Trần Hoàng Blog

►Ngồi buồn tự phỏng vấn chơi (Hà Sĩ Phu, 25-5-2022)

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2022

HỎI: Anh nghĩ gì về cái khẩu hiệu “TRÍ-PHÚ-ĐỊA-HÀO – đào tận gốc trốc tận rễ” của Tổng Bí thư Trần Phú?

ĐÁP: Nhiều người cứ tưởng Trí Phú Địa Hào là 4 kẻ thù căn bản nhất của CS, thực ra đó là 4 giá trị mà người CS khao khát nhất, nhưng 4 quyền lợi ấy đang nằm trong tay kẻ khác nên CS phải diệt họ đi để chiếm đoạt lấy!

HỎI: Nhưng trong 4 điều mà CS khao khát ấy thì TRÍ là thứ khó chiếm đoạt nhất phải không?

ĐÁP: Đúng vậy, lá cờ CS nhân danh búa liềm Công Nông, nên thoạt đầu Công Nông tưởng mình sẽ thu hoạch được cả thế giới, nên đem hết công sức giúp CS nổi dậy, nhưng nổi dậy xong thì Đảng đứng ra đại diện và thâu tóm hết. QUYỀN thì sinh ra TIỀN!

Giành được quyền rồi thì đảng Vô sản tự biến thành PHÚ-ĐỊA-HÀO hữu sản một cách dễ dàng, đảng viên có quyền bây giờ biến thành Phú Địa Hào thật sự. Nhưng biến thành TRÍ là điều không dễ, dù cố mua bán để làm những “lò ấp Tiến sĩ” thì vẫn lòi đuôi là những tiến sĩ giả, chẳng ai tin. Còn Công và Nông thì vẫn là 2 tầng lớp chịu khó khăn nhất hiện nay.

HỎI: Anh có viết những suy nghĩ ấy ra giấy chưa?

ĐÁP: Viết hết ra rồi. Nhưng dễ nhớ nhất là bài thơ Trí Phú Địa Hào mà nhiều người đã thuộc.

HỎI: Anh đọc lại cho nghe bài thơ ấy đi!

ĐÁP: Xin đọc, (Bài ca Trí Phú Địa Hào):

Bốn anh Trí Phú Địa Hào

Chỉ riêng anh Trí lao đao đến giờ

Đảng ta thương Trí ngu ngơ

Cho Công Nông Trí chung cờ liên minh

Trông lên Liềm Búa hai hình

Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu

Quay sang tìm Phú Địa Hào

Thấy ba bụng phệ…đã vào Đảng ta! (HSP)

Ba cái “bụng phệ” Phú Địa Hào chẳng những “đã vào đảng ta” mà còn thực sự điều hành xã hội, khiến cho những đảng viên tử tế phải bật ra ngoài hoặc bật vào nhà tù!

(những đảng viên bị bật khỏi đảng như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Phùng Cung, Bùi Tín, Tô Hải, Lê Hiếu Đằng, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, Phạm Chí Dũng, Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Mạc Văn Trang, Nguyễn Kim Chi…vv…, kể cả những người bỏ đảng không tuyên bố thì đã nhiều vô kể, và đến một lúc nào đó giác ngộ thì cuộc bỏ đảng có thể sẽ “vui như ngày hội” chưa biết chừng?).

HỎI: Bài thơ nói “Công Nông Trí chung cờ liên minh” là thế nào?

ĐÁP: Hòn đá tảng của chủ nghĩa CS coi “đấu tranh giai cấp không khoan nhượng” là động lực của sự Tiến hóa. Phải đem Công Nông làm những cuộc lật ngược, lật đổ giai cấp Tư sản, Địa chủ , Cường hào bên trên. Còn Trí thức là giai cấp Tiểu tư sản bấp bênh cần phải giáo dục, đoàn kết và sử dụng. Vì thế trong lá cờ CS vẫn chỉ có 2 cái búa liềm.

Đây là cả một chuyện rất căn bản đấy.

Ngay từ bài viết đầu tiên “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của Trí tuệ” tôi đã thấy chỗ thiếu sót chí tử của CS chính ở cái “hòn đá tảng” này. Vì, thực ra đối với loài người, loài động vật cao cấp nhất có tiếng nói và chữ viết, thì sự Tiến hóa là SỰ TÍCH LŨY và GIA TĂNG của TRÍ TUỆ, trong đó tầng lớp Trí thức phải có vai trò cực kỳ quan trọng. Có tiếng nói và chữ viết nên những gì mà thế hệ trước thu hoạch được có thể ghi lại, truyền lại để thế hệ sau “ngồi lên vai” thế hệ trước mà tiếp tục đi lên cao hơn. Về bản chất, sự Tiến hóa là kế thừa chứ không phải lật đổ. Còn sự tranh chấp bằng bạo lực để lật đổ nhau thì vẫn xảy ra bất cứ khi nào mà sự giành giật QUYỀN và LỢI trở nên đối kháng, có khi lợi cho Tiến hóa, có khi hại cho Tiến hóa.

HỎI: Có phải ngay trong lý thuyết về “Giá trị của lao động, giá trị của hàng hóa” thì Mác cũng chưa thấy giá trị của Trí tuệ?

ĐÁP: Đúng vậy. Sự quá khích mù quáng, muốn quật đổ mọi thứ để giành quyền lợi ngay tức khắc mà không biết điều đó rất tai hại về sau. Tâm lý của tầng lớp “dân cày” này đã cộng hưởng với cái lý thuyết của ông tổ sư CS Karl Marx.

Bức xúc trước các bất công do sự bùng phát của nền văn minh công nghiệp và kinh tế hàng hóa, Mác đã “đứng về phe nước mắt” để lý giải mọi chuyện.

– Giá trị của hàng hóa không thể chỉ tính theo giờ lao động thô sơ, mà còn ở chất lượng trí tuệ, ở năng lực tổ chức và khả năng tập trung tư bản tức tập trung vốn. Chủ Tư bản có quyền hưởng lợi từ những giá trị ấy chứ không phải họ chỉ ngồi không mà bỗng dưng cướp được giá trị lao động của thợ thuyền. Mối quan hệ giữa chủ và thợ là quan hệ tương sinh tương hỗ chứ không phải chỉ đối kháng phải tiêu diệt nhau như Mác quan niệm. Đi vào thực tiễn, người CS cũng nhận ra cái thiếu sót đã coi nhẹ Trí thức nên phải bổ sung bằng “khối liên minh CÔNG-NÔNG-TRÍ”, nhưng đó chỉ là sự vá víu hình thức, chưa phải sự thay đổi bản chất tư duy trong “hòn đá tảng” của cái chủ nghĩa cứ lấy “đấu tranh giai cấp một mất một còn” làm động lực của Tiến hóa.

– Yêu cầu đặt ra là phải có sự phân phối công bằng giữa chủ và thợ, muốn vậy xã hội phải có nền Dân chủ pháp trị, chứ không phải là sự Công hữu hóa mọi tư liệu sản xuất và vứt bỏ cả quyền lực lãnh đạo xã hội (Mác còn nghĩ sẽ phải làm cho các Chính phủ cũng tự tiêu vong , để giới lao động tự quản lý).Tấm lòng thì đáng quý, nhưng một giải pháp vớ vẩn như vậy đã gây ra những hậu quả tai hại về sau, phản tác dụng, chống lại ý định tốt đẹp ban đầu. Cứu cánh – 究竟 (kết quả khách quan sau cùng) đã ngược với mục đích.

HỎI: Có phải vì lấy đấu tranh giai cấp không khoan nhượng làm động lực mà các đảng CS luôn tạo ra những kẻ thù?

ĐÁP: Lấy đấu tranh giai cấp làm cái cột sống của xã hội thì phải hận thù thôi. Lập trường giai cấp là thứ sắt đá, là không khoan nhượng! Sống trong xã hội CS mà bị quy là “mất lập trường” thì hãy coi chừng, bị coi là thù địch dễ như chơi.

– Ngay trong tuyên ngôn thì CS đã quyết “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với các giá trị truyền thống”, như thế là họ không kế thừa, không giống với ai cả, thì ai khác họ là chống họ, là thành thù địch.

– Đấu tranh giai cấp “một mất một còn” chính là gây những cuộc nội chiến tang thương mà người CS gọi là “nội chiến cách mạng”. Gây nội chiến trong nội bộ dân tộc thì làm sao thực hiện sự đoàn kết dân tộc? Thành lập khối “Công Nông Trí” dưới sự lãnh đạo CS chỉ là sự vá víu, thậm chí vô tích sự. Ngày nay những Trí thức phản biện luôn đứng về phía những dân oan trong giới Công Nông thì đó mới thực là “liên minh Công Nông Trí” tử tế, nhưng ngược với ý muốn của người CS nên dễ bị quy là các “thế lực thù địch”.

HỎI: “Thế lực thù địch” đúng là một chủ đề tối quan trọng trong giai đoạn mà người CS cầm quyền. Nay những người bị đưa vào lò của Tổng Bí thư lại toàn những tướng tá và quan chức cấp cao của ĐCS. Hiện tượng đó phản ánh điều gì vậy?

ĐÁP: Hề hề…(cười). Kẻ thù kinh điển của ĐCS thì nay biến hết rồi. Này nhé, những địa chủ, tư sản, cường hào ngày trước thì diệt hết từ lâu rồi. Bọn Tư bản giãy chết thế giới thì nay ta “hợp tác đa phương” đã thành bạn bè cả. Tên ‘đế quốc Mỹ’ đầu xỏ thì lại đang muốn thành “đồng minh chiến lược” với CSVN để chống Tàu!

Chơi đẹp với cả thế giới, nhưng trong nội bộ Dân tộc thì “Kẻ thù mới” mọc ra toàn là từ đám dân oan, từ các trí thức phản biện, từ những đảng viên còn giữ “tấm lòng CS” tốt đẹp thuở ban đầu, và một loại “kẻ thù” hoàn toàn khác nữa là các quan chức nội bộ-tham nhũng-thoái hóa biến chất của ĐCS.

HỎI: Anh phải phân tích rõ thêm về những “kẻ thù” phát sinh từ nội bộ ấy!

ĐÁP: Trước hết là do sự độc quyền lãnh đạo, không có đảng nào tồn tại để cạnh tranh, không có tự do bầu cử. Mà chân lý phổ quát là “quyền lực tuyệt đối thì sẽ tham nhũng tuyệt đối”. Có quyền trong tay, muốn làm gì cũng được thì chỉ có bậc chí thánh hay cục đất mới không biết vơ vét. Các khúc củi đưa vào lò toàn là quan chức cầm quyền của ĐCS, gọi là thù nhưng cũng chẳng phải là thù, họ là đồng đảng đánh lẫn nhau thôi! (Người đốt lò nói chống tham nhũng là chống giặc nội xâm là sự ví von không đúng. Tham nhũng là tội kinh tế, xâm lược là tội chính trị. Đất nước là của dân, kẻ xâm lược mà ở bên trong tức là kẻ cầm quyền độc tài chiếm mất quyền làm chủ đất nước của dân, làm cho dân bị mất nước vào tay một nhóm cầm quyền. Vậy kẻ nội xâm đó là ai thiết tưởng quá rõ. Đảng cầm quyền đã thành giặc nội xâm thì mỗi đảng viên đều là kẻ theo giặc mà không biết đấy thôi).

Quan chức đã vơ hết đất đai và phúc lợi công cộng, lại vào hùa với các đại gia chủ xí nghiệp-công ty để bóc lột công nhân và cùng ăn chia, thì giới Công Nông tất nhiên chịu oan khuất đầy đọa, họ phải đứng lên phản ứng lại. Họ biểu tình chống tham quan ô lại, họ có phải kẻ thù không? Tòa hỏi tên của phạm nhân Cấn Thị Thêu thì được trả lời “Tôi tên là nạn nhân Cộng sản”, kẻ thù đấy!

Nền tảng của chủ nghĩa đã có những điều phi lý, phi khoa học để kẻ cầm quyền lợi dụng, nên giới Trí thức tử tế đã phát hiện ra những phi lý ấy, không chịu làm văn nô, họ phải phản biện, phải dấn thân, phải “đứng về phía nước mắt” để đấu tranh, tức đứng về phía những người lao động cùng khổ. Những Trí thức dấn thân như Phạm Thành, như Phạm chí Dũng, như Phạm Đoan Trang… là kẻ thù của ai? Ba loại kẻ thù ấy thật sự là như vậy.

HỎI: Nhưng tại sao sự phân hóa nội bộ trong đảng và dân lại quá nhiều như vậy chứ?

ĐÁP: Vâng, xét các đối tượng “thù địch” cụ thể thì tôi vừa nói riêng như vậy. Nhưng đó không phải những hiện tượng riêng lẻ rời rạc. Nói một cách tổng quát thì ta sẽ thấy tất cả đã xuất phát từ hai điều lớn rất chung như sau:

– Một là vì ĐCS áp dụng cái mẹo “qua cầu thì rút ván”. Bọn phát xít ngày trước toàn giết kẻ thù của chúng, nhưng các ĐCS chủ yếu diệt các ân nhân của mình. Bởi ĐCS mọc ra từ hai bàn tay trắng, sở dĩ chiếm lĩnh được hết thảy là do đã lừa dối được đám đông dân chúng tốt bụng, hăng hái nhưng nông cạn, và có sự ủng hộ rất hấp dẫn của những Trí thức Văn nghệ sĩ đầy lý tưởng nhưng duy cảm và nông nổi. Thì khi đã qua cầu để giành được mọi chiến thắng rồi họ phải phá ngay 2 ân nhân, 2 chiếc cầu đã giúp họ đi đến thắng lợi, để người khác không thể sử dụng để thành sức mạnh…dời non lấp biển như họ được nữa. Nghĩa là phải canh chừng và khống chế chính những dân chúng lương thiện và giới Trí thức tử tế.

– Hai là chính từ sự khôn ngoan láu cá để thoát hiểm của ĐCS. Mác-Lê gốc thì vốn ghét tư bản, ghét Thị trường, ghét tiền bạc, ghét nhân quyền tự do. Nhưng trước sự bế tắc và lụn bại họ đã phải bỏ thứ kinh tế kế hoạch, bỏ bớt kinh tế tập thể và quốc doanh để theo “Kinh tế thị trường” (1986). Nhưng nếu tự do thật thì CS sẽ thua, sẽ mất ngai vàng, nên muốn giữ chặt quyền bính thì phải thêm cái đuôi “định hướng XHCN”.

Nhưng một nửa tự do lại nằm dưới một nửa độc tài thì hai nửa ấy tự chống nhau. Cũng là CS nhưng nửa làm Kinh tế thị trường thì ăn bẫm, nửa giữ XHCN kinh điển thì không ăn gì. Nên phải đốt lò thiêu nhau, để giành lấy sự độc quyền điều hành và hưởng thụ.

– Chính vì cái đuôi XHCN nên Hiến pháp mới chủ trương công hữu hóa hết đất đai do nhà nước thống nhất quản lý. Nhưng Nhà nước hoàn toàn trong tay Đảng nên đảng viên nắm quyền sẽ chiếm đất để làm giàu. Các vụ đốt lò hầu hết là hành hạ nhau vì cái tội cướp đất, nhưng càng cấm thì những đám sau càng ăn to hơn và khôn hơn! Thế là kẻ thù toàn từ trong nội bộ Đảng mà ra! (Xin xem bài “Luật đất đai và tài chơi chữ Siêu đểu” và bài “Đất đai và bản chất ăn cướp của một điều luật”). Cách đây mấy năm HSP cũng đã viết “Nội bộ Đảng ta tự phải đánh nhau thôi !” và được lưu truyền trên mạng Email!

Tóm lại: Kẻ thù từ bên ngoài hầu như không còn. Kẻ thù của ĐCS hiện nay toàn phát sinh từ trong nội bộ nhân dân và nội bộ ĐCS mà ra thôi, và điều ấy xuất phát từ bản chất của ĐCS và các chính sách phát sinh cùng hệ quả của nó mà ra. Liệu kẻ thù của Đảng có hoàn toàn trùng khớp với kẻ thù của Dân?

HỎI: Sau khi hiểu rõ ngọn ngành, anh có muốn nói gì thêm về cái khẩu hiệu “đào tận gốc, trốc tận rễ” ấy?

ĐÁP: Phú-Địa-Hào thì tượng trưng cho 3 cái Quyền và Lợi, phải đấu tranh để có sự phân phối cho hợp lý, công bằng, chứ không không phải để vứt bỏ. Nhưng muốn thế phải có tự do dân chủ pháp trị. Kẻ nào hiện đang độc quyền nắm giữ 3 thứ ấy thì nó là “kẻ thù” của nhân dân, của công lý xã hội. Nhưng gộp cả TRÍ vào đám “kẻ thù” ấy thì thật lạ.

Có thể thông cảm vì ngày xưa cái đám có chút học thức thì phần lớn phục vụ bọn có quyền có tiền. Những Trí thức chân chính như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ… là quá hiếm. Nhưng nếu hiểu TRÍ là TRÍ TUỆ thì vấn đề lại khác, quan trọng hơn nhiều.

HỎI: Ở trên anh đã nói TRÍ TUỆ là động lực cho sự Tiến hóa. Thế còn Trái tim là sức mạnh thế nào?

ĐÁP: TRÍ TUỆ là một giá trị tinh thần, một tinh hoa của bộ não con người, là yếu tố quyết định sự Tiến hóa của xã hội, điều mà trước đây chưa mấy khi được làm sáng tỏ.

Giới có học thường hay nhắc đến TRÍ và T M, tượng trưng bởi khối óc và trái tim. Trái tim thì làm nên sức mạnh. Nhưng hướng đi cho sức mạnh ấy là ở cái đầu. Một trái tim lớn thì chẳng những cho người đó sức mạnh mà còn lôi cuốn cả số đông, nên sự thành hay bại sẽ được khuếch đại lên nhiều lần. Trường hợp Trái tim lớn, đầy sức thu hút, mà Cái đầu không đủ lớn thì nguy hiểm lắm, có thể dẫn cả đoàn người nối nhau lao xuống vực.

HỎI: Hay quá, nhưng xin ngắt lời: Còn trường hợp ngược lại thì sao?

ĐÁP: OK, tức là có kẻ Trái tim thì ngoắt ngoéo nhỏ mọn nhưng cái Đầu nó lại lớn lao chứ gì? Thế thì đáng sợ vô cùng. Đầu óc nó lớn, nó tinh ranh, nó làm được cả Trái tim giả, chảy nước mắt giả nhưng mắt vẫn ráo hoảnh, nhìn rõ địch ta, và có thể vẽ ra một con đường đầy hoa thơm cỏ lạ… nhưng tịt đường về với đất tổ quê cha!

Vâng, vì thế tôi vẫn tự nhủ mình: “Tôi đứng về phe “nước mắt”, nhưng có nước mắt cá sấu đấy nhá!”. Chính hay tà? Rẽ lối nào đây? Chưa bao giờ sự thử thách của Trí tuệ lại quan trọng và tinh tế như cái thời khắc @ gốc CS này phải không ạ?

Hà Sĩ Phu – (25/5/2022)

________


Hà Sĩ Phu (Danlambao) – Điều 53 của Hiến pháp Việt Nam 2013 viết: “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”! Đọc lên toàn những câu chữ quen quen nghe tưởng bình thường và cũng êm tai, nhưng cái thực tiễn ẩn nấp sau những mỹ từ ấy là mồ hôi và xương máu dân lành, là những kho tàng của cải kếch xù của đám vua quan cơ hội, là những đoàn người mất đất lang thang ròng rã kêu oan bị xua đuổi, đánh đập và tù tội… thì mới thấy tội ác của cái điều luật êm như ru kia thật là ghê rợn. Cũng là một điều luật nhưng điều luật này khó sửa vì nằm trong gan ruột của trào lưu CS, và vẫn đang gắn chặt với ngai vàng của các vua quan tập thể lớn nhỏ hiện nay.

Là một sinh vật, con người muốn sống phải có cái nhà của mình trên mảnh đất riêng của mình (chưa kể những người phải có đất sản xuất để có miếng ăn). Quyền sở hữu riêng bất khả xâm phạm đối với một mảnh đất để ở, một không gian tiên quyết tối thiểu để tồn tại trên đời là một quyền tự nhiên, thiêng liêng, bẩm sinh; không có quyền đó sự hiện diện của con người trên đất nước mình sẽ không có cơ sở vật chất đầu tiên để tồn tại. Con chim con thú trong rừng cũng phải “sở hữu” được một nhành cây, một hang hốc, một khoảnh đất cho riêng nó mà nó phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ. 

Với một người sinh ra trên đời, quyền tư hữu đó hoặc do cha ông họ để lại hoặc do lao động lương thiện của họ tạo ra, bằng cách này hay cách khác nhưng dứt khoát họ phải có được cho mình cái quyền sở hữu riêng tư đó thì mới có thể an cư để hòng lạc nghiệp. 

Vì quyền tư hữu đất đai với con người là thiêng liệng như vậy nên những chế độ độc tài, bất công, dã man nhất xưa nay, dù kẻ cầm quyền có tham lam muốn chiếm hữu nhiều nhất cho mình cũng không bao giờ dám phủ nhận quyền tư hữu ấy. Bên cạnh những công điền công thổ vẫn đương nhiên phổ cập quyền tư hữu đất đai trong dân chúng. Tất nhiên sự bất công và vô nhân đạo trong các xã hội ấy vẩn còn, các “cố nông” không có một tấc đất cắm dùi là những ví dụ đặt ra cho các xã hội ấy.

Nhưng điều mà không một chế độ bất công tàn bạo nào dám làm thì chế độ Cộng sản nhân danh chính sự công bằng và nhân ái lại dám làm: xóa bỏ tư hữu đất đai, đưa toàn bộ đất đai vào sở hữu “nhà nước”do một đảng nắm giữ! 

Nguyên nhân của chủ trương quái gở triệt tiêu một nhân quyền cơ bản ấy là do đâu? Có hai giai đoạn sinh ra hai nguyên nhân khác hẳn nhau: 

– Giai đoạn của những người tiền bối thì khẳng định mọi bất công là do tư hữu, nên tưởng rằng nếu chuyển hết sang công hữu do một “đảng tiền phong” quản lý thì mọi việc sẽ công bằng, nhân ái; lại ảo tưởng rằng người Cộng sản là những người “chỉ một lòng vì nước vì dân” nên họ không tham lam vơ vét đâu(!!!). Đấy chính là ảo tưởng Cộng sản, ĐCS ảo tưởng, dân chúng cũng ảo tưởng, ảo tưởng là “nói chữ”, nói nôm là dốt, là ngu, nhưng sức mạnh của sự ngu dốt không thể xem thường.

Nguyên nhân của giai đoạn sau, khi ĐCS đã nắm toàn quyền thì khác. Ở giai đoạn này kẻ “ngu lâu” nhất cũng biết giới cầm quyền đâu phải của toàn dân, tất cả là các thế lực trong một đảng cầm quyền. Kẻ “cầm sổ đỏ” sở hữu toàn non sông đất nước muốn chiếm đâu được đấy, muốn chia cho ai thì chia, nhường cho Tàu thì nhường, dân phản ứng thì bị qui tội “chống người thi hành công vụ”, mời vào nhà tù học tập tu dưỡng cho cụt cái thói dám chống nhà nước! 

Lúc này chẳng còn anh Cộng sản nào ảo tưởng đâu, họ biết tỏng “sở hữu toàn dân” chính là miếng mồi béo bở kếch xù, 90 phần trăm những kẻ giàu nhất hiện nay là do sử dụng được quyền chiếm đoạt đất đai để mua bán đất mà thành giàu, người giàu rất nhiều mà chẳng sản xuất gì cho xã hội cả, cái tăm xỉa răng, cái ngoáy tai, cái cắt móng tay cũng nhập của Tàu. 

Dân cũng tỉnh rồi không còn ngu nữa, nhưng tỉnh ra thì “ván đã đóng thuyền”, quyền lực rơi hết vào tay các “nhóm lợi ích đỏ” “lợi ích đen” rồi. Con em mình muốn có lương bổng cao thì cho vào công an-quân đội, nhưng những lực lượng vũ trang để giữ nước và bảo vệ dân thì nay đã thành công cụ chống dân, công cụ của cái trò xỏ lá “sở hữu toàn dân” mà cướp đi quyền tư hữu thiêng liêng chính đáng của dân. (Nhân thể xin nhắc các anh em trong công an-quân đội hãy nhận ra trò lừa tệ hại này mà cùng chắp tay xin dân xá tội!).

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”?. Ta bị đánh lừa, nghe bùi tai bởi hai chữ “toàn dân” và “nhà Nước đại diện”, nhưng xin thưa nhà nước chỉ thực sự là đại diện cho quyền lợi toàn dân khi chính quyền là của một nền dân chủ đa nguyên pháp trị lý tưởng (nhà nước lý tưởng ấy bao giờ mới có?), chứ khi chính quyền do một đảng “lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” (gọi tắt là toàn trị) thì chỉ những kẻ quá ngu mới còn hồ hởi gửi trứng cho ác, trao sở hữu bao đời của tổ tiên mình cho mấy đứa có trời mà tin được?. Ngay những nước văn minh nhất của thế giới ngày nay cũng không nước nào dám xóa hết tư hữu đất đai của dân trao cho nhà nước của họ làm chủ sở hữu, mặc dù nhà nước của họ đã là dân chủ đa nguyên pháp trị nghiêm chỉnh.

Cũng nên hiểu thêm một điều nghịch lý trong điều luật đất đai chẳng giống ai ấy. Tư hữu là một loại sở hữu cần bảo vệ thì ĐCS biến cái riêng ấy thành của chung, trong khi nhà nước là cơ chế vốn phải là của chung trên nền dân chủ đa nguyên thì ĐCS lại biến cái chung ấy thành cái riêng, thành nhà nước chuyên chính vô sản do một ĐCS nắm giữ. Một điều luật liên quan đến hai phạm trù sở hữu và nhà nước mà cái riêng thì biến thành cái chung, cái chung thì biến thành cái riêng thì sự phi lý ở đây là sự phi lý kép, hai lần phi lý. Xét về luận lý (logique) thì trái ngược như vậy, song xét về tham vọng thì đều nhất quán thu vén về lợi quyền cho ĐCS: sở hữu gọi là chung do nhà nước quản lý nhưng đã biến thành sở hữu riêng của ĐCS vì nhà nước là những ai nếu không phải toàn bộ nằm trong tay ĐCS, dù nhóm này hay nhóm khác thì cũng của một ĐCS duy nhất. Bản chất chiếm đoạt (ăn cướp) chính là ở đó.

Giữ quyền sở hữu toàn bộ đất đai kể cà đất ở của dân là một mưu đồ có ý thức, có tính toán sâu xa để phục vụ ý đồ của ĐCS chứ không phải một thiếu sót như vẫn thường xảy ra của ngành lập pháp. Cá nhân tôi có một ví dụ nhỏ nhưng rất cụ thể: Tôi chỉ là một trí thức nhọc lòng viết ra những suy nghĩ sớm của mình trước những mối nguy cho dân tộc, nhưng lực lượng công an đã nói thẳng với tôi và qua bạn bè tôi rằng: HSP phải đổi quan điểm, phải thay đổi tư tưởng mới có nhà ở, vì nhà đất của HSP là do công an quyết định (các bạn tôi, các ông Đoàn Nhật Hồng, Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh đều biết rõ việc này).

Tóm lại, dù ở giai đoạn thành tâm ngây thơ ảo tưởng hay giai đoạn lợi dụng ảo tưởng đã có để trục lợi thì điều luật đưa toàn bộ sở hữu đất đai vào tay nhà nước làm chủ và thống nhất quản lý, về bản chất vẫn là một chủ trương ăn cướp, chẳng những là “cướp ngày”có con dấu, mà cướp có chủ trương, có hiến pháp, có cương lĩnh, có bạo lực toàn quốc, có phối hợp các binh chủng cướp thành những “trận đánh đẹp đáng ghi vào sử sách” như công an Đỗ Hữu Ca đã buột miệng tấm tắc nói giùm lịch sử. 

Đến vụ Đồng Tâm-Mỹ Đức tháng Tư năm nay (2017) thì mọi thứ đã phơi trần, dân đã biết rõ tất cả và đã biết cách phá thế kìm kẹp. Hai bên đã chơi bài ngửa, có lý luận dài dòng hay lừa nhau nữa cũng vô ích, chỉ tóm lại một điều: có chịu bỏ điều luật “sở hữu toàn dân dối trá để thu lợi quyền thật vào tay đảng” hay không, quả bóng của trận cầu còn nằm trong chân của ĐCSVN, nhưng với chiến thuật cù cưa, làm động tác giả nín thở qua sông rồi bất ngờ lật cánh đánh lừa quen thuộc liệu phía ĐCS có còn làm chủ mãi được trận cầu để bắt đối phương (tức nhân dân) phải đá theo cách của mình nữa hay không?. Dù vừa đá bóng vừa thổi còi nhưng đối phương đã không còn là đối phương cam chịu của ngày hôm qua và cũng đừng cắm mặt coi thường đánh lừa khán giả. 

Dân chúng bắt giam những chủ lực quân của đảng, chủ tịch Hà nội phải đến đích thân viết tay và điểm chỉ vào một bản cam kết giấy trắng mực đen…, thật là một sự đổi đời chưa từng có trong đêm dài CS, chưa biết ý nghĩa thật ra sao, phe nhóm trong lãnh đạo ra sao, có người đã quá vui vội gọi đó là cuộc “Cách mạng Tháng… Tư”(?). Ôi cái tháng Tư đỏ, tháng Tư đen lắm chuyện, mở đầu bằng một “ngày nói dối”, một tháng đầy biến cố, và kết thúc bằng cái ngày 30 cuối tháng chắc gì đã hết mùi Cá tháng Tư? 

Học các nhà sư vác bát khắp phố phường khất thực không phải để XIN mà để CHO (tức là bố thí) cho các chúng sinh một cơ hội làm phước, cơ hội bày tỏ lòng nhân đức, tôi cũng vác bút khất thực không phải để “XIN” quý vị lãnh đạo mà mang đến sự “bố thí” rộng lượng của tổ tiên cho quý vị một cơ hội tốt để quý vị dâng hiến cho dân chúng một sợi tơ mành sót lại của niềm tin, của tình tự dân tộc trước ngày cơ hội ấy không còn nữa! 

Vứt bỏ hay bảo lưu cái điều luật rất phản động và chống nhân dân về công hữu hóa toàn bộ non sông đất nước này vào tay nhà nước Cộng sản? Chắc chắn trong Bộ Chính trị sẽ có những ý kiến kiên quyết bảo lưu thì tôi xin phép được nói riêng đôi lời: Gian hùng mấy thì các ngài cũng chỉ là học trò nhỏ vụng dại của Lê Đức Thọ, một người CS gian hùng bậc thày, lúc sống làm mưa làm gió, điều khiển và chi phối được cả ông Hồ trở xuống, thế mà chết đi bị dân chúng phóng uế thối um một vùng, bởi vì:

Thương dân dân lập đền thờ 
Hại dân dân đái /ị/ ngập mồ thối xương!

Hãy mở toang cánh cửa tháp ngà quyền lực để nghe tiếng dân vang vọng kinh thành những ngày này. Chưa muộn (1).

Kính bút.

(1) Chưa muộn? Vâng về đạo đức con người thì bất cứ lúc nào biết nhận ra lỗi lầm để chấm dứt lỗi lầm đều đáng được hoan nghênh, đón nhận. Nhưng giả sử đảng biết phục thiện, chịu vứt bỏ ngay một điều luật từng làm công cụ cướp đoạt, thì những hậu quả ghê gớm do sự cướp đoạt ấy gây ra dễ gì rũ sạch lâng lâng? 

26-4-2017
(Nguồn: Hà Sĩ Phu, danlambaovn.blogspot.com)

Nguồn https://www.vietcatholicnews.net/News/Html/221288.htm



Vụ ĐồngTâm -JB Nguyễn Hữu Vinh phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A (18-9-2020) https://www.youtube.com/watch?v=7VDOEANPWKA


Vụ Đồng Tâm-Mỹ Đức tháng Tư 2017

** Vụ Đồng Tâm: Trường hợp điển hình của trưng thu đất đai (Kính Hòa, phóng viên RFA 2017.04.17)

* *Các bài viết về Đồng Tâm trên BBC https://www.bbc.com/vietnamese/in-depth-37707946

Diễn biến vụ Đồng Tâm, Mỹ Đức Thứ Bảy, Ngày 15-7-2017

**3000 công an vũ trang bao vây Xã Đồng Tâm vào tháng 1-2020, và bắt đầu tấn công vào nhà ông Lê Đình Kình (83 tuổi) lúc 2 giờ sáng 9-1-2020.

Mật hóa kế hoạch tập kích Đồng Tâm tạo điểm nghẽn cho vụ án? (BBC, 14 tháng 9 2020)

Biến cố Đồng Tâm: Ai soạn ‘kế hoạch 15 ngày quyết thắng’? (VOA, Trân Văn, 01/09/2020)

===


Tội ác Đồng Tâm

Hoàng Xuân Phú

Sáng sớm ngày 9/1/2020, Bộ Công an công bố “Thông báo về vụ việc gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. Trong đó viết:

“Từ ngày 31/12/2019, một số đơn vị của Bộ Quốc phòng phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn, thành phố Hà Nội theo kế hoạch. Trong quá trình xây dựng, sáng ngày 9/1/2020, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, dẫn đến hậu quả 03 cán bộ chiến sĩ Công an hi sinh, 01 đối tượng chống đối chết, 01 đối tượng bị thương.”

Cáo buộc đó hoàn toàn sai sự thật. Bởi cuộc tấn công vào thôn Hoành (thuộc xã Đồng Tâm) diễn ra cách xa Sân bay Miếu Môn mấy cây số, lại bắt đầu vào lúc trời còn tối, khi người người còn đang ngủ, và công việc xây dựng hàng ngày tại Sân bay Miếu Môn còn lâu mới được bắt đầu. Vì thế, không thể có chuyện một số đối tượng tấn công lực lượng chức năng trong quá trình xây dựng tường rào bảo vệ Sân bay Miếu Môn vào sáng ngày 9/1/2020.

Sau màn dối trá dạo đầu ấy, họ tiếp tục tung ra nhiều thông tin sai trái khác, được đài báo đồng thanh truyền tải đến nơi nơi. Tiếc thay, nhiều người đã tin đó là sự thật. 

Khi bị dư luận am hiểu vạch trần thì họ sửa kịch bản. Sửa hết lần này sang lần khác. Mà lần nào cũng tránh xa sự thật. Bởi sự thật tồi tệ đến mức không thể thừa nhận, dù chỉ một phần.

Mục đích của bài viết này là tìm kiếm sự thật, nhằm trả lại công bằng cho người đã khuất, đồng thời cảnh tỉnh những người nhẹ dạ cả tin, vì quá tin lời dối trá mà căm thù và xúc phạm những nạn nhân vô tội. Hơn nữa, cũng giúp những người có lương tâm trong bộ máy điều tra và xét xử tránh lầm đường lạc lối.

1. Cái chết của cụ Lê Đình Kình

“Tối 10/1, Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình. Theo báo cáo của Công an thành phố Hà Nội, khi khám nghiệm tử thi, trên tay của ông Lê Đình Kình cầm giữ quả lựu đạn.”

Đó là thông tin đã được đăng tải nhiều nơi, chẳng hạn như VietnamnetNgười lao độngĐất ViệtCông an Thành phố Hồ Chí MinhNgày nayVTC News

Thử hỏi, một cụ già đã 84 tuổi, lại từng bị công an đá vỡ xương đùi vào năm 2017, thì lấy đâu ra sức lực để chống đối người thi hành công vụ? Cụ bị què chân, nằm trên giường ngủ, thì cầm lựu đạn để làm chi? Đám vận chuyển tử thi từ nhà cụ Kình đến nơi khám nghiệm tử thi có bị trục trặc thần kinh không, mà để mặc người chết cầm giữ quả lựu đạn trên tay suốt thời gian vận chuyển đường xa? Và nếu đúng như vậy, thì tại sao không trưng ra bức ảnh chụp cụ Kình đã chết mà trên tay vẫn cầm quả lựu đạn? Chẳng có khó khăn gì, khi dúi quả lựu đạn vào tay người đã chết để chụp ảnh. Có lẽ công đoạn ấy đã có trong kịch bản, song diễn viên quên diễn, sau khi mọi việc đã qua đi thì mới chợt nhớ ra. Thành thử, đành ngụy tạo ra bức ảnh với 7 quả lựu đạn, trong đó một quả được kèm theo chú thích: “Trên tay Lê Đình Kình” (xem Ảnh 1).

Ảnh 1: Quả lựu đạn với chú thích “Trên tay Lê Đình Kình”

Đi xa hơn nữa, sáng ngày 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang lại tung thêm tình tiết: “Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ.” Thử hỏi, đang nằm trên giường trong phòng ngủ kín mít, chật hẹp (kích thước 2,4 m x 3,6 m), thì cụ Kình ném lựu đạn để tự sát hay sao? Nếu định tự sát, thì cụ chỉ cần rút chốt lựu đạn, chứ việc gì phải gắng ném cho phí sức già?

1.1. Hành vi man rợ

Đang đêm, đám thi hành công vụ đã xộc vào nhà cụ Lê Đình Kình và vãi đạn không thương tiếc. Sáu bức ảnh, từ Ảnh 2 đến Ảnh 7, là mấy ví dụ về vết tích của cái công vụ ấy.

Ảnh 2: Vết tích thi hành công vụ trên cửa nhà cụ Lê Đình Kình
Ảnh 3: Vết tích thi hành công vụ trong phòng khách của nhà cụ Lê Đình Kình
Ảnh 4: Vết tích thi hành công vụ trong phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình
Ảnh 5: Vết tích thi hành công vụ trên ô cửa thoáng ở phòng ngủ của cụ Lê Đình Kình
Ảnh 6: Vết tích thi hành công vụ trên cửa tum nhà cụ Lê Đình Kình
Ảnh 7: Vết tích thi hành công vụ nơi thờ cúng của nhà cụ Lê Đình Kình

Ảnh 8 cho thấy, cụ Kình đã bị tra tấn hết sức dã man. Rùng rợn thay, đầu gối của cụ bị bắn vỡ tung, khiến cẳng chân lủng lẳng, chỉ dính với đùi nhờ phần da thịt còn sót lại. Tôi thành tâm khuyên mọi người Việt, đặc biệt là giới cầm quyền, nghiêm túc xem đoạn video quay cảnh người thân lau thi thể của cụ Lê Đình Kình, để hiểu thêm chút ít về giai đoạn lịch sử Dân tộc mà chúng ta đang sống.

Ảnh 8: Dấu tích tra tấn sau gáy, trên lưng và ở đầu gối cụ Lê Đình Kình

Thử hỏi, cụ Kình có khả năng “cầm giữ quả lựu đạn” trên tay trong suốt quá trình bị tra tấn cho đến khi bị giết hay không? Liệu những kẻ tra tấn cụ có để cụ cầm quả lựu đạn khi chúng tra tấn hay không? Rõ ràng, đó là một sự bịa đặt vô cùng trắng trợn, không chỉ vu khống cụ Lê Đình Kình, mà còn hết sức coi thường dư luận.

Chỉ riêng phát ngôn “Trên tay của Lê Đình Kình vẫn còn một quả lựu đạn, sau khi ném một quả không nổ” đã đủ để lột tả mức trung thực và trình độ tư duy của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang. Và cũng đủ để cảnh tỉnh những ai tin vào các thông tin mà Bộ Công an đưa ra về vụ Đồng Tâm.

Khi đứng ra tuyên bố về vụ Đồng Tâm, để bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ phát đi toàn quốc và ra cả Thế giới, chắc hẳn Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ý thức rất rõ, ông không chỉ thay mặt lãnh đạo Bộ Công an, mà còn thay mặt cả lãnh đạo Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng lẽ ông Quang cho rằng, thể diện của họ chỉ xứng đáng với những thông tin bịa đặt tầm ấy thôi sao?

Cuối cùng, cụ Kình đã bị giết bằng mấy phát súng, trong đó có một phát bắn thẳng vào tim (xem Ảnh 9). Rồi Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, long trọng tuyên bố: Bộ Công an xác nhận người tử vong trong các đối tượng chống đối người thi hành công vụ tại Đồng Tâm là ông Lê Đình Kình.

Chưa hết, thi thể cụ Kình còn bị đem đi và bị mổ dọc từ cổ xuống đáy bụng (xem Ảnh 9).

Thông thường, khi khám nghiệm tử thi, người ta mổ phanh toàn thân nếu cần xác định nguyên nhân cái chết. Trong trường hợp cụ Kình, thì họ đã biết quá rõ tại sao cụ bị chết. Do đó, chẳng cần phải mổ để xác định nguyên nhân.

Nếu mổ để gắp đầu đạn, nhằm phi tang, thì chỉ cần mổ những chỗ bị bắn. Còn nếu mổ để xem cụ Kình có nuốt tài liệu, tang chứng hay không, thì chỉ cần mổ vùng bụng. Mà cũng chẳng cần phải mổ, chỉ cần siêu âm, hay nội soi, thì đã biết rõ là cụ chẳng nuốt gì.

Vậy tại sao lại mổ phanh thây như thế? 

Ảnh 9: Vết đạn bắn vào tim và vết mổ phanh trên thi thể cụ Kình

1.2. Can tội…Vô tội

Khi thông báo về cái chết của đối tượng Lê Đình Kình, phía công an đã khẳng định:

“Lời khai của một số đối tượng bị bắt xác nhận ông Kình là kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm.”

Sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang còn nói với các nhà báo:

“… anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt. Qua quá trình đấu tranh khai thác thì Truyền hình Việt Nam đã vào khai thác và các đối tượng đã khai nhận. Và dưới sự chỉ đạo của Lê Đình Kình. “

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như vậy, thì tại sao không truy tố, bắt giam, rồi đem ra xét xử công khai, theo đúng trình tự đã được pháp luật quy định? Công an đã bắt được hết thảy đàn ông trai tráng liên quan đến vụ việc, thì tại sao không bắt nốt ông già què đã 84 tuổi?

Đơn giản là họ không định bắt. Vì nếu bắt thì phải giam giữ và phải đem ra xét xử. Trong nhà giam, cụ sẽ kiên cường đến mức không thể ép cung. Khi xét xử tại tòa án, cụ sẽ vạch trần những điều sai trái của phía chính quyền một cách chi tiết, rành mạch, với những tư liệu và bằng chứng khó lòng bác bỏBắt cụ thì quá dễ, nhưng giam cụ và xử cụ, rồi thả cụ thì rất khó. Thành thử, họ đã quyết định giết cụ Kình ngay trên giường ngủ của cụ.

Nếu quả thật cụ Kình đã phạm phải những tội như công an đã cáo buộc, thì tại sao lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không khai trừ cụ ra khỏi đảng? Theo thông lệ, đảng viên thường bị khai trừ trước khi bị bắt, và muộn nhất là khai trừ trước khi bị tòa án xét xử. Vậy thì tại sao lại không khai trừ đảng viên Lê Đình Kình trước khi giết, để bị mang tiếng đảng giết đảng viên?

Câu trả lời đơn giản là: Công dân Lê Đình Kình (84 tuổi đời) cũng như đảng viên Lê Đình Kình (58 tuổi đảng) không có tội. Vì thế không thể bắt giam để kết án. Vì thế không thể khai trừ khỏi đảng.

Đọc đến đây, hẳn có người sẽ nói: Đối tượng bị bắt đã khai ra vai trò chủ mưu, cầm đầu nhóm đối tượng gây rối của Lê Đình Kình rồi, tại sao còn bảo là hắn vô tội? Nếu vậy, hãy quan sát dấu vết tra tấn còn lưu lại trên khuôn mặt của Lê Đình Công (Ảnh 10), Bùi Thị Nối (Ảnh 11), Lê Đình Quang (Ảnh 12) và Lê Đình Doanh (Ảnh 13), để mường tượng ra mức độ ép cung. Và nếu thấy chưa đủ, hãy nghe thêm lời kể của cụ bà Dư Thị Thành (vợ của cụ Lê Đình Kình):

“Người ta bắt phải khai ở nhà cầm lựu đạn. Tôi bảo tôi không hề biết quả lựu đạn thế nào, tôi cũng không biết bom xăng thế nào, thì tôi không khai được. Thế là nó tát. Tát suốt, cứ bên nọ sang bên kia. Xong nó cứ thế đá vào hai ống chân.”

Dang tay tát tới tấp một bà cụ, chỉ vì cụ không chịu khai nhận cái điều cụ không hề làm, thì thử hỏi, còn thủ đoạn nào mà chúng không dám sử dụng để ép cung?

 
Ảnh 10: Lê Đình Công Ảnh 11: Bùi Thị Nối
 
Ảnh 12: Lê Đình Quang Ảnh 13: Lê Đình Doanh

Để chứng minh rằng “cũng chính nhóm đối tượng này đã không ngần ngại sẽ giết người, đồng thời chuẩn bị kỹ lưỡng các loại vũ khí, hung khí, vật liệu nổ, nhằm thực hiện kế hoạch cản trở các lực lượng chức năng xây dựng tường rào sân bay Miếu Môn”, VTV đã mời khán thính giả “theo dõi sau đây lời lẽ của bọn họ để thấy rõ bản chất cực đoan, bạo lực và hành động chống đối pháp luật đến cùng”:

“Chúng tôi xin thề rằng, nếu chúng tôi không giết được từ 300 đến 500 thằng, thì chúng tôi không phải là người dân Đồng Tâm nữa.”

“Có tới 200 lít xăng, phải có tới là hai chục bình ga mới tinh. Và còn có những loại thuốc nổ, bởi vì chúng tôi ở gần xưởng sản xuất thuốc nổ.”

Trên thực tế, khi bị tấn công vào ngày 9/1/2020, người dân Đồng Tâm đã không giết một ai, chứ đừng nói là “từ 300 đến 500 thằng”. Vả lại, số tang vật mà công an thu được chỉ bao gồm “8 quả lựu đạn, 38 chai bom xăng, 20 lít xăng, 12 tuýt sắt đầu gắn dao nhọn, 3 hộp pháo sáng, 1 khẩu súng bắn điện, 1 thanh kiếm, 1 búa” (xem Ảnh 14 và Ảnh 15). Đặc biệt, không hề có một khẩu súng bắn đạn nào. Qua đó ta thấy, mấy vị nọ cũng chỉ ba hoa, chém gió cho sướng miệng. Âu cũng là một cách dọa dẫm của kẻ yếu thế, theo kiểu “mày mà vào đây thì tao giết”, với hy vọng vì nghe dọa mà đối phương chẳng xông vào. Song, nếu đối phương vẫn xông vào, thì chính kẻ dọa giết lại run rẩy chờ chết.

 
Ảnh 14: Tang vật công an thu được tại Đồng Tâm ngày 9/1/2020
Ảnh 15: Bom xăng Đồng Tâm

Trích thông tin trên để thấy rằng: Hẳn đã dày công tìm kiếm, sưu tầm, nhưng cơ quan công an vẫn không thể trưng ra bất cứ đoạn ghi hình hay ghi âm nào về phát ngôn của chính bản thân cụ Lê Đình Kình, trong đó thể hiện cụ là “kẻ cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm”. Chứng tỏ, cụ Kình chưa bao giờ phát ngôn như vậy.

Điều đó hoàn toàn khớp với thông tin của Đại tá công an về hưu Nguyễn Đăng Quang:

“Tôi đã nhiều lần về Đồng Tâm tiếp xúc với cụ Kình. Trao đổi và tâm sự với tôi về cách hóa giải mâu thuẫn trong xã hội, cụ thể là cuộc khủng hoảng Đồng Tâm, cụ xác quyết 3 nguyên tắc sau:

 – Một là: Dứt khoát phải loại bỏ sử dụng vũ lực. Cụ nói: ‘Vũ lực chỉ nên sử dụng với kẻ thù khi không còn con đường nào khác. Tuyệt đối không bao giờ dùng vũ lực để chống lại nhân dân. Bạo lực sẽ đẻ ra bạo lực, đó là quy luật và hậu quả tất yếu.’

 – Hai là: Con đường pháp lý (kiện ra Tòa án) bao giờ cũng tốt hơn bạo lực. Song chỉ nên dùng đến nó một khi phương thức đối thoại, hòa giải thất bại.

 – Ba là: Phải đối thoại, hòa giải. Mọi mâu thuẫn và bất ổn trong xã hội đều có thể được hóa giải thông qua đối thoại, hòa giải. Nhưng đối thoại phải thực tâm, và phải nghiêm túc thực thi những điều đã thỏa thuận. Đây là nguyên tắc tối thượng.”

Bản thân tôi, khi cùng với một số người đến thăm cụ Lê Đình Kình vào dịp Tết năm 2018, tôi có cảm giác vừa kính phục, vừa hơi… tẻ. Kính phục bởi được chứng kiến trí tuệ minh mẫn và khả năng diễn đạt khúc triết của cụ. Tẻ vì như thể phải tiếp xúc với một cán bộ tuyên giáo, phát biểu nào cũng dựa vào chủ trương, đường lối của đảng và nhà nước, lập luận nào cũng căn cứ vào quy định của pháp luật. Một người như vậy, thì làm sao có thể “cầm đầu, chủ mưu các hoạt động chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật trong vụ việc tại Đồng Tâm”?

Có lẽ, tội lớn nhất của cụ Kình là… vô tội. Bởi nếu có tội thì cụ đã bị bắt, bị xét xử và bị kết án. Và nếu như vậy thì bây giờ cụ vẫn còn sống. Song vì vô tội, nên cụ buộc phải chết.

Phải chăng, bi kịch lớn nhất của cụ Lê Đình Kình là phải sống trong một thể chế, mà người quá tốt cũng buộc phải chết?

1.3. Thông điệp sát nhân

Vì được nhân dân hết lòng yêu mến, tín nhiệm và trở thành người lãnh đạo tinh thần trong cuộc đấu tranh của nhân dân Đồng Tâm, cụ Lê Đình Kình buộc phải hứng chịu cơn thịnh nộ của chính quyền đối với Đồng Tâm. Và người dân Đồng Tâm đã làm những điều mà thế lực cầm quyền khó lòng dung thứ.

Họ đã dám đấu tranh giữ đất. Đối với thế lực cương quyết giữ lại trong Hiến pháp quy định “Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, thì đấu tranh giữ đất có thể bị quy kết là chống lại Hiến pháp.

Họ đã dám thành lập và gắn bó với nhau trong Tổ đồng thuận. Đối với thế lực luôn run sợ trước bốn chữ “đa nguyên đa đảng”, thì Tổ đồng thuận đã trở thành mầm mống, hay tiền lệ của “đa nguyên đa đảng”. Vì vậy vừa ghét vừa sợ, đến mức gọi Tổ đồng thuận là “ổ nhóm tội phạm có tổ chức”.

Họ đã dám cứng đầu, không chịu ngoan ngoãn nghe theo chính quyền. Lại còn dám đoàn kết với nhau để vạch trần những hành vi sai trái của chính quyền. Đối với một đảng cầm quyền phạm quá nhiều điều sai trái và tham nhũng đã trở thành đặc tính đặc trưng, thì đoàn kết chống lại sai trái, chống lại tham nhũng có thể bị coi là câu kết với nhau để chống lại đảng, chống lại chính quyền. Đã thế, bao nhóm đồng bào tứ xứ lại kéo đến Đồng Tâm thăm hỏi và tán dương, cứ như thể đổ thêm dầu vào lửa.

Họ đã dám bắt giữ một số cảnh sát được điều đến Đồng Tâm. Nghiêm trọng hơn, các cảnh sát lại tỏ ra hợp tác, buông súng để cho dân bắt. Đó là điều vô cùng tối kị đối với một chính quyền tồn tại nhờ bạo lực vũ trang.

Họ còn dám đòi Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký tên và lăn tay vào bản cam kết. Đối với giới cầm quyền vốn coi thường người dân, quen bắt nạt dân, thì đó là hành vi xúc phạm nặng nề, khiến họ cảm thấy rất bị mất mặt.

Thêm vào đó là những lời ba hoa ngớ ngẩn trong phút chốc bốc đồng. Chúng chẳng hề hù dọa được chính quyền, mà chỉ giúp chính quyền có cớ để kết tội bà con Đồng Tâm và biện minh cho cuộc tấn công vào Đồng Tâm. Những phát ngôn như vậy chẳng đem lại lợi lộc gì cho Đồng Tâm, mà ngược lại, chỉ khiến thế lực cầm quyền thêm căm tức, coi đó là hành vi xấc xược, khinh thường và thách thức chính quyền.

Ấm ức dồn nén, gia tăng quyết tâm trả thù. Ban đầu, tranh chấp đất đai dẫn đến xung đột, hận thù. Còn bây giờ, tại Đồng Tâm, tranh chấp đất đai chỉ là cái cớ để ra tay trả thù.

Cách tra tấn và giết hại dã man, rồi mổ phanh thi thể của cụ Lê Đình Kình thể hiện rõ ràng quyết tâm và ý chí trả thù.

Bị bắn vỡ tung đầu gối, bị bắn thẳng vào tim và bị chết phanh thây, đó không chỉ là cách hành hạ và làm nhục cụ Kình cho thỏa mãn khát vọng trả thù. Hành động vô cùng dã man một cách hết sức lộ liễu cho thấy, đó cũng là thứ ngôn ngữ hình ảnh có chủ ý để đưa vào thông điệp gửi đi toàn quốc, tới tất cả những ai có ý định cứng đầu trước cường quyền như cụ Kình.

Một số người thắc mắc: Tại sao lại tấn công Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020 – một ngày sát Tết?

Phải chăng, cuộc tấn công ấy phải đi kèm để cân đối lại một sự kiện diễn ra chưa đầy một ngày trước? Đó là vào chiều 8/1/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ra thông cáo: Nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải và nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân vi phạm đến mức phải xem xét kỷ luật trong vụ Thủ Thiêm. Thông cáo ấy khiến nhiều người phấn chấn, bởi nghĩ rằng quả thật công cuộc đốt lò nhằm chống tham nhũng, nên bây giờ đốt cả củi gộc. Hơn nữa, nó còn khiến những người mất đất thêm tin tưởng, học tập dân Thủ Thiêm kiên trì đòi đất.

Phải chăng, cuộc tấn công Đồng Tâm và giết hại cụ Kình là lời cảnh cáo muôn dân, đừng có mơ giữa ban ngày, mà dại dột đua nhau đòi đất?

2. Cái chết của ba sĩ quan công an

Ba sĩ quan công an bị chết là Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân và Trung úy Phạm Công Huy. Họ được lãnh đạo và đài báo quốc doanh ca ngợi đã dũng cảm hi sinh. Song liệu bản thân họ có tự hào và hài lòng với sự hi sinh của mình hay không? 

Nghe nói Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân đã từng viết: “Chiến tranh bảo vệ tổ quốc không đáng sợ, nhưng đáng sợ là máu đổ chính vì người dân mình.” Nếu quả thật anh đã từng viết như vậy, thì khó có thể tự hào về việc mình bị chết khi tham gia tấn công người dân Đồng Tâm. Và cũng khó có thể hài lòng, khi ngẫm nghĩ nơi chín suối về cái chết của bản thân.

2.1. Quyết định bất thường

Ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số 41/QĐ-CTN, truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất cho ba cá nhân Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy, vì “đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc” (xem Ảnh 16). Về phần mình, với Quyết định này, Chủ tịch nước cũng lập chiến công với ba kỷ lục.

Kỷ lục thứ nhất là về thời gian: Quyết định được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký chỉ một ngày sau khi ba sĩ quan công an lập chiến công (vào ngày 9/1/2020). Như vậy là nhanh gấp 4 lần so với thời gian mà Chủ tịch nước Trần Đại Quang cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 21/2/2018) truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì cho Thượng úy công an Lưu Minh Thức, đã hi sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người (vào ngày 17/2/2018). Và nhanh gấp 3 lần so với thời gian mà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cần để xem xét và ký quyết định (vào ngày 10/7/2014) truy tặng Huân chương Chiến công cho các sĩ quan và chiến sĩ quân đội đã hi sinh và bị thương trong vụ rơi máy bay Mi-171 (xảy ra vào sáng 7/7/2014). Về lý mà nói, phải có khoảng thời gian cần thiết để xem xét thận trọng, xác định rõ nguyên nhân cái chết cũng như chất lượng chiến đấu, trước khi quyết định truy tặng Huân chương Chiến công. Bởi không thể trao Huân chương Chiến công cho những người đã chết chỉ vì làm sai quy định, hay làm trái mệnh lệnh chiến đấu. Vậy mà, trong trường hợp này, ba sĩ quan công an mới bị chết ngày 9/1/2020, thì ngay ngày hôm sau, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công cho họ, trước cả khi Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình ký Quyết định số 70/QĐ-TTg vào ngày 11/1/2020 về việc cấp bằng “Tổ Quốc ghi công” cho ba liệt sĩ.

Kỷ lục thứ hai là về sự hào phóng: Cả sĩ quan cấp tá Nguyễn Huy Thịnh và hai sĩ quan cấp úy Dương Đức Hoàng Quân, Phạm Công Huy đều được Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Nhắc lại rằng: Thượng úy công an Lưu Minh Thức chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì. Với 18 sĩ quan quân đội đã hi sinh trong vụ rơi máy bay Mi-171, chỉ có ba sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất và hai sĩ quan cấp tá được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, còn tất cả 13 sĩ quan cấp úy đều chỉ được truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Chứng tỏ, chiến công tấn công người dân Đồng Tâm được đánh giá cao hơn hẳn so với chiến công quốc phòng và chiến công truy bắt đối tượng liên quan đến vụ án giết người.

Kỷ lục thứ ba là về tính tiên phong: Trong Quyết định số 41/QĐ-CTN ký ngày 10/1/2020, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gọi Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh là Đại tá, gọi Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân là Trung úy, và gọi Trung úy Phạm Công Huy là Thượng úy (xem Ảnh 17), mặc dù một ngày sau đó (tức 11/1/2020) Bộ trưởng Bộ Công an mới ký quyết định thăng cấp bậc hàm cho ba người ấy.

Không dừng lại ở đó, mấy ngày sau Dương Đức Hoàng Quân lại được truy phong tiếp lên Thượng úy và Phạm Công Huy được truy phong tiếp lên Đại úy. Tức là, hai sĩ quan cấp úy được truy phong hai cấptrong khi liệt sĩ thường chỉ được truy phong một cấp mà thôi. Vì sao?

Ảnh 16: Quyết định truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất
Ảnh 17: Danh sách các cá nhân được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất

2.2. Hiệu quả hi sinh

Tại sao cái chết của ba sĩ quan công an lại được đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”?

Hãy tưởng tượng xem, sau khi cụ Lê Đình Kình bị giết dã man như vậy, thì điều gì sẽ xảy ra, nếu phía công an chẳng có ai bị chết? Đương nhiên, dư luận sẽ lên án hành vi man rợ, chà đạp thô bạo Hiến pháp, pháp luật. 

Nếu chỉ có một công an bị chết, thì vẫn chưa đủ để xoa dịu dư luận. Nhưng khi ba công an bị chết thì câu chuyện đã khác.

Nếu chỉ có Thiếu úy và Trung úy bị chết, thì có thể còn bị gièm pha, rằng chẳng qua sa sẩy do còn ngờ nghệch. Nhưng khi Thượng tá, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô cũng bị chết, thì khó có thể quy kết cho khả năng và trình độ chiến đấu kém cỏi.

Đặc biệt, nếu ba công an bị chết vì đạn hay mìn, thì có lẽ chỉ gây thương xót. Nhưng khi họ chết vì bị thiêu cháy, như trong Ảnh 18 và Ảnh 19, thì sẽ khiến hàng triệu người căm thù cụ Lê Đình Kình và những người dân Đồng Tâm. Cơn phẫn nộ ấy mạnh đến mức xóa tan những băn khoăn về cuộc tấn công và việc giết hại cụ Kình một cách hoàn toàn phi pháp.

Ảnh 18: Xác một người chết cháy và vết tích cửa sổ bị phá từ phía trong nhà phá ra
Ảnh 19: Bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương

Nghĩa là, cái chết của ba sĩ quan công an đã giúp nhà cầm quyền biến sai thành đúng, chẳng những tránh được dư luận lên án, mà còn được nhiều người ủng hộ.

Hiệu quả cao như vậy, thì đương nhiên phải đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”.

2.3. Cái chết kỳ dị

Sau khi tung ra mấy kịch bản hoang đường về nơi chết và lý do chết của ba sĩ quan công an, sáng 14/1/2020, Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã thông báo cho báo chí về tình huống ba sĩ quan công an hi sinh ở Đồng Tâm như sau:

“Đối tượng chạy vào nhà Lê Đình Chức, và từ nhà Lê Đình Chức khi bị chúng ta truy đuổi thì chạy sang nhà Lê Đình Hợi. Trong quá trình truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 mét, anh em ngã xuống hố. Có một số thông tin các đối tượng đào hố chông, thì hoàn toàn ở dưới không có chông. Là hố kỹ thuật. Hố không có nắp, như một số vụ tai nạn hố ga. Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.”

Tại sao cả ba sĩ quan công an lại cùng ngã xuống hố kỹ thuật như vậy?

Có ý kiến cho rằng vì không tiến hành trinh sát, nên không biết có cái hố kỹ thuật nằm ở vị trí ấy. Nói như vậy là coi thường ý thức và khả năng tổ chức chiến đấu của lãnh đạo Bộ Công an. Thời chiến tranh, bộ đội phải vượt qua nhiều hàng rào dây thép gai dày đặc bom mìn và nhiều vòng canh gác cẩn mật để trinh sát cơ sở địch. Vậy thì bây giờ, khó khăn gì có thể ngăn cản công an trinh sát nhà dân giữa lòng hậu phương? Nếu không thể quan sát trực tiếp từ mấy nhà trong xóm, thì cũng có thể dùng các thiết bị kỹ thuật thông dụng để quan sát từ xa.

Tôi chụp Ảnh 20 (panorama) khi đang đứng ở miệng hố kỹ thuật. Do đó, nếu ta nhìn thấy khu vực nào trong ảnh, thì ngược lại, từ khu vực ấy cũng có thể quan sát miệng hố kỹ thuật. Qua đó ta thấy, có thể quan sát miệng hố kỹ thuật từ rất nhiều vị trí. Nếu không quan sát từ ngôi nhà phía trước, thì chỉ cần cho một chiếc flycam bay lên là có thể ghi hình rõ ràng sân thượng nhà ông Chức cùng hố kỹ thuật. Vậy nên, những người lên kế hoạch tấn công Đồng Tâm phải biết về sự tồn tại của cái hố kỹ thuật ấy.

Ảnh 20: Ảnh chụp panorama từ miệng hố kỹ thuật

Lại có ý kiến cho rằng, ba sĩ quan bị rơi xuống hố kỹ thuật vì trời quá tối, mà lại không được trang bị đèn chiếu sáng. Nói như vậy khác nào chê lãnh đạo Bộ Công an vừa vô trách nhiệm, vừa ăn chặn kinh phí trang bị khí tài, khiến chiến sĩ xung trận không được trang bị những dụng cụ tối thiểu. Thực ra, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối, thậm chí nhiều khi đèn pha còn chiếu thẳng vào nơi đó. Và khu vực ấy cũng không hề bị khói mịt mù bao phủ. Ảnh 21 là bằng chứng rõ ràng cho điều đó. Hình ảnh này được trích ra từ video clip (tại thời điểm 00:31) của chương trình thời sự VTV, được đăng lại trên nhiều báo, ví dụ như trong bài “Thu giữ lựu đạn, bom xăng, bắt các đối tượng gây rối ở xã Đồng Tâm” đăng trên Vietnamnet, hay trong bài “Diễn biến vụ Đồng Tâm: Bắt các đối tượng gây rối” đăng trên báo Đất Việt. (Để thấy quả thật quang cảnh trong Ảnh 21 tương ứng với khu vực xung quanh hố kỹ thuật, hãy so sánh nó với Ảnh 22, được chụp vào ban ngày.) Cho nên, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật.

Vậy mà vẫn ngã xuống hố, rồi lại được đánh giá là “chiến công đặc biệt xuất sắc”… Điều đó chứng tỏ, hiệu quả hi sinh đã được đánh giá cao hơn hẳn chất lượng và hiệu quả chiến đấu.

Ảnh 21: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật khi xảy ra cuộc tấn công
Ảnh 22: Quang cảnh xung quanh khu vực hố kỹ thuật vào ban ngày

Lẽ ra, cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm trong toàn lực lượng công an, để tránh tái diễn những sai lầm chết người tương tự. Nhưng ngược lại, theo yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,  Đảng ủy Công an Trung ươngBộ Tư lệnh Cảnh sát cơ độngCục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn của Bộ Công an, và Công an các tỉnh lại phát động phong trào học tập ba liệt sĩ đã hi sinh ở Đồng Tâm.

Học tập cái gì? Phương pháp rơi xuống hố ư? Không, thứ cần học không phải là phương pháp và kinh nghiệm chiến đấu, mà chỉ là thái độ chấp nhận hi sinh.

Điều đó cho thấy, khi đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang mang tên nhân dân chính là nhân dân, thì thứ thế lực cầm quyền muốn có nhất ở các sĩ quan và chiến sĩ không phải là kỹ năng và hiệu quả chiến đấu, mà là bản năng tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh bất chấp đúng sai, và thái độ nghiễm nhiên chấp nhận hi sinh cả khi phi nghĩa. Chỉ có như vậy, thì họ mới chịu chĩa súng vào đầu dân và chĩa cả vào nhau, sẵn sàng bóp cò mỗi khi có lệnh.

Khi về nơi chín suối, hẳn các liệt sĩ đã kịp nhận ra mức độ hài hước của khẩu hiệu “Còn đảng còn mình”. Bởi đảng vẫn còn, mà mình chẳng còn.

2.4. Đội hình quái lạ

Theo Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, “trong quá trình truy đuổi, một tổ công tác gồm ba người đã hi sinh”. Ba người ấy là:

 – Thượng tá Nguyễn Huy Thịnh, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

 – Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân, cán bộ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an;

 – Trung úy Phạm Công Huy, cán bộ Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Thành phố Hà Nội.

Tại sao lại sinh ra một tổ công tác với đội hình lại quái lạ như vậy?

Trung đội trưởng, Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng đi đâu, mà để Phó Trung đoàn trưởng phải trực tiếp chỉ huy một cán bộ cấp tiểu đội? Sĩ quan, chiến sĩ trẻ trung đi đâu, mà để một Thượng tá 48 tuổi phải lạch bạch đuổi theo mấy gã nông dân? Tại sao Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô không chốt ở vòng ngoài để chỉ đạo chung, mà lại sa đà truy đuổi mấy đối tượng, để rồi ngã xuống hố kỹ thuật?

Tại sao lại phân công một cán bộ chữa cháy vào tổ ba người để truy đuổi đối tượng? Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giải thích: “Về việc tại sao tổ công tác có cả cán bộ phòng cháy chữa cháy hi sinh, thì lực lượng này là để xử lý tình huống các đối tượng có bom xăng, bùi nhùi…” Song chỉ những đầu óc ngây ngô mới có thể thỏa mãn với lời giải thích ấy. Bởi lực lượng tấn công vào Đồng Tâm không thương dân đến mức lo chữa cháy nhà dân, và người dân cũng không dại dột đến mức tự phóng hỏa đốt nhà mình. Thành thử, nếu người dân có ném cái gọi là bom xăng (mà thực chất chỉ là mấy chai bia Hà Nội chứa xăng, được bịt nút bằng ni lông, không hiểu cháy kiểu gì – xem Ảnh 15) và bùi nhùi, thì cũng chỉ ném chúng ra đường, nên cùng lắm chỉ gây ra mấy đám cháy tượng trưng trên mặt đường, một lát sau sẽ tự tắt ngấm, hà tất phải cần đến cán bộ chữa cháy. (Hãy xem các video clip về biểu tình có bạo loạn ở trong và ngoài nước để thấy, chẳng có lính cứu hỏa nào lao vào dập mấy đám cháy trên mặt đường do bom xăng gây ra cả.)

Thông thường thì lính cứu hỏa chỉ đứng ở vòng ngoài, đợi khi có đám cháy to thì mới xông vào chữa cháy. Hơn nữa, lính cứu hỏa không chữa cháy một mình, mà thường sát cánh với nhiều đồng đội cùng tổ chữa cháy, những người đã từng cùng nhau dày công luyện tập hiệp đồng tác chiến. Vậy thì, tại sao lại tách riêng một mình cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy, rồi phân vào một tổ với hai người xa lạ, để truy bắt đối tượng?

Không riêng Trung úy Phạm Công Huy, mà Thiếu úy Dương Đức Hoàng Quân cũng bị tách khỏi đội hình gần gũi. Thành thử, nếu có điều bất trắc xảy ra với họ, thì đồng đội thân thiết khó lòng hay biết. Chính vì thế, Huy đã ngã xuống từ khi trời chưa sáng, mà đến lúc họp giao ban hàng ngày Đội trưởng của Huy (Trung tá Nguyễn Như Ý) mới nhận được tin, và vẫn không tin, nên phải liên tục gọi điện thoại nhiều nơi để xác minh. Nghĩa là, khi ngã xuống, gần Huy chẳng có ai là đồng đội thân thuộc (cùng Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 3).

Thật khó mà tìm được lý do chính đáng để biện minh cho việc lập ra một tổ công tác ba người với thành phần quái lạ như vậy. Tuy nhiên, nếu coi hi sinh và gây căm thù là đích, thì đội hình ấy lại có được mấy lợi thế như sau.

Một là, một tổ với ba người xa lạ thì chẳng gắn bó, khó phối hợp ăn ý, và không có ràng buộc tình cảm, nên dễ bị hi sinh hơn.

Hai là, tính mạng Thượng tá Phó Trung đoàn trưởng cao giá hơn hẳn tính mạng mấy sĩ quan cấp úy. Vì thế, tác dụng gây căm thù cũng cao hơn. Ngoài ra, trước khi chết, sĩ quan cấp cao còn có thể thi hành nhiệm vụ tuyệt mật, khó lòng trao cho sĩ quan trẻ với tâm hồn còn trong sáng.

Ba là, lính cứu hỏa được đào tạo để chữa cháy và cứu người trong những hoàn cảnh đời thường, nhưng khi bản thân bị giết thì khả năng tự vệ rất thấp. Đặc biệt, lính cứu hỏa có thể mang theo, hoặc buộc phải mang theo những thứ có thể gây cháy, để rồi chúng có thể trở thành nhiên liệu thiêu cháy chính bản thân và người khác, tương tự như hoàn cảnh được đề cập trong bài “Đồng Tâm: Lính bị ‘nướng’ 1000 độ?” của Trung Hiếu. Mặt khác, cán bộ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là thành phần ít bị tai tiếng nhất trong lực lượng công an, nên dư luận càng thương cảm nếu bị giết hại. Hơn nữa, cán bộ chữa cháy Phạm Công Huy đang có đứa con thơ mới 6 tháng tuổi, nên cái chết của Huy lại càng có tác dụng gây căm thù trong nhân dân, đối với những ai bị Bộ Công an cáo buộc là hung thủ, hay đã ra lệnh cho hung thủ. Nghĩa là, chọn Trung úy chữa cháy Phạm Công Huy vào tổ đặc vụ sẽ đồng thời có được mấy lợi thế đặc biệt cho đích hi sinh và gây căm thù.

2.5. Tìm kẻ sát nhân

Một vài suy luận trong phần này tựa trên hai tiên đề sau.

Tiên đề 1: Cả ba sĩ quan công an đều bị chết cháy trong hố kỹ thuật nằm giữa nhà Lê Đình Chức và nhà Lê Đình Hợi.

Tiên đề 2: Xác người chết cháy trong Ảnh 18 và hai đám tro trong Ảnh 19 là phần còn lại của ba sĩ quan công an sau khi bị thiêu cháy trong hố kỹ thuật.

Đương nhiên, nếu Tiên đề 1 hoặc Tiên đề 2 sai, thì kết luận tựa vào đó cũng có thể sai. Tuy nhiên, có cơ sở để tin vào hai tiên đề trên.

Một mặt, Tiên đề 1 phù hợp với công bố của Thứ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang vào ngày 14/1/2020: “Từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi, giữa 2 nhà có một hố thông gió, hố kỹ thuật khá sâu, gần 4 m, anh em ngã xuống hố… Lập tức, các đối tượng sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt.”

Mặt khác, Tiên đề 1 và Tiên đề 2 phù hợp với hiện trường được phản ánh qua Ảnh 18 và Ảnh 19. Trong Ảnh 18, ta thấy một xác người chết cháy, vừa được kéo lên từ hố kỹ thuật. Trong Ảnh 19, ta thấy có hai đám tro đen nằm gần miệng hố kỹ thuật. Nếu chỉ có vậy thì khó có thể xác định đó là đám tro gì. Nhưng nếu để ý kỹ, có thể nhìn thấy bên cạnh hai đám tro có ba que hương và trên mỗi đám tro có một que hương. Điều đó cho thấy, mỗi đám tro là tàn tích của một người mới chết. Hơn nữa, quan sát miệng hố kỹ thuật trong Ảnh 24 và các bậc thang trong Ảnh 25, ta thấy có tro đen rơi vãi trên đó. Chứng tỏ, hai đám tro đen đã được đem lên từ hố kỹ thuật. Việc ba người công an trong ảnh bày hoa quả và thắp hương cúng cho thấy, đó là những gì còn sót lại của đồng đội họ.

Có hai câu hỏi cần được trả lời:

(1) Vì sao ba sĩ quan công an bị rơi xuống hố kỹ thuật?

(2) Ai là người đã thiêu cháy ba sĩ quan công an và thiêu bằng cách nào?

Để trả lời hai câu hỏi trên, ta sẽ lần lượt khẳng định bốn mệnh đề sau.

Mệnh đề 1: Người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật.

Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tuyên bố, rằng “anh em ngã xuống hố”. Nếu thông tin của ông Quang chính xác, thì từ đó có thể suy ra ngay Mệnh đề 1. Tuy nhiên, thông tin này của ông Quang lại là điều mà ta sẽ phủ định trong Mệnh đề 2. Vì thế, chỉ có thể vận dụng tuyên bố của ông Quang một cách gián tiếp. Giả thiết rằng, tuy phát ngôn sai, nhưng với tư cách Thứ trưởng Bộ Công an – cơ quan lên kế hoạch và chỉ huy cuộc tấn công vào Đồng Tâm, ông Quang biết rõ sự thật đã diễn ra. Do đó, việc ông Quang không cáo buộc các đối tượng đã đẩy ba sĩ quan công an xuống hố kỹ thuật, mặc dù đã cáo buộc họ “sử dụng bom xăng, đổ xăng ra can tưới xuống và đốt”, là bằng chứng cho thấy người dân Đồng Tâm không hề đẩy ba sĩ quan công an xuống hố.

Thực ra, chẳng cần phải dựa trên giả thiết đã nêu, thì lập luận như sau cũng đủ: Khi công an được trang bị súng đạn tối tân và luôn sẵn sàng nhả đạn, còn người dân Đồng Tâm không hề có súng bắn đạn, thì họ không thể đến gần để đẩy cả ba sĩ quan xuống hố. Vết đạn trong nhà cụ Lê Đình Kình (từ Ảnh 2 đến Ảnh 7), trên tường nhà ông Lê Đình Công (Ảnh 23) và trên gác thượng nhà ông Lê Đình Chức (xem Ảnh 26) cho thấy, lực lượng tấn công bắn không hề tiếc đạn. Vì vậy, người dân Đồng Tâm ra khỏi cửa còn không nổi, chứ đừng nói chuyện tiếp cận lực lượng tấn công khi họ hành sự.

Ảnh 23: Vết đạn trên tường nhà ông Lê Đình Công (chỉ có thể bắn qua cửa sổ nhà cụ Kình)

Mệnh đề 2: Không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Sau đây, ta trình bày một cách lập luận dựa trên quan sát cái cửa sổ trên hố kỹ thuật. Lập luận này dài hơn hẳn cách chứng minh sẽ được trình bày sau Mệnh đề 4, nhưng lại là phương án mà nhiều người cũng có thể nhận ra.

Như đã viết trong phần 2.3, khi xảy ra cuộc tấn công thì khu vực xung quanh hố kỹ thuật không hề tối và cũng không hề bị khói mù bao phủ. Do đó, ba sĩ quan công an phải nhìn thấy hố kỹ thuật. Tuy nhiên, ta cứ xét cả hoàn cảnh ba người đó không nhìn thấy hố kỹ thuật.

Trước hết, xét trường hợp hướng chuyển động giống như Trịnh Bá Phương đã tường thuật: “Hôm 9/1 CSCĐ đã phá cửa tầng 1 nhà ông Hợi, rồi trèo lên tầng 2, tiếp đó họ phá cửa sổ nhà ông Hợi để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức.” Lưu ý rằng tình tiết “họ phá cửa sổ nhà ông Hợi (từ trong nhà phá ra) để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức” phù hợp với vết tích cửa sổ bị phá trong Ảnh 18. Trong trường hợp này, hình ảnh của ba người lấp ló sau khung cửa sổ trong Ảnh 24 cho thấy, cửa sổ không đủ rộng để có thể nhìn thấy hết cả ba cơ thể, nếu họ đứng sát nhau và cùng quay về phía hố kỹ thuật. Trên thực tế, cửa sổ rộng chưa đến 80 cm. Vì vậy, ba công an không thể chui lọt qua cửa sổ cùng một lúc. Chỉ có hai cách để vượt qua cửa sổ: 

 – Cách thứ nhất, đứng một chân trên nền nhà và chân kia vắt qua cửa sổ. Trường hợp này chỉ xảy ra khi họ tưởng sân thượng nhà ông Chức tiếp giáp trực tiếp với bức tường có cửa sổ của nhà ông Hợi, tức là họ không hề biết có hố kỹ thuật ở sau cửa sổ. 

 – Cách thứ hai, trèo lên và đứng cả hai chân trên bục cửa sổ, đồng thời hai tay vịn hai bên khung cửa sổ, rồi nhảy xuống. 

Với cả hai cách, chỉ một người đã chiếm hết bề rộng của cửa sổ. Nghĩa là, chỉ có thể từng người vượt qua một. Do đó, khi người thứ nhất tìm cách vượt qua và bị rơi xuống hố kỹ thuật, thì đương nhiên hét lên, khiến hai người kia lùi lại, không vượt qua nữa.

Lưu ý rằng, nếu đứng trên bục cửa sổ nhà ông Hợi, cao hơn sân thượng nhà ông Chức khoảng 85 cm, thì có thể dễ dàng nhảy qua chiều rộng khoảng 77 cm của hố kỹ thuật, để sang sân thượng.

Bây giờ ta xét trường hợp hướng chuyển động ngược lại, như Thứ trưởng Lương Tam Quang đã tường thuật, rằng “truy bắt đối tượng từ nhà Lê Đình Chức sang nhà Lê Đình Hợi”. Tức là truy đuổi theo hướng từ sân thượng nhà ông Chức, vượt qua hố kỹ thuật để chui vào cửa sổ của nhà ông Hợi. Trường hợp này khó xảy ra, vì không dễ vượt qua cùng một lúc cả chiều rộng khoảng 77 cm của hố kỹ thuật, lẫn chiều cao khoảng 85 cm của bục cửa sổ (xem Ảnh 24 và Ảnh 25). Hơn nữa, trong đêm bị tấn công thì cửa sổ ấy đóng (nên mới có dấu vết phá cửa trong Ảnh 18). Vì vậy, người dân Đồng Tâm không thể chạy trốn qua lối ấy, và do đó cũng chẳng có lý do gì khiến ba công an phải truy đuổi họ theo lối ấy. Nhưng nếu vì một lý do đặc biệt nào đó, mà cuộc rượt đuổi vẫn xảy ra theo lối ấy, thì vẫn có thể khẳng định, không thể có chuyện cả ba công an đồng thời nhảy qua hố kỹ thuật. Bởi chỉ từng người vượt qua hố, thì mới có hy vọng chui lọt vào ô cửa sổ hẹp chưa đến 80 cm. Và cũng tương tự như trường hợp trên, khi người thứ nhất bị rơi xuống hố kỹ thuật thì hét lên, khiến hai người kia lùi lại…

Tóm lại, trong cả hai trường hợp đã xét, không thể có chuyện cả ba sĩ quan công an cùng bị ngã xuống hố kỹ thuật.

Advertisement

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: