Trần Hoàng Blog

►Mark Moyar – Điểm sách Tháng 4 Đen của George Veith

Posted by hoangtran204 trên 22/04/2021

“Tháng Tư Đen” là một lời nhắc nhở đúng mức với chính phủ Mỹ về thiệt hại nhân mạng khi bỏ rơi đồng minh đang bị bao vây. (Mỹ đã bắt tay với Trung Cộng để bao vây LX, nên quyết định rút khỏi VN. Trần Hoàng)

Để bảo vệ nguồn cung cấp dầu hỏa từ Trung Đông, tất cả viện trợ quân sự của Mỹ dành cho VNCH đã được chuyển qua viện trợ cho Israel kể từ năm 1973 và 1974. Kể từ 1974-2025, mỗi năm, Do Thái nhận được 3,8 -4,5 tỷ đô la của Mỹ.

Viện trợ quân sự của Mỹ dành cho VNCH từ 1964-1968 là 300 triệu-600 triệu đô la. Khi có chương trình Việt Nam hoá chiến tranh, kể từ 1969-1972, viện trợ tăng dần 1,5 tỷ đô la . Sau khi ký Hiệp định Paris 27/1/1973, Mỹ đột ngột giảm viện trợ quân sự cho VNCH vào tháng 9/1973, viện trợ quân sự 9/1973- 9/1974 đã cắt giảm chỉ còn 700 triệu; và kể từ 9/1974-1/1975, chỉ còn 300 triệu đô la. Thiếu hụt xăng dành cho mấy bay, thiếu hụt đạn dược và tiếp liệu, VNCH đã không còn tung ra các cuộc hành quân kể từ 9/1973, và kiệt quệ vào 3/1974.

Kể từ khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao với CsVN 1995, Mỹ đã viện trợ cho cộng sản Ba Đình 2,8 tỷ đô la / 1 năm. Món viện trợ này rất kín đáo, giả vờ để cho hai ngân hàng Worldbank và ADB cho vay, mỗi nơi cấp 1 tỷ đô la/1 năm (Tổng số tiền của hai ngân hàng này cung cấp cho Cs Hà Nội hơn 50 tỷ đô la ghi rõ trong website). Số tiền 800 triệu đô la / 1 năm được cấp bằng nhiều hình thức khác, như tài trợ phát triển giao thông, giáo dục…(xem trong website của hai ngân hàng này). Mục đích của viện trợ là lôi kéo CsVN về phía Mỹ. Nhưng, Hà Nội từ lâu đã bị Trung Cộng nắm cổ, nên đã ngã về Trung Cộng.


Mark Moyar – Điểm sách Black April của George Veith

Trà Mi lược dịch

“Tháng Tư Đen” là một lời nhắc nhở đúng mức với chính phủ Mỹ về thiệt hại nhân mạng khi bỏ rơi đồng minh đang bị bao vây.

Bỏ rơi Việt Nam

Việt Nam, tháng 4, 1975. Book Review: Black April – WSJ. Nguồn ảnh: Getty Images 

Từ lúc chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời toà Đại sứ ở Sài Gòn vào tháng Tư năm 1975, sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đề tài chính trong các cuộc tranh luận của Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Phe bồ câu cho rằng thất bại của miền Nam Việt Nam vì chính phủ miền Nam suy yếu và không có chính nghĩa, củng cố lập luận đồng minh của Mỹ đã không xứng đáng được viện trợ. Nhóm diều hâu đổ lỗi cho việc mất miền Nam Việt Nam vì viện trợ Hoa Kỳ bị cắt đứt – phù hợp với niềm tin của nhóm diều hâu rằng các chính khách Mỹ đã điên rồ bỏ rơi phần đất mà gần 60.000 binh sĩ Mỹ đã chết để bảo vệ.

Tuy nhiên, không giống như các trang lịch sử trước đó của cuộc chiến, giờ phút cuối cùng của VNCH chỉ được các nhà sử học xem xét lướt qua. Tác giả viết lịch sử, được cho là toàn diện, của cuộc chiến có xu hướng lướt nhanh qua giai đoạn 1973-1975. Trong thời gian đó, không có lực lượng chiến đấu của Mỹ tại Việt Nam và báo giới cùng các quan chức dân sự Mỹ cũng quan tâm rất ít đến Việt Nam; học giả, vì thế, có ít nguồn tài liệu bằng tiếng Anh để tham khảo.

Cuốn “Tháng Tư Đen” của George J. Veith đã lấp đầy khoảng trống lịch sử đó một cách khác thường. Tác giả George Veith đã đào sâu vào những nguồn tài liệu Việt Nam bị bỏ quên trước đó, gồm cả lịch sử của Bắc Việt, và ông đã phỏng vấn nhiều vị chỉ huy đơn vị chiến đấu miền Nam Việt Nam. Trong cách kể tỉ mỉ, Veith trình bày cả núi chi tiết mới đã cho phép ông trả lời các câu hỏi chính của lịch sử.

Mặc dù các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm một số lỗi nghiêm trọng trong cuộc tấn công năm 1975 của Bắc Việt, ông Veith nói, không thể đổ thất bại vì chính phủ vớ vẩn được và chắc chắn không phải vì khả năng chiến đấu kém cỏi của quân đội VNCH. Ở vào lúc đó lãnh đạo quân đội miền Nam Việt Nam, gồm nhiều sĩ quan đã chiến đấu giỏi, đẩy lui cuộc tấn công mùa Hè đỏ lửa năm 1972 và các cuộc đụng độ lớn nhưng ít được biết đến trong những năm 1973 và 1974. Trong cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt, cấp chỉ huy và các đơn vị của miền Nam Việt Nam đã chiến đấu giỏi hơn nhiều người đã tưởng.

Nếu người Mỹ còn nhớ, một chiến thắng của miền Nam Việt Nam vào năm 1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội miền Nam Việt Nam đã đập tan 3 sư đoàn Bắc Việt. Tuy nhiên, ông Veith cũng ghi lại một số các cuộc đụng độ khác, trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975, chứng tỏ sức đề kháng mãnh liệt của quân đội VNCH – từ Mỏ Tàu và Núi Bông ở địa đầu giới tuyến, đến Bến Cầu và Chơn Thành ở vùng biên giới, rồi Cần Thơ và Long An ở phía nam.

Ông Veith chứng minh một cách thuyết phục rằng nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính vì Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ năm 1974, khi đó viện trợ quân sự đã giảm gần một nửa. Khi Bắc Việt bắt đầu tấn công dữ dội từ tháng 3 năm 1975, miền Nam Việt Nam đã rơi vào tình trạng thiếu xăng, nhiên liệu máy bay và phụ tùng máy bay thay thế, không cho phép quân đội chuyển quân đến để củng cố mạn sườn, dễ bị tấn công dọc theo biên giới chung với Lào và Campuchia dài 1.440 km, về phía tây. Bắc Việt do đó được tự do tập trung các cuộc tấn công,với số lượng áp đảo, vào các thị xã, thành phố chính yếu.

Chiến trường An Lộc (1972). Nguồn ảnh: http://induced.info

Do sự khan hiếm lực lượng không vận, đe dọa quân đội Nam Việt Nam, trong tình trạng hiểm nghèo, thường xuyên phải rút lui bằng xe tải hoặc đi bộ. Thường dân chạy phía sau các binh sĩ, sợ bị các lực lượng cộng sản tàn sát, những người đã thảm sát dân Huế năm 1968 và thường dân dọc theo Quốc Lộ 1 vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Phụ nữ và trẻ em và các loại xe dân sự làm tắc nghẽn cầu, đường, làm cuộc di chuyển quân đội bị chậm lại. Do đó, một số đơn vị chiến đấu của VNCH đã bị quân Bắc Việt chận đường và tiêu diệt.

Trong cuộc di tản chiến thuật, khi lực lượng Nam Việt Nam cố gắng để tạo thành một vành đai phòng thủ tại thành phố Đà Nẵng, thì hơn một triệu thường dân đã đổ tràn vào thành phố của 500.000 người đang trong trạng thái hoảng loạn. Đường phố đã kẹt cứng vì giao thông dân sự, ông Veith giải thích, do đó sự vận chuyển của xe quân sự và hình thành đội quân lớn đã không thể phối hợp được. Một số binh sĩ bỏ đơn vị mình để bảo vệ thân nhân hoặc giúp họ chạy trốn. Tướng Ngô Quang Trưởng, một tướng lãnh tài ba và lôi cuốn của VNCH, đã quyết định tổ chức quốc phòng là điều không thể thực hiện được, ông đã ra lệnh sơ tán của quân đội chiến đấu bằng đường biển. Một số binh lính miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi bằng tàu thuỷ, nhưng hàng ngàn người khác đã bị đơn vị quân đội Bắc Việt đang ồ ạt truy đuổi và bắt sống trên bãi biển.

“Tháng Tư Đen” cho thấy rằng việc cắt giảm viện trợ của Mỹ quá nhanh khiến niền Nam Việt Nam đã không thể đánh bom các lực lượng của đối phương ngay cả khi họ đang tụ tập đông đảo và là mục tiêu mời gọi. Lực lượng không quân Nam Việt Nam không thể bay đủ phi vụ, và khả năng của không quân tiếp tục bị xói mòn khi các sân bay bị quân Bắc Việt tràn ngập. Trong tháng Giêng năm 1973, Tổng thống Nixon đã hứa với Việt Nam là không lực Mỹ sẽ đánh tan quân Bắc Việt nếu họ đã vi phạm hiệp định ngưng bắn sắp được ký kết tại Paris. Nhưng sau đó vụ Watergate bùng nổ, và Quốc hội, dùng Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh 1973, để ngăn cản người kế nhiệm TT Nixon, là TT Gerald Ford, thực hiện các cam kết với VNCH.

Mặc dù miền Nam Việt Nam có 763.000 người vào năm 1975 nhưng đóng rải rác trên khắp 44 tỉnh, sự hạn chế di động chiến lược chỉ cho phép quân đội VNCH tập trung 110.000 binh sĩ làm phòng tuyến sau cùng ở Sài Gòn. Quân Bắc Việt, có 350.000 quân được cung cấp đa dạng nhờ sự thay đổi biến đường mòn Hồ Chí Minh thành một đường trải nhựa và có cả đường ống dẫn dầu bên cạnh (Do không quân VNCH đã không còn xăng máy bay kể từ 1974 để oanh kích, phá huỷ các hệ thống dẫn dầu chạy dọc theo biên giới). Mặc dù trước tình hình tuyệt vọng, ông Veith lưu ý, nhiều đơn vị miền Nam Việt Nam đã chiến đấu đẩy lui nhiều cuộc tấn công lớn của quân Bắc Việt Nam tại Sài Gòn và phản công có hiệu quả. Theo ước tính của riêng Hà Nội, lực lượng Bắc Việt Nam có 6.000 binh sĩ tử thương trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Người lính miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cho đến khi chính phủ (Dương Văn Minh) mới được dựng lên ra lệnh đầu hàng với ảo vọng được phe thắng trận nhượng bộ.

Black April của George Veith; 587 trang, 29.95 USD. Nguồn ảnh: NXB Encounter Books 

Hơn 100.000 binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà tử thương trong các trận chiến cuối cùng, hay đã bị xử tử ngay sau đó hoặc đã chết dần mòn vì bị ngược đãi trong các trại “cải tạo” khổng lồ. 500.000 người miền Nam Việt Nam đã chết trên đường chạy trốn sự đàn áp cộng sản. Trong lúc đang toan tính viện trợ cho Afghanistan trong tương lai, “Tháng Tư Đen” là một lời nhắc nhở đúng mức với chính phủ Mỹ về thiệt hại nhân mạng khi bỏ rơi đồng minh đang bị bao vây.

© 2012-2021 DCVOnline

@Mark Moyar sinh 1971, là một sử gia thế hệ mới của Mỹ. Quan điểm lịch sử của Mark Moyar về chiến tranh VN khác hẳn với nhóm đa số sử gia Mỹ phản chiến, thân cộng đang ngự trị trong các viện đại học Mỹ và trong giác sách giáo khoa của họ. Ông đã viết các bài tham luận về chiến tranh Việt Nam khi còn là sinh viên, và khi học ngành cao học lịch sử. Những bài tiểu luận của ông đã gây những tiếng vang rất lớn, và được các tướng lãnh trong quân đội Mỹ và học viện quân sự Mỹ cổ vũ vì ông đã đưa ra các bằng chứng lịch sử từng bị nhóm sử gia thân cộng phản chiến đang giảng dạy trong các đại học Mỹ như Harvard University khuynh đảo, bóp méo. Ông đã bị giới sử gia Mỹ trả thù bằng cách không gọi phỏng vấn sau khi ông nộp đơn xin dạy học cho hơn 100 trường đại học ở Mỹ. Ông cho biết ông đã không thể kiếm được việc làm để giảng dạy trong các đại học, nhiều năm sau khi tốt nghiệp tiến sĩ sử học. Sau cùng, ông được mời về làm việc ngắn hạn trong quân đội Mỹ, các trung tâm nghiên cứu, nhưng chỗ nào cũng kéo dài được một vài năm. Hiện ông tự làm việc ở nhà, diễn giả, và cố vấn.

Moyar sinh ngày 12 tháng 5 năm 1971 tại Cleveland, Ohio cho Bert và Marjorie Moyar. Ông tốt nghiệp trường trung học Hawken ở Gates Mills, Ohio năm 1989.

Giáo dục
Moyar có bằng cử nhân lịch sử hạng giỏi từ Đại học Harvard và bằng Tiến sĩ lịch sử từ Đại học Cambridge. Khi còn là sinh viên tại Harvard, ông đã viết cho tờ báo dành cho sinh viên bảo thủ The Harvard Salient. Ông cũng chơi kèn saxophone trong Ban nhạc Jazz Harvard với nghệ sỹ saxophone huyền thoại Joshua Redman.

Thành tích
Các bài báo của ông về các sự kiện lịch sử và hiện tại đã xuất hiện trên New York Times, Wall Street Journal và Washington Post. Trong thời gian là Nghiên cứu viên cao cấp tại Đại học Điều hành Đặc biệt Liên hợp (2013-2015), ông đã xuất bản ba nghiên cứu dài về các hoạt động đặc biệt — ở Colombia, Afghanistan và Mali: Hoạt động ổn định của làng và Cảnh sát địa phương Afghanistan (2014), [6 ] Chống lại chủ nghĩa cực đoan bạo lực ở Mali (2015), [7] và sự tham gia bền bỉ ở Colombia (2014) [8]

Moyar là tác giả của cuốn sách năm 2006 Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965. Trong đó, ông cho rằng Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo hiệu quả. Moyar nói rằng ủng hộ cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 là một trong những sai lầm tồi tệ nhất của Mỹ trong cuộc chiến. Những sai lầm lớn nhất khác theo Moyar là: không cắt được đường mòn Hồ Chí Minh, và việc Quốc hội Hoa Kỳ từ chối hỗ trợ chính phủ miền Nam Việt Nam sau khi Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973 bị vi phạm và từ chối viện trợ khẩn cấp cho miền Nam Việt Nam. gần kết thúc chiến tranh.

Tác phẩm Chiến Thắng Bỏ Lở- Triumph Forsaken-đã gây ra một sự chấn động lớn và có nhiều đánh giá tích cực, một số tiêu cực và một số tích cực. Để đối phó với những phản ứng mà cuốn sách gây ra, Andrew Wiest và Michael J. Doidge đã biên tập Triumph đã xem lại: trận chiến của các nhà sử học trong Chiến tranh Việt Nam (2010), [9] một bộ sưu tập các bài đánh giá chi tiết về cuốn sách của 15 nhà sử học học thuật khác nhau. Các đánh giá được đính kèm với phản hồi của Moyar, ông đã thách thức bất cứ ai muốn có những lời chỉ trích về tác phẩm của mình.


@ TT Joe Biden đã tuyên bố hôm 18/4/2021 rằng, Quân đội Mỹ sẽ rút 2500 quân cuối cùng ra khỏi Afghanistan vào Ngày 11 Tháng 9/2021. Mỹ chỉ còn viện trợ quân sự cho Afghanistan mà thôi. Nhưng Afghanistan có rất nhiều nguồn tài nguyên dầu hỏa, mỏ kim loại đã và đang được khai thác.


=======

Vụ Nghiên cứu Quốc hội CRS
https://crsreports.congress.gov RL33222

Báo cáo của CRS
Tài liệu dành cho các Thành viên và Ủy ban của Quốc hội

Trần Hoàng dịch

Mỹ Viện trợ nước ngoài cho Israel (Do Thái)

Báo cáo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về U.S. viện trợ cho Do Thái. Báo cáo này bao gồm việc xem xét các chương trình viện trợ trong quá khứ, dữ liệu về hỗ trợ hàng năm và phân tích các vấn đề hiện tại. Để biết thông tin chung về Israel, hãy xem Israel: Bối cảnh và Hoa Kỳ Các mối quan hệ, Tóm tắt, bởi Jim Zanotti.

Israel là nước nhận tích lũy lớn nhất của U.S. viện trợ nước ngoài kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945)

Các chính quyền kế nhiệm, làm việc với Quốc hội, dùng các nguồn hỗ trợ mạnh mẽ của Mỹ để cung cấp cho Israel và an ninh của họ; chia sẻ chiến lược mục tiêu ở Trung Đông; cam kết chung về các giá trị dân chủ; và mối quan hệ lịch sử kể từ ngày chúng ta đã hỗ trợ cho sự thành lập của nước Israel vào năm 1948.

Cho đến nay, Hoa Kỳ đã cung cấp cho Israel 146 tỷ đô la (tiền đô la hiện tại, hoặc chưa điều chỉnh theo lạm phát) hỗ trợ song phương và tài trợ phòng thủ tên lửa. Hiện nay, hầu hết tất cả viện trợ Mỹ cho Israel dưới hình thức viện trợ quân sự, mặc dù từ năm 1971 đến năm 2007, Israel cũng nhận được nguồn viện trợ kinh tế rất đáng quan trọng.

Năm 2016, Hoa Kỳ và các chính phủ Israel đã ký Bản ghi nhớ (MOU) 10 năm (lần thứ ba) về viện trợ quân sự, bao gồm từ năm 2019 đến năm tài chính 2028. Theo các điều khoản của Biên bản ghi nhớ, Hoa Kỳ cam kết cung cấp – tùy thuộc vào Quốc hội Mỹ- 38 tỷ USD viện trợ quân sự (33 tỷ USD viện trợ Quân sự nước ngoài cộng với 5 tỷ USD chi phí phòng thủ tên lửa) cho Israel. Biên bản ghi nhớ này tuân theo thỏa thuận 10 năm trị giá 30 tỷ USD trước đó, có hiệu lực từ năm 2018.

Israel là nhà khai thác quốc tế đầu tiên của Máy bay chiến đấu tấn công liên hợp F-35, máy bay tàng hình thế hệ thứ năm của Bộ Quốc phòng, được coi là máy bay chiến đấu có công nghệ tiên tiến nhất từng được chế tạo. Đến nay, Israel đã mua 50 chiếc F-35 trong ba hợp đồng riêng biệt, được tài trợ bởi U.S..

Đối với năm tài chính 2021, Chính quyền Trump đã yêu cầu 3,3 tỷ đô la FMF cho Israel và 500 triệu đô la viện trợ phòng thủ tên lửa để đánh dấu năm thứ hai của Biên bản ghi nhớ. Chính quyền cũng yêu cầu tài trợ nhân đạo 5 triệu đô la trong Hỗ trợ người tị nạn và di cư cho những người di cư đến Israel.

Nghị quyết của Hạ viện, H.R. 7608 – Đạo luật trưng thu Nhà nước, Hoạt động nước ngoài, Nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Nội vụ, Môi trường, Xây dựng Quân đội và Cựu chiến binh, năm 2021 (đã được Hạ viện thông qua vào tháng 7 năm 2020), trong số những thứ khác, sẽ cung cấp 3,3 tỷ đô la Tài trợ Quân sự Nước ngoài ( FMF) cho Israel.

Nghị quyết của Hạ viện, H.R. 7617 – Bộ Quốc phòng, Thương mại, Tư pháp, Khoa học, Phát triển Năng lượng và Nước, Dịch vụ Tài chính và Chính phủ Chung, Lao động, Y tế và Dịch vụ Nhân sinh, Giáo dục, Giao thông, Nhà ở và Đạo luật Phân bổ Phát triển Đô thị, năm 2021 (được thông qua vào tháng 7 năm 2020 ) sẽ cung cấp 500 triệu USD cho hợp tác phòng thủ tên lửa chung giữa Mỹ và Israel (trong đó 73 triệu USD cho Iron Dome, 177 triệu USD cho David’s Sling, 77 triệu USD cho Arrow III và 173 triệu USD cho Arrow II).


Nguồn: https://fas.org/sgp/crs/mideast/RL33222.pdf


=======


Chiến thắng bỏ lỡ -Triumph forsaken – Mark Moyar

Minh Võ

Từ trước tới giờ phần đông ký giả và sử gia Mỹ đều cho rằng Hoa Kỳ đã lầm khi ủng hộ miền Nam Việt Nam chống lại Cộng Sản miền Bắc. Họ ca ngợi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc, có tài trí hơn người và được lòng dân. Họ coi các nhà lãnh đạo miền Nam, kể cả ông Ngô Đình Diệm đều bất tài, vô tướng và là tay sai thực dân đế quốc. Quan điểm lịch sử đó được mệnh danh là “chính thống” (!) (tạm dịch từ Orthodox của tác giả Mark Moyar) Nhưng gần đây một số sử gia Mỹ đã bắt đầu xét lại quan điểm đó. Trong số này có giáo sư tiến sĩ sử học Mark Moyar. Tiến sĩ Mark Moyar đậu cử nhân (hạng tối ưu với lời khen của ban giám khảo) về môn sử tại đại học Havard danh tiếng nhất của Mỹ. Sau đó đậu tiến sĩ sử học tại đại học Cambridge. Ông từng giảng dậy tại đại học Cambridge, đại học Tiểu Bang Ohio, đại học A&M Texas, và đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở Quantino, Virginia.

Năm ngoái (2006) sở Báo Chí Đại Học Cambridge đã xuất bản cuốn sách 512 trang khổ lớn của ông nhan đề TRIUMPH FORSAKEN. Đây là tập I của bộ sách 2 tập về cuộc chiến Việt Nam. Theo tác giả, cuộc chiến này đáng lẽ đã kết thúc bằng một chiến thắng oanh liệt, mà lại trở thành một chiến bại nhục nhã.

Trong cuốn sách này, tác giả đã rà xét lại tất cả mọi dữ kiện, đối chiếu nhiều tài liệu vô số kể của nhiều nguồn thuộc mọi phía, trong đó có những tài liệu mới được giải mật của Mỹ và tài liệu Cộng Sản (Liên Xô cũ, Trung Quốc, và Việt Nam), để đi đến một kết luận có cơ sở vững vàng.

Chiến thắng bỏ lỡ
Nguồn: Cambridge University Press, October 2006

Cuối sách không có phần thư mục như phần lớn các sách biên khảo. Nhưng gần 2000 chú thích ghi chi tiết trong 85 trang sách đã cho thấy hàng trăm tác phẩm và tài liệu được tham khảo và dẫn chứng một cách tỷ mỷ để chứng minh lập luận “xét lại” của tác giả. Ví dụ chỉ nguyên một chương 16 đã có tới 176 chú thích trưng dẫn hàng trăm tác phẩm hay chỉ 3 trang đầu của bài tựa thôi đã có tới 19 chú thích mà chi tiết choán hẳn 3 trang, Cũng trong lời tựa này, nguyên một chú thích 2 đã trưng dẫn gần 100 tác phẩm Tập một này có 17 chương, trong đó có 10 chương về chính quyền Ngô Đình Diệm.

Đọc kỹ lời tựa và chương đầu, ta sẽ thấy đại cương về lập luận của tác giả.

Nhà xuất bản trích dẫn lời phê bình và đánh giá của 6 tác giả và giáo sư sử học về tác phẩm của Mark Moyar. Sau đây là ý kiến của Giáo sư sử học Thomas Alan Schwartz:

“Triumph forsaken là một cuốn sách đặc sắc. Công trình (biên khảo) của Mark Moyar là sự thách đố mạnh mẽ nhất đối với sự giải thích chính thống về nguồn gốc việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Bằng cái nhìn mới mẻ vào những nguồn tài liệu gốc, cũng như tìm hiểu, khai thác những tư liệu mới từ các văn khố Mỹ cũng như Cộng Sản, Moyar đã tạo nên một lối giải thích khác về cội nguồn của sự dấn thân (tham chiến) của Hoa Kỳ. Tác phẩm của Moyar thúc đẩy các sử gia phải mở lại cuộc tranh luận về ý nghĩa cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sau đây là nhan đề của 17 chương sách trong tập I:

1. Di sản

2. Hai nước Việt Nam: Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 12 năm 1955

3. Sống chung hòa bình: Từ 1956 đến 1959

4. Cuộc nổi dậy: 1960

5. Cam kết nhập cuộc: 1961

6. Sự trẻ trung hoá: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1962

7. Tấn công: Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1962

8. Trận Ấp Bắc; Tháng 1 năm 1963

9. Ông Diệm gặp gian nan: Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1963 10. Sự phản bội: Tháng 8 năm 1963 11. Tự hủy: Từ tháng 9 đến ngày 2 tháng 11 năm 1963

12. Trở lại tình trạng “Thập Nhị Sứ Quân”: Từ 3 tháng 11 đến tháng 12 năm 1963.

13. Tự chế: Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1964

14. Những tín hiệu: Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1964

15. Xâm nhập: Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1964

16. Phần thưởng chiến thắng: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1965

17. Quyết định: Từ tháng 6 đến tháng 7 năm 1965.

Lời tựa

Sau khi nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu phân tách kỹ những nguồn tài liệu gốc càng ngày càng được phát hiện ra về mọi mặt của cuộc chiến, từ quân sự, chính trị, ngoại giao, do đó tác phẩm phải gồm 2 tập, thay vì một tập như dư tính ban đầu, tác giả trình bày thực trạng lịch sử Hoa Kỳ do hai xu hướng “chính thống” và “xét lại”. Quan điểm “chính thống” có vẻ lấn át quan điểm xét lại. Thậm chí trong giới khoa bảng, người ta cho rằng phe xét lại không đáng gọi là sử gia, chỉ là những nhà “ý thức hệ” (ideologues).

Theo quan điểm “chính thống” thì dân Việt vốn thù dân Tầu, và thường đánh thắng quân Tầu. Vì vậy nếu Mỹ đừng xua đuổi Hồ Chí Minh, thì ông ta đã có thể trở thành một Ti Tô của Việt Nam, chứ không đi theo Tầu Cộng, và Liên Xô.

Tác gỉa đã ghi rằng nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam thì sẽ thấy, các cuộc chiến tranh xảy ra phần lớn giữa người Việt với nhau, và giữa người Việt với những sắc dân khác, như Chàm, Khmer hay Mông Cổ… chứ không phải giữa người Việt với người Tầu. Chỉ trừ một vài trường hợp cá biệt.

Từ đó ông cho rằng Hồ Chí Minh nếu có ghét Tầu là ghét Tầu Quốc Dân, như phe Tưởng Giới Thạch, chứ không bao giờ ghét Tầu Cộng của Mao Trạch Đông. Trái lại, Hồ Chí Minh sẵn sàng rước Tầu Cộng vào để đánh người Việt yêu nước. Ông viết:

Hồ thường tỏ lòng kính cẩn với quan thầy
Nguồn: Triumph Forsaken

“Hồ thường tỏ lòng kính cẩn với quan thầy hơn đối thủ của ông ta ở miền Nam là Ngô Đình Diệm, người đã thà chết hơn là làm theo yêu cầu của đồng minh Hoa Kỳ của ông ta. Hồ là tín đồ nhiệt thành của Mác và Lênin, dấn thân sâu đậm vào chủ nghĩa Quốc Tế Cộng Sản, cho nên không thể hy sinh tình liên đới Cộng Sản cho quyền lợi “hẹp hòi” của Việt Nam. Do đó, trái với những suy diễn được nhiều người chia sẻ, ông ta sẽ chẳng bao giờ lại chống người láng riềng Trung Cộng, hay bất cứ nước bạn Cộng sản nào khác, nếu Hoa Kỳ cho phép ông ta thống nhất Việt Nam. Ông ta không bao giờ để Hoa Kỳ biến nước Việt Nam thành một Nam Tư của châu Á.”

Về lãnh tụ miền Nam, tác giả viết:

“Tổng Thống Ngô Đình Diệm của miền Nam, không ngừng bị các sử gia phe “chính thống” mô tả như một kẻ đần độn, tên phản động, một bạo chúa. Nhưng thực ra ông là một lãnh tụ rất khôn ngoan, uyên bác và đắc lực. Là một người hiến thân cho hạnh phúc của dân tộc mình, ông “dùng uy tín cá nhân để trị nước gần như một nhà độc tài” (12 từ trong ngoặc kép của người viết để tạm dịch từ authoritarian của tác giả) vì ông cho rằng chế độ dân chủ kiểu Tây phương không thích hợp với một đất nước đang bị phân tán và có một nền văn hoá độc đoán. Những biến cố xảy ra sau khi ông bị giết đã chứng tỏ niềm tin đó là đúng. ” (….)

Sau khi nêu đích danh Trung tá John Paul Vann, hai nhà báo trẻ David Halberstam và Neil Sheehan và đại sứ Cabot Lodge, kết tội họ đã loan tin thất thiệt, thiếu lương thiện và đánh lừa thượng cấp để cố hạ uy tín của Tổng Thống Diệm, vu khống là chính quyền của ông bất lực trong việc giữ an ninh, tác giả viết về cuộc đảo chính 01/11/1963:

“Cho đến nay, đã rõ cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 là một lỗi lầm tệ hại nhất của người Mỹ. Trái hẳn với những lời quả đoán sau đó của những kẻ cổ võ cho cuộc đảo chính, rằng nỗ lực chiến tranh của Nam Việt đã bước vào thời kỳ suy thoái trong những tháng cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm. Các nguồn tin từ phía Bắc Việt, cũng như từ phía Hoa Kỳ đã cung cầp bằng chứng cho thấy cuộc chiến lúc ấy đang tiến hành một cách thỏa đáng, thuận lợi.”

Về tình trạng rối lọan và sự kém cỏi của các chính quyền hậu đảo chính, tác giả cho rằng chưa mấy người hiểu rõ nguyên nhân. Ông viết:

“Hậu quả của sự điều hành kém cỏi của chính quyền miền Nam từ sau khi ông Diệm chết cho đến năm 1965 thì hầu như ngày nay ai cũng đã thấy. Nhưng về những nguyên nhân của nó thì chưa mấy người hiểu. Theo một cách giải thích “chuẩn” thì chính quyền Saigon thất bại vì những nhà lãnh đạo Việt Nam và những cố vấn Mỹ đã chọn lầm phương pháp để đánh địch. Tuy nhiên thực ra, vấn đề không nằm ở khái niệm mà ở cách thi hành. Một sự giải thích tiến bộ hơn, gần trọng điểm hơn, nhưng vẫn chỉ đúng một phần, đó là miền Nam lúc ấy bị chao đảo, lọang chọang vì giới thượng lưu cầm quyền đã mất những nhà lãnh đạo kiên cường. Nhiều cá nhân giữ những địa vị trong chính quyền trong thời hậu Diệm, đích thực, thiếu các đức tính cần thiết của một nhà lãnh đạo, và chẳng ai có tài bằng Ngô Đình Diệm. Nhưng tầm cỡ của tập thể giới lãnh đạo nói chung không phải là vấn đề then chốt. Vấn đề quan trọng , thực ra chính là sự lọai trừ một số người trong giới thượng lưu ra khỏi chính phủ và sự thao túng của phong trào Phật Giáo trong việc vận dụng các nhà lãnh đạo chính phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về sau những lãnh tụ hàng đầu ở Saigon không ngừng lặp đi lặp lại việc lọai trừ những người có tài đáng kể, hoặc vì những người này đã trung thành với ông Diệm, hoặc vì những lãnh tụ đó bị áp lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu…”

Vài trích đọan trên đây của Lời Tựa đã tóm tắt quan điểm “xét lại” của tác giả về những sự kiện lịch sử liên quan đến ông Hồ Chí Minh, ông Ngô Đình Diệm và chính tình miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1965.

Hơn 400 trang sách kế tiếp đã được tác giả dùng để trưng dẫn những tài liệu chính xác để chứng minh quan điểm trên là đúng. Vì là những tài liệu phức tạp, mới có, cũ có từ nhiều nguồn khác nhau nhiều khi trái ngựoc mâu thuẫn nhau. Nên không thể nào thu gọn trong phạm vi một bài báo. Vì vậy chúng tôi xin để độc giả tìm đọc trong chính tác phẩm TRIUMPH FORSAKEN tập I. Sau đây chỉ xin tóm tắt vài ý chính và trích dịch một số đọan đáng chú ý của mấy chương đầu của tập I, vì tập II chưa xuất bản.

Chương 1: Di Sản

Mở đầu là quang cảnh tấp nập tưng bừng tại công trường Puginier, Hà Nội (nay là quảng trường Ba Đình) ngày ra đời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

“Theo lời mời của ông Hồ, vài sĩ quan tình báo OSS Mỹ đứng gần khán đài. Hai chiếc máy bay chiến đấu Lightning P-38 tình cờ bay trên đám đông trong buổi lễ. Cả hai điều đó đã tạo nên một cảm tưởng sai lầm rằng chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ Hồ Chí Minh.”

Trong lời tuyên bố độc lập mở đầu với lời lẽ lấy từ bản tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp, ông Hồ đã kịch liệt đả kích thực dân và xác quyết rằng chính phủ của ông đại diện tòan thể nhân dân Việt Nam.

“Ông ta không nói gì đến ý thức hệ chính trị, mà chỉ bàn về mục đích của ông là thành lập một nước Việt Nam độc lập.”

Nhiều người đã cho rằng bản tuyên ngôn này chứng tỏ chủ nghĩa quốc gia chứ không phải chủ nghĩa quốc tế Cộng Sản đã là động lực cách mạng của ông Hồ. Vì vậy nếu như Mỹ đừng ủng hộ Pháp thực dân, và đừng dựng nên những chính phủ tay sai ở miền Nam chống lại ông Hồ thì Việt Nam và Hoa Kỳ đã có thề là đồng minh, và ông Hồ đã quay lại chống Trung Cộng.

“Nếu người Mỹ hiểu lịch sử Việt Nam, thì tòan bộ thảm kịch đã có thể tránh được.” (…)

“Cái lối lý luận trên đã sai lầm một cách chết người.”

“Vì lịch sử Viêt Nam và lịch sử của ông Hồ thực sự đã hỗ trợ cho những kết luận ngược hẳn”.

Tác giả đã ôn lại lịch sử Việt Nam qua 7 trang sách để chứng minh. Sau đó tác giả viết:

“Chỉ có một bằng chứng duy nhất có thể dùng để biện luận rằng ông Hồ không ưa người Tầu và những ngọai nhân khác là câu ông ta nói để bào chữa cho việc để quân Pháp vào Bắc Việt. (Theo Paul Mus, MV) ông Hồ đã nói: “Thà ngửi cứt Pháp một lúc còn hơn là phải ăn cứt Tầu suốt đời”.

Nhưng rồi tác giả lại viết:

“Chút bằng chứng nhỏ nhoi đó rất yếu. Vì khi ông Hồ nói câu đó, theo lời thuật lại (của Paul Mus), thì phần lớn nướcTầu đang ở dưới quyền cai trị của những người Trung Hoa theo chủ nghĩa Dân Tộc hăng hái chống cộng, và là những người đang tích cực ủng hộ những người Việt quốc gia chống cộng, là đối thủ hùng mạnh nhất của Việt Cộng.”

Tác giả thuật lại việc ông Hồ nhanh chóng chớp thời cơ sau khi Nhật đầu hàng, đem quân cướp chính quyền trong khi các toán quân của các đảng Quốc Gia còn đang tiến chậm chạp từ Trung quốc về. Ông cũng nhấn mạnh đến việc quân của Hồ đã dùng vũ khí của Trung Hoa Dân Quốc và của Mỹ.


Và yếu tố quan trọng khiến ông Hồ thành công bước đầu là “cá tính” của ông ta được người dân tin phục. Người dân Việt chú ý đến lãnh tụ hơn là đảng và chủ thuyết của lãnh tụ.

Tác giả nêu lên sự kiện Hồ Chí Minh cố thuyết phục những người Mỹ mà ông gặp rằng mình không phải Cộng Sản, mà chỉ là người yêu nước, muốn đem lại độc lập cho đất nước. Nhiều sĩ quan OSS đã tin theo và muốn ủng hộ Việt Minh, trong đó có cả đại tá Archimedes Patti (lúc ấy là đại úy, MV). Nhưng tác giả đã trưng dẫn bức điện cùa chính Patti gửi về Hoa Thịnh Đốn ngày 29-8-45 viết rằng, 

“‘những phần tử đỏ’ đang lãnh đạo chế độ Việt Minh đi trệch đường, và rằng những nhà lãnh đạo chế độ thường nói tốt về chế độ tự do dân chủ, nhưng trong thực tế họ đang chuẩn bị những hành động phi tự do, phi dân chủ.”

Sau đó tác giả đã nêu lên việc Việt Minh giết những người yêu nước như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn (2 lãnh tụ VNQDĐ) và Bùi Quang Chiêu (Đảng Lập Hiến), Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trương Đình Thi, Trương Tử Anh (lãnh tụ Đại Việt)…

Về chiến thắng Điện Biên của CS, tác giả đã trưng dẫn Janos Radvanyi (Ảo tưởng và thực tại, South Bend: Gateway, 1978) cho biết chính Võ Nguyên Giáp đã tiết lộ với tác giả (Janos):

“Trận Điện Biên Phủ là cố gắng tuyệt vọng cuối cùng của Quân Đội Việt Minh. Lực lượng chiến đấu của nó sắp sửa kiệt quệ hòan tòan. Nguồn tiếp tế gạo đã cạn kiệt. Dân chúng đã lãnh đạm thờ ơ đến độ thật là khó có thể lấy thêm lính. Nhiều năm chiến đấu trong rừng rậm đã làm cho tinh thần chiến đấu của các đơn vị sa sút tột cùng.”

Sau một số bằng chứng khác, Mark Moyar kết luận: “Tóm lại cả hai phía đều đã có cơ may chiến thắng trận quyết định tại Điện BiênPhủ.”(trang26)

Phạm Văn Đồng (t), Võ Nguyên Giáp (p) bên cạnh Hồ Chí Minh ngồi ghế mặc veston, quần ngắn, đi dép râu (Mùa Thu 1945)   
Nguồn: Triumph Forsaken

(Còn tiếp)

© DCVOnline 

( trích nguồn Đàn Chim Việt Online )

Copy từ https://vuthat.wordpress.com/2011/10/20/chiến-thắng-bị-bỏ-lỡ-triumph-forsaken/ (20-10-2011)

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: