Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra’ Category

►Cách mạng tháng 8 và công lao của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2017

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8-1945 – OSS huấn luyện Việt Minh

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2017

HCM cứu một phi công Mỹ 1944, và đích thân dẫn qua  Vân Nam để làm quen, nhưng bị tướng Mỹ không tiếp, vì nghi HCM là cộng sản. Sau khi Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945, Mỹ không còn biết tin tình báo của Nhật ở Đông Dương nữa. Bởi vậy, Trung uý Charles Fenn, sĩ quan O.S.S. lần đầu tiên gặp HCM và Phạm Văn Đồng tại Côn Minh (Kunming)  và Phạm Văn Đồng ở Côn Minh đề nghị hợp tác cung cấp tin tình báo, ông ta có tỏ ý quan ngại rằng VM là một nhóm CS, thì HCM trả lời rằng: Pháp chụp mũ tất cả những người yêu nước chống Pháp đều là CS… (HCM cố đánh lừa Mỹ bằng cách nói mình không phải là cộng sản!)… 

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 (tài liệu giải mật 1980)

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2017

Chính phủ Trần Trọng Kim đang điều hành đất nước có hiệu quả thì bỗng nhiên HCM nhảy ra cướp chính quyền của ông TTK, và tuyên bố VN độc lập lần thứ nhì! Rồi lập chính quyền 2-9-1945 đã dẫn tới hậu quả tai hại là chính ông HCM qua Pháp ký hiệp định sơ bộ mời Pháp trở lai VN để cùng ông HCM chia cắt đất nước VN làm 3 miền để cai trị! Nếu không có vụ 2-9-1945, thì quân Tàu không có cớ để qua VN, và quân Pháp cũng không thể có lý do gì đem 15.000 quân cập bến Hải Phòng 1946.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Hồi ký Con Rồng Việt Nam – (Ngày 27-2-1946,)

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Ký ức cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội:

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Mắc lừa bọn du côn (Tháng 8-1945)

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2017

gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Ðại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.” 

5-3-2015

 

Đọc tiếp »

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Uncategorized | Leave a Comment »

►Vài đánh giá nhầm trong Cách mạng Tháng Tám 1945 (Nguyễn Đình Cống)

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra | Leave a Comment »

►Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8 và ngày 2/9

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2016

___
Cảnh người trèo tường vào tòa nhà Bắc Bộ phủ. Ảnh Tư liệu

 

Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8 và ngày 2/9

Hoàng Bùi
Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân”, và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 được ghi nhận:

– Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
– Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
– Đập tan ách phát-xít Nhật
– Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.Để hiểu rõ cái sự giành này, hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày tháng tám. Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại. Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước.Như vậy vào thời điểm này, chế độ phong kiến quân chủ đã bị xóa bỏ trên đất nước Việt Nam, và sự đô hộ của Pháp cũng không còn, vì thế việc xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ không có công của Việt Minh, đồng thời, việc lật đổ sự đô hộ của Pháp cũng không có công của Việt Minh. Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: “cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền”. Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động chiếm lấy một cách bạo lực thứ vốn không phải của mình.

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Việc từ chối giúp đỡ từ lực lượng ngoại quốc bảo vệ quyền lực của mình, tránh gây đổ máu cho người Việt cho thấy vua Bảo Đại đã rất coi trọng tinh thần dân tộc, đồng bào, truyền thống “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Vì vậy, không thể nói Việt Minh đập tan ách phát xít Nhật, mà phải nói rằng vua Bảo Đại và chính phủ của ông đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình. Quả là “gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau khi cướp chính quyền, để củng cố tính chính danh của mình, Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao, và sau đó thì lựa thời cơ tống vua ra nước ngoài. (Đúng là bọn đểu cáng lừa đảo)

Trong hồi ký của vua Bảo Đại, ông cũng kể về những điểm này.

Vậy sau khi giành được chính quyền, và chính quyền đó có về tay nhân dân không? Có lẽ câu trả lời đã rõ sau 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam vẫn chẳng có một chút quyền gì, nhân dân Việt Nam không được bầu cử một cách thực sự, không được sở hữu đất đai, không được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó không có, những điều khác chỉ là hão huyền.

Và vì vậy, cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân đó, 70 năm qua vẫn chưa xong.

————
.

Một số link tham khảo để kiếm chứng sự kiện được viết bên trên, được lấy từ báo lề phải và từ chính người trong cuộc nói, kẻo lại bảo xuyên tạc và bôi nhọ.

Lời người trong cuộc kể về diễn biến ngày 17 và 19 tháng 8.
http://vnexpress.net/…/ky-uc-cuoc-tong-khoi-nghia-o-ha-noi-…
 
Tổng quan về CMT8.
https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Cách_mạng_tháng_Tám
 
Vua Bảo Đại:https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Bảo_Đại

_______________

16 nhận xét :

  • Rất mong các nhà lý luận CS được trả lương ( thuế của dân ) hãy lịch sự, nhã nhặn, tương kính… trả lời bài viét này. Nếu không phản biện được một cách ” văn minh ” thì xin cúí mặt và trả lại thẻ đảng.

    Trả lời

  • 70 năm vẫn chưa xong, thêm 100 năm nữa cũng chưa xong.

    Trả lời

  • Với những người có tri thức, có trí tuệ, không thể hiểu khác đi được. Có muốn hiểu lệch đi, khác đi cũng không thể được. Lịch sử là lịch sử, sự thật vẫn là sự thật. Không thể tô đen thành trắng, tô trắng thành đen được. Không thể ăn cướp lại bắt phải hiểu đấy là chính danh được. Vậy mà … quá nhiều người tin (là nói thời bây giờ, giữa TK 21, chứ không kể cái thời mông muội vô minh). 😥

    Trả lời

  • Bài viết với những sử liệu chính xác và rõ như ban ngày. Với thời đại internet, nếu còn tin vào những gì mà đảng gọi là “cách mạng tháng 8” thì rõ ràng chỉ là loài nhai lại!

    Trả lời

  • Những điều “Bác” nói ngày 02/09/1945:

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Thì ra “Bác” còn là nhà tiên tri vĩ đại.

    Trả lời

  • Bây giờ cứ trích nguyên văn những lời tố cáo của ông Hồ đối với bọn cướp nước và bán nước, thấy trúng 100% về bọn cướp chính quyền đang tồn tại hiện nay.

    Trả lời

  • Nếu dân ta mà biết được việc CS “đuổi Phap đi” để “rước Tàu về” thì ai ủng hộ?

    Trả lời

  • Cứ theo suy ngẫm thì CMT8 và Chiến dịch HCM là hư ảo.
    Năm 1975, bộ đội miền Bắc thoải mái tràn xuống vì quân VNCH chỉ chạy, không chống trả. Duy nhất ở Xuân Lộc có đụng độ thì bộ đội miền Bắc thua, phải đi vòng qua.

    Trả lời

  • Thực ra dùng cụm từ “cướp chính quyền” mới lột tả được đúng bản chất của sự việc và mới có vẻ công nông chứ không có vẻ tiểu tư sản hơn là “giành chính quyền”.

    Trả lời

  • “Giành/cướp chính quyền về tay nhân dân” là một cái bánh vẽ không thể to hơn.
    Đúng bản chất phải là “giành quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối về tay Việt Minh”
    Với bản chất của một toán cướp,lại thêm nắm đủ loại súng đạn trong tay,mấy “ông chủ” nhân dân chỉ còn biết è cổ ra đóng mấy trăm loại thuế,phí để bọn cướp cùng đám con cháu tha hồ phè phỡn,ăn chơi.

    Trả lời

  • Năm 1945 Vua Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim không thể ngờ được rằng hai vị đã phạm phải một sai lầm rất lớn xuất phát từ lòng nhân đạo của mình. Nếu hai vị nhờ quân Nhật ra tay thì nước ta đã tránh được 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, bây giờ VN đã là nước phát triển huy hoàng bậc nhất châu Á.

    Trả lời

  • Âu cũng là số kiếp của dân tộc, vận nước đến hồi bỉ!

  • Hồi ký Con Rồng Việt Nam:
    “Ngày 27-2-46, mới 7 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. ông H (HCM) gọi tôi:
    – Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ không?
    Nghe tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
    – Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ. Tình hình rất khó khăn, tôi biết chắc người Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
    – Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ cộng hòa…
    Ông ta nài nỉ:
    – Ngài thay chỗ cho tôi và tôi trở lại thành cố vấn thay Ngài …
    – Thế nhưng ai trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được quốc hội tấn phong, y như kiểu mọi chính phủ dân chủ thường làm.
    – Nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn lấy ai tùy Ngài.
    Ông ta trấn an tôi như vậy.”
    Cựu hoàng hỏi ý hai nhân vật là Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim. Cho rằng VM bị khó khăn và họ thành thực, Trần Trọng Kim khuyên cựu hoàng nên nhận lời. Bảo Đại bèn trả lời “đồng ý”.
    10 giờ, ông H gọi điện thoại thúc đưa danh sách chính phủ gấp để chuyển qua Quốc Hội.
    12 giờ, Bảo Đại trả lời đã sẵn sàng. Nhưng “đến 13 giờ thì chuông điện thoại reo. Ông H mời tôi đến gặp ông ta.
    – Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài trong lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng…” (12)

    Trả lời

  • Cướp chính quyền từ tay nhân dân mới chính xác.

    Trả lời

  • 1)Đuổi Pháp ra khỏi Việt nam là công của Nhật: Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông dương. Pháp phải rút về nước.
    2)Đuổi Nhật ra khỏi Việt nam là công của Mỹ: Ngày 6/8/1945 và 9/8/1045 Mỹ thả 2 quả bom ở 2 đảo Hyroshima và Janasaki. Nhật đầu hàng đồng minh và rút về nước.
    3)Xóa bỏ chế độ Phong kiến là công của Ngô đình Diệm: Ngày 26/10/1955 qua Trưng cầu dân ý. nhân dân miền nam truất phế Bảo Đại xóa bỏ chế độ phong kiến thành lập chế độ Cộng hòa và bầu Ngô đình Diệm làm Tổng thống Việt nam cộng hòa, một nước tự do dân chủ như các nước phương Tây.
    Sao Nhật, Mỹ, Diệm. không kể công mà cộng sản kể công mãi vậy.

    _____________

Lợi dụng cuộc Mít-tinh ngày 17-8-1945 của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim, một nhóm người mang theo  đỏ, cờ búa liềm với thái độ hùng hổ nhảy lên khán đài giành lấy quyền tổ chức,…Thế là cuộc mít-ting của những công chức hiền lành bổng chốc trở thành cuộc biểu dương của Mặt Trận Việt Minh:  “Quả lừa lịch sử bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.”

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim 

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8) Chú ý lá cờ vàng, 3 sọc đỏ (gọi là cờ quẻ ly vì có sọc ở giữa không liền nét)

Co Que Ly

(http://thien2012.multiply.com/journal/item/11?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem)

Sách sử và báo chí của đảng gọi biến cố đó là “cướp chính quyền” của chính phủ Trần Trọng Kim, còn các văn-nô, thơ-nô gọi đó là Cách mạng mùa Thu!

Nhóm từ “cướp chính quyền” nói về biến cố này là rất chính xác. Xưa nay, để lật đổ một chính quyền tàn ác, độc tài, bất lương thì người dân đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ấy, chứ chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời tháng 4-1945 mà từ người đứng đầu cho đến các bộ trưởng là các nhân vật uy tín, tài trí, và là các trí thức cở lớn của VN lúc bấy giờ, thì việc lật đổ chỉ có gọi bằng từ cướp chính quyền.

Tuy tồn tại với thời gian rất ngắn, nhưng nhiều người VN cho rằng chính phủ Trần Trong Kim cũng đã có đủ thời gian để làm nhiều việc hành chánh rất quan trọng mà kết quả là miền Nam Việt Nam được thừa hưởng những thành quả này từ 1945-1975.   (4trang 12)

Họ là chính phủ lương thiện nhất và không từng làm một hành động nào tàn ác, hay tham nhũng; thậm chí chính họ đã thành công trong việc yêu cầu Pháp và Nhật phóng thích tất cả các tù nhân chính trị ngoài côn đảo và các nhà tù trong đất liền; nhờ chính phủ Trần Trọng Kim, mà Lê Duẫn, Phạm Hùng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh được trả tự do rời khỏi Côn Đảo; Đỗ Mười được rời khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Và về sau nhóm này đã trở thành các con quỷ dữ, đã gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975, chiến tranh Kampuchea làm chết hơn 5 triệu người VN.

Do đó hành động cướp chính quyền của ông HCM và các đảng viên CS Đông Dương không thể gọi là cách mạng, nên chữ chính xác nhất là “cướp chính quyền”.

►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

►Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim ( tác giả Phạm Cao Dương)

►Gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ Mắc Lừa Bọn Du Côn”

__

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | 2 Comments »

►Gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ Mắc Lừa Bọn Du Côn”

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2016

Mắc lừa bọn du côn

Tác giả:

Chính phủ Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim 17-4-1945

 

 

 

 

 

 

Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945.  Trong lúc tình hình Hà Nội và Bắc Bộ xáo trộn, chính phủ Trần Trọng Kim cử bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn ra Bắc, thay mặt chính phủ giải quyết tại chỗ những vấn đề khẩn cấp.  Sau khi gặp các yếu nhân Hà Nội, Hoàng Xuân Hãn gởi điện về Huế, đề nghị lập một cơ cấu chính trị mới gọi là Uỷ ban Giám đốc Chính trị miền Bắc (Comité directeur de la politique du Nord).

Ngày 16-8-1945, chính phủ Trần Trọng Kim đề cử thành phần Ủy ban nầy như sau:  Nguyễn Xuân Chữ (chủ tịch) và bốn uỷ viên là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tường Long.  Tuy nhiên, ngoài bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, bốn uỷ viên kia đều vắng mặt.  (Nguyễn Xuân Chữ,Hồi ký, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tr. 280.)

Lý do là vì VM đã tung cán bộ đe dọa từng người.  Phan Kế Toại không xuất hiện (có thể đã theo VM, con là Phan Kế Bảo, một cán bộ VM), Trần Văn Lai bận việc ở tòa đô trưởng, Đặng Thai Mai hoàn toàn không ra mặt, Nguyễn Tường Long bị bệnh chưa làm việc được.

Ngày 17-8-1945, Tổng Hội Công Chức do chính quyền Trần Trọng Kim thành lập, tổ chức cuộc mít-tinh tại Nhà hát lớn, Hà Nội, nhằm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong khi các diễn giả của Tổng Hội Công Chức đang nói chuyện ở Nhà hát lớn, thì một người nào đó (chắc chắn là cán bộ VM) ở trên lầu Nhà hát lớn quăng xuống một lá cờ đỏ sao vàng của VM.  Thế là cán bộ VM chụp lấy thời cơ, biến cuộc mít-tinh của Tổng Hội Công Chức thành cuộc biểu tình tuần hành, quay qua ủng hộ mặt trận VM. (Theo lời kể của một số người ngày nay lớn tuổi, đã từng tham dự cuộc mít-tinh ngày 17-8-1945 tại Hà Nội.)

Ngày 19-8-1945, VM tiếp tục tổ chức biểu tình, chiếm Bắc bộ phủ (phủ toàn quyền Pháp cũ), cướp chính quyền Hà Nội.  Việt Minh làm chủ được Hà Nội từ ngày 20-8-1945, nhưng những cuộc bạo động vẫn tiếp diễn.  Bạo động bắt nguồn từ cả hai phía: Bạo động của VM tiêu diệt những phần tử đối kháng; bạo động của những đảng phái đối lập chống lại VM.  Tại Hà Giang, Vĩnh Yên và Hà Đông, VM gặp sự kháng cự mạnh mẽ của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài Gòn: 1970, tr. 258.)

Ngày 21-8-1945, VM vận động các đoàn thể họp mít-tinh tại Hà Nội, lập ra một kiến nghị gồm ba điểm: 1) Yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và giao quyền cho một chính phủ lâm thời do Mặt trận VM thành lập. 2) Yêu cầu Mặt trận VM thảo luận với các đảng phái khác để thành lập chính phủ lâm thời. 3) Yêu cầu tất cả các đảng phái, các tầng lớp dân chúng ủng hộ chính phủ lâm thời để củng cố nền độc lập quốc gia.  Bản kiến nghị nầy  được chuyển bằng điện tín về Huế. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 137.)

Về phía Nhật, tại bộ tham mưu quân đoàn 38 của Nhật đóng ở Hà Nội, người Nhật chủ trương rằng quân đội Nhật bại trận, nhưng sẽ không nhượng chỗ cho quân Đồng minh thắng trận, mà chỉ nhượng cho những ai có khả năng tiếp tục nhiệm vụ lịch sử của Nhật Bản, là giải phóng châu Á ra khỏi tay thực dân da trắng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 136.)  Vì vậy, khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Nhật tại Đông Dương hạ võ khí, rút lui vào các căn cứ quân sự, chờ ngày bị giải giới, để cho người Việt tự do hoạt động trước khi quân Đồng minh có mặt.

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có lực lượng võ trang để giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chế độ.  Lúc đó, các cơ quan hành chánh theo truyền thống cũ từ thời Pháp thuộc, chỉ có một số lính lệ hoặc bảo an binh giữ trật tự các cơ quan, không được trang bị đầy đủ, chỉ có tính cách hình thức hoặc lễ nghi.

Thời gian nầy là cơ hội thuận tiện cho lực lượng VM tung hoành, không bị ai chận đứng.  Đây là một trong những lý do giải thích vì sao chỉ với một lực lượng nhỏ khoảng dưới 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers,sđd. tr. 182) mà VM cướp được chính quyền.

VUA BẢO ĐẠI TRÁNH NỘI CHIẾN

Sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945, Phạm Quỳnh cùng Trần Văn Chương, (nội các phó tổng trưởng), và Nguyễn Duy Quang, nội các đại thần, đã họp riêng với vua Bảo Đại chiều ngày 15-8-1945.  Nội dung cuộc họp không được tiết lộ, nhưng cuộc họp đã bị Phạm Khắc Hòe, lúc đó thế Phạm Quỳnh làm tổng lý ngự tiền văn phòng của vua Bảo Đại, biết và bí mật báo cáo với mật trận VM cộng sản. (Phạm Khắc Hòe, Những ngày cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994,  tt. 55-57.)

Về phía người Nhật, được tin VM nổi lên ở ngoài Bắc, viên đại sứ Nhật ở Huế là Massayuki Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại, đề nghị vua Bảo Đại dùng lực lượng của Nhật tiêu diệt VM, vì tuy thất trận trên thế giới, quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn, đủ sức can thiệp va đàn áp VM chỉ là một lực lượng nhỏ bé, thiếu trang bị so với quân đội Nhật.

Lo sợ nội chiến xảy ra trước sự lợi dụng của ngoại bang, vua Bảo Đại từ chối đề nghị của Yokoyama.  (Theo lời kể của ông Phan Văn Vỹ, nhị đẳng thị vệ thời vua Bảo Đại, người trực gác buổi tối khi Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại.  Ông cho biết chính ông đã đánh thức và báo tin cho nhà vua, để nhà vua ra tiếp khách.)

Một thông tin khác cho biết thêm rằng viên đại sứ Nhật ở Huế xác định với vua Bảo Đại rằng chỉ cần 2 giờ đồng hồ là quân đội Nhật sẽ dẹp tan cuộc nổi loạn ở Huế. (Daniel Grandclément, Bao Dai ou les derniers jours de l’empire d’Annam,Paris: Éditions Jean-Claude Lattès, 1997, tr. 157.)

Không phải chỉ nói với vua Bảo Đại, người Nhật còn đề nghị với thủ tướng Trần Trọng Kim.  Sau đây là lời thuật của Trần Trọng Kim:  “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay.  Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”.  Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận.”  (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 93.)

Ngày 18-8-1945, Trần Trọng Kim dự tính tập họp các lực lượng quốc gia, lập ra “Uỷ ban cứu quốc”, đưa ra bản tuyên ngôn kêu gọi các đảng phái chính trị cùng nhau cổ võ nền thống nhất và độc lập dân tộc. (Bảo Đại,Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 177.)  Công việc chưa tiến hành thì tình hình tiếp tục thay đổi nhanh chóng.

VẬN ĐỘNG NGOẠI GIAO QUỐC TẾ

Về đối ngoại, vua Bảo Đại hoàn toàn không biết Pháp đã chuẩn bị tái chiếm Đông Dương ngay từ  Hội nghị Brazzaville ở Congo, được xem là thủ phủ của Pháp tại Phi Châu, từ 30-1 đến 8-2-1944.  Thiếu thông tin liên lạc, nhà vua cũng không biết được quyết định trong tối hậu thư Potsdam gởi cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. (Anh, Hoa Kỳ họp hội nghị Potsdam, ngoại ô Berlin soạn tối hậu thư, Trung Hoa gởi điện văn đồng ý.)  Theo tối hậu thư nầy, sau khi Nhật đầu hàng, ở Đông Dương, Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) sẽ giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh sẽ giải giới quân Nhật ở nam vĩ tuyến 16.

Vua Bảo Đại gởi công hàm ngày 18-8-1945 kêu gọi sự ủng hộ của các cường quốc trên thế giới là Hoa Kỳ, Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng lãnh đạo), Anh Quốc, nhất là kêu gọi Pháp trao trả độc lập lại cho Việt Nam, đừng tái lập nền cai trị Pháp dưới bất cứ một hình thức nào.

Các bản công hàm nầy bằng tiếng Pháp được các đài phát thanh Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và Tokyo công bố rộng rãi.  De Gaulle im lặng vì De Gaulle muốn tái chiếm Đông Dương.  Chủ trương thực dân của De Gaulle thể hiện rõ trong tuyên bố Brazzaville (Phi Châu) ngày 8-2-1944, cũng như trong tuyên bố ngày 24-3-1945, quyết định tái lập Liên bang Đông Dương.

Các nước Đồng minh cũng hoàn toàn im lặng. (Bảo Đại, sđd, tt. 177-179; và David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 361.)  Lý do sự im lặng của các nước Tây phương bắt nguồn từ sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương sau khi tổng thống Hoa Kỳ là Franklin Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 (trong nhiệm kỳ).  Phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương.

Truman chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương, để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu.  Lúc đó Hoa Kỳ muốn đoàn kết các nước Tây Âu chống lại sự bành trướng của Liên Xô.  (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31; và Spencer C. Tucker chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume three, Santa Barbara, California: 1998, tr. 888.)

Tại Việt Nam, tiếp tay với vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương gởi qua Âu Châu một thông điệp, nhờ bạn bè của bà giúp đỡ, lên tiếng kêu gọi các nước trong khối Tự do can thiệp, để kiến tạo hòa bình cho Việt Nam, nhưng vô vọng vì chẳng ai đáp ứng lời kêu gọi của bà.

Trong lúc vua Bảo Đại nao núng vì Pháp không chịu tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, và các nước Đồng minh không đáp ứng nguyện vọng độc lập của người Việt do nhà vua đưa ra, thì ngày 21-8-1945, mặt trận VM gởi điện vào Huế yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

GIÃ TỪ NGAI VÀNG

Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội, chấp nhận rút lui, và xin từ chức ngày 20-8-1945.  Vua Bảo Đại yêu cầu chính phủ Trần Trọng kim ở lại xử lý thường vụ và ủy cho Trần Trọng Kim lập chính phủ khác.

Khi được điện tín ngày 21-8-1945 từ Hà Nội của mặt trận VM, thủ tướng Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại:  “Xin Ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào.  Việc đã nguy cấp lắm rồi, Ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả.  Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả.  Mình thế lực không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 92-93.)

Louis XVI là vua nước Pháp, trị vì 1774-1792.  Tuy cách mạng Pháp xảy ra năm 1789, nhưng đến năm 1792 Louis XVI mới chính thức bị lật đổ và bị lên máy chém năm 1793.  Nicholas II, hoàng đế cuối cùng của nước Nga, trị vì 1894-1917, bị truất phế sau cách mạng cộng sản năm 1917.  Ông ta và toàn gia đình bị cộng sản Nga bắn chết năm 1918.

Ngoài lời khuyên trên đây, vua Bảo Đại nhận thấy chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu tan rã.  “Sáng ngày hôm sau 23, chung quanh tôi hoàn toàn trống rỗng.  Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một Bộ trưởng nào vào điện.  Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại sân chầu vắng lạnh.  Trong dịp quốc lễ gần đây, chưa tới hai tháng, sân chầu đã đầy ních các quan và kẻ thân hoàng cung.  Bữa nay, chỉ còn riêng hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, còn trung thành đứng cạnh tôi mà thôi.” (Bảo Đại, sđd. tr. 184.)  Nói một cách khác, nhà vua cảm thấy cô đơn, cô thế và hoàn toàn bị bỏ rơi.

Chẳng những cận thần tránh mặt, nhà vua cũng không được các cường quốc đáp ứng lời kêu gọi của mình.  “…Trong khi lời kêu gọi của tôi gởi cho tổng thống Truman, cho thống chế Tưởng Giới Thạch, cho quốc vương Anh, cho tướng De Gaulle lại im lìm không có hồi âm...” (Bảo Đại,sđd. tr. 184.)

Trong lúc cô thế, vua Bảo Đại lại không biết lai lịch Hồ Chí Minh, và VM.  Cũng như nhiều người Việt lúc đó, nhà vua tưởng rằng Hồ Chí Minh và VM là những người yêu nước, được quần chúng ủng hộ, và được cả các nước Đồng minh giúp đỡ (theo lời tuyên truyền của VM), nên nhà vua sẵn sàng giao quyền cho Hồ Chí Minh và VM.  Ngoài ra, một điểm quan trọng là vua Bảo Đại là người bản tính hiền lành, không tham quyền cố vị, không thiết tha quyền lực, không có cá tính mạnh, đến độ nhà vua bị xem là yếu đuối.

Suốt trong thời gian cầm quyền, Bảo Đại hoàn toàn không ra lệnh giết hay khủng bố, tù đày một người nào.  Có thể nói không một người nào tiếp xúc với Bảo Đại, kể cả những địch thủ của ông ta, mà trách cứ về tính tình Bảo Đại.

Vì tất cả các lý do trên, cuối cùng vua Bảo Đại quyết định thoái vị theo lời yêu cầu của bức điện từ Hà Nội ngày 21-8-1945.  Ngày 25-8-1945, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị và thông báo cho đại diện VM ở Huế biết.  Chiếu thoái vị được niêm yết ở Phu Văn Lâu, ở phía ngoài hoàng thành Huế, nơi công bố các chiếu dụ, mệnh lệnh của nhà vua, kết quả thi Hội và thi Đình.

Sau đó lễ thoái vị diễn ra ngày 30-8-1945 tại Ngọ môn, Huế.  Nhà vua trao bảo kiếm và quốc ấn, tượng trưng uy quyền của triều đình nhà Nguyễn, cho phái đoàn đại diện VM từ Hà Nội vào là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận.

KẾT LUẬN

Triều đại vua Bảo Đại kéo dài trong 20 năm (1926-1945), nhưng từ 1926 đến 1932 là thời kỳ ông còn du học.  Vua Bảo Đại chỉ thực sự cầm quyền từ 1932 cho đến 1945.  Lúc vua Bảo Đại thoái vị, còn gần hai tháng nữa ông đầy 32 tuổi.  Từ nay cựu hoàng dùng tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.

Như thế là chấm dứt triều đại Bảo Đại (trị vì 1926-1945), chấm dứt nhà Nguyễn (1802-1945), và chấm dứt luôn nền quân chủ ở Việt Nam.  Lúc đó, đảng CSĐD và mặt trận VM tuy chỉ có khoảng dưới 5,000 đảng viên, nhưng là đoàn thể chính trị có tổ chức, nhất là tổ chức hạ tầng cơ sở khắp nước, nên nhanh tay cướp được chính quyền ở Hà Nội cũng như ở các địa phương.  Các đảng phái khác ở trong nước cũng như  ở Trung Hoa, thiếu chuẩn bị, đành thất thế. (Năm 1960, trong một chuyến dã ngoại, HCM rĩ tai nói nhỏ với phóng viên báo Nhân Dân rằng khi Việt Minh cướp chính quyền 1945, đảng CsĐD có không tới 500 đảng viên trên toàn quốc.)

Với tấm lòng yêu nước, đoàn kết và hiếu hoà, vua Bảo Đại chấp nhận thoái vị, tuyên bố trao quyền cho VM, tạo ra một thời cơ lịch sử rất thuận lợi cho Hồ Chí Minh và mặt trận VM, giúp cho ông ta và chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa thế kế tục chính thống hợp pháp, chẳng những trước quốc dân Việt Nam, mà cả trên chính trường quốc tế.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, Hồ Chí Minh và VM để lộ bản chất CS, đi ngược lại với ý nguyện của dân tộc, nên sau khi thoát khỏi sự kiểm soát của VM, gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 146.) (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)

TRẦN GIA PHỤNG 

(Toronto, Canada, 4-3-2015)

© Đàn Chim Việt 

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim ( tác giả Phạm Cao Dương)

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2016

Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim được Hoàng Đế Bảo Đại thành lập sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, ngày Nhật đảo chính Pháp và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, rất ngắn, từ ngày 17 tháng 4 năm 1945 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945 kể cả thời gian xử lý thường vụ. Tổng cộng hơn bốn tháng.

Chính phủ này thường bị những người Cộng Sản và luôn cả các tác giả các sách giáo khoa hay những nhà nghiên cứu chuyên môn ở miền Bắc thời trước và sau năm 1975 trực tiếp hay gián tiếp gọi là bù nhìn, là Việt gian, là tay sai của Nhật (4). Nhiều học giả ngoại quốc cũng gọi theo như vậy hay cố tình không nói tới. Các tác giả của miền Nam và ở hải ngoại, trái lại, đã tỏ ra thận trọng và có cảm tình hơn. Vũ Ngự Chiêu, một tiến sĩ sử học được huấn luyện ở Hoa Kỳ, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về lịch sử Việt Nam hiện đại, qua tác phẩm song ngữ Anh Việt: The Other Side of the 1945 Revolution: The Empire of Viet-Nam (3-8/1945), A new Interpretation – Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945: Đế Quốc Việt-Nam (3-8/1945), (5) và Lê Xuân Khoa, một cựu giáo sư triết học thuộc Viện Đại Học Saigon và một chuyên gia về người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ sau này, qua Việt Nam, 1945-1995: Chiến Tranh, Tị Nạn, Bài Học Lịch Sử, Tập I (6), là hai trường hợp điển hình cần được ghi nhận.

Sáu mươi năm đã trôi qua, đã đến lúc người ta phải nhận định lại bản chất và vai trò của chính phủ này và người đứng đầu nó cho chân thật và rõ ràng hơn, đồng thời những thành quả, dầu cho là giới hạn của nó. Đây là một nhận thức căn bản trước khi người ta nói tới Cách Mạng Tháng Tám hay Việt Minh Cướp Chính Quyền của năm 1945.

Tai nạn lịch sử hay cái thế “chẳng đặng đừng”

“Tai nạn lịch sử“ là chữ của Vũ Ngự Chiêu (7). Vũ Ngự Chiêu dùng chữ này để gọi chính phủ Trần Trọng Kim vì theo ông nó “được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật”. Nhận định này không chỉ đúng với hoàn cảnh đương thời mà đúng luôn cả cho hoàn cảnh, tâm tư của chính Trần Trọng Kim và luôn cả vị hoàng đế đương thời là vua Bảo Đại. Cả hai đều bị đặt vào thế “chẳng đặng đừng”, nói theo lối của người Miền Nam.

Cả hai đều không trông đợi, nói theo ngôn ngữ bình thường. Riêng Trần Trọng Kim, với bản chất là một nhà giáo, một tác giả của bộ sách Giáo Khoa Thư cho đến hiện tại người ta vẫn còn in lại và vẫn còn ưa đọc và viết nhiều về nó, với bản chất là một nhà nghiên cứu về lịch sử, triết học, một dịch giả của thơ Đường, đặc biệt là Việt Nam Sử Lược, một tác phẩm vừa là giáo khoa, vừa là nghiên cứu phổ thông cho đến những ngày hiện tại vẫn còn được nhiều người tin cậy và cẩn trọng giữ gìn, đã tỏ ra chẳng bao giờ mong đợi, với tuổi ngoài sáu mươi của thời đó, ít nhất đã hai lần từ chối để nhường chỗ cho Ngô Đình Diệm và một lần từ chức nhưng luôn luôn ở vào thế “chẵng đặng đừng” phải chấp nhận đứng ra lập chính phủ hay ở lại để xử lý thường vụ trong tất cả mọi giới hạn của nó. Bảo Đại cũng vậy.

Sau này trong hồi ký của ông, vị thủ tướng bất đắc dĩ này đã kể lại rằng sau gần mười ngày chờ đợi và cứ cách ba bốn hôm ông lại đến gặp cố vấn tối cao Nhật để hỏi tin tức vê ông Diệm để được trả lời là “chưa biết ông Diệm ở đâu” sau là “ông Diệm đau chưa về được”, rồi vì Bảo Đại “sốt ruột, triệu tôi vào bảo chịu khó lập chính phủ mới”. Tâm sự của hai người đã được giãi bầy qua lời kể lại sau đây:

“Ngài nói:- Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.
Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:- Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (8)

Và Trần Trọng Kim đã thành lập được một chính phủ với danh sách các bộ trưởng được đệ trình lên nhà vua vào sáng ngày 17 tháng 4 năm 1945.

Học thức, tư tưởng và đức hạnh

Là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu không đảng phái, không bè đảng, không có sẵn người, Trần Trọng Kim đã dựa theo tiêu chuẩn nào để lựa chọn người cho nội các của mình?

Cũng trong hồi ký của ông, nhà chính trị gia bất đắc dĩ này đã cho biết là phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.

Nhận xét về danh sách này, Bảo Đại phê là “Được”, còn Tối Cao Cố Vấn Nhật Yokohama thì chúc mừng là “cụ đã chọn được người rất đứng đắn.” (6)

Cũng cần phải để ý là trong những ngày đầu này, người đã cộng tác chặt chẽ với Trần Trọng Kim là Hoàng Xuân Hãn, thạc sĩ toán học (9) và cũng là một nhà giáo được sự kính mến của hầu hết các nhà trí thức trẻ đương thời. Điều này tất nhiên là dễ hiểu.

Hai nhà giáo bất đắc dĩ phải làm chính trị, vốn quen nhau từ trước, cộng tác chặt chẽ với nhau là một chuyện tự nhiên. Nó cũng là một dữ kiện cần thiết giúp ta giải thích tại sao chính phủ Trần Trong Kim lại chú trọng nhiều đến các công tác văn hóa và giáo dục, nhất là giáo dục mà thành quả đã tồn tại đến tận ngày nay và có thể rất lâu sau này.

Chính phủ đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập này gồm có một thủ tướng với danh xưng nội các tổng trưởng và mười bộ trưởng với hai người là giáo sư, bốn người là y sĩ, bốn người là luật sư và một ngươi là kỹ sư. Đây là lần đầu danh xưng bộ trưởng đã dùng thay cho danh xưng thượng thư, cùng với sự xuất hiện của nhiều bộ mới như ngoại giao, thanh niên, y tế, tiếp tế… nhằm đáp ứng nhu cầu của thời cuộc, thay vì chỉ có lục bộ như thời trước.

Trong số các bộ, không bộ quốc phòng. Trần Trọng Kim trong hồi ký của ông có giải thích điều này bằng nhiều lý lẽ, nhưng sự thiếu vắng bộ quốc phòng đã gây ra cho chính phủ của ông nhiều trở ngại khi tình thế thay đổi và nhất là khi quân Nhật bị giải giáp và Việt Minh cướp chính quyền.

Bốn tháng đầy rẫy những khó khăn nhưng những thành quả đạt được không phải là không đáng ghi nhận

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại có hơn bốn tháng kể cả thời gian xử lý thường vụ, và đã gặp rất nhiều trở ngại do hoàn cảnh của đất nước đương thời gây ra trong đó có nạn đói, có chiến tranh, có quân đội Nhật chiếm đóng và chiếm đóng vào lúc họ gần bị thất trận, có sự thiếu thật tình của người Nhật, có kinh tế khó khăn, có những sự chống đối trong nội bộ, có sự chỉ trích của dư luận do trình độ hiểu biết còn thấp kém, do sự nông nổi nhất thời hay bị tuyên truyền sai lạc, doạt nạt bằng bạo lực và ghen tị, có sự thiếu các phương tiện truyền thông và di chuyển, quan trọng nhất là thiếu nhân sự nhất là ở các địa phương (10) và các phương tiện để duy trì an ninh.

Nhưng nguy hiểm nhất là sự phá hoại của Cộng Sản được người Mỹ nhất thời giúp đỡ, hoạt động ngụy trang dưới danh hiệu Việt Minh với mục duy nhất là cướp chính quyền và cướp chính quyền bằng đủ mọi cách. Từ ngữ bù nhìn đã được họ sử dụng để chỉ cả Bảo Đại lẫn nội các Trần Trong Kim.

Điển hình là qua tờ Cờ Giải Phóng thời đó tác giả Tân Trào đã viết “Thân phận bù nhìn nó (chính phủ Trần Trọng Kim) chỉ có thể giữ việc bù nhìn… nhiệm vụ cuả nó là bọc nhung vào cái ách của Nhật, đầu độc đồng bào, thái độ của nó là ca ngợi Nhật, vào hùa với Nhật áp bức bóc lột nhân dân”.

Đây là đoạn văn đã được Dương Trung Quốc trích dẫn trong tác phẩm của ông với lời ghi chú tiếp theo về thái độ của những người cách mạng: “Thái độ của những người cách mạng là cương quyết vạch trần bản chất của nội các Trần Trọng Kim, thức tỉnh những người có ảo tưởng về “bánh vẽ độc lập” của Nhật và vạch rõ chỉ có một con đường duy nhất là tiến tới thành lập một chính quyền cách mạng của nhân dân như chỉ thị của Tổng Bộ Việt Minh đã đưa ra ngay trước ngày nội các này thành lập” (11).

Xin đọc kỹ tám chữ sau cùng: ngay trước ngày nội các này thành lập, không để cho nó có thì giờ hoạt động. Nói theo ngôn ngữ thông thường, họ đã đánh phủ đầu ngay từ rất sớm. Sau đó đã từ chối mọi sự cộng tác dù cho Trần Trọng Kim qua Phan Kế Toại, cho người móc nối và đề nghị gặp và đề nghị mà người viết sẽ trình bày chi tiết hơn ở phần dưới bài này. Một điều tất nhiên và dễ nhiểu: Đảng Cộng Sản muốn rằng họ phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền.

Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính các tương trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca… đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện.

Những thành quả này đã được các sách vở của phía những người không Cộng Sản nói tới và đặc biệt Vũ Ngự Chiêu, người đầu tiên nghiên cứu tương đối kỹ càng và có phương pháp dựa trên các tài liệu đủ loại nhất là các tài liệu lấy từ văn khố Pháp hay các sách báo đương thời, thay vì chỉ sử dụng những tài liệu mang nặng tính cách tuyên truyền.

Theo ông “Tài liệu chính thức của Cộng sản Việt Nam và các học giả thường hạ thấp giá trị nhhững kế hoạch của chính phủ Kim như “cải cách giấy”, hay độ lượng hơn, chỉ thuần là những tuyên cáo về ý định của chính phủ. Từ thời điểm này của lich sử nhìn lại, trong bốn tháng cầm quyền, chính phủ Kim chỉ có thì giờ ban hành hết dụ này qua sắc luật khác, và những cuộc cải cách ấy có rất ít ảnh hưởng đến đám đông. Tuy nhiên, các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ hơn những lời nhận định sơ sài trên. Các kế hoạch của chính phủ Kim phản ảnh quan điểm tổng quát của giới thượng lưu và trí thức về một nước Việt Nam không-ảnh-hưởng Pháp ở cao điểm của chủ thuyết Đại Á và tinh thần quốc gia Việt Nam. Hơn nữa, trái ngược với niềm tin phổ quát, Kim và các cộng sự viên phần nào thực hiện những chương trình trên. Bởi thế các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu vào sâu chi tiết, và trên vị thế lịch sử của chúng” (12).

Đi xa hơn, Lê Xuân Khoa đã khẳng định là không riêng Trần Trọng Kim mà luôn cả Bảo Đại “không phải là “bù nhìn” cuả Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thưc tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Chủ tich Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao Ủy Bollaert” (13).

Nổi bật nhất và tồn tại lâu dài nhất là chủ trương và nỗ lực Việt hóa giáo dục của chính phủ Trần Trọng Kim qua chương trình Hoàng Xuân Hãn, một chủ trương đã được thực hiện ngay từ những tháng cuối cùng của năm học 1944-1945 đầy những biến cố khủng khiếp với một kỳ thi tiểu học thành công như một bằng chứng cụ thể không thể chối cãi được của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và các phụ huynh và các nhà giáo đương thời. Chủ trương có tính cách cấp thời mang nặng tinh thần quốc gia độc lập này đã mở đầu cho một bước ngoặt mới trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

Nó đã tồn tại và phát triển liên tục trên toàn quốc Việt Nam bất kể là quốc gia hay cộng sản cho đến tận ngày nay nhưng rất ít được người ta chú ý tới, y hệt như những nỗ lực âm thầm của các nhà giáo ở bất cứ thời nào, bất cứ địa phương nào trên lãnh thổ Việt Nam và bây giờ là ở hải ngoại. Kèm theo với giáo dục là sự vận dụng và tổ chức hàng ngũ thanh thiếu niên thời này hướng tới ý thức trách nhiệm và những hành động cụ thể để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của xã hội và của dân tộc đương thời như cứu đói, chống nạn mù chữ…

Năm lần tiếp xúc và mời Việt Minh hợp tác đều bị chối từ

Trước ngày 19 tháng 8, có ít nhất năm lần chính phủ Trần Trọng Kim đã tiếp xúc với đại diện Việt Minh mời hợp tác. Những chi tiết liên quan tới các cuộc tiếp xúc này đã được những nhân vật chính trong các biến cố này là Trần Trọng Kim (14) và Nguyễn Xuân Chữ (15) thuộc chính phủ của nhà vua đương thời và Lê Trọng Nghĩa (sinh 1922-2015), tự xưng tên là giáo sư Lê Ngọc trong thời gian tiếp xúc, người đại diện cho Việt Minh trong tất cả các buổi họp mặt kể lại trong hồi ký của mình (16).

Trần Trọng Kim hồi đầu tháng 8 ra Bắc với mục đích đòi trả lại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và xứ Nam Bộ cùng các cơ sở mà người Nhật còn chiếm giữ cho chính phủ Việt Nam, hủy bỏ chế độ phủ toàn quyền vốn có từ trước, từ thời Pháp thuộc, đồng thời đòi trả tự do cho các thanh niên theo Việt Minh đi tuyên truyền bị Nhật bắt rất nhiều ở Hà Nội. Phan Kế Toại là Khâm Sai Bắc Bộ lúc đó. Ông vốn là một tổng đốc có tiếng là thanh liêm trước khi được Trần Trọng Kim chỉ định vào chức vụ này.

Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ là chủ tịch của Ủy Ban Giám Đốc Chính Trị Miền Bắc. Ủy ban này gồm có năm người, bốn người kia là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai (lúc đó là thị trưởng Hà Nội), Đặng Thai Mai, nhà giáo và Nguyễn Tường Long tức nhà văn Hoàng Đạo.

Lê Trọng Nghĩa, không ró lẽ là đảng viên đảng Dân Chủ của Dương Đức Hiền và Vũ Đình Hòe, lúc đó đã là đảng viên Đảng Cộng Sản, mới vượt nhà pha Hỏa Lò ra và được Trung Ương của Đảng Cộng Sản điều về công tác Mặt Trận và được giao cho phụ trách khối Dân Chủ trong Mặt Trận Việt Minh ở Hà Nội và một số thành phố miền Bắc, trên lý thuyết dưới quyền Tổng Thư Ký Dương Đức Hiền nhưng trên thực tế là dưới quyền của Lê Đức Thọ, người vừa thay mặt Trung Ương Cộng Sản vừa thay mặt Tổng Bộ Việt Minh. Cả hai người này lúc đó đều đi họp ở Tân Trào nên không có mặt ở Hà Nội trong thời gian tiếp xúc.

Cuộc họp thứ nhất có tính cách bí mật được thực hiện vào một buối sáng không rõ ngày nào nhưng có lẽ vào cuối tháng bảy vì theo Lê Trọng Nghĩa, nó chỉ cách buổi móc nối tiếp theo nhằm dẫn tới cuộc tiếp xúc của ông với Thủ Tướng Trần Trong Kim ít ngày và Trần Trọng Kim thì có mặt ở Hà Nội vào đầu tháng 8. Địa điểm là tại dinh Khâm sai, trong giờ làm việc. Trong buổi họp này đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa đã trình bày chủ trương và hoạt động chống Nhật của bên mình và cục diện chiến tranh, chuyện Hoa quân nhập Việt và đồng minh có thể đổ bộ. Phan Kế Toại thì lắng nghe, hỏi và đề nghị “tiếp tục giữ mối quan hệ, liên lạc nhưng chú ý giữ kín đáo…” Bốn chữ “chú ý giữ kín đáo” cho phép người ta nghi rằng cuộc tiếp xúc này của Phan Kế Toại là của riêng cá nhân ông.

Cuộc tiếp xúc lần thứ hai quan trọng hơn, nếu không nói là quan trọng nhất vì đó là do sáng kiến của chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim khi ông ra Bắc để như đã nói ở trên điều đình với người Nhật về việc thâu hồi toằn bộ lãnh thổ, các cơ sở hành chánh cũ của Pháp, xin tha và trả lại hết các các binh sĩ và sĩ quan Việt Nam mà quân Nhật còn giam giữ ở khắp nơi để chức đội quân bảo an cùng súng ống để võ trang cho đội quân này, đồng thời can thiệp cho các thanh niên bị người Nhật bắt giữ.

Cả hai nhân vật chủ chốt trong trong cuộc gặp gỡ này là Thủ Tướng Trần Trọng Kim và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa đều đã kể lại trong các hồi ký của minh. Thời gian gặp gỡ là đầu tháng 8, người móc nối cho cuộc gặp gỡ là Phan Kế Toại và địa điểm là phòng khách Phủ Khâm Sai Bắc Bộ. Vì đây là một cuộc tiếp xúc quan trọng, nó phản ảnh quan điểm cuả cả hai phía, có những chi tiết trùng hợp và những chi tiết khác biệt nên người viết thấy cần phải ghi lại đầy đủ, kể cả lý do của cuộc tiếp xúc để người đọc có thể đối chiếu và thấy rõ nột dung của cuộc trao đổi như thế nào.

Trần Trọng Kim viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi”:“Đảng Việt Minh lúc ây rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.

“Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói ‘chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?

“Người ấy nói: – Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trì nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.

– Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.

– Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.

– Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.

– Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia.

“Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.

“Tôi nói: – Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?

– Chúng tôi sẽ cướp quyền để tỏ cho cả nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.

– Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?

– Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.

– Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”. (17)

Đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa cũng mở đầu bằng chuyến ra Bắc của Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những mục tiêu tương tự nhưng thêm mục tiêu là để xem xét tình hình sau vụ Việt Minh đánh đồn Bần Yên Nhân. Ông viết: trong hồi ký của mình:

“Ngay từ phút đầu, qua thái độ và vẻ mệt nhọc, hơi khô khan của ông Kim, khi nghe ông Toại giới thiệu, tôi linh cảm thấy như cuộc gặp gỡ và cá nhân tôi không được coi trọng đúng mức. Phải chăng vì mình quá trẻ và lại chỉ đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như ý ông Thủ Tướng trông đợi.“Với ý thức là một cán bộ của Mặt Trận VM, tôi đàng hoàng trình bày ngắn gọn chương trình hành động của Mặt trận, nêu lên cái ưu thế của VM là đã cùng đứng về phía Đồng Minh chống lại phát xít Nhật ngay từ nhiều năm.. Ông nghe, tôi thấy cũng có vẻ chú ý nhưng không hỏi gì thêm. Rồi đến lượt ông phác ra điều mà chính phủ ông chủ trương, đã và đang làm: chương trình xây dựng một nước Việt Nam mới, chống thực dân và thống nhất… Đoạn, không đi xa thêm như lúc đầu tôi tưởng, ông lại lạnh lùng nói một cách trống không nhưng mà là để kết luận: ’Lịch sử sẽ phán xét cộng việc của chúng tôi!’ (Những câu nói này đã gợi cho tôi nhớ ngay đến quyển Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim thời đi học. ” (18)

So sánh các chi tiết được hai bên kể lại, người ta thấy phần quan trọng nhất của buổi họp với những lời lẽ được trao đổi liên quan tới lập luận cuả hai bên về đường lối đi tới hoàn toàn độc lập, những tai hại mà người dân phải lãnh chịu, đăc biệt gợi ý của Trần Trọng Kim mời Việt Minh vào chính phủ làm việc đã được Trần Trọng Kim tường thuật đầy đủ, trong khi Lê Trong Nghĩa thì hoàn toàn không nói tới. Trái lại, người đại diện Việt Minh này lại khẳng định là Trần Trọng Kim đã không đề nghị gì cả qua câu ông viết: “Đoạn, không đi xa thêm như lúc dầu tôi tưởng, ông lại lạnh lùng nói một cách trống không nhưng là để kết luận: ’Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tô!

Giữa hai tường thuật này, người viết nghĩ rẳng Trần Trọng Kim đã nói thật vì bản chất của ông là một nhà giáo, một sử gia, lại chịu ảnh hưởng của Khổng Mạnh và phần nào Phật Giáo, đồng thời ông viết hồi ký của mình vào lúc về già, chưa kể tới sự mệt mỏi muốn rút lui của ông vào lúc đó. Chính người đại diện cho Việt Minh cũng nhận thấy sự mệt mỏi này của vị thủ tướng ngay lúc mới vào họp. Không những thế, mục tiêu chính yếu của Trần Trọng Kim khi yêu cầu Phan Kế Toại móc nối và cho mời đại diện Việt Minh vào gặp ông ở Dinh Khâm Sai trong chuyến ra Bắc với rất nhiều việc phải làm không thể chỉ là để tìm hiểu suông. Cuối cùng là trong câu “Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tôi!” hai chữ chúng tôi hoàn toàn lạc lõng không hợp với toàn thể mạch văn. Chúng phải là các ông như trong câu của Trần Trọng Kim và cả phần đối thoại với những lời căn vặn được lập đi, lập lại như Trần Trọng Kim thuật lại mới hợp lý.

Nếu ta tin rằng Trần Trọng Kim đã nhớ đầy đủ và đã tường trình trung thực về cuộc gặp gời này thì câu tiếp theo sẽ là tại sao Lê Trọng Nghĩa lại nói ngược lại: “Trần Trọng Kim đã không đi xa hơn nữa? Ta có thể có hai giải thích.

Thứ nhất, Trần Trọng Nghĩa sống trong chế độ cộng sản khi viết hồi ký này, do đó đã bị cấm hay không dán viết hết sự thực, nhất là sự thực về bản chất chiếm lãnh độc quyền lãnh đạo đất nước bằng mọi giá, mọi phương tiện kể cả phững phương tiện bất nhân tàn bạo nhất qua câu nói “mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”, một câu nói không một nhân vật nào dám nói trong suốt lịch sử dân tộc kể cả vào những lúc nguy nan nhất. Một câu nói ông có thể đã được học trong khi được các lãnh tụ cộng sản huấn luyện.

Giải thích thứ hai là Lê Trọng Nghĩa mang mặc cảm bị coi thường vì còn quá trẻ. Sự kiện còn quá trẻ của người đại diện Việt Minh được cả hai bên ghi nhận. Trần Trọng Kim gọi Lê Trọng Nghĩa là thiếu niên (ông Toại đưa một thiếu niên đến), còn chính đương sự thì dùng chữ quá trẻ (phải chăng vì mình quá trẻ). Trần Trọng Kim chỉ kể như vậy thôi, không nói thêm gì về yếu tố này mà chuyển ngay sang phần nội dung của cuộc trao đổi. Còn Lê Trọng Nghĩa thì ngay từ lúc đầu đã cho biết là ông “linh cảm thấy như cuộc gặp gỡ và cá nhân tôi không được coi trọng đúng mức. Phải chăng vì mình quá trẻ và lại đến đây có một mình, đã không có được những hình ảnh như ý ông thủ tướng trông đợi….. Lúc ấy, tôi đã cảm thấy hơi nóng nóng mặt.

Những chi tiết này cho phép ta đặt giả thuyết rằng phải chăng ngay từ phút đầu tiên, người thiếu niên đại diện cho Mặt Trận Việt Minh đã bị mặc cảm quá trẻ, bị coi thường, từ đó mất hết bình tĩnh, không còn nghe rõ và nghe hết những gì người mà ông có dịp gặp gỡ đã đề nghị hay vặn hỏi, để chỉ còn trả lời ngang bướng như một thiếu niên còn nông nổi, ở tuổi trên dưới hai mươi mà thôi.

Cuối cùng với tâm trạng đầy bất mãn, bực tức và mặc cảm, ông đã kết luận rằng “từ đó tôi cảm thấy không hào hứng và quan tâm nhiều lắm nữa đến mối liên lạc với các lãnh đạo cao cấp chóp bu của chính quyền để dồn hết tâm sức đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng – mà tôi thấy rõ lúc đó còn đuối – để chuẩn bị gấp cho cuộc võ trang khởi nghĩa như chỉ thị của trung ương đã nêu và tình hình đang thôi thúc…” và tất cả những gì ông nói với hay trả lời Trần Trọng Kim đều là dựa theo chỉ thị của Trung Ương Đảng Cộng Sản và những gì ông được học tập trước đó. Điều này cũng cho thấy là trong thời gian này ông hoạt động một mình; các người trực tiếp lãnh đạo của ông như Lê Đức Thọ, Dương Đức Hiền đều đi họp ở Tân Trào. Những người khác đứng sau lưng ông lúc đó cũng chưa nhận được chỉ thị nào rõ rệt.

Cuộc họp thứ ba xảy ra vào buổi sáng ngày 16 tháng 8 tại Dinh Khâm Sai và cũng do Phan Kế Toại đứng ra móc nối. Người được tìm kiếm cũng là “Giáo Sư Lê Ngọc” bí danh của Lê Trọng Nghĩa. Về chi tiết của cuộc tiếp xúc này, ta chỉ có bài hồi ký của ông này. Phan Kế Toại không để lại hồi ký và luôn cả truyện kể cho người thứ ba. Viên chánh văn phòng và hai hay ba cộng sự viên của ông cũng như các nhân vật mang tên Khang và Trần Đình Long cũng vậy.

Ông Khang lúc ấy đã đã chính thức trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Quân Sự Cách Mạng Hà Nội (điều này có thể cho phép các sử gia ở trong nước tìm hiểu xem nhân vật tên Khang này là ai) , còn Trần Đình Long là một thứ cố vấn mới được xứ ủy Đảng Cộng Sản cử đến. Lần này có lẽ vì tình hình khẩn trương hơn trước và vì tổ chức của Việt Minh và Đảng Cộng Sản ở Hà Nội đã ró hẳn hoi, kèm theo với các nhân sự với những chức vụ đứng đầu, đồng thời rút kinh nghiệm lần trước, bên phía Việt Minh có tới ba đại diện, thay vì một người. Nội dung của cuộc trao đổi cũng đã được Lê Trọng Nghĩa tường thuật rõ ràng đầy đủ hơn như sau:

Hai bên đều nhấn mạnh đến tình hình khẩn cấp, lợi ích cao cả của đất, vận mệnh dân tộc… Ông Khâm sai chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với Chính phủ cụ Trần và vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Từ tốn, lịch sự, anh Khang đã thẳng thắn đáp lại là tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho VM, chúng tôi đã đủ danh nghĩa và đã sẵn sàng. Anh còn đề xuất thêm việc chuyển số vũ khí nghe nói Nhật sắp giao cho Phủ Khâm sai… để chống thực dân đang lăm le đe dọa.

Phát biểu của đại diện Việt Minh cho ta thấy rõ chủ tâm từ đầu đến cuối trong thời gian này là phải cướp trọn vẹn quyền hành thay vì chỉ tham gia chính phủ, đúng với chủ trương căn bản của họ: Đảng Cộng Sản phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền.

Cuộc tiếp xúc lần thứ tư xảy ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 và đại diện cho phía chính phủ là Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn, một nhà giáo, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam có uy tín, một “học giả lỗi lạc, bậc thày đáng kính” (lời của Lê Trọng Nghĩa) nhất đương thời. Vào lúc này tình thế đã không còn như trước nữa vì từ ngày hôm trước, ngày 17, Việt Minh đã cướp ngang được cuộc biểu tình của Tổng Hội Công Chức để mừng đất nước được hoàn toàn độc lập sau khi Nhật Bản đã đầu hàng và để ủng hộ nhà vua và chính phủ Trần Trọng Kim.

Chi tiết về cuộc biểu tình và chuyện Việt Minh cướp máy vi âm để biến tất cả thành của Việt Minh đều đã được các sách giáo khoa cũng như các sách khác ở trong vùng Quốc Gia hay ở Miền Nam nói tới đầy đủ, còn các sách ở miền Bắc trước kia và luôn cả hiện tại đã nói rất sơ lược hay không hề nói tới.

Đồng thời Việt Minh cũa đột nhập vào tòa soạn báo Tin Mới, dùng võ lực bắt ép các báo này phải loan những tin tức có lợi cho họ. Khâm Sai Phan Kế Toại thì đã bỏ nhiệm sở. Địa điểm của cuộc tiếp xúc lần này tại ngôi nhà số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, một biệt thự của một công chức cao cấp, thân thuộc của Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Bá Chính, từ lâu đã để cho Việt Minh sử dụng như trụ sở chính của họ ngay tại Hà Nội. Lê Trọng Nghĩa, tác giả của hồi ký duy nhất có nói về cuộc gặp gỡ này và cũng là người duy nhất đã tiếp chuyện Hoàng Xuân Hãn vì hai thượng cấp của ông Nghĩa, người mang tên Khang bận ở phòng bên cạnh (hay không muốn tiếp, hay thấy không cần tiếp nữa) đã kể lại như sau:

“Đúng hẹn 8 giờ sáng, ông Hãn một mình đến, được mời vào phòng giữa, phòng khách của gia đình trước bố trí bộ xa lông gụ đen, nửa cổ nửa kim mà ông chủ nhà tốt bụng còn để nguyên lại đó. Ông ăn mặc chỉnh tề (so với chúng tôi quần dài, sơ mi vắn tay) trông vẻ hiền lành nhưng không giấu được những cử chỉ hấp tấp của người đang xúc động. Tôi trịnh trọng mời. Ông cũng không chờ thêm, tự giới thiệu ngay là người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội lúc đó, đến để thông báo một tin, đúng hơn là những tin thục hết sức bất ngờ:“Ông cho biết ông Khâm sai Phan Kế Toại ngay từ đêm 17 (!) đã từ bỏ nhiệm vụ và rời nhiệm sở (Dinh Khâm sai).. Chính phủ Nhà Vua hôm nay, 18, đã cử bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Chủ tịch UB Chính trị kiêm nhiệm thay… Tôi nghe mà giật mình.
 
Ông lại chầm chậm tiếp, đại ý nói Việt Minh các ông chắc đã kiểm soát được tất cả thôi. Nhưng chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng minh đã bắt đầu lên đường chia nhau vào chiếm nam, bắc vỹ tuyến 16 nước ta rồi. Ông ngừng lấy hơi rồi rồi như tự than: đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa thôi! Tôi như ù tai, nhưng cũng còn nghe ông nói: Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Ông gợi ý luôn: Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn nhưng để cho Chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả…”

Cuộc tiếp xúc lần thứ năm tức là lần cuối cùng, trước khi xảy ra cuộc cướp chính quyền, chữ Lê Trọng Nghĩa dùng trong hồi ký của ông, cũng xảy ra vào ngày 18 tháng 8, vào lúc 2 giờ chiều. Người đại diện cho Chính Phủ là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và cho Việt Minh vẫn là Lê Trọng Nghĩa và địa điểm là Dinh Khâm Sai. Lần này sáng kiến đã đến bất ngờ và từ phía Việt Minh và nhằm do thám tình hình chứ không phải là để đối thoại hợp tác. Theo Lê Trọng Nghĩa, sau khi gặp Hoàng Xuân Hãn, ông này đã sang phòng bên gặp thượng cấp của mình để tường trình thì …”Ai đó lại lên tiếng ngay: Này, cậu phải nhanh chân nữa lên, vào ngay Dinh Khâm sai xem sao đi, khéo mà họ – tôi nắm bắt được ý là nói đến Đại Việt – ‘nẫng tay trên’ mất thì toi cả nút đấy!

Cuộc gặp gỡ lần chót này được cả hai phía là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ và đại diện Việt Minh Lê Trọng Nghĩa kể lại qua hồi ký của hai người. Điều cần biết là Bác Sĩ Chữ lúc này là Chủ Tịch Ủy Ban Giám Độc Chính Trị Miền Bắc. Ủy Ban này gồm có năm ủy viên là Phan Kế Toại, Nguyễn Tường Long, Trần Văn Lai, lúc đó là Thị Trưởng Hà Nội, Đặng Thái Mai và ông. Nhưng vào thời điểm này Phan Kế Toại đã từ bỏ nhiệm sở, Đặng Thái Mai thì tản cư vào Thanh Hóa chưa về, Nguyễn Tường Long thì bị bịnh thương hàn phải vào nằm bệnh viện, còn Trần Văn Lai thì bận việc bên tòa thị chính nên chỉ có một mình Bác Sĩ Chữ với vị thế không rõ ràng, khâm sai không ra khâm sai, chủ tịch không ra chủ tịch, đảm đương mọi chuyện, ra lệnh không ai thi hành. Về buổi họp này, hai hồi ký đã kể lại khác nhau.

Theo Lê Trọng Nghĩa thì “Mười bốn giờ ngày 18, một tôi mình đạp xe đạp tới Dinh Khâm Sai. Ông Chữ, ông Chương, ông Chánh văn phòng và một số người nữa đã thấy tề tựu, có vẻ nôn nóng chờ.” Còn theo Bác Sĩ Chữ thì “Tối thứ Bẩy, thanh niên Việt Minh, lần này đến có một người, gặp lại mỗ y sĩ. (19)” Tại sao lại có sự sai biệt về giờ giấc như vậy và tại sao không hẹn trước khi đến mà khi Lê Trọng Nghĩa tới nơi thì toàn bộ ban tham mưu của Bác Sĩ Chữ đã tề tựu và nôn nóng chờ? Riêng Bác Sĩ Chữ đã dùng hai chữ “lần này” trong lời tường thuật và trong phần trước còn cho biết thêm là trước đó ông đã có dịp gặp người thanh niên ở Phủ Khâm Sai do Phan Kế Toại mời cả hai bên tới.

Nhưng dù được tường thuật khác nhau, cuộc gặp gỡ lần cuối này cũng đã không mang lai kết quả gì vì một bên đã có mục tiêu tối hậu, có đến chỉ là để do thám tình hình và rất vội vã vì sợ “Đại Việt nẫng tay trên thì toi cả nút”, còn một bên thì vừa mới lãnh trách nhiệm trong cùng ngày, còn rất nhiều do dự lại biết rõ kẻ địch là Cộng Sản và chỉ muốn cướp chính quyền. Có họp cũng vô ích.

Trong năm lần gặp gỡ kể trên, ngoại trừ cuộc gặp gỡ lần thứ năm, bốn lần đầu lần nào phía chính phủ cũng đưa ra những đề nghị mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để cứu nước nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh với Đảng Cộng Sản đứng đằng sau đã chủ trương cướp chính quyền từ đó một mình lãnh đạo đất để thực hiện cuộc cách mạng riêng của mình bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra cho dân tộc, phản ảnh qua những câu trả lời của người đại diện Việt Minh cho những câu hỏi do chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim đặt ra và kể lại. Biến cố 19 tháng 8 do đó đã xảy ra.

Cách Mạng hay Cướp Chính Quyền

Từ ngữ cách Mạng trong lịch sử Việt Nam hiện đại là một từ ngữ mới nhưng là một từ ngữ đẹp. Nó liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, sự hy sinh và lòng ái quốc. Điển hình là trường hợp của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mà chính những người Cộng Sản cũng phải công nhận và nể sợ. “Cách Mạng” là đánh đuổi người Pháp, giành độc lập cho Việt Nam dù phải hy sinh, kể cả hy sinh chính mạng sống của mình.

“Cướp”, trái lại, là một từ ngữ xấu, là dùng bạo lực và công khai hay bằng mưu mô lừa lọc trước đó để giật từ tay người khác cái gì không phải của mình, đặc biệt là vào những lúc tình hình hỗn loạn, an ninh không được bảo đảm. Hai danh từ hoàn toàn không giống nhau nhưng đã được những người tạo ra biến cố 19 tháng 8 năm 1945 dùng để chỉ việc làm của mình và đã chấp nhận sự nghịch lý này cho đến tận ngày nay. Về phía những người chống lại, dường như thái độ cũng chưa dứt khoát. Mặc dầu đa số và trong các lớp học, từ ngữ “Cướp” được dùng nhiều hơn nhưng đôi khi người ta cũng dùng hai chữ “Cách Mạng” và gọi biến cố này là Cách Mạng Tháng Tám và thêm vô năm chữ Việt Minh cướp chính quyền.

Điều này dễ hiểu vì việc sử dụng những từ ngữ này buổi đầu là do những người đương thời có dịp tham gia hay chứng kiến biến cố 19/8/1945 lúc khởi đầu. Họ có thể là những người chống đối ngay từ đầu nhưng cũng có thể là những người đã vì lý do này hay lý do khác theo và ủng hộ Việt Minh trong buổi đầu rồi sau đó chuyển hướng. Điều cần được ghi nhớ là những người Cộng Sản trong thời gian trước biền cố này đã quyết tâm và dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi cuốn quần chúng theo mình trong đó có tuyên truyền, dọa dẫm xuyên qua những đội võ trang tuyên truyền của họ. Điều này đã được Trần Trọng Kim và Nguyễn Xuân Chữ nói rõ trong các hồi ký của hai nhân vật chính yếu này.

Riêng Nguyễn Tường Bách, một lãnh tụ Đại Việt Dân Chính đương thời đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của ông khi ông cùng với nhà văn Khái Hưng đến gặp Dương Đức Hiền, lãnh đạo Đảng Dân Chủ, lúc đó đã gia nhập Việt Minh. “Nếu các anh cứ lừng khừng nhừ thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” (20) là câu nói nguyên văn của Dương Đức Hiền với Nguyễn Tường Bách và Khái Hưng nhằm thuyết phục hai người này phải dứt khoát gia nhập Việt Minh.

Tất nhiên là hai người không sợ, nhưng với những người khác thì sợ nhất là những người có dính dáng với chính quyền Pháp và quân đôi Nhật trước và trong thới đó, đúng như phân tích của Nguyễn Xuân Chữ về thành phần của những người theo Việt Minh trong hồi ký của ông. Không sợ sao được khi mình có quá khứ thân hay đã cộng tác với Pháp hay Nhật, khi “Báo chí bí mật không ngớt nhấn mạnh đến tinh thần triệt để cách mạng và phải thẳng tay trừng trị bọn ‘bù nhìn tay sai bán nước’ một cách có phân biệt. Công tác trừ gian, trừng trị một cách đích đáng, chính xác có chọn lọc một số tên đầu sỏ như trùm mật thám ác ôn (Phán Sinh, Võ Văn Cầm…) đang được đầu óc giầu tưởng tượng của quần chúng thổi phồng lên như những câu chuyện thần thoại…

Các đội tuyên truyền võ trang do Võ Nguyên Giáp chỉ huy được thành lập 1944 chắc chắn là để làm những công tác này chứ không phải chỉ là để đánh mấy đồn Nhật. Một trong số những người đã tham gia các đội này là Nhạc Sĩ Văn Cao. Người ta khó mà hiểu được trường hợp hoàn toàn nghịch lý trong con người của Văn Cao khi đối chiếu những bài hát mang mầu sách hoài cổ, hoàn toàn đẹp và lãng mạn ông làm trước đó với thái độ cuả ông khi ông chờ đợi lãnh súng và tham gia đội vũ trang: “Hôm nay phố đông người hơn và tôi thấy lòng vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang.”(21).

Không chỉ dùng thủ đoạn với người khác, các người chủ động còn dùng thủ đoạn với chính mình. Lê Trọng Nghĩa (sinh 1922) khi kể lại hoạt động của ông trong ngày 19/8 đã cho biết ông luôn luôn dẫn đầu và những nhân vật lãnh đạo ông mang tên Khang, tên Bình theo sau cả chục mét. Để làm gì? Ai cũng có thể đoán được. y hệt sự kiện xua đàn bà, trẻ con đi trước trong các cuộc biểu tình chống chính quyền ở miền Nam mà báo hay nhiều người đã thuật lại.

Danh từ cách mạng còn được hiểu là thay thế cái cũ tệ hại bằng một cái mới tốt hơn, trong chính trị là thay một chế độ với những nhân vật tồi tệ, bất nhân bằng một chế độ với những nhân vật tốt hơn, đạo đức hơn, đặc biệt là trong một xã hội chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Mạnh. Áp dụng nhận định này vào biến cố 19 tháng 8, bình thường người ta phải suy luận là chính phủ Trần Trọng Kim phải là một chính phủ tệ hại là Việt gian, bù nhìn, tay sai, thân Nhật. Điều này như người viết đã trình bày ở trên là hoàn toàn không đúng. Ngoài những lý do đã được nêu, ngay chính người đại diện Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa, cũng phải công nhận là chính phủ này còn có sức thu hút trong những ngày cuối của nó, khi ông nói tới một buổi họp đầy xúc động của nhiều nhân vật thuộc nhóm Thanh Nghị, có lẽ là buổi họp cuối cùng để chia tay, trong đó Vũ Đình Hòe và Đỗ Đức Dục dứt khoát ra chiến khu với Việt Minh.

Nhóm Thanh Nghị, đúng hơn là Hội Tân Việt Nam được thành lập theo Dụ số 7 của Bảo Đại, đã thu hút được rất đông trí thức tên tuổi đương thời và dùng tờ Thanh Nghị làm cơ quan ngôn luận để phổ biến tư tưởng trong giới trí thức, thanh niên, sinh viên. Các nhân vật tham gia vận động thành lập nhóm này gồm có: Đào Duy Anh, Phan Anh, Phạm Đỗ Bình (tức Nhật Trương), Đỗ Đức Dục, Ngô Thúc Địch, Trần Khánh Giư (tức Khái Hưng), Ngô Tử Hạ, Vũ Văn Hiền, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy Hưng, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Lân, Vũ Đình Liên, Phạm Lợi, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Quang Oánh, Tôn Quang Phiệt, Phạm Khắc Quảng, Phạm Huy Quát, Ngô Bích San, Nguyễn Hữu Tảo, Hoàng Thúc Tấn, Nguyễn Đình Thụ, Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống), Bùi Như Uyên, Lê Huy Vận, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, và do Vũ Đình Hòe làm tổng thư ký.

Danh sách này cho thấy nhóm này bao gồm các trí thức chuyên gia nổi tiếng nhất đương thời. Cả một nhóm đông như vậy mà chỉ có hai người quyết định đi theo Việt Minh chứng tỏ đa số đứng về phía chính phủ, đặc biệt nếu ta để ý tới chủ trương cuả hội này như giữ vững nền độc lập và thống nhất quốc gia Việt Nam trong phạm vi ‘Đại Đông Á’, đoàn kết hết thảy các giới trong xã hội và các khuynh hướng chính trị…, những chủ trương phù hợp với chủ trương của chính phủ Trần Trọng Kim.

Tóm lại, hai chữ cách mạng trong trường hợp này do đó cần phải được xét lại, ít nhất là bởi các sử gia, những người tìm sự thực của quá khứ, nhất là sự thức liên hệ tới hai nhà nghiên cứu sử học tiền phong của thời hiện đại, đồng thời cũng là hai nhà giáo dục lớn, những người đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền giáo dục bằng tiếng Việt Nam của một nước Việt Nam độc lập.

Bây giờ nói tới bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Bản tuyên ngôn này cũng bị nhiều người coi là không cần thiết vì từ ngày 11/3 trước đó, Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người kế vị vua Tự Đức đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ mà Tự Đức đã kết với người Pháp rồi và Hồ Chí Minh đã làm một việc thừa, không cần thiết. Đi sâu hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng, còn bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh thì dài lòng thòng, mang nặng tính cách xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ cột liên hệ tới độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp. (Lời lẻ trong bản tuyên ngôn nhằm nói với nước ngoài, chứ không phải nói cho công dân trong nước) Có điều là tác giả có những chủ trương riêng của mình (nhằm ve vãn Mỹ hậu thuẩn viện trợ tiền bạc, nhưng TT Mỹ Truman không mắc mưu, vì biết rõ HCM là cộng sản quốc tế, nên dù HCM đã tự giải tán đảng CS Đông Dương và nhiều lần viết thư gởi cho Truman 1945 và 1946, nhưng vẫn không nhận được hồi âm). Nhưng đây chỉ là nhận định tổng quát, người học sử cần phải đọc kỹ hơn trước khi đối chiếu hai văn bản.

Riêng về từ ngữ cướp, một tác giả người Việt ở hải ngoại có uy tín, ông Minh Võ, tác giả của tác phẩm mới nhất và cũng là đầy đủ nhất về Hồ Chí Minh, trong một bài viết đăng trên Nhật Báo Người Việt ở Quận Cam, California, vào trung tuần tháng 8 vừa qua đã vượt ra khỏi ngày này (19/8/45) và đã cung cấp rất nhiều chi tiết liên hệ. Người đọc có thể tìm đọc sách hay bài viết của ông để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Chú thích:

(1) Saigon: Vĩnh Sơn, 1969.

(2) “Các cuộc tiếp xúc giữa Việt Minh với chính phủ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (6), VIII, 1994, tr. 4 – 6; số 6 (7), IX, 1994, tr. 9 – 11.

(3) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, Những Bài Học Quí Báu của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

(4) Điển hình, người viết xin đơn cử ba tác phẩm sau đây: Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Phạm Xuân Nam, Bùi Đình Thanh. Lịch Sử Việt Nam, tập II. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1989. Lương Minh, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Ngọc Cơ, Trần Bá Đệ, Trịnh Vương Hồng, Chương Thâu. Lịch Sử Việt Nam Giản Yếu. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, 2000. Dương Trung Quốc. Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919 – 1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (Tái bản lần thứ hai), 2002. Ba tác phẩm này đều được xuất bản sau năm 1975, trước đó là các tác phẩm của Trần Huy Liệu, nguyên bộ trưởng tuyên truyền trong chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh. Các tác giả của hai tác phẩm trên đã trực tiếp dùng hai chữ bù nhìn để chỉ nội các Trần Trọng Kim. Trần Huy Liệu thì dùng hai chữ này ngay trong nhan đề của một bài viết của ông. Riêng Giáo Sư Dương Trung Quốc thì tỏ vẻ thận trọng vàdè dặt hơn khi đưa ra nhận xét: “Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức tên tuổi, lại chưa hề làm quan, cùng với hứa hẹn ‘phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập’, ‘giải quyết nạn đói’, thống nhất chủ quyền lãnh thổ’ v..v… phần nào có làm cho một bộ phận dân chúng bị ảo tưởng về nền độc lập trao trả cho Bảo Đại. Nhưng ông vẫn dùng hai chữ bù nhìn và thêm vào hai chữ thân Nhật, tr. 394.

(5) Houston: Văn Hóa, 1996. Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu cũng là người chủ trương dùng sự thực sử như một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc.. Xin xem “Sự thực sử học : một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc”, trong Văn Học, số 225, tháng 5 & 6, 2005, tr. 164 – 194, xuất bản tại Hoa Kỳ.

(6) Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004.

(7) The other Side…. Phía Bên Kia….., đã dẫn-, tr. 29 và 82.

(8) Một Cơn Gió Bụi, đã dẫn, tr. 50 – 51.

(9) chữ dành riêng để gọi một văn bằng của Pháp nổi tiếng là khó, không giống với những bằng được gọi là thạc sĩ bây giờ.

(10) Trần Trong Kim, đã dẫn -, tr. 57

(11) Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử, đã dẫn, tr. 394.

(12) The Other Side… Phía Bên Kia, đã dẫn, tr. 87.

(13) Việt Nam: 1945 – 1995…., đã dẫn,tr.59. Thực ra là Sainteny chứ không phải Bollaert.

(14) -đã dẫn-

(15) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ: Những Bai Học Quí Báu Của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

(16) Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc Giữa Đại Diện Việt Minh Với Chính Phụ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (06), VIII,. 1994, tr. 4 6 và số 6 (07), IX, 1994, tr. 9 -.

(17) – sách đã dẫn -, tr. 86 – 87.

(18) Lê Trọng Nghĩa, Hồi ký đã dẫn.

(19) đã dẫn, tr. 283

(20) Hồi ký đã dẫn, tr. 154.

(21) Xin xem hồi ký của nhạc sĩ này trong Một Chặng Đường Văn Hóa, Tập Hồi Ức và Tư Liệu Về Đề Cương Văn Hóa của Đảng và Đời Sống Tư Tưởng Văn Nghệ, 1943 -, tr. 110

Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Chính phủ của hai ông

Cũng cần phải để ý là trong thời gian được gọi là cách mạng này, người cộng sản đã triệt để sử dụng đường lối tuyên truyền kèm theo với bạo lực để đạt mục tiêu. Từ ngữ võ trang tuyên truyền đã nói lên sự hiện diện của bạo lực này. Sau đó khi chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh được thành lập, người ta thấy có Bộ Tuyên truyền với Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng mà Trần Huy Liệu thì là người đã ngụy tạo ra anh hùng Lê Văn Tám theo như tiết lộ của một giáo sư sử học nổi tiếng và uy tín nhất trong giới sử học ở trong nước hiện tại. Cũng chính Trần Huy Liệu sau này đã trở thành Viện trưởng Viện Sử học Hà Nội và là giáo sư sử học.

Trước hết là về con người của Bảo Đại. Ai cũng biết là ông này đã được cho sang Pháp du học, nhưng bình thường người ta vẫn nghĩ rằng một hoàng tử, sau này bị coi là ham ăn chơi, vô trách nhiệm, thì học hành chỉ là để lấy lệ. Nhưng Hoàng Xuân Hãn lúc đó vì cũng du học ở Pháp và ở gần nhà Bảo Đại nên “thỉnh thoảng được mời lên chơi, gặp để khuyến khích ông Bảo Đại học lúc ấy. Tôi còn nhớ, nhiều khi lên ông ấy hỏi một bài toán gì đấy. Tôi giúp ông ấy như thế. Ông ấy rất dễ thương, lúc ấy là một người con giai còn trẻ đẹp, học hành cũng không phải là dốt đâu; qua những câu hỏi tôi biết rằng là người có học cả.” [5] Điều nên để ý là Hoàng Xuân Hãn giúp Bảo Đại về toán, còn Bảo Đại sau này học về chính trị học để về nước làm vua. Đó là thời đi học. Đến thời Bảo Đại làm vua, Hoàng Xuân Hãn lại có dịp gặp Bảo Đại hai lần nữa trước khi được tiếp xúc và tham gia chính phủ Trần Trọng Kim. Lần đầu vào năm 1934, tức hai năm sau khi Bảo Đại lên ngôi và thực hiện một số cải cách nhưng bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại, để đưa quà của ông Charles cho Bảo Đại. Lần thứ hai vào khoảng năm 1942, 43 để tặng sách, cuốn Danh từ khoa học.

Lần thứ nhất “ông tiếp tôi. Ông ấy ngồi ì không nói một tiếng nào, hay cứ nói tiếng một như thế. Sau rồi tôi nói với ông: Tôi ở Pháp về, chưa chắc đã ở lại được đâu. Ông hỏi tại sao, tôi cũng nói: Bên này, chính người Pháp nói với tôi: Về đây ông bị đè nén, không có thể làm việc được. Nhưng mà người thanh niên Việt Nam, nhiều người nhìn vào ngài, về cải cách này, cải cách kia, thì phải làm cái gì, chứ mà ai cũng để ý tới tới nhất là thanh niên Việt Nam. Ông ấy chỉ giả nhời tôi một câu, lúc ấy ông chỉ nói: Làm thì làm với ai? Làm với ai? Tôi cũng nói qua là hiện bây giờ họ có đưa ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Diệm về đấy. Ông ấy cũng cười. Ông cười. Ông ấy lắc đầu rồi thôi. Ông không nói câu nào nữa cả.” Lần thứ hai, “Thấy bộ ông ấy buồn lắm. Trông ông ấy buồn lắm và ông ấy không dám nói một cái gì hết cả. Mà hồi ấy, người Nhật đã ở đấy nhiều rồi đấy. ông ấy chỉ cám ơn, thế thôi.” [6]

Im lặng, không nói gì, buồn lắm, Làm thì làm với ai? Làm với ai? Đây là tâm sự của một vị vua muốn làm nhưng không ai là người cộng sự và cộng sự tốt, luôn luôn bị bao vây bởi người Pháp sau thêm người Nhật và phải đề phòng những kẻ gần gũi với mình. Người viết bài này không hiểu Bảo Đại có dịp đọc Lão Tử hay không, nhưng thái độ này là một cách sinh tồn tốt nhất. Nó phù hợp với câu nói của Trần Trọng Kim về vị vua này với Hoàng Xuân Hãn và được Hoàng Xuân Hãn kể lại: “Cái thằng Bảo Đại nó ngốc lắm, gặp nó làm gì?” và Hoàng Xuân Hãn trả lời: “Mình nghe tiếng thì thế, mà sự thực chưa chắc đã thế đâu. Cụ có thì giờ thì cụ cứ gặp đi, rồi cụ hãy nói sau.” Kết quả của cuộc gặp mặt là khi ra Trần Trọng Kim đã nói với Hoàng Xuân Hãn rằng: “Lạ lắm!“… “Tôi vào gặp ông Bảo Đại, nghĩa là ông ấy biết hết cả các chuyện chứ không phải ngốc như người ta nói.” [7]

Còn chính Trần Trọng Kim thì viết rằng “Từ trước tôi không biết vua Bảo-Đại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp hình như ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng bảy tháng tư tôi vào yết kiến thấy có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn.” [8] Những điều đúng đắn đó là gì? Trần Trọng Kim kể tiếp: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước.” [9]

Nhận định này của Bảo Đại phản ảnh rõ rệt quan điểm của ông và việc ông làm để đối phó với tình hình lúc bấy giờ. Nó là quan điểm của đa số những trí thức nổi tiếng đương thời trong đó có Phan Anh mà ta sẽ xét tới trong phần sau.

Để hiểu đầy đủ nhận xét này, ta cần nhớ là Trần Trọng Kim mới ở Tân Gia Ba [Singapore] về và chắc chắn biết rõ những gì đang xảy ra trên thế giới vào thời điểm này. Cũng vậy với sự kiện Bảo Đại gửi thư cho các vị lãnh đạo của Mỹ và của Pháp. Câu hỏi được đặt ra là làm sao Bảo Đại ở trong cung mà lại có thể biết hết các chuyện như vậy được? Một giả thuyết đương nhiên phải được đặt ra. Đó là qua người Nhật. Người viết sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác.

Bây giờ ta xét tới trường hợp Phan Anh. Vị Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim và sau là bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh này xuất thân là một luật sư hành nghề ở Hà Nội và là một trong những trí thức chủ trương Nguyệt san Thanh nghị, thường được gọi là Nhóm Thanh nghị.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho sử gia Na Uy Stein Tonnesson, để đáp lại câu hỏi “các ông nghĩ thế nào mà lại nhận lời mời của Bảo Đại“, Phan Anh cho biết có hai mục tiêu. Thứ nhất là để đuổi người Pháp vẫn còn được người Nhật giữ trong bộ máy hành chánh thời đó ra khỏi bộ máy này và thứ hai, tạm thời làm việc với người Nhật nhưng giữ trung lập, không là “đồng tác giả” (co-auteurs), không là “kẻ hợp tác.” Đây là nguyên văn câu trả lời của ông:

“Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoãn cúi đầu trước Nhật. Thâm ý là chờ đợi xem thế nào? Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳ trong bộ máy hành chánh. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ: toàn là người Pháp. Họ đã mất con bài chính trị, thì phải giữ con bài hành chính. Để làm gì? Thế đấy! Hai khả năng: Hoặc Nhật sẽ bại trận, thì người Pháp cần giữ bộ máy hành chính để rồi đặt lại nền thống trị; hoặc trái lại người Nhật còn ở lại, thì ổn rồi người Pháp cứ tiếp tục, với sự giúp đỡ của chính quốc, tiếp tục nắm một mảnh nhỏ quyền hành. Trong hai khả năng ấy thì khả năng thứ nhất hiện thực hơn. Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chánh để còn có vai trò trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chánh, lại còn trận địa kín nữa chứ.“Tôi với tư cách người yêu nước, tôi đã quan sát tình hình ấy.

Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, thanh niên công chức làm việc đó.“Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không là “đồng tác giả” (co-auteurs), không phải là “kẻ hợp tác” với họ; phải giữ thế trung lập.” [10]

Đối chiếu nhận định này với nhận định của Bảo Đại trong cuộc trao đổi giữa nhà vua và Trần Trọng Kim và với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 11.3.1945 của vị Hoàng đế thiếu may mắn và có thể nói là bất hạnh này, người ta thấy có nhiều điểm giống nhau cũng như những nỗ lực thu hồi các cơ sở hành chính lại cho chính phủ Nam Triều.

Về bản chất của chính phủ Trần Trọng Kim, khi được hỏi là “chính phủ này có phải là chính phủ bù nhìn không“, Phan Anh đã khẳng định: ”Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập.” [11]

Với nhận định này và để giữ thế trung lập, trong chính phủ Trần Trọng Kim đã không có Bộ Quốc phòng. Phan Anh giải thích: “Trong chính phủ Trần Trọng Kim có một bộ mà chúng tôi phải suy nghĩ nhiều: Bộ “Quốc phòng” hay Bộ “Quân lực” hoặc Bộ “Chiến tranh”. Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có Bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy, chúng tôi lập Bộ Thanh niên.” [12] Cần để ý là trong suốt cuộc phỏng vấn, Phan Anh luôn luôn dùng nhân xưng đại danh từ chúng tôi và để chỉ mình ông dùng tiến tôi. Cách thức làm việc quan niệm và tư cách của Phan Anh được biểu lộ qua chi tiết này. Phan Anh đã không đặt cái tôi lên trên tập thể trí thức mà ông chỉ là một.

Về những ngày cuối của chính phủ Trần Trọng Kim và những nỗ lực của chính phủ này cũng như của Hoàng đế Bảo Đại, Phan Anh đã nhận định và kể lại:

“Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông thấy rõ. Chính phủ ấy khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đã tự coi không phải là những người ‘lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước’, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hòa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim.
 
Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy. Đấy tôi khẳng định như vậy đấy. Nhưng cũng phải có chứng cớ. Đây chứng cớ: Ngay ngày hôm sau mà chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng thì chính phủ Trần Trọng Kim đệ đơn từ chức lên nhà vua và thông báo tin ấy cho tất cả các tỉnh, đồng thời nói ý định của mình nói sẵn sàng giao quyền cho quốc dân [người viết bài này đánh máy đậm]. Cụ thể hơn nữa, Chính phủ gửi thông điệp cho các nhân vật ghi trong thông điệp cho các nhân vật đại diện cho tất cả các giới và các địa phương, mời đi Huế để nghiên cứu vấn đề thành lập một chính phủ mới.
 
Trong số các nhân vật ghi trong thông điệp, tôi nhờ có hai vị mà ai cũng biết thuộc tổ chức Việt Minh. Đó là hai bạn tôi, anh Bùi Công Trừng một nhà cách mạng và cộng sản trứ danh và anh Lê Văn Hiến, sau này trở thành Bộ trưởng Tài chính. Hai nhân vật thuộc miền Nam. Lẽ dĩ nhiên thông điệp trên đã không có thể chấp hành được, bởi vì Việt Minh chủ trương khác. Phong trào do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã khởi động (người viết bài này dành chữ đậm).” [13]

Nhưng ít nhất Phan Anh cũng là một trong những người mang thông điệp này ra Bắc và nửa đường thì ông đã bị Việt Minh bắt, theo báo cáo của những người bắt ông, như là một đại Việt gian.

Trên đây là một số chi tiết liên hệ tới một biến cố vô cùng lớn lao và vô cùng quan trọng. Biến cố này đã làm thay đổi hoàn toàn sự diễn tiến của lịch sử dân tộc Việt Nam về đủ mọi phương diện. Đường lối được gọi là cách mạng hiểu theo nghĩa đơn giản ban đầu bởi người dân bình thường và ngay cả những trí thức yêu nước và luôn cả Bảo Đại khi ông thoái vị, đã không được giữ như mọi người mong muốn. Mặt trận Việt Minh ngay từ đầu đã chủ trương cướp chính quyền để thực hiện cách mạng theo đường lối riêng của họ. Họ “có chủ trương khác” theo Phan Anh.

Đó không phải là chủ trương và đường lối của Hoàng đế Bảo Đại khi còn ở ngôi cũng như của đa số các trí thức và những người trẻ đương thời, điển hình là những người tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, những người không phải chỉ là xu thời mà có những cái nhìn rất rõ rệt và thực tế về tình hình Việt Nanh ở thời điểm đương thời đã suy nghĩ và hành động nhất trí từ đầu cho đến chót, đã thực hiện được những thành quả vô cùng quan trọng trong phạm vi nội trị và luôn cả đã giữ cho người Việt và nhất là giới thanh niên đứng ngoài cuộc chiến đã đến ngày tàn của người Nhật, khỏi phải chết oan uổng và mang tiếng là theo phe bại trận. Đây không phải là một việc làm đơn giản và dễ dàng.

Những cố gắng của Trần Trọng Kim, Phan Anh, nói riêng và cả chính phủ đương thời, đứng sau là Hoàng đế Bảo Đại phải được ghi nhận khi người ta nói tới những thành quả họ đã đạt được trong một thời gian ngắn ngủi kỷ lục mà họ lãnh trách nhiệm lèo lái đất nước vào thời điểm vô cùng khó khăn tế nhị đó. Sự tế nhị này có thể được thấy rõ một phần nào nếu người ta để ý tới cuộc tiếp kiến Tsuchihashi Yuichi của Bảo Đại vào cuối tháng 5.1945, khi viên tướng Tổng Tư lệnh quân đội Nhật ghé qua Huế, ở hoàng cung và yêu cầu nhà vua hạ lệnh động viên, coi như một hành động biểu lộ sự hỗ trợ Thiên hoàng với chủ trương Đại Đông Á cùng cách trả lời vừa khéo léo vừa khẳng định quyền tự do nhận định về quyền lợi của đất nước và dân tộc mình. [14]

__________________

(1/9/2005)

Chú Thích:

[1] Phạm Cao Dương, “Sau 60 năm nhìn lại: 19/8/1945 – 2/9/1945 – Cách mạng hay cướp chính quyền? – Lịch sử nào cho tuổi trẻ học đường Việt Nam?” http://danluan.org/node/2269(BT)

[2] Tr. 443-445; tái bản bổ sung năm 2000, NXB Văn học, Hà Nội, đổi tên là Hồi ký Thanh Nghị, bài này bị bỏ (chú thích của Thụy Khuê).

[3] Califomia: Văn Nghệ, 2002, tr. 125-169 và 171-182.

[4] Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 370-378.

[5] Thụy Khuê, sđd, tr. 126.

[6] Thụy Khuê, sđd, tr. 128.

[7] Thụy Khuê, sđd, tr. 133.

[8] Một cơn gió bụi, sđd, tr. 49.

[9] Một cơn gió bụi, sđd, tr. 51.

[10] Thụy Khuê, sđd, tr. 178-174.

[11] Thụy Khuê, sđd, tr. 174.

[12] Thụy Khuê, sđd, tr. 174 – 175.

[13] Thụy Khuê, sđd, tr. 180 – 181.

[14] S.M. Bao Dai. Le Dragon d’annam. Paris, Plon, 1980. tr. 108-109.
Nguồn: Tạp chí Khởi Hành số 129, tháng 7.2007, tr. 26-28.

———-

https://kimdunghn.wordpress.com/2014/05/31/ve-chinh-phu-cua-bao-dai-va-tran-trong-kim/

https://nghiencuulichsu.com/2014/05/29/ve-chinh-phu-cua-bao-dai-va-tran-trong-kim

______

Bài báo viết về sự liên hệ của nhóm OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ với HCM năm 1944 và 1945.

Henry Prunier kể lại rằng quân đội Mỹ đã từ chối lời đề nghị của ông Hồ Chí Minh muốn hiến dâng gái đẹp người Việt và thảo mộc kích dục cho quân Mỹ.

http://nytimes.com/2013/04/18/world/asia/henry-a-prunier-army-operative-who-helped-trained-vietnamese-troops-dies-at-91.html?

Posted in Bối cảnh lịch sử 1945, Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »