Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Cướp Đất Đai’ Category

►Đắk Lắk yêu cầu cán bộ huyện kê khai: Kết quả thống kê: 50% cán bộ đảng kê khai đang quản lý sử dụng  2000 hecta đất rừng huyện Ea Súp! 50% còn lại chưa trả lời! 

Posted by hoangtran204 trên 08/01/2018

 

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Công bố kết luận Yên Bái, kỷ luật hàng loạt cán bộ lãnh đạo cấp tỉ

Posted by hoangtran204 trên 23/10/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Cướp Đất Đai, Thời Sự | Leave a Comment »

►Tàn phá rừng tỉnh Gia Lai bán 500.000 mét khối gỗ trong năm 2011- 2012: “Chúng ta giỏi quá! Chuyển hết rừng giàu thành… rừng nghèo’

Posted by hoangtran204 trên 11/10/2017

Ngoài khơi Vũng Tàu thì 

Trong thành phố, thì cướp đất đai giao cho doanh nghiệp xây cao ốc, rồi chia chát cho nhau. 

Trên rừng, chúng vờ lên kế hoạch cho thuê đất trồng cao su, nhưng thực chất là chặt cây rừng bán gỗ. Hoặc, 18 tỉnh phía Bắc đã cho Trung Quốc thuê 292.000 mẫu đất trồng rừng thời gian 50 năm (Coi cuối bài này). 

 

Đọc tiếp »

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Bản lĩnh tỷ phú Phạm Nhật Vượng: biến công an nhân dân thành đầy tớ tư nhân- biến đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thành tài sản tư nhân

Posted by hoangtran204 trên 09/10/2017

Ông mua hết báo chí. Ngoài các tin tức do ông muốn đưa ra trên truyền thông, không một tin tức nào mang tính chất bất lợi về bản thân của ông và về các tập đoàn có chữ Vinxxx được xuất hiện trên báo chí, và các website. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp Đất Đai, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Đôi lời với ông Trường SunGroup: Về chuyện Sơn Trà

Posted by hoangtran204 trên 14/09/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Cướp Đất Đai, Luật Pháp, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Phỏng vấn ông Trịnh Vĩnh Bình kiện nhà cầm quyền Việt Nam ra tòa án quốc tế ngày 21-8-2017 đòi bồi thường 1,5 tỷ USD

Posted by hoangtran204 trên 10/07/2017

9-7-2017

Đọc tiếp »

Posted in Cướp Đất Đai, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Bên trong sân gôn 157 hecta của sân bay Tân Sơn Nhất có gì

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2017

Sân Gôn Tân Sơn Nhất rộng 157 hecta, 36 lỗ.

Sân bay Tân Sơn Nhất từ thời Việt Nam Cộng Hòa rộng 3400 hecta.

 

Đọc tiếp »

Posted in Cướp Đất Đai, Lưu manh đỏ, Quân Đội: chiếm đất đai | Leave a Comment »

►Thông tin xung quanh vụ “lộ” tài liệu thân thế của Vũ Nhôm và Bùi Cao Nhật Quân-thu tóm

Posted by hoangtran204 trên 11/05/2017

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp Đất Đai, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Hà Tĩnh biểu tình lỗi do chính phủ

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2017

Người Buôn Gió
4-4-2017
 
Khi thảm hoạ cá chết lan tràn ở miền Trung, ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư đảng CSVN đến thăm khu công nghiệp Formosa vào ngày 22 tháng 4 năm 2016, (xem hình dưới đây)

Đọc tiếp »

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biểu Tình và Lập Hội, Cướp Đất Đai, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm | Leave a Comment »

Bị can vụ bắn người ở Đăk Nông nhờ báo Dân Việt dẫn ra đầu thú

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2016

ĐỘC QUYỀN: Chùm ảnh bị can vụ bắn người ở Đăk Nông ra đầu thú

Thứ Sáu, ngày 28/10/2016, 14:00

Sau quá trình vận động của người thân và sự đảm bảo được gặp cán bộ cơ quan điều tra của Bộ Công an, bị can Đặng Văn Hiến, một trong những nghi phạm gây ra vụ nổ súng khiến 3 người chết, 16 người bị thương ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông đã ra đầu thú.

Dưới đây là hình ảnh về Đặng Văn Hiến- bị can trong vụ án bắn chết 3 bảo vệ và nhiều người bị thương.

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 1

Hiện trường nơi xảy ra vụ nổ súng khiến 3 người chết, 16 người bị thương ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 2

Cơ quan điều tra vượt địa hình lầy lội, đi lại khó khăn để tiếp cận hiện trường

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 3

Sau nhiều ngày lẩn trốn, Đặng Văn Hiến một trong những bị can gây ra vụ nổ súng đã ra đầu thú và bật khóc khi cán bộ điều tra C45 Bộ Công an hỏi “Hiến khỏe không? Em có ăn uống đầy đủ không?”

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 4

Đặng Văn Hiến được đưa ra khỏi tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông.

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 5

Sau đi bộ khoảng 2km thì bị can Hiến được đưa lên xe máy đi ra tiếp bên ngoài.

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 6

Đặng Văn Hiến ôm con và chào mẹ nuôi khiến những người xung quanh đều rơi nước mắt

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 7

Hiến chào…

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 8

Và những người thân đến động viên

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 9

Hiến ôm và dặn con ở nhà ngoan nghe lời các bác

doc quyen: chum anh bi can vu ban nguoi o dak nong ra dau thu hinh anh 10

Bị can Hiến bị cơ quan công an đưa lên xe ô tô đi về cơ quan điều tra.

http://danviet.vn/phap-luat/doc-quyen-chum-anh-bi-can-vu-ban-nguoi-o-dak-nong-ra-dau-thu-718936.html

________

Bị can vụ bắn chết 3 người nhờ Báo Dân Việt dẫn ra đầu thú

Thứ Sáu, ngày 28/10/2016, 09:00

Sau nhiều ngày lẩn trốn, trưa 27.10, bị can Đặng Văn Hiến – người bị truy nã liên quan vụ án chấn động bắn 19 người thương vong tại Tuy Đức, Đắk Nông và người nhà đã liên hệ với Báo Nông thôn Ngày nay (NTNN)/Dân Việt, nhờ đưa ra đầu thú…

bi can vu ban chet 3 nguoi nho bao dan viet dan ra dau thu hinh anh 1

Cán bộ điều tra Bộ Công an tiếp nhận bị can Đăng Văn Hiến ra đầu thú.

Sáng nay (28.10), lực lượng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C45 – Bộ Công an) đã đến huyện Tuy Đức để làm thủ tục tiếp nhận bị can ra đầu thú đối với ông Đặng Văn Hiến (SN 1976, ngụ xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, Đắk Nông) – người bị truy nã liên quan vụ án chấn động bắn 3 người chết, 16 người bị thương.

Trước đó, ngày 27.10, ông Hiến và gia đình đã nhờ Báo NTNN/Dân Việt đưa ông ra đầu thú. Báo NTNN/Dân Việt đã liên hệ với Cục C45 theo quy định của pháp luật, đồng thời có buổi làm việc với lãnh đạo C45 phía Nam để bàn phương án tuyệt đối an toàn, đồng thời đảm bảo tốt nhất quyền lợi của ông Hiến.

Trong đêm 27.10, nhóm phóng viên Báo NTNN/Dân Việt và luật sư Nguyễn Kiều Hưng (Trưởng Hãng luật Giải Phóng – Đoàn luật sư TP.HCM) đã đến Tuy Đức để tiếp cận, động viên người thân ông Hiến vì gia đình cần luật sư hỗ trợ, đồng thời chờ Cục C45 đến để tiếp nhận bị can. Do khu vực xảy ra vụ án hiện đang phức tạp, có nhiều đối tượng lạ mặt nên gia đình ông Hiến đề nghị được làm thủ tục tiếp nhận gần hiện trường vụ án ở sâu trong rừng để đảm bảo an toàn.

bi can vu ban chet 3 nguoi nho bao dan viet dan ra dau thu hinh anh 3

Bị can Đặng Văn Hiến (đội mũ) được đưa ra ngoài hiện trường xảy ra vụ án.

Rạng sáng nay (28.10), lực lượng Cục C45 đã có mặt tại bìa rừng, cùng phóng viên Báo NTNN/Dân Việt vào rừng gặp ông Hiến.

Sau khi làm thủ tục, ông Hiến theo các cán bộ ra khỏi rừng và không bị còng tay. Trên đường đi, những đoạn lầy lội, ông Hiến còn giúp cán bộ đẩy xe khỏi vũng lầy. Sau đó, ông Hiến đã cùng đoàn về thẳng C45 phía Nam để lấy lời khai.

bi can vu ban chet 3 nguoi nho bao dan viet dan ra dau thu hinh anh 4

bi can vu ban chet 3 nguoi nho bao dan viet dan ra dau thu hinh anh 5

Bị can Hiến bật khóc.

>> XEM THÊM: ĐỘC QUYỀN: Chùm ảnh bị can vụ bắn người ở Đăk Nông ra đầu thú <<

Trước đó, ngày 26.10, Viện KSND tỉnh Đắk Nông đã phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án giết 3 người và làm 16 người bị thương tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức. Viện cũng đồng thời phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và lệnh truy nã đối với Đặng Văn Hiến (SN 1976, trú tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực).

Công an tỉnh Đắk Nông đã có thư kêu gọi gia đình, người thân vận động và bản thân người phạm tội đến đầu thú tại cơ quan công an nơi gần nhất để được hưởng chính sách khoan hồng.

bi can vu ban chet 3 nguoi nho bao dan viet dan ra dau thu hinh anh 6

Bị can Hiến ôm con trai trước khi về Cục C45 – Bộ Công an.

Như Dân Việt đã thông tin, ngày 23.10, trong quá trình tổ chức san ủi mặt bằng đất dự án tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, nhóm công nhân, bảo vệ của Công ty TNHH thương mại Long Sơn đã có xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, xô xát với nhóm người dân địa phương. Khoảng 8h cùng ngày, một số trong nhóm người dân địa phương đã dùng súng tự chế (bắn đạn hoa cải) và súng thể thao bắn vào số công nhân và bảo vệ của Công ty Long Sơn khiến 3 người thiệt mạng và 16 người khác bị thương.

Nhóm PV

______

U.S. prosecutors regroup for second trial in Oregon occupation

28-10-2016

…The acquittal on criminal conspiracy counts and weapons charges delivered in federal court in Portland on Thursday also encouraged the group’s supporters…

 

http://reuters.com/article/idUSKCN12S2PC?utm_campaign=trueAnthem:+Trending+Content&utm_content=581403cf04d3013b6398749c&utm_medium=trueAnthem&utm_source=facebook

Posted in Cướp Đất Đai, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Chính sách hợp tác xã nông nghiệp và nạn đói dưới thời Stalin và Mao Trạch Đông

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2016

Hợp tác xã nông nghiệp là chính sách của đảng cộng sản, tịch thu ruộng đất của nông dân để thành lập nông trại lớn, và đẩy nông dân vào làm trong hợp tác xã nông nghiệp. Người nông dân được chia sản phẩm đủ ăn, còn hợp tác xã lấy hết phần còn lại (để nộp cho huyện, huyện chuyển lên tỉnh, và giao cho trung ương) sau khi chia lúa gạo cho nông dân và gia đình theo chế độ khẩu phần, 13-15 kg/ 1 người/ một tháng. Tất cả nông dân trở thành người làm thuê cho đảng (đểu).

Sau khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, từ 1953-1956, nhà nước  (giả vờ) chia ruộng đất vừa mới tịch thu của nông dân giàu (hay địa chủ) chia cho các nông dân VN nghèo. Nhưng sau khi cho họ làm ruộng được 3 năm, thì nhà nước phát động phong trào thi đua vào hợp tác xã, lấy đất lại, và bắt buộc tất cả nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp kể từ 1959. Vậy là quyền làm chủ đất đai lọt vào tay đảng CSVN (đểu). Nhưng bọn chúng tìm cách lừa đảo người dân bằng cách các thuật ngữ: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hầu hết, mọi người sẽ nghĩ là: ôi, cộng sản tốt quá, đất đai thuộc về toàn dân, mọi người đều sẽ có đất đai, để làm ruộng, để xây nhà… nên người dân từ trí thức như luật sư, kỹ sư, thầy giáo, nông dân nghèo, học sinh… đều muốn đi theo “bác Hồ”.  Về sau, khi chiếm được miền Bắc 1954, chúng mới giải thích rõ ràng như sau: sở hữu toàn dân tức là sở hữu tập thể, tức thuộc sở hữu nhà nước, và đất đai là do đảng quản lý! Cán bộ cao cấp của đảng cộng sản VN được cấp hơn 600 biệt thự do Pháp để lại, và các biệt thự của những gia đình di cư vào miền Nam năm 1954 trốn tránh cộng sản. Những cán bộ nhỏ, công chức, nhà văn theo đảng, nhà báo, thầy cô giáo với gia đinh được ở tập thể, họ chia nhau 4-5 gia đình ở chung 1 nhà; rất là chật chội.

Dân chúng miền Bắc VN bị đói triền miên kể từ khi có hợp tác xã nông nghiệp 1960 cho đến 1987. Kiểm soát lúa gạo là kiểm soát được người dân.

Ông HCM và Lê Duẩn biết rõ miền Bắc không thể tự túc lương thực, và cũng không đủ khả năng để xây dựng nền công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp vì theo tiểu sử, ông Hồ chưa học xong lớp 7, và Lê Duẩn chỉ học tới lớp 4. Họ chiếm được miền Bắc nhờ Trung Cộng và Liên Xô giúp đỡ, nên phải nghe lệnh Liên Xô và Trung Cộng gây chiến tranh giải phóng miền Nam đổi lấy cái ăn. Cả hai ông xin TQ và Liên Xô viện trợ vũ khí và chính thức phát động chiến tranh giải phóng miền năm 1960 để có cái ăn do hai nước đàn anh cung cấp, và cả hai dự định rằng sau khi cướp được miền Nam, thì các hợp tác xã ở miền Nam sẽ cung cấp lúa gạo nuôi miền Bắc, và không còn lo đói nữa.

Nhưng sau khi cộng sản chiếm được miền nam 1975, người nông dân miền Nam không chịu vào hợp tác xã, ở nhiều vùng, họ giao đất đai cho chính quyền xã muốn làm gì thì làm. Thế là cả nước đói từ 1975-1987 cho đến khi Lê Duẩn chết. Vì lo sợ nông dân đang đói sẽ nổi loạn, nên đảng CSVN không còn nhắc nhở gì đến hợp tác xã nông nghiệp, và nông dân tự do làm ruộng, nạn đói ở VN biến mất kể từ sau 1990.

Sau khi Lê Duẩn chết 7/1986, bọn cộng sản cao cấp ở Hà Nội và các tỉnh thành phố đã nhanh tay chiếm làm của riêng tất cả đất đai đắc địa trong các thành phố, các tỉnh, và vùng bờ biển, chiếm rừng cao su, chiếm các đất hoang chưa có ai làm chủ… Vì trong tay có quá nhiều đất đai và nhà cửa, chúng muốn hợp pháp hóa tài sản của chúng nên đặt ra việc cấp sổ đỏ vào năm 1993. Nhà đất phải có sổ đỏ để xác nhận mình là chủ nhà hay chủ đất. (Trần Hoàng ghi chú)

Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

Nghiên cứu Quốc tế

Biên dịch: Ngô Việt

Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

16-11-2010

Bài báo

Bài báo viết về 6 triệu người chết trong nạn đói ở Liên Xô. Ảnh: Project Syndicate

 

 

 

 

 

Nông dân của hợp tác xã nông nghiệp đang làm việc trên nông trường (Trần Hoàng chú thích) – Ảnh nepalitimes.com

Tám mươi năm trước, vào mùa thu năm 1930, Joseph Stalin đã áp đặt một chính sách làm thay đổi tiến trình lịch sử và đã gây nên cái chết của hàng chục triệu người trong nhiều thập niên và ở khắp thế giới.

Trong chiến dịch “Hợp tác hóa” nông nghiệp đại quy mô và đầy bạo lực, Stalin đã đặt quyền kiểm soát nền nông nghiệp Liên Xô vào tay nhà nước.

Stalin theo đuổi chính sách hợp tác hóa nông nghiệp mặc cho những đợt chống đối quy mô lớn sau nỗ lực áp dụng chính sách lần đầu tiên của nhà chức trách Liên Xô vào mùa xuân trước đó (1929). Giới lãnh đạo Liên Xô đã dựa vào việc bắn giết và trục xuất tới các trại gulag (lao động khổ sai) nhằm ngăn chặn những sự chống đối. Nhưng người dân Liên Xô vẫn chống cự với số lượng lớn; những người du mục Kazakh trốn qua Trung Quốc, còn những người nông dân Ukraine thì trốn qua Ba Lan.

Vào mùa thu, những vụ bắn giết và trục xuất vẫn tiếp diễn, cùng với những cưỡng bức về kinh tế. Nông dân bị đánh thuế cho đến khi họ tham gia hợp tác xã, và các nông trường hợp tác được quyền tịch thu hạt giống của các nông dân làm ăn cá thể, được dùng để trồng cho mùa vụ năm tới.

Khi nền nông nghiệp Liên Xô đã hoàn toàn bị hợp tác hóa thì nạn đói cũng bắt đầu. Bằng cách tước đoạt ruộng đất của nông dân và biến họ trên thực tế trở thành nhân viên nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp cho phép Moskva quản lý cả con người lẫn những sản phẩm của họ.

Nhưng sự kiểm soát không phải là sự sản suất ra vật chất. Nó chứng tỏ sự bất khả thi trong việc biến những người du mục Trung Á thành những người nông dân làm việc hiệu quả chỉ trong thời gian một mùa vụ. Bắt đầu từ năm 1930, khoảng 1,3 triệu người ở Kazakhstan đã chết đói khi lượng thu hoạch ít ỏi của họ bị trưng thu theo lệnh của trung ương.

Ở Ukraine, mất mùa vào năm 1931. Có nhiều lý do dẫn đến mất mùa: thời tiết xấu, côn trùng gây hại, những thiếu hụt về sức kéo cày của động vật sau khi những người nông dân giết hết gia súc để tránh bị mất vào tay hợp tác xã, thiếu máy cày, những đợt bắn giết và trục xuất những nông dân giỏi nhất, và những gián đoạn về gieo hạt và thu hoạch bởi quá trình hợp tác hóa nông nghiệp.

“Làm sao mà người ta trông cậy vào chúng ta để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,” một người nông dân Ukraine hỏi, “khi mà tất cả chúng ta đều bị  đói?”

Bây giờ chúng ta biết, sau 20 năm tìm hiểu các tài liệu của Liên Xô, rằng vào năm 1932 Stalin đã cố tình chuyển đổi (đổ thừa nguyên nhân) nạn đói do vào hợp tác xã ở Ukrane là do động cơ chính trị. Stalin đọc diễn văn nói rằng sự mất mùa là dấu hiệu phản kháng của người Ukraine, và đòi hỏi phải cứng rắn chứ không được nhân nhượng.

Khi nạn đói bắt đầu lan rộng vào mùa hè năm đó, Stalin giải thích một cách rõ ràng hơn, rằng nạn đói là do phá hoại, các nhà hoạt động cộng sản địa phương là những kẻ phá hoại, được bảo vệ bởi giới chức cấp cao hơn ở khu vực, và tất cả đều ăn tiền của những điệp viên nước ngoài. Vào mùa thu năm 1932, điện Kremlin ra một loạt những nghị định với hậu quả đảm bảo khiến nhiều người chết. Một trong những nghị định trên là cắt đứt toàn bộ hàng tiếp tế cho những cộng đồng không đạt được mức thu hoạch ngũ cốc tối thiểu.

Cùng lúc đó, những người cộng sản chiếm đoạt tất cả những thực phẩm họ có thể tìm được, “đến từng hạt lúa nhỏ bé cuối cùng,” và vào đầu năm 1933 biên giới Ukraine bị đóng lại, để ngăn cản những người đang dần chết đói tìm kiếm sự trợ giúp. Những nông dân chết dần chết mòn phải thu hoạch vụ xuân dưới họng súng của các tháp canh.

Hơn 5 triệu người chết đói hoặc chết vì những căn bệnh có liên quan đến đói khát ở Liên Xô vào đầu thập niên 1930, trong đó 3,3 triệu người chết ở Ukraine, và trong con số đó 3 triệu người có thể đã sống sót nếu Stalin đơn thuần chỉ tạm ngưng thu mua và xuất khẩu trong vài tháng và cho phép người dân được tiếp cận các nguồn cung cấp lúa mì.

Những sự kiện này vẫn là trọng tâm của chính trị Đông Âu cho đến ngày hôm nay. Mỗi tháng 11, người Ukraine tưởng niệm những nạn nhân của năm 1933. Nhưng Viktor Yanukovych, tổng thống đương nhiệm (vào thời điểm của bài viết – ND), không công nhận sự thống khổ đặc biệt của người Ukraine, như một cách đồng ý theo quan điểm lịch sử của Nga, vốn tìm cách để làm lu mờ những tác hại cụ thể của chính sách hợp tác xã nông nghiệp thành một thảm kịch mơ hồ đến mức không có nạn nhân và những thủ phạm rõ rệt.

Rafal Lemkin, luật sư người Ba Lan gốc Do Thái, người đã lập nên khái niệm “genocide” (diệt chủng) và nghĩ ra thuật ngữ này, sẽ phản đối điều đó: ông gọi nạn đói ở Ukraine là một ví dụ điển hình về diệt chủng dưới ở Liên Xô. Như Lemkin nhận định, khủng bố diễn ra sau nạn đói: những người sống sót qua nạn đói và trại cải tạo trở thành những nạn nhân tiếp theo của Stalin. Cuộc đại thanh trừng vào thời kỳ 1937-1938 bắt đầu bằng một chiến dịch bắn giết nhắm phần lớn vào nông dân, cướp đi mạng sống của 386.798 người khắp Liên Xô, đa số nạn nhân ở Ukraine.

Hợp tác xã nông nghiệp có tác động lâu dài. Khi Đức Quốc xã xâm lược phía Tây Liên Xô, người Đức giữ nguyên những nông trường hợp tác xã, vì họ coi nó như là một công cụ cho phép họ điều động thực phẩm Ukraine cho những mục đích riêng của họ, và bỏ đói những ai mà họ muốn.

Sau khi Mao khởi động cuộc cách mạng năm 1949, những người cộng sản Trung Quốc bắt chước kiểu mẫu phát triển hợp tác xã theo kiểu Stalin. Sự kiện này làm cho 30 triệu người Trung Quốc đã chết đói trong giai đoạn 1958-1961, trong một nạn đói rất giống như ở Liên Xô. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu Mao cũng được thi hành bằng những chiến dịch bắn giết trên quy mô lớn.

Thậm chí bây giờ, hợp tác xã nông nghiệp là nền tảng của bạo quyền ở Triều Tiên, nơi mà hàng trăm ngàn người chết đói vào thập niên 1990.

Và ở Belarus, nền độc tài duy nhất còn sót lại ở châu Âu, hợp tác xã nông nghiệp không bao giờ chấm dứt, và một cựu giám đốc hợp tác xã nông nghiệp, Aleksandr Lukashenko, đang đứng đầu đất nước.

Lukashenko đang tranh cử tổng thống tiếp tục nhiệm kỳ lần thứ tư vào tháng 12/2010. Bằng cách kiểm soát đất đai, ông ta cũng kiểm soát phiếu bầu. Tám mươi năm sau phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, thế giới của Stalin hiện nay vẫn còn tồn tại với  chúng ta.

Timothy Snyder là giáo sư lịch sử tại Đại học Yale. Cuốn sách mới nhất của ông là Bloodlands: Europe Between Hitler and Stalin.

Nguồn: Timothy Snyder, “Stalin, our contemporary”, Project Syndicate, 16/11/2010

Các bạn có thể xem bài báo “Stalin, Our Contemporary” ở đây, nepalitimes.com 

_______

Phim 8 tâp

_______

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Việc thanh tra toàn diện vụ tham nhũng AVG ở Mobifone liệu đã bắt đầu chưa?

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2016

Phạm Nhật Vượng và Nguyễn Tấn Dũng là 1 cặp bài trùng hơn 20 năm qua kể từ thập niên 1990s, lúc NTD lên làm thống đốc Ngân Hàng Trung Ương, rồi phó Thủ Tướng, và sau cùng là Thủ tướng VN 2006-2016. PNV chọn lựa đất đai nào ở Hà Nội, Sài Gòn, và các tỉnh mà hắn muốn làm chủ, và NTD và phe nhóm sẽ bằng mọi cách thu tóm giao cho PNV đầu tư xây dựng làm chủ hoặc bán. Cả hai kín đáo ăn chia từ chiếm dụng bất động sản, làm chủ các tập đoàn viễn thông… Loạt bài dưới đây là một mảng nhỏ của sự hợp tác làm ăn giữa hai gia đình.

Kỳ 5: Việc thanh tra toàn diện vụ tham nhũng AVG ở Mobifone liệu đã bắt đầu?

5-6-2016

H1

Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà

Mời xem lại: Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của MobifoneKỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở MobifoneKỳ 3: Sau AVG, Lê Nam Trà và Nguyễn Thanh Phượng đang âm mưu những gì ở Mobifone?  —  Kỳ 4: Mobifone ngang nhiên thách thức các nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ

Như chúng ta đã biết, việc Chủ tịch Mobifone Lê Nam Trà đã chỉ đạo và ký hết hợp đồng Mobifone mua Đài truyền hình AVG (của Phạm Nhật Vũ – em trai Phạm Nhật Vượng) vào tháng 12/2015 là một vụ tham nhũng hết sức nghiêm trọng trong ngành viễn thông Việt Nam, hiện đang được dư luận cả nước hết sức quan tâm.

Công ty chứng khoán Bản Việt (của cựu “công chúa” Nguyễn Thanh Phượng) chính là công ty tư vấn định giá trong vụ Mobifone mua AVG. Nguyễn Thanh Phượng đã đứng sau dàn xếp “quân xanh, quân đỏ” (giữa một số công ty tài chính trong và ngoài nước) để tâng giá của AVG từ mức 1.000 tỷ đồng thành 9.300 tỷ đồng. Việc này đã tạo điều kiện để Phượng, Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ, Nguyễn Bắc Son, Phạm Đình Trọng… rút tiền của Nhà nước gần 8.000 tỷ đồng.

Số tiền tham nhũng này đang nằm ở đâu? Bao nhiêu trong số tiền đó biến thành bất động sản trong và ngoài nước từ Vincom? Bao nhiêu trong số đó đang nằm ở tài khoản nước ngoài tại các “thiên đường thuế” như Panama, đảo quốc Virgin…? Điều này chắc chỉ có Phượng, Phạm Nhật Vũ, Lê Nam Trà và một vài quan chức trong cuộc chơi biết được!

Cũng không rõ vì lý do gì mà toàn bộ công văn, hồ sơ vụ mua bán AVG giữa Mobifone và Bộ Thông tin Truyền thông đều được Bộ Công An đóng dấu “mật”. Tại sao việc giải ngân một số tiền lớn của Nhà nước để mua đống sắt vụn AVG lại bị Lê Nam Trà và một số quan chức trong cuộc giấm dúi, che đậy như vậy?

Trong số tài sản AVG mà Phạm Nhật Vũ đã bán cho Mobifone, có một tài sản vô hình rất quan trọng là 2 băng tần mà Bộ Thông tin Truyền thông cấp cho AVG từ năm 2009 (như Nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son đã nói là “mỗi băng tần trị giá đến hàng trăm triệu USD” và ông ta đã hứa mồm là sẽ cấp cho Mobifone – trước thềm thương vụ Mobifone ký mua AVG vào cuối tháng 12/2015). Tuy nhiên, rất tiếc là AVG chỉ được sử dụng 2 băng tần nói trên đến hết năm 2017; sau đó, Bộ Thông tin Truyền thông sẽ thu hồi 2 băng tần này và cấp cho các doanh nghiệp viễn thông theo nguyên tắc đấu giá công khai, minh bạch.

Giá mua AVG được Lê Nam Trà tâng lên đến 9 lần, quy trình mua AVG thì Mobifone đã vi phạm nghiêm trọng quy định đầu tư của Nhà nước. Vậy vụ việc này sẽ được Lê Nam Trà (vốn nổi tiếng là giàu bậc nhất trong hàng ngũ các chủ tịch tập đoàn nhà nước) chạy vạy cho chìm xuồng hay đây sẽ là điểm khởi đầu của chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” của Đảng và Chính phủ mới trong vài tháng tới?

Với việc Mobifone “xuống tiền” mua AVG một cách vội vã và thiếu minh bạch, với giá trị cao hơn nhiều lần giá trị thực; giá trị doanh nghiệp của Mobifone khi định giá để cổ phần hóa sẽ bị giảm ít nhất là 2 tỷ USD đến 3 tỷ USD (kể cả định giá theo phương pháp dòng tiền). Ngoài ra, giá trị định giá Mobifone (mà Bộ Thông tin Truyền thông đang trình Chính phủ) căn cứ chủ yếu theo giá trị tài sản của Mobifone ở thời điểm 30/6/2015. Với việc Mobifone mua AVG vào cuối tháng 12/2015 (một giao dịch trọng yếu chiếm 2/3 tài sản của Mobifone) thì rõ ràng Mobifone phải định giá lại gia trị doanh nghiệp (căn cứ theo giá trị tài sản vào ngày 31/12/2015).

Hiện nay, một số ban của Đảng đang tập trung thu thập hồ sơ vụ án AVG. Thanh tra Chính phủ đang chính thức điều tra vụ việc này tại Mobifone và đã có những can thiệp ban đầu để hạn chế thiệt hại của vụ AVG đối với Mobifone nói riêng và tài sản của Nhà nước nói chung.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa có lời phát biểu quan trọng: “Đảng viên hư sẽ làm mất niềm tin của nhân dân”. Hiện nay, rất nhiều cán bộ nhân viên của Mobifone cũng như của ngành viễn thông Việt Nam và dư luận nhân dân cả nước nói chung đang chờ đợi kết quả thanh kiểm tra của các cơ quan đảng, chính phủ đối về vụ tham nhũng AVG tại Mobifone để làm rõ sai phạm của Lê Nam Trà (ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ khối Doanh nghiệp Trung ương – nơi vốn rất nổi danh với các đồng chí “đã bị đem ra ánh sáng” như Phạm Thanh Bình, Dương Chí Dũng…), Phạm Nhật Vũ và các cá nhân liên quan.


 

Kỳ 4: Mobifone ngang nhiên thách thức các nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ

Nguyễn Văn Tung

4-5-2016

Mời xem lại: Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của Mobifone  — Kỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở Mobifone  —  Kỳ 3: Sau AVG, Lê Nam Trà và Nguyễn Thanh Phượng đang âm mưu những gì ở Mobifone?

Lê Nam Trà nhận chức Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng công ty Viễn thông Mobifone vào cuối năm 2014. Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ truyền thống, giá trị bền vững hơn 20 năm của Mobifone bị hủy hoại, thay vào đó là một văn hóa đậm màu “tham nhũng”.

Lê Nam Trà bổ nhiệm hàng loạt các đệ tử miền Nam thân tín vào các vị trí quan trọng. Có những người năng lực vừa phải, thành tích không có gì nổi bật nhưng được liên tục bổ nhiệm, thăng chức 2,3 lần trong 1 năm. Nhiều nhân sự giỏi được bố trí không đúng chuyên môn, nhiều nhân sự yếu kém được cho quản lý những mảng quan trọng. Việc xáo trộn này gây hoang mang, bức xúc cho cán bộ công nhân viên và còn ảnh hưởng lâu dài đến chặng đường phát triển tiếp theo.

Tràn ngập công ty sân sau

Các công ty sân sau mà Lê Nam Trà đưa ra từ miền Nam và một vài sân sau ở Miền Bắc ra đang trúng thầu hàng loạt các dự án đầu tư trọng điểm của Mobifone. Với sự chỉ đạo từ Lê Nam Trà, dự toán được đẩy cao chót vót lên 50-80%, thông số kỹ thuật, điều kiện thương mại được khóa cứng.

Thông thầu xảy ra như cơm bữa ở Mobifone.

Sưu cao thuế nặng

Dưới thời Lê Nam Trà, phần “lại quả” bị đẩy lên cao gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi so với trước đây. Các đối tác làm việc với Mobifone muốn tồn tại buộc phải chấp nhận luật chơi mới. Để đảm bảo hiệu quả, các đối tác phải thông đồng với các các cán bộ quản lý ở Mobifone để triển khai gian dối. Triển khai kém chất lượng làm mạng lưới Mobifone ngày càng đi xuống.

Mobifone – AVG

Cuối năm 2015, Lê Nam Trà ký quyết định mua 95% AVG với giá 8.900 tỷ một cách chóng vánh. Xin được nhắc lại là việc mua AVG chỉ được lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính về mặt chủ trương và tất cả nội dung chỉ gói gọn trong một tờ A4 mà không có quy mô và tổng mức đầu tư cụ thể. Việc không lập hồ sơ để trình thẩm định dự án đầu tư nhóm A là trái với quy định về sử dụng vốn và ngân sách nhà nước.

Nếu lập hồ sơ thẩm định đầy đủ, Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài Chính chắc chắn sẽ không phê duyệt vì giá trị thật sự của AVG chỉ chưa đến 1.000 tỷ đồng (Tổng tài sản 2000 tỷ, khấu hao và lỗ lũy kế 1000 tỷ, hiện tại lỗ hàng ngày đã tăng lên đến hơn 2 tỷ đồng). Vốn thực góp của Mobifone mới được tăng từ 12.000 lên 15.000 tỷ đồng vào năm 2015. Như vậy, việc mua AVG đã đốt hết 60% vốn của Mobifone, toàn bộ tích cóp 20 năm của bao nhiêu thế hệ Mobifone đã bị đổ xuống sông xuống biển.

Để nhanh chóng có được các bản báo cáo đẹp về kết quả kinh doanh của AVG, Lê Nam Trà ép toàn bộ nhân viên Mobifone, mỗi người phải mua tối thiểu 1 bộ thiết bị AVG (1 triệu/bộ). Đối với các đơn vị kinh doanh bị ép doanh số, mỗi nhân viên phải bỏ tiền túi ra mua đến cả chục bộ. Để kịp chạy doanh số báo cáo, các công ty kinh doanh phải ứng tiền ra mua hết số lượng chỉ tiêu được giao rồi đẩy thiết bị vào kho chờ bán sau. Quan trọng hơn, dưới sự chỉ đạo của Lê Nam Trà, một phần chi phí của Mobifone đang bị trộn để đẩy thành doanh thu cho AVG (Mobifone đầu tư hạ tầng, thiết bị rồi cho AVG sử dụng miễn phí, giá rẻ và ngược lại, các dịch vụ, sản phẩm của AVG được Mobifone thuê, mua lại với giá cao). Việc này sẽ làm đẹp các báo cáo về doanh thu, lợi nhuận của AVG trong ngắn hạn, không phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp.

Những sai phạm chồng chất ở Mobifone thì ai cũng biết, nhưng Lê Nam Trà vẫn rất tự tin và không ít lần khoe với các cấp dưới là đã “làm việc” xong vụ AVG với 2 đồng chí: Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm. Hiện ở Mobifone, không ai là không biết Chủ tịch Lê Nam Trà có quan hệ đặc biệt với 2 đồng chí này.

Trong tháng 5, Thanh tra Chính phủ sẽ làm việc với Mobifone, trọng tâm là các nội dung liên quan đến tham nhũng và các sai phạm trong đầu tư. Vậy vụ tham nhũng AVG hơn 8.000 tỷ ở Mobifone có được Đảng, Chính phủ quan tâm xử lý đến cùng, hay vụ việc này sẽ bị nhấn chìm và quên lãng như những gì Lê Nam Trà vẫn đang tự tin tuyên bố. Việc xử lý tham nhũng có “vùng cấm” hay không? Doanh nghiệp cần đầu tư quan hệ đến cấp Lãnh đạo nào để được đảm bảo an toàn khi tham nhũng?

___________

 

Kỳ 3: Sau AVG, Lê Nam Trà và Nguyễn Thanh Phượng đang âm mưu những gì ở Mobifone?

Nguyễn Văn Tung

21-3-2016

Bài Nguyễn Thanh Phượng và GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: internet

Bài Nguyễn Thanh Phượng và GS Ngô Bảo Châu. Ảnh: internet

Tiếp theo: Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của MobifoneKỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở Mobifone

Tháng 2 năm 2012, Nguyễn Thanh Phượng, cô con gái duy nhất của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chính thức giữ chức chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank). Như vậy, tại thời điểm đó, bà Phượng nắm trong tay tới 4 công ty khác nhau cùng có tên là Bản Việt gồm công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt (VCSC), công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt (VCAM hay Vina Capital) và công ty bất động sản Bản Việt (VCRE).

Tháng 09 năm 2015, Công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt (VCSC) được chỉ định thầu thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa và IPO cho Mobifone. Trong khi đó, Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Bản Việt (Vina Capital) từ 2013 đã âm thầm mua lại 90% các trạm xã hội hóa của Mobifone. Với những động thái này, Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà đang âm mưu những gì?

Tháng 7 năm 2011, Ngân hàng Gia Ðịnh bán 100 triệu cổ phiếu với giá 10,000 đồng/cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ từ 2000 tỉ đồng lên thành 3000 tỉ đồng. Công ty VCSC Việt của bà Phượng đứng ra lãnh vai trò tư vấn phát hành cổ phiếu nên qua đó, Nguyễn Thanh Phượng đã mua lại một lượng đáng kể cổ phần của ngân hàng Gia Định rồi trở thành thành viên Hội Ðồng Quản Trị, đổi tên ngân hàng này thành “Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt”. Kịch bản tương tự hoàn toàn có thể xảy ra với Mobifone khi VCSC tiếp tục nắm vai trò tư vấn cổ phần hóa. Thông qua việc phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ, tăng vốn góp để phục vụ phát triển công nghệ 4G, Nguyễn Thanh Phượng sẽ mua được phần lớn cổ phiếu được bán ra với vỏ bọc các Quỹ đầu tư nước ngoài. Liệu sau đó, Mobifone có bị đổi tên thành Tổng công ty Viễn thông Bản Việt?

Vina Capital đang nắm trong tay hơn 90% tổng số trạm xã hội hóa của Mobifone với số vốn bỏ ra được vay từ Ngân hàng Bản Việt. Trong số 3 nhà mạng lớn, Mobifone là đơn vị có số lượng trạm ít hơn cả nên nhu cầu tăng số lượng trạm là rất cấp thiết. Mobifone đặt mục tiêu phát sóng thêm hơn 12.000 trạm mới trong 2016. Kịch bản nào nếu VSCS “tư vấn” Mobifone mua lại từ Vina Capital toàn bộ số trạm xã hội hóa này và hoàn trả bằng cổ phiếu với giá gốc 10.000 đồng/cổ phiếu. Nguyễn Thanh Phượng đương nhiên sẽ có thêm được một số lượng lớn cổ phần của Mobifone với giá cực rẻ.

Không cần phải là chuyên gia tài chính để tính toán được lợi nhuận từ số cổ phần Mobifone mà bà Phượng sẽ nắm giữ thông qua tăng vốn và bán trạm, khi mà VCSC định giá Mobifone có giá trị sổ sách chỉ ở mức 2 tỷ USD, còn giá trị IPO dự kiến (trước khi có việc mua AVG) là 10 tỷ USD.

Lời ngỏ:

Tại thời điểm tôi viết bài này, việc điều tra những sai phạm của Mobifone và cá nhân ông Lê Nam Trà khi mua 95% cổ phần của AVG đã chính thức được bắt đầu. Bản thân ông Trà cũng đang chạy khắp các cửa để cố gắng đưa vụ việc chìm xuống. Với số tiền lớn thu được từ khoản chênh lệch gần 8000 tỷ đồng mua đắt AVG, tôi nghĩ ông Trà hoàn toàn có đủ khả năng tài chính để làm được việc này. Ngoài ra, tôi cũng được biết hiện nay Nhà nước đang yêu cầu gia đình Thủ tướng Dũng phải chuyển trả cho ngân sách một số tiền lớn để đền bù trách nhiệm mà ông Dũng và các quả đấm thép đã gây ra. Trách nhiệm cá nhân có thể được cho qua thông qua việc đền bù nhưng Mobifone là một doanh nghiệp lành mạnh và bền vững, xin hãy cứu nó không bị hủy hoại từng ngày bởi những con người có tư duy lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Kính đề nghị Chính phủ mới, Ban Nội chính TW, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước cùng các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra khác của Đảng, Nhà nước, Chính phủ hãy làm rõ các vấn đề sau:

1. Làm rõ tính hợp pháp, hợp lệ của Quyết định chỉ định thầu tư vấn định giá và cổ phần hóa doanh nghiệp của ông Lê Nam Trà cho Công ty Cổ phần chứng khoản Bản Việt (VCSC). Việc chỉ định thầu này hoàn toàn không có cơ sở và thiếu căn cứ pháp lý. Hủy bỏ tư cách tư vấn của VCSC chính là cứu lấy Mobifone.

2. Làm rõ tính hợp pháp của Quyết định mua 95% cổ phần AVG với giá 8.900 tỷ đồng mà ông Lê Nam Trà đã ký vào ngày 25/12/2015. Làm rõ trách nhiệm cá nhân của ông Lê Nam Trà và một đồng chí Thứ Trưởng Bộ Thông tin Truyền thông trong việc này. Việc định giá AVG chỉ được Mobifone trình lên Bộ Thông tin Truyền thông và lấy í kiến của Thủ tướng chứ hoàn toàn không qua Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư thẩm định như đúng quy định về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước. Cảm ơn nhà báo Phan Nam – Báo Diễn đàn doanh nghiệp đã đề cập những thông tin khách quan trong bài báo: “Mobifone chờ gì ở AVG?” đăng ngày 26/2/2016.

3. Làm rõ trách nhiệm của cá nhân ông Lê Nam Trà trong việc để các công ty sân sau như ITT lũng đoạn thị trường tại Mobifone. Công ty ITT, sân sau của ông Lê Nam Trà (hiện đã được bán phần lớn cổ phần cho Vina Capital của Nguyễn Thanh Phượng), đã lũng đoạn thị trường viễn thông tại Trung tâm Thông tin di động khu vực II, IV, VI, nay là Trung tâm Mạng lưới Miền Nam – Mobifone. Công ty ITT và một số công ty sân sau khác bằng các hình thức thông thầu, chỉ định thầu bất hợp pháp, triển khai trước đấu thầu sau, đã trúng gần như tất cả các gói thầu của Mobifone về dịch vụ kỹ thuật, mua bán thiết bị viễn thông tại Miền Nam và đang trúng rất nhiều gói thầu tại Miền Trung và Miền Bắc nhờ sức ép của Chủ tịch Mobifone – Lê Nam Trà. Với việc Mobifone tăng tốc đầu tư trong năm 2016 (tổng mức đầu tư hơn 31.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với các năm trước đó), việc để các công ty sân sau bao sân là trái quy định, trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng Luật đấu thầu và là hành vi tham nhũng, gây thất thoát nghiêm trọng.

____________

Kỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở Mobifone

Nguyễn Văn Tung

21-2-2016

Lê Nam Trà, TGĐ Mobifone. Ảnh: internet

Lê Nam Trà, TGĐ Mobifone. Ảnh: internet

Tiếp theo kỳ 1:Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của Mobifone

Cuộc chơi kinh doanh tài chính với miếng bánh Cổ phần hóa Mobifone

Câu chuyện bắt đầu vào năm 2012, khi Nguyễn Thanh Phượng cùng “bộ đôi Masan” Nguyễn Đăng Quang và Hồ Hùng Anh âm mưu thực hiện vụ áp-phe đình đám trong lĩnh vực viễn thông: sát nhập Gtel vào Mobifone. Gtel khi đó đang trong tình trạng thua lỗ triền miên, khách hàng liên tục bỏ mạng, công nghệ di động 2G lạc hậu, chính phủ từ chối cấp giấy phép 3G, đối tác VinpelCom bỏ của chạy lấy người để lại 450 triệu USD đã đầu tư vào hạ tầng mạng di động. Với kết quả kinh doanh bết bát như vậy, Masan khi đó chỉ cần bỏ ra 50 triệu USD là có thể mua lại toàn bộ cổ phần của Gtel. Công ty cổ phần chứng khoán Bản Việt do Nguyễn Thanh Phượng làm chủ tịch theo kịch bản sẽ được chỉ định thầu làm tư vấn cho vụ sát nhập và có nhiệm vụ định giá Gtel lên cao chót với ở mức 500 triệu USD mặc cho những kết quả kinh doanh ảm đảm.

Sau khi sát nhập thành công với Mobifone (được định giá 2 tỷ USD), Masan sẽ chiếm 20% cổ phần trong liên doanh mới. Thông qua việc tăng vốn góp để đầu tư 4G, Masan sẽ nâng tỷ lệ cổ phần nắm giữ lên 30% và bộ ba Phượng – Quang – Anh nghiễm nhiên đút túi 3 tỷ USD sau khi bán toàn bộ số cổ phần này cho các nhà đầu tư nước ngoài (Mobifone được dự đoán có giá trị IPO khoảng10 tỷ USD)

Ai đã hy sinh để cứu Mobifone khỏi vụ áp-phe?

Dù có tính toán kỹ lưỡng đến đâu, Nguyễn Thanh Phượng cùng bộ đôi Masan cũng không thể biết được kế hoạch của mình lại bị đổ bể phút chót bởi một con người đang cận kề cái chết: ông Lê Ngọc Minh – chủ tịch đương nhiệm lúc đó của Mobifone – người đang bị ung thư giai đoạn cuối.

Là một người trọn đời gắn bó với sự phát triển của Mobifone, ông Minh không cam tâm để tâm huyết của mình cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Mobifone trong suốt 20 năm phút chốc đổ xuống sông xuống biển. Khi tình hình sức khỏe ngày càng đi xuống, ông Minh quyết tâm dành quỹ thời gian còn lại của mình để làm nên một câu chuyện lịch sử: cứu Mobifone khỏi sự sát nhập với Gtel.

Ông Minh đã cung cấp toàn bộ thông tin chi tiết về kế hoạch của Phượng cho phe “Tổng bí thư” để cầu cứu, đồng thời bằng mọi cách trì hoãn quá trình cổ phần hóa Mobifone, đưa Credit Suisse vào làm tư vấn cổ phẩn hóa Mobifone chứ không phải là Bản Việt, gửi toàn bộ chi tiết kế hoạch của nhóm Nguyễn Thanh Phượng và Masan cho các báo lề trái qua đó tạo nên một cơn bão dư luận vào thời điểm đó.

Với sức ép của dư luận cùng ý chí sắt đá của cố Chủ tịch Lê Ngọc Minh, kế hoạch của Nguyễn Thanh Phượng cuối cùng bị đổ bể. Ông Minh, với tâm thế của một người không có gì để mất, đã tạo nên một điều kỳ diệu và giúp Mobifone tiếp tục phát triển ổn định trong hai năm kế tiếp.

Cay cú trước hành động phá rối của ông Minh, Nguyễn Thanh Phượng ngay lập tức đẩy ông Minh khỏi Mobifone ngay khi doanh nghiệp này tách khỏi Tập đoàn VNPT và sát nhập về Bộ Thông tin – Truyền thông năm 2014. Tiếp theo đó, Nguyễn Thanh Phượng bí mật sắp xếp với lãnh đạo Bộ Thông tin truyền thông để đưa đệ tử thân cận Lê Nam Trà ngồi vào chiếc ghế mà ông Minh để lại.

Cuộc chơi mới

Khi đã đẩy được Lê Nam Trà vào ghế Chủ tịch Mobifone, Nguyễn Thanh Phượng ung dung tính toán để thực hiện tiếp kế hoạch của mình. Việc đầu tiên là gạt bỏ Credit Suisse và chỉ thầu thầu tư vấn cổ phấn hóa Mobifone cho Công ty chứng khoán Bản việt. Kịch bản cũ đã bị lộ, không thể tiếp tục dùng quân bài Gtel nên Nguyễn Thanh Phượng cùng Lê Nam Trà phải lựa chọn một quân cờ mới, đó là AVG của Phạm Nhật Vũ, em trai Phạm Nhật Vượng, một doanh nhân thân cận và trung thành của gia đình Thủ tướng Dũng.

Tương tự như Gtel, AVG chỉ là một đống đổ nát với số lượng thuê bao ít ỏi, công nghệ truyền hình vệ tinh thế hệ đầu đã lạc hậu, không tự sản xuất được nội dung nên không có doanh thu phát sinh từ quảng cáo. Tình trạng kinh doanh bết bát, AVG lỗ lũy kế đến 1.000 tỷ đồng và nợ gần 2.000 tỷ tiền đầu tư cơ sở hạ tầng.

Để hợp lý hóa việc sát nhập AVG, một doanh nghiệp kinh doanh truyền hình chứ không phải viễn thông, Lê Nam Trà đã móc nối với Lãnh đạo Bộ Thông tin – Truyền thông để xin chủ trương của chính phủ cho phép Mobifone đầu tư vào lĩnh vực truyền hình. Với sự giúp đỡ của Nguyễn Thanh Phượng, con gái Thủ tướng Dũng, chủ trương này nhanh chóng được chính phủ phê duyệt.

Bước ngoặt từ Hội Nghị TW 13

Khi phe Thủ tướng Dũng có dấu hiệu đuối thế trước phe của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại HNTW 13, Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà nhận thấy hai điều: không thể mạo hiểm bằng mọi giá sát nhập AVG vào Mobifone và không thể hoàn thành việc cổ phần hóa Mobifone vào cuối nhiệm kỳ Thủ tướng (trước tháng 06/2016) vì đó sẽ là thời điểm ông Dũng cần đàm phán với phe ông Trọng để toàn bộ êkip được hạ cánh an toàn. Việc cổ phẩn hóa Mobifone chắc chắn sẽ do chính phủ mới phụ trách. Không còn làm chủ được cuộc chơi, vụ áp-phe lần 2 của Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà đứng trước nguy cơ đổ bể.

Để vớt vát công sức mấy năm dàn trận, Nguyễn Thanh Phượng cùng Lê Nam Trà quyết định “ăn non”: hoàn tất việc Mobifone mua lại 95% cổ phần của AVG ngay trước khi HNTW 14 diễn ra (ký hợp đồng vào trưa ngày 25/12/2015).

Sai phạm chồng chất sai phạm

Giá trị thật sự của AVG được tính toán không đến 1.000 tỷ đồng, tuy nhiên Lê Nam Trà đã ký quyết định mua lại 95% với giá 8.900 tỷ, cao hơn giá trị thực 8.000 tỷ đồng. Số tiền này được Vin Group giải ngân cho Lê Nam Trà cùng một số lãnh đạo của Bộ Thông tin – Truyền thông bằng các bất động sản trong – ngoài nước và các tài khoản ngân hàng nhiều triệu USD ở nước ngoài, mỗi người bỏ túi từ 5%-10%.

Để kịp hoàn tất hợp đồng mua bán trước HNTW 14, Lê Nam Trà đã chỉ đạo không chuẩn bị hồ sơ, lập dự án trình Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Tài chính thẩm định theo đúng quy trình (vì nếu làm đúng quy trình chắc chắn sẽ không được duyệt) mà chỉ thông qua móc nối với một số lãnh đạo Bộ Thông tin – Truyền thông để trình thẳng lên Chính phủ.

Dù rất vội vã mua AVG, nhưng sau khi hoàn tất hợp đồng, do lo sợ tính pháp lý không đảm bảo, Lê Nam Trà chỉ đạo nhân viên giữ kín toàn bộ thông tin và không được gây ra bất cứ động tĩnh nào. Mobifone có thành lập Ban Truyền hình để tiếp quản AVG và phát triển kinh doanh truyền hình nhưng đến thời điểm này vẫn án binh bất động, chờ đợi vụ việc chìm xuống. Ngay sau khi bài báo “Lê Nam Trà – tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của Mobifone” được đăng trên các báo lề trái vạch trần các sai phạm ở Mobifone dưới thời Lê Nam Trà, Lê Nam Trà mới vội vã đính chính: “chúng tôi đang tiếp quản AVG” trên các báo lề phải.

Việc mua AVG đã làm chậm tiến độ cổ phẩn hóa và làm giảm mạnh giá trị vốn hóa của Mobifone. Mobifone đã hoàn thành việc xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị số sách vào ngày 30/06/2015. Tuy nhiên với việc mua lại AVG vào ngày 25/12/2015, việc xác định giá trị doanh nghiệp sẽ phải thực hiện lại dựa trên giá trị sổ sách vào ngày 31/12/2015. Ngoài ra, với việc đưa vào kế hoạch kinh doanh dự phòng lỗ 700 tỷ đồng cho AVG trong năm 2016, nợ đọng của AVG 2.000 tỷ, lỗ lũy kế 1.000 tỷ, giá trị vốn hóa của Mobifone chắc chắn sẽ giảm vài tỷ USD so với con số 10 tỷ USD được ước tính ban đầu. Trong bối cảnh nợ công ngày càng tăng, ngân sách sẽ bị thất thoát đi vài tỷ USD chỉ vì một nhóm người chia chác nhau cái lợi 8.000 tỷ đồng (gần 400 triệu USD).

_________

Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của Mobifone

Nguyễn Văn Tung

31-1-2016

Ông Lê Nam Trà được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc MobiFone. Ảnh: internet

Ông Lê Nam Trà được Tổng giám đốc MobiFone. Ảnh: internet

Năm 2015, MobiFone đạt doanh thu đạt 36.900 tỷ đồng và lợi nhuận 7.395 tỷ đồng, đứng thứ 3 về doanh thu và thứ 2 về lợi nhuận trên thị trường viễn thông Việt Nam. So với năm 2014, doanh thu tăng nhẹ nhưng không đạt chỉ tiêu 39.700 tỷ đồngđề ra cho năm 2015. Lợi nhuận tuy đạt chỉ tiêu 7.300 tỷ đồng nhưng có được điều này là do trong cả năm 2015, Mobifone đã cắt giảm mạnh chi phí cho đầu tư mua sắm, vận hành mạng lưới và phát triển kinh doanh. Hành động này được đánh giá là “Mobifone đang ăn vào tương lai” vì cắt giảm chi phí đồng nghĩa với những tụt hậu về công nghệ, suy giảm chế độ chăm sóc khách hàng và mất sức cạnh tranh trong việc phát triển thị trường đối với 2 ông lớn còn lại là Viettel và người anh VNPT.

Lê Nam Trà nhận quyết định bổ nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Mobifone từ ngày 11/12/2014, đến ngày 31/12/2014 thì kiêm nhiệm phụ trách chức vụ Chủ tịch MobiFone thay cho ông Mai Văn Bình nghỉ hưu theo chế độ. Qua kết quả kinh doanh 2015, có thể thấy “dấu ấn Lê Nam Trà” cho sự phát triển của Mobifone gần như là con số “0”, tất cả thành quả đều thừa hướng từ 20 năm phát bền vững của Mobifone mang dấu ấn đậm nét của cố Chủ tịch Lê Ngọc Minh. Trong khi đó, về mặt chiến lược, chính sách và quản trị doanh nghiệp, sự xuống dốc của Mobifone về văn hóa doanh nghiệp, hiệu quả công việc, tinh thần của cán bộ công nhân viên và những quyết định mang tính “phá hoại”, “trục lợi” đang là những điểm đáng nói của Lê Nam Trà trong suốt năm 2015.

1. Xây dựng văn hóa “kim tiền”

Sau khi nhận Quyết định Tổng Giám đốc, Lê Nam Trà đã nhanh chóng trình và được phê duyệt của chính phủ đề án tái cơ cấu Mobifone theo mô hình mới Tổng công ty. Khoác lên mình chiếc áo mới rộng hơn, Lê Nam Trà thoải mái vẽ lên bộ máy mới cồng kềnh với rất nhiều phòng, ban, đơn vị mới với rất nhiều đơn vị chức năng nhiệm vụ trùng lặp. Mobifone đứng trước thay đổi nhân sự chủ chốt lớn chưa từng có trong lịch sử hơn 20 năm phát triển của mình với hàng loạt bổ nhiệm mới, luân chuyển lãnh đạo đơn vị, rất nhiều lãnh đạo thuộc chế độ cũ bị o ép, giáng chức hoặc điều chuyển sang những vị trí mới không còn giá trị. Cơ hội thuộc về những người còn lại, ngay lập tức, làn sóng đầu tư “ghế ngồi” bùng nổ và lan tỏa mạnh mẽ trong Mobifone.

Thời điểm đầu năm 2015, không còn ai ở Mobifone quan tâm đến công việc chuyên môn chính, lãnh đạo thì bỏ bê công việc để đi lo lót vị trí, nhân viên thì liên tục cập nhập tình hình các sếp để lựa chọn nguyện vọng về đơn vị mới. “Ghế ngồi” giờ là một món hàng hot, mỗi ghế là một cuộc tranh chấp, đấu giá căng thẳng với giá sàn là 1 triệu đô cho mỗi ghế trưởng đơn vị, lãnh đạo phòng ban và không có giá trần…

Hệ quả của văn hóa “kim tiền” này là 1 bộ máy làm việc cồng kềnh, kém hiệu quả, rất nhiều lãnh đạo bị sắp xếp sai chuyên môn, kinh nghiệm. Tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên mất ổn định, văn hóa doanh nghiệp của Mobifone suốt 20 năm bị phá hủy.

2. Chỉ định thầu tư vấn cho Công ty Chứng khoán Bản Việt của con gái Thủ tướng

Tháng 09 năm 2015, Lê Nam Trà vội vã ký quyết định chỉ định thầu tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa và IPO cho Công ty Chứng khoán Bản Việt, công ty có Chủ tịch là bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái thủ tướng đương nhiệm. Việc chuyển từ Credit Suisse sang chỉ định thầu cho Bản Việt cho thấy rất nhiều sự bất minh. Cha con ông Dũng muốn đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa Mobifone vào đầu năm 2016 thay vì giữa 2016, để đảm bảo hoàn tất việc này trước khi nhiệm kỳ thủ tướng kết thúc vào phiên họp Quốc hội đầu tiên của khóa mới diễn ra vào tháng 6 năm 2016. Việc cổ phần hóa Mobifone được coi là một trong những cú chót của gia đình thủ tướng nếu như ông không đắc cử Tổng Bí Thư khi Đại hội Đảng XII diễn ra. Và với việc con gái Thủ tướng trực tiếp lên phương án cổ phần hóa, có thể thấy mọi lợi ích đều đã rơi vào tay một số người và rời xa lợi ích chung của Mobifone.

3. Gấp gáp mua 95% cổ phần của AVG

Tháng 01 năm 2016, khi thủ tướng Dũng gặp khó trong cuộc chạy đua chức vụ Tổng Bí Thư với ông Trọng, Lê Nam Trà ngay lập tức nhận thực hiện chỉ đạo, gấp rút mua 95% cổ phần của AVG với giá 8.900 tỷ. Câu hỏi đặt ra là Mobifone đã định giá và mua AVG như thế nào, tại sao AVG lại có giá 8.900 tỷ trong khi giá trị của AVG hiện nay, dựa trên tài sản gồm hệ thống mạng lưới như các trạm phát sóng, đầu thu, các phụ kiện trang thiết bị đi kèm, hệ thống vận hành mạng lưới, hệ thống xử lý tín hiệu, thuê bao… ước tính khoảng 1.600-2.000 tỷ đồng, chưa kể khấu hao và lỗ lũy kế lên đến 1.000 tỷ. Hiện tại, AVG vẫn đang tiếp tục lỗ 1 tỷ/ngày. Câu trả lời tưởng như khó mà lại dễ vì chủ tịch Phạm Nhật Vũ của AVG là em trai Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Vin group và là 1 đệ tử thân cận của Thủ tướng.

Trong quá trình định giá AVG, êkip của Lê Nam Trà sử dụng quân xanh để tăng giá lên cao chót vót và hình thức mua bán có rất nhiều sai phạm do quá trình chuẩn bị gấp gáp. Giá trị thực tế của AVG chỉ ở mức tối đa 1.000 tỷ đồng, vậy Mobifone đã mua đắt gần 8.000 tỷ, vậy 8.000 tỷ này đi đâu. Mobifone vẫn là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, vậy 8.000 tỷ này là tài sản quốc gia, trách nhiệm thất thoát này thuộc về ai?

Posted in Cướp Đất Đai, nhóm lợi ích, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Việt Nam thuê công ty tư vấn Trung Quốc lập quy hoạch đảo Lý Sơn!

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

Ngọc Thu

17-9-2015

Bài báo Thanh Niên ngày 15-9-2015 có tựa đề: “Thuê tư vấn Singapore lập quy hoạch đảo Lý Sơn“. Bài báo cho biết, công ty tư vấn Singapore này chính là Tập đoàn CPG.

Nhưng, chủ sở hữu của CPG chính là tập đoàn China Architecture Design and Research Group (CAG), một công ty thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc. CPG không phải là đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch hàng đầu của Singapore như thông tin trong bài báo nêu ra.

CPG Corp (tên đầy đủ là CPG Corporation Pte Ltd) từng thuộc sỡ hữu của Temasek Holdings, với 100% vốn của Bộ Tài chính Singapore. Năm 1999, Temasek Holdings trở thành công ty cổ phần, đến năm 2002 nó được đổi tên thành CPG Corporation và một năm sau đó năm 2003, Temasek Holdings đã bán CPG cho Downer EDI, một công ty của Úc, với giá 131 triệu đô la Singapore.

Đến năm 2012Downer EDI bán CPG Corp cho công ty China Architecture Design and Research Group (CAG), một công ty thiết kế và huy hoạch lớn nhất của chính phủ Trung Quốc, với giá 147 triệu Úc kim.

Như vậy, CPG là công ty thuộc sỡ hữu của chính phủ Trung Quốc, không phải công ty của Singapore như thông tin trong bài báo nêu ra.

____

Thanh Niên

Thuê tư vấn Singapore lập quy hoạch đảo Lý Sơn

Hiển Cừ

15-9-2015

Sáng 14.9, đại diện Tập đoàn CPG, đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch hàng đầu của Singapore, làm việc với UBND tỉnh Quảng Ngãi để báo cáo những đề xuất về quy hoạch tổng thể mang tính chiến lược cho huyện đảo Lý Sơn.

Ông Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý đảo Lý Sơn phải được quy hoạch có chất lượng với tầm nhìn dài hạn để có thể phát triển mạnh về kinh tế, vững chắc về an ninh quốc phòng. “Việc lập quy hoạch cần phải tính đến thế mạnh về kinh tế biển, du lịch, bảo tồn di tích, hệ sinh thái, gắn kết biển đảo với đất liền và các vùng phụ cận, mở rộng không gian mặt biển, nhất là ngư trường truyền thống của ngư dân đất đảo từ bao đời nay ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, ông Chữ nhấn mạnh đồng thời đề nghị CPG sớm hành động xây dựng đề cương, xác định tiến độ thực hiện.

Đầu tháng 8.2015, UBND tỉnh phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng huyện đảo Lý Sơn đến năm 2025, với mục tiêu phát triển đảo Lý Sơn theo hướng trở thành đô thị biển xanh kết hợp phát triển kinh tế biển, du lịch sinh thái biển với đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ, bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh. Tỉnh ủy thống nhất cho UBND tỉnh thuê các nhà tư vấn Singapore lập quy hoạch tổng thể cho đảo.

———————

Trích: ”  Ông cũng tiết lộ nhà nước theo dõi một thương gia nước ngoài về làm ăn rất lâu và rất sâu vì chính ông bị moi ra chuyện quan hệ với một thiếu nữ Trung Quốc ông quen đã lâu, giờ không còn nhớ mà họ vẫn để ý.”  Alan Phan

Công ty Trung Quốc CPG, là anh em của các ủy viên bộ chính trị, nên bộ công an và bộ quốc phòng của Hà Nội không cần phải điều tra. Nhưng Việt kiều về làm ăn tại VN là bị công an điều tra theo dõi rất kỷ.

Tiến sĩ Alan Phan và trải nghiệm kinh doanh

Tác giả: GS Bùi Văn Phú –

VOA Tiếng Việt –

 31 Aug  2015

Không ít người Mỹ gốc Việt đã về Việt Nam làm ăn. Có người thành công, nhưng đa số thất bại. Thất bại không nói ra, nhưng thành công cũng không ai khoe vì không biết có bền lâu hay không.

Tiến sĩ Alan Phan thì khác. Ông đã trải nghiệm mấy chục năm trên thương trường quốc tế, từ châu Mỹ, châu Phi sang châu Á với thất bại cũng như thành công. Những kinh nghiệm làm ăn đã được ông ghi lại qua mười một đầu sách. Hai tác phẩm mới nhất là Doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu (600 trang) và 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc (300 trang) – gồm nhiều bài đã đăng trên Blog gocnhinalan.com – được ra mắt tại hội quán báo Thằng Mõ ở San Jose vào trưa Chủ nhật 23/8.

Trên 100 khách đã đến tham dự, trong đó có nhiều doanh nhân vùng Vịnh San Francisco như ông David Dương, Tổng giám đốc California Waste Solution; ông Trần Hồng Phúc Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam Oakland; ông Đỗ Vẫn Trọn của Truyền hình Viên Thao; ông Nguyễn Xuân Nam của TV và báo Calitoday; ông Huỳnh Lương Thiện của Tuần báo Mõ SF.

Ngoài ra còn có cựu phó thị trưởng Madison Nguyễn, kĩ sư Đỗ Thành Công và ủy viên giáo dục Vân Lê, là ba ứng cử viên cho chức Dân biểu Tiểu bang Địa hạt 27 vào năm tới. Còn lại đa số là các bạn trẻ, trong đó có những sinh viên du học đến từ Việt Nam.

alan Phan VOA photo
Bài nói chuyện của Tiến sĩ Alan Phan xoay quanh thương trường Việt Nam và những cơ hội. Theo ông, đầu tư đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kế hoạch và tùy thuộc nhiều vào nhà nước, trong khi kinh doanh là môi trường hoạt động thoáng hơn và dễ thành công hơn.

Ông mô tả: “Việt Nam là một môi trường giới hạn, không phải muốn gì thì làm nấy. Tình hình còn mù mờ. Xã hội Việt Nam so với Mỹ thì thật là bát nháo và hỉ nộ ái ố hơn. Không ở đâu buồn cười như ở Việt Nam. Mở tờ báo ra đọc là thấy đính chính tôi không bị bắt. Như mới đây ông Trần Phương Bình của Đông Á Ngân hàng phải lên tiếng. Rồi ông Đặng Thành Tâm cũng lên tiếng đính chính là chưa bị bắt.”

Câu nói vui đùa của Tiến sĩ Alan: “Tôi cũng đính chính với các bạn đây là tôi không bị bắt” đã đem đến cho khách dự một tràng tiếng cười.

Theo ông, nhiều người Việt hải ngoại về Việt Nam có những lí do riêng, gái gú cũng có, kỉ niệm ngày xưa cũng có, thắng cảnh cũng có. Quê hương cũ có một sự quyến rũ nào đó.

Nếu đó là một nơi có thể sống được, kiếm được tiền thì rất thoải mái. Ở đó có những niềm vui và những điều tiêu cực. Nhưng nói chuyện làm ăn là cần có sự may mắn và phải có quan hệ.

“Nếu về làm ăn tôi khuyên là người độc thân, về đó gặp con cán bộ là kết hôn ngay vì quan hệ rất quan trọng trong làm ăn được thua ở Việt Nam. Phải có người chống lưng, có gốc rễ.”

Ở Mỹ thì khách hàng là số một, còn ở Việt Nam, theo quan sát của ông: “Khách hàng là quan chức nhà nước. Nếu mấy ông đó thích thì sẽ bán được nhiều hàng, làm ăn lên rất lẹ. Nếu mấy ông không thích thì ô hô ôm passport lo chạy về Mỹ.”

Nội bộ lãnh đạo với tranh giành phe nhóm cũng ảnh hưởng lớn đến kinh doanh. Mình đứng về phiá thua thì coi như không còn gì.

Tiến sĩ Alan nhắc đến sự kiện ông Hà Văn Thắm là phe của …., khi ông này mất thế thì giá cổ phiếu Ocean Group của công ti do ông Thắm điều hành đang từ 100 nghìn đồng rớt xuống 1 nghìn, ngân hàng bị nhà nước mua lại với giá coi như cho không.

Ông cũng tiết lộ nhà nước theo dõi một thương gia nước ngoài về làm ăn rất lâu và rất sâu vì chính ông bị moi ra chuyện quan hệ với một thiếu nữ Trung Quốc ông quen đã lâu, giờ không còn nhớ mà họ vẫn để ý.

Nói đến các khu vực kinh doanh có triển vọng, theo nhận định của Tiến sĩ Alan thì đó là IT và nông nghiệp.

IT không cần hạ tầng cơ sở và thành phần trẻ có đam mê và ao ước làm được cái gì đó tốt đẹp cho thương hiệu Việt Nam thay vì cứ sao chép hay ăn cắp bản quyền.

Ông nói: “Phát triển IT vì quan chức không quản lý được , email không biết, software nói với mấy ông ấy như nói với vịt. Ít hạ tầng cơ sở nên mấy ông ấy không kiếm tiền được.”

IT khó kiểm soát vì tài khoản có thể đặt ngoài Việt Nam, tránh được bộ máy hành chánh chỉ đòi tiền. IT cần đột phá, sáng tạo, không cần gia truyền hay cổ truyền, tư duy luỹ tre làng bị gạt qua một bên. Đây là con đường mới cho giới trẻ, thời trang đối với Việt Nam nên họ rất hâm mộ.

Còn nông nghiệp, ngày nay không phải là sản xuất mà là tìm kiếm được thị trường. Nông phu tranh nhau đi chăn nuôi, trồng trọt nhưng tìm được thị trường rất khó vì nếu mình bán rẻ 10%, nước khác bán rẻ 20% hay 30% thì không thể cạnh tranh nổi.

Nhiều nước đã có sản xuất qui mô, công nghệ cao trong khi Việt Nam chưa đạt tới trình độ đó thì cũng khó cạnh tranh. Để tìm được thị trường cần có hàng đặc thù, trong khi nhà nước không giúp gì được vì chỉ lo “hành dân là chính”, vì thế giới trí thức có thể làm được việc này. Sau đó phải có trung gian tiếp thị, về mặt này người Việt ở hải ngoại đóng góp vai trò quan trọng.

Như người Tàu họ có chuỗi dây phân phối rất hữu hiệu. Nhưng nay với công nghệ thông tin, vai trò của người trung gian cũng đang giảm đi, thông tin về mặt hàng có thể tìm thấy trên mạng.

Đó là những lí do tại sao Tiến sĩ Alan Phan nhấn mạnh đến hai khu vực IT và nông nghiệp để Việt Nam có thể cạnh tranh và có những tiến bộ hơn về kinh tế.

Vì sao lại là hai khu vực đó? Theo ông, với dân số hơn 90 triệu, xã hội Việt Nam ngày nay gồm những nhóm sau:

1/ Những người của thế giới kỹ thuật số, họ sống xa lánh hoàn toàn với thế giới bên ngoài, biết được những thứ mà dân thường không biết, họ khao khát có tiến bộ cho đất nước. Số người trẻ này khoảng 6 đến 10 triệu.

2/ Nông dân từ 30 đến 40 triệu, chỉ lo kiếm sống và mong muốn đời sống được cải thiện một chút.

3/ Quan chức cán bộ, hơn 3 triệu. Đối với những người này, cứ trả lương cho họ nằm nhà là tốt nhất cho dân.

4/ Thành phần còn lại là những người không làm mà vẫn ăn, suốt ngày đi nhậu rồi về nhà đánh vợ, ù lì đến độ không còn chút hy vọng gì vào đám người này.

Vì thế tạo cơ hội phát triển cho hai thành phần IT và nông dân sẽ là những mũi nhọn đưa kinh tế Việt Nam đi lên.

Là người với nhiều kinh nghiệm làm ăn trên thương trường quốc tế, ông cũng đã đầu tư vào Việt Nam 2 triệu đô-la và mất hết. Những năm qua Tiến sĩ Alan Phan đã làm tham vấn hướng dẫn cho doanh nhân Việt biết cách làm ăn theo lối Mỹ.

Tuy nhiên, trong nhiều cuộc phỏng vấn ông đã nói bạo khiến quan chức nhà nước không vui: “Mình nhìn sao nói vậy nên có hơi sốc với nhiều người nên bây giờ nhà nước không cho tôi có những phát biểu trực tuyến nữa. VTV có phỏng vấn tôi 30 phút, sau khi cắt xén đi còn chừng 3 phút.”

Ông nói: “IT không cần nhiều cơ sở hạ tầng. Mấy ông quan chức rất khôn lanh, xây cầu đường, tượng đài họ chia nhau được. Mức độ trù phú của miếng bánh cắt riết mà cái bánh ngày càng nở ra. Người ta đang ăn ngon thế này thì sao đòi được. Được cái mấy ông chỉ đi vay, rồi ăn bớt ăn xén cái đó. Dân mình chịu nợ thôi. Mà tính quịt là muôn đời của người Việt Nam. 15 năm sau có nước nào đòi nợ thì chỉ còn cái quần cụt thì không có gì để đòi được nữa.”

Ông kể, một quan chức cao cấp nói thằng nào ngu cho vay thì mình cứ lấy tiền đó mình xài. Người dân họ không biết, cứ để cho dân uống bia tự do là thoải mái rồi, họ không thắc mắc gì.

Về những người từ Mỹ về đầu tư, nhắc đến ông David Dương, Tiến sĩ Alan Phan phát biểu: “Tôi nghe ông về xử lí rác thì tôi thích thú lắm. Mong ông xử lí rác ở Ba Đình thì ông lại xử lí rác ở đâu Đa Phước. Mong một ngày ông sẽ đưa cả nước vào đống rác của ông ấy”. Hội trường òa lên những tiếng cười.

Tiến sĩ Alan Phan du học Mỹ từ năm 1963, năm 1968 ông về nước và đã làm chủ  nhiều công ti thời Việt Nam Cộng hòa với số công nhân lên đến 18 nghìn.

Năm 1975 ông ra nước ngoài, có lúc điều hành công ti trên sàn chứng khoán với tài sản 700 trăm triệu đô-la. Cuộc đời nhiều thăng trầm và nay đã 70 tuổi, với tài sản chắc cũng vài chục triệu đô-la. Nhưng nếu gặp ông ngoài đường, qua trang phục ông mặc hôm ra mắt sách, với áo vét quần jean thùng thình, không cà-vạt, đi giầy ba-ta, có ai biết ông là một doanh nhân triệu phú.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, Californi

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Sân bay Tân Sơn Nhất: Sự thật về câu chuyện“Tắc Nghẽn Bầu Trời”, “Chồng Lấn Vùng Trời”, và “Khu vực cấm bay của Tp Hồ Chí Minh…”

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2015

Dưới sự đỡ đầu của đồng chí X và các Soái Nga (đã làm thịt xong Cảng Sài Gòn) nay đang muốn cướp đoạt đất công ở khu vực Sân Tân Nhất và Long Thành để xây dựng khách sạn, các chung cư cao cấp, và cao ốc…cho thuê và bán cho nước ngoài,  Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng và đàn em đang ra sức chê Sân bay Tân Sơn Nhất nhỏ, bất tiện…Nhưng các mưu đồ gian trá của bọn này đã và đang bị nhiều nhà chuyên môn vạch mặt…

Sân bay Tân Sơn Nhất: Sự thật về câu chuyện“Tắc Nghẽn Bầu Trời”, “Chồng Lấn Vùng Trời”, và “Khu vực cấm bay của Tp Hồ Chí Minh”

TS Nguyễn Bách Phúc (*)

26-03-2015

Một lý do “nặng ký” mà Bộ giao thông vận tải đưa ra cho Dự án xây dựng sân bay Long Thành là “lỗi” của sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, việc mở rộng nâng công suất cảng hàng không này để đáp ứng nhu cầu 40-50 triệu hành khách/năm trong giai đoạn 2025-2030 là không khả thi”. Minh chứng điều này, Bộ đã đưa ra 4 cái lỗi.

Bài này xin bình luận lỗi thứ 2.

Về lỗi thứ 2, Bộ nói: “Hạn chế về khai thác vùng trời: Khu vực vùng trời tiếp cận dành cho tàu bay cất hạ cánh của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất hiện tại chồng lấn với vùng trời tiếp cận của căn cứ không quân Biên Hòa ở phía Bắc. Mặt khác, khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh, đặc biệt khi có hoạt động bay quân sự tại khu vực Tân Sơn Nhất và Biên Hòa.

Thứ trưởng GTVT Phạm Quý Tiêu phát biểu tại tọa đàm về dự án đầu tư sân bay Long Thành, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 17/10. Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu khẳng định lại việc cần thiết phải đầu tư xây dựng sân bay Long Thành, bởi Tân Sơn Nhất đã quá tải: “Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn bầu trời, trong nhiều năm không quản lý được tĩnh không sân bay”.

Câu chuyện “TSN bị tắc nghẽn bầu trời”:

Nghe Bộ GTVT nói TSN “tắc nghẽn bầu trời”, chắc mọi người hình dung ra cảnh tượng cả đàn máy bay ùn tắc chen lấn nhau trước lối vào TSN, giống như xe Honda chen chúc trước đèn đỏ, giành nhau từng centimet đường!

Hàng trăm sân bay trên thế giới, số lượng hành khách nhiều hơn TSN, 80-100 triệu HK/năm, tần suất cất hạ cánh lên đến 60 chuyến/giờ hoặc hơn, đều không hề có khái niệm tắc nghẽn bầu trời, tại sao chỉ có bầu trời TSN bị tắc nghẽn khi tăng hơn 20 triệu HK/năm?

Thử tính xem mức độ tắc nghẽn của TSN như thế nào, liệu có bao nhiêu máy bay chen lấn nhau, chúng giành nhau bao nhiêu centimet không gian:

     + Tần suất lớn nhất hiện nay của TSN, theo Cục trưởng Cục Hàng không VN là 29 chuyến/giờ.

Với tần suất này, TSN có thể đưa đón tới 80 triệu hành khách/năm, chứ không phải chỉ hơn 20 triệu. (tham khảo bài “Có thể nâng Tân Sơn Nhất lên 80 triệu hành khách/năm, không cần giải phóng mặt bằng di dời dân cư, với tổng vốn đầu tư chỉ khoảng 3 tỷ USD)

     + Với tần suất 29 chuyến/giờ này thì số chuyến máy bay xếp hàng để cất cánh hoặc hạ cánh trong 1 giờ là: 29/2 = 14,5 chuyến.

     + Thời gian dãn cách giữa hai chuyến máy bay kế tiếp nhau là 1/14,5 = 0,07 giờ

     +Máy bay dân dụng hiện nay khi cất cánh hoặc hạ cánh thường bay với tốc độ 250 Km/giờ.

     + Tính ra cự li xếp hàng dọc giữa hai máy bay kế tiếp nhau là (250 Km/giờ) x (0,07 giờ) = 17,5 Km.

Hóa ra máy bay xếp hàng dọc trước cửa TSN, khi lên xuống cấp tập nhất, 2 chiếc liên tiếp nhau vẫn cách nhau hơn 17 Km, chứ không phải mấy centimet như honda trước đèn đỏ, sao lại gọi là tắc nghẽn bầu trời?

Câu chuyện “chồng lấn vùng trời với sân bay Quân sự Biên Hòa”:

  • TSN và Biên Hòa nằm cạnh nhau hơn nửa thế kỷ nay, chưa nghe ai nói “chồng lấn vùng trời”, kể cả những năm chiến tranh ác liệt, máy bay lên xuống “nhiều như chuồn chuồn”, cớ sao hôm nay lại đẻ ra việc “chồng lấn vùng trời”?
  • TSN cách Biên Hòa 25 Km, trong khi sân bay Changi của Singapore chỉ cách sân bay quân sự Paya Lebar 8 Km, nhưng không ai nói sân bay Changi của Singapore chồng lấn với sân bay quân sự Paya Lebar, cớ sao lại nói TSN chồng lấn với Biên Hòa?
  • Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh, là vùng trời tiếp giáp với đường băng sân bay, với chiều dài 40 dặm (khoảng 72 Km), chiều rộng khoảng 9 Km, chiều cao dưới 3000 mét, là vùng trời được quốc tế quy định giao cho Trạm kiểm soát APP điều khiển không lưu, tức là APP hoàn toàn chịu trách nhiệm điều khiển các máy bay chuẩn bị hạ cánh hoặc sau khi cất cánh. Như vậy “Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh” thực chất chỉ là một vùng quy ước, là vùng được kiểm soát chặt chẽ bởi APP chứ không phải là vùng cấm máy bay qua lại.

Ở Việt Nam có 3 Trạm APP, trong đó Trạm APP ở miền Nam, kiểm soát vùng trời tiếp cận của tất cả sân bay ở miền Nam. Hai sân bay ở gần nhau đều được một Trạm APP kiểm soát, nếu vùng tiếp cận có chồng lấn lên nhau đi nữa thì vẫn do cùng một Trạm APP kiểm soát, nên sẽ không có bất cứ phiền toái nào.

Ngoài ra, vùng trời tiếp cận của TSN nằm giữa 2 vùng trời tiếp cận của sân bay Biên Hòa và của sân bay Long Thành, khoảng cách từ vùng trời tiếp cận của TSN đến vùng trời tiếp cận của Long Thành gần hơn của Biên Hòa, cớ sao Bộ GTVT chỉ nói TSN và Biên Hòa chồng lấn, mà bỏ qua chồng lấn giữa TSN hiện hữu và Long Thành tương lai? Nếu sự chồng lấn này là thực sự nguy hiểm thì cớ sao Bộ lại chấp nhận sự nguy hiểm đó khi quyết định xây dựng sân bay Long Thành.

Câu chuyện “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh”

Khi nghe Bộ GTVT nói như vậy, ai cũng ngỡ ngàng không biết khu vực cấm bay của TP.HCM là khu vực nào, rộng hẹp bao nhiêu, cấp nào ra quyết định cấm bay, cấm bay vì mục đích gì?

Chúng tôi may mắn được Cụ Lê Trọng Sành, Nguyên trưởng phòng Quản lý bay sân bay TSN giải thích cho như sau: Khi hạ cánh, những máy bay cỡ nhỏ với sức tự hãm trên đường băng tương đối kém nên Trạm APP phải “lựa theo chiều gió” để chọn cho những máy bay này hướng hạ cánh sao cho ngược với chiều gió. Chẳng hạn ở TSN máy bay thường xuyên hạ cánh theo chiều từ Đông sang Tây, nhưng đôi khi các máy bay nhỏ phải bay vòng vượt qua sân bay TSN rồi quay ngược lại để hạ cánh theo hướng từ Tây sang Đông. Với những máy bay nhỏ, vòng lượn này thường nhỏ,đoạn song song với đường băng thường cách đường băng 5 đến 7 km, sau khi máy bay vượt quá đường băng chừng 10 km thì sẽ quay vòng lại để hạ cánh. VÙng mặt đất được giới hạn bởi đường quay vòng hạ cánh tạm gọi là Vùng quay vòng hạ cánh.

Thông thường Vùng quay vòng hạ cánh nằm hai phía của sân bay. Với sân bay TSN là vùng phía Bắc và phía Nam, hiện tại vùng đất kế cận đường băng ở phía Nam là khu vực có rất nhiều nguy cơ cháy nổ, như kho chứa xăng máy bay, bãi đậu của hầu hết các loại máy bay, bãi đậu của máy bay trực thăng, đều là vùng nguy hiểm cháy nổ, nếu máy bay khi quay vòng bay trên vùng này có thể xuất hiện nguy cơ cháy nổ khi không may gặp sự cố. Vì vậy cơ quan Quản lý Hàng không VN quy định Vùng quay vòng hạ cánh phía Nam TSN là vùng cấm bay.

Như vậy, Bộ GTVT gọi vùng cấm bay này là “Vùng cấm bay của TP.HCM” là hoàn toàn không đúng, bởi vì TP.HCM không có vùng cấm bay nào cả.

Nhưng điều quan trọng nhất là, vùng cấm bay này không ảnh hưởng gì đến mật độ và lưu lượng lên xuống của máy bay ở sân bay TSN, không ảnh hưởng gì đến công suất của TSN, bởi một lẽ đơn giản rằng TSN vẫn còn vùng quay vòng ở phía Bắc không bị cấm, và giả sử một lúc nào đó, vùng quay vòng ở phía Bắc quá chật chội thì APP vẫn có thể cho phép máy bay quay vòng về phía Nam, chỉ cần nằm ngoài phạm vi cấm bay, tức là cách xa đường băng trên 7 Km.

Thật tình chúng tôi không thể nào hiểu nổi, tại sao Bộ GTVT lại trình Quốc hội rằng “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh”?

____

(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON và là Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI

Nguồn anhbasam.wordpress.com

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

5-3-2015

 

lang-biet-thu

Thử làm một phép so sánh:

Vé máy bay giá rẻ ở Đà Nẵng đi Sài Gòn là 850.000đ

Vé cáp treo lên và xuống Bà Nà: 500.000 cho người ngoài Đà Nẵng, 350.000 cho người Đà Nẵng (đã bao gồm vào cửa các trò chơi trong khu Fantasy Park).

Từ ngày 1. 4. 2015, giá vé tăng lên thành 550.000đồng/người cho người ngoài Đà Nẵng .

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

Không nói chuyện tài nguyên của đất nước mà giờ những người dân muốn lên chơi phải mua vé gần bằng nửa chuyến bay từ Đà Nắng đi Sài Gòn, Hà Nội; chỉ nói chuyện bao nhiêu công sức đổ ra mới làm được con đường lên đỉnh để xây dựng trên đó, vậy mà bây giờ, chỉ vì cáp treo mà chính quyền Đà Nẵng đồng ý cho doanh nghiệp cấm đường bộ, thì thật quá bất công.

Nhớ ngày nào, tui và Dương Thanh Tùng từng vác máy quay, máy nổ lội đường rừng, đánh đu dây leo, ngủ 3 đêm trên đường đi mới lên tới đỉnh để về có những hình ảnh đầu tiên lên VTV với phim “Vàng trên núi Chúa”, lên báo Tuổi Trẻ cuối tuần với bài “Bà Nà, nhìn thấy đó mà xa”. Sau đó một năm thì Đà Nẵng huy động quyết liệt lắm mới mở được con đường lên đỉnh. Chúng tôi sung sướng lắm, chiều rủ nhau lên núi nhậu, sáng sướng thì chạy lên uống café nhìn thành phố dưới chân mình, nhìn mây khói kéo đi như ở Sa Pa, Đà Lạt mà chả tốn đồng nào, chỉ 30 phút chạy xe máy.

Được dăm năm thì Đà Nẵng bán đứt cho Sun Group. Giờ thì 400.000 – 500.000 đồng mới được đặt chân lên. Lại bày đặt tri ân 150.000! Đây không phải là “tri ân” mà là tận thu ngày vắng khách. Nếu tri ân sao lại trừ thứ Bảy và Chủ nhật?

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Không cần biết tập đoàn Sun Group Ba Nà Hills tri ân người dân Quảng Nam Đà Nẵng bao nhiêu mới gọi là đủ. Chỉ cần trả Bà Nà núi Chúa lại cho người dân Đà Nẵng, trả con đường đèo đẹp ngoạn mục nhất Việt Nam lại cho người đi bộ lên đỉnh chơi. Họ có muốn dùng dịch vụ của Bà Nà Hills hay không là quyền của họ. Đừng ép họ mua vé cáp treo bao gồm cả những dịch vụ trong đó.

Nói thêm khỏi mất công cãi: Bà Nà Hills đúng là có công khi biến Bà Nà thành sản phẩm du lịch hút khách cho Đà Nẵng, thế nhưng không thể vì thế mà Bà Nà thành “nhượng địa” độc quyền của họ, không ai được đặt chân vào nếu không có vé.

Ảnh: Hồ Trung Tú

Ảnh: Hồ Trung Tú

Và nói thêm điều nữa, vé cáp treo bao gồm cả vé vào khu vui chơi, được tính là 200.000đ, mà làm thế là không đàng hoàng. Ai cần vào khu vui chơi đó chứ dân Đà Nẵng thì không, chơi một lần là đủ rồi. Người Đà Nẵng chỉ muốn lên Bà Nà mỗi chiều thứ Bảy, như người Huế muốn lên đồi Vọng Cảnh, người Hà Nội phóng xe lên Tam Đảo. Đừng bắt họ mua cái thứ vé này. Hãy trả lại con đường bộ đi-mà-không-mất-xu-nào cho họ, trả lại họ những khu vực công cộng mà một người bán vé số, một người xe ôm Đà Nẵng không cần tốn tiền cũng có thể đưa vợ con lên chơi.

Sun Group không làm ra độ cao 1.500m, không làm ra sương khói se lạnh Bà Nà giữa hè. Vì vậy, Sun Group không có quyền độc quyền khai thác điều đó dựa vào lý do đổ ra nghìn tỉ. Chỗ nào anh xây dựng thì anh xứ việc dựng rào bán vé, còn lại là của người dân.

Hãy trả lại Bà Nà cho người dân. Đừng cướp nước trên chính nước mình.

Theo Facebook Hồ Trung Tú , SoiToday. (Tác giả là một công dân Đà Nẵng)

Posted in Cướp Đất Đai, Du Lich | 1 Comment »

►Vụ Bắc Sơn: Chế độ lung lay từ nền tảng

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2014

Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

Ngô Nhân Dụng
Hà Tỉnh

Trong cuộc tranh đấu của người dân xã Bắc Sơn đang diễn ra, chúng ta thấy một hiện tượng mới: Các cán bộ cấp xã đã công khai bày tỏ nỗi bất mãn đối với “lệnh trên.” Họ phân trần rằng họ cũng chỉ là nạn nhân bị đặt vào cảnh trên đe dưới búa. Cái búa ở trên là đảng cộng sản liên kết với giới tư bản đỏ bày ra các “công trình” mà mục đích xưa nay vẫn là cướp ruộng đất của dân để rút ruột. Bên dưới là các nông dân cần bảo vệ đất nên chống lại cường quyền. Khi các cán bộ cấp dưới công khai tỏ ra bất mãn, tòa nhà chế độ bắt đầu rạn nứt từ nền móng.

Trước đây, trong các vụ dân biểu tình bảo vệ ruộng đất, báo chí không chú ý tới các cán bộ cấp xã, vì người ngoài mặc nhiên coi họ cũng là thủ phạm hoặc đồng lõa trong các âm mưu cướp ruộng, cướp đất. Nhưng trong vụ xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, viên xã trưởng đã nói chính mình, và có thể từ cấp huyện, bị áp lực từ trên xuống phải xúc tiến dự án làm công viên và nghĩa trang, dù họ không đồng tình. Lời bộc lộ này, xưa nay chưa ai từng nói ra trong các vụ xung đột giữa nông dân và đảng cộng sản, cho thấy một biến chuyển tâm lý đe dọa sự tồn tại của cả chế độ.

Các chế độ chuyên chế đều dựa vào một đạo quân thừa hành. Ở cấp thấp nhất là các tay chân kiểm soát từng xã, từng thôn, và các sĩ quan chỉ huy từng trung đội, đại đội công an. Khi nào chính lớp cán bộ đó ngả nghiêng, chao đảo, thì cái thang chống đỡ chế độ độc tài đang sập gẫy từ những bậc thang dưới cùng.

Tất cả những tin tức chúng ta đang biết về cuộc tranh đấu của đồng bào xã Bắc Sơn từ hơn mười ngày qua đều do các báo, mạng của đảng cộng sản phổ biến. Theo dõi các tin tức được truyền đi theo lối nhỏ giọt dưới sự chỉ huy của công an văn hóa tư tưởng, chúng ta thấy những người làm báo cũng khéo léo trình bày cho độc giả những uẩn khúc đằng sau cuộc đàn áp, để dần dần thấy được cảnh tan hàng đang diễn ra.

Nguyên ủy gây ra cuộc đấu tranh của người dân xã Bắc Sơn là một dự án xây dựng “công viên nghĩa trang” mang tên Vĩnh Hằng-Bắc Sơn, rộng trên 38ha, trị giá 386 tỉ đồng, tương đương 19.3 triệu đô la. Chính quyền đã ra lệnh “thu hồi” khoảng 30 mẫu (ha) đất trong đó có 8 mẫu là đất trồng trọt của 21 gia đình cư dân xã này để thực hiện dự án. Thu hồi, nghĩa là “lấy lại,” một hành động bề ngoài có vẻ là “hợp pháp.” Vì trong chế độ cộng sản hiện nay tất cả đất đai trên toàn quốc do đảng cộng sản kiểm soát dưới danh nghĩa “thuộc về toàn dân,” tất cả các nông dân đều chỉ được ban cho “quyền sử dụng” chứ không có quyền sở hữu, cho nên đất có thể bị nhà nước “thu hồi” lại bất cứ lúc nào. Nông dân oan ức vì ruộng đất bị cướp mất chỉ có cách duy nhất là biểu tình phản đối. Hàng ngàn vụ công an đàn áp “dân oan” đã diễn ra ở nước ta từ Nam ra Bắc, vụ xã Bắc Sơn, với hơn 3000 người dân chỉ là một biến cố gần nhất.

Tin tức sớm nhất do VietNamNet đưa ra, dẫn lời phó giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh, cho biết ngày 10 Tháng Tư, sáu viên công an được cử đến thi hành “lệnh bắt đối với một đối tượng tên Trường, trú trên địa bàn xóm Trung Sơn, xã Bắc Sơn về tội gây rối trật tự công cộng.” Bản tin nghe như một vụ đàn áp bình thường, với một “đối tượng” duy nhất. Cách sử dụng từ “đối tượng” là văn chương của công an, với ẩn ý hạ thấp giá trị của người bị đàn áp, không coi đó là một con người mà chỉ là một“đối tượng!” Báo chí ở trong nước thường họa theo lối gọi tên “phi nhân hóa” này, có thể vì lười biếng không muốn tìm một từ khác, hoặc vì sử dụng những từ ngữ trong báo cáo của công an thì sẽ tránh được tai họa. Ðọc bản tin đầu tiên đó, người ta không biết “đối tượng tên Trường” này là ai.

VietNamNet sau đó loan tin một số dân tụ tập phản đối lệnh thu hồi đất, bị buộc tội “gây rối trật tự công cộng,” bị công an đến tận nhà đòi bắt giữ; lúc đó người đọc mới biết không phải chỉ một “tên Trường gây rối” mà còn những nông dân khác, và biết dân chúng đã đánh và bắt giữ bốn công an. Trong lúc người đọc còn đặt câu hỏi “Tại sao dân dám đánh công an?” thì tờ báo mạng cho biết thêm có hơn 100 công an và cảnh sát cơ động đã “được huy động để giải vây cho một tổ công tác bị người dân ‘vây đánh’ tại xã Bắc Sơn.” Chi tiết được nêu ra là: “Nông dân đã dùng gậy gộc, gạch đá tấn công làm bốn người bị thương; mất một tiếng rưỡi đồng hồ sau, bốn cán bộ công an mới được giải cứu khỏi vòng vây, đưa vào bệnh viện.” Bị đẩy lùi trước sức mạnh của lực lượng công an vũ trang, dân chịu thua; nhưng ngay sau đó, họ chia thành nhiều nhóm kéo đến ném đá vào nhà ông chủ tịch xã Trần Bá Hoành, và đốt phá nhà trưởng công an xã Nguyễn Khắc Sơn.

Cho tới lúc đó, người đọc vẫn chưa biết nguyên ủy tại sao dân dám liều mình đánh công an. Cho tới khi báo mạng Một Thế Giới nói rõ hơn, khi thuật lại lời của ông Trần Bá Hoành. Ông Hoành cho biết, “Cách đây một tháng, có bốn trưởng thôn và hai bí thư chi bộ thôn đã xin nghỉ việc; mà từ đó đến nay, chưa có ai thay thế. Những cán bộ trên thuộc bốn thôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án làm công viên nghĩa trang, là Ðồng Vĩnh, Trung Sơn, Kim Sơn, Xuân Sơn.” Ông Trương Văn Trường, là trưởng thôn Trung Sơn đã xin nghỉ nên bị công an tới bắt, gây ra cảnh dân đánh lại công an. Hậu quả của cuộc xung đột là hai cán bộ đứng đầu xã từ chức, trụ sở xã đóng cửa vì hầu hết các cán bộ lãnh đạo xã không dám ra đường.

Chủ tịch xã Trần Bá Hoành nói rằng, chính ông ta và chủ tịch huyện đều không biết tỉnh Hà Tĩnh quyết định chọn Bắc Sơn lấy đất làm dự án xây nghĩa địa. Riêng trong vụ này, ông và chủ tịch huyện đều không đồng tình thực hiện dự án vì khi hỏi ý kiến chỉ có 17% dân chúng đồng ý. Tuy nhiên, vì là cấp dưới, ông Hoành tâm sự, nên chỉ biết tuân thủ lệnh của cấp trên. Ông Trần Bá Hoành tự giới thiệu mình đã làm chủ tịch xã suốt 13 năm qua mà không bị dân ghét. Nay chỉ vì một dự án, mà chính ông không đồng ý, ông biến thành đối nghịch với dân. Ông Hoành còn nói thêm rằng xung đột giữa dân và chính quyền bùng nổ từ cuộc họp tại trụ sở xã hôm vào tháng 11 năm 2013. Trong cuộc họp này, nhiều người giật máy ảnh của công an huyện; đấm đá bí thư đảng ủy và trưởng ban dân vận của huyện.

Những tiết lộ của ông Trần Bá Hoành cho chúng ta thấy vết rạn nứt trong hàng ngũ những cán bộ cấp thấp nhất trong guồng máy cầm quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã biết cả bộ máy đảng chỉ là một tổ chức phân chia quyền hành để kiếm. Các dự án, công trình được bầy ra để các quan chức rút ruột cùng các nhà tư bản đỏ khai thác làm giầu. Cán bộ xã, thôn làm theo lệnh của giới lãnh đạo, từ trung ương đến địa phương, chính họ cũng được chia phần. Khi người dân bị cướp đất biểu tình phản đối, thì đã có công an vũ trang đến “đánh dẹp.” Ðó là cảnh đã diễn ra từ hàng chục năm qua.

Tại xã Bắc Sơn, tình trạng đã thay đổi. Người dân Hà Tĩnh không “hiền lành” cúi đầu chịu nhục và mất cơ nghiệp, đã tấn công thẳng vào các cán bộ cấp xã. Nhà của chủ tịch, bí thư đảng ủy và trưởng công an xã bị đập phá, đốt cháy; hàng chục cán bộ khác đưa gia đình đi lánh mặt và gửi các vật dụng quý giá như xe cộ đến nơi khác để khỏi bị đốt phá.

Nhưng chính trong hàng ngũ các cán bộ thấp nhất cũng có người phản đối âm mưu cướp ruộng đất của dân. Ông trưởng thôn Trung Sơn Trương Văn Trường là một người can đảm bày tỏ thái độ bằng cách từ chức; vì vậy khi công an đến bắt thì dân bênh ông ta. Trong bốn trưởng thôn từ chức, mình ông Trường bị bắt, theo chiến thuật quen thuộc của cộng sản là chia tách các đối thủ để đánh lẻ. Có thể ông Trường bị chọn làm mục tiêu vì ông tỏ thái độ mạnh nhất, hoặc vì ông được lòng dân nhất. Khi các cán bộ khác bị dân tấn công, lúc đó mới có người, như ông Trần Bá Hoành, tỉnh ngộ thấy mình đang sống trong cảnh trên đe dưới búa. Họ phải lựa chọn: Ðứng về phía người dân bị bóc lột và bị đàn áp, hay đứng về phía đảng Cộng sản? Khi ông Trần Bá Hoành “lật tẩy” phân trần rằng mình và chủ tịch huyện không đồng ý với dự án làm công viên, ông muốn ngỏ ý đứng về phía người dân. Người Việt Nam nào cũng biết câu “Quan nhất thời, dân vạn đại.” Sau cùng, các cán bộ thôn xã sẽ phải thức tỉnh, nhận ra rằng chính họ và gia đình, con cháu họ sẽ phải sống bên cạnh người trong thôn xã, chứ không thể được guồng máy bạo lực che chở mãi mãi.

Dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vốn nổi tiếng đấu tranh. Nông dân nổi giận chống chính quyền khi bị cướp đất, cướp cơm. Nhưng người ta cũng nổi dậy khi thấy mình bị sỉ nhục, nhất là bị nhục nhã trước ngoại bang. Ở phía Nam xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, ở huyện Kỳ Anh người dân cũng đang phẫn uất trước cảnh người Trung Quốc tràn ngập trong khu kinh tế Vũng Áng. Trong khu kinh tế này có hơn 3,200 công nhân làm việc, trong đó có đến 2,000 người là “lao động chui” người Trung Quốc đang làm cho dự án Formosa của tư bản Ðài Loan. Theo báo chí trong nước, người Trung Quốc không chỉ đánh lộn, ăn cắp, mà còn ăn nhậu bừa bãi tại các khách sạn, nhà hàng, các quán karaoke mọc như nấm dọc quốc lộ 1A. Một khu giải trí mang tên “Hồng Thiên Hy” hình như chỉ dành riêng cho người Trung Quốc, tất cả các quán nhậu, nhà hàng đều có “tiếp viên” sẵn sàng phục vụ người Trung Quốc “trọn gói từ A đến Z.” Gần đây kế toán viên dự án Formosa bị đâm trọng thương ngay tại khu nội trú của người Trung Quốc.

Vụ Bắc Sơn là một tiếng chuông đánh thức tất cả nông dân trên cả nước. Khi người dân tự giành lấy quyền quyết định vận mạng của mình, thì chính các cán bộ cấp thôn, cấp xã cũng phải theo họ. Ðảng Cộng sản đang giống như một một tòa nhà sắp tan rã vì nền móng đang rạn nứt. Gần đây, ngay trong việc đàn áp dân và phá phách các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội và Sài Gòn, đảng Cộng sản đã phải thuê toàn bọn đầu gấu đến thay thế hoặc phụ lực cho công an, chứng tỏ họ không dám tin tưởng hoàn toàn vào các sĩ quan chỉ huy công an nữa. Nay tới các cán bộ thừa hành cấp xã, thôn cũng nao núng. Ðây là lúc các nhà tranh đấu dân chủ tự do ở nước ta bắt đầu nhập cuộc tranh đấu cùng giới nông dân. Ðảng Cộng sản đang bị bắt buộc trả tự do cho nhiều nhà tranh đấu, để mong được gia nhập tổ chức mậu dịch Thái Bình Dương (TTP) ngõ hầu cứu vãn nền kinh tế suy sụp. Luật Sư Nguyễn Văn Ðài nhìn thấy một “không gian chính trị an toàn hơn đã được tạo ra,” một cơ hội để giới tranh đấu dân chủ tiến tới.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa?

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Sẽ không bao giờ có chuyện đảng và nhà nước từ bỏ quyền sở hữu toàn dân trong vấn đề đất đai, ruộng đất, tức là nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ quyền làm chủ đất đai của cả nước. Có nghĩa rằng nhà nước muốn lấy của ai thì lấy, và đền bù đất đai theo giá quy định của nhà nước, chứ không theo giá thị trường. “Các nhóm lợi ích vẫn ung dung với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.”

Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa?

 

Phạm Chí Dũng

Đài Á Châu Tự Do   rfa.org.vietnamese

 21-10-2013

Nếu “sở hữu đất đai toàn dân” vẫn chưa có gì tiến hóa trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2013, các nhóm lợi ích vẫn ung dung trục lợi với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.

Viên mãn

Sau khi hội nghị trung ương 8 vào tháng 10/2013 của Đảng cầm quyền viên mãn, hầu như không có hy vọng nào cho một tư duy tiến hóa hơn về quyền sở hữu đất đai của người dân.

Giờ đây và là lần thứ hai trong năm 2013, các đại biểu quốc hội lại có cơ hội “sôi nổi góp ý” về bản hiến pháp đã được tu chỉnh không ít lần về một chủ đề hầu như đã được mặc định trong những chính kiến được bắt vít với điều 4 hiến pháp.

Nhưng khác hẳn với kỳ họp quốc hội vào giữa năm 2013, vào lần này người vừa đưa ra tuyên bố “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp” dường như tỏ ra quyết tâm hơn nhiều đối với việc Hiến pháp phải được chính thức thông qua vào cuối năm nay.

Và có lẽ quyết tâm tân trang hiến pháp của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng liên quan phần nào đến hiện tượng vắng bóng cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm trong đảng tại hội nghị trung ương 8, cho dù từ quý đầu năm nay ông Trọng đã tỏ ra bức xúc về vấn đề này như một nhiệm vụ then chốt của các “đày tớ”.

Nếu Hiến pháp mới vẫn được sao y trọn vẹn tinh thần của “bản gốc” năm 1992, tất nhiên sẽ chẳng có một cuộc đổi thay tinh thần nào cho người dân, cho dù từ đầu năm 2013 đến nay đã có quá nhiều và quá đủ ý kiến từ dân chúng cho rằng nhân dân phải có quyền định đoạt – sở hữu về mảnh đất của chính mình, chứ không thể mãi mãi chỉ vay mượn khái niệm “quyền sử dụng” – một cái cớ để bất cứ một nhóm lợi ích nào cũng có thể lợi dụng nhằm đẩy đuổi dân ra khỏi nơi chôn rau cắt rốn.

Thụt lùi

Cần nhắc lại, ngay trước kỳ họp quốc hội giữa năm 2013, Chính phủ đã gửi đến Ủy ban thường vụ quốc hội một đề xuất rất đáng quan tâm: “Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà không quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế xã hội”.

Cho tới thời điểm trên, việc giải quyết khiếu tố đất đai vẫn hết sức nóng bỏng ở Việt Nam, với khoảng 80% đơn thư khiếu tố thuộc về lĩnh vực đất đai và hơn 70% trong số đơn thư đó nhằm tố cáo rất nhiều sai phạm của các chính quyền địa phương về công tác bồi thường, cưỡng chế giải tỏa, tái định cư…

Ngược chiều với tuyên ngôn “công an và thanh tra là bạn của dân”, nhiều vụ khiếu kiện đất đai đã bị quy chụp cho cái mũ “tụ tập mang màu sắc chính trị” và đã bị đàn áp nặng nề.

Thế nhưng trong một kỳ họp mà giới quan sát mô tả là có đến hàng trăm nghị sĩ bị “thoái khẩu”, vẫn không có một cải cách xứng đáng nào được đưa ra liên quan đến Luật đất đai. Trái ngược với mong mỏi của người dân về quyền sở hữu đất cần được quy định trong luật, dự thảo hiến pháp vẫn cho rằng: vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không đặt vấn đề trưng mua vì tổ chức, cá nhân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu; đặc biệt là vẫn thu hồi đất đối với các dự án kinh tế xã hội.

Song tiếng nói người dân ngoài nghị trường lại vang dội: nếu không đưa đất đai về đúng bản chất thật của nó là quyền sở hữu của nhân dân và pháp luật vẫn tạo điều kiện cho những chủ đầu tư phát huy một cách quyết liệt lòng tham của họ, rất nhiều bất công vô lối vẫn sẽ xảy ra với người dân bị thu hồi đất, sẽ còn nhiều cuộc khiếu tố đông người và biểu tình bùng nổ ở nhiều địa phương trong cả nước.

Trong tận cùng tâm não của mình, dường như Đảng và Quốc hội vẫn chưa nhận ra những sự kiện Ô Khảm ở Trung Quốc vào cuối năm 2011 và Tiên Lãng ở Việt Nam vào đầu năm 2012 đã có thể quá đủ để cấu thành một bài học nhãn tiền cho những gì có tính quả báo thời nay.

Thậm chí vào trung tuần tháng 3/2013, trong một tư duy không thể hoang tưởng hơn, phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội là ông Phan Xuân Dũng đã đề một “phát kiến”: “Cần có quy định bắt buộc người khiếu nại tố cáo ứng ra một khoản tiền đặt cọc. Thua thì coi như mất tiền đặt cọc, còn kiện đúng thì tiền cọc mới được nhà nước hoàn trả”.

Chưa bao giờ từ năm 1990 đến nay, Quốc hội lại mang dấu ấn thụt lùi đến mức như thế khi đối diện với dân sinh, dân oan và với chính mình.

Tự xử

Ngoài những nội dung khá mờ nhạt trong thông báo kết luận sau hội nghị trung ương 8 vào tháng 10/2013, có lẽ dấu ấn duy nhất lại thuộc về một sự “hiệp thông” nào đó giữa nhóm “cương lĩnh đảng cao hơn hiến pháp” với những người điều hành bánh xe của hiến pháp. Trong không khí đồng thuận đáng ngạc nhiên về đánh giá “nền kinh tế vẫn tiếp tục ổn định và phát triển”, không có bất kỳ nội dung nào được nhấn mạnh về thảm cảnh lợi dụng thu hồi đất để trục lợi đã tràn ngập ở các tỉnh thành và tạo nên vô số dân oan khiếu kiện.

Bối cảnh kỳ họp quốc hội vào cuối năm 2013 lại khác khá nhiều với thời điểm giữa năm. Vào tháng 9/2013, trong lúc 7 đoàn kiểm tra chống tham nhũng của Đảng vẫn chưa phác ra bất kỳ manh mối nào về kết quả “vi hành”, Thái Bình đã một lần nữa, sau “cách mạng” 1997, nổ ra hành vi nông dân Đặng Ngọc Viết xả súng giết chết vài cán bộ của Trung tâm quản lý quỹ đất của tỉnh này. Vụ việc chưa từng có ấy đã lập tức gây chấn động trong toàn bộ hệ thống công quyền và buộc các thành viên của Ủy ban thường vụ quốc hội một lần nữa phải thảng thốt về đường lối “tự xử” của dân chúng.

Vẫn là nguồn gốc đền bù thiếu thỏa đáng, vẫn là cách hành xử vô cảm và vô tâm của giới quan chức, cùng thói quen sẵn sàng dùng “công an trị” để xử lý tình huống bất mãn của dân chúng mà đã đẩy không ít dân oan vào thế cùng tắc biến.

Sau một năm rưỡi kể từ vụ dùng súng hoa cải và mìn tự tạo “chống người thi hành công vụ” của gia đình Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, câu chuyện Đặng Ngọc Viết đã “nâng lên một tầm cao mới” với tâm thế chủ động trả thù đối tượng cưỡng chế. Đó cũng là một dạng không thể đặc biệt hơn trong tâm lý “hồi tố” của dân chúng đối với chính quyền – tiền đề mà rất có thể sẽ dẫn tới những xung đột với quy mô ghê gớm hơn nhiều trong tương lai không xa.

Tuy nhiên, quán tính rung đùi vẫn chưa thể tiến hóa từ hội nghị trung ương 4 về ‘”chỉnh đảng” cho đến nay. Dù nhấn mạnh về “bất ổn xã hội”, nhưng áng văn của những bản thông báo kết luận hội nghị vẫn không toát lên bất cứ can đảm cải chính nào đối với dân chúng, chưa nói đến việc sửa sai.

Xuống hố

Không khí trì trệ không chỉ não trạng mà cả hành vi trong Đảng càng khiến cho các nhóm lợi ích thừa cơ tung hoành. Vào đầu tháng 10/2013, hàng loạt vụ cưỡng chế đã dồn dập xảy ra ở Văn Giang thuộc Hưng Yên và Trịnh Nguyễn thuộc Bắc Ninh. Không chỉ hiện diện sắc phục công an, hình ảnh tái hiện của những nhóm côn đồ càng khiến lớp dân oan sôi máu.

Những vụ việc thu hồi đất bất chấp đạo lý như thế lẽ ra đã “thành công tốt đẹp” – cụm từ thường thấy mỗi khi kết thúc một hội nghị quan trọng nào đó trong nội bộ, nếu không nổi lên cơn bão “quyết tử giữ đất” của người dân địa phương.

Những cuộc cưỡng chế trên lại xảy ra chỉ ít ngày sau chuyến công du đối ngoại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Paris và New York, với bài phát biểu của ông Dũng được báo đảng tôn vinh là “rất nhân văn”.

Vậy quan điểm của Chính phủ – cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý đất đai cùng vô số hậu quả từ thực trạng thu hồi đất vô lối và bất công từ nhiều năm qua – như thế nào?

Khác hẳn với kỳ họp quốc hội giữa năm nay, vào lần này đã không có bất cứ đề xuất nào của Chính phủ về Luật đất đai và những vấn đề liên quan. Động cơ này dường như chẳng ăn nhập gì với một khẩu hiệu mà giới lãnh đạo hành pháp giương lên vào trước kỳ họp quốc hội giữa năm nay “Quyền phúc quyết thuộc về nhân dân”.

Ngay cả hiện tồn quá hỗn độn và gây tranh cãi diện rộng từ giữa năm về chuyện có thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội hay không cũng không hề được giới quan chức chính phủ đả động.

Với không khí bùng nhùng thiên về “hiệp thông chính trị” trong nội bộ, có lẽ không quá khó để hình dung chủ đề “sở hữu đất đai toàn dân” vẫn chưa có gì tiến hóa trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2013, nhân dân các địa phương và ngay tại Hà Nội vẫn chỉ có thể vay mượn “quyền sử dụng “ trên chính mảnh đất cha ông của mình. Còn các nhóm lợi ích vẫn ung dung với sự “bảo kê” mới từ bản tân Hiến pháp về cơ chế thu hồi đất.

Người dân Việt đang tự hỏi sẽ còn xảy ra bao nhiêu vụ Đoàn Văn Vươn và Đặng Ngọc Viết nữa ở nông thôn miền Bắc và dắt dây vào khu vực miền Trung và Nam bộ.

Tất cả cứ như cùng dắt tay nhau xuống hố…

(Phạm Chí Dũng, Việt Nam 21-10-2013)

Posted in Cướp Đất Đai, Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Cty VN phá rừng ở Lào và Campuchia để trồng cao su – Global Witness

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2013

 

Bầu Đức của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai: Tôi cho rằng cái báo cáo này nếu mà sâu xa thì nó rất quái ác rất thâm hiểm. Nó làm cho công ty có thể sụp đổ…

Âm thanh:
http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep…p3/inline.html

Bài viết:
http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep…013065308.html

 

Global Witness: Cty VN phá rừng ở Lào

và Campuchia để trồng cao su 

Gia Minh, biên tập viên RFA

2013-05-14 

Tổ chức Global Witness vừa công bố phúc trình về tình hình hai đại công ty của Việt Nam là Hoàng Anh Gia LaiTập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam sang Kampuchia và Lào phá rừng để trồng cao su gây nên những tác hại về môi trường và cuộc sống của người dân địa phương.

Những điểm đáng chú ý trong báo cáo đó là gì? Đây là đề tài trong chuyên mục Khoa học – Môi trường kỳ này.

Những vị vua cao su

Báo cáo có tên “Những vị vua cao su’ (Rubber Barons) dài 49 trang khổ giấy A4 được chính thức công bố vào lúc 7 giờ sáng ngày 13 tháng 5 theo giờ Việt Nam.

Báo cáo chỉ rõ đích danh tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam là một trong những tác nhân gây nên cuộc khủng hoảng thu hồi đất đai tại hai quốc gia lân bang là Kampuchia và Lào.

Làm thế nào mà hai tập đoàn này có thể được chính quyền địa phương chuyển nhượng cho những khu đất rừng lớn để chặt gỗ đi lấy đất trồng cao su?

Global Witness nêu ra rằng hai tập đoàn này có mối quan hệ chặt chẽ với tầng lớp chính trị lãnh đạo tham nhũng và giới tài phiệt tại hai quốc gia đó. Chính hai thế lực này là lá chắn vững chắn để HAGL và VRG không bị phạt khi vi phạm các qui định nghiêm ngặt về bảo vệ rừng của nước chủ nhà.

Chúng tôi rất tự tin về những chứng cứ mà chúng tôi thu thập và nêu ra trong báo cáo. Những chứng cứ đó rất mạnh và được thu thập qua những kiểm tra kỹ lưỡng từ cộng đồng. 
            -Megan MacInnes- (Global Witness)

Global Witness nhận định rằng do giá cả cao su tăng cao và nhu cầu trên thị trường thế giới đối với mặt hàng cao su cũng mỗi lúc một lớn; đặc biệt là thị trường Trung Quốc đối với mặt hàng mủ cao su, là những nhân tố khiến những đại công ty như HAGL và VRG tìm sang Kampuchia và Lào để mở rộng đất trồng cao su. Đó là hai nơi mà đất đai còn nhiều trong khi tại Việt Nam thì hầu như không thể mở rộng diện tích cao su được nữa.

Thống kê mà Global Witness đưa ra cho thấy tính đến cuối năm ngoái,

Kampuchia đã cho thuê 2 triệu 6 trăm ngàn hecta đất; trong số này gần phân nửa là để để trồng cao su.

Lào thì cho thuê ít nhất là 1 triệu 1 trăm ngàn hecta.

Sau khi nhận được giấy phép cho những khu tô nhương, hai tập đoàn HAGL và VRG tiến hành công việc phá rừng lấy đất trồng cây cao su. Việc phá rừng không chỉ nằm trong phạm vi được nhượng mà ra khỏi khu vực đó.

Có cáo giác nói HAGL hợp đồng với một tay tài phiệt Kampuchia để khai phá rừng, chế biến gỗ lấy từ khu khai phá đó. Những công ty con của Tập đoàn HAGL dường như đều có mối quan hệ với các quan chức chính phủ của Kampuchia, cũng như hợp tác làm ăn với những nhóm thần thế chuyên đốn gỗ lậu.

 
Tập đoàn HAGL phá rừng để trồng cao su ở Lào. Courtesy Global Witness.

Global Witness nói rằng cơ quan chức năng Lào và Kampuchia cấp giấy phép tô nhượng đất tại quốc gia và họ không tuân thủ luật lệ của chính nước họ. Khi mà cả hai tập đoàn này có những vi phạm luật pháp của nước chủ nhà khi tiến hành hoạt động phá rừng để trồng cao su tại những khu đất tô nhượng như thế, chính quyền sở tại cũng phớt lờ đi, không trừng phạt.

Báo cáo của Global Witness cũng lần đầu tiên phơi bày cho thấy vai trò của những định chế tài chính liên quan hoạt động đất của các tập đoàn như HAGL và VRG tại Kampuchia và Lào.

Theo Global Witness thì Deutsche Bank có cổ phần nhiều triệu đô la trong hai tập đoàn HAGL và VRG. Công ty Tài chính Quốc tế, IFC, thuộc Ngân hàng Thế giới cũng có khoản đầu tư vào HAGL. Những khoản đầu tư như thế bị lên án là trái ngược lại với những cam kết công khai của cả hai định chế về các mặt đạo đức và phát triển bền vững. Cụ thể IFC hiện đầu tư gần 15 triệu đô la vào một quĩ ở Việt Nam, và quĩ này nắm giữ gần 5% cổ phần của HAGL.

Báo cáo nêu thêm một vài dữ liệu nữa như Deutsche Bank có nhiều mối quan hệ với HAGL, trong đó có 3,4 triệu cổ phần của công ty này trị giá chừng 4,5 triệu đô la. Số cổ phần mà Deutsche Bank nắm tại Công ty Đồng Phú thuộc VRG là 1, 2 triệu cổ phần trị giá 3,3 triệu đô la Mỹ.

Bí mật công ty được cho là một yếu tố quan trọng giúp cho HAGL và VRG che giấu những phần hùn trong các công ty khác, từ đó giúp họ lách qua được những giới hạn mà qui định đề ra.

Tác động

Theo Global Witness thì những hoạt động của hai tập đoàn HAGL và VRG cùng các công ty con, hay dây mơ rễ má trong hoạt động khai thác cao su tại Kampuchia và Lào đang tàn phá cuộc sống của người dân bản xứ và phá hoại môi trường.
Trong thực thế dân chúng địa phương mất đi những diện tích đất và rừng bao la khiến họ phải đối mặt với sự nghèo đói. Những khu rừng thiêng, và đất đai chôn cất của họ của bị phá hủy.

Chúng tôi sẽ trình bày vấn đề với LHQ để bàn thảo cách thức giải quyết tình hình thu hồi đất không chỉ liên quan hai trường hợp cụ thể HAGL và VRG mà là trên phạm vi toàn cầu. 
-Bà Megan MacInnes

Tiếng nói từ phía Global Witness:

Bà Megan MacInnes, tác giả của báo cáo trình bày lại duyên do mà Global Witness biết đến hoạt động của hai tập đoàn HAGL và VRG sang Lào và Kampuchia khai phá rừng ở đó để trồng cao su:

“Khi chúng tôi bắt đầu làm nghiên cứu cho Global Witness về những ‘ông vua cao su’, chúng tôi bắt đầu xem xét đến những tài liệu về những nhà đầu tư cao su lớn tại Kampuchia và Lào. Chúng tôi biết rằng vấn đề các nông trường trồng cao su tại hai nước này đang là một vấn đề ngày càng gia tăng xét về phương diện thu hồi đất, cuộc sống người dân và tình trạng phá rừng. Chúng tôi phát hiện ra Việt Nam là nhà đầu tư lớn về cao su tại cả hai nước Kampuchia và Lào, và những công ty thuộc tập đoàn HAGL và VRG là những đơn vị có vai trò đáng kể nên chúng tôi bắt đầu tìm hiểu về hai tập đoàn đó.”

Cách thức tiến hành điều tra hoạt động của hai tập đoàn này tại hai nước Kampuchia và Lào được tiến hành ra sao? Bà Megan MacInnes cũng có trình bày:

Global Witness tiến hành điều tra cho báo cáo ‘Những ông vua cao su’ trong khoảng thời gian hơn 12 tháng. Hoạt động bao gồm những chuyến đi thực địa đến tại những khu tô nhượng và tại đó chúng tôi nói chuyện với người dân sống gần nơi đó. Chúng tôi sử dụng những tài liệu có sẵn về hai tập đoàn HAGL và VRG. Thế rồi chúng tôi sử dụng các tài liệu liên quan về tô nhượng, về chính sách phát triển cây cao su từ phía ba chính phủ Kampuchia, Lào và Việt Nam.”
Đề xuất

Báo cáo của Global Witness cũng nêu rõ hiện còn thiếu những qui định quốc tế nhằm có thể ngăn chặn các công ty và định chế tài chính góp phần gây nên nạn thu hồi đất tại những quốc gia nghèo khó nhất thế giới.

 
Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN vận chuyển gỗ ở Campuchia. Courtesy Global Witness.

Global Witness đề xuất một số hành động cần phải thực hiện. Trước hết nhà cầm quyền hai nước Kampuchia và Lào phải hủy tô nhượng dành cho các công ty được nêu danh là Heng Brother của Kampuchia, CRD, Hoàng Anh Oyadav, Hoang Anh Mang Yang, Krong Buk, Đồng Phú, Đồng Nai, Tân Biên, Hoàng Anh Atapeu, LVFG, HAGL Xekong, và Công ty Việt- Lào. Cả hai chính phủ phải ngưng mọi hoạt động có liên quan đến HAGL và VRG để tiến hành điều tra và khởi tố mọi hoạt động phi pháp khi phát hiện được.

Ngân Hàng Deutsche và Công ty Tài chính Quốc tế IFC cần có những biện pháp khẩn cấp bảo đảm HAGL và VRG tuân thủ những qui định về pháp lý, xã hội và môi trường đề ra. Hai tổ chức tài chính này phải chuyển hết các khoản đầu tư vào HAGL và VRG nếu như hai tập đoàn này không tuân thủ mọi cải sửa trong vòng sáu tháng.

Trong quá trình tiến hành điều tra, người của Global Witness từng đến gặp cả hai tập đoàn HAGL và VRG nêu ra những chứng cứ mà họ có được về tình trạng khai phá rừng để trồng cao su tại những khu tô nhượng ở Kampuchia và Lào; thế nhưng thật dễ hiểu là những bằng chứng không hay cho hai tập đoàn đều bị bác bỏ. Bà Megan MacInnes cũng dự liệu là khi báo cáo ‘Nhưỡng ông vua cao su’ được chính thức công khai, thì hai tập đoàn này cũng sẽ lại bác bỏ; Global Witness biết điều đó nhưng theo như lời của bà Megan Innes thì Global Witness chắc chắn đó là những chứng cứ không thể nào từ chối được và tổ chức này sẽ có những bước tiếp theo:

“Trước hết khi tiến hành làm nghiên cứu, chúng tôi đã liên hệ với HAGL và VRG kể từ tháng 8 năm 2012, trình cho họ những chứng cứ và hỏi biện pháp họ sẽ giải quyết các tình trạng gây nên như thế nào. Cho đến nay họ chưa hề có hành động gì và bác bỏ những vấn đề được nêu ra. Tuy nhiên, chúng tôi rất tự tin về những chứng cứ mà chúng tôi thu thập và nêu ra trong báo cáo. Những chứng cứ đó rất mạnh và được thu thập qua những kiểm tra kỹ lưỡng từ cộng đồng.

Những chứng cứ về việc hai tập đoàn này không tuân thủ luật lệ tại Kampuchia và Lào là không thể chối cãi được. Trong những tài liệu công khai được báo tại Thị trường Chứng Khoán London, HAGL cho thấy có những điều không tuân thủ luật pháp tại cả hai nước Lào và Kampuchia, nên chắc chắn họ sẽ không thành công khi bác bỏ những chứng cứ mà chúng tôi nêu ra. 

Về những việc sẽ làm sau khi công bố báo cáo, chúng tôi sẽ đến Việt Nam vào đầu tháng sáu này. Chúng tôi hy vọng lúc đó sẽ gặp lại được cả hai tập đoàn để cùng thảo luận về những chứng cứ được nêu ra. Tiếp tục thảo luận những biện pháp mà họ làm để giải quyết những vấn đề gây ra tại Kampuchia và Lào. 
Chúng tôi cũng sẽ làm việc về những hoạt động có liên quan đến Deutsche Bank và IFC. 

Dĩ nhiên chúng tôi sẽ trình bày vấn đề với Tổ chức Liên Hiệp Quốc để bàn thảo cách thức giải quyết tình hình thu hồi đất không chỉ liên quan hai trường hợp cụ thể HAGL và VRG mà là trên phạm vi toàn cầu. Nêu chú ý là khi so sánh với hai ngành khai khoáng và rừng đã có những qui định chặt chẽ đối với các công ty, thì những ngành công nghiệp như cao su vẫn chưa có những qui định về mặt luật pháp khiến gây quan ngại, do vậy chúng tôi sẽ thúc đẩy những tổ chức quốc tế đưa ra qui định và luật để ngăn chặn tình trạng tương tự xảy ra trong tương lai. 
Một số đề nghị trước mắt đối với những tập đoàn đang gây ra thảm cảnh cho người dân địa phương khi đất đai bị thu hồi khiến mất phương kế sinh sống là phải bồi thường thỏa đáng cho họ, và các tập đoàn phát triển cây cao su như HAGL và VRG phải tuân thủ các qui định về môi trường và luật pháp trong hoạt động của tập đoàn.”
Xin phép được nhắc lại, Global Witness là tổ chức được thành lập từ năm 1993, trụ sở chính tại London, Anh Quốc. Trong suốt 19 năm qua, Global Witness tiến hành những chiến dịch tiên phong ở những nơi xảy ra các xung đột liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, tham nhũng, môi trường và cả vi phạm quyền con người.
Global Witness tiến hành điều tra và đưa ra ánh sáng tình hình tham nhũng tại những nơi có nguồn tài nguyên phong phú như gỗ, khoáng sản, dầu mỏ, kim cương… Một trong những mục tiêu là ‘giải lời nguyền tài nguyên’, giúp người dân sở tại được hưởng phần công bằng từ nguồn lợi trời cho đó. Ngoài ra việc khai thác phải hợp lý không vì lòng tham mà tận thu đến mức tàn phá như những công ty bị nêu danh trong báo cáo vừa mới công bố của Global Witness.

Mục Khoa học – Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây.Hẹn gặp lại quí thính giả và các bạn trong chương trình kỳ tới cũng vào giờ này trên làn sóng phát thanh của Đài Á Châu Tự Do.

Gia Minh chào tạm biệt.

————————————-

Bị cáo buộc phá rừng, bầu Đức đang đối mặt với ai?
(Dân trí) – Đứng sau nguồn quỹ cho Global Witness, phần lớn đóng góp đến từ tỷ phú George Soros. Cũng chính tổ chức này là nguyên nhân dẫn đến việc Liberia bị Liên hợp quốc áp lệnh trừng phạt đối với hoạt động xuất khẩu gỗ.

Ngay sau khi bị Tổ chức Nhân chứng toàn cầu (Global Witness) cáo buộc về hành vi hối lộ, lợi dụng quan chức tham nhũng tại Lào và Campuchia để chiếm đoạt đất, khai thác gỗ bất hợp pháp, bịt đường sinh kế cư dân địa phương, phản ứng của Hoàng Anh Gia Lai (HAG) không gây bất ngờ.

Cũng tương tự như trước các phản hồi của HAG trước việc bị các tổ chức tín nhiệm quốc tế như Fitch Ratings, Standard & Poor’s (S&P) hạ bậc, đại diện của công ty bầu Đức ngay lập tức lên tiếng phủ nhận giá trị báo cáo và thậm chí yêu cầu ngừng xếp hạng, lúc nào thị trường tốt hơn sẽ sẵn sàng mời trở lại.

Trong vụ việc gần đây, bên cạnh việc phủ nhận những cáo buộc mà Global Witness đưa ra, điều đáng chú ý là Chủ tịch Đoàn Nguyên Đức của Hoàng Anh Gia Lai đã quy kết tổ chức này đang lợi dụng hình ảnh của HAG để đánh bóng tên tuổi. Liệu rằng, có đúng Global Witness “không hề có tên tuổi gì” như đánh giá của bầu Đức hay không?

Tại bài viết này, Dân trí không đi sâu vào các cáo buộc về hoạt động đầu tư của HAG tại hai quốc gia láng giềng là Lào và Campuchia, mà chỉ cung cấp cho độc giả rõ về tổ chức “không tên tuổi” mà người giàu thứ hai thị trường chứng khoán Việt đang phải đối đầu là ai.

Phần lớn nguồn quỹ từ George Soros

Theo thông tin trên tờ The Mole của Malaysia, Global Witness được tài trợ bởi Viện Xã hội mở (OSI) do siêu tỷ phú George Soros thành lập. Tính riêng trong năm 2011, Global Witness nhận được 1,2 triệu bảng Anh từ OSI, chiếm phần lớn nguồn tài trợ của của tổ chức này. Hiện, con trai của tỷ phú Soros là Alexander G. Soros đang đóng vai trò là thành viên quản trị của Global Witness.

Ngoài ra, cũng trong năm 2011, Global Witness nhận được 19.083 bảng từ Quỹ quốc gia vì Dân chủ (NDE) mà đứng sau là Chính phủ Mỹ. Bên cạnh đó là các khoản tài trở từ Chính phủ Anh, Nauy, Quỹ Adessium và Oxfam Novib.

Trả lời phỏng vấn The Guardian năm 2007 về việc liệu các khoản tài trợ từ Chính phủ các nước có tạo ra áp lực hoặc gây méo mó những chiến dịch của Global Witness hay không, ông Patrick Alley, một trong các sáng lập viên tổ chức này khẳng định, không có một chính phủ nào có thể áp đặt bất cứ hạn chế nào lên hoạt động độc lập của Global Witness. Đồng thời cho biết, tiền tài trợ tiếp nhận sẽ không bao gồm bất cứ điều kiện nào.

Ước tính, từ tháng 12/2008-11/2009, trong cơ cấu quỹ tài trợ mà Global Witness nhận được, có 61% đến từ các quỹ tư nhân, 33% đến từ các chính phủ và 3% đến từ các tổ chức đa phương, 3% là lãi suất tiền gửi ngân hàng và các nguồn khác.

20 năm chặn “đường sống” của tài phiệt quốc tế

Thành lập năm 1993, Global Witness đã liên tục tổ chức các cuộc điều tra và chiến dịch ngăn chặn xung đột và hành vi tham nhũng liên quan đến nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như chống lại việc lạm quyền đe doạ môi trường và nhân quyền trên thế giới.

Sự có mặt của Global Witness xuất phát từ tình trạng tham nhũng và dung túng của chính quyền địa phương tại các quốc gia giàu tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, gỗ, khoáng sản… cho các hành động phá hoại của các công ty đầu tư, tạo nên “lời nguyền tài nguyên”.

Hoạt động của Global Witness đi từ những điều tra bí mật cho đến các cuộc họp cấp cao nhằm tạo ra thay đổi tại những lĩnh vực, khu vực có vấn đề.

Có 4 nhóm phạm vi mà Global Witness tập trung là chống tham nhũng, xung đột (phá hoại thiên nhiên, xung đột vũ trang, vi phạm nhân quyền), quản lý môi trường, tối đa hoá trách nhiệm giải trình và tính minh bạch.

Nhìn lại lịch sử hoạt động 20 năm vừa qua của tổ chức này, Global Witness đã động chạm đến không ít lợi ích của các nhóm tài phiệt trên toàn cầu và làm mếch lòng nhiều chính phủ.

Chiến dịch đầu tiên được kể đến đó là việc ngăn chặn hoạt động buôn bán gỗ bất hợp phát từ Campuchia sang Thái Lan nhằm tài trợ cho Khmer Đỏ. Chỉ trong vòng 6 tháng, Global Witness đã thuyết phục được các nhà chức trách hai nước này đóng cửa biên giới đường bộ và góp phần vào việc lật đổ tổ chức khủng bố tại Campuchia.

Tiếp đến là cuộc đấu tranh chống lại ngành công nghiệp kim cương (được gọi là kim cương máu) – hoạt động thương mại tài trợ cuộc nội chiến tàn bạo ở Angola. Global Witness đã không chỉ đặt chân đến quốc gia này mà còn mở rộng can thiệp tại Sierra Leone, Liberia, Congo và Bờ Biển Ngà, vạch trần “kim cương máu” trước dư luận quốc tế và buộc các nhà hoạch định chính sách phải vào cuộc.

Với các hoạt động tích cực ở châu Phi, Global Witness sau đó đã được đề cử Nobel Hoà bình năm 2003. Ba năm sau đó, những nghiên cứu của tổ chức này được sử dụng trong bộ phim bom tấn của Hollywood “Blood Diamond” năm 2006.

Các hoạt động chống tham nhũng và chống xung đột của Global Witness còn hiện diện tại Burma, Indonesia, Liberia, Sudan, Zimbabwe, Equatorial Guinea, Turkmenistan và Ukraine.

Qua các cuộc điều tra cứng rắn của mình, Global Witness đã tác động trực tiếp đến hoạt động rút tiền của Tổ chức Tiền tệ quốc tế (IMF) khỏi Campuchia năm 1996 do tình trạng tham nhũng trong ngành công nghiệp khai thác gỗ; khiến Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc áp dụng lệnh trừng phạt quốc tế lên hoạt động xuất khẩu gỗ của chính quyền Tổng thống Liberia Charles Taylor năm 2003 (ông này sau đó phải vào tù vì tội ác chống lại nhân loại) và qua đó chặn nguồn quỹ của các phe phái lãnh chúa trong cuộc nội chiến ở nước này. Tiếp đến là góp phần vào vụ bắt giữ Gus Kouwenhoven tại Hà Lan năm 2005.

Cũng chính Global Witness là tổ chức đứng sau sáng kiến Minh bạch hoá ngành công nghiệp khai khoáng được Thủ tướng Anh Tony Blair công bố tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại Johannesburg tháng 9/2002.

Các nước đang phát triển không thể làm giàu từ phá rừng

Riêng tại hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng trên thế giới, Global Witness đổ vào không ít tâm sức cho chiến dịch này. Không chỉ chặn nguồn tài trợ cuộc nội chiến ở Liberia thông qua buôn lậu gỗ, tổ chức này còn chỉ rõ tình trạng chảy máu tài nguyên rừng từ Burma sang Trung Quốc.

Gần đây, tổ chức này đã tiến đến việc khởi kiện DLH tại toà án Pháp. Theo đó, DLH bị cáo buộc mua bán gỗ với các công ty tại Liberia trong cuộc nội chiến tại nước này khoảng những năm 2001-2003.

Theo mô tả của Global Witness, rừng đóng vai trò là “pháo đài cuối cùng để chống lại biến đổi khí hậu”. Trong khi, nạn phá rừng lại góp vào 18% tổng phát thải CO2 toàn cầu.

Trước việc Liên Hợp quốc phê chuẩn sáng kiến “Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng ở các nước đang phát triển” (REDD), Global Witness cho rằng, thoả thuận này mang lại rủi ro lớn đối với rừng và cộng đồng địa phương. REDD sẽ chỉ thành công nếu như có sự tham gia của xã hội dân sự đóng vai trò như một cơ quan giám sát độc lập để đảm bảo nguồn tiền được sử dụng phù hợp với luật pháp quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế.

Cũng trong lĩnh vực này, Global Witness đã chỉ trích Ngân hàng Thế giới (World Bank) vì đã khuyến khích công nghiệp khai thác gỗ dựa vào xuất khẩu như một yếu tố nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển.

Bích Diệp

—————————————

Bầu Đức mạnh tay “rót” tiền vào Lào và Campuchia như thế nào?
(Dân trí) – Trong số 52 công ty con của Hoàng Anh Gia Lai thì có 14 công ty đóng trụ sở trên đất Lào và Campuchia, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực cao su, mía đường và trồng rừng. Quý vừa rồi, chi phí trồng cây cao su tiếp tục tăng lên gần 5.000 tỷ đồng.


Tuyên bố sẽ rút chân khỏi bất động sản vào 2014-2015, bầu Đức dồn tiền cho cao su và mía đường.

Dồn tiền cho cao su

Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (mã chứng khoán HAG) vừa công bố Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2013, trong đó ghi nhận khoản chi phí xây dựng cơ bản dở dang tính đến 31/3 đã giảm xuống còn 8.227,47 tỷ đồng, bằng 82,7% so thời điểm đầu năm.

Trong số này, tính riêng đầu tư của Hoàng Anh Gia Lai vào cao su, thuỷ điện, mía đường, nhiệt điện và khoáng sản đã lên tới 7.166,6 tỷ đồng, chiếm trên 87% tổng chi phí xây dựng dở dang.

Chi phí cho trồng cây cao su tiếp tục tăng lên 4.983,5 tỷ đồng, tăng 445,8 tỷ đồng sau 3 tháng đầu năm và nếu so với tổng chi phí xây dựng dở dang thì cao su đã “ngốn” hơn một nửa vốn đầu tư.

Trong khi đó, vốn chảy vào thuỷ điện và mía đường giảm so thời điểm cuối 2012. Nếu cuối năm ngoái ghi nhận khoản đầu tư 1.400 tỷ đồng vào nhà máy mía đường và nhiệt điện thì trong quý này, hạng mục này bỏ trống.

Các động thái này phản ánh rõ hơn tuyên bố của bầu Đức đưa ra hồi cuối năm 2011, rằng Hoàng Anh Gia Lai sẽ rút dần khỏi bất động sản. Cùng với đó là phân tán rủi ro, đưa một “ông trùm” bất động sản trở thành một tập đoàn đa ngành, lấn sâu vào lĩnh vực cao su.

Cuộc đổ bộ ra nước ngoài

Hiện tại, Hoàng Anh Gia Lai đang có tổng cộng 52 công ty con. Số công ty hoạt động tại lĩnh vực bất động sản là 6 công ty, trong đó có 1 ở Myanmar và 5 ở Việt Nam. Năng lượng có 5 công ty, 4 ở Việt Nam và 1 ở Attapeu (Lào).

Đáng chú, số công ty con hoạt động trong lĩnh vực trồng cây công nghiệp rất nhiều, lên tới 16 công ty trồng rừng và sản xuất, kinh doanh cao su, mía đường. Một nửa trong nhóm này hoạt động tại Việt Nam, còn lại có 3 công ty tại tỉnh Attapeu là Công ty Phát triển Nông nghiệp Hoàng Anh Attapeu; Công ty TNHH Nông nghiệp và Cao su Hoàng Anh – Quang Minh và Công ty TNHH Mía đường Hoàng Anh Attapeu.

5 công ty tại Campuchia hoạt động trong lĩnh vực này có trụ sở tại Rattanakiri và Phnom Penh gồm: Công ty TNHH Rattanakiri; Công ty TNHH Hoàng Anh An Đông Meas; Công ty TNHH Hoàng Anh Oyadav; Công ty TNHH Heng Borothers và Công ty TNHH CRD.

Lĩnh vực khai khoáng có 4 công ty và chỉ có 1 công ty hoạt động ở nước ngoài là Khoáng sản Hoàng Anh Xêkông đóng tại Attapeu, Lào.

Lĩnh vực xây dựng, kinh doanh và dịch vụ có 8 công ty, có 3 công ty có trụ sở tại Vientiane (Lào) là Công ty TNHH V&H Corporation; Công ty TNHH V&H Corporation và Công ty TNHH Hoàng Anh Gia Lai Vientiane.


Rừng cao su của Hoàng Anh Gia Lai tại Attapeu, Lào.

Việc lựa chọn Lào và Campuchia là điểm đến đầu tư mang lại cho Hoàng Anh Gia Lai khá nhiều thuận lợi và ưu đãi, trước hết chính là thuế. 

Trong các khoản điều chỉnh giúp tăng lợi nhuận trước thuế của Hoàng Anh Gia Lai quý vừa rồi, phần giá vốn mía đường được miễn tính thuế là 136,6 tỷ đồng.

Hồi nửa cuối năm ngoái, thị trường xôn xao việc Chính phủ Lào đề xuất với Bộ Công thương Việt Nam cấp hạn ngạch 80.000 tấn đường cho Hoàng Anh Gia Lai xuất khẩu sang Việt Nam. Đề xuất được đưa ra giữa bối cảnh, tổng hạn ngạch nhập đường cả năm 2012 của Việt Nam chỉ ở mức 70.000 tấn.

Do Việt Nam và Lào có thoả thuận ưu đãi thuế quan chung biên giới nên mức thuế áp với sản phẩm đường của Hoàng Anh Gia Lai khi nhập về Việt Nam là 2,5%, bằng phân nửa so với mức thuế áp cho các doanh nghiệp ở các nước khác trong ASEAN là 5%.

Báo cáo tài chính Hoàng Anh Gia Lai quý vừa rồi ghi nhận, Tập đoàn đang có khoản cho vay dài hạn đối với Chính phủ Lào tại thời điểm cuối tháng 3 là 186,6 tỷ đồng, tăng nhẹ so cuối năm 2012.

“Thoát lầy” bất động sản?

Báo cáo quý này của Hoàng Anh Gia Lai cho thấy sự phục hồi mạnh về lợi nhuận của công ty khi đã bắt đầu “thoát lầy” bất động sản.

Theo đó, lợi nhuận thuần tăng 60,3% so cùng kỳ lên 123,1 tỷ đồng mặc dù doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm hơn 17%.

Nhờ phần giá vốn hàng bán giảm mạnh, chỉ bằng 62% so cùng kỳ 2012, do đó, phần lợi nhuận gộp được bù đắp và tăng 35% lên 339,5 tỷ đồng.

Vay và nợ ngắn hạn tăng mạnh. Trong đó, vay ngân hàng chiếm đa số với 1.724 tỷ đồng, tăng 275 tỷ so đầu năm; vay các tổ chức và cá nhân khác gần 320 tỷ đồng, gấp 10 lần con số đầu kỳ. Ngoài ra, nợ vay dài hạn ngân hàng đã đến hạn trả trong vòng một năm cũng tăng lên 1.402,3 tỷ đồng.

Mai Chi

Nguồn:

http://thegioinguoiviet.net/showthread.php?p=89856#post89856

http://www.panoramio.com/photo/76775916?tag=Rach%20Gia

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Global Witness tố cáo Hoàng Anh Gia Lai và Tổng công ty cao xu VN) cướp đất đai của nông dân Lào

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2013

Bầu Đức: Global Witness đã bịa ra một câu chuyện hết sức phi lý

 14-5-2013

Trả lời Dân Việt chiều nay (14.5), Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai (HAGL) Đoàn Nguyên Đức khẳng định những cáo buộc của Global Witness là vô căn cứ và có dụng ý xấu.

Sáng nay, trước việc tổ chức Global Witness công bố những kết luận điều tra bất lợi cho công việc kinh doanh của tập đoàn HAGL tại Lào và Campuchia, ông có thể cho biết quan điểm của mình?

 

Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai (HAGL) Đoàn Nguyên Đức. Ảnh VnExpress 

– Theo tôi tìm hiểu, đây là một tổ chức phi chính phủ, tổ chức này đã bị Chính phủ Campuchia cấm nhập cảnh vào Campuchia vì công bố những số liệu thiếu chính xác, làm ảnh hưởng tới môi trường đầu tư tại nước này. Chính phủ hai nước này kêu gọi các doanh nghiệp của cả thế giới đầu tư vào nước họ chứ không chỉ riêng HAGL hay Việt Nam để tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho người dân.

Vậy mà họ lại cáo buộc rằng chúng tôi làm khó cho dân. Có một điều cần lưu ý, HAGL chỉ là một trong hàng ngàn doanh nghiệp đầu tư vào hai nước này thôi. Và chúng tôi cũng được khẳng định là một trong những tập đoàn thực hiện công tác bảo vệ môi trường đảm bảo nhất.

Vậy tại sao họ không nói các doanh nghiệp khác mà chỉ chĩa vào mỗi mình HAGL? Theo tôi, có thể họ lợi dụng uy tín của HAGL vì chúng tôi có thương hiệu trên thế giới, là một chiêu để PR cho tổ chức của họ.

Ông đã xem video clip mà Global Witness đưa trên trang web của họ chưa? Trong clip này, họ có phỏng vấn một vài người dân ở địa phương và những người này cho rằng chính vì HAGL khai thác đất rừng nên họ lâm vào cảnh không nhà cửa, cuộc sống khốn đốn?

– Tôi khẳng định đây là những thông tin không xác thực. Chúng tôi làm công tác tái định cư tại những khu vực đã khai thác để trồng rừng có thể nói là rất tốt. Chúng tôi đã xây hơn 2000 nhà cho dân ở, giúp người dân từ không có công ăn, việc làm, chỗ ở nay đã có công ăn việc làm, có chỗ ở, có xe chạy, có TV coi…

Vậy thì không thể nói chúng tôi bỏ qua khâu tái định cư được. Họ đã bịa đặt ra một câu chuyện hết sức phi lý và có lẽ chính vì điều đó mà Chính phủ Campuchia đã cấm tổ chức này nhập cảnh vào đất nước họ.

Về phía tổ chức đó, chúng tôi đã trực tiếp mời họ qua VN để cung cấp bằng chứng, mời họ đi cùng chúng tôi sang Lào, Campuchia để xác thực thông tin nhưng họ không hề qua. Nếu họ có thiện chí thì họ phải qua ngay chứ. Tôi đã gửi thư cho họ đề nghị họ hợp tác, cung cấp bằng chứng và đến tận nơi để xác minh chuyện đó đúng hay không. Họ cũng hứa hẹn nhưng rốt cục có qua đâu!

Ông liên hệ với tổ chức này theo cách nào, qua điện thoại hay email. Ông đã bao giờ trao đổi trực tiếp với người đứng đầu của tổ chức này chưa?

– Chúng tôi liên hệ với họ qua thư điện tử (email). Bộ phận PR của chúng tôi làm việc qua lại với tổ chức đó thường xuyên. Nhưng họ từ chối không tiếp xúc, không qua tận nơi để xác minh. Họ còn cáo buộc chúng tôi đưa hối lộ cho Chính phủ Lào và Campuchia.

Họ nói vậy phải có bằng chứng chứ, nhưng họ cũng không có. Nói vậy có nghĩa là không chỉ HAGL mà cả Tập đoàn cao su VN hay các Cty của Nhật Bản, Trung Quốc… đang khai thác ở đó đều đưa hối lộ cho Chính phủ hay sao?

Trước đó tổ chức này đã bao giờ đặt vấn đề HAGL tài trợ cho họ chưa?

– Chúng tôi không biết họ và họ không biết chúng tôi nên chưa bao giờ có chuyện đó. Họ chưa bao giờ đến Công ty chúng tôi làm việc, chưa bao giờ tới nơi chúng tôi khai thác để chứng kiến. Tôi đã và sẽ mời các nhà báo của cả nước ngoài và trong nước qua nơi chúng tôi khai thác để xác thực việc chúng tôi làm có hợp pháp hay không, có ảnh hưởng xấu tới đời sống người dân hay không.

Chúng tôi sẵn sàng làm vậy để bảo vệ uy tín của mình. Còn giờ như họ cứ đưa thông tin vô thưởng vô phạt lên, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của chúng tôi. Nhưng nói thật chúng tôi cũng không quá quan tâm tới chuyện này. Cần nhớ là chúng tôi trồng cao su là trồng rừng, tốt cho môi trường chứ không phải phá rừng. Dễ hiểu hơn thì chúng tôi phá rừng nghèo đi, trồng cao su để tạo thành rừng tốt, rừng có thể sinh lợi và tốt cho môi trường, tạo việc làm, thu nhập cho người dân, cho Chính phủ.

Chúng tôi đã gửi thư tới Chính phủ Việt Nam, Campuchia, Lào và các báo đài để phản bác lại những cáo buộc vô căn cứ của tổ chức Global Witness. Chúng tôi tin là từng bước, dư luận sẽ hiểu thế nào là đúng – sai. Nếu tổ chức này chịu gặp phía chính quyền địa phương tại những khu vực chúng tôi khai thác để hỏi về hiệu quả các dự án của HAGL thì chúng tôi chấp nhận, nhưng đằng này họ đâu có gặp. Họ chỉ gặp một số người dân thì làm sao có thể đưa ra những cáo buộc thuyết phục được?

Thông tin về việc riêng HAGL được phân bổ hơn 81.000ha rừng trong khi theo quy định thì mỗi Cty chỉ được phân 10.000ha có chính xác không, thưa ông?

– Con số đó là tổng cộng diện tích rừng mà HAGL đang có tại 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia chứ không phải chỉ riêng ở một nước nào. Tất cả rừng của chúng tôi đều được Chính phủ các nước cấp phép chứ không thể tự tiện lấy được.

Tất cả đều được đích thân các Thủ tướng chấp nhận, rồi các bộ ngành cho ý kiến và hợp thức hóa bằng các thủ tục pháp lý chứ đâu có đơn giản. Mỗi dự án chúng tôi phải xin thủ tục mất cả năm trời, xin hết thủ tục bên kia xong rồi lại quay về VN để Chính phủ và Bộ Kế hoạch – Đầu tư xem xét, Ngân hàng Nhà nước phê duyệt thì mới gửi tiền đầu tư ra nước ngoài được chứ!

Vậy ông có ý định kiện họ do việc họ đưa thông tin sai lệch, ảnh hưởng tới uy tín của Tập đoàn không?

– Chúng tôi cũng đã tính tới chuyện khởi kiện rồi, nhưng kiện họ cũng như kiện củ khoai thì kiện làm gì? Vì họ là tổ chức phi chính phủ thì sao kiện được! Mục đích của họ là đi tìm tài trợ để tồn tại, để duy trì hoạt động thôi mà.

– Xin cảm ơn ông!

Hải Phong thực hiện

—-

Bầu Đức, đừng đùa với George Soros!

15-5-2013

80% ngân sách hoạt động của Global Witness do George Soros cùng chính phủ các nước Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Nauy và Ailen đóng góp .

Xuyên qua những con đường thảm nhựa êm ái từ cửa khẩu Bờ Y tới tỉnh lỵ Attapeu của Lào là vùng đất được ví như “nồi cơm” trong tương lai của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai. Đây còn là quê hương của Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Lào Chummaly Sayasone.

Năm 2015, cao su và mía đường sẽ đóng góp trên 3.000 tỷ vào lợi nhuận sau thuế của HAGL, đấy là nếu mọi thứ đúng như kỳ vọng, tức là HAGL bán được hàng với giá hợp lý và thu xếp được hàng ngàn tỷ đồng vốn đầu tư thêm.

“Nhân chứng toàn cầu”

Từ đầu tháng này, giới đầu tư đã râm ran chuyện HAGL sắp trở thành đối tượng chính trong một báo cáo của Global Witness (tạm dịch: “Nhân chứng toàn cầu”), theo đó, tập đoàn đa ngành với hàng vạn hecta cao su ở Lào và Campuchia này bị cáo buộc đưa hối lộ, lợi dụng quan chức tham nhũng để chiếm đoạt đất của dân và khai thác gỗ bất hợp pháp.

Nhanh chóng quy Global Witness vào hai tội “háo danh” và “hám tiền” có lẽ là hơi coi thường đối thủ

Trong phản ứng mới nhất từ phía HAGL, Chủ tịch Đoàn Nguyên Đức cáo buộc Global Witness “tìm cơ hội quảng bá tên tuổi” và “xin tài trợ”.

Nhanh chóng quy Global Witness vào hai tội “háo danh” và “hám tiền” có lẽ là hơi coi thường đối thủ, vì tên tuổi của họ trên trường quốc tế nổi bật hơn nhiều so với vài tấm pano quảng cáo trên sân Emirates của Arsenal, cũng như tổng vốn hóa của HAGL chỉ nhỉnh hơn 5% tài sản của nhà tài trợ chính cho Global Witness: tỷ phú George Soros.

Global Witness thành lập năm 1993 tại Washington và trong 20 năm hoạt động của mình, đã làm mất lòng không ít chính phủ các nước phát triển.

Giai đoạn 1998-2003, Global Witness tiến hành cuộc điều tra nhắm tới cuộc chiến dành quyền kiểm soát ngành khai thác kim cương ở Angola, Sierra Leone và Liberia (còn gọi là “kim cương máu”), góp phần khiến Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết cấm vận kim cương Liberia.

Bầu Đức, đừng đùa với George Soros! (1)
Điều tra viên cao cấp Anthea Lawson của Global Witness trả lời phỏng vấn trên BBC.

Năm 2009, điều tra viên cao cấp Anthea Lawson của Global Witness đã ra điều trần trước Ủy ban Dịch vụ tài chính Hạ viện Hoa Kỳ về vai trò của hệ thống ngân hàng đối với tệ tham nhũng.

(Đọc thêm: George Soros đứng sau vụ điều tra tham nhũng trong cấp phép khai thác quặng sắt ở Guinea)

Thông qua quỹ Open Society Foundations, năm 2012 vừa qua, tỷ phú George Soros đóng góp 40% ngân sách cho Global Witness. Nhiều cơ quan của chính phủ các nước Anh, Thụy Điển, Nauy, Hà Lan và Ailen góp 38% nữa và các nhà tài trợ khác góp 22% còn lại. Alexander Soros, con trai thứ tư của George Soros, hiện là thành viên hội đồng quản trị của Global Witness.

Tuy vậy, khó có chuyện Soros đích thân phê duyệt báo cáo “Rubber Barons” trước khi phát hành. Có thể đến thời điểm này, “Rubber Barons” chỉ là một trong hàng loạt vụ việc mà các tổ chức do nhà Soros lập ra đang theo đuổi trên toàn cầu. Và khi Global Witness nhắm tới HAGL, điều đó không có nghĩa George Soros đang nhắm tới bầu Đức.

Nhưng điều tệ nhất HAGL có thể làm là kéo cả nhà Soros cùng hàng loạt hãng thông tấn quốc tế vào cuộc bằng những phản ứng thiếu thận trọng.

Cuộc chiến PR

Chiến thuật của Global Witness không phải là thu thập đủ bằng chứng và đem HAGL ra kiện ở tòa án quốc tế vì tội phá rừng hay đưa hối lộ. Mục đích của tổ chức này là thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế và đánh vào “con tim” của người tiêu dùng toàn cầu.

Việc Công ty tài chính quốc tế IFC và Deutsche Bank bị lôi vào cuộc với vai trò “nhà tài trợ vốn” cho HAGL là một phần trong chiến lược đó.

Michelin hay Bridgestone sẽ cân nhắc kỹ càng bài học này trước khi mua cao su từ HAGL

Đúng là IFC đầu tư gần 15 triệu USD vào các quỹ do Dragon Capital quản lý, nhưng tiền đầu tư vào đâu là do các quỹ này quyết, chứ không phải do IFC. Ấy là chưa nói đến khoản đầu tư vào HAG chỉ chiếm vài phần trăm nhỏ nhoi trong tổng tài sản hàng trăm triệu USD của Dragon Capital.

“Oan ức” hơn là Deutsche Bank, ngân hàng này chỉ mua cổ phiếu HAG để phát hành chứng chỉ lưu ký toàn cầu và chứng chỉ ETF cho nhà đầu tư khác nắm giữ. Deutsche Bank không có lợi ích tài chính gì nếu giá HAG tăng hay giảm cũng như cao su ở Lào trồng thế nào và bán cho ai.

Nhưng chính IFC và Deutsche Bank mới bị chỉ mặt chứ không phải Temasek (đang nắm hơn 110 triệu USD trái phiếu chuyển đổi), Jaccar (nắm 7,5% vốn HAG, đang mối lái để Michelin bao tiêu toàn bộ cao su do HAGL sản xuất) hay Dragon Capital (nắm 12,3% vốn). Vì sao lại thế?

Nguyên nhân rất đơn giản. Giữa cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu hiện nay, một ngân hàng, lại là của Đức, như Deutsche Bank vốn đã bị ghét sẵn. Và còn gì mỉa mai hơn khi một công ty thành viên của World Bank như IFC lại đi hỗ trợ cho tài phiệt địa phương đàn áp người dân, trong khi tôn chỉ hoạt động của WB là xóa đói giảm nghèo.

Bầu Đức, đừng đùa với George Soros! (2)
Những banner dạng này từng phủ kín trang Facebook chính thức của Nestle. Cuối cùng, Nestle cắt hợp đồng cung cấp dầu cọ của Sina Mars

Đánh vào tâm lý bất mãn sẵn có của người dân cộng thêm một chút mỉa mai hài hước để đưa đẩy câu chuyện là một trong những cách dễ dàng nhất để thổi bùng lên làn sóng phản đối tất cả những gì liên quan tới HAGL ở các nước phát triển. Cụ thể, hai hôm nay các báo nước ngoài đều đưa IFC và Deutsche Bank lên tiêu đề, nhiều báo còn chẳng buồn nhắc đến HAGL.

Nhưng dân chúng ở đầu kia thế giới có bất mãn hay nổi điên lên thì liên quan gì đến HAGL? Hãy tham khảo câu chuyện của Sina Mars, nhà cung cấp dầu cọ cho Nestle.

(Đọc thêmChiến thắng cư dân mạng: Giải pháp của Nestle)

Năm 2010, tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace) phát động chiến dịch tẩy chay bánh Kit Kat của Nestle với lý do Nestle dùng dầu cọ mua từ Sina Mars để làm bánh, và Sina Mars lại trồng cọ dầu trên khu vực trước là đất sống của loài đười ươi.

Những video và hình ảnh vừa mỉa mai, vừa ám ảnh trong chiến dịch này làm hình ảnh Nestle tổn thất đáng kể. Kết quả: Nestle loại Sina Mars khỏi danh sách nhà cung cấp.

Chắc chắn, Michelin hay Bridgestone sẽ cân nhắc kỹ càng bài học này trước khi mua cao su từ HAGL. Tương tự, nhiều nhà đầu tư quốc tế sẽ muốn đảm bảo một khoản đầu tư vài chục triệu USD sẽ không khiến cả danh mục hàng tỷ USD của mình bị mang tiếng.

Giờ phải làm gì?

Bầu Đức, đừng đùa với George Soros! (3)
Điều cuối cùng bầu Đức mong đợi là “được” Trưởng ban Phóng viên quốc tế CNN Christiane Amanpour để mắt đến.

Gửi thông cáo cho báo chí trong nước giải thích HAGL “tuân thủ pháp luật nước sở tại” là hành động có rất ít ý nghĩa. Dư luận Việt Nam không phải mục tiêu của Global Witness và cũng không xúc động lắm với những câu chuyện như phá rừng hay đười ươi mất nơi sống.

Dư luận quốc tế thì khác, nếu HAGL ‘mất trận địa’ và biến thành một trò đùa tầm cỡ quốc tế như bánh Kit Kat của Nestle thì có lẽ cả vốn đầu tư lẫn thị trường tiêu thụ sẽ biến thành hai bài toán tương đối khó giải.

Đối đầu với Global Witness cùng vô vàn các tập đoàn truyền thông quốc tế còn tệ hơn. Nestle cũng từng phản kích mạnh mẽ Greenpeace, yêu cầu rút hình ảnh và video khỏi youtube với lý do bản quyền. Kết quả là làn sóng phản đối còn dữ dội thêm một bậc và trang Facebook chính thức của Nestle tràn ngập banner Nestle giết hại đười ươi (không ai để ý đến chuyện Sina Mars mới là công ty trồng dầu cọ).

Trường hợp của HAGL cũng vậy, càng xù lông giận dữ càng dễ thành tiêu điểm của truyền thông thế giới.

Nếu cách giải quyết của Nestle là một bài học tốt, thì HAGL nên chủ động mời CNN, CNBC, hay BBC tới làm việc và kể cho họ nghe một câu chuyện có lợi cho HAGL, thay vì thụ động ngồi im chờ một phóng sự chuyên đề phát trên chương trình World’s Untold Stories của CNN cho cả tỷ người xem rồi mới gửi “thông cáo báo chí”.

Minh Tuấn

http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/bau-duc-dung-dua-voi-george-soros-2013051422061810014ca31.chn

————

Hoàng Anh Gia Lai bác bỏ cáo buộc phá rừng của Global Witness

Ngày 13-5, Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG) có thông cáo báo chí phủ nhận việc chiếm đoạt đất đai, khai thác gỗ bất hợp pháp và các hành vi tham nhũng khác tại Lào và Campuchia như cáo buộc của Tổ chức Nhân chứng toàn cầu (Global Witness – một tổ chức phi chính phủ của Anh).

Theo thông cáo báo chí, các công ty con thuộc Tập đoàn HAG đang đầu tư vào lĩnh vực trồng cây cao su, mía đường tại Lào, Campuchia và các hoạt động này tuân thủ theo luật pháp nước sở tại, bao gồm cả việc bảo vệ rừng.
Tập đoàn không tham gia vào việc khai thác gỗ, kể cả gỗ có giá trị kinh tế trong khu vực nhượng quyền của HAG. Chính phủ Lào và Campuchia có toàn quyền kiểm soát, sở hữu và quyết định đối với toàn bộ khối lượng gỗ.
Về vấn đề tham nhũng, thông cáo cho biết Global Witness đã không chỉ ra được bất kỳ bằng chứng cụ thể nào. Tập đoàn này đã gửi lời mời Global Witness đến thăm bất kỳ dự án nào của HAG. Tổ chức này dự định sẽ đến Việt Nam vào tháng 5.
Tuy nhiên, tới thời điểm hiện nay Global Witness vẫn chưa liên lạc để sắp xếp lịch trình cụ thể. Cuối cùng, HAG khẳng định sẽ giải quyết mọi vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư tại Lào và Campuchia nếu Global Witnetss đưa ra được bằng chứng xác thực.
Báo cáo của Global Witness cáo buộc không chỉ HAG hoạt động phá đất rừng làm đồn điền trồng cao su ở Campuchia và Lào mà còn cáo buộc luôn cả Tập đoàn Cao su Việt Nam.
Theo B.Nhơn

Pháp luật TPHCM

——————————————–

Theo Trí Thức Trẻ

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

Hội nghị T.Ư. 5:Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân: nghĩa là tất cả đất đai ở VN thuộc quyền sở hữu của đảng và nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2012

Vậy là các cuộc cưỡng chiếm đất đai sẽ tiếp tục diễn ra. Hội nghị Trung Ương lần 5 đã phát pháo lệnh cho hơn 600 quận huyện của 63 tỉnh và thành phố hãy tiếp tục cưỡng chế tước đoạt đất đai khỏi tay người dân và nông dân. Đồng thời cũng có nghĩa là tất cả các cuộc khiếu kiện đất đai từ mấy chục năm qua cho đến nay và trong tương lại sẽ không được giải quyết. 

Chỉ có điều là Mác, Lê nin, Stalin, Mao, Hồ, Lê Duẫn chưa bao giờ tiên đoán là có sự xuất hiện của internet, nói đúng ra là sự hiện diện của các blogger đứng về phe của những người nông dân bị cưỡng chế đất đai. Cuộc chiếm đoạt đất đai hiện nay không còn dễ ăn như hồi 1954,…hay ở  thập niên 1980s, 1990s nữa. Các blogger đúng là cứu tinh của những người nông dân bị cưỡng chế đất.

Người VN theo tin theo đảng vì đảng tuyên truyền quá hay. Có người còn ví von: con ve ở trong hốc cây cũng chui ra nghe lời tuyên truyền nữa là người.  Suy nghĩ của các đảng viên lãnh đạo (thiểu số) bao giờ cũng khác hẳn với các khối đảng viên (đa số). Bởi vậy tới giờ này mà các đảng viên lớn tuổi còn ngây thơ nói: hồi xưa đảng khác, đảng tốt lắm, còn bây giờ đảng đã khác xưa! Làm gì có chuyện ấy. Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước đã có từ thời 1945 nếu không muốn nói là đã có ngay từ trước năm ấy.

Đảng rất lắt léo trong cách dùng chữ. Chủ tâm là lập lờ theo kiểu 50/50 để đánh lừa một đại đa số 90-95% của dân số.  Đảng dùng chữ và  cắt nghĩa từ ngữ là rất khác với mọi người. Thí dụ, báo đăng phiên tòa xử công khai (1). Thấy chữ công khai mọi người tưởng rằng: oh, vậy là ai tới xem tòa xử  cũng được. Nhưng khi một số người quan tâm tới tham dự phiên tòa, thì công an sẽ chặn lại hỏi: có giấy triệu tập không? Nếu có thì mới được vào tòa, nếu không thì mần ơn đi chỗ khác chơi, hoặc đứng trước tòa chờ.  Vậy là đa số mọi người không đến dự phiên tòa tiếp tục hiểu lầm chữ công khai, chỉ có một thiểu số hiểu rõ chữ công khai. Sự lầm lẫn cứ thế mà tiếp tục. Tóm lại, chỉ khi đối diện với công an đang canh gác ở tòa thì một số nhỏ người dân trong cuộc mới hiểu ý nghĩa của chữ công khai.

Tương tự như vậy, ai nghe qua hàng chữ: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân cũng cảm thấy có cảm tình với nhà nước nào nói ra câu ấy. Nhưng truy tầm tới ngọn nguồn thì mới hiểu câu ấy không phải nghĩa như thế, câu ấy không có nghĩa là đất đai do dân làm sở hữu chủ. Theo đảng cắt nghĩa: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân là đất đai thuộc về nhà nước, do nhà nước làm chủ, và quản lý; khi nào nhà nước cần lấy, thì dân phải giao đất theo giá quy định của nhà nước.

Mấy tháng qua, giới blogger cứ đoán già, đoán non và hy vọng hội nghị Trung Ương lần thứ 5 sẽ có thay đổi lớn về chính sách đất đai. Nhưng nay thì họ đã sáng mắt…thêm lần nữa: không có gì thay đổi hết. Đời nào miếng mở lọt vào miệng con mèo mà bổng dưng nó nhả ra! 

Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu – hội nghị TƯ 5 xác định.

Sáng 15/5, hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc sau 9 ngày làm việc.

Đã có hơn 750 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và hội trường; nhiều ủy viên TƯ gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào các dự thảo nghị quyết, kết luận. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất thông qua nội dung các nghị quyết, kết luận của hội nghị.

 

Ảnh: TTXVNPhát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà hội nghị đã đạt được.

Sửa Hiến pháp: Lấy ý kiến nhân dân

Về tổng kết, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Tổng bí thư nhấn mạnh, đây là một nội dung rất lớn, đặc biệt quan trọng của hội nghị lần này. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là yêu cầu khách quan, cần thiết. Trung ương đã xem xét, thảo luận báo cáo của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, cơ bản tán thành nhiều nội dung; đồng thời tiếp tục nhấn mạnh, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa học, thận trọng; tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn.

Các đề xuất sửa đổi, bổ sung phải dựa trên kết quả tổng kết sâu sắc thực tế thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp.

Về quy trình sửa đổi, hội nghị thống nhất, cần thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa XI), tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân về các nội dung sửa đổi, để Quốc hội có đầy đủ cơ sở xem xét, quyết định.

Cùng với việc cho ý kiến về định hướng những nội dung cơ bản cần bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Trung ương cũng đã góp nhiều ý kiến quan trọng vào các phương án cụ thể, làm rõ hơn những mặt được, mặt chưa được của mỗi phương án để Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp tiếp tục cân nhắc, lựa chọn.

Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu

Hội nghị nhất trí cho rằng: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn sống của nhân dân; là tài sản, là nguồn lực to lớn của đất nước. Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; đồng thời quy định rõ ràng, cụ thể hơn và thực thi đầy đủ, đúng đắn hơn các quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền thống nhất quản lý của Nhà nước… Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật Đất đai và hoàn thiện pháp luật về đất đai để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại hiện nay, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phân bổ hợp lý, sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái. Nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững. Phát triển lành mạnh thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

Tiếp tục thực hiện giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân có thời hạn nhưng có thể kéo dài hơn để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp.

Ban chỉ đạo TƯ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị

Hội nghị nhất trí cho rằng, từ khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) được ban hành, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hoá hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công; trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí đã từng bước được kiềm chế. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng”.

Trung ương nhấn mạnh, phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế, xã hội; tăng cường công tác tổ chức và cán bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận.

BCH Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

Bảo đảm an sinh xã hội

Về chính sách xã hội, BCH Trung ương yêu cầu, trong thời gian tới phải nghiêm túc quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, coi việc không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có công và bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và là trách nhiệm của toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2015, cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn; đến năm 2020 cơ bản bảo đảm an sinh xã hội bao phủ toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.

Muốn thế, phải tập trung hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt luật pháp, chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp về xã hội với trọng tâm là tạo việc làm, thu nhập; bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội; bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn xã hội, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn.

Các chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và khả năng cân đối, huy động nguồn lực của đất nước; ưu tiên cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, bảo đảm công bằng và bền vững, có tính chia sẻ giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nhà nước bảo đảm thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đồng thời giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia…

Soát lại lương trong doanh nghiệp nhà nước

Về vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, Trung ương yêu cầu, trong năm 2012 – 2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay; ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý và người lao động; tiền lương, thu nhập không gắn với kết quả sản xuất kinh doanh.

Đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X). Nghiêm túc triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI)… Điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công, lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cùng với mức tăng và thời điểm điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu của cán bộ, công chức… Đồng thời, khẩn trương nghiên cứu xây dựng Đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013 – 2020 cùng với các đề án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương, thu được kết quả.

Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công và các lĩnh vực có liên quan khác; gắn điều chỉnh tiền lương với điều chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị ngay sau hội nghị này, mỗi ủy viên Trung ương phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy và chính quyền lãnh đạo và tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của hội nghị Trung ương lần này, cùng các nghị quyết khác của Đảng, của Quốc hội và Chính phủ; bảo đảm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2012.

Theo TTXVN

nguồn danluan.org

———————————-

Ghi chú của TH:

(1) Trích từ chimkiwi.blogspot.com

Sửa Từ điển có khi dễ hơn….

Hôm qua Kim Tiến nhắn: ngày mai xử phúc thẩm…cô đến với con nhé.

Đến chứ sao không đến! Bạn biểu tình với nhau mà lị.

Sáng đến tòa phúc thẩm ở 262 Đội Cấn, mặc dù cổng mở toang hoang nhưng mình vẫn lịch sự rẽ vào phòng thường trực. Cái ô cửa kính đóng im ỉm, nhìn vào thấy ba chú cảnh sát cứ ngồi im trong đó ngó ra. Mình gõ cồng cộc vào miếng kính, ra ý bảo họ mở ra để mình còn hỏi, chứ đóng thế này thì nói ai nghe?

Chợt nhìn thấy một gương mặt quen quen quay ra. Ồ! Hóa ra anh T, chả biết là cảnh sát quận hay thành phố nữa. Biết nhau qua đận biểu tình năm ngoái. Anh ta cũng nhận ra mình, bèn nhoài người mở cửa kính. Chào hỏi một hai câu, rồi anh ta hỏi mình đến có việc gì thế. Thì đến với Kim Tiến chứ còn làm gì nữa. Anh ta bảo có được vào đâu mà đến. Mình ngạc nhiên:

– Ô hay! Sao bảo xử công khai?

– Thì công khai, nhưng mà phải có giấy mời. Đến nhà báo có giấy mời mà còn không được vào kia kìa.

Biết là cái công khai của ngành tư pháp nước ta nó là thế mà vẫn cứ thấy lạ. Lạ quá chứ không phải lạ vừa. Rõ là mồm các ông bảo thế nào thì nó ra thế ấy. Cũng khổ cái anh phải làm phát ngôn bất đắc dĩ, biết là nó trái lè lè ra đấy nhưng cứ phải nói trơn tuột đi, rằng chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ. Nhớ hôm xử phúc thẩm tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, cũng xử công khai nhưng vẫn bị chặn các ngả. Tôi hỏi vặn lại một anh cảnh sát là chỉ biết trả lời như cái máy thế à, thì anh ta chán ngán quay đi bảo: không là cái máy thì là cái gì? Nom vẻ mặt anh ta mệt mỏi lắm nên tôi cũng chả nỡ làm anh ta khổ thêm.

Không cho vào thì đứng ngoài. Tôi và một số anh em vừa đến cứ đi vào trong sân tòa. “…

nguồn:  Sửa Từ điển có khi dễ hơn…

2. Đất đai thuộc Sở hữu toàn dân  đọc ở báo vnexpress.

*Bài này của người trong nước gởi cho BBC đăng cũng rất hay.

Ngô Ngọc Quang

Gửi cho BBCVietnamese.com từ Vũng Tàu

Cập nhật: 10:03 GMT – thứ tư, 9 tháng 5, 2012

Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, đất đai được sở hữu một cách tự nhiên mang tính bản năng, và bởi những con người cụ thể.

Quyền sở hữu một vùng đất được hình thành và ghi nhận thông qua quá trình sống và lao động của con người. Khi con người ta sống ở một vùng đất nào đó, đổ mồ hôi, tranh giành với thú hoang và cỏ dại quyền sở hữu vùng đất đó. Thế rồi, vùng đất có được nhờ mồ hôi và công sức đó được truyền lại, đời này qua đời khác. Dựa trên vùng đất tổ tiên để lại con người ta trồng trọt chăn nuôi, kiếm sống cho bản thân và gia đình. Từ đó hình thành quyền sở hữu đất đai của con người.

Gốc rễ của quyền sở hữu này không tự nhiên mà có, không phải do ai ban phát mà tự nó được khẳng định bằng mồ hôi công sức của người dân, một điều hiển nhiên của công lý, ai cũng phải thừa nhận.

Quyền sở hữu đất đai bị thay đổi

Trải qua biến thiên của lịch sử, rất nhiều vùng đất đã bị tước đoạt bằng bạo lực, bị thay chủ sở hữu sau những cuộc binh đao khói lửa chiến tranh. Điều bất công này xảy ra trong xã hội loài người đã hàng ngàn năm, và nó gây nên điều lầm tưởng cho kẻ có cường quyền bạo lực rằng: Họ xứng đáng là chủ của vùng đất mà họ cướp được bằng bạo lực.

Điều tệ hại này xảy ra khắp nơi trên trái đất này, và từ hàng ngàn năm nay, từ thủa hồng hoang ăn lông ở lỗ, cho tới thời hiện đại văn minh này. Và dường như con người ngày nay không muốn và cũng không thể sửa chữa nó nữa?

Con người văn minh muốn ngưng lại quá trình cướp bóc bất công đó, trả về cho đất đai người chủ đích thực của nó.

Để được sống yên thân, được bảo vệ trước cường quyền của các tộc người khác, con người ta buộc phải cố kết lại, suy tôn một cá nhân mạnh mẽ nhất lên làm thủ lĩnh và chấp nhận phó mặc cho thủ lĩnh quyền định đoạt về đất đai sở hữu của mình. Các vị vua sinh ra từ đó, thời gian trôi, và mặc nhiên dân chúng trong nước chấp nhận, vị vua này có quyền sở hữu toàn bộ đất đai của quốc gia, trong đó có cả những thửa ruộng mà cha ông tổ tiên họ bao đời đổ mồ hôi mới làm nên sự màu mỡ của đất.

Người dân sống nhờ vào sự che trở, răn dạy, và đồng thời cai trị của vua chúa, họ mặc nhiên chấp nhận điều đó (thực ra họ không có sự lựa chọn nào khác): đất đai lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của vua. Nhiều khi người dân còn bị ở trạng thái mơ hồ về quyền sử dụng đất đai do cha ông mình khai phá để lại .

Trong chế độ phong kiến, vua có quyền nói rằng mảnh đất này là của ai, và người dân có bổn phận phải chấp hành lời phán truyền đó của vua.

Tâm lý “kẻ cướp”

Để quy tụ sức mạnh của nhân dân, trong đó lực lượng nông dân đông đảo là chính, vào việc chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, người Cộng sản đã khôn khéo tuyên truyền để người dân tin rằng: Đánh đuổi thực dân đế quốc, thì người dân sẽ được rất nhiều thứ tốt đẹp trong đó có vấn đề được làm chủ đồng ruộng của mình.

Sau này, những người Cộng sản đã đánh tráo khái niệm sở hữu, và làm cho người dân tin rằng mình đã được làm chủ ruộng đồng thông qua hợp tác xã. Thật ra là nhà nước đã thâu tóm toàn bộ đất đai vào tay mình, người dân thực chất vẫn là kẻ làm thuê chứ không phải là chủ thực sự của đất đai mà cha ông họ truyền lại.

Với quyền lực trong tay, nhà nước đã làm ra các đạo luật về đất đai. Theo đó người dân được nhà nước ban ơn, cho người dân mượn tạm thời đất đai để sử dụng. Khi cần nhà nước lấy lại bất kỳ lúc nào bằng những quyết định thu hồi, mà người dân phải có nghĩa vụ chấp hành.

Cách hành xử như vậy về bản chất, giống hệt vua chúa phong kiến thời xưa. Chúng ta những người Cộng sản, thường tự hào nói rằng: Chúng ta đánh đổ thực dân phong kiến để xây dựng nhà nước công nông của dân, do dân, và vì dân. Vậy mà chúng ta lại hành xử về đất đai y như vua chúa phong kiến thời xưa.

Quyền sở hữu đất đai rõ ràng là phải thuộc về những con người cụ thể – những con người bỏ công sức khai khẩn tranh chấp với thú hoang và cỏ dại.

Ấy vậy mà nhà nước lại sử sự theo lối vua chúa ngày xưa, nắm quyền lực trong tay và phán rằng đất đai là cuả nhà nước, núp dưới mỹ từ mang màu sắc lừa bịp: sở hữu toàn dân. chính vì thủ đoạn như vậy nên mới sinh ra khái niệm thu hồi – một khái niệm hết sức sai trái.

Trong thực tế cuộc sống nhà nước tưởng rằng mình có công trong việc tạo nên tài nguyên đất đai, kể cả trong việc giành lại đất đai từ tay phong kiến thực dân hay mở rộng giang sơn bờ cõi, nhưng thực ra đều là do sức dân làm nên tất cả.

Vậy mà với tâm lý kẻ cướp, nhà nước đã dùng quyền lực, sức mạnh của mình để tước đoạt quyền sở hữu của người dân một cách tinh vi nhất.

Nhà nước đã làm ra những bộ luật về đất đai, mà ở đó quyền sở hữu của người dân bị tước đoạt hoàn toàn, và theo đó người dân luôn ở thế chông chênh bất ổn, do vậy mà ruộng đồng không thể tìm ra được cách sinh lời tốt nhất cho con người. Người dân trở thành kẻ ăn nhờ ở đậu trên mảnh đất do chính mồ hôi công sức của mình khai khẩn hay của cha ông để lại, hoặc mua lại của người khác.

Vì vậy chúng ta cần khẳng định: đất đai là của người dân, người dân không mượn của nhà nước nên nhà nước không có quyền thu hồi!

Trong khái niệm đến bù thì rõ ràng là khi nhà nước muốn lấy đất của dân, hay nói cách khác là xâm hại đến lợi ích của dân thì đương nhiên phải đền bù. đền bù như thế nào? Rõ ràng rằng sự đền bù phải được người dân chấp nhận một cách tự nguyện và thỏa đáng. Còn hiện nay, đền bù theo kiểu kẻ cướp thì thật sự là việc làm thiếu đạo đức.

Khái niệm giải phóng mặt bằng cũng là một khái niệm hết sức bậy bạ sai trái. Đất đai của người dân mà nhà nước lại dùng sức mạnh của mình xua đuổi người dân ra khỏi mảnh đất của họ rồi nói rằng giải phóng. Nguyên nhân của lối tư duy sai lầm này chính là vì nhà nước cho rằng đất đai là của nhà nước nên mới nhìn người dân như những kẻ chiếm hữu bất hợp pháp mà nhà nước cần xua đuổi để giải phóng.

Nhìn nhận và quản lý đất đai như thế nào?

Trong toàn bộ diện tích đất đai của tổ quốc, nhà nước với vai trò quản lý của mình chỉ cần và chỉ nên đưa ra những chính sách quy hoạch làm sao có lợi nhất cho việc xây dựng và phát triển của đất nước. Khi cần đất đai cho các dự án phát triển nào đó thì nhất thiết phải thương thảo với chủ đất là người dân. Nhà nước có quyền vận động nhưng không có quyền cưỡng bức người dân.

Trong công tác quản lý, nhà nước có trách nhiệm cấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đất đai cho người dân (nên phân biệt rõ quyền sở hữu chứ không phải quyền sử dụng đât), bất kể thời điểm người dân hay cha ông họ khai khẩn sử dụng từ khi nào, hay mua một cách hợp pháp.

Đối với những vùng đất chưa có người khai khẩn sở hữu, nhà nước chịu trách nhiệm đứng ra quản lý, và phải quy hoạch rõ công năng sử dụng của những vùng đất đó trong hiện tại cũng như tương lai. Đối với những vùng đất này, nhà nước thay mặt dân đứng ra quản lý, khai thác sao cho có lợi nhất cho quốc gia. Nếu người dân có nhu cầu mua một diện tích đất nào đó thì nhà nước phải bán và cấp cho người dân quyền sở hữu.

Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích người dân khai khẩn những vùng đất hoang vu mà nhà nước không có đầu tư phát triển được, và ghi nhận quyền sở hữu của người dân sau khi họ khai khẩn.

Mọi hoạt động của xã hội liên quan đến đất đai đều phải được thông qua thương thảo tự nguyện của chủ sở hữu, thể hiện bằng hợp đồng mua bán hay cho tặng quyền sở hữu về đất đai

Chỉ bằng cách ghi nhận quyền sở hữu của người dân về đất đai, nhà nước mới thoát khỏi mớ bòng bong hỗn tạp hiện nay về quản lý và sử dụng đất đai một cách khôn ngoan.

Nhà nước cần dũng cảm nhìn thẳng vào hiện tình đất nước về đất đai hiện nay một cách có trách nhiệm nhất. Nhà nước cũng cần thẳng thắn nhìn ra những yếu kém và cả những sai lầm trong đường lối và chính sách về đất đai trong quá khứ cũng như hiện tại, kể cả những sai lầm về đường lối mang tính bao quát của ý thức hệ. Và phải nhìn nhận những sai lầm này một cách trung thực nhât, trên tinh thần cầu thị. Tất cả vì lợi ích của tương lai dân tộc Việt.

Nhà nước hiện nay cần thay đổi toàn diện tư duy về đất đai, và không được chậm trễ thêm nữa. Chỉ có bằng cách thay đổi tư duy về đất đai thì mới mong chúng ta có được một bộ luật về đất đai mang hơi thở của cuộc sống. Và từ đó Bộ luật đất đai mới phục vụ tốt cho việc quản lý của nhà nước cũng như việc sử dụng đất đai của người dân.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một người đang sống ở thành phố Vũng Tàu.

3. Miếng mở ở trong miệng con mèo thì làm sao đòi được. Đất đai ở trong tay của đảng. Làm gì quốc hội dám cả gan đem chuyện đất đai ra bàn thảo. Những người phát biểu trong bài này chỉ là cái bung xung. Nhưng đâu sẽ hoàn đấy

Quốc hội sẽ không bàn vụ Văn Giang?

Posted in Cướp Đất Đai, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Cưỡng chế đất ở Campuchia: dân làng bắt giữ con tin

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2012

Nguồn: Tep Nilmol – The Phnom Penh Post

  Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

Lời người dịch: Qua bản tin ngắn này từ nước láng giềng, ta không khỏi so sánh với sự kiện Đoàn Văn Vươn tại Việt Nam, từ việc hành xử của chính quyền địa phương cho đến cách giải quyết vấn đề của hai bên. Nó cũng khiến ta lưu ý đến cách đưa tin khách quan, tìm hiểu hai mặt của vấn đề của phóng viên tờ Phnom Penh Post so với một số tờ báo trong nước khi vụ Tiên Lãng vừa xảy ra.

23.02.2012

Việc giải toả đất ở đồn điền cao su Ratanakkiri đã bị đình chỉ sau khi hơn 300 người dân tộc thiểu số làng Tumpoun bắt giữ bốn nhân viên bảo vệ và một viên chức của công ty, trói họ lại và giữ làm con tin vào hôm thứ Ba, các quan chức của công ty cho biết vào hôm qua.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Jing Zhong Ri Cambodia đã được huyện Lumphat cho phép hợp đồng sang nhượng 9 nghìn hecta “khu vực sử dụng lâu dài” Ratanakkiri trong vòng 70 năm vào tháng Năm và vừa qua đã bắt đầu khai quang khu vực này.

Những người dân làng Tumpoun nói rằng công ty này không có quyền san bằng ruộng đất của họ.

Sáng thứ Ba, họ đã phát động một cuộc tấn công vào khuôn viên công ty JZR, phá tan một máy ủi và một chiếc xe khác trước khi tiến vào văn phòng môi trường của công ty, cảnh sát trưởng huyện Lumphat là Suoy Phay nói với phóng viên tờ Post.

Đại diện dân làng là Tuy Nheb nói rằng khi người dân tiến tới, một nhân viên môi trường và các bảo vệ đã bắn chỉ thiên và dùng súng đe doạ họ.

Thay vì giải tán, những người dân làng trang bị gậy gộc, dao vào liềm, đã xáp vào nhân viên môi trường và các nhân viên bảo vệ, bắt giữ cả năm người vào 10 giờ sáng, các dân làng và chính quyền cho biết.

Souy Phay nói rằng dân làng đã bắt giữ năm nhân viên của công ty tại một ngôi nhà công cộng và trói tay họ lại, giữ làm con tin.

Những người dân tộc thiểu số trong làng sau đó đã phá tan văn phòng của nhân viên môi trường và yêu cầu công ty phải chấm dứt san bằng đất ruộng của họ ngay lập tức.

“Các nhân viên công ty cuối cùng đã được trả tự do khoảng vào giữa trưa hôm thứ Ba sau cuộc hoà giải thành công giữa dân làng và chính quyền địa phương,” Suoy Phay nói.

“Việc dân làng tự ý bắt giữ các viên chức công cộng là bất hợp pháp , vì không có phán quyết của toà, và hành động này được xem là bắt người bất hợp pháp,” ông nói.

Hai nhân viên bảo vệ bị bắt giữ cũng là nhân viên cảnh sát địa phương bán thời gian và hai người kia là lính bán thời gian của Quân đội Hoàng gia Cambodia.

Đến khi bài báo được đăng, toà án địa phương vẫn chưa đưa ra trát đòi bắt giữ bất kỳ người dân làng nào và không một người dân làng hoặc những nhân viên bị bắt làm con tin cũng như công ty đã chính thức đệ đơn kiến nghị với chính quyền.

Nhân viên quản lý của công ty là Chlay Em đã nói với tờ Post ngày hôm qua rằng việc đình chỉ quá trình san bằng khu đất được chuyển nhượng cho công ty sẽ được giữ nguyên cho đến khi chính quyền địa phương và dân làng đạt được một giải pháp nhằm tránh thêm bạo lực.

“Người dân làng quá dại dột, vì công ty này đầu tư nhằm tăng cường phát triển đất nước,” Chhay Em nói.

“Bất kỳ sự phá huỷ nào đối với tài sản công ty cũng là sự phá huỷ đất nước họ, và những gì chúng tôi làm đều theo đúng luật lệ.”

Đại diện làng Tumpoun là Tuy Nheb nói rằng việc bắt giữ là một hành động tuyệt vọng nhằm ngăn chặn công ty san bằng đất của họ và để trả đũa khi họ bị nổ súng đe doạ.

“Dân làng chỉ muốn bảo vệ đất của mình, việc này không phải là bất hợp pháp,” Tuy Nheb nói.

Pen Bunna, điều phối viên của tổ chức nhân quyền Adhoc nói rằng công ty chưa có giấy phép san bằng đất san nhượng và chỉ được chính quyền cho phép tiến hành một nghiên cứu đầu tư.

“Giải pháp chỉ có được sau khi dân làng bạo loạn, và nó tạo ra một tấm gương tốt cho tất cả các cộng đồng khác để phản đối sau khi ước nguyện của họ bị chính quyền địa phương cũng như cơ quan lập pháp phớt lờ,” Pen Bunna nói.

“Vì thế, tôi đề nghị chính quyền nên giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt.”

Thảo luận

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Các động tác giả của chính quyền trung ương nhằm xoa dịu bất mãn của dân chúng

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2012

Đình chỉ chức vụ Bí thư và Chủ tịch xã Vinh Quang

Ông Lê Thanh Liêm (phải) đội mũ ngồi nghe công bố quyết định đình chỉ chức vụ với mình – Ảnh: Thế Dũng

Đúng 17 giờ chiều nay (13-2), Huyện uỷ và UBND huyện Tiên Lãng đã công bố các quyết định đình chỉ công tác với ông Phạm Đăng Hoan – Bí thư, Chủ tịch HĐND xã Vinh Quang và ông Lê Thanh Liêm – Chủ tịch UBND xã Vinh Quang để tổ chức kiểm điểm.

Các quyết định nêu rõ, hai ông Phạm Đăng Hoan và Lê Thanh Liêm cùng bị đình chỉ chức vụ trong thời gian 15 ngày để kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm cá nhân trong những sai phạm liên quan tới vụ cưỡng chế thu hồi đất “sai luật, trái đạo lý” đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.

Tham dự buổi công bố quyết định đình chỉ chức vụ với hai ông Hoan và Liêm có ông Trần Minh Thông – Phó Bí thư Đảng ủy Huyện Tiên Lãng, ông Lương Hữu Huyền – Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng phụ trách hoạt động huyện… cùng các vị đại biểu của HĐND, UBND xã Vinh Quang, các cán bộ thôn.

Ông Phạm Đăng Hoan bị đình chỉ chức vụ Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch HĐND xã Vinh Quang nhiệm kỳ 2010-2015. Bà Ngô Thị Hoài – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã Vinh Quang sẽ phụ trách hoạt động của Đảng ủy xã trong thời gian ông Phạm Đăng Hoan bị đình chỉ.

Ông Lê Thanh Liêm bị đình chỉ chức vụ Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Vinh Quang nhiệm kỳ 2010 -2015. Ông Mai Công Nhìu – Phó chủ tịch UBND xã Vinh Quang sẽ phụ trách hoạt động của UBND xã Vinh Quang trong thời gian ông Lê Thanh Liêm bị tạm đình chỉ công tác.

Lãnh đạo huyện Tiên Lãng yêu cầu hai ông Hoan và Liêm trong thời gian bị đình chỉ chức vụ phải thực hiện kiểm điểm một cách nghiêm khắc với tinh thần cầu thị.

Hai ông Phạm Đăng Hoan và Lê Thanh Liêm bị đình chỉ chức vụ 2 ngày sau khi Thành uỷ và UBND TP Hải Phòng công bố các quyết định tạm đình chỉ chức vụ đối với ông Lê Văn Hiền — Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng và ông Nguyễn Văn Khanh, Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng.

Theo các quyết định có hiệu lực từ ngày 11-2 trên, ông Lê Văn Hiền bị đình chỉ chức vụ phó bí thư Đảng ủy và tạm đình chỉ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng trong 15 ngày; ông Nguyễn Văn Khanh bị tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng và chức vụ Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng trong 15 ngày để kiểm điểm trách nhiệm cá nhân trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất sai trái đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn.

Tại buổi công bố các quyết định với hai ông Liêm và Khanh, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng Dương Anh Điền cũng chỉ đạo UBND huyện Tiên Lãng phải thực hiện các thủ tục đình chỉ công tác với các ông Phạm Đăng Hoan và ông Lê Thanh Liêm để tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân của xã Vinh Quang liên quan đến các vi phạm trong việc giao đất, thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất; có biện pháp xử lý theo thẩm quyền, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Những ngày qua, Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng đã liên tục triệu tập ông Phạm Đăng Hoan và ông Lê Thanh Liêm để điều tra, làm rõ trách nhiệm cá nhân của hai ông này sau khi ra quyết định khởi tố vụ án cố ý hủy hoại tài sản để điều tra vụ phá nhà ông Đoàn Văn Quý xảy ra vào ngày 6-1.

Thế Dũng-Mai Phương (Người Lao Động)

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Vụ việc ở Tiên Lãng ỏ Hải Phòng: Báo Đối ngoại Vietnam Economic News (VEN) của Bộ Công Thương đã “vào cuộc” từ năm 2008

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Đôi lời: Một bất ngờ khi độc giả phát hiện và cho biết đã có loạt phóng sự về Cống Rộc, huyện Tiên Lãng do báo Vietnam Economic News (Tin Kinh Tế Việt Nam) của Bộ Công Thương thực hiện từ năm 2008.
Không cầm được nước mắt khi thấy tấm hình Đoàn Văn Vươn, áo quần xốc xếch, đứng bên khu đầm nuôi tôm từ dạo đó.

Nhiều dấu hỏi muốn gửi tới những người cầm quyền từng hoàn toàn dựa vào nông dân để cướp được chính quyền.

Nhưng bữa nay chỉ xin hỏi 3 cơ quan quản lý báo chí (Ban Tuyên giáo, Bộ 4T, Bộ Công an). Các vị thường soi xét những bài viết, tờ báo đưa tin “không lợi” cho đảng, nhà nước, cả cá nhân người lãnh đạo, rồi đưa ra hình thức kỷ luật, phạt, bỏ tù. Thế nhưng có (dám/muốn) phạt những tờ báo to quyền, có lắm tiền, nhưng chỉ lớn giọng lúc đầu khi người dân phạm luật, còn tới lúc vỡ chuyện hé lộ tội trạng của người trong chính quyền thì im re, thậm chí còn lờ đi cả văn bản chỉ đạo của Thủ tướng? Đó là các báo Nhân dân, Công An Nhân Dân, Công An TP Hồ Chí Minh, v.v..? Và đặc biệt là các vị có khen thưởng những nhà báo, tờ báo đã dũng cảm, công phu cảnh báo sớm và vạch trần tội trạng người trong chính quyền từ nhiều năm trước, trong một vụ việc “nhạy cảm” hiếm có (ở Cống Rộc, huyện Tiên Lãng) kiểu này không?

Giá như từ ngày đó, các vị được đọc loạt bài phóng sự đăng trên báo VEN, hoặc đọc mà không bỏ qua, thì (biết đâu) sẽ có thể không xảy ra tấn thảm kịch cho đại gia đình Đoàn Văn Vươn và cả 6 chiến sĩ bộ đội, công an, và sẽ không có cái hậu quả rất có thể mang tới nguy cơ khó tưởng tượng cho chế độ như ngày hôm nay.

Vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng):
Báo Đối ngoại VEN (Vietnam Economic News) đã “vào cuộc” từ năm 2008

Cập nhật lúc: 10:10 17/01/2012

(VEN) – Những ngày gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đến vụ việc diễn ra ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày 5/1/2012. Vụ việc chống lại người thi hành công vụ lực lượng cưỡng chế thuộc khu vực Cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng diễn ra làm 6 cán bộ, chiến sĩ công an, bộ đội bị thương.

Đã có nhiều luồng thông tin khác nhau về sự việc nhưng chủ yếu là những thông tin diễn ra sau ngày 5/1 hoặc một số vấn đề ngay trước đó mà chưa có dịp tiếp cận với những gì đã có từ nhiều năm trước – khi Cống Rộc còn là “nỗi kinh hoàng” của người dân Tiên Lãng.

Dẫu vậy, bằng nhiều nguồn khác nhau, bản chất của sự việc dần được nêu ra tường tận.

Báo đối ngoại Vietnam Economic News (VEN) của Bộ Công Thương, ngay từ năm 2008, báo đã có loạt bài phóng sự “Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển”. Trên cơ sở đơn thư khiếu nại khẩn thiết của người dân, Tòa soạn đã cử phóng viên về “ba chung” tại Cống Rộc và nghiêm túc nghiên cứu hồ sơ, thực hiện chặt chẽ các quy trình trước khi cho đăng trên ấn phẩm Kinh tế Việt Nam, sau đó đăng lại trên trang điện tử http://www.ven.vn – thuộc Báo Đối ngoại Vietnam Economic News.

Tổng Biên tập Báo Đối ngoại VEN – cho biết: “Dù đã gần 4 năm, nhưng vẫn nhớ rất rõ vì đã phải xem xét kỹ càng hồ sơ vụ việc tới từng chi tiết trước khi duyệt đăng những bài này”.

Đúng ra, loạt phóng sự này ban đầu gồm 6 kỳ. Tuy nhiên, do là tuần báo và theo đề nghị của Ban biên tập nên sau đó tác giả loạt phóng sự này đã rút thành 3 kỳ.

Để có tài liệu và hình ảnh cho loạt phóng sự, phóng viên đã phải nhiều lần tới Vinh Quang cùng sống, ăn, ngủ những người dân giữa đầm nuôi tôm (khu vực mới bị cưỡng chế). Trong lần nghỉ lại giữa đầm tôm này, phóng viên đã có lúc phải cùng người dân thức trắng đêm do muỗi và mưa to bất ngờ ập đến. Cũng trong các chuyến công tác, phóng viên không ít lần phải giấu đi những giọt nước mắt khi nghe câu chuyện về quá trình lấn biển của ông Vươn cũng như chứng kiến tận mắt nỗi vất vả, khó khăn của những người dân nơi đây.

Thể theo nguyện vọng của đông đảo bạn đọc và nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến “sự kiện 5/1/2012” ở Hải Phòng, Tòa soạn xin đăng tải lại 3 kỳ “Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển” đã xuất bản trên ấn phẩm Kinh tế Việt Nam số 30 (ra ngày 22/7/2008), số 31 (ra ngày 29/7/2008), số 32 (ra ngày 5/8/2008) trên trang tin điện tử http://www.ven.vn./.

Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương. Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chí Trung

*********************

Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển (Kỳ I)

Cập nhật lúc: 09:40 22/07/2008

(VEN) – Ôm theo gần 2kg đơn thư, tài liệu cầu cứu của những người dân ven biển huyện Tiên Lãng, chúng tôi đến Hải Phòng đúng ngày trời đổ mưa lớn đầu mùa. Vượt qua những quãng đường đất đá dưới cơn mưa tầm tã, cuối cùng chúng tôi cũng đã đến và biết được câu chuyện cảm động của những người “mở đất” và việc một số cá nhân ở huyện Tiên Lãng đang bất chấp quy định của pháp luật và đạo lý, muốn biến hàng trăm ha đất cùng hàng chục tỷ đồng của những người dân nơi đây thành việc của… “biển”.

Kỳ I: Người mang tên Vươn và hàng trăm ha đất ở Tiên Lãng đã “vươn” ra biển như thế nào?

Theo tài liệu của UBND huyện Tiên Lãng, thì hơn 100ha đất bồi thuộc khu vực bãi triều ven biển (ngoài đê) thuộc khu vực cống Rộc (xã Vinh Quang, Tiên Lãng) trước đây là nơi “đầu sóng ngọn gió”, mênh mông nước biển, thường xuyên đe dọa đến sự an nguy của những người dân địa phương. Mặc dù ở đây có một con đê chắn sóng quốc gia, nhưng do phía ngoài đê trống trải nên mỗi lần gió Nam mạnh cũng làm đê sạt lở, chưa nói khi mùa bão lũ đến. Người dân nơi này không ít lần chứng kiến cảnh vỡ đê và thường đi sơ tán mỗi khi nghe tin bão về.

Ông Mai Công Chính – 82 tuổi, nguyên cán bộ Sở Thuỷ sản Hải Phòng – kể: “Đã bao nhiêu năm gia đình tôi ở đây nên biết rất rõ nỗi cơ cực do sóng biển đe dọa. Trước đây phía Nam cống Rộc này rất đáng sợ. Chỗ nhà tôi từng bị nước biển tràn vào và chịu cảnh ngập lụt không biết bao nhiêu lần”. Còn ông Phạm Văn Danh – 79 tuổi, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Vinh Quang, nguyên Thường vụ huyện uỷ Tiên Lãng – thì cho biết: “Cống Rộc khi trước kinh hãi lắm, nước biển mênh mông. Không ai dám nghĩ có ngày ở đó được yên ổn chứ nói gì đến việc bỏ công sức ra đầu tư để sản xuất đâu”. Ông Danh còn kể: Khi nghe tin anh Vươn tuyên bố nhận làm ở khu cống Rộc, ông Đinh Quang Hiên – người nhiều năm đầu tư khai thác vùng ven biển ở Tiền Hải (Thái Bình) và phía Bắc xã Vinh Quang – thách đố: “Nếu thằng Vươn làm thành công tôi sẽ mất với nó một chiếc xe máy đẹp”. Đó là câu chuyện diễn ra cách nay đã hơn 15 năm.

Còn ngày nay, đứng trên đê quốc gia nhìn ra biển, bất cứ ai cũng có thể nhận ra những đầm nuôi trồng thuỷ sản đã được hình thành vững chắc, ổn định với diện tích rộng hàng trăm ha. Ông Chính bảo: “Nhờ có việc đầu tư công sức và hàng chục tỷ đồng của anh Vươn và những hộ dân nên tuyến đê biển này đã thực sự an toàn, người dân trong vùng được yên tâm sinh sống”. Còn để chỉnh trị vùng ven biển này, ông Chính khẳng định: “Quá trình anh Vươn làm ở đây, những con đê bảo vệ cũng vỡ nhiều lần. Có khi đắp sáng, chiều vỡ, đắp tối thì sáng hôm sau vỡ. Việc làm bấy giờ của anh ấy ví như con dã tràng xe cát. Bây giờ không thể nào nói hết công lao của anh ấy”. Ông Danh tiếp lời: “Nhiều người gàn lắm. Tôi cũng ngăn cản. Không ai ngờ là anh ấy làm được đâu. Anh Vươn như đi cải tạo 6-7 năm trời. Cả gia đình anh ấy cũng lao đao, khổ theo. Ngay đứa con gái đầu lòng của anh ấy cũng chết ở ngoài đó”… Những người dân ở Tiên Lãng vẫn kể cho nhau nghe câu chuyện này mỗi khi nhớ về quá trình lấn biển ở vùng cống Rộc. Còn với “người trong cuộc” Đoàn Văn Vươn thì sao?

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Bắc Hưng (Tiên Lãng), định mệnh đã gắn cuộc đời của ông với biển khơi, như chính cái tên “Vươn” cùng bao khát vọng chinh phục biển – điều mà cha ông – một cán bộ đảng lâu năm – mong muốn. Sau khi rời quân ngũ năm 1986, chàng thanh niên Đoàn Văn Vươn trở về địa phương với quyết tâm tìm cách chế ngự thiên nhiên, biến nỗi kinh hoàng của biển khơi thành tiềm năng phục vụ con người.

Ông Đoàn Văn Vươn bên đầm nuôi trồng thuỷ sản ở Vinh Quang (Tiên Lãng)Đã không ít người hồ nghi và coi việc làm của Vươn khi ấy chỉ là sự ngông cuồng của tuổi trẻ. Ông Vươn kể: “Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho rằng nếu làm được, thì khu vực ấy (cống Rộc) không những sẽ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội lớn. Do đó, tôi đã lập luận chứng kinh tế kỹ thuật và huy động mọi nguồn lực để tiến hành cắt dòng chảy, từng bước khoanh vùng đắp đập ngăn nước”.

Hơn nửa năm trời, người ta chứng kiến hơn 750 nhân công cùng 13 tàu, xe cơ giới ngày đêm vật lộn với sóng biển ở cống Rộc. Ước tính đã có trên 23.000m3 đất đá được chuyển từ Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) và trong vùng đổ xuống biển. Từ năm 1994-1998 hàng ngàn cây giống đã được ông bỏ công sức chuyển từ đất liền ra trồng, nhưng tất cả đều bị sóng biển cuốn trôi. Không nản chí, ông tiếp tục nghiên cứu và từng bước kiên trì để tạo nên hàng rào chắn sóng bằng hàng chục tấn đất đá, cùng khoảng 140 tấn xi măng để xây kè và hàng nghìn cây bần, vẹt. Để rồi, máu cùng nước mắt có ngày được đền công: dòng chảy phía ngoài cống Rộc chuyển hướng, chân đê từ chỗ sâu 1,65m (cốt âm) được nâng lên cốt dương và hàng chục ha đất bồi cùng 60ha rừng vẹt ngăn sóng hình thành. Thành công từ việc trồng rừng chắn sóng của ông Vươn còn được các chuyên gia Nhật Bản đến tìm hiểu, nghiên cứu.

Nam cống Rộc được chế ngự đã giúp cho hàng trăm ha đất ven biển ở Tiên Lãng được bồi đắp mạnh hơn, tuyến đê biển được đẩy lùi vào hàng chục nghìn mét và trở nên vững chãi. Cảm khái trước tâm huyết và công sức của con người dũng cảm dám đối đầu với thiên nhiên, tết năm 1994, người con cao tuổi nhất bấy giờ của làng Chùa (Vinh Quang) đã đem pháo ra cống Rộc đốt và nói: “Việc làm của anh Vươn đã làm thay đổi cuộc sống của người dân Vinh Quang. Con cháu chúng tôi sẽ phải ghi nhớ công ơn này. Và nếu được, tôi đề nghị phải đắp tượng anh Vươn”.

Tuy nhiên, để biến ước mơ thành hiện thực, ông Vươn đã phải chấp nhận chuyển cả gia đình đến sống chung với bão lũ; và để có vốn, ông đã phải bán những tài sản có giá trị của gia đình, vay lãi ngân hàng, huy động người thân vào công việc lấn biển và việc ông mất đi cô con gái đầu lòng cho biển cống Rộc.

Sự nỗ lực góp phần chỉnh trị dòng chảy, giữ an toàn cho tuyến đê biển và tạo nên những đầm nuôi trồng thuỷ sản như hiện nay của ông Vươn là cả một quãng thời gian dài với bao công sức, tiền của. Những ngày đầu năm 2008, ông vẫn tiếp tục đầu tư hơn 100 triệu đồng để kè đá cho đầm tôm. Cùng với ông Vươn, ở Tiên Lãng hiện còn nhiều hộ gia đình đang sử dụng đất bồi ven biển để nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có không ít những người như ông Vươn. Điều muốn nói ở đây là họ đã và đang đối mặt với những thách thức mới, không những từ biển mà còn từ những việc làm không tuân thủ pháp luật, thiếu tình người của một số người có trách nhiệm ở Tiên Lãng./.

Đón đọc kỳ II: Những việc làm ngẫu hứng khiến lòng người nổi sóng

Chí Trung

——————

Cống Rộc đang “độc” vì ai?   (Kỳ II)

Cập nhật lúc: 09:46 29/07/2008

(VEN) – Là người có công trong việc mở mang diện tích đất bồi ven biển và có luận chứng kinh tế, hồ sơ về thuỷ lợi, nên ngày 4/10/1993, UBND huyện Tiên Lãng đã có Quyết định số 447/QĐ-UB giao 21ha bãi bồi ven biển thuộc xã Vinh Quang (cống Rộc) cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng vào mục đích nuôi trồng và khai thác thuỷ sản.

Kỳ II: Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển

Ngày 1/12/2007, ông Vươn nhận được Thông báo số 225/TB-UBND của UBND huyện Tiên Lãng về việc dừng đầu tư vùng nuôi trồng thuỷ sản với lý do thời hạn giao đất ghi 14 năm đã hết. Tiếp đó, ngày 23/4/2008 UBND huyện Tiên Lãng lại có Quyết định số 460/QĐ-UB về việc thu hồi và yêu cầu phải bàn giao lại toàn bộ 21ha đất đang sử dụng cùng các công trình có trên đất cho xã Vinh Quang quản lý trong thời gian… 15 ngày.

Điều đáng nói là, theo đề án và luận chứng kinh tế kỹ thuật mà ông Vươn cung cấp thì thời gian ông đăng ký nhận đầu tư 21ha đất bồi là 30 năm. Đặc biệt, theo quy định của pháp luật thì, đối với loại đất bãi triều ven biển và đất mặt nước ven biển (ngoài đê) là đối tượng được khuyến khích đầu tư sử dụng và được Nhà nước hỗ trợ. Nội dung này được thể hiện khá rõ trong Luật Đất đai, Quyết định số 327-CT, ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại Quyết định số 567/QĐ-UB, ngày 22/4/1992 của UBND TP. Hải Phòng. Cụ thể, tại khoản 1, Điều 67 Luật Đất đai năm 2003 ghi “Thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê trước ngày 15/10/1993 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày 15/10/1993”. Tại điểm 3, mục I, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT, ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên – Môi trường cũng đã hướng dẫn cụ thể về điều này.

Chưa cần dẫn chiếu các văn bản khác cũng có thể thấy Quyết định 460/QĐ-UB, ngày 23/4/2008 của UBND huyện Tiên Lãng là trái với tinh thần của pháp luật hiện hành về thời hạn giao đất. Chưa hết, tại Điều II quyết định này, UBND huyện Tiên Lãng còn giao Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND xã Vinh Quang làm thủ tục thu hồi đất cùng toàn bộ công trình có trên đất, mà không bồi thường gì (!). Điều này là không đúng với quy định. Bởi, tại Điều 9 Quyết định số 327-CT ghi “Đối với các dự án sử dụng bãi bồi, đất trống ven biển, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản có quy mô khoảng 700ha, ngang mức dân một xã, mỗi hộ gia đình được giao một số đất để nuôi tôm, cua, rau câu và 700m2 đất để làm vườn. Nhà nước đầu tư hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng theo nguyên tắc hoàn vốn bằng khấu hao. Việc xây dựng công trình nội đồng, nuôi trồng thuỷ sản do hộ gia đình đầu tư bằng vốn tự có hoặc vay vốn ngân hàng. Các bãi bồi, mặt nước nhỏ dưới 700ha do địa phương đầu tư hoặc giao cho các hộ tự làm”. Căn cứ vào nội dung của quyết định này thì gia đình ông Vươn thuộc diện được ưu tiên, tạo điều kiện để quản lý, sử dụng và còn được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng đối với diện tích đất trên.

Đơn thư, tài liệu do người dân cung cấpTrong khi “Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp, công ty cổ phần, công ty và các hộ tư nhân, kể cả liên doanh giữa công ty hoặc tư nhân với nước ngoài đầu tư vào việc trồng trọt, chăn nuôi ở vùng đất mới” (Điều 11, Mục B Quyết định 327-CT) và tại khoản 3, Điều 67 Luật Đất đai quy định “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng…”, nhưng UBND huyện Tiên Lãng lại không xem xét tới những điều này của Luật Đất đai và Quyết định 327-CT. Qua tìm hiểu, được biết, kể từ khi được giao đất vào năm 1993 đến nay, gia đình ông Vươn luôn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về quản lý và sử dụng đất. Thậm chí, ông còn bỏ khá nhiều công sức, tiền của để củng cố đê kè, góp phần tích cực cải tạo vùng đất bồi hiệu quả và giữ yên cho cả vùng. Mặt khác, ông Vươn còn được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Liên chi hội Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ huyện Tiên Lãng từ năm 1993 đến nay và ông đã có nhiều đơn xin được tiếp tục giao 21ha trên để sản xuất, nhưng không được giải quyết. Vậy nguyên nhân và động cơ nào khiến UBND huyện Tiên Lãng ban hành Quyết định 460/QĐ-UB?

Trước quyết định “ngẫu hứng” này, ông Vươn tiếp tục khiếu nại, nhưng tất cả vẫn bị rơi vào quên lãng. Ông Vươn phẫn uất: “Tôi đã bỏ bao tâm huyết, tiền bạc vào đây, chấp nhận để cả gia đình cơ cực để lo làm ăn, góp phần giữ đất, giữ quê. Thậm chí, con gái tôi cũng chết vì khu cống Rộc này, vậy mà… Nhưng ở đây còn nhiều người khác cũng đang khổ sở, như ông Luân, ông Trong, ông Tin, ông Đọc, ông Tiêu….”. Còn những người dân ở Vinh Quang thì lại bất bình và bức xúc cho ông. Đối với nguyên Uỷ viên thường vụ Huyện uỷ Tiên Lãng Phạm Văn Danh thì: “Khi anh Vươn trình dự án lên UBND huyện năm 1993, huyện cho rằng hão huyền. Vậy mà làm được, góp phần làm bồi nhanh cho cả khu vực”. Ông Danh bức xúc tuyên bố: “Nếu theo quyết định của Chủ tịch huyện (Quyết định 460/QĐ-UB) là cướp trắng của người ta”.

Sự phẫn nộ về những quyết định và việc làm kỳ quặc được phát ra từ UBND huyện Tiên Lãng sẽ còn được đề cập trong bài viết tiếp sau. Ở đây chỉ nói lên một thực tế là niềm tin của người dân nơi đây đối với chính quyền địa phương đang bị phai nhạt dần vì một số vụ việc va chạm giữa dân và các cơ quan chính quyền địa phương đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trong thời gian có mặt ở Hải Phòng, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nỗi bức xúc và tiếp nhận một khối lượng lớn đơn thư, tài liệu do người dân cung cấp xung quanh những quyết định liên quan đến vấn đề đất đai do UBND huyện Tiên Lãng ban hành./.

Kỳ cuối: Hàng trăm hécta đất cùng nhiều tỷ đồng của dân có phải là việc của… biển?

Liêu Chí Trung

_________________________________________________

Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển (Kỳ III)

Cập nhật lúc: 10:00 05/08/2008

(VEN) – Như đã đề cập, cùng với gia đình ông Vươn, chúng tôi còn nhận được đơn thư và phán ánh của hơn 20 hộ gia đình nuôi trồng thủy sản ở huyện Tiên Lãng.

Kỳ cuối: Hàng trăm hécta đất cùng nhiều tỷ đồng của dân có phải là việc của… biển?

Lá đơn tập thể của hơn 20 hộ gia đình ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng.Trong lá đơn dài 11 trang của ông Vũ Văn Luân (xóm 9, xã Hùng Thắng, Tiên Lãng) gửi các cơ quan chức năng, có đoạn viết: “Căn cứ vào Quyết định số 471 ngày 2/8/1999 và căn cứ vào Quyết định giao đất số 415 ngày 10/3/2000, chúng tôi khẳng định UBND huyện Tiên Lãng giao đất trái pháp luật”. Cùng với việc phân tích về những việc làm “chẳng giống ai” của chính quyền địa phương, ông Luân cho biết, gia đình ông đã làm nhiều đơn thư và được các cơ quan có trách nhiệm ở trung ương yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng giải quyết dứt điểm vụ việc theo đúng pháp luật, nhưng đã hơn 2 năm vẫn không có hồi âm. Chung cảnh ngộ với hộ ông Vươn, ông Luân, còn có gia đình các ông Lương Văn Trong, Hoàng Văn Tin, Nguyễn Văn Tiêu, Nguyễn Thế Đọc… cũng đang chịu nỗi cơ cực vì “bão tố” không đến từ biển. Xin lưu ý, từ tháng 1/1992 đến trước ngày 15/10/1993 – trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực – UBND huyện Tiên Lãng đã làm thủ tục giao đất nuôi trồng thủy sản cho 18 hộ với tổng diện tích trên 370ha.

Ngày 2/6/2008, chúng tôi tìm đến UBND huyện Tiên Lãng để tìm câu trả lời của những người có trách nhiệm. Trước những bức xúc của các hộ gia đình đang nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, ông Ngô Văn Khánh – Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng – khẳng định “Những đầm đến bây giờ hết hạn, chúng tôi sẽ thu hồi để giao cho địa phương, cho xã quản lý, để đỡ gây nên phức tạp. Hơn nữa, quản lý của huyện thực tế cũng không thường xuyên, trực tiếp”. Giải thích về việc tại sao huyện lại không giao cho hộ ông Vươn và những hộ khác thời gian 20 năm như quy định của pháp luật mà chỉ là 12 đến 15 năm, ông Khánh trả lời bằng cách… chuyển đề tài, rồi lấy lý do bận việc và giới thiệu chúng tôi đến gặp lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, vì “đó là nơi trực tiếp quản lý tài liệu, giấy tờ”.

Vẫn với những thắc mắc trên, chúng tôi nhận được giải thích từ Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Lãng – Phạm Văn Trống: “Trong quyết định có ghi thời hạn giao đất, nên khi hết thời hạn thì Nhà nước thu hồi theo Điều 38, Điều 45 của Luật Đất đai”. Nhưng khi đối chiếu với Luật Đất đai và các văn bản pháp luật khác, chúng tôi không tìm thấy quy định nào phù hợp hoặc liên quan đối với trường hợp này. Khi được hỏi: “Vì sao các hộ gia đình ông Vươn, ông Trong, ông Tin…, dù chấp hành tốt các quy định, được giao đất trước ngày 15/10/1993 và đã có đơn xin tiếp tục được giao đất nhiều lần lại không được chấp nhận. Trong khi, tại Báo cáo số 68/BC-UBND ngày 25/12/2006 (sau khi có Kế hoạch 58/KH-UB) lại có 18 hộ ở Vinh Quang được huyện giao mới 67,45ha đất với thời hạn… 20 năm?”. Ông Trống “giải thích” rằng: “Đối với 18 hộ ở Vinh Quang, anh em tôi có ra quyết định giao, cho thuê đất. Đến thời điểm này quyết định vẫn chưa thực hiện và anh em tôi cũng đang báo cáo để xem xét lại việc giao đất năm 2005”.

Xin nói thêm, một trong những “căn cứ” để thu hồi đất của các hộ nói trên là Kế hoạch số 58/KH-UB, được UBND huyện này ban hành vào ngày 1/12/2004. Chưa nhắc tới nội dung, ngay từ khi ra đời văn bản này đã có vấn đề. Theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Luật Đất đai năm 2003 thì “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp”. Tuy nhiên, Kế hoạch 58/KH-UB của UBND huyện Tiên Lãng lại không được gửi cho UBND TP. Hải Phòng, nhưng vẫn được dùng làm cơ sở để ban hành hàng loạt các quyết định quy hoạch, giao và thu hồi đất (!). Chưa hết, trong phần thu hồi đất, Kế hoạch 58 ghi “Không được đền bù tiền đất và công trình xây dựng đã đầu tư trên diện tích thu hồi”. Điều này có nghĩa, những hộ gia đình được giao đất trước ngày 15/10/1993 ở Vinh Quang sẽ bị thu hồi mà không được bồi thường. Như vậy là trái với quy định của Điều 41, Điều 42 Luật Đất đai.

Về quyết định thu hồi đối với diện tích đất giao cho các hộ (từ 12 đến 15 năm) trước ngày 15/10/1993, trái với quy định tại Điều 67, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật, ông Trống cho rằng “tùy từng địa phương, người ta giao cho bao nhiêu, quyết định thời hạn là bao nhiêu, mà không cứ phải 20 năm”.

Chưa kể, theo “quan điểm” mà “Kế hoạch 58” đưa ra thì huyện Tiên Lãng chủ trương sẽ xé nhỏ hàng trăm ha đất mà các hộ gia đình đang được giao sử dụng ổn định để cho đấu thầu theo các lô, có diện tích từ 1-5ha/lô. Nghe qua, tưởng hay, nhưng điều này là vô cùng nguy hiểm. Bởi, diện tích đất trên không giống như nền trụ sở UBND huyện Tiên Lãng, mà là đất bồi ven biển – mới được hình thành hơn 10 năm gần đây, nền đất còn nhiều biến động. Càng phi thực tế hơn khi những nền đất này để hình thành nên những đầm nuôi trồng thủy sản ven biển – vốn cần quy hoạch chắc chắn, có thời gian đầu tư lâu dài ổn định. Điều này còn mâu thuẫn với mong muốn “hình thành một vùng nuôi trồng thủy sản bền vững, hiệu quả theo hướng công nghiệp” như các văn bản mà chính quyền huyện Tiên Lãng dùng để báo cáo với cấp trên và làm cơ sở để quy hoạch phát triển.

Cũng cần nói thêm, thời gian qua UBND huyện Tiên Lãng đã giao hàng trăm ha đất cho Công ty Việt Mỹ và hàng chục ha cho Tổng đội thanh niên xung phong với thời hạn từ 27 đến 40 năm, cùng với mục đích nuôi trồng thủy sản, nhưng vẫn chưa sử dụng có hiệu quả. Trong khi đó, các hộ gia đình như ông Vươn, ông Luân, ông Tin, ông Đọc… không những đã có công trong việc đầu tư, khai khẩn, đang làm ăn ổn định và mong muốn được tiếp tục nhận giao đất để sản xuất theo đúng quy định của pháp luật thì lại bị từ chối theo cái “lý” của UBND huyện Tiên Lãng (?!)

Xin chuyển những vấn đề này tới các cơ quan có thẩm quyền với mong muốn những băn khoăn của người dân sẽ sớm được làm rõ./.

Chí Trung

Nguồn: Vietnam Economic News (VEN)

Nguồn: anhbasam

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Tin mới nhất về Vụ Cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Tin rất nóng: Tiên Lãng đã phát nổ một quả bom sự thật

Nhà văn Nguyễn Quang Vinh

Sau nhiều ngày, với nhiều lý lẽ rất loăng quăng, tiền hậu bất nhất, dối trá, cố đấm ăn xôi của các cấp lãnh đạo Hải Phòng, Tiên Lãng về vụ cưỡng chế đất của gia đình anh Đoàn Văn Vươn; sau nhiều ngày chỉ nghe tiếng nói phản đối một phía từ báo chí, các quan chức, nhân sĩ trí thức, dư luận, các cơ quan nhà nước Trung ương về những sai phạm của chính quyền Hải Phòng, Tiên Lãng trong việc cấp đất, thu hồi và cưỡng chế đất; sau nhiều ngày cảm tưởng như hệ thống cơ quan ban ngành ở Tiên Lãng một lòng một dạ, cố sống cố chết bảo vệ sai trái của lãnh đạo huyện…Hôm nay, chúng tôi có trong tay văn bản báo cáo chính thức của Hội nuôi trồng thủy hải sản huyện Tiên Lãng (một đơn vị trực thuộc sự lãnh đạo của huyện Tiên Lãng) đã phát một văn bản báo cáo, vạch trần toàn bộ sự thật về những sai trái, thậm chí phạm pháp của lãnh đạo của mình, nó có sức mạnh như một quả bom tấn, nó là tiếng nói của một tổ chức có tư cách pháp nhân, đóng dấu đỏ…Những sự thật trong văn bản sẽ làm ngả ngửa giới chức lãnh đạo Tiên Lãng vì nó phanh phui những bí mật động trời…Văn bản ngay lập tức trong chiều nay đã được gửi cho rất nhiều các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ…

Người trong cuộc đã lên tiếng vì sự thật.

Một thông tin rất nóng và cần thiết vào lúc này. Một tài liệu quan trọng cho các đoàn kiểm tra Trung ương. Văn bản như một quả bom sự thật của chính người trong cuộc đã châm ngòi.

Chúng tôi có niềm vui được công bố lần đầu văn bản này

Tặng những cựu chiến binh của Cu Vinh và các bác bài hát VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH, nghe bài này trong lúc đọc mới sướng.

b1_0.jpg
b2_0.jpg
b3_0.jpg
b4_0.jpg
b5_0.jpg
b6_0.jpg
b7_0.jpg
b8.jpg
b9.jpg
b10.jpg
b11.jpg

______________________

Các bác yêu dấu.

Lúc này, một lá đơn của người dân Tiên Lãng, một báo cáo của một tổ chức xã hội nghề nghiệp (như báo cáo này), một tiếng nói của một cán bộ, đảng viên ở địa phương…tất cả là đường dẫn cho các cơ quan kiểm tra tìm đến các ngóc ngách, bằng chứng của sự thật. Với công tác điều tra, những thông tin này quý giá như vàng. Ví dụ, sở Tư pháp Hải Phòng đã phát công văn yêu cầu huyện Tiên Lãng thu hồi văn bản trái pháp luật mà huyện không thu hồi, ví dụ một số văn bản của huyện về một số chủ trương không báo cáo Thành phố mà thực hiện lén lút…v..v..Tất cả những điều đó sẽ biến thành sự thật chính thống của các đoàn kiểm tra. Có đường dẫn này, các đoàn kiểm tra sẽ giảm đi rất nhiều thời gian tìm kiếm sự thật. Với Cu Vinh, văn bản này đọc xong, chỉ có cách uống cốc trà, phả khói thuốc và he he he.

Với công việc điều tra sai phạm, đôi khi chỉ là mấy dòng chữ viết rất vội trên võ bao thuốc lá mà phanh phui ra cả một tội tày đình các bác ạ.
Cái giá trị văn bản báo cáo này nằm ở chỗ đó.

Nguồn: danluan.org

*Ban Chấp Hành Liên Chi Hội Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Lợ = BCH LCH NTTS NL

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Chính quyền lại cướp đất của dân ở Bắc Giang, dân chống cự và bị công an đánh chết

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2012

Công an Bắc Giang lại đánh chết người

Quỳnh Chi, phóng viên RFA, Bangkok

2012-01-26

Một người dân ở xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã thiệt mạng sau khi bị cảnh sát đánh trong một vụ cưỡng chế đất cách đây gần một tháng. Quỳnh Chi tường trình:

Source TTXVA.orgNhững người dân bị mất đất kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế.

Lộng hành trong các vụ cưỡng chế đất

Người chết tên Nguyễn Văn Hùng, 50 tuổi, ngụ tại xóm 2 thôn Quyết Tiến, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ông Hùng vừa tắt thở lúc 4 giờ sáng ngày 26 tháng 1, tức mùng 4 Tết âm lịch sau khoảng hơn 3 tuần cầm cự. Vợ ông Hùng, bà Thân Thị Bình cho biết tình trạng của ông trước khi chết:

“Ông bị đánh từ hôm chính quyền đến cưỡng chế đất. Từ đó ông không ăn được. Ngủ thì ít mà không ăn được, thỉnh thoảng lại ho ra máu, đi tiểu ra máu. Ông đi lại được nhưng không đi xa được”.

Theo lời người dân ở đây thuật lại, cách đây khoảng 3 tuần, rất nhiều cảnh sát, dân phòng và cán bộ xã, huyện được trang bị dùi cui và chó săn đến thực hiện cưỡng chế đất. Một người dân nơi đây cho biết diễn biến của đợt cưỡng chế:

“Tôi cũng là một trong những người bị cưỡng chế. Lúc khoảng 6 giờ 30 sáng hôm 23 tháng 12 năm ngoái thì lực lượng cưỡng chế đến và lấy đất. Chúng tôi đem cờ và ảnh Bác Hồ ra để có tính biểu tượng và hy vọng là họ sẽ sợ. Nhưng họ không sợ. Họ dồn hết dân vào, ai chống cự thì bị đánh. Họ xé ảnh, xé cờ. Họ thả chó săn đuổi dân. Vừa công an, vừa dân quân tự vệ…”

Năm 2010- Biểu tình ở Bắc Giang vì công an đánh chết người chiều chủ nhật 25 tháng 7 năm 2010. Trong hình, công an đang lôi kéo một người (mặc áo đỏ). RFA file

Đợt cưỡng chế đầu tiên vào ngày 23 tháng 12 năm 2011. Ngày 10 tháng 1 vừa qua là đợt cưỡng chế đất lần hai ở đây.

Theo bà con nơi đây, chính quyền không thực hiện họp dân, cũng không đọc lệnh cưỡng chế trong hai lần cưỡng chế trên. Hầu hết bà con nơi đây sống bằng nghề nông hoặc làm thuê nên không đồng ý với việc cưỡng chế. Theo bà Bình, từ 10 ngày nay, tất cả mấy trăm hộ bị mất đất trong thôn ngày nào cũng thay nhau kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế.

Ông Nguyễn Văn Hùng và bà Thân Thị Bình có ba người con, trong đó có một người đang nhập ngũ, nhưng chỉ có khoảng 4 sào đất để canh tác. Cho đến đợt cưỡng chế lần hai vừa qua, gia đình đã bị lấy 1 sào đất.

Trong lần cưỡng chế đầu tiên, xót của, ông Hùng xông ra ngăn cản chính quyền và bị đánh. Người dân nơi đây cho biết:

“Anh Hùng đã nhào ra giữ ruộng thì bị nhiều người vào đánh đập đến hộc máu mồm. Tất cả chúng tôi đều trông thấy”.

Theo nguồn tin RFA nhận được, ngoài ông Hùng, còn có 3 người khác nữa bị đánh, trong số họ có hai người trên 60 tuổi, cũng là dân bị mất đất trong đợt cưỡng chế.

Sau khi bị đánh, vì gia đình nghèo túng nên ông Hùng không được đưa đi bệnh viện và chết tại nhà vào sáng sớm nay. Bà Thân Thị Bình cho biết:

Những người dân ở xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang bị mất đất kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế. Source TTXVA.org

“Gia đình nghèo túng, lại không có bảo hiểm. Nhà có vài tạ thóc, nếu bán thì không có gì ăn cho nên không đưa ông đi bệnh viện mà mua thuốc dán cho ông”.

Anh Hùng đã nhào ra giữ ruộng thì bị nhiều người vào đánh đập đến hộc máu mồm. Tất cả chúng tôi đều trông thấy

» Một người dân

Được biết, phía chính quyền đã có trưởng thôn và bí thư xã Tiền Phong đến chia buồn cùng gia đình:

“Họ có đến và chỉ động viên tinh thần thôi chứ cũng không thấy nói giúp đỡ”.

Khi được hỏi chia sẻ của gia đình về việc cưỡng chế cũng như cái chết của ông Hùng, bà Bình cho biết:

“Gia đình rất bức xúc nhưng không kêu được vì thấp cổ bé họng. Chỉ biết nhờ các nhà báo và pháp luật mà thôi”.

Dự kiến, ông Hùng sẽ được chôn cất vào ngày mai.

Cũng cần nói thêm, theo báo Dân Việt, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) đã có hàng trăm ha đất giải phóng mặt bằng 10 năm nay nhưng đều để hoang và không xây dựng công trình mới. Tuy nhiên, “vừa qua UBND tỉnh vẫn quyết định thu hồi thêm hàng chục ha đất hai vụ lúa để xây dựng nhà máy sản xuất gạch”, theo tờ báo này.

Dự án này của công ty Thạch Bàn, đã được cấp giấy phép chứng nhận đần tư. Và UBND huyện Yên Dũng đã 2 lần tổ chức cưỡng chế thu hồi đất cho dự án này.

Trao đổi với phóng viên báo Dân Việt, ông Nguyễn Thế Cường – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn cho biết vì đất đã giải phóng tuy bị bỏ hoang nhưng giá cao nên phải lấy đất trồng lúa của bà con nơi đây để “giá thành rẻ hơn”. Ông này cũng cho biết, Tỉnh cũng đã đồng ý đề xuất này của công ty Thạch Bàn.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

*Con Đường trở thành Ông chủ đất.

Trước khi chiếm được miền Bắc vào ngày 20-7-1954, thì trước đó chừng 2-3 năm, đảng đã phát động Cải Cách Ruộng Đất. Khắp miền Bắc, đảng viên xúi dục nông dân nghèo và tá điền làm mướn nổi dậy, đấu tố những ai có đất, và đảng làm quan tòa trong các vụ đấu tố. Sau khi giết được 174000 chủ đất, và cướp được đất đai ruộng vườn của họ, đảng ra lệnh cho nông dân vào nông xã và hợp tác xã sản suất nông nghiệp.

Nông xã hay hợp tác xã nộng nghiệp có duy nhất một mục đích: Nông dân trồng lúa được bao nhiêu thì nông xã và hợp tác xã cho giữ lại một ít để gia đình ăn, số lúa còn lại phải giao nộp cho nhà nước. Tóm lại, đảng ngồi không mà hưởng hết sản phẩm lúa gạo của nông dân làm ra. Ai làm chủ đất đai sau cuộc cải cách ruộng đất?

Quyền sở hữu đất đai được đảng định nghĩa rất mập mờ, đánh lận hết tất cả giới có học thời ấy bằng câu: Đất đai là sở hữu của toàn dân…hàng chữ mập mờ này có nghĩa là: đất đai do quốc doanh làm chủ, hay nói rõ hơn là do nhà nước làm chủ. Đảng lãnh đạo nhà nước, nên có nghĩa là đảng làm chủ. Do đó, việc nhà nước (đảng) tịch thu đất đai để làm việc gì, có kế hoạch gì, xây dựng gì…là để cho các cán bộ cao cấp và gia đình của họ hưởng lợi, chứ dân chúng và nông dân chắc chắn là không được hưởng.

Vụ anh Đoàn Văn Vươn đi thuê đất của nhà nước là điển hình cho mọi người biết ai là chủ đất. Muốn biết chi tiết về Đoàn Văn Vươn, chỉ cần vào google.com, bing.com, hay yahoo.com, và viết chữ Đoàn Văn Vươn bị cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng…

Một vụ cướp ruộng đất của nông dân ở Hà Đông 2010

Ngày 9/3/2010, nhiều người dân Dương Nội bất ngờ khi thấy một đoàn xe ủi, dưới sự điều hành của lãnh đạo phường Dương Nội, do ông Lê Khánh Đồng, Chủ tịch phường trực tiếp chỉ huy, đang cày ủi cánh đồng thuộc thôn La Dương.


Cưỡng chế mặt bằng thôn La Dương, Hà Đông. Ảnh từ video.
Trên cánh đồng này có nghĩa trang Tha ma Giải Phướn – như người dân mô tả – chôn vài trăm ngôi mộ từ những năm 1945 trở lại đây, trong đó có những mộ chôn tập thể nhiều người, có mộ mới hung táng, có cả mộ các trẻ em xấu số. Sau đây là các tài liệu, biên bản, ảnh và băng ghi hình tại buổi giải phóng mặt bằng nghĩa trang La Dương (còn gọi là Tha ma Giải Phướn), thuộc địa bàn thôn La Dương, phường Dương Nội, quận Hà Đông. Xe ủi va đập làm một phụ nữ bị thương.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Chẳng có người dân nào phá nhà ông Vươn!

Posted by hoangtran204 trên 21/01/2012

Cán bộ địa phương thông tin quanh co, bất nhất. Trong khi đó, người dân khẳng định nhà của gia đình ông Vươn bị cơ quan chức năng dùng máy xúc phá.

Đoàn giám sát thuộc MTTQ kiểm tra hiện trường ngôi nhà ông Đoàn Văn Vươn bị san phẳng

Ngày 19-1, đoàn giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã về làm việc với MTTQ huyện Tiên Lãng, chính quyền xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng) về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất nuôi trồng thủy sản của ông Đoàn Văn Vươn tại xã Vinh Quang.

Thu đất làm sân bay (?)

Tại cuộc làm việc, đại diện các cơ quan của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là GS Nguyễn Lang, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn kinh tế; luật sư Lê Đức Tiết, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Dân chủ pháp luật; ông Nguyễn Công Nguyên, Trưởng Ban Kinh tế đối ngoại và ông Nguyễn Anh Đức, Thường trực Hội đồng Tư vấn kinh tế, cùng đặt nhiều câu hỏi với lãnh đạo MTTQ huyện Tiên Lãng, Ban Dân vận huyện ủy Tiên Lãng và lãnh đạo xã Vinh Quang về những vấn đề xung quanh vụ cưỡng chế thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn và các hộ khác.

GS Nguyễn Lang đặt câu hỏi: “Sự việc xảy ra trong nhiều năm, có khiếu kiện của dân, vậy với vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp của dân, MTTQ huyện đã làm việc cụ thể những gì?”.
Ông Hoàng Anh Tuấn, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy Tiên Lãng, khẳng định: Việc thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn và các hộ khác là đúng quy định của pháp luật vì nơi đó sẽ làm sân bay (?) và huyện sẽ quai đê lấn biển lần 2 để di dân ra đó”.

Trong khi đó, trả lời báo chí trước đây, chính quyền xã Vinh Quang đã từng khẳng định việc thu hồi đầm của ông Vươn để sau này sẽ chia nhỏ ra, tổ chức đấu thầu cho người khác thuê. Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh lại từng khẳng định rằng cứ thu hồi đát trước đã, sau đó giao cho ai sẽ tính sau.

Tại buổi làm việc, ông Phạm Đăng Hoan, Bí thư Đảng ủy xã Vinh Quang, đưa ra những căn cứ khẳng định việc thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn là đúng pháp luật.

Ông nói: “Ông Đoàn Văn Vươn và Vũ Văn Luân đều không có hộ khẩu tại xã Vinh Quang, được nhận giao đất bãi bồi ven biển. Đất này được xác định là đất chưa ổn định và không phải đất nông nghiệp vì đây là vùng ngoài đê quốc gia, nên việc giao đất phải có hạn. Riêng nhà anh Vươn xây trên đất không cấp để ở, chỉ để trông coi. Nhân dân rất không đồng tình với việc chống nhà chức trách của gia đình ông Vươn” – ông Hoan khẳng định.

Cũng theo ông Hoan, do vợ con ông Đoàn Văn Vươn và ông Đoàn Văn Quý không có hộ khẩu tại địa phương nên việc bảo đảm cuộc sống của họ, xã cũng chỉ có trách nhiệm phần nào.

Trái ngược hoàn toàn với sự khẳng định trước đó của ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng, rằng “người dân bất bình phá nhà ông Vươn”, ông Nguyễn Duy Hòa, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vinh Quang, khẳng định: “Nhà của ông Vươn là do lực lượng chức năng dùng máy xúc phá”.

Cưỡng chế sao lại lấy tài sản của dân?

Đoàn giám sát cũng đã gặp gỡ một số người dân địa phương để nắm bắt thêm tình hình. Trả lời thành viên đoàn giám sát – luật sư Lê Đức Tiết, ông Mai Công Chứng, 85 tuổi, 50 năm tuổi Đảng, ở thôn Chùa Trên, xã Vinh Quang, bộc bạch: “Tôi lập nhà ở sát Cống Rộc gần 50 năm nay, trước đây nơi này là biển nước, chỉ có vài cây sú, bần, cói không mọc nổi. Từ ngày ông Vươn đổ tiền của, công sức đắp kè, làm đầm, trồng cây chắn sóng thì nhiều gia đình khác như nhà tôi không còn nơm nớp lo vỡ đê chạy bão”.

Chia sẻ với GS Nguyễn Lang, ông Vũ Hồng Khê (thôn Đông Dưới, xã Vinh Quang) bày tỏ: “Việc của ông Vươn không chỉ là chuyện riêng của xã Vinh Quang mà Nhà nước cần vào cuộc, làm rõ. Chính quyền lại dùng máy xúc san phẳng nhà dân rồi để người lạ đến chia “chiến lợi phẩm” từ gà chó, chặt chuối đến cả việc bắt cá tôm. Dân bất bình lắm”.

Cùng bức xúc như ông Kê, bà Giót – một người dân sở tại – nói: “Cưỡng chế thì phải niêm phong, giữ nguyên hiện trường chứ sao lại phá nhà dân rồi thu vén như vậy”.

Anh Nguyễn Xuân Trường (thôn Rừng Thông, xã Vinh Quang) bất bình: “Thật khó hiểu với chính quyền xã khi đất của anh Vươn thu hồi buổi sáng thì buổi tối đã có người tên K. đến tiếp quản. Thực tế chẳng có người dân nào có thể vào để phá nhà ông Vươn cả”.

Trao đổi với ông Nguyễn Anh Đức, Thường trực Hội đồng Tư vấn kinh tế, ông Phạm Văn Bài (thôn Chùa Trên) khẳng định ông Vươn tấn công người thi hành công vụ là sai nhưng việc ông làm cho người dân xã Vinh Quang là rất lớn và là người rất tốt với mọi người xung quanh. “Có lẽ do bị dồn vào bước đường cùng nên ông Vươn mới hành động như vậy” – ông Bài nhận định.

Đến 20 giờ cùng ngày, đoàn giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam mới rời xã Vinh Quang, Tiên Lãng để về TP Hải Phòng. Dự kiến, sáng nay (20-1), đoàn giám sát sẽ làm việc với lãnh đạo MTTQ TP Hải Phòng.

Luật sư Lê Đức Tiết cho biết tất cả những trình bày, báo cáo của chính quyền, cơ quan chức năng xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng và tâm tư, chia sẻ của người dân sẽ được tổng hợp để báo cáo lãnh đạo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Trung ương.

Đoàn giám sát thăm gia đình ông Vươn

Thay mặt đoàn giám sát, luật sư Lê Đức Tiết đã gặp gỡ và thăm hỏi bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn và bà Phạm Thị Hiền, vợ ông Đoàn Văn Quý.

Bà Hiền cho biết hiện gia đình bà và gia đình bà Thương vẫn đang tá túc tại nhà anh Đoàn Văn Thoại (em trai út của ông Vươn).

Bà Thương chia sẻ: “Gia đình tôi chỉ mong muốn được các ban ngành Trung ương quan tâm, xem xét làm rõ sự việc. Gia đình chúng tôi mong muốn vụ án được xét xử công bằng, toàn diện, đúng pháp luật“.

Nguồn: Người Lao Động

nguồn: danchimviet

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Biến cố Đoàn Văn Vươn cho thấy lịch sử Việt Nam có thể bước vào một ngã rẽ

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2012

Ngô Nhân Dụng

Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Nhưng sự thật đâu là nguyên ủy gây ra vụ cướp đất dã man này? Nếu không có cái chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam thì làm sao sinh ra hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm bao che nhau, đưa nhau lên làm chủ tịch, trên dưới một bè?

Nếu hai anh em này sống trong một chế độ khác, có nền tư pháp độc lập, có đảng chính trị đối lập trong quốc hội, có báo chí tự do, thì làm sao họ dám bầy mưu lập kế suốt năm năm để cướp đất đai do công khai phá mấy chục năm trời của gia đình Đoàn Văn Vươn?

Phải gọi đó là một biến cố. Biến cố này đánh dấu một khúc quanh. Chúng ta chưa thể tiên đoán cuối cùng sẽ ra sao, nhưng sẽ còn biến chuyển, và có thể đưa tới các biến cố khác. Tên anh Đoàn Văn Vươn sẽ đi vào lịch sử Việt Nam, như tên anh Mohamed Bouazizi trong lịch sử nước Tunisie.

Trong bài báo cuối tuần qua, Lê Phan đã nhìn thấy những điểm tương đồng trong hoàn cảnh hai người. Họ đều là những người dân bình thường cố gắng vươn lên trong xã hội. Họ đều dùng sức lao động của mình, làm việc cực nhọc và có sáng kiến. Hai người không ai muốn “sinh sự,” không ai muốn chống đối chế độ, vì họ không mong gì hơn là lo cho gia đình.

Bouazizi, một sinh viên tốt nghiệp, sống ở thành phố thì xoay sở bằng nghề bán trái cây dạo. Đoàn Văn Vươn là nông dân, người nông dân Việt Nam tiêu biểu, đổ mồ hôi trên đất bùn phèn mặn để biến thành ruộng, vườn, ao cá. Cả hai người cùng bị chế độ độc tài tham nhũng ở xứ họ đẩy tới “bước đường cùng.” Quả là bước đường cùng, không tìm đâu ra lối thoát. Anh Bouazizi, 26 tuổi, đã tự thiêu. Cái chết của anh khiến giới thanh niên phẫn nộ nổi lên lật đổ chế độ; châm ngòi cho Mùa Xuân Á Rập năm 2011.

Anh Đoàn Văn Vươn may mắn còn sống sót. Với tuổi 49, anh đủ đức tin và can đảm để không tự hủy mình; anh đủ kiên nhẫn để đi khiếu nại hết bàn giấy này tới bàn giấy khác xin người ta đừng cướp công lao khó nhọc của gia đình mình. Nhưng anh và gia đình anh cũng bị đẩy tới “bước đường cùng” không khác gì Bouazizi; và họ đã phản kháng bằng chất nổ.

Vụ Đoàn Văn Vươn có thể châm ngòi cho một cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam hay không? Dù chưa ai nghĩ sẽ có một cuộc nổi dậy, nhưng biến cố mà anh gây ra cho thấy lịch sử Việt Nam có thể bước vào một ngã rẽ. Lâu nay, những vụ nông dân biểu tình đòi đất, xô xát với đám khuyển mã của chế độ cướp đất, đều là những hành động tập thể. Nhiều người cùng kêu oan, tiếng kêu la lớn hơn. Đi trong đám đông, người nọ dựa người kia, nếu có xô xát thì trách nhiệm cũng được san sẻ cho nhiều người.

Đoàn Văn Vươn là một biến cố đặc biệt. Vì đây là lần đầu tiên một nông dân thấp cổ bé miệng, một thân một mình, đứng dậy khiếu oan; khi kêu oan mãi không được thì quyết tâm kháng cự lúc quân cướp kéo tới chiếm đất chiếm nhà mình.

Kế hoạch cướp đất của huyện Tiên Lãng chỉ nhắm vào sản nghiệp của một gia đình Đoàn Văn Vươn chứ không liên quan đến người khác. Đoàn Văn Vươn không thể cầu cứu hàng xóm láng giềng, cũng không thể nào nhờ những phương tiện của giới truyền thông hay các đại biểu của cái quốc hội bù nhìn giúp. Anh hoàn toàn “đơn thương độc mã” như Triệu Tử Long đứng trước mặt trận quân Tào (Tháo)!

Quân Tào đây là cả một đảng Cộng sản với hai đại biểu là Lê Văn Hiền, Lê Văn Liêm. Hai anh em ruột làm chủ tịch huyện Tiên Lãng và chủ tịch xã Quang Vinh, đã bầy mưu lập kế, quyết tâm cướp cho bằng được mảnh đất mà anh Vươn khai phá, từ năm sáu năm nay. Họ đã bài binh bố trận, sử dụng hàng trăm công an, lôi theo cả bộ đội và lính biên phòng, một lực lượng vũ trang hùng hậu của chế độ độc tài đảng trị, kéo nhau đi cướp đất của một nông dân. Trong thế cô đơn như thế, gia đình anh phải dùng bạo lực đối phó lại guồng máy bạo lực. Đúng là con giun bị xéo mãi phải quằn lên.

Đoàn Văn Vươn là một biến cố, vì nó đã gây chấn động tới những lãnh tụ to đầu nhất của đảng cầm quyền. Có hai tay “cố vấn tối cao” vẫn còn ngồi phía sau sân khấu điều khiển đám lãnh tụ đương quyền, là Đỗ Mười và Lê Ðức Anh. Bình thường các ông già đang chuẩn bị ngày tang lễ này không bao giờ bàn đến công việc trị dân của đám đàn em. Nhưng tuần này một người đã phá lệ; chứng tỏ tầm quan trọng của biến cố Đoàn Văn Vươn. Lê Ðức Anh, từng đóng vai chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, đã phải mượn bài phỏng vấn của một tờ báo đảng để “chạy tội.”

Tại sao nói là Lê Ðức Anh muốn chạy tội? Thứ nhất, muốn gỡ tội cho cả đảng Cộng sản; Lê Ðức Anh nói, “Có thể khẳng định chính quyền sai từ xã đến huyện!” Nói vậy tức là trút hết trách nhiệm lên cấp dưới, các chính quyền huyện và xã, và giới hạn trách nhiệm trong phạm vi nhỏ đó mà thôi.

Nhưng sự thật đâu là nguyên ủy gây ra vụ cướp đất dã man này? Nếu không có cái chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam thì làm sao sinh ra hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm bao che nhau, đưa nhau lên làm chủ tịch, trên dưới một bè?

Nếu hai anh em này sống trong một chế độ khác, có nền tư pháp độc lập, có đảng chính trị đối lập trong quốc hội, có báo chí tự do, thì làm sao họ dám bầy mưu lập kế suốt năm năm để cướp đất đai do công khai phá mấy chục năm trời của gia đình Đoàn Văn Vươn?

Ông Lê Ðức Anh phê bình các cấp thừa hành đã “để sự việc kéo dài quá nhiều năm.” Ông Vươn đã khiếu oan, kêu cứu bao năm trời, nhưng phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Họ đã có kế hoạch làm sân bay quốc tế mới trong vùng huyện Tiên Lãng. Khu đất bùn mà anh Đoàn Văn Vươn biến thành đất thịt sẽ có giá ngàn vàng. Cán bộ nắm quyền cho đất hay lấy lại đất, họ còn sợ ai nữa? Cả chế độ là một guồng máy đồng lõa với nhau trong kế hoạch ăn cướp, miếng ngon như vậy bỏ sao được?

Nếu không có đảng Cộng sản Việt Nam thì ai ngăn cấm đoán quyền sở hữu đất đai, ai dành độc quyền làm chủ ruộng đất cho guồng máy nhà nước; bắt người nông dân chỉ được hưởng quyền sử dụng đất trong 20 năm, rồi nhà nước có quyền đòi lại!

Nhà nước là đứa nào khi đưa ra những quyết định cho phép sử dụng hoặc đòi lại quyền sử dụng? Người dân nhìn lên chỉ thấy các quan chức cán bộ cộng sản toàn quyền quyết định. Không có báo chí tự do, không có hội đoàn, không đảng phái độc lập, người dân không có một cửa ngõ nào để lên tiếng phản đối những bất công áp bức. Một chế độ như vậy chắc chắn khuyến khích cán bộ lộng quyền làm bậy. Phải nói, một chế độ như thế đã tạo cơ hội mời gọi các cán bộ làm bậy; không ai có thể cưỡng mà không tham nhũng.

Như thế mà ông Lê Ðức Anh lại muốn đổ hết tội lỗi lên đầu cá nhân các cán bộ cấp huyện và xã. Đúng là ông chỉ muốn gỡ tội cho đảng cộng sản. Nói rõ hơn: Gỡ tội những kẻ điều khiển đảng; những kẻ đã lập ra đảng cộng sản; những kẻ đã dùng đảng cộng sản cướp chính quyền; những kẻ từ năm 1945 có dã tâm chiếm độc quyền chính trị nên tàn sát bao nhiêu người yêu nước không cùng chính kiến; những kẻ lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam để củng cố độc quyền chính trị, độc quyền kinh tế cho một nhóm người.

Bài phỏng vấn Lê Ðức Anh là một chỉ thị cho ban Tuyên huấn, đưa xuống cho các báo các đài thi hành: Được phép tha hồ phê bình hai anh em nhà Lê Văn Hiền, Lê Văn Liêm; nhưng giới hạn tới đó thôi. Tuyệt đối không đụng tới cấp cao hơn! Đó cũng trở thành chỉ thị cho Nguyễn Tấn Dũng, phải mở cuộc điều tra, kết tội hai anh em nhà đó, nhưng không đi xa hơn một bước! Tất cả đồng lòng chối bỏ tội lỗi của đảng!

Nhưng, trong thực tế ông Lê Ðức Anh còn muốn gỡ tội cho chính ông ta nữa. Các lãnh tụ cộng sản về hưu thường chỉ lên tiếng nói khi muốn chạy tội. Còn khi đang cầm quyền thì họ chỉ ngậm miệng mà ăn thôi! Nếu đảng Cộng sản sụp đổ thì ai chịu trách nhiệm?

Sau biến cố Đoàn Văn Vươn mọi người đã nhìn thấy cơn phẫn nộ bùng lên khắp nước. Hỏi nhau: Chuyện gì sẽ xẩy ra? Không ai biết trước được. Mùa Xuân Á Rập đã tỏa hương sang tới bên Miến Điện. Cảnh tượng Miến Điện dân chủ hóa có thể thúc đẩy những nhà trí thức và thanh niên Việt Nam muốn nhìn xa hơn, và can đảm hơn. Ai biết được chuyện gì sẽ xẩy ra? Ông Lê Đức Anh chắc phải được công an báo cáo tình hình nghiêm trọng như thế nào, cho nên ông mới phải xuất hiện công khai một lần nữa.

Nhân khi đổ tội cho cấp xã, cấp huyện, ông nói thêm, “Nếu thành phố Hải Phòng và trung ương không xử lý nghiêm việc này thì rất nguy hại.” Nói như vậy là để báo động cả guồng máy đảng trước nguy cơ sụp đổ. Nhưng cũng cốt ý nói rằng nếu chế độ sụp đổ vì một biến cố này thì “Tôi đã bảo mà! Tôi không có trách nhiệm nữa nhé!”

Việc xuất hiện của Lê Đức Anh để báo đảng phỏng vấn cho thấy họ đang run thật. Biến cố Đoàn Văn Vươn nếu chưa gây ra một cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam như cảnh tượng bên Tunisie sau vụ anh Mohamed Bouazizi tự sát thì cũng đánh dấu một khúc quanh. Đảng Cộng sản Việt Nam đang run sợ. Vì run sợ, ít nhất họ sẽ lo tìm hiểu, học tập kế thoát thân tập thể của bọn quân phiệt Miễn Điện; thay vì chỉ lo một mình ôm tiền chạy, hoặc từng anh lo riêng “hạ cánh an toàn.” Nếu vậy thì biến cố Đoàn Văn Vươn cũng vẫn là một khúc quanh quan trọng.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Phỏng Vấn người dân- ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng- có tham gia vụ cưỡng chế đất

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2012

Chuyện động trời ở Tiên Lãng – thông tin lần đầu công bố

danluan00052.jpgĐây là nhà của Lê Văn Hiền, chủ tịch Tiên Lãng
(đối diện với cơ quan huyện ủy)

Trưởng thôn Khoai Lang tôi (Tức nhà văn Nguyễn Quang Vinh – DL) đã có trong tay băng ghi âm quan trọng, ghi lại lời kể của hai cán bộ cốt cán có chức sắc tại xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng và một chiến sĩ dân quân, người trực tiếp vụ cưỡng chế đất và nhà anh Đoàn Văn Vươn. Lời lể chân thật, không giấu diếm, tuy nhiên chúng tôi chưa thể công bố tên của họ. Nghe xong cuộc nói chuyện này, chắc chắn không một ai không giật mình trước một sự thật khó tưởng tượng về chủ tịch xã Vinh Quang Lê Văn Liêm, về hành vi cưỡng chế, mục đích cưỡng chế và những bí mật bỉ ổi của vụ việc này.Trong quá trình rã băng ghi âm, chúng tôi giữ nguyên cách nói, cách dùng từ của người kể.Đây là một câu chuyện động trời.

Ông Liêm chủ tịch xã Vinh Quang trước đây chỉ là một thằng bán bia chứ là gì. Dân người ta bảo xã này thiếu cha gì mà lại đưa thằng bán bia lên làm chủ tịch. Ông ấy có phải là cán bộ nguồn đâu. Đầu tiên làm bí thư chi bộ, rồi sau đó mấy tháng làm phó chủ tịch HĐND và lên làm chủ tịch luôn. Nhanh thôi!. Ngay trong năm 2008, khi Lê Văn Hiền lên chức Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng thì cùng thời điểm đó, Lê Văn Liêm được “cấu” vào nhân sự làm bí thư chi bộ thôn Đồn Dưới, tiếp đến cấu lên chức Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã và cuối cùng cả hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm người lên chức chủ tịch huyện, người lên chức chủ tịch xã ngay trong năm 2008.

Hôm xảy ra chiến sự, một chị nhà báo phải vào nói với dân là cho mượn cái giỏ, một bộ quần áo để cải trang làm người dân đi bắt cáy mới tiếp cận được gần đầm để tác nghiệp. Còn lại một số phóng viên, báo chí phải đứng trên đê, bí mất chụp ảnh, ghi hình, ghi âm.

Em nghĩ sai lầm lớn nhất của lãnh đạo thành phố là đổ tội cho dân, chết ở cái chỗ đấy. Em nói thế này để anh hiểu này: Sau khi vợ ông Vươn, vợ ông Quý được thả, đi xe máy về đến cái đầu đê dốc chỗ Cống Rộc ý, đến nỗi người dân người ta móc tiền trong túi ra, người thì 50.000, người thì 100.000 đ, như kiểu là vợ ông Vươn hành khất luôn, họ vui lòng bỏ tiền ra. Hôm nọ anh Ngọc ở Đài THVN về tí nữa thì bị công an đánh. Xã chỉ thị cho công an, cho dân quân, nếu mà phóng viên báo chí về, thứ nhất là mời họ đi, nếu họ không đi, đuổi họ đi, nếu đuổi không đi thì cứ tự xử rồi là tội vạ đâu xã chịu. Anh tính, xã chỉ thị như thế đấy…! – Ông Liêm chỉ thị như thế. Nói thật là bây giờ người dân ta bức xúc lắm!

Ngày cưỡng chế, ông Liêm cho tập hợp một số dân quân, một số công an viên và nó giao nhiệm vụ tại trụ sở Ủy ban.. Chính ông Ngô Ngọc Khánh, Chánh VP UBND huyện nói rằng cấm các đồng chí không được bỏ máy điện thoại ra chụp, quay. Đấy, chính cái hôm nổ súng đấy.

Anh là phóng viên, em không biết là anh bênh ai, bênh huyện hay bênh ông Vươn, nhưng các anh nên lắng nghe người dân, bênh cái lẽ phải.. Phải gặp dân cơ, không gặp cán bộ được. Mấy xã này người dân ta bức xúc lắm. Cứ bảo được lòng dân nhưng thực chất toàn dối trên, chúng nói cứ nói điêu, dân người ta chán rồi đấy! Ông Vươn sử dụng vũ khí trái phép, chống người thi hành công vụ thì phải đi tù, nhưng ông Vươn không làm thế liệu trên có biết không? Chính đốn Đảng thì hãy bắt đầu từ Tiên Lãng đi.

Hôm nay thằng P ở Hải Phòng gọi điện về bảo, người dân ngoài Hải Phòng người ta bảo ông Hiền sắp không có đất mà chui xuống nữa.

Em biết nhiều chuyện, nhưng bây giờ em nói ra không khéo mà lộ, tối bọn xã hội đen đến nhà đâm chết em ngay. Vì bây giờ cái đầm ấy xã hội đen quản lý. Lấy của dân về giao cho xã hội đen, công an xuống đánh bạc cả đêm. Anh biết không? Biên phòng cũng vào đấy đánh bạc cả đêm. Đấy! anh thấy đấy! Còn gọi gì là chính quyền nữa. Đấy nói thẳng là đi ăn cướp! Hỏng hết rồi!

Đổ tội oan cho nhân dân Vinh Quang! Đặc biệt là nhân dân xóm Chùa. Không nghĩ ông Đỗ Trung Thoại lại phát ngôn hồ đồ thế!

Chính vì cái vị trí quan trọng của cái đầm đấy cho nên ông Vươn mới bị thế. Nếu không có cái sân bay ở đấy xem người ta có đòi lại không? Không bao giờ có chuyện đòi lại!

Cái đầm của ông Luân kia nữa, nếu không có đường cao tốc duyên hải đi qua đấy thì liệu có cưỡng chế ông Luân không?, Đấy cái đường đi qua đấy! Đi qua Tiên Lãng sang Thái Bình, vào Ninh Bình đấy! Đấy, đều là lý do kinh tế hết.

Người dân nói, từ hôm đấy đến nay, Báo An ninh Hải Phòng, Báo Hải Phòng, Đài Truyền hình Hải Phòng nói về vụ việc này có bài nào ra hồn đâu. Báo Trung ương với báo mạng người ta nói sắc nét đấy chứ! Đài truyền hình Hải Phòng có nói nhưng mà nói bênh vực. Đấy cho nên là thối nát rồi, dân không tin vào chính quyền nữa đâu anh ạ! Nếu mà không làm khéo thì khắp nơi họ bùng nên liệu có giữ được Đảng không? Muốn giữ được Đảng thì phải giữ được dân đã! Tôi cũng chỉ là nông dân thôi, hiểu đến đâu nói đến thế thôi! Nếu lần này mà cứ bênh thì mất hết, dân không còn tin Đảng nữa! Bây giờ Hải Phòng này với huyện, với xã, chúng tôi không tin đâu. Chúng tôi chỉ còn hy vọng và tin ở Trung ương nữa thôi.

Em lại nói với anh, sau khi cưỡng chế người ta xem có bao nhiêu đồ đạc thì phải niêm phong đúng không? Niêm phòng đưa về xã hay đưa về huyện, rồi sau này bàn giao lại cho người ta. Đấy gọi là tang chứng, vật chứng. Họ phá xong rồi họ hôi của. Ông nào nhặt được cái gì thì nhặt! Bây giờ em nói thẳng nói thật luôn, ngay cả tay Xã đội phó nó còn bê trộm cả cái ổn áp của nhà ông Vươn về, chả còn cái gì để nói nữa. Di ảnh của bố và con ông Vươn bị đốt – Đấy là vấn đề tâm linh đấy. Bây giờ anh cứ vào hỏi toàn bộ người dân xóm Chùa đấy, ông Vươn không phải người ở đây, dân người ta khách quan nói khách quan thôi. Anh chứ vào đấy người ta sẽ trả lời cho anh hết. Còn bây giờ cứ cố ra đầm ấy là người ta đánh anh đấy. Công an không đánh đâu, họ giật dây cho xã hội đen đánh đấy. Anh cứ xuống đấy người ta đuổi anh lên đê là có bọn khác nó làm việc anh ngay. Xe máy, xe ô tô có biển HP còn đỡ đấy, chứ biển 29, 30, 80 và biển lạ là về đây không ổn rồi. Bọn em được chỉ thị là hàng ngày ngồi uống nước, mỗi ngày trả 100.000, cơm nuôi trưa, cơm nuôi tối, chỉ ngồi để săn các nhà báo thôi. Em đi mấy ngày, hôm qua hôm nay em mới nghỉ đấy chứ! Ừ thì mình làm đầy tớ cho chính quyền, người ta bảo sao thì nghe vậy, có điều mình thấy bức xúc! Ông Liêm nói là cứ ra kia ngồi, nhà báo đi đâu thì các đồng chí đi theo. Chính ông Liêm nói đấy nhé! Các ông cần vào đâu, vào nhà ông A, ông B, ông C tôi dẫn ông vào. Ông phỏng vấn tôi ngồi nghe, nếu người dân nói, phát ngôn hay nhà báo hỏi cái gì quá tôi có quyền can thiệp, tội vạ đâu chính quyền lo. Đấy chính là ông Liêm nói đấy! Còn những cái chỉ đạo ngầm kia thì em không muốn nói ra. Ông Liêm nói đấy!

Hôm em nói với anh Ngọc bên THVN đấy, là hôm nay em nói với anh, nếu lộ ra mà bọn xã hội đen nó biết thì ngày mai cái mạng em không chắc đã còn….

Không còn gì để bình luận.

Trưởng thôn Khoai Lang có trách nhiệm liên hệ và giao băng ghi âm, giao trực tiếp cho anh Vũ Trọng Kim, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận TQ Việt Nam làm tài liệu để chuyển cho Đoàn thanh tra cuả Chính phủ về Hải Phòng sắp tới.

Mong cả nhà CM mạnh mẽ nhưng tử tế để toàn bộ CM bình luận này cũng được in ra để trao cùng tài liệu trên với nhiều tài liệu khác mà do tính chất điều tra, chưa thể công bố hết. Xin trân trọng các bác.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Người của chính quyền xã và huyện Tiên Lãnh thu hoạch thủy sản trong đầm của Đoàn Văn Vươn và Đoàn văn Quý

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2012

Ở trong miền Nam, mấy năm trước, cũng có một vụ ngân hàng đòi tịch thu đất của nông dân Trần Trường. Đại khái là Trần Trường mượn tiền ngân hàng mua đất làm hồ nuôi cá và nuôi tôm. Khi chưa đến hạn trả nợ, nhưng ngân hàng theo chỉ đạo của ‘ai đó” và đã bán đất của Trần Trường mà ông ta không biết gì cả.  Cuộc cải vả như sau

Video

Thuỷ sản tại đầm của Đoàn Văn Vươn bị vơ vét?

– 40,3ha đầm nuôi trồng thủy sản bị cưỡng chế của Đoàn Văn Vươn đang bị một nhóm người lạ sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện vơ vét hải sản trong nhiều ngày qua.

Phản ánh với VietNamNet, chị Phạm Thị Hiền (SN 1982, vợ của Đoàn Văn Quý) và chị Nguyễn Thị Thương (SN 1963, vợ của Đoàn Văn Vươn) cho biết, nhiều ngày nay, rất nhiều người lạ mặt đã sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện như kích điện, te điện… thu hoạch số thủy hải sản mà gia đình các chị đầu tư, nuôi thả từ đầu năm 2011.Theo chị Hiền, diện tích 19,3ha nằm trong diện bị cưỡng chế ngày 05/1/2012 và 21ha không thuộc diện cưỡng chế đã được chính quyền huyện Tiên Lãng bàn giao cho chính quyền xã.

Hiện tại, một chiếc đầm của Vươn và Quý đã bị rút nước để bắt thủy sản, chỉ trơ lại đáy đầm khô cạn.

Nhiều người dân tại đây cũng cho biết, người tiếp nhận diện tích đầm này là các ông K., H., C. cư trú tại các xã Vinh Quang, Tiến Hưng và Bắc Hưng (huyện Tiên Lãng).

Tuy nhiên, điều đáng nói, những chủ đầm mới này đã cho người sử dụng các phương tiện đánh bắt thủy sản bằng điện (kích điện, te điện…) để thu hoạch những vật nuôi trồng mà gia đình Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý chăn thả.

Tất cả những giống nuôi này, theo kế hoạch của Vươn, Quý sẽ được khai thác vào cuối năm 2011, thời điểm cận Tết.

Theo đó, tổng số tiền mà Vươn, Quý mua con giống lên tới 400 triệu đồng, bao gồm giống cá vược (5.000 con); tôm sú; cá trắm (7.000 con); cua giống ở đầm trong do Đoàn Văn Quý thả 3.000 con giống; khu vực đầm ngoài, Đoàn Văn Vươn thả hàng vạn cua giống.

Tất cả các loại thủy sản kể trên được thả nuôi vào khoảng tháng 2/2011. Thời điểm được khai thác rơi vào tháng 12/2011. Tuy nhiên, Vươn, Quý chưa kịp khai thác thì xảy ra sự việc cưỡng chế như đã biết.

Theo lời chị Hiền: giá thành của 1kg tôm sú loại ba hoa (ba con tôm được 1 lạng) dao động từ 200 – 250 ngàn đồng/kg; loại năm hoa (hai con được 1 lạng) giá lên tới 450 ngàn đồng/kg.

Giá cua vào thời điểm cuối năm lên tới 600 – 700 ngàn đồng/kg.

Cá trắm nuôi trong đầm thời điểm hiện tại đã đạt trọng lượng 3kg/con; cá vược đạt trọng lượng trên dưới 1kg/con.

Dùng kích điện, te điện để khai thác tận diệt thủy sản trong đầm vừa bị cưỡng chế.

Ngoài ra, đầm còn có rất nhiều tôm lược, tôm giảo (tôm có trong tự nhiên) và tép. Những năm trước, kể từ khi huyện Tiên Lãng ban hành quyết định thu hồi đầm kèm theo thông báo các hộ không được đầu tư, nguồn thủy sản tự nhiên (tôm lược, tôm giảo và tép…) là nguồn thu chính của các chủ đầm.

Có thời điểm, một ngày gia đình chị Hiền bắt được cả tạ tôm giảo, vài chục kg tép. Giá một kg tép bán ra ngoài thị trường là 90.000 đồng/kg.

Với con số đầu tư chăn thả các giống vật nuôi kể trên, sản lượng thủy sản đến tuổi đánh bắt hiện có trong 40,3ha đầm của Vươn, Quý lên tới hàng chục tấn. Tính theo giá thị trường, số tiền thu được từ việc khai thác những loại vật nuôi này lên đến nhiều tỷ đồng.

Chị Hiền xót xa: “Chưa bao giờ chúng em sử dụng phương tiện đánh bắt bằng điện để khai thác thủy sản trong đầm, vì như thế là hủy diệt môi trường, hủy diệt trứng của các loại thủy sản trong tự nhiên. Em chỉ lo, mai này mà được trả lại đầm, chắc chẳng còn loài nào sống sót, vì nó đã bị kích điện, te điện diệt hết cả từ khi còn trong trứng nước!”.

Hiện tại, một chiếc đầm của Vươn và Quý đã bị rút nước để bắt thủy sản, chỉ trơ lại đáy đầm khô cạn. Mỗi ngày, hàng chục nhân công dùng kích điện, te điện chà xát khu vực đầm.

Số thủy sản đánh bắt được được cân ngay trong ngày, có người vào tận đầm để mua.

Đầm cống Rộc, đầm xóm Vam… tại xã Vinh Quang nằm ở cửa sông Thái Bình. Do đó, các đầm tại vị trí này có nguồn lợi thủy sản rất phong phú cũng như rất thuận lợi để nuôi trồng. Rất nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo khi chuyển sang mô hình nuôi trồng thuỷ sản tại đây.

Ông Vũ Văn Luân, Thư ký Liên chi hội nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng, trực thuộc Thành hội Nghề cá Hải Phòng cũng là một chủ đầm nuôi trồng thuỷ sản tại xã Vinh Quang xác nhận: việc đánh bắt, khai thác thủy sản tại đầm của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý đã được nhóm người này tiến hành trong nhiều ngày qua, sau khi việc cưỡng chế thu hồi hoàn thành.

Nhiều người dân xã Vinh Quang cũng khẳng định: từ sau ngày 5/1/2012, chính quyền xã Vinh Quang đã cử lực lượng canh giữ không cho người lạ vào khu vực đầm của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý.

Như thế, việc khai thác tận diệt này diễn ra dưới sự chứng kiến của nhiều người, và đều là những người có nhiệm vụ thực thi pháp luật.

Sáng 16/01/2012, chúng tôi đã cố gắng liên lạc với ông Lê Văn Hiền, chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng để xác minh sự việc, nhưng ông Hiền không trả lời.

Trao đổi với báo chí trước đó, Chánh Văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, ông Ngô Ngọc Khánh thông tin: Diện tích đầm bãi bị thu hồi sẽ được tổ chức cho những người có nhu cầu thuê đấu thầu. Tuy nhiên, với diện tích đầm bãi của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý lại không được đấu thầu.

Chị Phạm Thị Hiền – vợ của Đoàn Văn Quý.

Chị Hiền cho biết, các chị sẽ làm đơn phản ánh việc nhiều người sử dụng phương tiện đánh bắt theo kiểu tận diệt để khai thác hải sản nuôi thả trong đầm của gia đình.

“Đó là tài sản của chúng tôi. Huyện cưỡng chế để thu lại đầm chứ không có nghĩa là thu cả những vật nuôi thả mà chúng tôi chưa kịp khai thác” – chị Hiền nói.

Với diện tích 21ha đầm bị cưỡng chế “quá tay”, được biết, Đoàn Văn Vươn đã có đơn khiếu nại quyết định thu hồi này (QĐ 460) nhưng UBND huyện Tiên Lãng chưa giải quyết, và cũng chưa có quyết định thu hồi.

Như thế, theo quy định của pháp luật, đối với diện tích đang xảy ra tranh chấp, khiếu kiện, chính quyền có trách nhiệm giữ nguyên hiện trạng. Tuy nhiên, ở đây thì không!

Kiên Trung

__________________________________________

báo Tuổi Trẻ

Thứ Ba, 17/01/2012, 06:37 (GMT+7)

Chánh án vừa học cấp III vừa học đại học?

TT – Thời gian gần đây, nhiều cán bộ công chức và cán bộ hưu trí tỉnh Đồng Tháp liên tục gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Thanh Ngọc (48 tuổi, chánh án TAND huyện Tam Nông) sử dụng bằng cấp giả. Họ đề nghị TAND tỉnh Đồng Tháp xác minh xem bằng tốt nghiệp THPT hay bằng đại học giả để xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo ông Huỳnh Nam Sơn – trưởng phòng tổ chức cán bộ TAND tỉnh Đồng Tháp, hiện ông Ngọc đã có giải trình. Cụ thể bằng tốt nghiệp THPT (hệ bổ túc) của ông Ngọc có được sau khi thi tại hội đồng thi Trường Quân sự Quân khu 7, kỳ thi ngày 4-6-2004. Còn bằng tốt nghiệp ĐH Luật Hà Nội (hệ tại chức) ngành pháp luật kinh tế và luật quốc dân loại trung bình cũng tốt nghiệp năm 2004, cấp bằng ngày 30-3-2005.

Tuy nhiên chiều 16-1, trao đổi với Tuổi Trẻ, đại diện khoa đào tạo tại chức ĐH Luật Hà Nội xác nhận nếu ông Nguyễn Thanh Ngọc giải trình được cấp bằng tốt nghiệp ĐH Luật Hà Nội (hệ tại chức) ngành pháp luật kinh tế và luật quốc dân loại trung bình năm 2004 thì chắc chắn bằng ĐH luật của ông Ngọc là bằng giả.

Theo TS Lê Văn Long – trưởng khoa tại chức, văn bằng hệ tại chức của ĐH Luật Hà Nội không có sự phân chia chuyên ngành mà chỉ là bằng tốt nghiệp ĐH luật nói chung. Hiện TAND tỉnh Đồng Tháp đang tiến hành làm rõ vụ việc.

THANH TÚ – NGỌC HÀ

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Vợ ông Đoàn Văn Vươn (Tiên Lãng, Hải Phòng) cho biết: Gia đình tôi năm nay không có Tết!

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2012

 

Thụy My
tienlang2.jpg

Lực lượng cưỡng chế rà mìn trên lối vào khu đầm của ông Đoàn Văn Vươn. thanhnien.com.vn/PHS

Gần đây dư luận hết sức xôn xao về vụ chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng huy động một lực lượng đông đảo công an và quân đội cưỡng chế khu đầm đã cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn thuê từ năm 1993, và đã bị phản kháng bằng mìn tự tạo và súng hoa cải, làm cho bốn công an và hai bộ đội bị thương. Công an Hải Phòng đã khởi tố vụ án « giết người và chống người thi hành công vụ ».

Đây là lần đầu tiên người dân dám đứng lên đương đầu một cách mạnh mẽ như thế với lực lượng cưỡng chế thu hồi đất. Vụ này đang gây nhiều tranh luận, đặt lại các vấn đề quan trọng từ Luật đất đai cho đến Hiến pháp, mà hiện nay một số chính quyền địa phương cấp huyện, xã đang tùy tiện ứng xử với quyền hành quá lớn trong tay, gây oan ức cho nhiều người nông dân bị mất đất.

Riêng vụ ông Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, thật ra ban đầu huyện chỉ giao 21 hecta đất bãi bồi ven biển. Sau đó với kiến thức của một kỹ sư nông nghiệp và với quyết tâm, ông đã lấn ra biển thêm được 19,3 hecta, rồi được hợp thức hóa bằng cách giao đất bổ sung. Không chỉ đổ mồ hôi nước mắt, tiền bạc vay mượn, ông Vươn còn bị mất đi một đứa con và một người cháu tại đây. Thế nhưng chưa hết thời hạn hợp đồng, chủ tịch huyện đã ra quyết định cưỡng chế để giao lại cho người khác mà không hề bồi thường, và ngôi nhà của người em là Đoàn Văn Quý – người đã nổ súng vào lực lượng cưỡng chế – dù không nằm trong phần đất bị thu hồi cũng đã bị san bằng. Hiện ông Vươn, ông Quý đang bị giam giữ và bị truy tố, cùng với hai người khác trong gia đình.

Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn đã bày tỏ sự bức xúc.

RFI: Kính chào bà Thương. Thưa bà, tình hình gia đình hiện giờ như thế nào?

Hiện tại gia đình em lúc này thật sự là khó khăn, bởi vì hai chị em em và các cháu không có chỗ ở, vẫn đang ở nhờ nhà thím vì nhà cửa người ta đã phá nát và đốt hết rồi ạ.

RFI: Bà có tin tức gì của ông Vươn không?

Đến bây giờ gia đình em hiện có bốn người ở trong trại giam Trần Phú nhưng mà không liên lạc được, và cũng không biết tin tức như thế nào, bởi vì họ không cho gặp.

RFI: Còn sự việc hôm đó diễn ra như thế nào thưa bà?

Gia đình em nhận được cái quyết định cưỡng chế, và gia đình em đã nỗ lực làm đơn, đi kêu gọi tất cả các ban ngành từ cấp trung ương đến cấp địa phương nhưng đều không được trả lời. Và đến ngày 5/1 là cái ngày định mệnh đã xảy ra, do nhà em bức bách quá và cũng là bộc phát thôi. Chúng em từ trước đến giờ vẫn là người làm ăn chân chính, không có tiền án tiền sự và cũng không có một cái gì gọi là vướng mắc đối với bà con chung quanh cả.

Bởi vì nhà em làm cái đầm này rất là vất vả. Từ trước đến giờ đổ không biết bao nhiêu là mồ hôi, xương máu và cả con người nữa. Cả con cả cháu em đều mất ở cái đầm này, và cũng trả giá rất là nhiều. Đến bây giờ thì nhà em đã vay mượn, sau gần chục năm thì mới hoàn thiện được cái đầm, và đến bây giờ đã bắt đầu được thu hoa lợi để trả công trả nợ. Năm năm nay thì nhà em cũng trả nợ được hai phần ba rồi, nhưng hiện tại vẫn còn nợ khoảng hơn ba tỉ nữa.

Huyện đã cưỡng chế và không bồi thường cho gia đình em một thứ gì cả, mà quyết định thu trắng! Cũng vì bức xúc, nên gia đình em nghĩ là, dù gì cũng chết. Nếu như mà huyện không cho mình con đường sống, thì không biết mình sống thế nào. Cũng vì bị ép, dồn tới chân tường mà gia đình em đã làm những việc như thế này.

Hôm ấy thì chị em em cái vùng cưỡng chế thì người ta đã khoanh vùng, chúng em không xuống được nhà mình. Tối hôm ấy chúng em đã di dời hết toàn bộ phụ nữ và trẻ em vào trong làng để ở nhờ. Ngay sau đó thì cánh đàn ông nhà em chắc là họ không cam tâm, nên là họ không chịu di dời.

Bảy rưỡi đoàn cưỡng chế sẽ bắt đầu xuống, nhưng mà chưa đến sáu giờ thì họ đã đưa đoàn cưỡng chế xuống đầm nhà em rồi. Khi chúng em chạy lên đê nhìn xuống thì khoảng một lúc sau, khi mà cuộc chạm súng đã xảy ra thì khoảng tầm mười một giờ, họ đã bắt mấy chị em em, và cả anh trai lớn của em ở ngay trên đê.

Cũng không biết là họ bắt vì lý do gì, mà bây giờ họ cứ ghép cho chúng em cái tội là chồng em biết thì chúng em cũng phải biết. Và họ cứ quy trách nhiệm cho chúng em là tham gia vào mưu đồ chống lại người thi hành công vụ. Nhưng thật ra chúng em chỉ là phụ nữ, không biết cái gì cả, mà có chuyện gì thì cánh đàn ông nhà em cũng không cho phụ nữ và trẻ em biết. Cho nên chúng em cũng không được biết bất cứ một cái thông tin gì, chỉ thấy xót xa, đứng trên đê để nhìn xuống thôi, mà họ cũng bắt ! Và ngay cháu đang học lớp 11 cũng bị bắt.

Khi họ bắt chúng em thì họ đối xử rất là tàn tệ. Họ dùng dùi cui điện và gậy sắt họ đánh rất là đau. Và khi lên chỗ công an thành phố thì họ cũng lấy lời khai và cũng đánh. Đánh đến nỗi mà mình không nhận rồi cũng phải nhận, không có cũng phải nhận, đến lúc nhận họ mới thôi. Họ lấy dùi cui họ thúc vào bụng em rất là đau, lúc ấy là em không đi được nữa và cũng không nói được cái gì nữa. Em nghĩ lúc ấy nếu em mà có thai thì chắc là sẽ không giữ nổi, vì họ đánh rất đau.

Đến bây giờ em được tại ngoại rồi nhưng vẫn phải dùng thuốc, và mọi người cứ động viên em đi khám bệnh, nhưng mà bây giờ bọn em cả sức khỏe lẫn tinh thần đều bị tổn thương và chỉ ở nhà thôi, chẳng đi đâu cả.

RFI: Còn tài sản của gia đình ở trong nhà cũng bị mất mát phải không thưa bà?

Vâng ạ. Bởi vì chúng em không nghĩ là chính quyền của cái huyện Tiên Lãng này lại ra tay độc ác đến như vậy! Chúng em nghĩ cái quyết định cưỡng chế này thì cũng không đến mức nào, vì cái quyết định ấy rất là sai trái và họ sẽ không làm. Vì vậy mà bọn em vẫn tin là sẽ quay lại đầm nhà em và tiếp quản tiếp. Thế nên bọn em không có di dời bất cứ một cái tài sản gì cả.

Sau cái buổi chiều hôm ấy, khi mà gia đình em đã vừa bị bắt vừa di tản hết, thì họ đã cho ngay lực lượng khác xuống để tiếp quản đầm nhà em. Và toàn bộ những ngôi nhà, những trang trại mà em xây dựng trên đất của gia đình em, thì họ phá hủy nốt hết. Cả những bàn thờ – bàn thờ gia tiên, bàn thờ Thiên Chúa đều bị họ phá hủy hết. Ảnh của gia đình em thì trôi nổi trên sông, những người dân đi biển họ còn vớt họ mang về cho gia đình em.

RFI: Hàng xóm chung quanh có thái độ như thế nào, có giúp đỡ được gì không?

Hiện tại nhà em đang sống nhờ nhà thím ở đông Tiên Lãng – em út nhà em. Bà con hàng xóm, anh em họ hàng và bạn bè nữa, cũng giúp đỡ bọn em rất là nhiều. Trong những lúc khó khăn như thế này, người thì quyên tiền, người gạo thóc rồi quần áo…Họ rất là quan tâm, đồng tình ủng hộ.

Việc nhà em làm là trái pháp luật, nhưng tại sao gia đình em biết là sai mà vẫn làm, và nhà em xác định rằng có thể là mình phải trả giá, có thể mình cũng phải đổi mạng sống của mình nhưng vẫn phải làm…Tất cả tài sản của gia đình em nó như thế, mà bây giờ công nợ vẫn còn rất nhiều. Nếu gia đình em không làm thế thì chắc chắn là họ sẽ cướp trắng của gia đình em. Không chỉ gia đình em mà còn rất nhiều những hộ dân nuôi trồng thủy sản ở huyện Tiên Lãng này nữa.

RFI: Hồi ông Vươn quyết định đầu tư cải tạo cái đầm này có lẽ rất nhiều khó khăn, bản thân bà chắc cũng lo lắng?

Dạ, rất nhiều nỗi lo, vì anh ấy quyết định ra đấy làm là ra chỗ đầu sóng ngọn gió. Cũng rất nhiều người gàn nhưng mà anh ấy nói là anh ấy sẽ làm được, và cuối cùng đúng là anh đã làm được. Và khi mà nhà em làm được cái đầm ấy thì bà con ở cái xứ này cũng bớt khổ. Họ bảo là trước đây khi mà mỗi mùa nước to lên, nước lũ đấy ạ, là tất cả bà con dân làng đều phải sơ tán hết. Đến bây giờ nhà em đã đắp cái đầm ấy lên thì họ nói họ rất là cám ơn. Sau cái vụ đụng độ vừa rồi, họ còn nói nếu sau này anh Vươn có chết ở tại cái đầm này thì chúng tôi sẽ làm miếu thờ anh ấy ở đây.

… Sau cái đợt đấy em thấy anh ấy quyết tâm như vậy thì em cũng rất là ủng hộ. Không những bản thân em là vợ, mà tất cả những người thân, họ hàng đều ủng hộ anh ấy. Nhưng mà bao nhiêu cái cố gắng, nỗ lực của anh với của cả gia đình em, đến bây giờ không được ghi công mà người ta lại có mưu đồ cướp trắng.

Người ta bảo gia đình em không có công lao gì, hết hạn thì họ lấy mà không bồi thường một cái gì. Trong khi đó mình lật từ mặt đất mà đi…Ngày xưa cái hòn đất sáng nhà em đắp lên thì tối nó đã xóa mất bởi vì sóng nó to như thế. Bây giờ họ phủ nhận hết công lao của anh ấy, họ ra cái quyết định cưỡng chế, thu trắng không bồi thường. Em nghĩ là không chỉ gia đình em mà bất kỳ ai cũng sẽ có phản kháng như vậy.

RFI: Từ hôm đó đến giờ báo chí có tiếp xúc với bà chưa, và bà có biết được dư luận xung quanh vụ này không?

Từ khi xảy ra vụ việc thì nhà em được báo chí truyền thông rồi các cơ quan ban ngành đều hướng về gia đình nhà em. Họ động viên và tìm mọi cách để giải cứu, rồi những lời kêu gọi…và bây giờ có những hội luật sư đã đề nghị về bào chữa miễn phí cho nhà em trong vùng này. Nên bước đầu em cũng thấy được an ủi rất là nhiều, vì mọi người đã không quay lưng lại với gia đình nhà em.

RFI: Có các luật sư cũng đã bức xúc lên tiếng về việc hủy hoại tài sản của gia đình bà, như vậy gia đình có định khởi kiện không?

Dạ có ạ. Cái đấy chắc chắn sẽ có bởi vì em nghĩ là họ làm sai thì họ phải chịu trách nhiệm. Mới đầu họ chỉ ghi trong văn bản là cưỡng chế 19,3 hecta, trong khi đấy gia đình em tổng là 40,3 hecta, còn lại 21 hecta vẫn thuộc quyền của gia đình em. Ngôi nhà kiên cố mà em xây trên đấy vẫn nằm trong diện tích 21 hecta, mà họ đã phá hủy hoàn toàn. Không những phá hủy mà còn đốt…Em nghĩ rất là đau lòng như thế, thì tất nhiên là chúng em sẽ khởi kiện.

RFI: Chính quyền địa phương có tiếp xúc với gia đình không, và bà có về được khu nhà cũ không ?

Cách đây hai hôm em có ra để anh em hiệp vào, bà con có đề nghị ra dựng lại cho em cái lều để mẹ con em ăn Tết, và cũng thu lợi từ những gì còn lại ở cái mảnh đầm đấy để sống qua ngày và lo mọi việc cho các anh em, chồng con ở trong nhà lao.

Thế nhưng mà khi bọn em xuống thì có một số công an viên của xã và cả một số xã hội đen nữa, họ không cho chúng em xuống. Họ cứ trả lời tất cả bây giờ là phải xuống ủy ban nhân dân xã để giải quyết, và xin chữ ký.

Thế thì em cầm đơn xuống ủy ban đề nghị là cho anh em bạn bè chúng tôi xuống giúp đỡ để dựng lại cho chị em tôi và các cháu một cái lều để sống qua ngày và được đón Tết ở cái mảnh đất nhà tôi. Thế nhưng họ nói là đây không thuộc trách nhiệm của họ, để họ còn hỏi ý kiến cấp trên. Tức là ông em là chủ tịch xã còn hỏi anh ông ấy là chủ tịch huyện xem là sẽ giải quyết thế nào.

Và em chỉ hỏi một câu, thế bây giờ chính quyền có công nhận 21 hecta đấy vẫn còn thuộc quyền sở hữu của chúng tôi hay không. Thì ông chủ tịch có nói: huyện chỉ giao cho xã 19,3 hecta, còn lại 21 hecta thì tôi nghĩ là vẫn thuộc quyền sở hữu của gia đình.

Thế nhưng mà trong khi đấy em đề nghị là được xuống mảnh đất của nhà mình còn lại, nhưng họ vẫn không đồng ý. Thì em cũng không hiểu lý do gì ạ. Em đã làm đơn tố giác lên cả Phòng tiếp dân của Văn phòng Chính phủ. Chưa biết Nhà nước Việt Nam sẽ giải quyết như thế nào, để tìm lại sự công bằng cho chúng em. Đến bây giờ chúng em còn đang rất là hoang mang.

RFI: Bây giờ sắp Tết rồi thì gia đình có chuẩn bị được gì chưa ạ?

Bọn em nghĩ là bây giờ thì bọn em với cháu chắc chắn sẽ không bao giờ có Tết năm nay nữa ạ ! Tại vì nhiều việc nó lu bu, em không biết như thế nào nữa. Bây giờ chỉ cầu mong là mọi người được sức khỏe, đừng có việc gì xảy ra nữa. Còn tất cả những việc khác là còn chờ sự phân giải của Nhà nước, không biết là họ có tìm lại sự công bằng cho gia đình em hay không.

RFI: RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn bà Nguyễn Thị Thương đã vui lòng trả lời phỏng vấn của chúng tôi hôm nay.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »