Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một 7th, 2020

►Khi nền kinh tế làm ra trong 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay (4-1-2020)

Posted by hoangtran204 trên 07/01/2020


(TBKTSG Online) – Tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương diễn ra trong hai ngày 30 và 31-12 do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, các số liệu cho thấy Việt Nam tiếp tục tăng trưởng nhanh đạt trên 7%, quy mô GDP 266 tỉ đô la, bình quân thu nhập đầu người đạt 2.800 đô la. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử.

Mặt bằng lãi suất có tiếp tục giảm năm 2020?Manh nha đợt chạy đua lãi suất huy động mới

Nợ của một số doanh nghiệp bất động sản trong tính trong 6 tháng đầu năm 2019.

Nợ của một số doanh nghiệp bất động sản trong tính trong 6 tháng đầu năm 2019.

Nhóm chuyên gia độc lập gồm 4 người (trong đó 2 chuyên gia kinh tế đang sống và làm việc ở Mỹ) đã thảo luận các ý chính như dưới đây để Thủ tướng và những người có trách nhiệm quản lý điều hành đất nước có thêm thông tin tư liệu tham khảo, kịp thởi xử lý.

So sánh số liệu Mỹ và Việt Nam –

Mỹ (2019)
Lãi suất dài hạn (Schiller index): 1,82%
Lãi suất cho vay cơ bản: 4,75%
Lãi suất cho vay trả góp 30 năm: 3,74%
Lãi suất tiền gửi 3 năm: 1,9-2,2%
Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (rút ra bất cứ lúc nào): 0,27%
Chỉ số lạm phát: 1,65%

Nếu lấy lãi suất cho vay cơ bản trừ đi lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, thì ngân hàng có thể lãi 4,5%. Trong khi lạm phát là 1,65% thì ngân hàng lãi thật 2,8%.

Lãi suất ở Việt Nam
Lãi cho vay ưu đãi: 8-9% năm đầu, sau đó là 11-12%
Lãi suất vay mua nhà trả trong 10 năm: 11%
Lãi suất tiền gửi 1 tháng: 4,3%, kỳ hạn 1 năm 6,8%
Lãi suất huy động vượt 9%/năm, cuộc đua nóng hút tiền gửi cuối năm nâng lãi suất tiền gửi, thậm chí chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 2 năm là 9,5% . 
Lạm phát: 2,8%

Nếu lấy lãi cho vay ưu đãi là 10% trừ đi lãi suất tiền gửi 1 tháng là 4,3% thì ngân hàng lãi 5,7%.  Với lạm phát là 2,8%, ngân hàng thực lãi 2,9%.

Tuy nhiên khi chạy đua lãi suất, lãi tiền gửi lên 9% thì ngân hàng chỉ còn lãi 1% và sau khi trừ lạm phát (dù là 3%) thì ngân hàng thực sự lỗ nặng.

Vì sao lãi suất ở Việt Nam cao?
Ở Việt Nam, lãi suất tuỳ thuộc chính vào mức độ rủi ro như trong lý thuyết của Modigliani-Miller, tức là do các vấn đề từ nhiều năm: khối nợ xấu ngân hàng khổng lồ và nợ công/GDP cao ngất ngưởng, nhưng vẫn còn thua xa khối nợ khổng lồ của doanh nghiệp. Đây chính là một yếu tố cơ cấu mà Việt Nam phải mất hàng 5-10 năm mới giải quyết được, rất có thể sẽ lặp lại khủng hoảng dưới chuẩn như Mỹ năm 2008.

Các ngân hàng Việt Nam đang tăng lãi suất tiền gửi gần bằng mức cho vay là do quy định giảm tỷ lệ cho vay trung dài hạn so với vốn huy động. Vì vậy, khả năng cho vay bị hạn chế, nhất là cho vay bất động sản.

Bên cạnh đó Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu tăng tỷ lệ trích lập phòng ngừa rủi ro đối với bất động sản.

Hậu quả trước mắt là tái hiện cơn sụt giá bất động sản như các năm 2009-2012.

Moody hạ xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam và 12 ngân hàng phản ánh nguy cơ cơn khủng hoảng trước mắt đó. Bộ Tài chính lại cho rằng họ đánh giá sai và cho bị tụt hạng là do vấn đề hành chính, quản lý chứ không phải thanh khoản, khả năng trả nợ.

Đề xuất giải pháp ngắn và dài hạn

Nợ của doanh nghiệp phi tài chính là đáng lo ngại: tổng nguồn vốn cuối năm 2017 là 22,3 triệu tỉ đồng, trong đó vốn tự có là 8,5 triệu tỉ đồng. Như vậy nợ của khu vực phi tài chính là 13,8 triệu tỉ đồng, bằng 276% GDP (GDP là 5 triệu tỉ đồng).

Nếu giả dụ GDP cao hơn 25% như Tổng cục Thống kê tính toán, tức là 6,25 triệu tỉ đồng thay vì 5 triệu tỉ đồng thì nợ vẫn cực cao bằng 220% GDP. Tức là GDP tăng 7% mà phải trả lãi 9% (thí dụ sau khi lấy lãi suất danh nghĩa 12% trừ lạm phát 3%).

Với số nợ của doanh nghiệp là gần gấp 3 lần GDP, ngoài ra lại còn chưa kể nợ của Chính phủ (không kể bảo lãnh) là khoảng 52% GDP năm 2017 thì GDP làm ra trong một năm chưa đủ để trả lãi nợ. Tức là nền kinh tế đang phát triển nhanh vào loại nhất thế giới nhờ vay nợ quá mức, vay của người sau trả cho người trước, theo cơ chế “nước hoa Thanh Hương” của Việt Nam hay hệ thống Ponzi theo thuật ngữ kinh tế quốc tế.

Đẩy lãi suất tăng cao sẽ tăng khả năng phá sản khi nợ của doanh nghiệp Việt Nam lớn như vậy. Nếu không có biện pháp điều chỉnh kịp thời thì không thể tránh được khủng hoảng nợ; Vấn đề chỉ là thời gian lúc nào xảy ra mà thôi.

NHNN và Bộ Tài chính đã hiểu nguy cơ này. Gần đây hàng năm Chính phủ đều luôn yêu cầu giảm lãi suất nhưng NHNN chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu, ngoài mệnh lệnh hành chính giảm lãi suất cho các ngân hàng thương mại và gần đây nhất NHNN đã giảm các lãi suất điều hành 0,25%. Nhưng kết quả là lãi suất ngân hàng dài hạn (hơn 12 tháng) vẫn đang được đẩy lên cao.

NHNN cũng đã yêu cầu các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay, cho vay thực chứ không chỉ là tăng trưởng tín dụng (cho vay mới để trả nợ cũ thì vẫn tăng tín dụng). Có lẽ NHNN chưa thấy rõ nguy cơ như Bộ Tài chính.

Gần đây Bộ Tài chính đã nhanh chóng giảm mạnh lãi suất và kéo dài kỳ hạn trái phiếu Chính phủ. Nhưng 1-2 năm qua, hình như Bộ Tài chính lại sao nhãng nguy cơ này, việc bảo lãnh phát hành trái phiếu cho hai ngân hàng chính sách dường như bỏ qua yêu cầu về thắt chặt bảo lãnh của Chính phủ.

Phần nợ của doanh nghiệp nhà nước thì lơ lửng, không rõ ai sẽ chịu trách nhiệm dù theo phân công trong Luật quản lý nợ công thì nợ của doanh nghiệp nói chung, bao gồm nợ DNNN do NHNN chịu trách nhiệm. Trên thực tế NHNN chỉ có thể quản lý nợ của DNNN như đối với các doanh nghiệp khác, không thể yêu cầu nhiều hơn. Do đó tình hình nợ của DNNN chưa có cải thiện tích cực.

Giải pháp- NHNN và Bộ Tài chính cần được cảnh báo nội dung nói trên để tích cực ứng phó trong năm 2020, nhất là phối hợp trong việc quản lý thị trường tài chính, cụ thể là phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được nới lỏng nên cần có sự phối hợp kiểm tra giám sát của NHNN và Bộ Tài chính để không đẩy lãi suất ngân hàng lên cao hơn nữa, chưa nói đến việc giảm lãi suất.

– Mặc dù lãi suất đang bị đẩy lên cao nhưng không nên nới lỏng chính sách tiền tệ với nghĩa tăng cung tiền. Tốc độ tăng cung tiền năm 2017 là 15%, năm 2018 NHNN là 12,4% (Lạm phát năm 2018 từ 3,8% giảm xuống 2,7%); Năm 2019 mức tăng cung tiền là 14% thì lạm phát lên 2,78%. Cung tiền nên giữ ở mức tăng 12-13% năm là hợp lý, không nên đẩy lên cao hơn.

– Chính phủ cùng với NHNN và Bộ Tài chính xem xét lại toàn bộ tín dụng cho bất động sản để tránh khủng hoảng trong hai năm 2020-2021. Xa hơn, phải giải quyết nợ xấu ngân hàng và nợ công trong 5 năm sau đó mới mong đem lãi suất về 6-7%, cao hơn lạm phát 3%.

Thành tích đạt được năm 2019 là rất tích cực nhưng không nên chủ quan vì một số vấn đề mang tính cơ cấu, hệ thống của nền kinh tế chưa được khắc phục, nguy cơ khủng hoảng kinh tế chưa mất đi. Ngược lại, một trong những vấn đề cơ cấu đó là cuộc đua tăng lãi suất đang làm cho nguy cơ khủng hoảng tiến đến gần hơn.

Công ty Coco Bay không trả được lãi suất theo cam kết (12%) là một cảnh báo ban đầu cho sự phá sản của doanh nghiệp, không giới hạn ở doanh nghiệp bất động sản mà sẽ kéo theo hàng loạt các doanh nghiệp khác, kể cả các tổ chức tín dụng và tài chính. Chính phủ cần có biện pháp kịp thời ngăn tình trạng tăng lãi suất hiện nay, để ngăn chặn cuộc khủng hoảng nợ trong tương lai.

______________

►Nợ, trả nợ, và khủng hoảng-Nợ Chính Phủ và nợ doanh nghiệp: 431 tỷ USD hay 210% GDP

Trần Hoàng blog đăng 03/03/2017

Tóm tắt:

-Nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

-Nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP. (năm 2016)

Cả 2 loại nợ cộng lại 431 tỷ USD, hơn 200% GDP 2016.

Nợ, trả nợ và khủng hoảng

thesaigontimes. 09/02/2017 |

Vũ Quang Việt*

TBKTSG) – LTS: Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Quản lý nợ công. Trên cơ sở đó, TBKTSG xin giới thiệu bài viết của TS. Vũ Quang Việt như một góp ý cho dự thảo này.

Nợ công của Việt Nam là vấn đề tranh cãi từ lâu. Nợ của Chính phủ và của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu. Cả hai loại nợ này có lẽ cho đến nay ít dựa vào đánh giá khả năng trả nợ mà dựa vào kế hoạch chỉ tiêu (hay lệnh) của cơ quan chủ quản. Nợ chính phủ đòi hỏi tăng thuế để trả nợ. Nợ doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải giảm đầu tư vì áp lực trả nợ. Cả hai đều kìm hãm tăng trưởng trong nền kinh tế.

Một minh chứng điển hình là vấn đề nợ của Nhật Bản trong vài chục năm qua đã làm kinh tế Nhật tiếp tục trì trệ (từ 1990 đến nay). Nếu không thế, phát hành tiền và tăng tín dụng để tài trợ sẽ gây lạm phát.

Sau một thời gian kìm hãm, nợ công ở Việt Nam có vẻ tăng mạnh, nhất là trong năm 2015 (xem bảng 3, dựa vào số liệu chính thức).

Thông tin trình bày ở dưới bao gồm nợ của Chính phủ (bao gồm cả nợ doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh) – mà Bộ Tài chính gọi là nợ công và nợ của DNNN. Số liệu tới năm 2015 dựa vào các nguồn chính thức. Số liệu năm 2016 chủ yếu dựa vào ước tính của tác giả.

Khu vực công (public sector) theo định nghĩa của Hệ thống Tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc 2008 bao gồm cả Chính phủ và DNNN nên có thể coi nợ công là tổng của nợ chính phủ và nợ của DNNN. Thông tin này là cần thiết, dù Việt Nam vẫn chỉ chú ý đến nợ chính phủ (được gọi là nợ công), nhưng nếu DNNN nào phá sản thì việc trả nợ là do Chính phủ chịu trách nhiệm, dù Chính phủ tuyên bố không có trách nhiệm và nếu giả thiết cho phá sản, đất và tài sản công sẽ bị tịch biên và thuộc về chủ nợ. Vì thế khi phân tích về nợ công, không thể bỏ qua nợ của DNNN. Dù không đồng ý về định nghĩa, cách tốt nhất là Bộ Tài chính nên công bố cả nợ của DNNN vào Bản tin nợ công để các nhà phân tích tùy nghi sử dụng.

Số liệu tin cậy được cho thấy nợ chính phủ năm 2015 là 115 tỉ đô la Mỹ, bằng 59,5% GDP và ước tính nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

Nợ của DNNN ở đây cho thấy toàn cảnh khoảng 3.200 doanh nghiệp với số nợ theo điều tra của TCTK năm 2014 là 4,9 triệu tỉ đồng (231 tỉ đô la Mỹ), gấp nhiều lần con số 1,5 triệu tỉ đồng mà Bộ Tài chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.

Như vậy, cộng cả nợ chính phủ và nợ DNNN sau khi trừ đi phần Chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là 431 tỉ đô la Mỹ, bằng 210% GDP.

Với tỷ lệ nợ lớn như trên, khó lòng nền kinh tế phát triển mạnh. Không những thế thời gian qua, do tăng tín dụng, tăng nợ, lạm phát cuối năm 2016 đã lên đến 4,7% và có khả năng tăng cao hơn trong năm 2017 (xem bảng 4).

Điều dễ hiểu là tín dụng tăng mạnh. Lạm phát tăng như trên sẽ đẩy lãi suất lên, có thể tới ít nhất 8%/ năm vào năm 2017, trái ngược với tình hình lạm phát và lãi suất giảm cho đến cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016. Nợ cao, lãi suất cao, khả năng trả nợ sẽ giảm. Kinh tế khó lòng mà phát triển mạnh, nếu không nói là có thể bị rơi vào khủng hoảng.

Vấn đề nợ, đặc biệt là nợ chính phủ ngày càng tăng là do chi ngân sách ngày càng tăng, đưa đến thiếu hụt ngân sách lớn, khoảng 5-6% GDP một năm. Thông tin trong quá khứ cho thấy thường tỷ lệ chi ngân sách vượt nghị quyết của Quốc hội 30-40% (xem bài trên TBKTSG số ra ngày 29-10-2015), mà tới hai năm sau mới biết. Như thế, khả năng kiểm soát chi gần như không có. Cách tốt nhất để kiềm chế trong một vài năm tới là đóng băng chi, và đóng băng tăng biên chế (dài lâu hay tạm thời), chỉ cho phép thay thế người về hưu ở vị trí cần thiết. Nếu làm được thế, thu ngân sách tăng, ít nhất theo tốc độ tăng trưởng kinh tế (6%), thiếu hụt ngân sách sẽ bị xóa bỏ nhanh chóng.

Chỉ có thể kiểm soát chi tiêu nếu thống kê ngân sách cụ thể, cập nhật và theo đúng chuẩn quốc tế.



http://www.thesaigontimes.vn/156693/No-tra-no-va-khung-hoang.html

Nhà máy xơ sợi Đình Vũ đã ngừng hoạt động từ giữa năm 2015, bị âm vốn chủ sở hữu 528 tỉ đồng (tại thời điểm cuối năm 2015), chưa kể nợ phải trả gần 7.000 tỉ đồng.

_____________

*Vũ Quang Việt là Vụ trưởng Vụ Thống Kê của Liên Hiệp Quốc. Những số liệu mà ông đưa ra là căn cứ vào tài liệu của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức tín dụng cho VN vay tiền

►Có quan hệ với một phụ nữ khác Nguyễn Bá Cảnh bị cách các chức vụ trong Đảng, nhưng Thân Đức Nam có bồ nhí và con riêng vẫn làm Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (12-4-2019)

►Chiêu trò chuyển giá, nhượng thầu, hưởng lợi hàng trăm tỉ đồng của Thượng tá Út ‘trọc’ (12/04/19)

►Thống nhất cách chức ông Nguyễn Bá Cảnh – con trai ông Nguyễn Bá Thanh (12-4-2019)

Posted in Kinh Te | Tagged: | Leave a Comment »