Trần Hoàng Blog

►Hành trình cuối đời của triết gia Trần Đức Thảo

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2020

Giáo sư Trần Đức Thảo rời căn nhà nát mà ông trú ngụ trong gần 5 năm (1986-1991) tại nhà 200B phố Đề Thám (Quận 1, Sài Gòn) để sang Paris vào ngày 10/3/1991. Kể từ cuối tháng 4/1991 (khi Giáo sư bước sang tuổi 75), sau khi tiêu hết số tiền công tác phí từ ngân sách Đảng, cho đến khi Giáo sư qua đời vào ngày 24/4/1993 tại Paris, Giáo sư đã phải sống một quãng đời vừa khổ cực về vật chất vừa trầm uất về tinh thần.


HÀNH TRÌNH CUỐI ĐỜI CỦA TRẦN ĐỨC THẢO: 
TỪ CĂN NHÀ NÁT PHỐ ĐỀ THÁM (SÀI GÒN) ĐẾN NGHĨA TRANG VĂN ĐIỂN (HÀ NỘI)

Nguyễn Trung Kiên

Tôi rất xúc động khi được đọc Status của TS. Nguyễn Xuân Diện về việc sửa sang phần mộ của Triết gia Trần Đức Thảo tại Khu A, Nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội).

Là người gần 20 năm lần theo hành trình của triết gia Trần Đức Thảo, được gia đình ủy quyền công bố Di cảo của Giáo sư, tôi xin được công bố một số tư liệu (trong đó có một số tư liệu được công bố lần đầu) về hành trình cuối đời của Giáo sư Trần Đức Thảo, như sau:

1. Ngày 28/1/1991, ông Hồng Hà, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, gửi thư cho Giáo sư Trần Đức Thảo, thông báo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng đồng ý cho Giáo sư đi công tác tại Pháp 1 tháng, ngân sách do Đảng cấp [Ảnh 1]

 2. Ngày 6/3/1991, Giáo sư gửi thư cảm ơn tới Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh [Ảnh 2]

3. Giáo sư Trần Đức Thảo rời căn nhà nát mà ông trú ngụ trong gần 5 năm (1986-1991) tại nhà 200B phố Đề Thám (Quận 1, Sài Gòn) để sang Paris công tác vào ngày 10/3/1991

4. Kể từ cuối tháng 4/1991 (khi Giáo sư bước sang tuổi 75), sau khi tiêu hết số tiền công tác phí từ ngân sách Đảng, cho đến khi Giáo sư qua đời vào ngày 24/4/1993 tại Paris, Giáo sư đã phải sống một quãng đời vừa khổ cực về vật chất vừa trầm uất về tinh thần. Một mặt, do lòng tự trọng, ông đã khước từ mọi sự giúp đỡ về vật chất và tiền bạc từ đồng nghiệp, bạn bè, sinh viên và những người ngưỡng mộ ông; ông đã phải nhờ anh em trẻ đánh máy giúp các bản viết tay những bài viết về triết học của ông để bán trong các buổi thuyết trình tại Paris.

Hiện có hai nhân chứng lịch sử ghi lại những tư liệu khả tín về năm tháng cuối đời cùng sự qua đời và đám tang của Giáo sư tại Paris, như sau:

a) Tác giả Nguyễn Đức Hiền:

“…Vẫn là vị khách ở cùng tầng lầu, thường lui tới thất thường về ban đêm khi thấy ánh điện sáng trong phòng chúng tôi. Đó là nhà triết học Trần Đức Thảo. Thời gian này – thu đông 1992 – mọi người ở đây cho rằng anh chưa đến nỗi nào! Bởi lẽ hàng ngày người ta vẫn chạm trán một ông già ở độ tuổi “cổ lai hy” khoác chiếc áo dạ cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh đủ thứ xoong, chảo, chai, lọ leo lên leo xuống hàng trăm bậc thang gác, tự lo lấy bữa cho mình (những bữa ăn quá đơn giản: thường là một bát “súp” rau lẫn mì ống, hoặc một mẩu bánh mỳ gối với một quả trứng “ốp lết” hay vài lát khoai tây rán). Người ta cũng thấy ông già ấy cứ “hành trình” chừng mười lăm bậc thì dừng lại tựa người vào thành lan can đứng nhắm mắt lại miệng thở như thổi “bễ”. Nhưng ai cũng nghĩ rằng một nhà hiền triết châu Á từng có những tác phẩm một thời làm rung chuyển nền tảng tư duy lý luận châu Âu, đến tận bây giờ còn kham nổi một việc đại loại như thế, có nghĩa là con người ấy còn đủ sức vượt qua nhiều mùa đông khắc nghiệt nữa ở Paris. Ai ngờ nấc thang thời gian cuối cùng đánh dấu tuổi thọ con người ấy chỉ có đến ngần ấy mà thôi! (Trần Đức Thảo tạ thế mùa xuân năm 1993)…

Tối hôm ấy anh Thảo kể lại cho tôi nghe… có nhiều chuyện làm anh buồn. Không phải nỗi buồn cơm áo đời thường mà là nỗi buồn thất vọng trước sự sa sút tinh thần ghê gớm! Chao ôi, anh phải tốn mất bao nhiêu công sức mới tổ chức nổi một buổi “công-phê-răng” (conference) tại “Nhà Văn hoá Việt Nam” vận động được trên ba chục cử toạ kể cả trí thức Việt lẫn Pháp tới nghe tác giả giới thiệu hai công trình xuất bản:

1- Để nắm vững hơn phép lôgích hình thức và phép biện chứng (Pour une logique formelle et dialectique).

2- Một hành trình (Un itinéraire).

Thế mà có những kẻ – người mình, bạn bè hẳn hoi, mới cách đây chưa lâu hết lời ca ngợi anh khi anh mới đặt chân tới Paris – lần này vừa thấy anh xuất hiện trên diễn đàn là hùa nhau quấy phá (…)

(…) Anh đi Pháp, trụ ở Paris, tự nhốt mình sống khổ hạnh trên cái lầu năm nhà khách sứ quán ấy chính là để mưu cầu sự nghiệp ấy… Mấy cuộc “công-phê-răng” trước, anh đã bị phá đám, cuộc này nữa ở “Nhà văn hoá Việt Nam”, lại tiếp tục bị thất bại. Nhưng anh vẫn không nản chí! Ôi, anh Thảo, cái đêm hôm ấy, tôi nằm nghĩ thương anh, lo cho sự chấn hưng học thuyết của anh mà không biết tìm cách nào giúp đỡ anh…

(…) Tôi còn phải cảm ơn anh nhiều, cảm ơn sự cao thượng của anh: Anh, nhà tư tưởng hoạt động chủ yếu ở phương Tây mà tâm hồn phong độ không xa cách đạo lý người quân tử phương Đông. Tôi biết trong những ngày đầy khó khăn sóng gió ở Paris, ngoài việc tiếp nhận chế độ trợ cấp hạn chế của tổ chức trong nước gửi qua sứ quán, anh đã lẩn tránh tất cả sự giúp đỡ của bầu bạn người Pháp cũng như bà con Việt kiều. Mọi người đều hiểu anh cần tiền không phải để ăn, để sống – anh đã quá quen với sự chịu đựng thiếu thốn vật chất – mà để đầu tư cho những công trình triết học dở dang không ai có thể thay thế anh đảm đương nổi (…)”

(Nguyễn Đức Hiền, “Câu chuyện khó quên ở phố Verrier (Paris)”, Báo Văn nghệ, 1993)

b) Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ [Ảnh 3: TS Vũ và nhà thơ Huy Cận với GS Trần Đức Thảo tai Paris, 1993]

Thực vậy, tôi và vợ tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, đã có thời gian sống cùng Trần Đức Thảo tại Nhà khách Sứ quán Việt Nam ở Paris, số 2 Le Verrier, cho đến khi ông mất vào cuối tháng 4 năm 1993. Năm 1992, với tư cách cán bộ Bộ ngoại giao Việt Nam, tôi trở lại Paris để học tại Học viện quốc tế quản lý hành chính công (IIAP), trực thuộc Thủ tướng Pháp, nay là Trường quốc gia hành chính (ENA). Việc vợ chồng tôi thuê một phòng tại Nhà khách này không chỉ vì đó là nơi tôi đã ở trong lần du học trước đó mà còn vì cách trường có hai trăm mét, tại số 2 đại lộ l’Observatoire.

Ngay ngày đầu tiên tôi đã gặp Trần Đức Thảo. Số là tôi từ ngoài đường vào thì thấy một cụ già gầy gò, hai tai nút đầy bông, đang hổn hển kéo lên thang gác một xe đẩy nhỏ buộc một bịch nước đóng chai. Ngạc nhiên vì không thấy ai giúp ông, tôi liền nói: “Bác để cháu mang lên cho” và đưa bịch nước đó lên phòng của ông ở tầng 2.

Đó là một căn phòng bề bộn sách và bản thảo, đặc biệt là rất bẩn và hôi, bông dính mủ rải rác khắp nơi. Mọi chỉ dấu cho thấy chỉ có mình ông ở đây. Vẻ cảm động, ông hỏi tôi: “Cháu tên gì?”.

Tôi trả lời: “Cháu tên Vũ” rồi hỏi lại: “Bác tên gì?”. “Tôi là Trần Đức Thảo”, ông rành mạch. Tôi sững người: “Trần Đức Thảo! Cháu đã nghe tiếng bác từ lâu. Bác là nhà triết học. Cháu còn biết bác là nạn nhân của vụ án ‘Nhân văn Giai phẩm’. Bố cháu là Huy Cận, bác cháu là Xuân Diệu. Các ông ấy nói nhiều về bác lắm”.

Trần Đức Thảo nói ngay: “Ai chứ Huy Cận, Xuân Diệu thì tôi thân lắm” rồi hỏi thăm về bố tôi (Xuân Diệu đã mất từ năm 1985). Sau này tôi mới biết là vào đầu năm 1991, ngay trước khi Trần Đức Thảo đi Pháp, bố tôi cùng chú ruột tôi là Cù Huy Chử, Tiến sĩ triết học, Trưởng khoa của Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh) và con chú tôi là Luật sư Cù Huy Song Hà, đã đến thăm ông tại nhà ở 200 Đề Thám, TP Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, bố tôi đã tặng ông bài thơ ‘Gửi thế kỷ 20’ với đề tặng “Kính tặng Anh Trần Đức Thảo, nhà triết học suy tư cùng thế kỷ”.

Thế là tôi trở thành chỗ tin cậy của triết gia họ Trần không chỉ trong chuyện “hậu cần” mà còn cả trong những việc ông đang làm ở Paris. Ông cho tôi biết vì sao và bằng cách nào ông sang được Pháp.

Ông cũng chia sẻ với tôi những gì ông đã và đang làm và dự định của ông cho thời gian tới. Còn hiện tại, ông nhờ tôi bán những bản tóm tắt những đề tài triết học mà ông sẽ thuyết trình tại Nhà Việt Nam hay Đại học Paris 7 với giá 20 francs (hồi đó khoảng hơn 3 USD) một tập để có tiền sống qua ngày…

Trần Đức Thảo đã ký tặng tôi một bản như vậy. Chính qua những cuộc trò chuyện tay đôi với ông cả ở nhà lẫn trên đường phố mà tôi hiểu được khá cặn kẽ con người cũng như suy tư của ông. Khi nghe tôi kể về tình cảnh đến thảm thương cũng như dự định nghiên cứu của Trần Đức Thảo, Jean Dupèbe, Giáo sư của tôi tại Đại học Paris 7, cựu sinh viên Trường Sư phạm nơi Trần Đức Thảo đã từng học, kêu lên: “Trần Đức Thảo là thầy của tất cả chúng tôi, tại nước Pháp này! Tôi sẽ phải làm cái gì đó để giúp Giáo sư Thảo”. Ngay sau đó, Jean Dupèbe đã vận động Hội cựu sinh viên Trường sư phạm lập ra một khoản trợ cấp cho ông.

Tóm lại, Trần Đức Thảo coi tôi như “thủ túc” của ông. Chị Hiền và bà Bích Hồng, cùng ở Nhà khách, là những người có măt khi ông hấp hối tại chính căn buồng của ông, thuật lại với vợ tôi: “Khi hấp hối, bác Thảo kêu: “Vũ ơi? Vũ ơi?” thì mọi người thưa rằng: “Vũ đang đi thực tập ngoại giao tại Sénégal. Vũ sắp về rồi”. Bác Thảo không nói gì nữa, rồi mất”.”

(Cù Huy Hà Vũ, “Bảo vệ ‘con người thật’ của Trần Đức Thảo”, BBC, 7/5/2018, URL = < https://www.bbc.com/vietnamese/forum-44031382>

5. Bình đựng tro cốt của GS Trần Đức Thảo được đưa về Việt Nam vào đầu tháng 5 năm 1993, được “tá túc” một thời gian tại Nhà tang lễ Phùng Hưng trước khi được đưa vào chôn cất tại Khu A, Nghĩa trang Văn Điển. [Ảnh 4-11] TS. Cù Huy Chử từng kể lại với tôi rằng, sở dĩ bình tro của GS Trần Đức Thảo phải “tá túc” lâu đến vậy tại Nhà Tang lễ Phùng Hưng là nhà thơ Huy Cận lúc đó đã “đấu tranh” để đưa bình tro của GS. Thảo vào chôn cất tại Nghĩa trang Mai Dịch, nhưng không thành (vì hàm phẩm “chuyên viên cao cấp” của ông thấp hơn hàm Thứ trưởng, là hàm phẩm tối thiểu để được xem xét chôn cất tại Nghĩa trang Mai Dịch).

Nhà văn Phùng Quán, một nhân vật “Nhân văn-Giai phẩm”, một người nhân chứng lịch sử khác, kể lại như sau:

“Năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, triết gia đã bay sang Pháp để hoàn thành tác phẩm triết học Mácxit quan trọng của đời mình: “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Triết gia đã trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách quê người, khi tác phẩm còn viết dở dang… Triết gia có tên là Trần Đức Thảo. Lần này triết gia trở về Tổ quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hóa thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn màu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đá và cũng to bằng cỡ đó.

Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và trường đại học nào trước đây triết gia đã từng công tác và giảng dạy nhận về để nhờ hoặc để quản, nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 đường Phùng Hưng, Hà Nội.

Được biết tin này tôi tìm đến thắp hương và lễ triết gia với lòng ngưỡng mộ sâu sa đối với một nhân tài của đất nước.

Gầm cầu thang nhà tang lễ thành phố từa tựa cái hang và được ngăn thành ba hốc, mỗi cái hốc là một phòng dành cho cả các bình tro hài cốt tạm trú trước khi có người đến nhận. Ba phòng trú phần thiết kế và trang trí nội thất đều giống nhau. Mỗi phòng rộng chừng bảy, tám thước vuông. Trần phòng thấp, đổ dốc về phía trong theo độ dốc cửa cầu thang. Một cái bệ xi măng, quét vôi vàng và giữa trần là một quầng đen ám khói hương. Bên trên trần là những bậc cầu thang lên tầng hai của ngôi nhà. Tiếng giày, tiếng guốc lên xuống, lên xuống rậm rịch…

Triết gia tạm trú ở phòng số ba, kể từ ngoài cửa vào. Tuy các phòng không đề số phòng, nhưng không có cửa nên cũng dễ tìm. Bình tro đặt trong cái hộp các-tông xung quanh phết giấy điều. Trước bình tro là bát hương, sau bình tro, trên tường dán tấm giấy điều với mấy chữ nho nguệch ngoạc. Lúc tôi đến thì hai phòng một, hai đều bỏ trống, và hình như đã lâu không có ai thuê, vì cả hai bát hương đều gầy guộc chân hương.

Nhìn cái bệ xi măng, bát hương, hộp các-tông đựng bình tro, tấm giấy điều dán trên tường với mấy chữ nho nguệch ngoạc, nghe tiếng giày guốc rậm rịch, sát ngay trên đỉnh đầu, tôi bỗng chợt nhớ câu thơ của Oantơ Uýtman trong tập “Lá Cỏ” thiên tài của ông: Nếu chết, tôi xin phó thân cho bùn đất để tái sinh làm ngọn cỏ tôi yêu, hãy tìm dưới đế giày của các bạn. Tôi được biết, triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm. Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5 ngàn đồng. Tôi nói vui với một cán bộ của công ty: “Thế này thì giá tiền phòng đắt bằng khách sạn ba sao rồi còn gì, Anh ta cãi: “Đắt sao bằng. Tiền phòng khách sạn ba sao mỗi ngày đêm ít nhất là một trăm năm chục ngàn. Nếu khách quốc tế thuê, trả bằng đô thì giá còn cao hơn…”. Tôi nói: “Nhưng diện tích phòng các anh là diện tích tranh thủ, chưa đầy mét vuông, không gian chỉ hơn nứa thước khối. Khách thuê phòng không phải dùng đến giường, đệm, chăn màn, ti vi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hòa nhiệt độ, toa-lét, nhân viên phục vụ… tính chi li, theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao”.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là để chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay về Văn Điển. Tôi tính rằng nếu tro trong bình kia biết nói thì tro sẽ nói: “Người cách mạng không nên đòi hỏi hường thụ quá những tiêu chuẩn mà cách mạng đã quy định. Tôi mới đủ tiêu chuẩn Văn Điển sao lại cứ đòi hưởng vượt tiêu chuẩn Mai Dịch? Thói đặc quyền đặc lợi đã làm hư hỏng biết bao nhiêu con người tốt! Nên đưa tôi đi sớm ngày nào hay ngày ấy để đỡ tốn kém tiền của nhân dân!”

Sau năm mươi ngày chờ đợi, tốn mất hai trăm năm chục ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quyết định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn, hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định. Sáng ngày 20-6-1993, tôi may mắn được cùng với bà con thân thích, mấy người học trò xưa, người vợ cũ từng tốt nghiệp đại học Sorbonne của triết gia, và một số cán bộ lãnh đạo của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, đưa tiễn triết gia đoạn hành trình cuối cùng của đời ông.

Khu A nghĩa trang Văn Điển có hàng nghìn ngôi mộ xếp thành hàng thẳng tăm tắp, được xây giống nhau, giống hệt những căn hộ khép kín của các khu nhà lắp ghép.

Các hàng mộ cũ đều đã kín chỗ, nên mộ của triết gia “được đánh giá là một trong những nhà triết học hàng đầu của thế kỷ” “Tuần báo Văn Nghệ tháng 5- 1993), tác giả phương pháp hiện tượng học của Hussen, hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức triết học đã đi đến đâu là ngôi mộ mở đầu cho một hàng mới.

Nhìn ngôi mộ đơn độc đang xây trát dở dang, tôi thầm nghĩ “Triết gia nằm ngay ở đầu hàng lại hóa hay, giống như ở tầng trệt của khu nhà tập thể cao tầng. Ông sẽ tránh được cái nạn và.o nhầm mộ người khác, như ngày còn ở khu tập thể Kim Liên, ông ở tầng ba nên ông thường xuyên vào nhầm phòng ở các tầng dưới”.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo cách các nhà giàu có xưa: trong quan ngoài quách. Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối.

Lúc bình tro hạ huyệt, tôi châm nén hương lễ ông, và khấn thầm: “Anh Thảo ơi, xin anh đừng quá nghiệt ngã với bản thân đến thế… Với tất cả công tích, tài năng, trí tuệ trác việt và những tác phẩm triết học mà anh đã trọn đời dâng hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho sự toàn vẹn vô song của chủ nghĩa Mác, thì anh cũng có quyền được hưởng một chút xíu xa xỉ như vậy…”.

6. Sau khi Giáo sư Trần Đức Thảo yên nghỉ tại Nghĩa trang Văn Điển, ngoài người quản trang thắp hương cho ông vào dịp Lễ Tết, ngôi mộ của ông đúng như những gì Nguyễn Du từng mô tả trong Truyện Kiều: “Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm”. Đến năm 2013, tưởng niệm 20 năm ngày mất của GS. Trần Đức Thảo, GS. Nguyễn Đình Chú, học trò cũ của Giáo sư Trần Đức Thảo, đại diện cho một số học trò cũ của GS Trần Đức Thảo, đã gửi thư cho Tỉnh ủy Bắc Ninh, nhắc lại di nguyện lúc sinh thời của GS Trần Đức Thảo mong muốn được yên nghỉ tại quê nhà Bắc Ninh, và mong muốn được lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh và huyện Châu Khê đồng ý, nhưng mong muốn của GS. Chú đã bị chính quyền địa phương từ chối, với lý do họ “còn đang bận lo cho người đang sống”.

Sau đó, trước dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Đức Thảo (2017), Giáo sư Nguyễn Đình Chú cùng các học trò cũ và các cán bộ, giảng viên tại Đại học Sư phạm Hà Nội và đại diện gia tộc họ Trần Đức tại Từ Sơn (Bắc Ninh) đã phát tâm đứng ra quyên góp và tôn tạo phần mộ của Triết gia Trần Đức Thảo khang trang, đẹp đẽ như bây giờ.

(Ảnh 12-16, từ FB TS Nguyễn Xuân Diện).

Trân trọng.
Nguyen Trung Kien

=========

Bảo vệ ‘con người thật’ của nhà triết học Trần Đức Thảo

  • Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ
  • Gửi cho BBC

7 tháng 5 2018

Trần Đức Thảo (trái), Cù Huy Cận (phải) và con trai Cù Huy Hà Vũ (giữa) tại Nhà khách sư quán Việt Nam, 2 Le Verrier, Paris, đầu năm 1993
Chụp lại hình ảnh, 

Ngày 28 tháng 4 vừa qua, BBC Tiếng Việt đăng bài ‘Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?’, dẫn nhập: “Cuốn hồi ký ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’ do nhà báo Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê biên soạn ghi lại các tâm sự của ông Trần Đức Thảo sau khi ông trở lại Pháp đầu thập niên 1990”. 

Tôi thực sự bị sốc sau khi đọc bài viết này.

Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?

Trước hết, bất cứ độc giả thông thường dễ dàng nhận thấy cuốn sách ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’ không phải là hồi ký của Trần Đức Thảo. Đơn giản là đã gọi là ‘hồi ký’ thì phải có bản thảo của chính Trần Đức Thảo. Thế nhưng đã không có bất cứ bản thảo hồi ký nào của ông. Bản thân BBC Tiếng Việt cũng thừa nhận cuốn sách này chỉ là “ghi lại lời ông Trần Đức Thảo”. 

Tiếp đó, với tư cách là một người có quan hệ gần gũi với Trần Đức Thảo, tôi thấy cuốn sách ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’ là một sự xuyên tạc có chủ ý triết gia duy nhất này của Việt Nam (tính đến thời điểm hiện tại), hơn thế nữa, được giới triết học quốc tế ngưỡng mộ.

Thời gian sống cùng Trần Đức Thảo

Thực vậy, tôi và vợ tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, đã có thời gian sống cùng Trần Đức Thảo tại Nhà khách Sứ quán Việt Nam ở Paris, số 2 Le Verrier, cho đến khi ông mất vào cuối tháng 4 năm 1993.

Năm 1992, với tư cách cán bộ Bộ ngoại giao Việt Nam, tôi trở lại Paris để học tại Học viện quốc tế quản lý hành chính công (IIAP), trực thuộc Thủ tướng Pháp, nay là Trường quốc gia hành chính (ENA). Việc vợ chồng tôi thuê một phòng tại Nhà khách này không chỉ vì đó là nơi tôi đã ở trong lần du học trước đó mà còn vì cách trường có hai trăm mét, tại số 2 đại lộ l’Observatoire. 

Ngay ngày đầu tiên tôi đã gặp Trần Đức Thảo. Số là tôi từ ngoài đường vào thì thấy một cụ già gầy gò, hai tai nút đầy bông, đang hổn hển kéo lên thang gác một xe đẩy nhỏ buộc một bịch nước đóng chai. Ngạc nhiên vì không thấy ai giúp ông, tôi liền nói: “Bác để cháu mang lên cho” và đưa bịch nước đó lên phòng của ông ở tầng 2. 

Đó là một căn phòng bề bộn sách và bản thảo, đặc biệt là rất bẩn và hôi, bông dính mủ rải rác khắp nơi. Mọi chỉ dấu cho thấy chỉ có mình ông ở đây. Vẻ cảm động, ông hỏi tôi: “Cháu tên gì?”. 

Tôi trả lời: “Cháu tên Vũ” rồi hỏi lại: “Bác tên gì?”. “Tôi là Trần Đức Thảo”, ông rành mạch. Tôi sững người: “Trần Đức Thảo! Cháu đã nghe tiếng bác từ lâu. Bác là nhà triết học. Cháu còn biết bác là nạn nhân của vụ án ‘Nhân văn Giai phẩm’. Bố cháu là Huy Cận, bác cháu là Xuân Diệu. Các ông ấy nói nhiều về bác lắm”. 

Trần Đức Thảo nói ngay: “Ai chứ Huy Cận, Xuân Diệu thì tôi thân lắm” rồi hỏi thăm về bố tôi (Xuân Diệu đã mất từ năm 1985). Sau này tôi mới biết là vào đầu năm 1991, ngay trước khi Trần Đức Thảo đi Pháp, bố tôi cùng chú ruột tôi là Cù Huy Chử, Tiến sĩ triết học, Trưởng khoa của Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh) và con chú tôi là Luật sư Cù Huy Song Hà, đã đến thăm ông tại nhà ở 200 Đề Thám, TP Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, bố tôi đã tặng ông bài thơ ‘Gửi thế kỷ 20’ với đề tặng “Kính tặng Anh Trần Đức Thảo, nhà triết học suy tư cùng thế kỷ”.

Thế là tôi trở thành chỗ tin cậy của triết gia họ Trần không chỉ trong chuyện “hậu cần” mà còn cả trong những việc ông đang làm ở Paris. Ông cho tôi biết vì sao và bằng cách nào ông sang được Pháp. 

Ông cũng chia sẻ với tôi những gì ông đã và đang làm và dự định của ông cho thời gian tới. Còn hiện tại, ông nhờ tôi bán những bản tóm tắt những đề tài triết học mà ông sẽ thuyết trình tại Nhà Việt Nam hay Đại học Paris 7 với giá 20 francs (hồi đó khoảng hơn 3 USD) một tập để có tiền sống qua ngày… 

Trần Đức Thảo đã ký tặng tôi một bản như vậy. Chính qua những cuộc trò chuyện tay đôi với ông cả ở nhà lẫn trên đường phố mà tôi hiểu được khá cặn kẽ con người cũng như suy tư của ông. Khi nghe tôi kể về tình cảnh đến thảm thương cũng như dự định nghiên cứu của Trần Đức Thảo, Jean Dupèbe, Giáo sư của tôi tại Đại học Paris 7, cựu sinh viên Trường Sư phạm nơi Trần Đức Thảo đã từng học, kêu lên: “Trần Đức Thảo là thầy của tất cả chúng tôi, tại nước Pháp này! Tôi sẽ phải làm cái gì đó để giúp Giáo sư Thảo”. Ngay sau đó, Jean Dupèbe đã vận động Hội cựu sinh viên Trường sư phạm lập ra một khoản trợ cấp cho ông. 

Tóm lại, Trần Đức Thảo coi tôi như “thủ túc” của ông. Chị Hiền và bà Bích Hồng, cùng ở Nhà khách, là những người có măt khi ông hấp hối tại chính căn buồng của ông, thuật lại với vợ tôi: “Khi hấp hối, bác Thảo kêu: “Vũ ơi? Vũ ơi?” thì mọi người thưa rằng: “Vũ đang đi thực tập ngoại giao tại Sénégal. Vũ sắp về rồi”. Bác Thảo không nói gì nữa, rồi mất”.

Trở lại cuốn sách ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’, sách mô tả Trần Đức Thảo gọi người quản lý Nhà khách là “đồng chí Hào”. Thế nhưng tên của người quản lý này là “Hảo”. Chỉ riêng chi tiết này thôi cũng đã cho thấy cuốn sách là bất khả tín. Ngoài ra, cả tôi lẫn vợ tôi chưa từng nghe Trần Đức Thảo gọi ông Hảo hay bất cứ ai khác là “đồng chí” trên đất Paris này. 

Về học thuật, Trần Đức Thảo là một nhà Marxist. Để khỏi chứng minh dài dòng, tôi lấy Trần Đức Thảo để định nghĩa Trần Đức Thảo.

Trong ‘Tiểu sử Trần Đức Thảo’ tự biên, ông viết: “Tháng 8 năm 1951 tôi công bố cuốn “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” do Nhà xuất bản Minh Tân phát hành. Cuốn sách này đánh dấu sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận biết được chân lý của những cơ sở lý luận của học thuyết duy vật biện chứng, nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua 2 con đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học”.

Trần Đức Thảo tán thành “chủ nghĩa xã hội”

Tóm lại, Trần Đức Thảo tán thành “chủ nghĩa xã hội” theo học thuyết Mác-Lênin và khẳng định cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam dẫn đến chủ nghĩa xã hội.

Còn sau đây là một số “quan điểm” của Trần Đức Thảo mà bài ‘Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?’ trích ra từ ‘Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối’.

-Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, do Lênin tuỳ tiện khai triển tư tưởng Marx là phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu của thời Sa hoàng vào trong một gông cùm kiểu mới, với cái tên đẹp hơn: “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em… Bắc Kinh cũng đối xử với Tây Tạng, với Triều Tiên, với cả ta, theo tâm thức bành trưởng đế quốc như thế, cũng dưới chiêu bài “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em”, giữa hai “láng giềng hữu hảo, môi hở răng lạnh”!…

Hẳn để thuyết phục người đọc về tính xác thực của những “quan điểm” nêu trên, những quan điểm phủ nhận hoặc hoàn toàn lạ lẫm với sự theo đuổi chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam của Trần Đức Thảo được thể hiện qua các văn bản do chính ông công bố, Phan Ngọc Khuê vẫn trong cuốn sách này đã hơn một lần dẫn ra cái gọi là “tâm sự” của triết gia theo đó ông đang chú tâm hoàn tất một cuốn sách có tính “phản tỉnh”. 

-Ai cũng cần đọc sách này để thấy, để hiểu thảm hoạ đã đến với mỗi con người chúng ta như thế nào. Sách như thế thì làm sao có thể viết được ở quê nhà. Chúng nó thì đánh cho vỡ đầu ấy chứ! Ha! Ha! Ha…! Chừng nào cuốn sách của tôi được in ra thì tất cả những thắc mắc mà các bạn ở Paris này nêu ra từ trước tới nay sẽ được giải đáp cho bằng hết. Và tôi đang gấp rút biên soạn nó…

Trần Đức Thảo
Chụp lại hình ảnh, Trần Đức Thảo

Vậy thì, nếu quả những “tâm sự” trên của Trần Đức Thảo mà Phan Ngọc Khuê “ghi lại” là có thật, thì trong di cảo của ông, nếu không có một bản thảo theo đúng nghĩa cho một cuốn sách “phản tỉnh” như vậy thì chí ít phải có bản thảo thể hiện không ít thì nhiều sự “phản tỉnh” ấy của ông. Thế nhưng thực tế cho thấy đã không có bất cứ bản thảo nào như vậy. 

Thứ nhất, Trần Đức Thảo cho tôi, Cù Huy Hà Vũ, biết ông gửi lưu trữ một số bài viết của ông cho một cơ quan lưu trữ tại Paris (có trả phí bảo quản). Sau khi Trần Đức Thảo mất, cơ quan lưu trữ này gửi thư thông báo ông Thảo còn nợ một số tiền bảo quản tài liệu. Chính tôi đã thanh toán số tiền này và cơ quan lưu trữ đã gửi những bài viết của ông cho tôi. Những bài viết này của Trần Đức Thảo có một bản tiểu sử do ông tự biên soạn và vài bản thảo khác thuần túy triết học, không liên quan đến thời sự, càng không chứa đựng những quan điểm “phản tỉnh” như Phan Ngọc Khuê mô tả.

Thứ hai, bố tôi, Bộ trưởng Cù Huy Cận, trong một chuyến công tác tại Pháp vào đầu năm 1993, có thăm Trần Đức Thảo ngay tại Nhà khách Sứ quán. Tại buổi gặp và trò chuyện này giữa hai ông, tôi đã có mặt và đã có chụp ảnh kỷ niệm (đăng kèm bài này). Ông Thảo đã không bày tỏ với bố tôi bất cứ quan điểm nào có tính “xét lại” chứ đừng nói gì đến “phản tỉnh” mặc dù hai ông rất thân tình với nhau. Sau khi Trần Đức Thảo mất, chính bố tôi là người đã đề xuất Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Độc lập cho ông và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện điều này trước khi tang lễ của ông được tổ chức.

Thứ ba, sau khi Trần Đức Thảo mất, sứ quán Việt Nam đã gửi toàn bộ tài liệu trong đó có các bản thảo của Trần Đức Thảo có trong buồng ông tại Nhà khách Sứ quán về Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Chú ruột tôi, Cù Huy Chử, Tiến sĩ triết học Trưởng khoa của Học viện này (chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh) như trên đã nói, là người gần gũi với Trần Đức Thảo từ năm 1960, được giao toàn bộ tài liệu này để nghiên cứu. Ông Chử đã cho tôi xem tất cả khối tài liệu này (mà một phần đáng kể là bằng tiếng Pháp) hiện lưu giữ tại nhà ông. Ông Chử cũng nhiều lần trao đổi với tôi về Trần Đức Thảo với mong muốn tôi hợp tác viết sách về nhà triết học Marxist này. Đã không một bản thảo nào trong số tài liệu đó thể hiện cách nhìn phủ nhận những gì Trần Đức Thảo đã viết và công bố. 

Cho dù tôi không phải là người tán thành mọi quan điểm của Trần Đức Thảo nhưng tôi sẽ bảo vệ đến cùng con người vốn dĩ của ông.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, gửi cho BBC từ Hoa Kỳ.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: