Trần Hoàng Blog

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ trở thành lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (VOA, 2-9-2022)

Posted by hoangtran204 trên 03/09/2022

Công bố của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ nhắc lại rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không phải là một hiệp hội thế tục, do đó, “không tự đặt mình dưới sự chỉ đạo của bất cứ quyền lực thế tục, không là công cụ bảo vệ sự tồn tại của xu hướng chính trị” và cũng không hoạt động “theo bất kỳ ý thức hệ nào”.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Hòa thượng Thích Quảng Độ năm 2019 tại chùa Từ Hiếu ở Tp. HCM. Photo screenshot Quangduc.com.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ (hình trái) và Hòa thượng Thích Quảng Độ năm 2019 tại chùa Từ Hiếu ở Tp. HCM. Hình trích từ video ở cuối bài.
Photo screenshot Quangduc.com


VOA Tiếng Việt 2-9-2022

Hội đồng Trưởng lão của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vừa được thành lập và Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án tử hình, được suy tôn làm lãnh đạo cao nhất của giáo hội này.

Trong một công bố ngày 1/9/2022, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ cho biết Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (UBCV) được tái lập ngày 21/8/2022, và hội đồng này đã suy cử ngài giữ chức Chánh thư ký Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống.

Công bố cho biết bước đi này được thực hiện theo di nguyện của cố Tăng thống Thích Quảng Độ, người viên tịch vào ngày 22/02/2020. Trước đó, vào 25/11/2018, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã ra quyết định giải thể Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của UBCV.

Một buổi lễ trao truyền di chúc, ấn tín, và khai ấn được cử hành ngày 22/8/2022 vừa qua tại chùa Từ Hiếu ở Tp. Hồ Chí Minh, theo công bố trên.

Hoà Thượng Thích Nguyên Lý, trụ trì chùa Từ Hiếu, đồng thời là một trong 10 thành viên của Hội đồng, cho VOA biết thêm về việc suy tôn người đứng đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (UBCV) – một giáo hội không được nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam công nhận.

“Người đứng đầu là Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, Chánh thư ký kiêm xử lý thường vụ Viện Tăng Thống. Hội đồng Trưởng lão đã cung thỉnh ngài giữ ngôi vị lớn nhất trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”.

Công bố cho biết Hội đồng Giáo phẩm Trung ương “kế thừa sự nghiệp hoằng pháp”, “pháp huy lý tưởng phụng sự dân tộc và nhân loại” như đã minh định trong Hiến chương của UBCV, “vì một đất nước thanh bình an lạc, vì một truyền thống nhân ái bao dung, vì một xã hội đạo đức tôn trọng phẩm giá của con người, tôn trọng các quyền tự do bình đẳng giữa người với người”.

Từ Canberra, Australia, Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Viện trưởng Tu viện Vạn Hạnh, nguyên Phó Hội chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Úc-Châu, nói với VOA hôm 1/9:

“Thầy Thích Tuệ Sỹ rất xứng đáng. Bây giờ có thể nói là thầy là lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

“Những gì cần phải làm là rất nhiều: tái lập lại cơ cấu, mời bổ sung các nhân sự cho Hội đồng Giáo phẩm Trung ương, tổ chức đại hội để thành lập nhân sự cho Hội đồng Viện Tăng Thống và Hội đồng Viện Hóa Đạo”.

Công bố của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ nhắc lại rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không phải là một hiệp hội thế tục, do đó, “không tự đặt mình dưới sự chỉ đạo của bất cứ quyền lực thế tục, không là công cụ bảo vệ sự tồn tại của xu hướng chính trị” và cũng không hoạt động “theo bất kỳ ý thức hệ nào”.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là tổ chức Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhất ở miền Nam, nhưng sau năm 1975, chính quyền Việt Nam phủ nhận sự tồn tại của giáo hội này, trong khi ủng hộ cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Trong khi đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được nhà cầm quyền cộng sản VN thành lập tại Chùa Quán Sứ Hà Nội năm 1981 hiện do Hòa thượng Thích Trí Quảng giữ chức Quyền Pháp chủ, thường xuyên lên tiếng chỉ trích các hoạt động của các tu sĩ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

VOA đã liên lạc Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Tôn giáo Chính phủ để tìm hiểu phản ứng của họ trước việc tái lập của Hội đồng Trưởng lão và suy tôn Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, nhưng chưa được phản hồi.

Sau khi Hòa thượng Đôn Hậu, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, qua đời vào tháng 4/1992, Hòa thượng Huyền Quang đảm nhận chức vụ Tăng Thống, ngài đã tiếp tục lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (UBCV) cho đến năm 2008. Chức tăng thống sau đó được Hòa thượng Thích Quảng Độ đảm nhận cho đến năm 2020.

Chính quyền Việt Nam thường xuyên trấn áp và sách nhiễu các hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, ngăn cản và quản thúc các vị lãnh đạo của tổ chức tôn giáo này.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, 79 tuổi, được biết như là một học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với chính phủ Việt Nam.

Một thành viên Hội đồng Trưởng lão cho VOA biết rằng Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ hiện đang ngụ tại chùa Phật Ân, Long Thành, Đồng Nai.

Ngày 1/4/1984, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Hòa thượng Thích Nguyên Giác bị bắt tại chùa Già Lam ở Tp. Hồ Chí Minh, trong khi Hòa thượng Thích Trí Siêu và Thích Như Minh bị bắt tại Viện Phật học Vạn Hạnh.

Ngày 30/9/1988, trong phiên tòa xét xử tội “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”, thầy Tuệ Sỹ và thầy Trí Siêu bị chính quyền Việt Nam xử tử hình, nhưng nhờ áp lực quốc tế đến năm 1998, thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu được thả.

Vào tháng 4/2000 công an đã đến khám xét chùa nơi cư ngụ của Hòa thượng Thích Quảng Độ và Thích Tuệ Sỹ. Đến năm 2003, ông bị chính quyền quản chế hành chính hai năm.

======

Ngày 21 tháng 3 năm 2020, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN – ủy thác quyền điều hành GHPGVNTN cho Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ. Nguồn: Thầy Nguyên Vương Link: https://www.youtube.com/watch?v=Q3jLy…


https://www.youtube.com/watch?v=Q3jLyOCPmek
—-

Nguyên Toàn

 HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ PHỤNG THỪA ỦY THÁC

CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG LÃNH ĐẠO GHPGVNTN

Với thực trạng sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện nay thì giải pháp tái cấu trúc cơ cấu nhằm phục hoạt GHPGVNTN của Đức Trưởng Lão Đệ Ngũ Tăng Thống Tân Viên Tịch là giải pháp tối ưu, không thể nào có một giải pháp khác tốt đẹp hơn được.  Đức Đệ Ngũ Tăng Thống đã ủy thác Hòa thượngThích Tuệ Sỹ giữ nhiệm vụ Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống.

Tâm huyết của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống với tuệ tri bừng tỏa trong giờ phút nghiêm trọng của lịch sử Giáo hội là phúc trạchcủa dòng truyền thừa mạng mạch Phật giáo Việt Nam một cách bất đoạn từ chư Tổ Quốc Sư đến chư Tổ Tăng Cang qua Đức Đệ Nhất Tăng Thống rồi đến Đức Đệ Ngũ Tăng Thống.  Chư Tôn đức Trưởng lão, chư Hòa thượng, Thượng tọa cùng quý vị Đại đức Tăng, Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam nên cố gắng bỏ qua những dị biệt để thành tâm phụng hành ý chỉ của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống một cách trang nghiêm trong truyền thống cung kính chấp hành Tổ giáo của lịch sử Phật giáo dân tộc.  

Trong hoàn cảnh hoạt động rất khó khăn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại quê nhà nên Đức Đệ Ngũ Tăng Thống không thể triệu tậpHội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương của Viện Tăng Thống nhằm ủy thácnhững điều cơ mật và truyền thừa mạng mạch lãnh đạo Giáo hội truyền thống của Phật giáo Việt Nam.

1.- Những Điều Cơ Mật.

Tổ chức nào cũng có những điều căn bản tối mật là xương sống của tổ chức thì GHPGVNTN cũng không là một ngoại lệ.  Có những Cư sĩ Phật tử vì nhiệt thành với sự tồn vong của Giáo hội mà nóng vội phát biểu, viết lách bày tỏ quan điểm thiết tha của mình để góp một bàn tay vào việc củng cố và phát triển sinh hoạt của Giáo hội, nhưng vô hình chung các Cư sĩ đó làm cho tình trạng bất ổn của Giáo hội ngày càng trầm trọng hơn.  Nói một cách cụ thể ở đây là hai vấn đề. 

Một là, không nên ủng hộ chư Tôn đức nào vào vị trí điều hành Giáo hội ngoài việc y giáo phụng hành ý chỉ của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống nhằm thống nhất cơ cấu điều hành Giáo hội về mặt hình thức trước rồi nội dung sẽ từng bước ổn định tiếp theo. 

Hai là, chư Tôn đức Cao tăng đã hội ý những điều cơ mật trong một hoàn cảnh chính trị vô cùng đặc biệt của đất nước sau năm 1975 nên quý Ngài đã quyết định hàm dưỡng Tăng tài thuận duyên theo hoàn cảnh với mục đích chính là đào tạo Tăng tài trong và ngoài nước để sau này họ trở thành thạch trụ của ngôi nhà lớn về lâu về dài.  Do vậy, Phật tử không nên bài bác chủ quan chư Tôn đức Tăng, Ni thuộc bất kỳ tổ chức Giáo hội nào.  Chư Tôn đức Tăng, Ni thuộc Giáo hội này cũng luôn luôn tôn kính chư Tôn đức Tăng, Ni thuộc Giáo hội khác theo đúng Thanh quy và Giới luật.  Đồng thời chư Tôn đức Giáo phẩm đã am tường những điều cơ yếu của GHPGVNTN thì cũng nên khéo léo và kín đáo chia sẻ gián chỉ với các Cư sĩ cận sự nam và cận sự nữ những uẩn khúc mà Giáo hội không tiện bộc bạch.

2.- Phụng Thừa Sự Ủy Thác.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã phụng thừa sự ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống để lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Ngày 12-5-2019, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống đã ban hành Giáo chỉ số 19-VTT/TT/GC cung thỉnh Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đăng lâm pháp tịch vào hàng Trưởng lão Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương của Viện Tăng Thống. (1)

Ngày 24-5-2019, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống đã ban hành Quyết định số 14-VTT/TT/QĐ thỉnh cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ thay thế Đức Tăng Thống vì trọng bệnh để lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở vị trí Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống. (2)

Ngày 7-4-2020, tức là ngày 15-3 năm Canh Tý, sau nhiều lần bái kiến và thảo luận với Đức Đệ Ngũ Tăng Thống do Đức Đệ Ngũ Tăng Thống triệu mời, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã cung kính phụng thừa sự ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống (xem video) để Ngài an tâm tịnh dưỡng vì thân mang trọng bệnh bởi tuổi cao sức yếu. (3)

3.- Một Giải Pháp Tối Ưu.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là một trong số chư Tôn đức Giáo phẩm thạch trụ tòng lâm, là một bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam đương đại.  Ngài sinh năm 1943, được bổ nhiệm Giáo sư Đại học thực thụ [Full Professor] tại Đại học Vạn Hạnh năm 1970, lúc Ngài mới 27 tuổi. Môn sinh của Ngài tại Đại học Vạn Hạnh và các Phật học viện rất nhiều, và hiện nay quý vị cựu môn sinh đó đều đã ở vào hàng giáo phẩm Hòa thượng hay Trưởng lão Hòa thượng trong và ngoài nước.  Ngài là một đồng chân xuất gia khi vừa 7 tuổi, và suốt cuộc đời tu hành của Ngài với một hành trạng không gợn một nét bụi trần.  Ngài là một học giả uyên bác và uyên thâm tam tạng kinh luật luận Phật học, làu thông triết học và văn học thế giới.  Ngài tinh thông nhiều ngoại ngữ như Lào văn (Phasa Lao), Pháp văn, Anh văn, Đức văn, Nhật văn, Sanskrit, Pali, và Hán văn.  Các tác phẩm của Ngài về kinh luận Phật học và văn học thế giới nhiều gần như vô kể và phần lớn được dùng làm sách giáo khoa ở bậc Đại học và các khóa tu học của Học tăng, Cư sĩ và Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử khắp bốn châu lục Á, Âu, Mỹ và Úc. 

Trong thời gian mười năm, từ năm 1965 đến 1975, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã phụ giúp Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh ngày một phát triển thành một Đại học Phật giáo nổi tiếng ở Đông Nam Á; cũng trong thời gian này, Thầy Tuệ Sỹ là Chủ bút Tạp chí Tư Tưởng do Viện Đại học Vạn Hạnh phát hành. Đây là một tạp chí văn học, triết học, và Phật học đã đóng góp vào việc hình thành một phong cách văn hóa cho giới trí thức và thanh niên Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là tại Sài Gòn, rất nhân bảnvà nhân ái.

Việc thỉnh cử và ủy thác Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống là giải pháp tối ưu, không thể nào có một giải pháp khác tốt đẹp hơn được.  Đức Đệ Ngũ Tăng Thống đã cùng dạy với Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ trong một thời dài hơn mười năm tại Đại học Vạn Hạnh, và đặc biệt là hai Ngài đã cùng thực hiện hai công tác vô cùng quan trọng nên Đức Đệ Ngũ Tăng Thống đã biết rõ khả năng và tâm nguyện phục vụ Đạo pháp và Dân tộc của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. 

Mỗi khi Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh, đi công tác nước ngoài thì Hòa thượng Thích Quảng Độ đảm nhiệm vị trí Quyền Viện trưởng với sự phụ tá điều hành rất chuyên nghiệp của Hòa thượngThích Tuệ Sỹ.  Hòa thượng Thích Quảng Độ vô cùng tâm đắc về người phụ tá đã làm việc đúng với tinh thần trách nhiệm, tính cách công bình, công chính, công minh, chân tình,  và thẳng thắn của Hòa thượng Thích Quảng Độ.

Sau ngày 30-4-1975, Cộng Sản tịch thu và biến Đại học Vạn Hạnh thành một cơ sở Đại học Sư phạm thì Hòa thượng Thích Quảng Độ đã đi trước Cộng Sản một bước bằng cách chuyển toàn bộ Thư viện Phật học về một cơ sở trên đường Võ Duy Nguy (bây giờ là đương Nguyễn Kiệm) và dựng tạm lên tấm bảng “Viện Phật Học Vạn Hạnh.”  Viện Phật Học Vạn Hạnh chỉ giữ lại được năm nhân viên là Hòa thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Ni sư Thích Nữ Trí Hải, và Giáo sư Nguyễn Đăng Thục.  Trong năm nhân viên đó thì chỉ có Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ là “thanh niên” nên công việc chuyển hàng tấn sách vở là do Thầy Tuệ Sỹ đảm nhiệm.

Lời cảm niệm ân sư của Hòa thượng Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kính dâng lên Giác Linh Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống nhân ngày Lễ Chung thất của Ngài thật vô cùng cảm động.

“ Hình hài xưa đã cháy,
“ Còn lại bát tro tàn,
“ Với uy nghiêm Đạo Thống,
“ Xin nguyện giữ Cương Duy.
 (4)

Khi Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ viên tịch, Hòa thượng Thích Tuệ Sĩ bị suy nhược, nên tạm thời [i]Ngài phải tịnh dưỡng tại Thị Ngạn Am, do vậy trong các buổi lễ về Tang sự cũng như Chung thất của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống thì Ngài đều không chủ trì được, và Ngài đã yêu cầu Hòa thượng Thích Nguyên Lý hiệp trợ trong việc bảo trì Tổ ấn (con dấu Viện Tăng Thống), và khâm tuân Giáo chỉ của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống về các Phật sự thường nhật.

Người viết xin chấp đôi tay nguyện cầu chư Tôn đức Giáo phẩm và đồng bào Phật tử trong và ngoài nước chấp hành Tổ giáo như là một biểu lộ lòng thành kính tưởng niệm ân đức của Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống đã hy hiến cả cuộc đời của Ngài cho tự do, dân chủ, và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Nguyên Toàn


(1) Giáo chỉ số 19-VTT/TT/GC ngày 12-5-2019

(2) Quyết định số 14-VTT/TT/QĐ ngày 24-5-2019

3) Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ khâm thừa sự ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống.

4) Lời Cảm Niệm Ân Sư của Trưởng lão Hòa thượng XLTV Viện Tăng Thống nhân Lễ Chung thất Đức Cố Đệ Ngũ Tăng Thống.

==

==

==

Bản PDF để in:
Phụng thừa Giáo chỉ GHPGVNTN 2020

Mục lục
Tưởng Niệm Trưởng Lão Ht. Thích Quảng Độ

@ Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a33794/hoa-thuong-thich-tue-sy-phung-thua-uy-thac-cua-duc-de-ngu-tang-thong-lanh-dao-ghpgvntn

==

BLOG NGÔ NHÂN DỤNG

Bức thư Mùa Vu Lan của Hòa thượng Tuệ Sỹ

09/09/2020

Hòa Thượng Tuệ Sỹ. (Hình: Trích xuất từ hoavouu.com)
Hòa Thượng Tuệ Sỹ. (Hình: Trích xuất từ hoavouu.com)

Có hai nhà sư là bạn cùng tu ở tu viện Thũpãrãma, nằm trong thành phố Anurãdhapura, thủ đô của vương quốc mang cùng tên. Một trong hai ông sư không thích đời sống đô thị, đã từ giã bạn, đi về phía Đông tới một ngôi chùa khác trong rừng, ẩn dật. Ông thầy kia ở lại tu viện.

Sau mười năm, một bữa ông sư trên rừng nghĩ mình nên mời người bạn cũ tới chia sẻ cuộc sống trên sơn cốc thanh tịnh. Ông trở về tu viện ở Anurãdhapura, nghĩ rằng mình sẽ được người bạn đồng tu tiếp đón, các Phật tử hầu hạ, cơm bưng nước rót đầy đủ. Nhưng không có gì cả. Hai nhà sư cùng đi khất thực, cả ngày chỉ được cúng dường một tô cháo loãng.

Vị sư từ rừng núi về bèn hỏi người bạn cũ có phải ngày nào cuộc sống cũng như vậy hay không. Ông thầy ở lại thành phố trả lời rằng thường thường chỉ có thế thôi. Vị khách tăng bèn rủ ông bạn hãy lên sơn cốc, ở trong rừng với mình, cuộc sống dễ chịu hơn. Ông thầy ở thủ đô đồng ý.

Hai người đi tiếp, đi qua cổng thành, ông thầy từ rừng về thấy ông kia quay đi hướng ra ngoài, ngạc nhiên hỏi:

– Thầy tính đi đâu vậy?

– Thầy mới rủ tôi đi về sơn cốc với thầy mà?

– Nhưng thầy không trở về chùa lấy đồ đạc gì sao?

– Tôi chỉ có mỗi cái bình bát này thôi. Còn cái giường, cái ghế là đồ đạc của chùa. Tôi không có gì hết.

Ông thày từ chùa trên rừng về nói:

-Tôi cần trở lại chùa. Tôi còn để ở đó cái lọ đựng dầu đốt, cái túi dép và cây gậy.

– Thầy về đây mấy ngày mà đã có được nhiều thứ nhỉ!

Ông thày ở rừng trở về nhìn người bạn cũ, thú nhận: “Tu như thầy thì chỗ nào cũng là sơn cốc!”

Những đệ tử đầu tiên của Đức Thích Ca phần lớn sống giản dị như ông thày “không có gì ngoài cái bình bát” ở thủ đô Anurãdhapura. Chắc ông sống ở chùa Thũpãrãma không lâu trước hay trong thế kỷ thứ 5, khi câu chuyện được ghi lại. Đạo Phật đã truyền tới hòn đảo Sri Lanka vào thời vua Ashoka, thế kỷ thứ hai trước Tây lịch, cho đến bây giờ nhiều người vẫn còn hành trì, chắc cũng nhờ những vị tăng sĩ như ông thầy trên. Nếp sống thanh tịnh của các vị tu sĩ như ông, thể hiện trong tập thể “tăng già” (sangha) từ hơn 2,500 năm nay khắp châu Á, và trên thế giới, là một nền tảng bền chặt cho đạo Bụt.

Ở Việt Nam, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ mới viết một bức thư, “Thư Khánh Tuế,” gửi đến “Chư Tôn Đức,” và Phật tử, nhân mùa Vu Lan, sau ba tháng an cư. Bức thư như sau, “Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu …”

Trong bức thư trên Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viết, “Trong lịch sử hoằng hóa lâu dài, Tăng-già, chúng đệ tử Phật, tự thể vốn thanh tịnh và hòa hiệp, là cỗ xe vững chắc mà Đức Thích Tôn đã tác thành …” làm công việc truyền bá giáo pháp “chỉ bằng đức từ vô lượng,” và “thể tính thanh tịnh hòa hiệp của Tăng-già.”

Hòa thượng Tuệ Sỹ nhấn mạnh “Tăng-già hòa hiệp sẽ là ngọn hải đăng bất động trước mọi sóng gió;” và kể lại, “Cho đến những ngày tháng cuối cùng, bằng các tâm thư, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống (Hòa thượng Thích Quảng Độ) đã thiết tha kêu gọi Tăng-già hòa hiệp.”

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ cũng nhắc lại lịch sử Phật giáo Việt Nam gần đây, với việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1963 (đúng ra là tháng 1-1964 tại Sài Gòn). Nhưng sau năm 1975 (chính xác là 1981, đảng cộng sản Việt Nam đã thành lập GHPGVN tại Chùa Quán Sứ Hà Nội- Trần Hoàng chú thích), “một Giáo hội mới được thành lập với định hướng Đạo Pháp – Dân tộc – Xã hội chủ nghĩa”… phải theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà Hòa thượng Tuệ Sỹ thấy là “Một định hướng mơ hồ … áp đặt vào lịch sử Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại.” Giáo hội mới đó do “Ban Tôn Giáo Chính phủ trực tiếp điều hành, … từ trung ương đến địa phương.” Họ được “đặt dưới sự chỉ đạo của Mặt Trận Tổ Quốc,” chi nhánh của “một Đảng chính trị chuyên chính…” (thích dùng bạo lực, công an, súng đạn để giải quyết mọi sự việc trong nước -Trần Hoàng chú thích ).

Nhưng Đại hội VIII GHPGVNTN năm 1999 “đã đồng tâm nhất trí suy cử bốn vị lãnh đạo: Hòa thượng Thích Huyền Quang, Viện Tăng Thống; Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Cố vấn Viện Hóa Đạo; Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo; và Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo.”

Năm ngoái (thật ra 22-2-2020-Trần Hoàng chú thích ), vị tăng thống sau cùng, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã viên tịch. Cho đến nay, nhiều người vẫn thắc mắc không biết Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang đi về đâu. May mắn thay, trong bức “Thư Khánh Tuế” mùa Vu Lan này, có mấy điểm quan trọng được Hòa thượng Tuệ Sỹ nêu ra, nên phổ biến cho mọi người cùng biết.

Thứ nhất, Hòa thượng Tuệ Sỹ xác định “Tôi được ủy thác nhiệm vụ kế thừa,”… và đã không ngần ngại “Khâm thừa Ủy thác” theo ý Cố Tăng Thống Thích Quảng Độ.“ Để đáp lại “… di chúc ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống,” Thày Tuệ Sỹ “trông lên Tổ đức uy nghiêm, vô khả nại hà, tôi cúi đầu lãnh thọ.”

Với bức “Thư Khánh Tuế,” Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ – Đương kim Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã nhắc nhở, giúp cho Phật tử ở trong nước và hải ngoại có thể yên tâm, vì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn tồn tại và theo đuổi mục tiêu phục vụ đạo pháp và dân tộc.

Bức thư được gửi tới quý vị lãnh đạo tinh thần trong cộng đồng Phật Giáo ở Việt Nam và thế giới, nhấn mạnh đến lời di huấn Hòa thượng Thích Quảng Độ khi ngài kêu gọi Tăng-già hòa hiệp. Đức Cố Tăng Thống nói, “Một Giáo hội mà không y chỉ trên y xứ Tăng-già hòa hiệp chỉ là một ngôi nhà trên bãi cát, lực tự tồn còn chưa đủ, nói gì đến hoằng pháp lợi sanh.”

Từ 25 thế kỷ nay, Tăng Già vẫn là nền tảng để giữ gìn và truyền bá Phật giáo. Câu chuyện ngôi hai vị tăng sĩ trong ngôi chùa ở thủ đô Anurãdhapura được kể lại trong Visuddhimagga (Đường Thanh Tịnh) của Buddhaghosa. Vị đại sư này đã từng sống ở tu viện Thũpãrãma kể trên vào thể kỷ thứ năm. Trước đó một thế kỷ, nhà sư Pháp Hiền người Trung Quốc đã đi Ấn Độ và Tích Lan thuật lại rằng tu viện này có ba ngàn tăng sĩ. Vương quốc Anurãdhapura cai trị một phần ba đảo Sri Lanka (Tích Lan) ở miền Bắc, từ thế kỷ thứ Tư trước Tây lịch cho đến thế kỷ 11. Vương quốc đã mở mang hệ thống kênh đào và hồ chứa nước giúp nông nghiệp phát triển. Chế độ bền vững gần 15 thế kỷ một phần cũng nhờ giới tăng già thanh tịnh, hòa hiệp, và khuyến khích dân chúng sống theo giáo lý từ bi, trí tuệ.

=====

https://www.youtube.com/watch?v=1Mz_Tw_4wOQ

Đảng cộng sản Việt Nam đã không ngừng đàn áp tất cả các tôn giáo tại VN kể từ 1945 cho đến nay.

Năm 1945, khi ông Hồ chí Minh đột ngột xuất hiện ở miền Bắc VN cùng với lá cờ đỏ sao vàng, ông đã lãnh đạo đảng cộng sản VN đàn áp giết hại các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác như giết Đức Huỳnh Phú Sổ của Phật giáo Hoà Hảo. Thầy Thích Quảng Độ cũng kể lại chuyện thầy chứng kiến cộng sản VN đã vào tận chùa giết sư phụ của thầy đang là một trụ trì chùa ngoài miền Bắc khiến cho thầy Thích Quảng Độ đã phải di cư vào miền Nam. Đảng csVN cũng giết hại nhiều vị lãnh đạo của Phật Giáo Cao Đài trong thời điểm 1945 1946 và các năm tháng về sau kể cả cho đến hiện nay.

Ngay sau ngày 30-4-1975, cộng sản VN đã tịch thu hơn 4000 chùa chiền của Giáo hội PGVN Thống Nhất ở 44 tỉnh miền Nam, đuổi hết các thầy và sư cô ra khỏi chùa, và dùng chính sách hộ khẩu bắt buộc hàng trăm ngàn sư, thầy, tăng ni trở về nguyên quán. Điển hình nhất là cộng sản VN đã đuổi thầy Thích Quảng Độ và người mẹ già của thầy về lại tỉnh Thái Bình 1982 mặc dầu thầy Quảng Độ đã di cư vào Nam từ năm 1954.


LẠY MẸ

(Thơ Tù: Sa Môn Thích Quảng Độ)

Hơn hai mươi bảy năm trời cách biệt
Mắt Mẹ đã mờ vì nhớ thương con
Mẹ trông chờ bao ngày tháng mỏi mòn
Nhưng chỉ thấy mây bay và gió thoảng

Mẹ có ngờ đâu đời con phiêu lãng
Như cánh chim trời xiêu bạt bốn phương
Để giờ đây trong cảnh ngộ đau thương
Cảnh tù ngục tối tăm và buồn thảm

Con hối hận từ đáy sâu tâm khảm
Đạo thần hôn đã lỗi phận làm con
Tám mươi tuổi Mẹ có còn mạnh khỏe
Hay hạc vàng đã cất cánh bay cao

Cứ đêm đêm theo dõi những vì sao
Nhìn Bắc đẩu con tuôn trào nước mắt
Con quỳ xuống chắp hai tay trước ngực:
“Lạy Đức Từ Bi cứu độ Mẫu thân
Cõi Sa bà khi Mẹ đã mãn phần
Cảnh Cực Lạc là quê hương An Dưỡng”

Lòng chí thành nguyện cầu trong tâm tưởng
Tháng năm dài con chỉ biết thế thôi
Nghĩa thù ân chua xót lắm Mẹ ôi
Con lạy Mẹ trăm nghìn muôn ức lạy!

Sa Môn Thích Quảng Độ.

XUÂN NHỚ MẸ
(Sa Môn Thích Quảng Độ)

Mỗi lần xuân đến gợi thêm sầu
Con ở phương này Mẹ ở đâu
Nam Bắc đôi bờ dòng nước bạc
Trông vời bóng Mẹ khuất ngàn dâu

Con đi từ độ trăng tròn ấy
Trải mấy xuân rồi xuân viễn phương
Trên vạn nẻo đường con cất bước
Cõi lòng vương nặng mối sầu thương

Mái đầu Mẹ nhuộm mầu sương tuyết
Chồng chất đôi vai lớp tuổi đời
Con muốn thời gian ngừng đọng lại
Cho mùa xuân Mẹ mãi xanh tươi

Thời gian vẫn cứ lạnh lùng trôi
Hoa úa tàn phai trái chín mồi
Chua xót lòng con niềm hiếu đạo
Chân trời xa cách lệ tuôn rơi.

Giáp Thìn (1964)
Sa Môn Thích Quảng Độ

NGUYỆN CẦU
(Thơ Lưu Đày: Sa Môn Thích Quảng Độ)

Hỡi trời cao đất dày
Có thấu cho cảnh này
Mẹ tôi tội tình gì
Phải chết trong lưu đày

Trong cô đơn hiu quạnh
Trong buồn tủi đắng cay
Thôi cõi đời ác độc
Mẹ vĩnh biệt từ đây

Con nguyện cầu hồn Mẹ
Vãng sinh về phương Tây
Phật Di Đà tiếp dẫn
Chư Bồ Tát dìu tay

Trong hoa sen tinh khiết
Hồn Mẹ hóa sinh ngay
Vòng luân hồi chấm dứt
Vĩnh viễn được yên vui.

Đêm 14 tháng 12 Ất Sửu
(23 tháng 1 năm 1985)

MẤT CẢ CUỘC ĐỜI
(Thơ Lưu Đày: Sa Môn Thích Quảng Độ)Xuân này tôi mất Mẹ rồi
Cũng là mất cả cuộc đời còn chi
Từ nay đoạn đường tôi đi
Qua hàng thông lạnh gió vi vu sầuMột mình lặng lẽ cúi đầu
Quanh tôi tất cả nhuộm màu tóc tang
Bước đi nghĩa địa lan man
Chết rồi hay sống điêu tàn như nhau.

Sáng mồng 1 Tết Bính Dần (1985)
Ra thắp hương ngoài mộ mẹ.


ĐÊM PHẬT ĐẢN
(Thơ Tù: Sa Môn Thích Quảng Độ)

Đêm Phật Đản ánh trăng rằm huyền ảo

Khắp không gian như tỏa ngát mùi hương

Tinh tú ba nghìn tụ lại một phương

Để chào đón đấng Siêu nhiên xuất thế

Nơi ngục thất tôi nhìn vào hiện thể

Khắp quanh tôi tràn ngập bóng vô minh

Từ xa xưa vì nghiệp lực chúng sinh

Đã tạo dựng nhân gian thành địa ngục

Tôi cười vang  trong đêm trường u tịch

Bốn bức xà lim như sụp đổ dưới chân tôi

Ôi đau thương đây thế giới Sa Bà 

Cực Lạc Niết Bàn cũng là đây hiện thực

Ánh Đạo rọi giữa lòng tôi sáng rực

Bao ưu phiền trút sạch tựa mây tan

Kia gông cùm xiềng xích cảnh trần gian

Trong khoảnh khắc cháy tan thành tro bụi

Tôi vận dụng sức “hiện tiền Tam muội”

Ngồi an nhiên như sen nở giữa than hồng

Thời gian trôi lặng lẽ đã hừng đông

Tôi bừng tỉnh thấy bình minh ló rạng

Thế giới ngày mai mùa xuân tươi sáng

Đạo từ bi nhuần thấm khắp năm châu.

15.4 Đinh Tỵ (1977)

Sa Môn Thích Quảng Độ  

ĐÊM XUẤT GIA (Thơ Tù: Sa Môn Thích Quảng Độ)

Đêm nay kinh thành Tỳ la yên lặng

Mảnh trăng thượng tuần vừa khuất sau đồi

Khung trời mờ ảo ngàn sao tỏa ánh lung linh

Sóng Nô-ma cuồn cuộn chuyển mình

Gió Hy-mã ào ào rung động

Vạn vật đã chìm sâu trong mộng

Từ không trung tiếng vọng ngân xa

Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!

Giờ đã điểm, Ngày hãy ra đi tìm chân lý

Vì muôn loại sầu đau từ vạn kỷ

Đang đợi chờ và kỳ vọng thiết tha

Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!

Ngài có nghe chăng tiếng khóc than đang vang lên từ khắp mọi nhà

Vì những khổ đau của sống già bệnh chết

Tử biệt sinh ly đói nghèo rách nát

Áp bức đọa đày bởi hận thù và tham vọng cuồng si

Tất cả trông chờ một chuyến ra đi 

Một chuyến đi hùng tráng

Niềm ước mơ ở những ngày mai tươi sáng

Chỉ còn đêm nay thôi đừng tiếc chi

Tất Đạt Đa ơi Ngài hãy ra đi

Vì tất cả theo tiếng gọi đêm nay

Hỡi sóng Nô ma và gió ngàn Hy mã

Hãy gào to lên cho tiếng vọng vang xa

Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!

Giờ đã điểm thôi đừng tiếc chi

Cung điện ngọc ngà với Da Du và La Hầu La yêu quí

Ngày hãy ra đi vì muôn loại sầu đau từ vạn kỷ

Đang đợi chờ và kỳ vọng thiết tha

Tỳ la! Tỳ la! Ôi kinh thành hoa lệ

Thôi đừng buồn chi

Ngài ra đi cho muôn vàn thế hệ

Ngài ra đi vì tiếng gọi khổ đau

Của ngàn nay đến ngàn sau

Và sẽ trở về trong một ngày hào quang rực sáng

Tất cả kinh thành rồi sẽ rơi vào quên lãng

Nhưng hào quang Ngài sẽ sáng mãi với thời gian.

8.2 Mậu Ngọ (1978)

Sa Môn Thích Quảng Độ   
***

ĐÊM THÀNH ĐẠO

(Thơ Tù: Sa Môn Thích Quảng Độ)

Qua cửa gió xà lim vắng lạnh

Tôi đứng nhìn say đắm ánh sao mai

Tỏa lung linh sáng rực dưới vòm trời

Như báo hiệu bình minh đang trổi dậy

Sắp hết rồi ôi đêm dài tăm tối

Đang trùm lên cảnh vật một màu đen

Tôi im lặng hồi tường lại một đêm

Cùng giờ này hơn hai nghìn năm trăm năm trước

Dưới cội bồ đề mặt đất chuyển rung

Như hoan ca chào đón đấng Đại Hùng 

Vừa chiến thắng ma quân lần cuối

Ánh Đạo vàng bừng lên chói lọi

Đốt tiêu tan màn hắc ám vô minh

Những khổ đau thù hận ngục hình

Đã vây hãm chúng sinh từ muôn thuở

Tất cả, tất cả trong tôi đang thiêu hủy

Với tham sân và cuồng vọng si mê

Ánh sáng chan hòa trên nẻo đường về

Suốt cuộc đời hôm nay tôi thấy sao mai đẹp nhất

Xin cảm tạ hồng ân Đức Phật

Đã cho con giờ phút hôm nay

Giờ phút thiêng liêng Thành Đạo của Ngài

Con tin tưởng sẽ đi vào giòng thời gian bất tận

Bao sự nghiệp huy hoàng xây trên thù hận

Từ ngàn xưa dấu vết phủ rêu xanh.

18.12 Mậu Ngọ (1978)

Sa Môn Thích Quảng Độ   

(xem tiếp)


Advertisement

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: