỹ là bạn, đã nhận nhiều viện trợ của họ. Hồ Chí Minh cũng rất biết Mỹ không ưa gì cộng sản, vậy muốn nhận được sự ủng hộ chân thành và tận tình của Mỹ thì phải xa rời cộng sản. Nhưng rồi mưu mô dối trá tự giải tán của CSVN đã không lừa được Mỹ, cho nên Tổng thống Mỹ Truman không trả lời những bức thư của Hồ Chí Minh liên tiếp gửi đến. Và Mỹ ủng hộ Pháp trở lại VN với mong muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng cộng sản. Thế rồi CS VN mắc mưu Mao Trạch Đông biến Mỹ từ bạn thành thù.

Khi vận động thành lập VM, Đảng CS kêu gọi liên hiệp các tầng lớp nhân dân yêu nước, các đảng phái cùng đánh đuổi Nhật Pháp, giành độc lập. Tham gia vào VM có các đảng như : VN Quốc dân đảng, đảng Cách mệnh VN, đảng Đại Việt, đảng Hưng Việt, đảng Việt cách. Khi VM cướp được chính quyền thì ban đầu cũng có nhường cho các đảng một số ghế trong Quốc hội, nhưng về sau các đảng khác đều bị cộng sản gắn nhãn việt gian, phản động, bị tiêu diệt công khai hoặc ngấm ngầm. Ngay Đảng Dân chủ, đại diện cho doanh nhân và Đảng Xã hội, đại diện cho trí thức được hoạt động một thời gian rồi cũng bị giải tán. Không những thế, sau này trong kháng chiến chống Pháp, trong cải cách ruộng đất, trong nhiều phong trào khác nhiều người yêu nước đã bị hãm hại chỉ vì họ là địa chủ, tư sản hoặc có vài ý kiến bất đồng. Làm như vậy phải chăng để CS thực hiện mục đích chính là độc chiếm vai trò thống trị.

Một số người lập luận rằng nếu không có đảng CS lãnh đạo làm CM tháng 8 thì đất nước VN không có được như ngày nay. Đó là một kiểu ngụy biện. Và ngày nay của VN như thế nào, có đáng mơ ước và tự hào không.

Nếu năm 1945 những người theo Đảng làm CM tháng 8 biết được tương lai của VN sau 70 năm sẽ như bây giờ, rất nhiều giá trị bị đảo ngược, nếu họ biết Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Văn Linh nói : “ Biết đi với Trung quốc thì mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng” thì liệu có bao nhiêu người hăng hái theo Đảng, hy sinh cho Đảng. Hà Sĩ Phu bình luận câu nói của ông Linh là rất dại, rất ngu, rất phản động. Thực ra rất đau xót và nhục nhã cho dân tộc vì con đường đi với Trung quốc đó đang được một số người có chức quyền ra sức thực hiện chỉ vì lợi ích nhóm của Đảng Cộng Sản, còn một số khá đông khác thuộc nhân dân thì vì sợ đủ mọi thứ mà chịu yên lặng, chịu hèn yếu chấp nhận sự hủy hoại, sự diệt chủng do Trung cộng gây ra cho dân Việt một cách từ thâm trầm đến ào ạt.

Nhân kỷ niệm lần thứ 71 của “Cách Mạng tháng 8”, viết ra vài sự thật đã từng ít được quan tâm để đóng góp vào việc hiểu thêm lịch sử.


Theo NT

Về Việt Minh. Đa số người đi theo VM không phải là cộng sản. Việt Nam Độc lập đồng Minh hội là cộng sản. Còn Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, thành lập 1942, là của 2 đảng phái quốc gia và của những người ái quốc không theo đảng phái nào cả. Lý Thụy bị Trung Hoa bắt, được VNCMĐMH bảo lãnh ra tù, thề nguyền phục vụ, nhưng khi được phái về VN cuối 1944, thì HCM phản bội, phục hoạt VNĐLĐMH … Một Cơn Gió Bụi, của Trần Trọng Kim, (Chương 4)  http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx… 

_____

đây là link trích lại lời nói của ông Hồ Chí Minh rỉ tai cho báo Nhân Dân biết rằng lực lượng cộng sản thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.

Nhận định quân đội Nhật tại Việt nam thời điểm đó rệu rã, hoảng loạn là thiếu chính xác. Ngay ngày 22/08/1945, kiều dân và binh lính Pháp ở khách sạn Metropol Hà Nội, đối diện Bắc Bộ Phủ nổ súng gây hấn, quân Nhật đã bao vây trọn khu vực, đảm bảo an ninh nhanh chóng.
Trong lần thăm Thái Nguyên năm 13/13/1960, ông Hồ Chí Minh rỉ tai phóng viên báo Nhân Dân đi cùng, rằng, thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.
Thật sự Hà Nội khởi nghĩa thành công đã ba ngày mà Trung ương Đảng CSVN không hề biết, thậm chí còn cho đó là sự manh động, sẽ bị đàn áp như cuộc nổi dậy tại Warsaw (Ba Lan) thời điếm cuối Thế Chiến 2.
Ông Lê Trọng Nghĩa viết:
“Tinh thần dân chúng bốc cao, nhưng Hà Nội mới chỉ có các tổ tự vệ, tự vệ chiến đấu chưa tập trung và số vũ khí ít ỏi của quần chúng. Lực lượng bảo an, cảnh sát của chế độ cũ đã bị giải thể. Hà Nội chưa liên lạc được với Trung ương, còn phải đối mặt với hơn mội vạn quân các sư đoàn Nhật chưa hạ vũ khí, chờ quân Đồng Minh tới. Ủy ban nhân dân Bắc Bộ đã báo động ngầm dự phòng lúc nguy cấp sẽ có lệnh cho rút bớt cán bộ về an toàn khu ở ngoại thành, đánh du kích chờ lực lượng Trung ương về tiếp cứu.”
Thậm chí, đơn vị Giải Phóng quân từ Tân Trào về không được Nhật cho phép vào Thủ đô.”

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/02/160216_colonel_le_trong_nghia_life

_____

Hóa ra, đám đông trước Ba Đình ngày 2-9-1945 là giáo dân công giáo sau khi tan lễ đã tụ tập nhau ở đó. Cộng sản đã khéo lợi dụng nhà thờ trong ngày 2-9-1945.

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=500479790149436&id=100005622587091

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8, 1945 và ngày 2/9

Posted by hoangtran204 on 18/08/2016

FB Hoang Bui

31-08-2015

Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân”, và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 được ghi nhận:

– Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
– Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
– Đập tan ách phát-xít Nhật
– Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.

Để hiểu rõ cái sự giành này, và thử xem những gì viết trong sách giáo khoa lịch sử cho học sinh hiện nay có chính xác không,  hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày tháng tám của năm 1945.

Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại.

Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước.

Như vậy vào thời điểm này, chế độ phong kiến quân chủ đã bị xóa bỏ trên đất nước Việt Nam, và sự đô hộ của Pháp cũng không còn, vì thế việc xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ không có công của Việt Minh, đồng thời, việc lật đổ sự đô hộ của Pháp cũng không có công của Việt Minh.

Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: “cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền”. Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động chiếm lấy một cách bạo lực thứ vốn không phải của mình.

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Việc từ chối giúp đỡ từ lực lượng ngoại quốc bảo vệ quyền lực của mình, tránh gây đổ máu cho người Việt cho thấy vua Bảo Đại đã rất coi trọng tinh thần dân tộc, đồng bào, truyền thống “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Vì vậy, không thể nói Việt Minh đập tan ách phát xít Nhật, mà phải nói rằng vua Bảo Đại và chính phủ của ông đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình. Quả là “gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau khi cướp chính quyền, để củng cố tính chính danh của mình, Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao, và sau đó thì lựa thời cơ tống vua ra nước ngoài. Trong hồi ký của vua Bảo Đại, ông cũng kể về những điểm này.

Vậy sau khi giành được chính quyền, và chính quyền đó có về tay nhân dân không?


Có lẽ câu trả lời đã rõ sau 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam vẫn chẳng có một chút quyền gì, nhân dân Việt Nam không được bầu cử một cách thực sự, không được sở hữu đất đai, không được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó không có, những điều khác chỉ là hão huyền.

Và vì vậy, cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân đó, 70 năm qua vẫn chưa xong.

———————-
Một số link tham khảo để kiếm chứng sự kiện được viết bên trên, được lấy từ báo lề phải và từ chính người trong cuộc nói, kẻo lại bảo xuyên tạc và bôi nhọ.

Lời người trong cuộc kể về diễn biến ngày 17 và 19 tháng 8.

Ký ức cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội(VNE).

Cách mạng tháng Tám (Wiki).

Vua Bảo Đại (Wiki).

anhbasàm.wordpress.com

________

Năm 2015, Tểu blog có nhiều nhận xét của bạn đọc rất thú vị, nay xin post lại ở đây.

13 nhận xét :

  1. Rất mong các nhà lý luận CS được trả lương ( thuế của dân ) hãy lịch sự, nhã nhặn, tương kính… trả lời bài viét này. Nếu không phản biện được một cách ” văn minh ” thì xin cúí mặt và trả lại thẻ đảng.

    Trả lời

  2. 70 năm vẫn chưa xong, thêm 100 năm nữa cũng chưa xong.

    Trả lời

  3. Với những người có tri thức, có trí tuệ, không thể hiểu khác đi được. Có muốn hiểu lệch đi, khác đi cũng không thể được. Lịch sử là lịch sử, sự thật vẫn là sự thật. Không thể tô đen thành trắng, tô trắng thành đen được. Không thể ăn cướp lại bắt phải hiểu đấy là chính danh được. Vậy mà … quá nhiều người tin (là nói thời bây giờ, giữa TK 21, chứ không kể cái thời mông muội vô minh). 😥

    Trả lời

  4. Bài viết với những sử liệu chính xác và rõ như ban ngày. Với thời đại internet, nếu còn tin vào những gì mà đảng gọi là “cách mạng tháng 8” thì rõ ràng chỉ là loài nhai lại!

    Trả lời

  5. Những điều “Bác” nói ngày 02/09/1945:

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Thì ra “Bác” còn là nhà tiên tri vĩ đại.

    Trả lời

  6. Bây giờ cứ trích nguyên văn những lời tố cáo của ông Hồ đối với bọn cướp nước và bán nước, thấy trúng 100% về bọn cướp chính quyền đang tồn tại hiện nay.

    Trả lời

  7. Nếu dân ta mà biết được việc CS “đuổi Phap đi” để “rước Tàu về” thì ai ủng hộ?

    Trả lời

  8. Chương trình của VM năm 1945. Sau khi lập chính quyền.

    A. Chính trị
    1. Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, ứng cử.
    2. Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương.
    3. Tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng để thẳng tay trừng trị bọn Việt gian phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng.
    4. Tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, Nhật và bọn Việt gian phản quốc.
    5. Toàn xá chính trị phạm và thường phạm.
    6. Nam nữ bình quyền.
    7. Tuyên bố các dân tộc được quyền tự quyết.
    8. Liên lạc mật thiết với các dân tộc thiểu số và nhất là Tàu, Ấn Độ, Cao Ly.
    B. Kinh tế
    1. Bỏ thuế thân và các thuế do Pháp, Nhật đặt ra, lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng.
    2. Quốc hữu hoá ngân hàng của đế quốc Pháp, Nhật, lập nên quốc gia ngân hàng thống nhất.
    3. Mở mang kỹ nghệ, giúp đỡ thủ công nghiệp làm cho nền kinh tế quốc gia được phát triển.
    4. Dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều làm cho nền nông nghiệp được phồn thịnh.
    5. Cho dân chúng tự do khai khẩn đất hoang có chính phủ giúp đỡ.
    6. Quan thuế độc lập.
    7. Mở các đường giao thông như đường sá, cầu cống, v.v..
    C. Vǎn hoá
    1. Huỷ bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bực sơ đẳng, cho các dân tộc được quyền dùng tiếng mẹ đẻ mình, phổ thông trong việc giáo dục mình.
    2. Lập các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài.
    3. Giúp đỡ và khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài nǎng của họ.
    D. Xã hội
    1. Thi hành ngày làm tám giờ.
    2. Giúp đỡ cho gia đình đông con.
    3. Lập ấu trĩ viện để chǎm nom trẻ con.
    4. Lập nhà diễn kịch, chớp bóng, câu lạc bộ để nâng cao trình độ tri thức của nhân dân.
    5. Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân.
    E. Ngoại giao
    1. Huỷ bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký bất kỳ với nước nào.
    2. Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hoà bình.
    3. Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam.
    4. Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới.
    F. Đối với các lớp nhân dân
    1. Công nhân: Ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, công việc như nhau thì tiền lương ngang nhau. Cứu tế thất nghiệp xã hội, bảo hiểm, cấm đánh dập, chửi mắng thợ, thủ tiêu giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí.
    2. Nông dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa.
    3. Binh nhân: Hậu đãi những người có công giữ gìn Tổ quốc phụ cấp cho gia đình họ được đầy đủ.
    4. Học sinh: Bỏ học phí, bỏ giấy khai sinh, hạn tuổi, giúp đỡ học sinh nghèo.
    5. Phụ nữ: Đàn bà được bình đẳng với đàn ông về mọi phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, vǎn hoá.
    6. Thương nhân: Bỏ ba tǎng môn bài và các thứ thuế khác do Pháp đặt ra.
    7. Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập.
    8. Những người già và tàn tật được chính phủ chǎm nom cấp dưỡng.
    9. Nhi đồng được chính phủ chǎm nom về trí dục và thể dục.
    10. Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Ghi chú:
    A5: Toàn xá thường phạm (tai sao toàn xá thường phạm, để làm gì);
    A8: Liên lạc mật thiết với Tàu, Cao ly.
    B1: Bỏ thuế thân của Pháp, Nhật. Lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng (thuế gì)
    C2: Lập trường quân sự chinh trị để đào tạo nhân tài( nhân tài gì)
    C3: Khuyến khích giúp đỡ các “hạng” trí thức!?
    D5: Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân (từ bệnh viện, bào sanh viên đã có dùng từ đầu thế kỷ 20)
    E4: Liên lạc mật thiết với các giai cấp vô sản trên thế giới
    F2: dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa. (có ruộng đất cấy cấy hay không, sau 1954)
    F7: Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập (Sau 1954 tất cả các viên chức làm viẹc cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam bị di “cải tạo” trong các trại “cải tạo” khắp miến Bắc. Ước lượng không dưới 300.000 của các Uỷ Ban Nhân Quyền. Ước lượng 80-100,000 chết trong các trại giam).
    F10: Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Trả lời

  9. Cứ theo suy ngẫm thì CMT8 và Chiến dịch HCM là hư ảo.
    Năm 1975, bộ đội miền Bắc thoải mái tràn xuống vì quân VNCH chỉ chạy, không chống trả. Duy nhất ở Xuân Lộc có đụng độ thì bộ đội miền Bắc thua, phải đi vòng qua.

    Trả lời

  10. Thực ra dùng cụm từ “cướp chính quyền” mới lột tả được đúng bản chất của sự việc và mới có vẻ công nông chứ không có vẻ tiểu tư sản hơn là “giành chính quyền”.

    Trả lời

  11. “Giành/cướp chính quyền về tay nhân dân” là một cái bánh vẽ không thể to hơn.
    Đúng bản chất phải là “giành quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối về tay Việt Minh”
    Với bản chất của một toán cướp,lại thêm nắm đủ loại súng đạn trong tay,mấy “ông chủ” nhân dân chỉ còn biết è cổ ra đóng mấy trăm loại thuế,phí để bọn cướp cùng đám con cháu tha hồ phè phỡn,ăn chơi.

    Trả lời

  12. Năm 1945 Vua Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim không thể ngờ được rằng hai vị đã phạm phải một sai lầm rất lớn xuất phát từ lòng nhân đạo của mình. Nếu hai vị nhờ quân Nhật ra tay thì nước ta đã tránh được 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, bây giờ VN đã là nước phát triển huy hoàng bậc nhất châu Á.

    Trả lời

  13. Hồi ký Con Rồng Việt Nam:
    “Ngày 27-2-46, mới 7 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. ông H (HCM) gọi tôi:
    – Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ không?
    Nghe tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
    – Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ. Tình hình rất khó khăn, tôi biết chắc người Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
    – Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ cộng hòa…
    Ông ta nài nỉ:
    – Ngài thay chỗ cho tôi và tôi trở lại thành cố vấn thay Ngài …
    – Thế nhưng ai trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được quốc hội tấn phong, y như kiểu mọi chính phủ dân chủ thường làm.
    – Nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn lấy ai tùy Ngài.
    Ông ta trấn an tôi như vậy.”
    Cựu hoàng hỏi ý hai nhân vật là Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim. Cho rằng VM bị khó khăn và họ thành thực, Trần Trọng Kim khuyên cựu hoàng nên nhận lời. Bảo Đại bèn trả lời “đồng ý”.
    10 giờ, ông H gọi điện thoại thúc đưa danh sách chính phủ gấp để chuyển qua Quốc Hội.
    12 giờ, Bảo Đại trả lời đã sẵn sàng. Nhưng “đến 13 giờ thì chuông điện thoại reo. Ông H mời tôi đến gặp ông ta.
    – Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài trong lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng…” (12)

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Chinh Tri Viet Nam, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Posted by hoangtran204 on 18/08/2016

Chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào ngày 17-4-1945 (Ảnh: Internet.)

 

Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Trần Văn Chánh
Đông tác giao lưu

“Một cơn gió bụi”* nổi lên bao trùm hoàn hải trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đến hồi quyết liệt đã làm cho cuộc đời nhà giáo-nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim không còn được êm ả cách tương đối như trước. Người Nhật, kéo vào Đông Dương từ những năm 1940, với nhiều ý đồ có sẵn trong mối quan hệ tranh quyền với Pháp, đã bắt đầu cho người ve vãn, tìm cách lui tới làm quen, lấy cớ để hỏi han ông những kiến thức liên quan các vấn đề văn hóa, lịch sử. Việc này Trần Trọng Kim đã thuật lại khá rõ trong tập hồi ký cuối đời, mà gần đây đã được đưa lên mạng Internet nên rất dễ tìm đọc. Ngay từ chương đầu, thái độ sống và lập trường chính trị của ông đã được bộc lộ khá rõ:

“Sau 31 năm làm việc trong giáo giới…, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển…

“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.

“Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị…

“Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình…

“Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ… Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.

“Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả” (Một cơn gió bụi, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr. 9-12).

Về lập trường chính trị như vừa nêu trên, nhất là đối với sự can thiệp ngày càng thô bạo của Nhật ở Đông Dương, chúng ta còn được biết rõ thêm qua vài đoạn nêu trong tập hồi ký của Bùi Diễm (sinh năm 1923, con trai Bùi Kỷ), một người cháu gọi vợ ông bằng cô ruột (gọi ông bằng chú, nói theo miền Nam là dượng rể): “Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi (tức Trần Trọng Kim-TVC), nơi ông cụ tôi (tức cụ Bùi Kỷ- TVC) và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật (tức hiến binh Nhật-TVC) đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá” (Gọng kềm lịch sử, Cơ sở Phạm Quang Khai, Paris, 2000).

Việc dàn cảnh bắt Trần Trọng Kim đưa đi giấu sẵn ở Chiêu Nam Đảo (tức Singapour do Nhật chiếm đóng) để chuẩn bị cho một mưu đồ tương lai, lấy cớ là để bảo vệ ông thoát khỏi sự rình rập bắt bớ của mật thám Pháp, cũng đã được kể rõ trong chương tiếp theo của tập hồi ký Một cơn gió bụi, nhưng để tóm tắt hơn và có phần khách quan hơn, xin trích dẫn thêm vài đoạn kể tiếp sau của Bùi Diễm:

“Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.

“Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới (…). Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác (…), chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác….Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào “Người Á, đất Á” và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt.

(…)

“Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.

“Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. “Chú phải lên đường đi xa,” mợ tôi tiếp tục cho thêm tin “vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi” (Gọng kềm lịch sử, sđd.).

Chuyến đi đó, khởi đầu từ ngày 27.10. 1943 và chính thức xuống tàu thủy ngày 1.1.1944, cùng với một người bạn nữa cũng cảnh ngộ bị “bắt cóc” vào chung chỗ hiến binh Nhật như ông là cụ Dương Bá Trạc (1884-1944), nằm trong dự mưu do người Nhật khéo tác động và dẫn dắt, đối với Trần Trọng Kim được coi là một chuyến đi định mệnh, hướng cuộc đời ông vào một ngả rẽ hoàn toàn không chủ động, nếu không muốn nói gần như trái hẳn với lập trường chính trị ban đầu của ông. Tuy nhiên, có nhiều khả năng trong quá trình tiếp xúc sau này với các đại diện Nhật Bản ở Chiêu Nam Đảo và những nơi khác, Trần Trọng Kim đã được người Nhật tìm cách rỉ tai vận động để gieo cho ông mầm mống hi vọng về tương lai độc lập-canh tân xứ sở dưới sự bảo trợ của họ, nhưng điều này thì Trần Trọng Kim vẫn kín miệng không thấy kể ra trong hồi ký. Dù sao, mưu đồ của Nhật cũng đã quá rõ, không mấy cần phải có thêm tài liệu để chứng minh.

Sau khoảng một năm trải qua cuộc sống chờ đợi buồn tẻ ở Chiêu Nam Đảo, Dương Bá Trạc đã mất tại đây vào ngày 11 tháng 12 năm 1944 (nhằm 26 tháng 10 năm Giáp Thân) vì bệnh ung thư phổi, thi hài được Nhật tổ chức hỏa táng đem về nước. Lúc này chỉ còn một mình Trần Trọng Kim ở lại với vài người khác do Nhật đã đưa qua sẵn trước đó, để đến ngày 16.1.1945 thì được bố trí đi Băng Cốc (Thái Lan) cùng với Đặng Văn Ký, một thành viên chủ chốt của đảng Phục Quốc thân Nhật.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, vào lúc 21 giờ, sau khi bị Toàn quyền Pháp Decoux tìm cách trì hoãn yêu sách do đại sứ Nhật tại Đông Dương Shunichi Matsumoto đưa ra trong một tối hậu thư đã trao chỉ trước đó 2 giờ, đòi Pháp phải đặt toàn bộ quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa dưới quyền điều khiển của mình, Tổng tư lịnh Nhật Yuichi Tsuchihashi đã ra lệnh mở màn cuộc đảo chánh lật đổ chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Bị tấn công bất ngờ vì chưa hề hay biết trước, quân pháp thất thế trên khắp cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc và chỉ chống trả một cách yếu ớt rồi đầu hàng ngay trong ngày hôm sau. Toàn thể quan chức đầu não của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux, một số khác cùng quân lính phải bỏ chạy thoát thân sang Lào hoặc Trung Quốc.

Việc đảo chánh, Nhật đã chuẩn bị kỹ sẵn trước, nên chỉ từ 9 giờ tối hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau, toàn cõi Việt Nam rơi vào tay Nhật, cả thực dân Pháp và thường dân, công chức đều bất ngờ. Tình cảnh của họ lúc đó lao đao, nhưng nhờ tính rộng lượng cố hữu của người dân Việt, nên cũng không đến đỗi quá bi thảm: “… Các nhà chuyên môn Pháp được tiếp tục làm việc… Một vài kĩ sư Pháp mon men tới sở, bị đánh… Sau tôi nghe nói một số người Pháp ở miền Tây trốn vào bưng, không bị dân chúng đánh đập, giam giữ, tố cáo; có người còn giúp đỡ lương thực, che chở cho họ nữa. Ở Nam này như vậy, mà có lẽ ở Bắc, Trung cũng không khác mấy…. Có người bảo người Việt nào cũng có một ông Phật ở trong lòng, câu ấy đúng” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 233-234).

Ngày 10.3.1945, lúc 11 giờ, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật.

Ngay hôm sau, ngày 11. 3.1945, triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập (dưới bản tuyên bố ký tên vua Bảo Đại cùng toàn thể Cơ mật viện, đứng đầu là Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh).

Tờ chiếu tuyên bố độc lập có đoạn viết: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!”

Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một vài thành phố lớn, do sự sách động của các nhóm thân Nhật, một số người xuống đường rầm rộ để tri ân quân đội Nhật hoàng, nhưng quảng đại quần chúng thì đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào “độc lập” do Kempeitai (Hiến binh) và quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17.3.1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập tại các đình làng: “Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp” (Nguyễn Vỹ, Tuấn – chàng trai nước Việt, Quyển II, Sài Gòn, 1970, tr. 513).

Cũng trong ngày 17.3.1945, Bảo Đại ban bố Đạo dụ số 1 theo đó nhà vua sẽ đích thân cầm quyền và chế độ chính trị mới sẽ quản lý đất nước theo khẩu hiệu “Dân vi quý” (dân trên hết), chỉnh đốn lại quốc gia, đồng thời kêu gọi các bậc hiền tài ra giúp nước.

Ngày 18.3.1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng độc lập, cảm ơn Nhật, và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc đưa từ Chiêu Nam (Singapore) về (theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964-Việc từng ngày, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966, tr. 5).

Một ngày sau, giải tán Cơ mật viện gồm 6 quan chức tối cao của triều đình nhà Nguyễn do Phạm Quỳnh đứng đầu.

Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gởi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật cố ý ngăn chặn, nêu giả lý do Ngô Đình Diệm cáo bệnh không ra Huế được, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm (1901-1963) giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại-Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.

Ngày 30.3.1945, Nhật cho người bố trí đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc về Sài Gòn, lấy cớ Tư lệnh bộ ở Sài Gòn mời về để “hỏi việc gì về lịch sử” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 42). Đến nơi viên trung tướng tham mưu trưởng thuộc Bộ tư lệnh Nhật mới cho hay Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã từ chức, vua Bảo Đại mời ông cùng với các ông Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Cẩm về Huế hỏi ý kiến.

Thấy tên mình mà không có tên Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim hỏi viên trung tướng: “Tôi không có hoạt động gì, và không có phe đảng nào cả. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc”. Viên trung tướng trả lời: “Đó là ý của vua Bảo Đại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới, ông cứ ra Huế rồi sẽ biết” (sđd., tr. 43).

Ngày 2.4.1945, Nhật bố trí cho Trần Trọng Kim đáp xe lửa ra Huế. 19 giờ rưỡi ngày 5.4 xe lửa đến Huế, lát sau ông đã được gặp lại vợ con có sẵn ở đó, nói là đang trên đường ra Hà Nội định xin phép qua Xiêm tìm ông, nhưng sự tình cờ kỳ lạ này đã khiến có người suy diễn nhiều khả năng chính người Nhật đã sắp đặt sẵn sao đó.

Những thay đổi giai đoạn cuối trong sự sắp xếp nhân sự cho bộ máy cai trị mới này, cả Bảo Đại, Cường Để, Ngô Đình Diệm đều không hay biết. Duy Trần Trọng Kim có được người Nhật rỉ tai riêng cho biết hay không thì đây vẫn còn là một điểm nghi vấn, vì không thấy ông hé môi kể ra trong tập hồi ký, nhưng khả năng này là rất lớn, vì từ hôm ở Băng Cốc về Sài Gòn, chiều nào viên đại úy ở Bộ tư lệnh Nhật cũng mời ông đến ăn cơm và nói chuyện, có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. “Mấy ngày như thế, đến chiều hôm mùng hai tháng tư, đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 46).

Ngày 7.4.1945, Trần Trọng Kim vào yết kiến Bảo Đại. Theo như lời kể của ông trong tập hồi ký thì ông tìm cớ thoái thác việc đứng ra lập chính phủ, lấy lý do già yếu, không có đảng phái và không hoạt động chính trị, rồi đề nghị dùng “người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn” (sđd., tr. 49) nhưng Bảo Đại cho hay đã gọi mà không thấy Ngô Đình Diệm về. Nhà vua không ép, chỉ yêu cầu ông ở lại Huế nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Có lẽ lúc này vua vẫn còn tiếp tục ngóng tin Ngô Đình Diệm, đâu có dè rằng kịch bản Cường Để-Diệm đã bị cánh tướng lãnh Nhật bác bỏ, nên tìm cách ngăn chặn hai bức điện liên lạc của Bảo Đại, giữa lúc ông Diệm đang ở Sài Gòn trong một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm!

Đợi tin Ngô Đình Diệm lâu không được, Bảo Đại sốt ruột quyết định mời Trần Trọng Kim vào làm việc lần thứ hai, thuyết phục thành lập nội các. Xin trích tiếp đoạn hồi ký, qua đó vừa thấy được nội dung cuộc trao đổi giữa hai người, vừa luôn thể biết qua thành phần nội các do ông Trần đề nghị và được Bảo Đại chuẩn y ngay:

“Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.

“Ngài nói:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.

Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:

“Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.

Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục…

“Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.

Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau: 

  • Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội các Tổng trưởng
  • Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội vụ Bộ trưởng
  • Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại giao Bộ trưởng
  • Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư pháp Bộ trưởng
  • Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng
  • Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài chánh Bộ trưởng
  • Phan Anh, luật sư, Thanh niên Bộ trưởng
  • Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công chính Bộ trưởng
  • Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y tế Bộ trưởng
  • Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh tế Bộ trưởng
  • Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ, Tiếp tế Bộ trưởng.

“Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.

“Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước” (sđd., tr. 50-53).

Ngoài các bộ trưởng đã nêu trong danh sách, bộ máy chính phủ Trần Trọng Kim còn lần lần được bổ sung, gồm có:

  • Phan Kế Toại (1892-1992), Tổng đốc, Khâm sai Bắc Bộ (sau giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Nguyễn Văn Sâm, Nhà báo, Khâm sai Nam Bộ (được cử theo Đạo dụ 108 ngày 14.8.1945, sau bị ám sát ngày 10.10. 1947)
  • Trần Văn Lai, Bác sĩ, Đốc lý Hà Nội (sau giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính TP Hà Nội)
  • Đặng Văn Hướng (1887-1954), Phó bảng, Tổng đốc Nghệ An (sau giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh-Tĩnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Luật sư, Đốc lý Hải Phòng (sau giữ chức Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời)
  • Kha Vạng Cân (1908-1982), Kỹ sư, Đô trưởng Sài Gòn (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Được cái, cả họ và vua Bảo Đại đều không can thiệp sâu theo kiểu cơ cấu sẵn các thành phần nhân sự cấp bộ trưởng, như lối quy hoạch, cơ cấu nhân sự chặt chẽ bây giờ. Nhờ vậy Trần Trọng Kim đã có được sự chủ động trong việc tìm chọn nhân tài thích hợp theo quan niệm của mình.

Tuy nhiên, theo luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), một thành viên chủ chốt của Nội các, Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai xứ sở”, nhưng ông Trịnh đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ…, tuyên cáo Việt Nam độc lập và thống nhất”. Ngoài ra ông Thảo còn cho biết Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pridi Banomyong chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại như Thái Lan, đại khái bằng cách song song với phe thân Nhật, Thái Lan cần dự bị sẵn một lực lượng chính trị khác hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi Thế chiến II kết thúc. Vị chính khách này còn khuyên Trần Trọng Kim “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” (Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne, Paris, 1994, tr.62, dẫn lại theo Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, Tiên Rồng, USA, 2004, tr. 52-53).

Nói gì thì nói, về mặt lịch sử, vẫn phải công nhận Nội các vừa thành lập ngày 17.4.1945 là chính phủ đầu tiên của Việt Nam theo nghĩa hiện đại, và Trần Trọng Kim đã trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dù chỉ mới độc lập trên danh nghĩa. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức tên tuổi, có trình độ học vấn cao, nhiệt tâm, trong sạch và yêu nước, nhưng tất cả đều thiếu hẳn kinh nghiệm quản lý và nhất là sự lọc lõi chính trị trong thời loạn.

“Trừ Thủ tướng Trần Trọng Kim, chỉ có bằng cấp Trung học, chư quý vị bộ trưởng toàn có những bằng cấp to lớn: nào thạc sĩ bác sĩ, tiến sĩ luật khoa v.v. cả. Người dân Việt mừng thầm khi đọc danh sách nội các… Nhưng…” (Bùi Nhung, Thối nát, Sài Gòn, 1965, tr. 50).

Về thái độ của quần chúng trước việc thành lập nội các mới, nhìn chung các thành phần trí thức (gồm cả sinh viên học sinh) đều nao nức phấn khởi đón luồng gió mới, một số khác dè dặt chờ đợi, vì thấy vẫn còn lệ thuộc Nhật. Nhóm Thanh Nghị đứng đầu là Vũ Đình Hòe thậm chí từ ngày 20.4.1945 còn có hẳn một chương trình riêng gọi là TÂN VIỆT NAM HỘI để ủng hộ Chính phủ (xem Hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội Nhà Văn, 2004, tr. 166-167).

Phấn khởi tiếp đón luồng gió mới độc lập vừa vớ được, ông Nguyễn Duy Phương còn cho ra hẳn một tập sách mỏng chuyên đề lấy tên Lịch sử độc lập và Nội các đầu tiên Việt Nam, do Việt Đông Xuất Bản Cục xuất bản tại Hà Nội khoảng nửa tháng sau khi Nội các thành lập, để bày tỏ sự ủng hộ tích cực, bằng cách trích đăng khá đầy đủ và hệ thống những tin tức, bài phỏng vấn các vị bộ trưởng liên quan các mặt hoạt động cùng chủ trương mới của Nội các, với lời hô hào nêu rõ: “Chỉ hợp quần mới gây nên sức mạnh… Chúng ta hãy đem hết tài năng sĩ, nông, công, thương ra thực dụng. Để giải quyết những vấn đề quan trọng, để tiếp tế, cứu tế cho đỡ nỗi thống khổ đồng bào nghèo đói! Và để giữ vững đất đai thế nào là độc lập của Việt Nam một cách bất diệt”*.

Một số đảng phái quốc gia như Đại Việt (ở Hà Nội), Phục Quốc, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập (ở Sài Gòn), Tân Việt Nam (ở Huế) đều ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim và được Nhật khuyến khích.

Riêng dân chúng ở các vùng nông thôn thì vẫn thờ ơ với chính trị.

Thế rồi đến ngày 8.5.1945, Nội các Trần Trọng Kim mới chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân tại Dinh Tổng trưởng (tòa Khâm sứ Trung Kỳ cũ). Đầu tiên đọc bản Tuyên chiếu của Hoàng đế Bảo Đại về việc thành lập Nội các: “Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh nghiệm để đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt chẽ các giai từng xã hội và luôn luôn giữ một mối liên lạc giữa chính phủ và nhân dân (…)” (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr. 24).

Sau đó, Nội các đưa ra bản tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế, cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi quốc dân ra sức đoàn kết, gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, “tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia”; chăm lo việc cứu đói, định lại thuế khóa cho công bằng; đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết giữa chánh phủ với dân chúng; thống nhất pháp luật trong toàn quốc và tránh sự lạm quyền, tiệt trừ nạn tham nhũng; rèn luyện lớp thanh niên mới có khí khái có nghề nghiệp; chú trọng nâng cao trình độ sinh hoạt của dân chúng. “Chúng tôi xin tuyên thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cũng một lòng vì nước, giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật, để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt Nam ta muôn đời trường cửu” (nguyên văn bản tuyên cáo này có in trong phần phụ lục Một cơn gió bụi, sđd., tr. 192-195).

Kế hoạch đặt ra đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp quản bộ máy cai trị của Pháp, thông qua sự thu xếp bàn giao lại của Nhật, đã hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Theo nhà sử học Pháp Philippe Devillers, có hai điểm trở lực căn bản nhất, đó là sự thiếu chín muồi về chính trị của dân chúng và quyền ngăn cấm của người Nhật: “Quyền cấm cố của Nhật là rất nặng nề, cả về kế hoạch chính trị lẫn kế hoạch kinh tế và quân sự” (Histoire du Viêt Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil,1952, tr. 128). Ngoài ra, còn nhiều nỗi khó khăn cụ thể và trực tiếp khác: bộ máy quan lại thực dân nửa phong kiến đã thối nát quá lâu; nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc từ tháng 3.1945 vì mất mùa và một phần quan trọng vì chính sách nông nghiệp thời chiến do Pháp-Nhật gây ra làm cả triệu người chết, thây phơi đầy đường; bom đạn do quân Đồng minh Anh, Mỹ đổ xuống phá nát các cơ sở hạ tầng làm cho công tác cứu đói của Bộ Tiếp tế càng trở nên khó khăn trầy trật; Nhật ngày càng thua đậm trong trận Thế chiến (nhất là sau hai lần bị ném bom nguyên tử trong các ngày 6 và 8.8.1945); Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương bằng mọi giá; thiếu sự hậu thuẫn tinh thần của quảng đại quần chúng, trong khi đó, hoạt động của Việt Minh, được chuẩn bị từ lâu và một cách khéo léo, có sách lược hẳn hoi, đang ngày càng tăng mạnh với chủ trương đánh đổ cả Pháp-Nhật lẫn chính quyền phong kiến giành độc lập, được nhân dân nhiều nơi trên khắp cả ba miền đất nước hưởng ứng. Nội các Trần Trọng Kim lâm vào thế bị động và ngày càng lúng túng, phải chấp nhận từ chức, tiếp theo là việc thoái vị của cả vua Bảo Đại vì áp lực của cao trào cách mạng.

Liên quan việc Nội các Trần Trọng Kim từ chức, cả hai tài liệu Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim và Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe (NXB Hà Nội, 1983) đều phản ảnh những thông tin cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau về một số chi tiết và ngày tháng. Đại khái, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và xu hướng quần chúng-trí thức ngã theo Việt Minh, nội bộ Chính phủ Trần Trọng Kim đã bắt đầu có những dấu hiệu phân hóa về sự lựa chọn chủ trương, đường lối.

Được biết, trong khoảng thời gian này, Vũ Đình Hòe (1912-2011), người đứng đầu nhóm Thanh Nghị, cùng chí hướng với hai bộ trưởng Vũ Văn Hiền và Phan Anh (1912-1990), ban đầu rất tích cực ủng hộ Chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim, nay thấy không ổn, bắt đầu có những cuộc tiếp xúc với người của Việt Minh, thậm chí còn được đại diện của Việt Minh là Dương Đức Hiền (1916-1963) kết nạp vào Đảng Dân chủ. Trong tập Hồi ký Vũ Đình Hòe (NXB Hội Nhà Văn, 2004), ông cho biết: “Trước ngày 17 [tháng 6.1945] tôi đã gặp hai anh Phan Anh và Vũ Văn Hiền, trao đổi nhận định về tình hình. Tôi cho hai anh biết tâm trạng của anh em trí thức ngoài Bắc giảm sút lòng tin đối với Chính phủ [Trần Trọng Kim], một số coi như Chính phủ bất lực rồi, còn dân chúng thì số đông ở thành phố trước sau vẫn thờ ơ, một số dân quê ngày càng đông ngưỡng mộ Việt Minh. Tôi thành thực thổ lộ với hai anh có lẽ nên dự bị ‘một hướng suy nghĩ khác’ cho kịp thời chuyển” (tr. 183).

Trong một cuộc họp Nội các (Phạm Khắc Hòe nói ngày 3.8.1945) ở Dinh Tổng trưởng, cả ba bộ trưởng Hồ Tá Khanh (1908-1996), Trần Đình Nam (1896-1974), Nguyễn Hữu Thí đều đề nghị Nội các nên rút lui để nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh càng sớm càng tốt, may ra mới cứu được đất nước. Nội dung đề nghị này, cả ông Hòe lẫn ông Kim đều trình bày giống nhau trong tập hồi ký của mỗi người. Nhưng về phản ứng của Nội các Tổng trưởng trước đề nghị rút lui, mỗi người lại kể khác nhau.

Theo sự mô tả của Phạm Khắc Hòe thì ông Kim tỏ vẻ gay gắt, trách các bộ trưởng thiếu trách nhiệm, không khí buổi họp trở nên căng thẳng (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 45), còn Trần Trọng Kim trong tập hồi ký của mình chỉ nói: “Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay” (sđd., tr. 89).

Cuộc họp phải tạm dừng. Hai ngày sau, 5.8.1945, toàn thể Nội các dâng lên vua tờ phiến xin từ chức. Ngày 6.8.1945, Bảo Đại chấp nhận đơn từ chức, nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trần Trọng Kim tìm cách liên lạc với những người có đảng phái như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đặng Thai Mai… mời ra Huế lập nội các mới nhưng sau một tuần lễ không thấy ai hưởng ứng, mà theo ông Kim tâu lại với Bảo Đại là do những người ông mời đều rất cách mạng, rất tả, và vì điều này không làm vừa lòng người Nhật nên họ đã chặn điện lại. Trong khi chờ đợi, ngày 12.8.1945, Bảo Đại ra đạo dụ đổi nội các từ chức thành nội các lâm thời, làm việc chỉ được mấy ngày thì Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945). Tình thế bức bách, thế lực của Nhật coi như tan rã, Đồng minh mạnh lên, chủ trương vận động vua Bảo Đại thoái vị của Việt Minh thông qua đầu mối liên lạc của Tôn Quang Phiệt (1900-1973) được Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tích cực ủng hộ, và theo đề xuất của Trần Đình Nam, một cuộc họp khẩn cấp nội các đã được triệu tập sáng ngày 17.8.1945 do vua đích thân chủ tọa.

Nhóm Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh đề nghị Nội các rút lui, vua Bảo Đại thoái vị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ chung quanh tổ chức mạnh nhất, hăng hái nhất là Việt Minh để bảo vệ nền độc lập. Theo Phạm Khắc Hòe kể trong hồi ký thì Trần Trọng Kim phản ứng, một cuộc tranh luận sôi nổi dấy lên, cuối cùng thống nhất ý kiến với bộ trưởng Vũ Văn Hiền (1911-1963), đề nghị tạm thời vẫn giữ chính thể quân chủ với vua Bảo Đại nhưng giao cho Việt Minh tổ chức nội các, thể hiện trong Đạo dụ số 105 được Phạm Khắc Hòe soạn thảo ngay sau đó, trong giờ giải lao 15 phút.

Trước cuộc họp, Phạm Khắc Hòe được sự ủng hộ của Trần Đình Nam đã chuẩn bị sẵn một bản dự thảo theo đó khẳng định tư cách và ý chí độc lập của dân tộc, kêu gọi mọi người ái quốc ra phò vua giúp nước, và động viên tinh thần hi sinh của Hoàng đế. Khi bản dự thảo được vua Bảo Đại cho phép đọc lên, Trần Trọng Kim phản ứng về việc hi sinh của Hoàng đế, cho là ép vua quá, trong khi đó Phan Anh phát biểu dung hòa, nói để cho vua tự suy nghĩ quyết định. Bảo Đại yêu cầu đọc lại đoạn “hi sinh của Hoàng đế” nêu trong bản dự thảo để nghe cho rõ hơn, nghe xong vua đồng ý, giao cho Văn phòng (tức cho Phạm Khắc Hòe) làm văn bản để chiều ký. Văn bản này tạm gọi là “Chiếu động viên quốc dân” mà Bảo Đại đã ký ngay vào 4 giờ chiều hôm đó (17.8.1945) sau vài phút do dự và “một cái nhún vai nhè nhẹ”, trong có đoạn: “Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu… Trước tình thế quốc tế hiện thời, trẫm muốn mau có nội các mới… Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, trẫm sẵn sàn hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như trẫm” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 195-196; Phạm Khắc Hòe có dẫn lại trong Từ triều đình Huế…, tr. 58-59).

Trong một diễn biến khác, ngày 19.8.1945 khi thấy tình thế đã nguy ngập đến nơi, “chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả”, đến lượt Trần Trọng Kim cũng vào gặp vua, dẫn gương của vua Louis bên Pháp và vua Nicolas II bên Nga, đốc thúc Bảo Đại phải thoái vị ngay không nên chần chừ (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 92).

Đến giờ phút này, cả Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và phần lớn thành viên trong Nội các vẫn còn mơ hồ, chưa biết rõ lãnh tụ Việt Minh là ai.

Với vai trò đã bí mật nhận với Việt Minh (thông qua Tôn Quang Phiệt), Phạm Khắc Hòe tiếp tục tìm mọi phương tiện khéo léo vận động Bảo Đại thoái vị, bằng cách luôn báo cáo với vua về những cuộc biểu tình của quần chúng đả đảo phát-xít, ủng hộ Việt Minh, về huyền thoại dân gian “thánh Nguyễn Ái Quốc” ra đời ở đất Nam Đàn… để khuyên nhà vua nên rút lui. Cuối cùng Hoàng đế đồng ý nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là ‘Thánh Nguyễn Ái Quốc’ thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay” (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 62). Nghe xong Phạm Khắc Hòe khấp khởi vội vã lo soạn chiếu thoái vị, và hoàn tất ngay trong đêm 20.8.1945.

Gần trưa ngày 23.8.1945, Bảo Đại nhận được tối hậu thư của Việt Minh, dưới đóng dấu “Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương” nhưng không có ai ký tên, đòi nhà vua phải trả chính quyền cho nhân dân và hứa sẽ bảo đảm tính mạng, tài sản cho hoàng gia, hạn cho nhà vua phải trả lời trước 13 giờ 30 phút ngày 23.8.1945 và cử ông Phạm Khắc Hòe làm người liên lạc giữa nhà vua và Chính quyền cách mạng.

Theo đề nghị của Phạm Khắc Hòe, một cuộc họp nội các đã được triệu tập ngay lập tức vào đúng 12 giờ 25 phút cùng ngày để kịp trả lời Việt Minh đồng thời góp ý kiến cho dự thảo Chiếu thoái vị do chính ông Hòe khởi thảo. Cuộc họp do vua chủ tọa, có mặt Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương (1898-1986), Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Hữu Thí, Phạm Khắc Hòe. Mọi người đồng ý chấp nhận các điều kiện do Việt Minh đưa ra trong tối hậu thư, còn Chiếu thoái vị thì chỉ sửa có mấy chữ “nồi da xáo thịt” thành “Nam Bắc phân tranh”.

Tờ chiếu lịch sử đó của Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng triều Nguyễn sau 143 năm trị vì đất nước phong kiến mà hơn một nửa thời gian bị lệ thuộc Pháp, chính thức đề ngày 25.8.1945. Ông chấp nhận từ bỏ ngôi báu một cách khá mau lẹ một phần vì muốn đặt lợi ích của quốc dân lên trên, phần khác cũng do bị áp lực từ nhiều phía và cũng chẳng còn cách nào khác.

Chiều ngày 26.8.1945, trong không khí buồn tẻ chỉ hiện diện vài người thân cận, vua làm lễ cáo yết Liệt thánh về việc thoái vị ở Thế miếu là nơi thờ Gia Long và các vua nối tiếp. Các quan văn võ được thông báo trước nhưng đều không đến dự.

Chiều 30.8.1945, tại cuộc lễ thoái vị được cử hành long trọng trước Ngọ Môn, Bảo Đại mặc triều phục tuyên độc chính thức Chiếu thoái vị, lời lẽ chân thực cảm động, với sự có mặt của đại diện Việt Minh gồm các ông Trần Huy Liệu (Trưởng đoàn), Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận cùng sự chứng kiến của đám đông hàng vạn dân chúng:

“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh tất cả, và ước mong rằng sự hi sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.

Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.

Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta… (chép theo Con rồng Việt Nam của Bảo Đại, tr. 187-188, có một số câu chữ khác hơn so với văn bản chép trong Phụ lục hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim).

Đọc xong, vua Bảo Đại trao kiếm vàng và ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, biểu thị chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim, mà ba tuần lễ sau cùng đổi gọi Nội các Lâm thời, coi như cũng chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.

Trong hồi ký Con rồng Việt Nam (Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990), cựu hoàng Bảo Đại sau này nhớ lại: “Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi. Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu” (tr. 188).

Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Về phần Nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy 4 tháng (từ 17.4 đến 7.8.1945, nếu tính đến 23.8.1945 khi quyết định xong Chiếu thoái vị thì được 4 tháng 6 ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, Nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng đã làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận: 

Tháng 6 năm 1945, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, Annam); tạm duy trì bài quốc thiều “Đăng đàn cung”; đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long tinh bằng cờ quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm.Bộ Tiếp tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt.

Thanh trừng quan tham lại nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.

Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.

Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.

Can thiệp với Nhật để từ ngày 9.8.1945 tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản đã bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương trừng thanh quan lại và bài trừ tệ hối lộ.

Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20.7.1945.

Ngày 1.8.1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm Lính Khố xanh, Khố đỏ.

Ngày 14.8.1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.

Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

Về tư pháp, thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5.7.1945.

Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc Tiểu học và Trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.

Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa.Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên Tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.

Trong giai đoạn tồn tại cuối, nhận thức được trào lưu, tham gia dàn xếp êm và nhanh chóng việc thoái vị của Bảo Đại để trao quyền lãnh đạo cho chính quyền cách mạng, tránh một cuộc xung đột đổ máu rất có thể xảy ra nếu có sự kháng cự.

Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.

Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Nam vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!

Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.

“Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).

Nội các Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, “xây dựng khu vực thịnh vượng chung” của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trị mới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.

Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẫm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu âu tiêu cực, được chăng hay chớ.

Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.

Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạm nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.

Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!…” (sđd., tr. 99-100).

Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết…” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).

Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc, lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ hay dở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.

Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân). Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).

Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67).

Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.

Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng, .

Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).

Trần Văn Chánh, TS

____

* Một Cơn Gió Bụi, xuất bản 1949, tác giả Trần Trọng Kim là một học giả, Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam năm 1945. 

GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Một cơn gió bụi là cuốn Hồi ký do Trần Trọng Kim (1883–1953) xuất bản năm 1949, mang nội dung tóm lược quãng đời làm chính trị của ông (từ năm 1942 đến năm 1948). Trong cuốn hồi ký, ông có đề cập và nói lên suy nghĩ của mình về các sự kiện lớn xảy ra trong nước thời bấy giờ như sự thành lập chính phủ của Đế quốc Việt Nam do ông làm thủ tướng, sau đó là Cách mạng tháng Tám, sự cầm quyền của Việt Minh, cùng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất do Việt Minh phát động.

 

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Ðọc Tây Tiến (Quang Dũng) & Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Posted by hoangtran204 on 07/07/2016

Bùi Bích Hà

Trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam cận đại, có một thời khi lòng yêu nước của người dân chưa bị ô nhiễm vì tham vọng chính trị của những kẻ thời cơ, hậu duệ chúng ta quả đã sống rất hào hùng truyền thống Diên Hồng của tiền nhân. Những dấu ấn rõ nét nhất còn lưu lại cho đời nay và muôn đời sau nằm trong dòng chảy thi ca và âm nhạc Việt Nam thập niên 40 thế kỷ trước, khi cái gọi là Cách Mạng Mùa Thu nổ ra trên toàn đất nước và phong trào Việt Minh lợi dụng thời cơ cướp công của toàn dân trong việc đánh Pháp, đuổi Nhật, giành chính quyền.

Hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam nung chí chống ngoại xâm đã hăm hở hy sinh sự nghiệp cá nhân lao vào kháng chiến “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân, sơn hà nguy biến tiến ta tiến, một lòng vì dân ta liều thân…”

Và “Ngày bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến, bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành, đi là đi đem hồn non nước xây thành, đi là đi chiến đấu ta cùng đi chiến thắng đi là mang mối thù thiên thu…”

Gần một thế kỷ trôi qua nhưng những bản quân hành ngày xa xưa ấy khắc ghi trong trí nhớ của lũ trẻ lên 5, lên 7, ở từng góc phố, từng con đường làng. Giờ đây, trong tuổi già nghe lại vẫn thấy lòng thổn thức với những ca từ đầy nghĩa khí “Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng núi cây rừng lắng tiếng nghe hình dáng của người anh hùng lạnh lùng theo trống dồn trên khu đồi nương im trong chiều buông, ra biên khu trong một chiều sương âm u, bao oan khiên đang về đây hú với gió là hồn người Nam nhớ thù…”

Ðầu thập niên 1950s, bước vào trung học, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng làm mê hồn đám nữ sinh trường Ðồng Khánh (Huê) trước đó chỉ biết chép lên giấy mỏng và chuyền tay nhau những bài thơ tình của TTKH, của Thâm Tâm, của Xuân Diệu, của Hoàng Anh Tuấn. Thuở đất nước bình minh ấy, Việt Minh chưa để lộ cái đuôi chồn Cộng Sản nên trong trí tưởng của lũ học trò con gái nhiều mơ mộng, hình ảnh người chiến binh xa nhà đi chinh chiến giành độc lập cho quê hương ở đâu cũng phủ lên họ hào quang của huyền thoại chống ngoại xâm thật hào hùng và lãng mạn.

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Con đường đi vào chiến tranh ở tuổi 20 thời Quang Dũng còn là hoa thơm, cỏ mềm dưới gót chinh nhân, còn là mái lá ấm hơi người yêu dưới cơn mưa, thương tích chưa sâu, người chiến binh ngày ấy không “chết như mơ, chết thật tình cờ” như ca từ một bài hát nào tôi nghe qua và cất kỹ vào trí nhớ để mãi ngẩn ngơ, tê tái, mà chỉ chồn chân“không bước nữa, gục lên súng mũ bỏ quên đời!” nằm lại cùng đất từ nay dãi dầu mưa nắng dưới trăng sao.

Những địa danh xa xôi, những buôn làng heo hút miền cao hiển hiện đẹp như tranh vẽ qua bút giấy nhà thơ, giấu hạnh phúc vào ba lô trên lưng làm lương thực cho cuộc hành trình chưa biết sẽ kết thúc ở nơi nào.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chan xây hồn thơ.

Những câu thơ âm vận rất mới, ngùn ngụt sức sống của đoàn người ra đi không hẹn ngày về, tạm gác một bên tình yêu và gia đình, những cái chết lẫm liệt làm nao lòng người đọc.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Ở một cường độ cảm xúc nào đó, người và thơ tan vào nhau làm một, không còn biên giới, thậm chí không còn tên gọi, không cả hình hài xương thịt quần áo mà chỉ còn tiếng thơ lồng lộng và hương thơ ngào ngạt trong bao la trời đất.

Phải mãi tới mùa Hè đỏ lửa năm 1972, người yêu thơ mới được đọc trên tạp chí Văn ở Saigon bài Biên Cương Hành của tác giả Phạm Ngọc Lư. Tôi không biết sau tiếng kêu trầm thống xé tim gan người đọc này, nhà thơ còn viết về chiến tranh nữa hay không, nhưng với tôi, tên ông và thời khoảng lịch sử nhiều đau thương mà ông là chứng nhân, đã xương cốt thuộc về nhau không rời.

Biên cương biên cương chào biên cương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già, bạt núi non
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Ðoàn quân ma bay khắp bốn phương.

Năm 1948, đóng quân hay đi qua Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết Tây Tiến.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Binh đoàn Tây Tiến thời ấy trần thân thi gan cùng tuế nguyệt. Họ không có được cái thế mạnh vũ bão của đoàn quân miền Nam đi đánh trận hạ Lào hơn hai mươi năm sau nếu không nói là họ không có đủ sức khỏe và đói ăn ngay từ thuở ban đầu (nên mãi nhớ nồi cơm khói tỏa và mùi thơm của xôi nếp mới Mai Châu). Những nàng Thơ hậu phương thời ấy vẫn mãi là những “dáng kiều thơm” giữa Hà Nội hoa lệ lộng lẫy trong ánh đèn đêm để các Kinh Kha mơ ước nhớ về. Chiến tranh chưa đủ khốc liệt và giai nhân chưa kịp làm vợ để trở thành những phiến đá vọng phu như trong Biên Cương Hành.

Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Ðá mang dáng dấp hình chinh phụ
Chơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Ðá vọng phu mọc khắp biên cương.

Tình yêu thời Quang Dũng đậm hương vị học trò của những ngày rời xa trường chưa lâu hay tác giả không dám bày tỏ hết mình vì sợ bị quân luật kiểm điểm nên chỉ thấy tình cảnh tội nghiệp của những…

“Em đi áo mỏng buông hờn tủi, dòng lệ thơ ngây có rạt rào…” Liều lắm, mạnh bạo lắm cũng chỉ đến mức như trong Tây Tiến “Mắt trừng gởi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm,” rất khác với tình yêu của Phạm Ngọc Lư trong Biên Cương Hành, “cháy bỏng thịt da, rã rời thân xác.”

Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Ðỡ thèm môi mắt gái buôn hương.

Chiến tranh kề cận nỗi chết gọi những giấc mơ tình yêu ngọt ngào và cũng bày ra những sự thật trần truồng, thô ráp.

Khác biệt giữa Quang Dũng của Bắc vĩ tuyến 17 sau 1954 và Phạm Ngọc Lư ở miền Nam chan hòa nắng gió tự do là những giây phút đối diện với chính mình, sống tràn đầy, sống thật không một chút ngụy trang che đậy. Ðiểm chung là họ mãi giống nhau ở sự cô đơn nằm trong thân phận người.

Ðây biên cương, ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Ðá chảy mồ hôi, rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắc tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương?

Rất nhiều Quang Dũng, rất nhiều Phạm Ngọc Lư, sống còn hay thân đền nợ nước, người chiến binh lên đường không hẹn ngày về nhưng nếu có về, họ để tâm hồn và trái tim ở lại nơi bạn bè và phần đời đáng ghi nhớ nhất của họ ở lại. 

Tây tiến người đi không hẹn ước
Ðường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi (QD)

Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về thân cạn máu khô xương
Ngày về hôn lễ hay tang lễ
Hề chi! Buổi chinh chiến tang thương
Hề chi kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương (PNL)

Ai đó đã nói “Người lính già không chết, họ chỉ lui vào lãng quên.” Quang Dũng và Phạm Ngọc Lư không chết, cũng không vào lãng quên. Tây Tiến & Biên Cương Hành là những hạt lệ như mưa không bao giờ khô cạn; là những hồi chuông thiên cổ vang dội núi non, gõ lên trái tim nhân loại đớn đau mãi mãi kêu đòi quyền sống hòa bình và an lạc trên quê hương tiền nhân mỗi giống giòng để lại; là những tấm phù điêu ngoại sử khắc họa con người Việt Nam một thời đã sống, đã chết, đã yêu thương, đã mòn mỏi và đã cùng đường khi chưa hết thanh xuân như thế.

Thơ là tình yêu. Thơ là sự thật. Từ cổ chí kim, cuộc chiến dẫu tàn bạo và gian dối trong nhiều cảnh ngộ, đã nhờ Thơ mà hiển lộ vẻ đẹp và giải oan cho mọi biển dâu.

________

Tây Tiến là một bài thơ của nhà thơ Quang Dũng, được in trong tập Mây đầu ô.

Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Chiến sĩ trong đoàn quân này phần đông là thanh niên, có nhiều học sinh, sinh viên (như nhà thơ Quang Dũng). Chiến đấu khắp các địa bàn thuộc tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng “họ sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm” [1].

Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa binh đoàn Tây Tiến chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, mà sau này ông cho đổi tên là Tây Tiến.

Sông Mã, đoạn chảy qua thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Bài thơ nói lên nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ, xa ngái nhưng thơ mộng, trữ tình. Đó còn là nỗi nhớ con người: những chiến sĩ hào hoa, dũng cảm, giàu lòng yêu nước trong đoàn binh Tây Tiến đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc.

Tác giả đã chia bài thơ làm 4 đoạn tương ứng với những hình ảnh và ý tưởng chính:

  • Bức tranh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và mỹ lệ (tương ứng với đoạn 1 và 2, tức từ câu 1 cho đến câu 22).
  • Hình ảnh người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và đi sâu vào những kỉ niệm của tình quân dân thắm thiết (tương ứng với đoạn 3 tức từ câu 23 cho đến câu 30).
  • Lời hẹn ước và sự khẳng định lại nỗi nhớ (4 câu cuối).

Tây tiến

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

—Phù Lưu Chanh, 1948

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Tình Yêu- Lòng Yêu Nước | Leave a Comment »

►Thủ bút Trần Trọng Kim – Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 8-5- 1947

Posted by hoangtran204 on 05/09/2015

Thủ bút Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Nguyễn Đức Toàn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
 
Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bảnNam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra.
Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện.
 
 

Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên. 

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt. 

Nội dung như sau :

 
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947 (1)
 
Ông Hãn (2),
 
Hôm ông Phan văn Giáo (3) đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài (4) xem.
 
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy (5), hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau (6) do ông D’argenlieu (7) sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làmđược (8).
 
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây (9), không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền (10) và Khiêm (11), họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1]cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài (12).
 
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau.
Tôi về đây chỉ gặp Thảo (13), Hoè (14) và Sâm (15). Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói: Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:


(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V. M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái tròng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh (18) bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân (19) gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt (21) đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)(22)
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ (23) bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương (24) đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam. 

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng. 

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167… 

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.” 

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”. 

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội. 

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim,Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi. 

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd). 

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bàTrần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà. 

_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:
. 
==============
Nhận xét của bạn đọc:

 

  1. Nặc danh15:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Từ năm 1947. Một tư liệu quý. Sao mà vẫn thời sự quá!
    Trả lờiXóa
  2. BALY16:32 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Một tư liệu quá quý,nó sẽ làm sáng tỏ nhiều điều mà những “ai” muốn bưng bít,tô vẽ lại lịch sử theo ý có lợi cho mình bị phanh phui rõ ràng.
    Trả lờiXóa
  3. CD Saigon16:49 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Rất mong những sách của học giả Trần Trọng Kim được trân trọng và tái bản .
    Trả lờiXóa
  4. Bùi Công Tự17:27 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi mới đọc cuốn VIỆT NAM SỬ LƯỢC của Trần Trọng Kim do Nhà xuất bản tổng hợp tp HCM xuất bản năm 2000 .Trước đây có tìm đọc tiểu sử của cụ Trần nhưng tác phẩm của cụ thì chưa được dù cũng rất yêu nueowcs và tài năngbiết .Nay đọc bài này ,thấy được tấm lòng ưu tư của cụ với Đất nước ,tôi thật sự cảm động.Đặc biệt tôi khâm phục sự sáng suốt ,tỉnh táo về chính trị của cụ ,hơn hẳn lớp đàn em ,dù cũng rất yêu nước và tài năng ,như các vị Nguyễn Văn Huyên ,Tạ Quang Bửu ,Nguyễn Mạnh Tường …TK20 nước ta đã có nhiều nhân tài ,trong đó về sử học là Trần Trọng Kim .
    Trả lờiXóa
  5. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Cu Tran Trong Kim la 1 dai hoc gia cua nuoc ta.
    Trả lờiXóa
  6. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    “Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
    Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.”Rõ ràng ngay từ thời cộng sản còn đang buổi hừng đông, vậy mà ông Trần Trọng Kim đã nhìn thấy bản chất lừa dối, xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm. Ông Trần Trọng Kim quả là đức độ hơn người và đã có những nhận xét vô cùng chính xác cái chủ nghĩa CS- quái thai của thế kỷ 20.
    Trả lờiXóa
  7. Nặc danh19:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Dù chỉ là một lá thư , với những nhận xét mang tính chất cá nhân , nhưng những gì mà học giả Trần Trọng Kim đã nói , và với những nhận xét của ông rất đáng để chúng ta quan tâm .Tôi đặc biệt ngạc nhiên về những gì mà ông đã nhận xét và đánh giá về V M ở trong lá thư này , nó chứng tỏ một nhãn quan và kiến thức rất sâu rộng của ông .Sẽ có một ngày không xa , các nhân vật và những sự kiện lịch sử trong quá khứ sẽ được gọi đúng tên và giá trị đích thực như vốn có của nó .

    Để gió cuốn đi
    Trả lờiXóa

  8. Nặc danh22:09 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã được đọc “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim, có thể nói đây là cuốn lịch sử chính xác nhất, khách quan nhất của nước ta, nhưng đáng tiếc là nhà xuất bản TP HCM đã lược bỏ đi một số nội dung cho phù hợp với ý đảng.
    Vì vậy tôi mong những ai có tâm huyết với lịch sử nước nhà, tôn trọng sự thật, hiểu được tiêu chuẩn sơ đẳng và tối thượng của lịch sử, thì hãy cho tái bản bản gốc của ông Trần Trọng Kim để hậu thế được biết.
    Cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng một tư liệu lịch sử quý giá của học giả Trần Trọng Kim.
    Trả lờiXóa
  9. Hoàng Long22:14 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Đúng là một bức thư quý giá!
    Trả lờiXóa
  10. Nặc danh23:59 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Có thể gói gọn về Trần Trọng Kim như sau: một học giả uyên bác, một nhà yêu nước, nhưng không thể là một nhà chính trị thành công. Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. 🙂
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh05:51 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
      “Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. :-)” Nhận xét của bạn nặc danh 23:59 là chưa chính xác, bởi nó chỉ đúng đối với những nhà chính trị CS mà thôi, thử hỏi Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, tổng thống Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản v.v… có phải là những nhà chính trị thành công không và họ có bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo không thì bạn sẽ phải xem lại nhận xét của mình.
      XóaTrả lời
  11. Lộ bản chất xấu ngay từ đầu05:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lịch sử rất công bằng, lịch sử sẽ đánh giá đúng và trả lại giá trị đích thực cho những cá nhân, từng sự kiện đã qua trong quá khứ.
    Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng, không thể tự nhiên, ngẫu nhiên mà lịch sử sẽ dễ dàng “trả lại cái này”, hay “đánh giá lại cái kia” … nếu không có những con người tuy thầm lặng, nhưng nặng lòng với lịch sử, với đất nước mà đã dày công lưu trữ, bảo vệ các tư liệu quý giá trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm. Nhờ có các nguồn tư liệu quý giá ấy mà tất thảy các sự việc dù vẫn đang u u minh minh, sẽ lần lượt được lôi ra ánh sáng.
    Cá nhân tôi xin chân thành biết ơn những bậc trí giả, ái quốc đã chung tay trong việc bảo vệ, gìn giữ cũng như công bố các tài liệu quan trọng như thế này ! Mong rằng các vị bảo trọng, an toàn trong một chế độ nguy hiểm bậc nhất thế giới này ! Xin cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, mong Tiến Sĩ bình an !
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Ba Cầu Muối, Saigon09:44 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Đọc cuốn ” Một cơn gió bụi ” còn nhiều chuyện hay hơn .
      Xóa
    2. Nặc danh02:37 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Đọc bức thư này mới hiểu được lịch sử Việt Nam, cảm ơn những người đã giữ lại được những tài liệu vô giá này. Thật tiếc, 1975 vì hoàn cảnh bị “đánh tư sản” nhiều gia đinh phải mà phải đốt hết sách vở quý giá.
      XóaTrả lời
  12. The Bell10:06 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Hay quá !
    Cụ Kim quả là một kẻ sĩ thông thái tinh lược nhưng còn thiếu mưu lược nên đã bị người ta cướp mất chức và đốt mất nhà. Cụ cũng vì quá đạo đức nên không thể ” bạo lực cách mạng” được . Đúng là chỉ có V.M ( dám) làm được điều này.
    Lịch sử sẽ vinh danh công trạng của cụ
    Trả lờiXóa
  13. Nặc danh10:48 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Trần Trọng Kim là một nhà trí thức chân chính,nhưng ai đã sát hại ông ta?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh12:02 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Khi bạn đặt câu hỏi ra, bạn cũng đã biết rỏ là ai rồi.
      Xóa
    2. Nặc danh11:28 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Ông Trần Trọng Kim mất tại Sài Gòn, thọ 71 tuổi, ông mất do tuổi cao sức yếu chứ không phải bị sát hại.
      XóaTrả lời
  14. Nguyễn Hiếu12:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Người Nghệ Tĩnh gọi Cộng là Cọng thưa tác giả
    Trả lờiXóa
  15. Lê Tri Điền16:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã đọc một cơn gió bụi của ông từ lâu, cái tâm của ông với quốc gia, dân tộc thật cảm động vô cùng. Một con người tài giỏi, tâm đức như ông đã không gặp thời…Xin thứ lỗi cho tôi đã có lúc nghĩ về ông như những gì mà người ta vẫn xuyên tạc lâu nay…Nhân dân sẽ luôn nhớ đến ông như một người con trung hiếu, một nhân tài của đất Việt…
    Trả lờiXóa
  16. HOANGGIAP TON16:49 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lúc còn là học sinh tôi được rao giảng không tốt về chính phủ Trần Trọng Kim. Sau này lớn lên vô tình được đọc Việt Nam Sử Lược của cụ (thời đó cuốn này chưa cho in ở Bắc VN đâu) tôi có suy nghĩ khác hẳn vì thấy cụ đúng là một trí thức lớn, rất lớn. Cụ có những nhận xét đúng mực về dân tộc VN mình. Nay đọc lá thư này càng được hiểu cụ hơn. Đúng là một bậc trí tuệ sáng suốt, thấy rất sớm, nhìn rất đúng về hoàn cảnh và tương lai phiá trước của đất nước. Tiếc thay “Trời chẳng chiều người”, nên cũng là một mất mát chung mà đám hậu thế chúng ta gánh chịu.
    Lịch sử sau này sẽ đánh giá và ghi nhận lại. Việt Nam còn, tên tuổi cụ còn tồn tại với non sông.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh02:59 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Nếu ngày xưa biết theo lời cụ Kim thì đất nước đâu đau thương hơn nữa thế kỷ qua ? ngày nay cũng thế, bỏ ngoài tai, làm càng, để rồi hậu thế 50 năm về sau gánh hậu quả đau thương như hôm nay thế hệ mình phải gánh.
      XóaTrả lời
  17. Nặc danh18:57 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Thực sự khâm phục Cụ TTK đã có cái nhìn rất sắc sảo và chính xác về bản chất của chủ nghĩa cọng sản:đó là sự dối lừa,nham hiểm,tàn bạo.Nó lý giải vì sao bao nhiêu người đã bị bắn giết,tù đày,bạc đãi mặc dầu đã có những đóng góp lớn lao về trí lực vật chất cho cách mạng.
    Trả lờiXóa
  18. Hà Tĩnh quê choa21:24 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Rôi đây lịch sử và Nhân dân sẽ minh oan cho Ông
    Trả lờiXóa
  19. Nặc danh21:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Môt tài liệu quý như thế này mà báo chí ko đăng thật đáng tiếc!
    Trả lờiXóa
  20. Yêu nước, thương dân trên hết23:17 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Chỉ cần đến khi trên mảnh đất Việt khổ đau này không còn sự độc tài của Đảng cộng sản nữa, chỉ cần đến khi có nhiều chính đảng khác cùng tồn tại, đối trọng, cạnh tranh công bằng với những người cộng sản, thì khi đó các tiếng nói của tự do, dân chủ sẽ được thể hiện. Các bậc trí giả, vĩ nhân đất Việt, cho dù mang hệ tư tưởng nào, miễn là có lòng yêu nước, thương dân, khi đó nhất định sẽ được lịch sử ghi nhận công trạng, cụ Trần Trọng Kim nhất định sẽ có ngày được lịch sử Việt Nam vinh danh.
    Trả lờiXóa
  21. con rồng Việt Nam21:43 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
    Hiện nay hàng triệu người Việt Nam nghe cái tên Trần Trọng Kim vẫn nghĩ đó là một tên phản động, bù nhìn, tay sai phát xít Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim luôn được sách báo gọi xách mé như thể đó là một chính phủ ác ôn có nợ máu với nhân dân.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Dao Lam06:22 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Người miền Nam vẫn quí trọng và mang ơn cụ TTK. Sách vở của cụ vẫn được trân trọng và tái bản nhiều lần . Trong khi ở miền Bắc, guồng máy tuyên truyền của Đ muốn triệt tiêu tên tuổi của cụ, chụp cho cụ những cái mũ ác ôn , thân Nhật . Phải nói rằng những người VN thế hệ sau cụ đều phải biết ơn cụ . Những người đã từng học chữ Quốc Ngữ, ai lại biết bộ VN GKT từ lớp đồng ấu . Ai lại không biết những câu chuyện rất ý nhị , bổ ích và đấy tính giáo dục . Ở miền Nam , học sinh Trung học đều có trong tay cuốn VNSL. Từ khi có cuốn VNSL của cụ TTK, kiến thức về sử VN của học sinh miền Nam tăng lên rất nhiều . Các SGK sử miền Nam đều dựạ vào VNSL để soạn chương trình từ tiểu học đến hết lớp PT . Còn những sách về Nho giáo của cụ các SVĐH Văn Khoa ai cũng phải có . Đặc biệt cụ không làm chính trị, chỉ sau sau cuộc đảo chính của Nhật 9/3/1945, HĐ Bảo Đạo vì quí trọng và nghe danh cụ đã lâu nên mời cụ ra lập Chính Phủ . Một con người viết lịch sử, yêu tổ quốc như cụ TTK không lẽ lại đem thân làm tay sai cho quân phiệt Nhật ? Rồi sẽ tới lúc lịch sử phê phán lại con người và sự nghiệp của cụ TTK để trả lại cho cụ những gì thực là của cụ.
      XóaTrả lời
  22. Nặc danh10:26 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tôi kính trọng tầm trí tuệ của cụ Trần khi Cụ đưa ra dự đoán “Cộng sản có công đầu và tội đầu”. Tại thời điểm ấy, những nhận xét của cụ Trần về CS chính xác đến khó tin và trường tồn. Cụ hơn hẳn và khác hẳn cánh Giáo sư ‘bảo vệ đảng’ đương thời.
    Trả lờiXóa
  23. Bôn Ba11:08 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Lịch sử rất Công bằng, Sự thật trước sau vẫn là sự thật!
    Trả lờiXóa
  24. Nặc danh12:58 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Một lá thư để quên gần 60 năm! Thật đúng là bút tích
    Trả lờiXóa
  25. abc13:00 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tại sao Lịch sử Nhà Trường gọi cụ là chính quyền ‘bù nhìn’….?
    Trả lờiXóa
  26. Nặc danh16:32 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Chú thích 24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương.Tôi muốn biết có phải là thân phụ của bà Trần thị lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm không ạ?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh16:41 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Thưa đúng như vậy,bác ND.ạ !
      Xóa
    2. Nặc danh03:14 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Bây giờ mới biết bà Trần thị lệ Xuân,phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm. Sàigòn năm xưa lấy ngày 1 tháng 11 (1963) làm ngày cách mạng, điều này thât bất công cho ông Diệm, Nhu và bà Xuân. Bà xuân là con cụ Kim, thì tôi không nghĩ bà Xuân là người “xấu”, lịch sử nên xét lại thời gian này.Tiện đây là bài vè, ai đó đã đặt ra trước khi lật đỗ ông Diệm:”nghe vẽ nghe ve
      nghe vè Nhu Diệm
      chín năm chấp chánh
      xây dựng họ Ngô
      học sinh nhàu vô
      phá tan nhà báo
      sài gòn nói láu,
      bợ đít bà Nhu

      lấm chuyện có bà Lệ Thu
      Tưng bừng có nàng Lệ Thủy
      Chừng nào cây trúc lộn đầu
      thì anh em Nhu Diệm đi chầu Diêm Dương”

      Ai đã ác tâm đặt ra bài này ?

      Xóa

    3. Nặc danh07:38 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Sửa sai câu sau:lắm chuyện có nàng Lệ Xuân,
      tưng bừng có nàng lệ Thủy.Bài vè này được đặt ra để chuẩn bị lật ông Diệm. Trong câu “chừng nào cây trúc lộn đầu” , phe đảo chánh đã cố tình làm đồng tiền cắc VNCH thời bấy giờ in hình cây trúc ngược đầu với hình ông Diệm, như điềm báo trước.
      Xóa
    4. Nặc danh06:26 Ngày 05 tháng 09 năm 2013
      Bác ND.3:14 ơi ! Bác lầm rồi.Bà Lệ Xuân là con của
      cụ Trần Văn Chương (bộ trưởng chính phủ TTKim),chứ
      không phải con của cụ TTKim.
      Việc con của cụ Kim hay của ai đó là ‘người xấu’ hay
      không thì phải xét chính kẻ đó,chứ đừng xét lý lịch
      như CS.mà oan cho người ta,bác ạ !
      XóaTrả lời
  27. Nặc danh08:53 Ngày 20 tháng 08 năm 2014
    Dưới bức ảnh ghi ông Kim sinh 1883 – mất 1953 nhưng ở bài viết thì ghi 1887 – 1953. Vậy năm sinh nào là đúng ?
    Trả lờiXóa
  28. Nặc danh11:10 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Xin cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng tải tài liệu quý giá nầy. Ông Trần Trọng Kim mới đích thực là người yêu nước và là một nhà viết sử chân chính , đáng kính phục.
    Trả lờiXóa
  29. Nặc danh11:38 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Trước đây, Tễu đã bài này rồi. Nhưng hôm nay có rất nhiều còm tâm huyết. Điều này chứng tỏ truyền thông ở VN ngày càng “lợi hại”…
    Sói sống lâu, sói đã già và sói rất tham ăn nên trong mình đã mang nhiều chứng bệnh nan y. Chỉ cần một thời gian nữa là sói tự chết thôi
    Trả lờiXóa
  30. Nặc danh11:54 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Việt Minh: “Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm”(TTK).
    Nhãn quan chính trị của cụ quá sáng suốt khi nhận định về CS. Cả dân tộc VN mấy nghìn năm văn hiến, có bề dầy lịch sử hào hùng về dựng nước và giữ nước đã bị mắc lừa một nhóm người. Cho đến bây giờ họ cũng không hề thay đổi bản chất. Nông dân và công nhân là lực lượng hy sinh xương máu giành chính quyền và giữ chính quyền cho họ giờ đây lại là đối tượng bị bóc lột thậm tệ nhất. 3 triệu đảng viên CSVN đang mạo danh Quốc gia, Dân tộc để nắm quyền sinh, quyền sát 87 triệu dân . Họ coi quyền lợi của họ trên hết cả Quốc gia, Dân tộc. Chỉ tiếc rằng những người bị phản bội nhất hiện nay là Nông dân và Công nhân vẫn chưa nhận ra chân tướng của CS.
    Nhờ bác Tễu mà hiểu cụ Trần Trọng Kim hơn qua trang này.
    Trả lờiXóa
  31. Nặc danh14:09 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Ông Trần Trọng Kim quả là một đại học giả trí tuệ hơn người , vì cho đến gần đây bản chất của CS mới được nhiều người biết đến. Có nhiều cách để dựng nước thành công , nhưng cs đã chọn bạo lực và lừa dối làm chủ yếu để giành CQ thì cũng dễ hiểu : nó tập hợp chủ yếu những tay vô học , vô lương tâm làm thủ lĩnh . Cũng có một số lãnh đạo là trí thức nhưng đã bị làm cho nhu nhược hoặc là mê muội đến mức không dám phê phán bản chất của cs (VNG, HCM… chẳng hạn-Trần Đĩnh đã bực mình thốt lên như thế trong hồi ký Đèn cù của ông). Tuy nhiên , như ai cũng biết (và việc gì cũng thế), lừa dối và bạo lực chỉ mau chóng giành được CQ thôi , nhưng để giữ được , xây dựng được, phát triển được CQ bền vững mãi mãi thì nhất quyết không thể được. Sở dĩ cs giữ được CQ từ 1945 đến nay là bởi liên miên có chiến tranh , nên dân ta không đủ điều kiện để hiểu biết về cs. Vì thế giờ họ vẫn giữ nguyên cách cai trị dân bằng bạo lực và lừa đảo nên việc phát triển xây dựng CQ sẽ rất khó khăn . Tất cả những cái mà ta nhìn thấy đang biểu thị hàng ngày (cầu đường , nhà cửa , xe cộ, TV điện thoại, mấy tính…) chỉ là tiền vay của thế giới . Rồi đến hạn cũng phải è lưng ra trả , mà ai phải è lưng ? Chính nhân dân lao động , chứ không phải các quan chức cs .
    Trả lờiXóa
  32. Nặc danh14:31 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Nếu đọc ” Một cơn gió bụi” hồi ký của cụ Trần Trọng Kim sẽ biết được sự thực của năm 1945 thế nào, khác hẳn sách báo cộng sản, ông có tả: tại các hòm bỏ phiếu có du kích đứng canh, người đứng bỏ phiếu sợ chết khiêp. Theo Việt Minh thì không sao, không theo hôm sau mất tích, cộng sản giết người như ngóe. Chính phủ của cụ Trần Trọng Kim còn, thì đất nước sẽ theo một hướng khác, rất tiếc cụ là một người yêu nước, một trí thức lớn, có nhân cách, rất tiếc cụ không phải là một nhà chính trị, khi Nhật đề nghị với cụ là tiêu diệt cộng sản lúc đó chỉ có khoảng 5000 người, cần một đêm là dọn sạch cụ không đồng ý, nên con cháu bây giờ mới khổ. Qua bức thư này, lại thấy là cụ rất hiểu cộng sản, nhưng cụ không hợp tác với Nhật để diệt cộng sản, bởi cụ cho rằng người trong nước dù có như thế nào cũng hơn người nước khác; còn cộng sản lại coi nước ngoài là bạn vàng, và nhân dân nào không theo cộng sản là thế lực thù định.  Tiếc cho cụ, tiếc cho nhân dân

thegioinguoiviet.net

———————-

GS. Lê Xuân Khoa: HUẾ 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Chính phủ Trần Trọng Kim và Chính phủ lâm thời 1945. (Tô Hải chú thích ảnh).

Lời dẫn của Basam: Nhân bài viết của cụ Tô Hải “mơ về một kiểu chính phủ Trần Trọng Kim”, xin chia sẻ bài viết của GS Lê Xuân Khoa “Huế 1945 và Chính phủ Trần Trọng Kim”, để thấy rằng một chính phủ còn non trẻ, chỉ trong vài tháng có thể thực hiện được nhiều điều mà những người dân hiện nay vẫn còn đang mơ tới.

Trích: “Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.

Bài đăng trên Văn hóa Nghệ An: 
Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim* 
(Trích)

 Xuân Khoa (1)
…Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỉ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu.

Sau khi nước Pháp bị Đức chiếm đóng vào tháng 6 – 1940 và toàn quyền Decoux phải nhường cho Nhật quyền làm chủ về quân sự ở Đông Dương vào tháng 9, thì uy tín và quyền thế của Pháp bị sụp đổ mau chóng đối với các xứ thuộc địa ở Đông Dương. Các đảng phái chính trị Việt Nam bỗng thấy có động lực mới và thời cơ hoạt động để đòi lại độc lập cho đất nước. Trừ những lãnh tụ chính trị đã lưu vong ở Trung Hoa hoặc đang hợp tác với chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật – kể cả Hồ Chí Minh – hầu hết các lãnh tụ chính trị và trí thức ở trong nước đều muốn dựa vào thế lực của Nhật để loại trừ Pháp ra khỏi Đông Dương. Tổ chức có triển vọng nhất lúc bấy giờ là Việt Nam phục quốc đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để thành lập ở Nhật (thường gọi là nhóm Phục quốc) đã từng tổ chức lực lượng quân sự mang tên là Việt Nam kiến quốc quân đi theo quân đội Thiên hoàng về đánh Pháp ở trận Lạng Sơn ngày 23 – 9 – 1940. Một số lãnh tụ, trong đó có Ngô Đình Diệm, từ lâu đã liên lạc với nhóm Phục quốc để mưu đồ chống Pháp, có nhiều hi vọng sẽ được Nhật ủng hộ thành lập chính quyền trong trường hợp Pháp bị lật đổ.

Tuy nhiên, vì còn bận chiến đấu với quân đội đồng minh, mục đích trước mắt của Nhật là sử dụng Đông Dương vào mục tiêu quân sự nên Nhật đã bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về mặt hành chính. Năm 1944, Nhật bắt đầu nghĩ đến việc loại bỏ Pháp để phòng ngừa việc Pháp có thể làm hậu thuẫn cho liên quân Anh – Mỹ vì mặt trận đã được mở rộng sang vùng Đông Nam á. Mặt khác, giải phóng cho các nước Đông Dương khỏi bị lệ thuộc vào nước Pháp cũng sẽ giúp cho Nhật củng cố được ảnh hưởng và thế lực của “khối Đại Đông á” mà Nhật muốn lãnh đạo để chống lại khối Tây phương. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương (9 – 3 – 1945), Nhật duy trì hoàng đế Bảo Đại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Bảo Đại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Để về nước cầm quyền. Ông đã hỏi Đại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải ngai vàng”. Nhưng Đại sứ Nhật đã trả lời: “Những người gieo mầm không phải là người gặt hái kết quả”. Điều đó cho thấy lý do Nhật không ủng hộ Cường Để vì không tiện lập một chính phủ Việt Nam tuy chống Pháp nhưng thân Nhật, trong khi Bảo Đại không phải là người của Nhật và có thể được dân chúng tin tưởng nếu ông chống lại mưu toan của Pháp trở lại Việt Nam. Người chuẩn bị cho Cường Để trở về thay thế Bảo Đại và cho Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là Trung tá tình báo Hayashi Hidezumi. Vào giữa năm 1944, tin đồn về chuyện này được lan truyền trong giới chính trị khá lộ liễu đến nỗi, để tránh cho Ngô Đình Diệm khỏi bị mật thám Pháp lùng bắt, Nhật phải cải trang cho ông Diệm thành một sĩ quan Nhật và đưa ông từ Huế vào Sài Gòn ẩn náu trong một nhà thương quân đội Nhật. Đến tháng Giêng 1945, hai tháng trước ngày đảo chính, Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuichi quyết định không dùng lá bài Cường Để nữa.

Đến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Đại. Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng đồng minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập”. Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai,” Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chính được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy”(1).

Những lý do trên cho thấy tại sao Nhật không mời Phạm Quỳnh cũng như không mời Ngô Đình Diệm là những người có kinh nghiệm về chính quyền mà lại mời Trần Trọng Kim, một trí thức không đảng phái, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng không phải là một người làm cách mạng. (Xem thêm Chương 10 về lý do Ngô Đình Diệm không được mời, hay được mời nhưng không nhận). Đối với Trần Trọng Kim, đây là một chuyện rất bất ngờ mà chỉ sau khi gặp Bảo Đại lần thứ hai, sau mười ngày trì hoãn, ông mới nhận trách nhiệm thành lập chính phủ. Bảo Đại thúc giục ông:

“Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.(2)

Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là “bù nhìn” do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền “độc lập bánh vẽ”. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.

Trần Trọng Kim thành lập chính phủ trong tình trạng độc lập nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nếu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội đồng minh. Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở” nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất”.(3)

Luật sư Thảo cũng cho biết một chuyện đáng lưu ý khác là Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” để có thể tồn tại của Thái Lan. Nhân vật này là Pridi Banomyong, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Thái Lan, vốn là bạn cùng lớp rất thân của luật sư Dương Văn Giáo tại Đại học Luật Paris và khi làm Bộ trưởng đã mời luật sư Giáo làm cố vấn chính trị. Khi đó chính phủ Thái Lan do Thống chế Phibul Songram cầm đầu, bắt buộc phải thân Nhật lúc đó đang có 50.000 quân trú đóng ở Thái Lan. Pridi Banomyong khi đó phải sang Sài Gòn để hoạt động cho vai trò trung lập của Thái Lan. Trong thời gian này ông được Dương Văn Giáo giới thiệu với Trịnh Đình Thảo. Pridi cho hay trong khi Phibul Songram đi với Nhật thì một số chính trị gia Thái ở Anh và Mỹ hợp tác với đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi chiến tranh chấm dứt. Những chính khách lưu vong này thành lập một chính phủ trù bị để khi cần thiết, sẵn sàng thay thế chính phủ Phibul Songram và được đồng minh thừa nhận. Lời khuyên của Pridi Banomyong cho Trần Trọng Kim là “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật”.(4)

Ngoài hoàn cảnh khó khăn về chính trị, đất nước lại đang gặp phải tình trạng nguy ngập về kinh tế: nạn đói đang hoành hành, các thành phố và trục lộ giao thông đường bộ, đường biển từ Nam ra Bắc bị phi cơ và hạm đội đồng minh oanh tạc hay thả mìn. Bộ trưởng Xã hội của chính phủ Kim, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bị thiệt mạng trong một vụ oanh tạc như thế. Các cơ sở chính quyền còn ở trong tình trạng giao thời, quân đội chưa thành lập, và guồng máy hành chính do Pháp để lại chỉ là những thuộc cấp mà hầu hết là “những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp, chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ”.(5)

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này. Kết quả có thể được tóm tắt như sau:

Cứu đói: Bộ Tiếp tế do bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc từ Nam ra Bắc. Lúc này, Pháp đã mất khả năng ngăn cấm việc tiếp tế gạo và, nhờ sự can thiệp của chính phủ Kim, giới quân phiệt Nhật cũng không còn thi hành chính sách độc đoán về sản xuất nông phẩm. Tuy nhiên, công việc chuyên chở gạo vô cùng khó khăn vì những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ nhằm cắt đứt trục giao thông và chuyển vận của Nhật. Không quân Mỹ oanh tạc thường xuyên đường xe lửa và đường bộ trong khi hải quân phong toả đường biển bằng thuỷ lôi. Nhiều đoàn thuyền buồm còn bị nạn hải tặc chặn cướp khiến cho gạo tiếp tế bị thiếu hụt trầm trọng. Nếu không nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc thì số người chết vì nạn đói còn cao hơn nữa.

Chủ quyền: Để biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu “Việt Nam” chính thức thay thế cho quốc hiệu “An Nam” đang được sử dụng. Mặc dù hứa hẹn cho Việt Nam độc lập, Nhật vẫn giữ lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là nhượng địa dành cho Pháp, và toàn thể Nam Bộ là thuộc địa của Pháp. Ngày 3 – 7, chính phủ Kim thâu hồi được ba thành phố nhượng địa, nhưng cuộc điều đình về vấn đề Nam Bộ không có kết quả. Ngày 1 – 8, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về phủ toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 – 8 và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp 4.000 khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân bảo an.

Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo(6) đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.

Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” và ngày 8 – 5 thành lập Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn(7). Ngoài ra, miễn hay giảm 13 hạng thuế được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.

Chính trị: Với chủ trương “hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội,”(8) chính phủ Kim đã động viên được tinh thần yêu nước của toàn dân qua việc tổ chức lần đầu tiên sau thời Pháp thuộc những buổi lễ vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và phá hủy những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp. Sôi nổi nhất là phong trào Thanh niên Tiền tuyến do Bộ trưởng Phan Anh phát động và khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hoá, xã hội. Những đoàn thể thanh niên này cũng như Tổng hội Sinh viên là những nơi Việt Minh len lỏi vào và lôi cuốn được nhiều người yêu nước đi theo. Ngoài ra, chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để các thanh niên bị bắt về tội theo Việt Minh chống Nhật cũng được phóng thích.

Những kết quả trên đây cho thấy nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, song đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ “còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay,”(9) nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn. Trước đó, trong chuyến đi ra Hà Nội để điều đình với Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuitsu để lấy lại Nam Kỳ và các cơ sở chủ quyền còn lại, Trần Trọng Kim đã tìm hiểu kỹ lưỡng về Mặt trận Việt Minh đang gây thanh thế ở miền Bắc. Ông nhận định rằng “Đảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái có chung mục tiêu giành lại độc lập cho nước nhà, vậy nên từ Bắc chí Nam ở đâu cũng có người theo… Đảng viên cộng sản lại biết giữ kỉ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như hội truyền bá quốc ngữ khi mới lập thành ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỉ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh”(10). Chính vị Khâm sai miền Bắc Phan Kế Toại và một số Bộ trưởng trong chính phủ Kim cũng bắt đầu có thiện cảm với Việt Minh.

So sánh một lực lượng cách mạng đã hoạt động lâu năm có ảnh hưởng trong quần chúng và đang có thời cơ với một chính phủ trí thức yêu nước nhưng mới ra đời được bốn tháng, chưa có đủ quyền hành, chưa kịp có quân đội, Trần Trọng Kim đã quyết định đúng khi ông không nhờ quân đội Nhật can thiệp, một quân đội lúc đó đã mất hết tinh thần đang chờ bị tước khí giới và giam giữ. Ông đã thực hiện phương châm “khả hành khả chỉ” trong chính trị học Khổng giáo để biết “lúc nào nên làm, lúc nào nên thôi”. Bởi vậy, sau khi giành được chính quyền, Mặt trận Việt Minh đã không những không bắt bớ hay trả thù một người nào trong chính phủ Kim mà còn lôi cuốn được một số Bộ trưởng gia nhập mặt trận kháng chiến chống Pháp, mặc dù trước đó đã lên án chính phủ này là “bù nhìn” và “Việt gian”. Chính phủ Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chính Pháp để nắm lấy quyền cai trị nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Đó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh, cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó. Khoảng tháng 6 – 1945, khi Thủ tướng Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật dứt khoát trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn bộ đất Nam Kỳ cho Việt Nam, ông đã nói: “Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui”(11). Chỉ tiếc rằng vài tháng sau, lúc gần đạt được mục tiêu thì Chính phủ Kim phải ra đi.

Nhiều người trách chính phủ Trần Trọng Kim là nhu nhược, không dám đối phó với Việt Minh sau ngày 19 – 8 – 1945 mặc dù nhà cầm quyền Nhật đã báo cho Thủ tướng Kim biết là “quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay”(12). Thật ra, quyết định của Bảo Đại và Trần Trọng Kim không nhờ Nhật can thiệp là đúng vì ba lý do chính:

1. Quân đội Nhật đã đầu hàng. Không có một lý do hay động lực nào khiến họ thấy cần phải chiến đấu để bảo vệ một chính phủ địa phương đang thất thế. Trách nhiệm “giữ trật tự” của quân đội Nhật sẽ chỉ có hiệu lực lúc đầu và họ sẽ phải nhượng bộ hoặc xung đột với cao trào đòi độc lập của những đoàn thể thanh niên, sinh viên và dân chúng do Việt Minh tổ chức. Thời gian “giữ trật tự” để chờ quân đội đồng minh lại rất ngắn (khoảng hai tuần lễ) và chính phủ Trần Trọng Kim sẽ không thể chối bỏ được trách nhiệm về những cuộc đổ máu của dân Việt Nam do quân Nhật gây ra.

2. Việt Minh đã thành công lớn trong chiến dịch tuyên truyền là được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Những lời tuyên bố của Tổng thống Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân của Pháp, sự thành lập “bộ đội Việt – Mỹ” từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan OSS, và tấm hình tướng “Cọp Bay” Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ. Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Kim, còn được tin là “đại uý Landsdale, phụ tá của thiếu tá Archimedes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam á… thay vì tiếp tế cho những nhóm quân của Pháp còn đang chiến đấu (chống Nhật) trong rừng miền biên giới, lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho một tiểu đoàn đầu tiên, và phái Aaron Bank tới huấn luyện cho bộ đội của Hồ Chí Minh”.

3. Việt Minh đã chiếm được các cơ sở chính quyền, Hồ Chí Minh đã thành lập Chính phủ lâm thời, Khâm sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại đã từ chức, đoàn Thanh niên Tiền tuyến và lính bảo an nhiều người đã đi theo Việt Minh. Thư của Bảo Đại gửi cho Truman và De Gaulle kêu gọi ủng hộ chính nghĩa quốc gia đều không được trả lời. Trong tình trạng thất thế và cô đơn trước khí thế sôi sục của “cách mạng”, Bảo Đại cùng Hoàng gia có thể bị lâm vào số phận của Louis XVI sau Cách mạng Pháp 1789 hay Nicholas II hồi Cách mạng Nga 1917. Quyết định thoái vị của Bảo Đại là một quyết định sáng suốt, thức thời, tránh được đổ máu vô ích của nhân dân nếu ông nhờ Nhật dẹp Việt Minh.

Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6 – 3 năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.

Sai lầm chính trị, đúng ra là một nhược điểm, đáng nói đến là Trần Trọng Kim đã không thực hiện được sách lược “bắt cá hai tay” của Thái Lan mà Pridi Banomyong đã chia sẻ. Điều đó có nghĩa là trong khi chính phủ Kim giữ thái độ trung lập chính trị đối với Nhật thì đáng lẽ đã phải có những nhân vật chính trị khác đi với Anh, Mỹ để chống Nhật và để thay thế chính phủ Kim khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng khác với Thái Lan, Việt Nam còn phải đối phó với Pháp, khi đó cũng là một thành phần của Đồng minh, đang quyết tâm trở lại Đông Dương. Công việc vận động Đồng minh lại rất khó khăn vì Anh là một đế quốc tất nhiên ủng hộ Pháp chinh phục lại các thuộc địa cũ trong khi mối quan tâm chính của Hoa Kỳ lúc đó là ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô Âu châu. Dù sao, đó cũng chính là lầm lỗi của các đảng phái quốc gia nói chung, không có một tầm nhìn rộng rãi về chính trị thế giới sau Thế chiến thứ hai, không hợp tác được với nhau để có một sách lược chung…

(Vì không liên lạc được với Giáo sư Lê Xuân Khoa nên chúng tôi chưa được ý kiến của giáo sư về đoạn trích này. Xin chân thành cáo lỗi và cảm tạ giáo sư (T.G). 

(*) Trích Việt Nam 1945 -1995, NXB Tiên Rồng, Hoa Kỳ, 2004.
(1) Lê Xuân Khoa, quốc tịch Mỹ, gốc Việt, nguyên Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, tiến sĩ triết học.
(2) CAOM, HCI – 101. Marc Masayuki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề“Mémoires personnels écrits en réponse au questionnaire des autorités franỗaises de Hué sur les évènements survenus en Indochine en Mars 1945” (Hồi ký cá nhân viết ra để trả lời bản câu hỏi của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự việc xảy ra ởĐông Dương vào tháng 3 – 1945). Marc Yokohama có vợ Pháp tên là Jeanne A. Vicart và một con trai tên Jean-Marie Masayumi Yokohama sinh tại Paris năm 1926. Ngày 13 – 12 – 1946, vợ và con của Marc được chính phủ Pháp cho phép hồi hương vì có công giúp đỡ kiều dân Pháp ở Hà Nội sau vụđảo chính. Không thấy nói gì tới biện pháp đối với Marc Masayuki Yokohama.
(3) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi(Sài Gòn: Vĩnh Sơn, 1969), tr. 51.
(4) Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Tðmoigne (Công cuộc giải thực dân của Việt Nam – Một luật sư, hồi ký) (Paris: L’Harmattan, 1994), 62. Tác giả cuốn hồi ký bằng Pháp văn này là luật sư Trịnh Đình Thảo, viết sau năm 1975 và trước khi ông mất năm 1986 nhưng tới năm 1994 mới được xuất bản ở Pháp, do trưởng nam của ông là luật sư Trịnh Đình Khải đứng tên tác giả.
(5)Sách đã dẫn, tr. 62 – 63.
(6) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, tr. 56.
(7) Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền (sưu tầm), La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hà Nội: NXB Giáo dục, 1998), tập I, tr. 775 – 850. Với sựđóng góp bài vở của 59 người quen biết cố học giả họ Hoàng, các tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn về Khoa học và Giáo dục được in lại trong tập I này, các tác phẩm về Lịch sửđược in trong tập II và về Văn học trong tập III.
(8)Đạo luật đầu tiên cho phép tổ chức nghiệp đoàn là do chính phủ Trần Trọng Kim soạn thảo và ban hành ngày 5 – 7 – 1945. Tổng Liên đoàn Lao động của Việt Minh tới tháng 7 – 1946 mới được thành lập. (Alice W. Shureliff, “Trade Union Movement in Vietnam” trong Monthly Labor Review, U.S. Departmen of Labor, Washington, D.C., January 1951, tr. 31).
(9) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, trong “Lời tuyên cáo của nội các Trần Trọng Kim”, phần Phụ lục, tr. 193.
(10)Sách đã dẫn, tr. 93. 
(11)Sách đã dẫn, 73 – 74.
(12)Sách đã dẫn, tr. 78 – 79.
(13)Sách đã dẫn, tr. 93. 

Nguồn: Văn hóa Nghệ An.

Trích:

” Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” :  Đây là một sai lầm chính trị. Vì nhờ dịp này mà hàng trăm ác quỹ cộng sản được sổ lồng ra khỏi nhà tù Sơn La, Côn Đảo…sau đó, chúng cướp chinh quyền, tổ chức ám sát thủ lĩnh các đảng phái quốc gia, giết chết hàng ngàn trí thức tinh hoa của VN như: cụ Phạm Quỳnh, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Bùi Quang Chiêu…Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo phải bỏ chạy qua Tàu…

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »