Trần Hoàng Blog

►Hai tập Thơ trong tù và Thơ lưu đày của Hòa thượng Thích Quảng Độ (1977-1992)

Posted by hoangtran204 trên 26/02/2020

Trước 4/1975, thầy Thích Quảng Độ giảng dạy tại Đại học Vạn Hạnh về Triết học Đông Phương và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Thầy dịch nhiều bộ kinh và biên soạn tự điển 8.000 trang.

Hai tập Thơ trong tù và Thơ lưu đày in chung trong Thơ tù là những bài thơ còn sót lại nơi trí nhớ trong số 400 bài sáng tác thời kỳ Hòa thượng Thích Quảng Độ bị giam tù ở Saigon và giai đoạn lưu đày tại xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình, miền Bắc, từ 1977 đến 1992. Thơ tù của thầy bàng bạc lòng yêu nước và đạo pháp.

Sau khi nhốt thầy trong nhà lao Phan Đăng Lưu 1977-1982, cộng sản dùng chính sách hộ khẩu đuổi mẹ thầy về miền Bắc, thế là thầy phải bỏ chùa theo mẹ ra Bắc 1988-1992. Thầy rời chùa trong buổi chiều mưa, tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra Vũ Đoài, Thái Bình.




Thi Vũ  2006

Mấy ý nghĩ khi đọc “Thơ Tù”

Ngục thất dầu sôi thành cam lộ

Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên

                            Thích Quảng Ðộ

Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi

Đạo pháp suy vi : bởi lẽ trời

Thấy kẻ phá chùa : khoanh tay đứng

Nhìn người đập tượng : nhắm mắt ngồi

Bắt bớ Tăng Ni : thây mẹ nó

Giam cầm Phật tử : mặc cha đời

Miễn được yên thân là khôn đấy

Can chi ậm oẹ để thiệt thòi

                            Thích Quảng Ðộ

1

Hai tập Thơ trong tù và Thơ lưu đày in chung trong Thơ tù là những bài thơ còn sót lại nơi trí nhớ trong số 400 bài sáng tác thời kỳ Hòa thượng Thích Quảng Độ bị giam nhốt ở Saigon và giai đoạn lưu đày tại xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình, miền Bắc, từ 1977 đến 1992. 

Lần đầu tiên hôm nay ra mắt bạn đọc. Tuy nhiên thơ của Hòa thượng thì đã luân lưu trên môi từ quốc nội ra tới hải ngoại. Những bài     thuyết pháp của Hòa thượng tại Thanh Minh Thiền viện hay chùa Ấn Quang sau năm 1975, thường có thơ chen vào. Chẳng ai ghi chép, chẳng ai ấn hành, thế mà sao từ các trại tị nạn Đông Nam Á ra tới năm châu, đi tới đâu tôi cũng nghe có người đọc thuộc lòng thơ Thích Quảng Độ. Phải chăng thơ truyền khẩu là thơ hay nhất ? Không hay sao người ta nhớ ? Hoặc thơ hợp lòng người nên thấm đẫm tình người và được người ghi tâm ?

Thế thì chữ “hay” khi khen thơ hay đã vượt lướt tính cách mỹ học để đạt cái thật của trời đất. Ít ai bảo hoa hay, trời hay, mây hay, rừng hay, núi hay, chim hay… phải không nào ? Người ta chỉ nói hoa tươi, trời xanh, mây trắng, rừng hùng vĩ, núi cao, chim ríu rít… Những tính từ tươi, xanh, trắng, hùng vĩ, cao, ríu rít… đánh mất tính cách quy phạm trường ốc hay phê bình thẩm mỹ. Những tính từ ấy đột xuất góp vào sự sống bao la, vạm vỡ, mầu nhiệm. Nó là cái thật biến hình qua cái lành ngậm trong cái đẹp.

Thơ đến giữa đời làm nên sự sống.

Mấy chục năm qua có thứ chủ nghĩa lan tràn và quản giáo văn học gọi là hiện thực chủ nghĩa. Vì hám bám vào hiện thực còn ở nơi tương lai xa lắc, nên đoàn lớp văn nghệ sĩ theo trường phái này vừa đánh mất thực tại trước mắt, vừa đánh mất một sự thực nằm bên ngoài thực tại họ miêu tả. Đa số trong họ không biết rằng con người sống và nghĩ theo hình ảnh và sức tưởng tượng, còn thực tại họ chung đụng và nếp lý trí họ khuôn theo chưa bao hàm con người toàn vẹn. Giữa hư tưởng và các thực tại xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, ai dám bảo cái nào thật cái nào giả. Các viễn kiến tôn giáo, hình ảnh thần linh, thượng đế, thiên đàng, địa ngục, thế giới bên kia… tuy hư tưởng như người ta bảo, nhưng lại quan yếu và thực hữu để định nghĩa và tìm hiểu thực tại xã hội qua các thời đại.

Làm sao quan sát và tìm hiểu một thời đại ? Y cứ vào chủ nghĩa hiện thực như khuôn vàng thước ngọc ? Hay quy chiếu theo lối sống, lối suy nghĩ, lối cảm nhận và mơ tưởng của con người ? Bởi vậy, hư tưởng cũng là một thực tại, và thực tại của hư tưởng khác với thực tại của ý thức hệ. Hư tưởng đi qua tình vượt thức vào cõi trí [1]. Ý thức hệ nhốt tù sáu thức vào tự ngã độc tôn.

Cho nên, lịch sử là nghệ thuật của những lần thử lửa. Các tác phẩm nghệ thuật và thi văn trở thành cơ bản để hiểu, nhằm tương kính, tương thuận, tương sinh với con người. Chữ hiểu trong các từ ngữ Tây phương là nắm lấy tay nhau mà đi, nếu không là đứng nhìn từ xa rồi với lấy (com-prendre, under-stand, ver-stehen…). 

2

Khi một nhà tu Phật giáo làm thơ, người ta nghĩ ngay đến thơ thiền. Đánh giá như thế, tuy làm siêu thoát thơ nhưng đồng thời hạn chế trời thơ bát ngát.

Thơ thiền là thơ gì ?

Do truyền thống bất lập văn tự của thiền, chẳng ai dám định nghĩa. Nhưng đa số các nhà bình luận thường quy chiếu thơ thiền theo ngôn ngữ thi ca thời Lý, thời Trần hay những thơ trích dẫn trong năm bộ Đăng lục đời Tống [2]. Nghĩa là thơ mang màu sắc siêu thoát ẩn tàng sau phong, hoa, tuyết, nguyệt, chim, rừng, trúc, suối… lung linh biểu tượng, hoặc thuần vị chùa chiền, chuông mõ, thoát tục… Thiếu các yếu tố ấy sẽ bị chê không phải thơ thiền, như Lý Tử Tấn, Lê Qúy Đôn từng hạ bút “thơ hay nhưng không giống khẩu khí nhà sư”, “khẩu khí thiền sư”  – “Thi tuy giai phi tăng gia ngữ”. Các ngài có biết đâu khẩu khí vốn tự nó là một phạm trù, một giới hạn, chưa đạt cái toàn thể.

Vậy thơ thiền là gì ? Thơ tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ có là thơ thiền không ?

Trả lời là định nghĩa, mà định nghĩa tất xa lìa thiền. Thiền vượt mọi giả danh để sống thực. Con mắt nó quay vào đâu, sự vật được chiếu sáng, tình cảm được trân ái. Thơ thiền không chỉ là kệ truyền pháp hay dòng thơ đạo lý, càng không phải bản báo cáo vượt chỉ tiêu hay bày tỏ quan điểm, lập trường. Hòa thượng từng đề cập tới cảnh thiền này :

Đối đầu trực diện từng giờ

Cuộc đời là một bài thơ tuyệt vời

Cảnh Thiền trước mắt người ơi

Đi tìm chẳng thấy trông vời càng xa

Cảnh Thiền, tr. 153

Thơ thiền bát ngát lung linh nơi mọi góc độ sinh hoạt trần gian theo những tấm lòng thiền rưng cảm. Phải có một tấm lòng thiền, thơ thiền mới hiển hiện. Cũng vậy, phải có một tấm lòng thiền mới khám phá ra thơ thiền khi đọc thơ.

Người có tâm thiền làm thơ, là sống cái tự do trước những điều bức tử nhân sinh. Trước thịnh suy không rúng động. Trước sống chết không sợ hãi : Thơ nắn ra nụ cười tự do phơi phới trên môi ngôn ngữ. Cảnh thơ là lý sống. Bài thơ là món quà truyền tâm.

Mặt khác, văn học luôn sáng tạo, cách tân, chuyển hóa. Văn học Phật giáo luân sinh chứ không luân hồi. Cho nên đọc thơ ngày nay chớ đem so chiếu với thơ mươi thế kỷ trước, thì mới bắt được mạch ngầm thiền vị trong sự sống vô biên hiện tại. Vô biên thì không có trung tâm điểm, chỗ nào cũng là trung tâm.

Cuộc sống, cảnh quan, thế giới ở các thế kỷ thứ XI, XII rất khác với ngày nay. Thời ấy, người ta treo ấn từ quan hay để cư tang cha mẹ là chuyện thường và dễ. Thời ấy vào núi tu tiên, đánh cờ, uống rượu, hay về vườn trồng cúc không là chuyện khó. Nhưng ngày nay, lao động và xưởng thợ lấn át các rừng tùng, xa lộ chồng chéo, xã hội nông nghiệp vác cày đi vào xã hội tiêu thụ. Thiên nhiên, cây cỏ đóng hộp trong các chung cư. Chính trường không chỉ có một diễn viên Vua  – vua hiền hay vua ác –  mà thay bằng cỗ máy độc tài, phát xít, nghiến nát dân lành. Nên ngôn ngữ, hình ảnh và tình ý thi ca hẳn phải khác.

3

Làm thơ là viết. Viết là lên đường.

Lên đường là truyền thống Phật giáo từ thời Đức Phật còn tại thế. Tăng sĩ là người không lập gia đình, không nhà cửa, mãi mãi lên đường… Đến thăm núi Linh Thứu (Gijjhakùta) với các hang động trú ẩn lúc đêm về ở ngoài thành Vương Xá (Rajir), mới hiểu hết ý nghĩa của sự lên đường ba nghìn năm trước, mà hiện nay lắm khi tha hóa thành lên giường ngủ kỹ.

Lên đường để tự giác và hoằng hóa muôn loài. Người lên đường là người của tất cả, thoát ly người-của-chính-mình (tự ngã) hay người-của-một-gia-đình-một-triều-đại-một-bè-phái (đại ngã).

Thế mà ngày nay, một cao tăng như Hòa thượng Thích Quảng Độ, bị cấm không được lên đường, chồn chân nơi cảnh tù đày, quản chế.

Lịch sử mấy nghìn năm Việt Nam, chưa thời đại nào Tăng sĩ bị tù đông như dưới triều đại Xã hội chủ nghĩa. Vào thời Lý, năm 1069, vua Lý Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành bắt vua Chế Củ và nhiều dân, lính làm tù binh đưa về Thăng Long. Trong số tù binh có một Tăng sĩ Phật giáo. Tình cờ được phát hiện, triều đình liền trọng dụng. Nhà sư trở thành vị tổ của một trong năm dòng Thiền Việt Nam : Thiền sư Thảo Đường.  Thời Pháp thuộc, có số Tăng sĩ bị tù đày vì những vận động cho chủ quyền đất nước và bản sắc dân tộc. Nhưng không nhiều. Chùa chiền vẫn là chốn thanh tịnh, lắm khi là nơi che chở, nơi đào tẩu, ẩn náu cho những nhà yêu nước thương nòi. Nhớ lại thời đó, những bài thơ tù thời đó, thường là của các nhà Nho, như Thi tù tùng thoại của Cụ Huỳnh là một.

Còn ngày nay, không chỉ người dân thường bị lùa vào các Trại tập trung Cải tạo, mà những đạo sư, bậc cao tăng cũng bị bắt đi. Số Tăng Ni bị áp bức, tù đày, quản chế tính tới số nghìn, giới nam nữ cư sĩ Phật tử tính tới số triệu.

Trong bối cảnh ấy, thơ tù thuộc giới Tăng sĩ, Phật tử nhiều vô kể. Tập Thơ Tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ nằm trong tay bạn đọc hôm nay là một trong những biểu hiện kỷ nguyên tù đày dân tộc.

Từ những thước đất, phòng giam câm nín, từ các loa phóng thanh lạc điệu tiếng người phát vang ra rả, Thơ bật dậy bằng âm thanh hải triều, vỗ về con tim và gìn giữ trí nhớ.

4

Dưới các triều đại bạo ác, tù ngục biểu trưng sự hà khắc, bức hiếp. Kỷ nguyên tù Việt Nam ngày nay vượt xa lằn ranh tàn bạo, trở thành cuộc diệt chủng văn hóa và đạo đức. Vị thế người bị đẩy xuống tầng đáy hạ nhân, súc vật, ngạ qủy. Người đâu còn là người khi mất tiếng nói ? Người đâu còn là người khi hết được độc lập suy tư ? Lạ thay, ở nơi sơn cùng thủy tận lặng câm ma quái ấy, Thơ hiện lên như một niềm hy vọng.

Ai bảo chỉ có bạo lực và vũ khí mới thay đổi được thời cơ, quyền chính ? Không đâu. Thơ cải tử hoàn sinh. Thơ mang lại cái thật, cái lành, cái đẹp cho con người. Truyện thơ “Nghìn lẻ một đêm” là bằng chứng thơ văn cải tử hoàn sinh, thơ văn phá án tử hình : Vua Shâhriyâr vì hờn thù người vợ bạc tình đã giết hết phụ nữ sau mỗi đêm chăn gối. Nhưng đến phiên nàng Shahrâzâd, người kể chuyện tài ba vừa hấp dẫn vừa sáng tạo, vua say đắm lắng nghe và hồi hộp đợi chờ câu chuyện thi vị chẳng chịu kết thúc lúc đêm tàn. Đành chờ nàng kể tiếp đêm này qua đêm khác suốt ba năm ròng !

Đêm mở ra Ngày.

Ngày liên giao sự Sống. Đẩy cái chết như xua hoàng hôn tới chân mây bình minh. Một-nghìn-lẻ-một đêm truyện thơ đã cứu sống một-nghìn-lẻ-một án hành quyết phụ nữ dưới tay bạo chúa.

Bạo lực chỉ chiếm đất, không chinh phục lòng người như thơ văn.

5

Thơ là tồn tại người. Từ người, cỏ cây, hoa lá, chim chóc, sinh linh, vũ trụ sống dậy mỹ miều trong cái thật, cái lành, cái đẹp. Thơ không tải đạo, vì đạo tải thơ, rồi thơ quán đạo. Thơ là mùa màng con tim, khí hậu tâm hồn. Ở thời đại sắt và máu nơi xã hội Việt Nam phần tư cuối thế kỷ XX, khí hậu thơ Hòa thượng Thích Quảng Độ là khí hậu 

Lao tù đâu thể nhiễm ô tâm này

Tự thuật, tr. 39

Sắt, máu, nhà tù kinh hãi đến thế, song với thơ mà cũng là nhà thiền, thì :

Cửa sắt xà lim ngăn gió lại

Sợ làm tan vỡ cuộc chiêm bao

Ai gọi, tr. 84

Xem chiêm bao thực hơn thực tại ư ? Không đâu. Chiêm bao hay thực tại đều chung cùng một giấc “mộng trung chi mộng” đó thôi. Tất cả biến dạng như bọt bóng giữa mùi thiền :

Ngục thất dầu sôi thành cam lộ

Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên

Mùi thiền, tr. 79

Mùi thiền giữa tù ngục là thế, còn mắt thiền thấy chi ?

Qua kẽ xà lim chỉ mấy ly

Nhìn ánh triêu dương thật diệu kỳ

Thế giới ba nghìn đang chuyển động

Trong từng mảy bụi nhỏ vi ti

Vô thường, tr. 71

Tù xuân như chợ giữa trần gian

họp mặt đông vui đủ khách hàng

cụ già sù sụ ho giòn giã

con nít oe oe khóc nhịp nhàng

Xuân cảm, tr. 93

Con nít khóc là điều mới lạ giữa trần gian tù, ít thấy đâu ngoài Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các trại tập trung Đức quốc xã. Nhà thơ Thích Quảng Độ thường lắng nghe tiếng con nít khóc trong tù. Bài thơ “Đêm mưa nghe trẻ khóc”, tr. 59, là sự động tâm về hiện trạng lạ lùng này : con nít cũng ở tù. Nếu không có lời chú dưới bài thơ  – Mẹ bé đi vượt biên bị bắt và sinh bé trong tù -, nếu người thơ không bị chế độ nhốt tù, thì toàn bài trở thành một bài ca tụng “Bác”. Thế nhưng 4 chữ “Tại sao bé khóc” đánh đổ cả 324 chữ đọc nghe như thơ tô hồng chế độ. Nhà tù ấy trở thành nhà mồ, không chỉ chôn người lớn và trẻ nít, mà từ trong ra ngoài nhà tù, chế độ giam nhốt cả Miền Nam, một miền Nam biểu trưng cho ý lực tự do hơn là một vùng địa lý :

Đây là miền Nam trong căn phòng giam chật hẹp

    âm u

Ngoài kia là miền Nam trong một nhà tù rộng lớn

toàn khu nhà tù chìm vào yên lặng

yên lặng như nấm mồ hoang vắng

giữa miền cát trắng bao la

và nằm trong căn nhà mồ

tôi không thấy gì nữa cả

trừ những bóng ma

vai mang khẩu súng AK

thỉnh thoảng chập chờn qua gang cửa gió

Trời đã sáng, tr. 61

Miền Nam như một ý lực tự do chứ không là đất đai địa lý phân biệt với miền Bắc. Dù thân tại tù ngoài Bắc, nhưng tác giả vẫn thấy và mến yêu phong cảnh xứ Bắc như bộ phận không lìa với toàn cảnh quê chung. Mỹ miều làm sao cảnh chiều quê đất Bắc :

Lúa vàng ngủ dưới bóng chiều

Lưng trời văng vẳng sáo diều xa đưa

Buồm mây tìm về bến mơ

Vài con chim lạc bơ vơ gọi đàn

Mái tranh khói quyện đầu làng

Dòng sông uốn khúc qua hàng thùy dương

Bóng ai thơ thẩn bên đường

Trông vời trời biển bốn phương gửi hồn

Chiều, tr. 189

Thanh bình xiết bao. Nhưng ai ngờ bao nhiêu tâm sự cháy lòng gửi gắm vào lúc hoàng hôn ? Thoạt đọc, ta có ý muốn đề nghị tác giả thay hai chữ “tìm về” trong Buồm mây tìm về bến mơ bằng chữ “vèo dạt”  – Buồm mây vèo dạt bến mơ? Nhưng chưa đề xuất đã tự thấy, nhạc điệu tuy đạt song tứ thơ sẽ kẹt lối. Vì sao ? Vì trước cảnh tan đàn lạc nghé sau 1975, kẻ hữu tâm như “Vài con chim lạc bơ vơ gọi đàn”. Chả lẽ với tâm sự của người hữu tâm ưu tư lẽ đạo việc đời, bản thân chịu cảnh lưu đày, lại có thể trầm đắm giữa Chiều thu thân thiết đến quên gửi gắm nỗi riêng chung ?

“Tìm về bến mơ”, là thơ bước đi tìm bến. Bến bình an xa tắp. Đạo và Nước còn lênh đênh. Cho nên con người “thơ thẩn bên đường” ấy chẳng ai khác hơn tác giả đang “trông vời trời biển bốn phương”, tức trông cậy vào khối người Việt dân tộc trên năm châu thế giới. Với khối người này, tác giả thầm kín “gửi hồn” : gửi một Niềm tin son sắt, đợi chờ.

Vì :

Đạo pháp bao trùm màn ảm đạm

Giang sơn phủ kín lớp màu tang

Thẫn thờ đứng tựa khung cửa ngục

Nhìn bóng xuân sang mắt lệ tràn

Xuân sang, tr. 91

Ngày đứng âm thầm nhìn lá rụng

Đêm ngồi lặng lẽ đếm sao rơi

Muốn hỏi tri âm sầu viễn xứ

Tiếng nhạn kêu sương lạnh cả trời

Xuân cảm, tr. 179

“Tiếng nhạn kêu sương lạnh cả trời” gợi nhớ câu thơ đời Lý của thiền sư Không Lộ “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư [3]) nhưng lại rất khác giữa hai thời thế.

Xưa, đất nước văn minh, thái bình, con người tự tại vô ngại, tự do bước lên đỉnh núi chót vót gọi lên một tiếng làm lạnh cả hư không. Từ thời gian tu chứng  – hữu thì  –  đến không gian thức tỉnh  – hàn thái hư –  sự đột biến giác ngộ  – nhất thanh –    chuyển thức cả khái niệm không-thời và thay đổi tận cùng thế phận con người : Người nô lệ thành người tự do, người vô minh thành người giác ngộ.

Nay, người bị lăng nhục, bị tù đày, sáu mối hoạt động của ngũ quan và thức giác hạn chế vào lỗ tai thôi. Dùng lỗ tai môi giới với thế giới mù mịt bên ngoài. Chốc chốc từ đâu vọng lại tiếng nhạn đơn chiếc, khiến xúc động tâm can và buốt lạnh cõi trời. Biết đâu “tiếng nhạn” ấy không là tiếng lòng của tác giả gọi lên bơ vơ giữa thời đại nhiễu nhương chưa có người đồng thanh tương ứng ? Thời đại mà tình đời đối đãi chỉ biết đem bước chân làm thước đo, đem hoa mà ví :

Bước đi nghĩa địa lan man

Chết rồi hay sống điêu tàn như nhau

Mất cả cuộc đời, tr. 188

Danh lợi trắng ngần bông huệ bạch

Nhục vinh đỏ thắm đóa hồng nhung

Đắc thất khoe hương nhành dạ lý

Thịnh suy phô sắc cánh phù dung

                                                  Tiếng hồng chung, tr. 78

Chí khí và đạo lý dân tộc thì :

Tiếng “quốc” tiếng “gia” im bặt cả

Chỉ nghe tiếng máy rống ò ò

  Qua Đèo Ngang, tr. 133

Tây chẳng phải Tây, Đông chẳng Đông

Quỉ quái sinh ra lũ cuồng ngông

Mồ mả tổ tiên cày xới hết

Đình chùa miếu mạo phá bằng không

Ông bà xem nhẹ hơn con lợn

Bố mẹ coi như khúc gỗ thông

   Mất gốc, tr. 178

Đạo pháp ngày nay đổ quá rồi

Mười người tu học chục người thôi

Chùa hoang cảnh vắng sư về tục

Khói lạnh hương tàn Phật bỏ rơi

Gọi tiểu, tiểu đâu còn mà gọi

Kêu di, di cũng tếch đi rồi

Chùa hoang, tr. 220

Sư về tục là chuyện thương tâm, vẫn chưa bi thảm cho bằng Sư chối bỏ truyền thống “bất bái quân vương”, không qụy lụy đặt quyền chính ngang hàng Đức Phật để chấp nhận đứng gác bên hòm lãnh tụ ở Hà Nội trong bài “Sư Cụ và Đức Cha”. Nguyên năm 1980 ông Tôn Đức Thắng chết, chính quyền đưa một vị lãnh đạo Phật giáo (Nhà nước) và một vị Hồng y Công giáo đứng hầu hai bên quan tài như hai con trưởng, mỗi khi quan khách đến viếng thì hai con trưởng chắp tay lạy đáp lễ :

Bảy ngày hiếu phục cái thây ma

Thõng thượt Đức Cha đeo Thập giá

Thùng thình Sư Cụ khoác ca-sa

Danh lợi đã lừa hai cặp mắt

Lù lù đống mối tưởng mồ cha

Sư Cụ và Đức Cha, tr. 218

Hoặc lâm cảnh trái đời :

Hòa thượng thầy vua trong đời Lý

Thiền sư trị nước thuở triều Trần

Ngày nay sự nghiệp “phò Cách mạng”

Nhà sư “kiện tướng đội làm phân” !

                                       Kiện tướng đội làm phân, tr. 215

Dù bị “Sống đọa đày như loài thú hai chân” (Trên đường lưu đày, tr. 128) Hòa thượng vẫn ung dung, hồn hậu :

Sống giữa trần ai cảnh phũ phàng

Con thuyền lướt sóng cứ hiên ngang

Đã tùng đâu sợ làn sương trắng

Là cúc nào kinh trận gió vàng

Tự thuật, tr. 127

Thông già đứng tựa sườn non lớn

Gió giật hò reo thổi chẳng xiêu

Tự than, tr. 161

Qua bao chế độ lưng vươn thẳng

Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong

Tự trào, tr. 205

Với tâm không lay động trước bao nghịch cảnh, thì khổ đau hay an lạc, tù đày hay tự do… những cặp đối đãi ấy khoác vai đi vào Tâm vô lượng :

Thời gian khoảnh khắc tại  tâm ta

Sen nở vừa xong thấy Phật đà

   Tâm cực lạc, tr. 68

Nghìn kiếp tóm thu thành một kiếp

Một hình biến hiện hóa nghìn hình

Vịnh Thiền sư Không Lộ, tr. 169

Do sự vật bình đẳng, nên người hay chiếc cầu ao đều có cùng chuyện “nước” phải thương lo :

Năm tháng nổi chìm chung với nước

Cùng nhau chia xẻ nỗi lao đao

Vịnh cái cầu ao, tr. 174

6

Ngoài những bài thơ Đạo lung linh huyền diễm, Thơ tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ còn đặc sắc ở những bài trào phúng. Nét châm biếm bén nhọn nhưng không hiểm độc, đùa bỡn mà không ác, đả kích nhưng phóng khoáng, bất hại. Nó tiếp vận dòng thơ châm biếm tài ba của Hồ Xuân Hương, Tú Xương… tuy đẩy lên một chân trời khác. Hồ Xuân Hương cám cảnh phụ nữ bị chà nghiến trong một xã hội độc đoán, kỳ thị nam nữ thời thịnh Nho. Tú Xương thì cười cái nhố nhăng của thời thế, buổi giao thời xáo trộn nếp sống cổ truyền khi Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, giữa một xã hội ông hóa thằng, thằng hóa ông. Tú Xương nói lên bằng thơ, sĩ khí của các nhà Nho dân tộc, nhưng ông không tham gia vào các động thủ chống đối, phản kháng qua các phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX. Trong phạm vi hình ảnh và hoạt động văn chương châm biếm, Tú Xương cố thủ nơi vùng địa lý nhất định, là thị trấn Nam Định, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông.

Trái lại đề tài thơ châm biếm Thích Quảng Độ mang tính thế giới, đối diện với cả một chế độ bạo ác, hiện thân của chủ nghĩa Hư vô xuyên hành tinh (le Nihilisme planétaire), là chủ nghĩa Mác Lênin. Chủ nghĩa Hư vô của cộng sản biểu thị sự phủ nhận của sự phủ nhận (la négation de la négation) đối đầu với chủ nghĩa Tư bản man rợ (le Capitalisme sauvage) hiện hình qua sự xác nhận của sự xác nhận (l’affirmation de l’affirmation). Cặp đối đầu nhị nguyên và cực đoan này, Vô và Hữu, hình thành ra Hư vô chủ nghĩa tàn phá nhân loại. Đi đến đâu nó tàn phá tất cả, chẳng trừ ai, nhưng không bao giờ nó dám tàn phá chính nó, là nguyên nhân của vô minh, độc ác và khổ đau. Tới Việt Nam, chủ nghĩa Hư vô Mác xít biến nhà tu thành người tù, biến no thành đói, hạnh phúc thành khổ đau, ruộng lúa thành bo bo, cửa nhà thành ngục thất, con người thành đười ươi, tự do thành nô lệ, đổi trắng thay đen :

Có nói rằng không, không : khỏi đấm

Đen làm ra trắng, trắng : ngon xôi

Cú kêu ta bảo là oanh hót

Cuội gọi thì thưa : “Dạ, Bố đòi !”

Như thế mới là người khôn đó

Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi

Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi

Đạo pháp suy vi : bởi lẽ trời

Thấy kẻ phá chùa : khoanh tay đứng

Nhìn người đập tượng : nhắm mắt ngồi

Bắt bớ Tăng Ni : thây mẹ nó

Giam cầm Phật tử : mặc cha đời

Miễn được yên thân là khôn đấy

Can chi ậm oẹ để thiệt thòi

Gà khôn giấu mỏ nên trọn kiếp

Khỉ dại khoe răng mới bỏ đời

Sống chết mặc bay thì yên phận

Cả tàu nhịn cỏ chắc không xuôi

Tù ngục như ri cũng sướng rồi

Cơm pha hai bữa xơi vừa đủ

Nước lã đôi lần được nấu sôi

Thuốc thang bảo uống khi trái gió

Đường cháo cho ăn lúc trở trời

Nóng có vòi rồng tha hồ tắm

Buồn thì vỗ bụng hát nghêu chơi

Buồn thì vỗ bụng hát nghêu chơi

Trầm bỗng du dương giọng ốc nhồi

Võ vẽ làm thơ cho nhớ chữ

Tập tò ngâm vịnh để quên đời

  Liên ngâm dại khôn, tr. 109

Thực tế ở chế độ Xã hội Chủ nghĩa trại lính này là gì ?

Không có gì quí hơn cái bánh bao

Cái bánh bao, tr. 122

Tăng ni trên toàn miền Bắc

đều đã góp phần tích cực nuôi heo

Ngày đầu lưu đày, tr. 135

Không gì hơn tự “ro”

Cổng nhà tù mở to

Độc “nập” và hạnh phúc

Xà lim tôi nằm co

Tiếng Liên Xô “vĩ đại”

Gọi nó là “ca xo”

Qúi hơn dồi chò, tr. 120

Không có gì quí hơn bo bo

Đói bụng ngồi nhìn cũng đủ no

Dẻo mềm rền quánh dường nếp một

Ngào ngạt thơm lừng như cơm tám

Ngọt lừ mát rợi tựa chè kho

Lịch sử bốn nghìn chừ mới có

Hoan hô độc lập và tự do

Bo bo, tr. 116

Ngả một con bê với mẹ bò

Đầu đuôi chân cẳng nó nấu xúp

Gan ruột phổi phèo nó bỏ kho

Tù ba nghìn đứa trong toàn trại

Phúc bảy mươi đời được bữa no

Quốc khánh, tr. 114

Nhà tù Xã hội ở lâu

Chẳng còn ai muốn về hầu tổ tiên

Hát ca nhảy múa như điên

Trần gian hạnh phúc cõi thiên nào bằng

   – Anh nào cười vặn gãy răng !

Ở tù sướng lắm, tr. 123

Với sự thung dung của bậc cao tăng, ai bảo ở tù là khổ ? Ở tù sướng lắm chứ :

Có ai hơn tớ cái thung dung

Sáng bốn rãi khoai vừa lót dạ

Trưa hai lạng gạo đủ no lòng

Phe phảy mo cau khi nắng hạ

Co rò ổ rạ lúc mưa đông

Thung dung, tr. 207

Nhưng chả lẽ đời người chỉ ăn và ngủ thôi ư ? Ăn gì ? Ngủ ở đâu ? Trả lời xong, cái châm biếm, đả kích hiện ra. Làm sao im lặng không đả kích một cộng đồng tráo trở như thế ?

Nhà cháy phơi bày toàn mặt chuột

Đình xiêu lộ rõ rặt đầu dơi

Vành tai vênh váo chồn đắc thế

Nghểng cổ nghênh ngang cáo gặp thời

Bức tranh đời, tr. 209

Lang sói hiền từ khoe móng vuốt

Cáo chồn ranh mãnh trổ tài hay

Trăn rắn dịu dàng phô đầu lưỡi

Đế hoàng nào khác lũ đười ươi

Xem xiếc, tr. 105

Đến như đạo lý là bờ đê ngăn sóng dữ, đời hư. Thế mà nay còn gì ?

Đạo pháp cơ đồ sương buổi sớm

Quỉ ma sự nghiệp nắng ban trưa

Tự trào, tr. 97

Trước thời thế ấy, có số Tăng lữ thể hiện “bản thệ độ sinh” theo đường lối mấy ông nón tai bèo :

Giải khát anh tu năm ba “xị”

“Hồ hởi” anh đưa “đạo vào đời”

Sư tiến bộ, tr. 99

Hai bài “Gửi Sư Bà nghiện rượu”, tr. 221, và “Gửi Sư Cụ đảng viên”, tr.222, nói lên thảm nạn suy thoái đạo đức và xã hội vong tính ngày nay.

7

Trên đây là Nếp thơ đi trong Thơ Tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Cần một bài viết về ngôn ngữ thơ trong Thơ Tù nữa, vì cách dụng từ, chuyển câu, đối đáp, hình tượng và âm thanh thơ Thích Quảng Độ rất giàu, chỉnh, thâm hậu. Thử đọc câu tả chén cháo nếp do người tù tưởng tượng lúc nhìn nồi bo bo, tất nhận ra ngôn ngữ phong phú với cách quan sát thấu đáo :

Dẻo mềm rền quánh dường nếp một

Bo bo, tr. 116

Không thể tả hay hơn một bát cháo nếp, mà là nếp một, vừa dẻo vừa mềm nhờ được nấu rền đến độ đặc quánh. Hay tả mặt mày bọn đắc thế học làm sang trong bài “Đười ươi diện guốc đầm”, tr. 108. Tài tình thay cách dùng chữ.

Chữ tài tình, con mắt quan sát cũng tài tình khi sắp đặt sự vật chen bên nhau trong hiện thực đến độ siêu thực về nỗi tang thương của thời đại phi văn hóa, chẳng khác chi thời Hồng vệ binh ra tay làm Cách mạng Văn hóa bên Trung quốc :

Dưới án quyển kinh sâu cuốn tổ

Trên tòa tượng Phật nhện giăng tơ

Câu đối mối xông mùn đắp kín

Hoành phi mọt đục bụi che mờ

Vịnh chùa Long Khánh, tr. 139

Người hải ngoại xa nước lâu còn nhớ chăng hình ảnh con sâu cuốn tổ trắng như tơ, hình loa kèn bám vào bờ sách kinh giấy bổi hay giấy dó từ lâu không mở đọc ? Nhện giăng tơ từ tượng Phật này nối sang tượng Phật khác khiến cảnh chùa tiêu sơ, buồn thảm. Rồi những câu đối bằng gỗ sơn son thếp vàng treo trên cột chùa bỏ hoang theo chính sách tiêu diệt tôn giáo của nhà nước, nên hàng triệu con mối, trắng như loài rươi bám vào làm tổ, tha đất ẩm đắp lên mặt gỗ cho mềm ra để ăn – mối xông – xóa bay chữ nghĩa ngày trước  – mùn đắp kín. Còn bức hoành phi treo ở gian chính lâm cùng cảnh ngộ lãng quên trên vật thể cũng như trong phi vật thể : mọt đục bụi che mờ !

Chỉ bốn câu thơ mà tới tấp những con chữ gợi hình mang uy lực tàn nhẫn phá phách. Khí thơ gấp, sự thơ ngổn ngang, chữ thơ diễn xuất bằng ngôn ngữ điện ảnh. Từ đó nói lên cuộc chiến tranh thầm lặng giữa thoái hóa chống văn hóa. Làm sao bộc lộ, nếu thiếu tay bút tài tình “điều chữ khiển hình” khéo léo như thế ?

Chữ và hình còn diễn tả dễ dàng xiết bao những tư tưởng triết học cao thâm, khúc mắc : 

Nghìn kiếp tóm thu thành một kiếp

Một hình biến hiện hóa nghìn hình

Vịnh Thiền sư Không Lộ, tr. 169

Chữ luyến láy với ngôn ngữ bình dân, vẽ ra bức tranh xã hội lố lăng, lố lăng đến cả giới Tăng lữ bất trí, a dua, hay giới Phật tử cầu an, hèn nhát. Khác gì tâm địa AQ trong văn Lỗ Tấn : 

Đạo pháp suy vi : bởi lẽ trời

Thấy kẻ phá chùa : khoanh tay đứng

Nhìn người đập tượng : nhắm mắt ngồi

Bắt bớ Tăng Ni : thây mẹ nó

Giam cầm Phật tử : mặc cha đời

Miễn được yên thân là khôn đấy

Can chi ậm oẹ để thiệt thòi

Liên ngâm dại khôn, tr. 109

Chữ nhẹ nhàng nhưng đanh thép như tuyên ngôn, như đại cáo ngày tàn không thể tránh của chế độ bạo ác độc tài, ngay vào lúc chế độ ấy đang trị vì trên chót đỉnh “đại thắng” qua bài Nhắn nhủ khổ đau, tr. 142, sáng tác năm 1982.

Văn đối ngẫu tự nhiên, đến độ người đọc quên bẵng mình đang đọc thơ xưa hay thơ mới, thơ Đường luật hay thơ tự do. Nhịp thơ thành nhạc, ý thơ chuyển vận sức sống câu, tứ thơ hoành tráng như tranh, tình thơ mang tấm lòng kinh thiên động địa : 

Đã tùng đâu sợ làn sương trắng

Là cúc nào kinh trận gió vàng

Tự thuật, tr. 127

Về quan điểm, lập trường sống, chữ nghĩa dõng dạc minh định, sòng phẳng, chẳng cần ẩn nấp nơi ý tại ngôn ngoại :

Qua bao chế độ lưng vươn thẳng

Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong

Tự trào, tr. 205

Hoặc giản dị, nhẹ nhàng như hơi thở nhưng bất ngờ :

Màn đêm dày đặc phủ xà lim

Có vật gì rơi giữa khoảng im

Lắng mãi tôi nghe rồi mới biết

Thì ra tiếng động của con tim.

Tim động, tr. 88

Thân người rét buốt đến tận xương nơi tù ngục, nhưng ít ai cảm thấu cái lạnh tới “con hồn” làm bải hoải thân xác :

Xà lim lạnh thấm con hồn

Đố ai, tr. 90

Ðôi khi tự trào chân dung do mình vẽ vời ra (Tự trào, tr. 95, 96, 203), hoặc muốn làm khách thương đi bán buồn (Bán sầu, tr. 214, Bán buồn, tr. 215), bán trăng (Ngẫu hứng, tr. 192), hay gọi trăng trao đổi niềm tâm sự (Hỏi trăng, tr. 150, Trăng ốm, tr. 160, Trăng khỏe, tr. 163). Thế nhưng, dù  tác giả tự tôn xưng hay thậm xưng (Oai, tr. 101, Hách, tr. 102), người đọc chỉ thấy bàng bạc một chân tình vô ngã, thay vì phô trương đại ngã huênh hoang như trong đa số thơ hôm nay.

Những câu thơ như :

Ngục thất dầu sôi thành cam lộ

Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên

Mùi thiền, tr. 79

kể về hình tượng, ý nghĩa, tư tưởng, câu chữ, chẳng nhường bước thơ xưa  – thơ muôn đời của nhân loại, mà thơ Đường, thơ Tống là một. Đây là những câu đẹp nhất trong những câu thơ đẹp nhất của thi ca Việt Nam hậu bán thế kỷ XX. Những câu như thế không hiếm trong Thơ Tù.

Tuy nhiên bài viết hôm nay, trọng tâm chưa muốn đi sâu vào phạm vi tu từ hay ngữ nghĩa học trong thơ Thích Quảng Độ.

8

Nhà tù thay lòng đổi dạ một số người. Nhưng không hiếm những người tù bất khuất. Bất khuất trước đối phương như Bá Di, Thúc Tề là quí. Tuy nhiên, quí và báu hơn, là đưa sự bất khuất thời gian lâm nạn kia tiếp biến thành động thủ cứu nguy trong những ngày đời còn sót : đẩy sĩ khí người quân tử lên đường hành động theo đại nguyện Bồ Tát.

Có người mang chí bất khuất, nhưng đến khi mất đối tượng là buông tay. Có người xun xoe hành động nhưng phương châm lại thiếu. Hòa thượng Thích Quảng Độ qua thơ văn cũng như trong đời sống thường nhật đã kết đôi tinh thần vô úy với con đường Bồ Tát. Hòa thượng không xem giai đoạn tù đày là “học vị” để khoe khoang hay chứng xác, mà chỉ là cuộc thử lửa với đạo tâm. Coi cái chết hay thương tích như không giữa vòng vây lang sói :

Xà lim trông hệt cái nhà mồ

Mỗi lần mở cửa tôi ra vô

Thấy như chôn rồi mà vẫn sống

Tử thần tôi sợ con cóc khô

Nói chuyện với tử thần, tr. 101

Tớ chẳng trèo cao mà ngã đau

Lỗ đầu thì lỗ có sao đâu

Hỏi thổ địa, tr. 208

 Bài “Tu đạo” làm trong tù với văn phong hồn nhiên, giản dị, nhưng hàm dưỡng trọn vẹn yếu tính đương xứ tiện thị  –Yathā-bhûtam –  trong kinh văn Bát Nhã. Đọc như nghe một hiền nhân chuyện vãn vui cười, song nghĩ sâu thêm, khác chi một bài kệ truyền pháp :

Bao năm học đạo với tu trì

Tính lại ngày nay biết được gì ?

Được có một điều “không gì được”

Biết cùng cái lý “chẳng biết chi !”

Đi đứng nằm ngồi thường không khác

Uống ăn ngủ nghỉ vẫn như ri

Ma nghe nhếch mép cười mai mỉa

“Thế thì tu đạo để làm chi ?”

Tôi cười khì :

            “Để như ri !”

   Tu đạo, tr. 77

Đâu đó, nói về việc làm thơ, Hòa thượng khiêm tốn bảo rằng : “Võ vẽ làm thơ cho nhớ chữ” (Liên ngâm dại khôn, tr. 109). Hoặc :

Đường về quê cũ dừng chân tạm

Để với nhân gian góp nụ cười

Đỉnh chơi vơi, tr. 70

Thơ là người lữ hành xuyên qua những con chữ bất động, đánh thức diệu hữu giữa chân không. Huống chi còn “góp nụ cười” với nhân gian !

Thơ đi qua cuộc đời, lưu giữ những buồn vui, ngoại trừ các ô nhiễm và sự ác độc. Thơ đi qua cuộc đời không bằng hí luận, mà với nụ cười. Phải lắm, điều nổi bật nơi con người thi sĩ Thích Quảng Độ là tiếng cười. Một tiếng cười hiền, rất đỗi từ bi. Tiếng cười là sự tự do đầu tiên và cuối cùng mà con người nắm giữ, chẳng ai xâm phạm được. Thế sự thăng trầm, phong ba bão táp, biển dâu nghiêng lệch… vẫn không làm lay động hay xóa tan Nụ Cười kia trên đôi môi Đức Phật và những người con Ngài.

Nụ Cười là Nguồn Thơ bất tận nơi cõi nhân sinh.

Paris, xóm Linh Mai trên đồi Phong Lan

Giáp Tết Bính Tuất, 2006 

Thi Vũ

© 2006 gio-o


[1] Theo Phật giáo, Thức là sự hiểu biết nhờ phân biệt, đối đãi giữa cái thấy (căn) với cái bị thấy (trần), tức do năng và sở đối đãi nhau mà biết. Còn Trí thì ly năng tuyệt sở, nghĩa là không do đối đãi mà biết, vì Trí là kết quả của định lực, quá trình thành tựu sau thời gian tu tập lâu dài, cũng gọi là trí tuệ bát nhã được khai triển trong Tam học (giới, định, huệ) hay Lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) chẳng hạn.

[2] Cảnh đức truyền đăng lục, Thiên thánh quảng đăng lục, Kiến trung tịnh quốc tục đăng lục, Liên đăng hội yếu, Gia Thái phổ đăng lục.

[3] Có khi chân bước lên đầu núi

Cất tiếng làm run chín cõi trời 

THƠ TÙ của Hòa thượng Thích Quảng Độ, gồm 138 bài trích từ hai tập “Thơ  trong Tù” và “Thơ Lưu Đày”, sáng tác thời gian bị tù và bị lưu đày (1977 – 1992) * Quê Mẹ ấn hành lần thứ nhất, Paris tháng 4.2006 * Thi Vũ trình bày bìa và trang bài w tranh họa của Nguyên Hạnh * Ỷ Lan thực hiện ấn loát * Toàn tập in trên giấy Hoàng mai.

© Editions Quê Mẹ, Paris 2006

Dépôt Légal 2ème trimestre – ISBN 2-906433-13-6

B.P. 63, 94472  Boissy Saint-Léger Cedex  (France) 
Telephone: Paris +33.1.45.98.30.85 
Fax : Paris + 33.1.45.98.32.61

E-mail : queme@free.fr – Website : http://www.queme.net 

==========

Chiều đông

danchimviet.info

Tác Giả: Trần Trung Đạo – 24/02/202

Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.

Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.

Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.

Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp.

Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.

Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.

Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.

Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.

Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm.

Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.

Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.

Bài thơ của Thầy:
CHIỀU ĐÔNG

Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp *
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng **
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông
(HT Thích Quảng Độ, Thơ Tù HT Thích Quảng Độ, trang 165)

*Mơ bóng “hùm” xám (tức Hoàng Hoa Thám) nơi rừng Yên Thế
** Thúy Kiều mơ bóng Từ Hải:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”

TẤC LÒNG SON

Lời thầy vang vọng giữa chiều đông
Hương ngát vô ưu rót tận lòng
Mây nước muôn trùng tan với hợp
Quê hương ngàn dặm có mà không
Tóc xưa dẫu bạc lòng không đổi
Áo cũ dù phai giữ đạo đồng
Mười năm trải một lòng son sắt
Tiếng vọng ngàn thu với núi sông.
(Trần Trung Đạo, Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)

Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.

Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.

Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.

Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.

Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.

Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.

Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.

Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.

Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó.

Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.

Trần Trung Đạo

========


Bài của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thầy Quảng Độ không sợ thần chết, không phải vì thấy mình mạnh hơn thần chết. Các vô úy của Thầy do thiền quán mà có. Thầy đã nhiều lần thực tập quán chiếu bản chất của cái sống và cái chết. Thầy đã thấy sống và chết tương tức, nương nhau mà biểu hiện, không có cái này thì không có cái kia. Trong một giây phút quán chiếu, Thầy thấy đang sống cũng là đang chết và trong tự thân Thầy cái chết và cái sống đang đồng thời có mặt. Ta hãy đọc bài hát nói Sống Chết sau đây để có một ý niệm về cái chết và cái thấy của Thầy. 

Sống chết 

Mưỡu:

Đời người như một giấc mơ
Tỉnh ra mái tóc bạc phơ trên đầu
Tuyệt mù xanh thẫm ngàn dâu
Gió tung cát bụi tìm đâu lối về


Nói:

Sống là thực hay là ảo mộng
Chết đau buồn nhưng chính thực yên vui
Cứ hàng đêm tôi nghĩ mãi không thôi
Chẳng biết nữa mình đang sống hay là chết
Hoàng lương nhất mộng phù du kiếp
Sinh tử bi hoan thục giác tri

Sống với chết là cái chi chi
Lý huyền nhiệm ngàn xưa mấy ai từng biết
Có lẽ sống cũng là đang chết
Bởi sống cũng trong tôi mà chết cũng trong tôi
Chết đeo mang từ lúc thai phôi
Nào đâu phải đến nấm mồ mới chết
Vì lẽ ấy sống: tôi không sợ chết
Vẫn thung dung sống chết từng giây
Nhìn cuộc sương, tuyết, khói mây
Lòng thanh thản như chim hoa người gỗ
Giữa biển trầm luân gió dồi sóng vỗ
Thân tùng kia xanh ngắt từng cao
Sống với chết nào khác chiêm bao
Lý nhất dị là hào quang bất diệt
Cũng có lẽ chết hẳn rồi mới biết
Sống đau buồn mà chết thật yên vui
Xin đừng sợ chết ai ơi!

Nguồn: Làng Mai. 

======

CÔNG AN tịch thu BỘ TỰ ĐIỂN thầy soạn trong tù. Ra tù, thầy bỏ ra 2 năm viết lại.

HOÀ THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ KỂ CHUYỆN LÀM TỪ ĐIỂN TRONG TÙ

ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ VÀ CUỐN TỪ ĐIỂN LÀM TRONG TÙ

Cuốn “Phật Quang Đại Từ Điển” do Hoà Thượng Thích Quảng Độ phiên dịch vừa được in xong và phát hành tại hải ngọai. Đây là một tài liệu tra cứu quý giá cho những ai quan tâm về Phật Giáo, từ các tông phái đến các thuật ngữ và tư tưởng. 

Ỷ Lan, thông tín viên RFA

RFA
2008-11-26 

Hoà Thượng Quảng Độ, hiện là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Xử Lý Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã bắt đầu công trình phiên dịch từ đầu những Năm 1980 trong những điểu kiện và hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, và công trình cũng bị gián đọan nhiều lần. 

Thông tín viên Ỷ Lan của Ban Việt Ngữ (Đài Á Châu Tự Do) có cuộc phỏng vấn với Hoà Thượng về những bước gian truân ấy. Mời quý thính giả theo dõi. 

Ỷ Lan :  Kính bạch Hoà Thượng Thích Quảng Độ, bộ “Phật Quang Đại Từ Điển” gồm 6 tập, gần 8.000 trang, ấn loát đẹp, trên bìa da mạ vàng và giấy quý, lại có minh hoạ cho các thuật ngữ, tông phái, tư tưởng Phật Giáo, và được phát hành tại hải ngoại. Kính xin Hoà Thượng cho biết là Hoà Thượng bắt đầu công trình này từ lúc nào?

Hoà Thượng Thích Quảng Độ : Bộ “Phật Quang Đại Từ Điển” tôi bắt đầu phiên dịch khi còn đang bị quản thúc, lưu đày ở Vũ Đoài vào Năm 1990. Lúc đó mới làm được một ít, mà ngoài đó thiếu phương tiện, nên tôi quyết định phải đi về trong Miền Nam mới có phương tiện để làm. 

Tôi về Miền Nam vào Năm 1992. Tôi tiếp tục làm bộ từ điển đó và đến 1994 thì tôi có gửi cho ông Đỗ Mười một tập nhận định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật Giáo Việt Nam. 

Sau đó tôi ra tôi đi cứu trợ. Năm ấy ở Miền Nam, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có lụt lớn. Cứu trợ được một vài chuyến thì Ngày 4-1-1995 họ bắt, tới 15 Tháng Tám họ mới đưa ra toà xét xử thì tôi với Hoà Thượng Không Tánh bị mỗi người 5 năm tù giam, 5 năm quản chế. 

Cuốn từ điển làm trong tù

Ỷ Lan : Như vậy là công trình làm từ điển chưa xong theo ý định mà còn tiếp tục sau ngày bị bắt vào Năm 1995. Xin Hoà Thượng hoan hỉ kể cho thính giả biết rõ hơn hoàn cảnh trong tù khi Hoà Thượng dịch tiếp bộ “Phật Quang Đại Từ Điển” như một kỳ công hy hữu mà hiện nay người học Phật phải tri ân.

Hoà Thượng Thích Quảng Độ : Trước khi vào tù, tôi đã nói khó với họ là để xin đưa theo bộ từ điển Phật Quang mà tôi đang làm dở đó là rất đặc biệt lắm, mà tôi hối họ bao nhiêu lần vẫn khó khăn. Tôi nói rằng công việc này ông cứ xem đi, nó có 7 tập, mỗi tập một nghìn trang bằng chữ Hán, ông cứ xem. 

Ông cứ về Thanh Minh Thiền Viện, thầy Thanh Minh sẽ đưa cho ông xem, ông đưa về nhà ông xem, xem từng trang một, xem rằng có giấu giếm cái gì đó không. Ông thấy rằng không có hại gì và không có chứa đựng gì trong đó thì cho đưa vào tù để tôi làm. Tôi ngồi trong tù có việc cho tôi làm, đồng thời để giúp cho các thế hệ tương lai họ có tài liệu để tham khảo và tra cứu mà học tập.

Tôi có nói rõ như thế. Thế mà mãi mấy lần người ta mới xét; họ bàn nhau xem sao rồi họ mới đồng ý cho. Cho đưa vào thì đến lúc mà tôi không kháng án thì họ quyết định đưa ra ngoài Ba Sao. Ngày hôm sau tôi đi thì ngày hôm trước thầy Thanh Minh đưa bộ từ điển ấy vào cho tôi để đưa ra Miền Bắc để mà làm việc. Thế nhưng mà họ không cho tôi cầm theo mà chính công an cầm theo.

Ra đến trại Ba Sao thì mấy hôm sau họ mới đưa vào cho, thì không phải chỉ có 7 tập đại từ điển không mà còn một trăm tập vở nữa, một trăm tập vở học trò loại lớn, dài như trang giấy dùng bây giờ đây này, khổ cũng rộng, có kẽ dòng thôi chứ không có đánh số trang. Thì vào đấy một tuần sau thì tôi mới hỏi họ rằng bây giờ ông cho đưa bộ từ điển vào đây để tôi bắt đầu làm việc thì họ đưa có một tập thôi. 

Tôi bảo một tập không đủ, đưa cả 7 tập bởi vì một tập một mà nó có nhiều cái từ liên quan đến tập 2, tập 3, tập 4 thì phải trông vào đó mới làm được. Và vở và bút nữa: bút cũng sắm đủ một trăm cây bút nguyên tử, bút máy đó, và một trăm tập giấy như vậy, thì thầy Thanh Minh xách vào. Đưa vào thì họ giữ hết, trừ có 7 tập từ điển là họ đưa cho tôi một lúc để mà tham khảo, còn một trăm tập giấy là họ giữ, bút họ giữ. 

Giấy mỗi lần họ phát cho mình một tập, họ đánh số vào đó mỗi một tập 80 trang. Thế rồi họ phát cho một cây bút. Thế rồi họ đề ngoài cái trang bìa ngoài cùng là ông cán bộ nào mà trực nhật ngày đó có trách nhiệm trông coi tù nhân ngày đó thì ông phải viết trong đó là cán bộ tên gì, chức vụ gì, rồi giao ngày nào, tháng nào, tập có 80 trang, ghi rõ như thế. Rồi họ mới giao cho mình cái tập đó. 

Thế hết tập đó thì mình mới trả để họ giao tập mới, Bút cũng thế, viết hết mực thì phải trả quản bút hết mực cho họ, họ mới cho bút mới. Đấy, họ kiểm soát như thế đấy. Kiểm soát thế cũng tốt bởi vì tôi có công việc làm. 

Cán bộ giữ cuốn từ điển thì làm lại cuốn khác

Tôi làm hết ở trong tù tất cả đến ngày đặc xá 2-9-1998, nhưng khi về thì họ lại không trả, mấy chục tập, gần một trăm tập mà tôi đã dịch rồi, có chữ hết rồi. Họ bắt phải làm đơn xin, làm đơn cho cái ông trưởng trại ấy để mà xin đưa cái tập đó về. 

Tôi nói thật bất hợp lý bởi vì cái này tôi xin ông cho đưa vào, nhưng tôi làm ở đây thì đến lúc tôi về thì ông phải trả vì dây coi như một cái của mà tôi gửi ông thôi. Mà tôi cũng không gửi, ông giữ chứ tôi có gửi ông đâu? 

Cũng như các tư trang khác là quần áo, tiền nong ở ngoài người ta tiếp tế cho tôi, bây giờ còn thừa chưa tiêu hết thì ông trả lại chứ tôi có phải làm đơn xin đâu, tại sao cái tập này phải làm đơn xin? Cho nên, nếu như thế thì tôi không xin đâu. Các ông để lại mà dùng, tôi về tôi làm lại. 

Thế là tôi về tôi phải làm lại mất 2 năm trời. Những công việc mà tôi đã làm trong nhà tù họ bắt phải làm đơn xin, tôi không xin. Vô lý! Việc gì phải xin. Họ giữ của mình, khi vào tù họ giữ tất cả. Tiền nong của ai đưa vào đấy họ cũng thu giữ hết. Họ giữ hết rồi họ lấy cái vốn đó mà mượn đầu heo nấu cháo. 

Họ mượn tất cả tiền của tù nhân trong trại tù đó để họ mở căng-tin rồi bán hàng cho mình. Họ đi mua hàng ở ngoài về, quả chuối ở ngoài giá giả dụ một đồng bạc thì họ về họ bán cho người tù 5 đồng bạc. Đấy, họ ăn như thế đấy! Nhưng cái giấy này thì họ giữ vì nhai giấy không được, nhưng họ gây phiền hà để ra cái chuyện họ có quyền bắt mình làm cái gì thì mình phải làm, nên bắt tôi xin thì tôi không xin. 

Tôi về tôi bỏ ra 2 năm trời tôi làm lại, tôi không xin ai hết. Xin nó phải hợp lý cơ. Như mình đói mình đi xin ăn, người ta cho, mình cảm ơn. Còn ở đây là của mình mà họ giữ chứ mình có gửi đâu

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: