Trần Hoàng Blog

►Tướng Lê Minh Đảo đã ra đi 19/3/2020 – ông đã cảnh báo về con trăn gió Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 20/03/2020

Tướng Lê Minh Đảo (1933) đã qua đời tối 19-3-2020 tại Connecticut, Mỹ, thọ 87 tuổi.



Tướng Lê Minh Đảo và cảnh báo con trăn gió Trung Quốc

VOA Nguyễn Hùng 20-3-2020

Vậy là vị Tướng ngồi hát cho tôi nghe vào một ngày hè tháng Năm cách đây ngót năm năm đã ra đi. Hôm đầu tuần thấy có người đưa tin ông qua đời tôi vội hỏi Trung tá Hải quân Hoa Kỳ đã hồi hưu Nguyễn Anh Tuấn, người giới thiệu tôi với Tướng Đảo năm nào, nhưng tôi thở phào vì đó chỉ là tin đồn.

Nhưng tối 19/3 giờ London, Trung tá Tuấn báo cho tôi vị Tướng đã rời cõi tạm để tới một thế giới mà tôi tin ông sẽ không bị “mất nước”, chẳng bị cải tạo tới 17 năm và đường tình duyên đâu còn trắc trở.

Tướng Lê Minh Đảo và trung tá Nguyễn Anh Tuấn.
Tướng Lê Minh Đảo và trung tá Nguyễn Anh Tuấn.

Những lời hát tiếng Pháp ông dịch lại cho tôi nghe hè năm 2015, tôi cũng đã dịch sang tiếng Anh cho nhiều người nghe. Mỗi khi đi dạy về mạng xã hội tôi lại lấy video đã được gần 4,5 triệu lượt xem ra để làm ví dụ về chuyện những nhân vật lịch sử có sức hút công chúng tới đâu:

“Tôi đã xa rời đất nước tôi

Tôi đã xa ngôi nhà của tôi

Cuộc đời tôi, cuộc đời buồn thảm của tôi

Sao tôi vô cớ kéo lê cuộc đời”

Từ chỗ là một ngôi sao trong Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong những ngày cuối Cuộc chiến Việt Nam mà nổi bật là vai trò tư lệnh trận cầm chân quân cộng sản ở Xuân Lộc, Tướng Đảo bị đưa đi khắp các trại cải tạo từ nam ra bắc sau tháng Tư năm 1975. Trong khi nhiều vị tướng khác tháo chạy khỏi Sài Gòn trong “tháng Tư đen”, Tướng Đảo quyết ở lại bảo vệ mảnh đất quê hương. Ông cũng không để cho vợ và chín người con rời đi. Sau này khi ông đã vào tù, mười người trong gia đình ông phải tới lần vượt biên thứ hai mới có thể thoát khỏi nơi họ coi là địa ngục.

Khi tôi tới tư gia Tướng Đảo tại tiểu bang Connecticut vào chiều một ngày đầu tháng Năm năm 2015, ông mới từ California trở về sau khi tới đó dự các hoạt động tưởng niệm 40 ngày mất nước. Trung tá Nguyễn Anh Tuấn lái xe đưa tôi và một người thân từ New York xuống thăm vợ chồng Tướng Đảo. Đó là người vợ thứ hai của ông và bà khá kín tiếng. Biết chúng tôi tới, Tướng Đảo thôi đi lễ nhà thờ ngày Chủ Nhật chờ khách. Hai ông bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm tối và nghỉ lại tới hôm sau. Ngôi nhà của hai ông bà ấm cúng, không quá to như nhiều ngôi nhà ở Hoa Kỳ. Tôi không khỏi có cảm giác hơi kỳ kỳ khi là người Bắc duy nhất trong bữa cơm tối hôm đó dù Tướng Đảo nói trong phỏng vấn với tôi rằng ông còn thương người Bắc hơn người Nam:

“Tới bây giờ tôi về nhà vợ tôi hỏi tôi tại sao anh thương dân miền Bắc hơn dân miền Nam, tôi nói ‘Dân miền Bắc đáng thương lắm, họ đau khổ lắm, họ đau khổ hơn mình, họ đau khổ nhiều hơn mình hơn 20 năm trong chế độ cộng sản.

“Một người cộng sản đã nói với chúng tôi thế này: ‘Các anh biết các anh thua, tại sao các anh thua không? Không phải tại Mỹ bỏ cái gì hết cả. Là tại anh không dám cầm súng anh bắn vô dân anh. Còn tụi tôi có chuyện [cần] làm chúng tôi vẫn phải bắn’…

Tướng Đảo kể trong thời gian cải tạo 17 năm, ông gầy tới mức có thể chui lọt kẽ nhỏ giữa tường và mái nhà tù. Có lần ông đã làm vậy để giấu bức thư ông viết gửi Tổng thống Reagan xin can thiệp để ông thoát khỏi ngục tù và có dịp nhìn thấy mẹ già lần cuối. Ông cũng thường bò sang thăm các cha tuyên uý bị giam kế bên trong ngục tù ở Sài Gòn và ông đã chính thức theo Công giáo trong một lần như thế với tên thánh Louis. Ông nói lời cầu nguyện để mong gặp lại người mẹ cũng thành hiện thực khi ông được trả tự do hồi năm 1992 và có vài tháng bên mẹ trước khi bà mất vài tháng sau đó.

Một số hình ảnh chụp tại tư gia Tướng Lê Minh Đảo.
Một số hình ảnh chụp tại tư gia Tướng Lê Minh Đảo.

Khi tôi đề nghị ông hát bài gì đó cho chủ đề cuộc nói chuyện bên sông bớt chút nặng nề, tôi đã nghĩ thế nào ông cũng hát bài Nhớ Mẹ mà ông đã sáng tác khi ở tù:

“Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều

“Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi cứ trôi cho bạc mái đầu

“Không gian rưng rưng như sắp đứt

“Gió về nghẹn ngào như tiếng nấc

“Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc.”

Tướng Đảo tới Hoa Kỳ năm 1993 và tôi cũng không tiện hỏi ông đi bước nữa khi nào. Người vợ hai của vị Tướng rất ân cần và chu đáo. Bà chuẩn bị đồ ăn cho năm người tối hôm đó và cùng nghe Tướng Đảo kể lại những năm tháng trong ngục tù. Khi đó giọng ông vẫn sang sảng và có trí nhớ siêu phàm.

Cuộc nói chuyện của chúng tôi không thể thiếu vắng liên hệ của kết cục trong Cuộc chiến Việt Nam và vị thế của láng giềng phương bắc. Vị Tướng nói với chúng tôi:

“Tất cả nhân dân hai miền Nam, Bắc chúng ta đều thua cả. Thắng chăng, Tàu cộng nó thắng.

“Tàu cộng nó thắng vì giờ anh thấy đất nước mình… tôi cứ hình dung là một con nai và một con trăn gió. “Con trăn gió là thằng cộng sản Tàu, còn con nai là Việt Nam mình bây giờ.

“Con trăn gió đã nuốt phân nửa con nai tới cái lưng [hồi] năm 1954.

“Rồi 1975 tới giờ nó nuốt tận cổ con nai rồi.

“Bây giờ con nai chỉ còn ló cái đầu và cái sừng ngáp ngáp thế này thôi.

“Tàu nó bất chiến tự nhiên thành.”

Trong những ngày cả thế giới đang oằn mình chống dịch mà Tổng thống Trump chẳng ngại ngần nói là vi-rút Trung Quốc, câu “Tàu nó bất chiến tự nhiên thành” lại có thêm ý nghĩa mới.

Sau cuộc phỏng vấn với Tướng Đảo, Trung tá Nguyễn Anh Tuấn và tôi cũng có trao đổi chút về chuyện thuyết phục ông viết cuốn sách để lại cho hậu thế. Nhưng rồi cả hai chúng tôi đều bận công việc, cộng thêm khoảng cách giữa London và Connecticut khiến tôi không có dịp gặp lại vị Tướng và ý tưởng về một cuốn sách cũng dừng ở đó. Trung tá Tuấn mới nhắn tin trong lúc tôi đang viết bài rằng những người muốn chia sẻ mất mát với gia đình ông có thể gửi thư về địa chỉ phanuuleminhdao@gmail.com.

Trước khi tới gặp Tướng Đảo tôi đã nhiều lần nghe bài Nhớ Mẹ của ông và giờ tôi vừa viết những dòng này vừa nghe những lời:

“Giờ này hoàng hôn sắp tắt, con nghĩ gì đây, con nhớ mẹ nhiều
“Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi phiêu dạt mái đầu
“Quê hương điêu linh con vẫn khóc
“Trông chờ ngày về con vẫn thắp
“Từng đôi sao đêm như ánh mắt mẹ hiền”

Tướng Đảo nói với tôi ông không hận thù những người cộng sản nhưng ông cũng quyết không trở lại một Việt Nam không có tự do. Giờ ông đã đi xa và ngày Việt Nam có tự do như ông muốn vẫn còn xa. Nhưng ít nhất giờ ông đã về gần với mẹ. Mong ông yên nghỉ sau 87 năm vất vả. Xin cảm ơn và chia buồn cùng gia quyến.

  • Nguyễn Hùng
  • Nguyễn Hùng bắt đầu viết báo từ năm 1995 cho tờ Vietnam Investment Review và hai năm sau được Liên Hiệp Quốc chọn là một trong một vài nhà báo châu Á xứng đáng nhận giải thưởng mang tên cố tổng thư ký Dag Hammarskjold. Nguyễn Hùng đến London năm 2000, trở thành phát thanh viên, biên tập viên và phó ban Việt ngữ BBC. Trong vài năm trước khi rời BBC hồi năm 2017 để trở thành giảng viên báo chí kỹ thuật số ở Goldsmiths, University of London, Nguyễn Hùng phụ trách mảng mạng xã hội cho Vùng Đông Á và mảng kỹ thuật số cho Vùng Nam Á của BBC World Service. Nguyễn Hùng là người đồng sáng lập chương trình Bàn tròn Thứ Năm của BBC Tiếng Việt. Anh cũng sẽ chia sẻ blog này qua trang Facebook – https://www.facebook.com/haynhi3005/. Các bài viết của Nguyễn Hùng là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ


===========

Thiếu tướng Lê Minh Đảo từ trần, thọ 87 tuổi

20/03/2020

Tướng Lê Minh Đảo và ái nữ, Bích Phượng (Hình: FB Võ Thành Nhân)
Tướng Lê Minh Đảo và ái nữ, Bích Phượng (Hình: FB Võ Thành Nhân)

Xem bình luận

Thiếu tướng Lê Minh Đảo qua đời lúc 1:45 phút chiều ngày 19 tháng Ba, 2020, tại bệnh viện Hartford, Connecticut, Hoa Kỳ, thọ 87 tuổi. Ông ra đi giữa sự hiện diện đầy đủ của con cháu. Tin này được ông Võ Thành Nhân, giám đốc đài truyền hình SBTN-DC, xác nhận với VOA, theo thông tin từ bà Bích Phượng, ái nữ của tướng Lê Minh Đảo. 

Thiếu tướng Lê Minh Đảo được xem là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp Sư đoàn có khả năng nhất của Việt Nam Cộng hoà, từng là Tư lệnh chiến trường Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Sau đó, ông trở thành vị tướng Việt Nam Cộng hoà bị cầm tù lâu nhất, với 17 năm tổng cộng từ Bắc vào Nam. 

Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh Quân đội Việt Nam Cộng Hòa sinh ngày 5/3/1933 tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định. 

Ông học chương trình Pháp trường Lycée Petrus Ký, Sài Gòn và đậu bằng Tú Tài 2 năm 1952. 

Năm 1953, ông theo học khóa 10 Trần Bình Trọng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. 

Tháng 6 năm 1954, ông tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi ra trường, có một thời gian ông được giữ lại làm huấn luyện viên. 

Rời khỏi quân trường này, ông lần lượt giữ các chức vụ trong quân đội từ trung đội trưởng cho đến Tư lệnh sư đoàn. 

Tháng 3 năm 1972, ông rời khỏi chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Định Tường và sau đó một tháng, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh kiêm Tư lệnh Biệt khu 31 chiến thuật. 

Thiếu tướng Lê Minh Đảo nổi tiếng trong trận chiến Xuân Lộc, cầm chân hơn 3 sư đoàn Cộng sản Bắc Việt khiến cho lực lượng này phải bỏ mặt trận Xuân Lộc và chuyển hướng về phía Biên Hòa. 

Sau ngày 30/4, ông bị tù tại miền Bắc 12 năm. Sau khi các trại tù miền Bắc giải tán, ông được chuyển về Nam ở tù thêm 5 năm nữa. 

Thiếu tướng Lê Minh Đảo sang Mỹ tháng 4/1993 sau khi được trả tự do vào ngày 5/5/1992. 

Tại Mỹ, ngoài việc mưu sinh, lo cho gia đình, ông còn tham gia các sinh hoạt của các cựu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. 

Tháng 9 năm 2003, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là một trong những người sáng lập tổ chức “Tập thể Chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa” và giữ chức Chủ tịch Trung tâm Điều hợp Trung ương. 

Ngoài binh nghiệp, ông còn là một nhạc sĩ sáng tác. Nhạc phẩm “Nhớ Mẹ” do ông và Đại tá Đỗ Trọng Huề đồng soạn rất được anh em cựu tù nhân Việt Nam Cộng Hoà ưa chuộng.


=========


Mời các bạn click vào link này đọc thêm

Một tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan tốt nghiệp

Mar 28, 2016

Nguyễn Kỳ Phong

Trong hai năm 1973 và 1974, một tham vụ chính trị ở Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tên là James Nach, bắt đầu thâu thập một số chi tiết lịch sử về nguồn gốc các trường đào tạo sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và sĩ quan tốt nghiệp từ các trường đó. Tác giả ghi lại rất nhiều chi tiết về mười khóa đầu của Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt và năm khóa đầu của Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức. Ðây là một tập tài liệu với nhiều chi tiết lý thú. Ông James Nach còn bỏ công ra ghi lại chức vụ đương nhiệm của một số sĩ quan tốt nghiệp. 

Theo sự hiểu biết của người viết bài này, tài liệu của James Nach là một trong hai tài liệu duy nhất của người Mỹ nghiên cứu về hệ thống đào tạo sĩ quan và xuất thân của sĩ quan QLVNCH. Năm 1970, cơ quan Advanced Research Projects Agency (một cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) có thực hiện một nghiên cứu với tựa đề An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính cách chính trị nhiều hơn là lịch sử, vì tài liệu chỉ nói đến hệ thống sĩ quan tướng lãnh và phân loại họ có chiều hướng theo “phe” nào trong thời điểm đó. (i)

Tài liệu của James Nach được viết ở Sài Gòn và gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự chuẩn hành của Ðại Sứ Graham Martin. Vì tài liệu nằm trong dạng công văn, nên chỉ được lưu trữ trong văn khố hay các trung tâm nghiên cứu về Việt Nam. Bài viết dưới đây sơ lược lại những chi tiết lý thú của tác giả James Nach trong The National Military Academy and Its Prominent Graduates, và, Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools. (ii)

The National Military Academy and Its Prominent Graduates

Trong phần nghiên cứu về Trường Võ Bị Quốc Gia và Những Sĩ Quan Tốt Nghiệp Danh Tiếng, James Nach sơ lược lại sự thành hình của trường Võ Bị Quốc Gia. Hai khóa đầu tiên Trường Sĩ Quan Hiện Dịch bắt đầu ở Huế, Khóa 1 tháng 12, 1948, và Khóa 2 tháng 9, 1949. Tháng 10, 1950 trường dọn về Ðà Lạt và bắt đầu Khóa 3, với tên mới là Trường École Militaire Inter-Armes de Dalat. (iii) Trường chánh thức đổi lại thành Trường Võ Bị Liên Quân sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955, và trở thành Trường Võ Bị Quốc Gia từ tháng 4 năm 1963 cho đến khi giải tán (Sắc Lệnh 325-QP, 10.4.1963).

Hai Khóa 1 Phan Bội Châu (53 sĩ quan tốt nghiệp) và Khóa 2 Quang Trung (97 tốt nghiệp) ở Huế ra trường một số sĩ quan sau này trở thành những tướng lãnh quan trọng của đầu thập niên 1960. Thủ khoa Khóa 1 là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có; Khóa 2 là Thiếu Tướng Hồ Văn Tố (chết bất thình lình năm 1961 trong lúc chỉ huy Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức). Những tướng lãnh tốt nghiệp Khóa 1 như các Trung Tướng Ðặng Văn Quang, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Trung. Một số sĩ quan cấp thiếu tướng và chuẩn tướng như Bùi Ðình Ðạm, Phan Xuân Nhuận, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Văn Chuân. Khóa 2 có chín sĩ quan trở thành Tướng lãnh: Trung Tướng Ngô Dzu và Nguyễn Văn Mạnh; các Thiếu Tướng Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn Cao; Hoàng Văn Lạc; Lê Ngọc Triển; và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường. Trung Tá Vương Văn Ðông, một trong những nhân vật chủ mưu đảo chánh 11 tháng 11, 1960, cũng ra từ Khóa 2 này.

Khóa 3 Trần Hưng Ðạo có 135 sĩ quan tốt nghiệp. Ðây là khóa đầu tiên khai giảng ở Ðà Lạt. Có 9 sĩ quan trở thành cấp tướng – cấp tướng hạng “nặng ký.” Khóa có 4 Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm (tư lệnh Quân Ðoàn I, tốt nghiệp hạng 5), Nguyễn Xuân Thịnh (tư lệnh Binh Chủng Pháo Binh, hạng 8), Lâm Quang Thi (tư lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn I, hạng 12); và Lữ Lan (tư lệnh Quân Ðoàn II, hạng 24). Hai sĩ quan tốt nghiệp trở thành tướng của quân chủng Không Quân là Chuẩn Tướng Võ Dinh (tham mưu trưởng Không Quân VNCH) và Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh (chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân). Hai Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu (Á khoa, tư lệnh Phó Quân Ðoàn III, khi bị tai nạn súng chết) và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ và Thi đều trở về trường mẹ, làm chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia.

Từ Khóa 4 (Khóa Lý Thường Kiệt, tháng 11.1951 – tháng 12.1951) đến Khóa 10 (Khóa Trần Bình Trọng, tháng 10.1953 – tháng 6.1954) trường đào tạo thêm 23 tướng lãnh. Phần lớn là những tướng hành quân/tác chiến, hơn là tướng tham mưu/hành chánh. Khóa 4 có hai trung tướng là Nguyễn Văn Minh (tư lệnh QÐ III, 1972) và cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh (tư lệnh QÐ IV khi tử nạn tháng 5, 1970). Hai sĩ quan kia là Chuẩn Tướng Ðỗ Kiến Nhiểu (Ðô Trưởng Sài Gòn) và Thủ khoa Nguyễn Cao Albert (giải ngũ). Riêng tên của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh được đặt cho hai khóa tốt nghiệp sĩ quan của QLVNCH: Khóa 6/1970 Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức, và Khóa 26 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. 

Khóa 5 Hoàng Diệu (8.1951 – 5.1952), với 225 sĩ quan tốt nghiệp, là khóa đào tạo nhiều tướng lãnh nhất: 10 sĩ quan cấp Tướng. Các trung tướng Nguyễn Văn Toàn; Nguyễn Vĩnh Nghi; Phạm Quốc Thuần; Dư Quốc Ðống; Phan Trọng Chinh. Hai thiếu tướng Trần Bá Di và Ðỗ Kế Giai. Các chuẩn tướng Trần Văn Cẩm; Chương Dzếnh Quay; Lê Văn Tư. Có ba đại tá tốt nghiệp khóa này cũng được nhắc đến nhiều là Dương Hiếu Nghĩa (thủ khoa, liên hệ đến vụ đảo chánh 1.11.1963); Phạm Văn Liễu (ra trường hạng 19, liên hệ đến nhiều vụ đảo chánh); và Lê Ðức Ðạt (hạng 20, tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh khi bị mất tích ở Tân Cảnh tháng 4, 1972). 

Khóa 6 Ðinh Bộ Lĩnh (12.1951 – 10.1952; 181 sĩ quan tốt nghiệp) có ba chuẩn tướng Lý Tòng Bá (Thủ khoa); Trần Quang Khôi (hạng 6); và Trần Ðình Thọ (hạng 79). Nhà văn Trung Tá Nguyễn Ðạt Thịnh cũng đến từ khóa này. 

Khóa 7 có Chuẩn Tướng Trương Quang Ân (Thủ khoa, tử nạn trực thăng năm 1968); Lê Văn Thân; và Trần Văn Hai. 

Khóa 8 có Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, và Chuẩn Tướng Huỳnh Thới Tây (tư lệnh Cảnh Sát Ðặc Biệt). 
Khóa 9 không có sĩ quan tốt nghiệp nào lên tướng. 

Khóa 10 Trần Bình Trọng (10.1953 – 6.1954) là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên, với 400 sĩ quan tốt nghiệp. Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18); hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Trần Văn Nhật. 

Mười khóa đầu của trường Võ Bị Quốc Gia đào tạo tất cả 40 tướng trong số 80 tướng hiện dịch của năm 1974 (80 tướng hiện dịch không kể tướng của quân chủng Hải Quân hay ngành Quân Y).

Trong khi 10 khóa đầu đào tạo nhiều tướng lãnh chỉ huy của QLVNCH, các Khóa 11 đến 20 đào tạo nhiều sĩ quan trung cấp, cột trụ của quân đội. Những sĩ quan cấp trung tá và đại tá của Khóa 14-18 hiện diện và chỉ huy hầu hết các đơn vị chủ lực của QLVNCH. (iv) Khóa 16 Ấp Chiến Lược (226 sĩ quan tốt nghiệp; Thủ khoa Bùi Quyền) có nhiều sĩ quan đã lên đến cấp bậc trung tá hay đại tá, chỉ huy Trung Ðoàn hay Lữ Ðoàn trong quân đội.

Hai Khóa 19 và 20 thì có nhiều sĩ quan tiểu đoàn trưởng. Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt nghiệp và là khóa kém may mắn nhất: ba sĩ quan vừa tốt nghiệp vài ngày đã tử trận ngay ở chiến trường, trong đó Thủ khoa Võ Thành Kháng (trận Bình Giả). Khóa 20 được coi là đông nhất (406 tốt nghiệp; Thủ khoa Trần Thanh Quang). Khóa 22B là khóa đầu tiên ra trường với trình độ văn hóa bốn năm. Nhưng khóa cũng không được may mắn khi Thủ khoa Nguyễn Thanh Phóng bị tử trận vài tháng sau đó, trong cuộc hành quân đánh qua đánh qua Cam Bốt năm 1970.

Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools

Ðây là tài liệu nghiên cứu về Lịch Sử Quân Ðội Quốc Gia, hệ thống sĩ quan, và các trường huấn luyện quân sự. Tác giả James Nach đi ngược về năm 1939, khi Cao Ủy Ðông Dương, Tướng Catroux, bắt đầu tuyển mộ và huấn luyện sĩ quan Việt Nam cho quân đội Pháp và cho quân đội thuộc địa trong tương lai. Ðây không phải là một thiện chí của chánh phủ Pháp đối với người dân thuộc địa, đây chỉ là một phòng hờ cho Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu nhen nhúm. 
Tài liệu nói về một số trường đào tạo cấp chỉ huy quân sự từ năm 1939 trở đi như, Nội Ứng Nghĩa Ðinh và Nội Ứng Nghĩa Quân. Theo tác giả Nach, Trung Tướng Văn Thành Cao và Trình Minh Thế của quân đội Liên Minh Cao Ðài được huấn luyện từ trường này. Người Pháp cũng lập ra một vài trường huấn luyện quân sự cho các Giáo pháo. 
Trường huấn luyện Cái Vồn của Hòa Hảo là nơi xuất thân của các Tướng Trần Văn Soái, Cao Hảo Hớn, Lâm Thành Nguyên. Tác giả cho biết sau khi trường Cái Vồn bị đóng cửa, một số sinh viên được phép ghi danh nhập học trường Võ Bị ở Huế. Những trường khác được nhắc tên trong giai đoạn này như Trường Móng Cay, Trường Quân Chính, trường Quốc Gia Thanh Niên Ðoàn (một trường quân sự chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lập).

Năm 1946-47, Ðảng Ðại Việt của Trương Tử Anh thiết lập trường huấn luyện quân sự Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Trường khai giảng ở Thanh Hóa, nhưng sau đó vì áp lực của Việt Minh nên phải dời về Yên Bái, và sau cùng về vùng Chapa gần biên giới Việt-Trung. Trường này đôi khi còn được gọi là trường Sĩ Quan Yên Bái. Những người đã theo học trường này gồm có Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu; Ðại Tá Phạm Văn Liễu; Ðại Sứ Ðinh Trình Chính (đại sứ ở Thái Lan); Ðại Sứ Ngô Tôn Ðạt (đại sứ ở Ðại Hàn); và ký giả Nguyễn Tú (nhật báo Chính Luận). (v)
Cũng trong thời gian 1938-1940, quân đội Pháp thiết lập hai trường huấn luyện Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan thành sĩ quan (vi) ở Thủ Dầu Một và Tong. Ðại Tướng Dương Văn Minh, và Tổng Trưởng Tư Pháp Lê Văn Thu theo học Trường Thủ Dầu Một; trường Tong thì có những sĩ quan tốt nghiệp như các Trung Tướng Trần Văn Ðôn; Linh Quang Viên; Nguyễn Văn Vỹ; và Trần Văn Minh.

Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, Bộ Tư Lệnh Quân Ðội ở Ðông Dương gia tăng tuyển mộ lính thuộc địa cũng như huấn luyện cấp chỉ huy để phục vụ ở những đơn vị này. Trường Võ Bị Võ Bị Liên Quân Viễn Ðông được thành lập tháng 7, 1946 tại Ðà Lạt. Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp. (vii) Những sĩ quan tốt nghiệp trường này gồm có hai Ðại Tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm; Trung Tướng Trần Ngọc Tám và Dương Văn Ðức; các Thiếu Tướng Nguyễn Văn Kiểm (Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu); Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn; Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc Lắm. 

Năm 1947-1948, trường được dọn Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Võ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu). Những sĩ quan tốt nghiệp trường này có cố Trung Tướng Ðỗ Cao Trí; Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham Mưu Phó/Nhân Viên, Bộ Tổng Tham Mưu); Ðại Tá Trang Văn Chính (Chỉ Huy Phó Chiến Tranh Chính Trị); và Ðại Tá Bùi Quang Ðịnh (Bộ Chiêu Hồi). 

Trong 5 năm, 1949-1953, một trung tâm huấn luyện hoàn hảo sĩ quan được thành lập ở Cap St. Jacques. Trung tâm huấn luyện năm khóa. Khóa 1 có những sĩ quan tốt nghiệp như cố Ðại Tướng Cao Văn Viên; cố Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh; và Ðại Tá Vũ Quang Tài.

Như đã nói ở phần đầu bài viết, năm 1948, một trường đào tạo sĩ quan được thành lập ở Huế để bắt đầu lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia. Tác giả James Nach đã sơ lược về Trường Võ Bị Quốc Gia. Cũng trong cùng tài liệu, ông Nach sơ lược về lịch sử Trường Liên Quân Võ Khoa Thủ Ðức. Tài liệu này cũng công phu không kém tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia. Vì khuôn khổ giới hạn của bài viết, ở đây chỉ tóm tắt lại những chi tiết đáng ghi nhớ.

Nguyên thủy lúc thành hình là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thu Duc va Nam Dinh (Les Écoles des Cadres de Réserve de Thu Duc et Nam Dinh), với Khóa 1 Lê Văn Duyệt được khai giảng ngày 1 tháng 10-1951 ở hai nơi, Thủ Ðức và Nam Ðịnh. Thủ Ðức có 278 sĩ quan tốt nghiệp; Nam Ðịnh có 218. Khóa 1 đào tạo tất cả 19 tướng lãnh cho QLVNCH, trong đó có bốn trung tướng Trần Văn Minh, Nguyễn Ðức Thắng, Lê Nguyên Khang, và Ðồng Văn Khuyên (Á khoa). Sau Khóa 1, trường dời về Thủ Ðức. 

Trong mười khóa đầu tiên, Khóa 4 Cương Quyết (12.1953 – 6.1954) và Khóa 5 Vì Dân (6.1954 – 2.1955) có số sinh viên tốt nghiệp nhiều nhất, 1,148 sĩ quan cho Khóa 4; 1,396 cho Khóa 5. Khóa 4 có được 5 sĩ quan lên cấp tướng: cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng; Thiếu Tướng Bùi Thế Lân; cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và Hồ Trung Hậu; và Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm.

Khóa 5 có Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. trừ những sĩ quan Tướng lãnh, Khóa 4 có nhiều sĩ quan cấp Trung Tá và Ðại Tá chỉ huy những đơn vị chủ lực của QLVNCH. Nhìn lại lịch sử cuộc chiến, đây là những sĩ quan đứng mũi chịu sào của giai đoạn khói lửa 1965-1972.

Theo tài liệu của James Nach, từ năm 1951 đến năm 1965, Thủ Ðức đào tạo 20,927 sĩ quan. Ðến tháng 9, 1973, có tất cả 80,115 sĩ quan tốt nghiệp từ trường. (viii) 


Chú thích:

(i) Allan E. Goodman, An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Rand Research, RM-6189-ARPA, June 1970 (declassified 1992). Tài liệu này được bắt đầu thực hiện vào năm 1967, thời gian này vẫn còn nhiều xung đột giữa hai nhóm tướng lãnh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Trong tài liệu, ngoài một số chi tiết cá nhân của các tướng lãnh, tác giả Goodman còn phân loại ra tướng lãnh thuộc phe nhóm nào.

(ii) The National Military Academy and Its Prominent Graduates, James Nach, American Ambassy Saigon, Airgram A-95, May 13, 1974; Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its, James Nach, airgram A-131, no date.

(iii) Một số sĩ quan tốt nghiệp Khóa 3 Trần Hưng Ðạo không đồng ý gọi đó là Khóa 3, mà là Khóa 1 Ðà Lạt. Ðại tá Bùi Dzinh, thủ khoa khóa Trần Hưng Ðạo (11 tháng 10,1950 – 24 tháng 6, 1951) trong một lá thư viết cho ban biên tập Nội San Ða Hiệu (Ða Hiệu, Số 43, phát hành 19 tháng 6, 1996, trang 247-149), nói ý kiến của ông là, vì trường bắt đầu một tiến trình mới của quân đội, không có liên hệ với trường Sĩ Quan Hiện Dịch Ðập Ðá ở Huế, nên ông không gọi đó là Khóa 3. Ông viết, “Tôi không muốn tranh ngôi thứ của khóa, chỉ nhằm nói lại cho danh chánh ngôn thuận mà thôi.” Trung Tướng Lữ Lan, cũng khóa Trần Hưng Ðạo, thì nói, vì mình kính trọng hai lớp đàn anh đi trước, nên gọi đó là Khóa 3. Trong bài viết này, Khóa 3 là khóa bắt đầu ở Ðà Lạt. 

(iv) Dĩ nhiên chúng ta không thể không nhắc đến sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Liên Quân Thủ Ðức. Tuy nhiên đó là một đề tài khác. Khóa 14 Ðà Lạt tương đương với Khóa 8 Thủ Ðức, cùng ra đầu năm 1960. Khóa 20 Ðà Lạt (11-1965) và Khóa 20 Thủ Ðức cũng tốt nghiệp cùng thời gian (12-1965; năm 1965 Thủ Ðức cho ra trường ba khóa, 18, 19, và 20). 

(v) Theo lời ký giả Nguyễn Tú kể, thì đại sứ chỉ học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trong thời gian ở Yên Bái, và bỏ dở chương trình lúc trường dọn về Chapa. 

(vi) Trường Hạ Sĩ Quan Thành Sĩ Quan, còn gọi là Trường Hoàn Hảo Sĩ Quan – Centre de Perfectionnement des Sous Officiers Indochinois. 

(vii) Tài liệu của James Nach nói 16 sĩ quan tốt nghiệp, trong khi sách quân sử VNCH Quân Lực Việt Nam Trong Giai Ðoạn Hình Thành nói chỉ có 10 sĩ quan tốt nghiệp. 

(viii) Vì khuôn khổ giới hạn, người viết sơ lược đến đó. Ðọc giả có thể tìm tài liệu này ở hai nơi: Vietnam Center, Texas Tech University, Lubbock, Texas; hay, Cornell University, Ithaca, New York.

=

LINK sau đây có 102 bài viết về VNCH đăng trên báo Người Việt. Các bạn có thể ghé vào đây để tham khảo. https://www.nguoi-viet.com/?s=Chuẩn+tướng+Lý+Tòng+Bá+

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: