Trần Hoàng Blog

►Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi (7-10-2019)

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2019

 

 

 

Nhà thơ Lê Tử Du qua đời

Tuấn Khanh (Facebook)

Ảnh Tuấn Khanh

Nhà thơ Du Tử Lê đã qua đời vào ngày 7 tháng 10, lúc 8g06 phút tối ngày thứ Hai tại Garden Grove, Hoa Kỳ, hưởng thọ 77 tuổi.

Ông sinh năm 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, miền Bắc Việt Nam, tên thật là Lê Cự Phách.

Sau Hiệp định Genève, 1954, Lê Cự Phách di cư vào Nam cùng với gia đình. Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lục, trường Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa.

Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài “Bến tâm hồn”, đăng trên tạp chí Mai.

Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu phóng viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn

Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972.

Ngày 17 tháng 4 năm 1975, Du Tử Lê cùng với Mai Thảo và Phạm Duy bị kết án tử hình vắng mặt trên đài phát thanh của Mặt trận giải phóng Miền Nam vì có thái độ chống đối cộng sản quyết liệt. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông sang tỵ nạn bên Hoa Kỳ.

Ông sống ở miền Nam California, tiếp tục nghề viết, và là nhân viên khế ước của đài tiếng nói Hoa Kỳ từ năm 1996. Ông cũng từng là chủ nhiệm các báo Việt ngữ Nhân chứng, Tay Phải, và Văn nghệ ở Hoa Kỳ.

Tính đến thời điểm 2014, Du Tử Lê đã xuất bản 58 tác phẩm đủ thể loại. Và tính theo dòng người tỵ nạn tại Mỹ, trong đó có giới trí thức, cho đến khi mất thì ông vẫn là một trong những nhà thơ lớn của hải ngoại, đồng thời sáng tác sung sức nhất.

Chuyến về Việt Nam năm 2014 để ra mắt một tập thơ của mình, Du Tử Lê đã gây nên một làn sóng tranh luận và nhiều lời chỉ trích, cho rằng ông hợp tác với chế độ Cộng sản. Nhưng trong những lần trả lời phỏng vấn của VOA, RFA… Du Tử Lê nói rằng ông về vì người đọc Việt Nam.

Và bất luận như thế nào thì sự ra đi của ông cũng là một sự tiếc nhớ về những tên tuổi lớn của nền văn chương tự do miền Nam Việt Nam.

Tuấn Khanh (Facebook)

___________

NHỚ VỀ NHÀ THƠ DU TỬ LÊ
————

Nếu nhớ về một Du Tử Lê tài hoa trong chữ nghĩa, trong thi ca, ắt đã có nhiều người viết. Hôm nay có lại viết cũng thừa. Nhưng nói về Du Tử Lê đã sống thế nào trong cái yêu ghét của người Việt, cái đó có lẽ ít người viết. Đặc biệt là yêu ghét đã nổi gió kể từ khi ông về lại Việt Nam sau nhiều năm tỵ nạn.

Nhưng thật ra, không chỉ riêng Du Tử Lê, văn nghệ sĩ nào của người Việt miền Nam Việt Nam tự do từng rời khỏi nước sau tháng 4/1975, khi quay lại quê nhà, đều là những người đi ngược gió.

Năm 2005, nhạc sĩ Phạm Duy về Việt Nam sinh sống. Đó là một cơn bão chứ không là gió. Những kẻ chống ông quay về, từ trong nước có cả kẻ thù và có cả người quen. Những người giận dữ đặt tên ông là phản bội, là cơ hội… thì ở chung quanh nơi ông sống. Là Midway city, nơi mà ông chỉ ký dưới thư tay bằng tiếng Việt – thị trấn giữa đàng – khi gửi cho tôi, thời chưa có internet. Vào những ngày ông đau yếu ở quận 10, Việt Nam, tôi đến thăm và hỏi rằng “Bác thấy hài lòng khi về sống ở VN chứ?”. Ông lắc đầu cười khẽ, nói “câu trả lời chính xác, là tôi hài lòng được chết nơi quê hương của mình”.

Năm 2012, khi ca sĩ Khánh Ly lần đầu được Hà Nội cho phép vào nước. Bà đã đi xuyên qua những lời miệt thị, phỉ báng đến rợn người để về lại Sài Gòn. Khi tôi hỏi rằng bà quay về với suy nghĩ gì. Bà đã cười và hỏi ngược lại tôi “Khi em chạy về quê nhà của mình, em nghĩ gì?”.

Từ 2014, Du Tử Lê đã có những chuyến đi về Việt Nam, đến năm 2016 thì người ta thấy ông xuất hiện trong những buổi ra mắt sách in ở Việt Nam. Dĩ nhiên, ông cũng bị tấn công không ngớt, bị gọi là thằng hèn, kẻ hám danh… Trong một lần ngồi café với ông ở Garden Grove, thành phố nơi ông sống, tôi thấy ông đột nhiên trầm ngâm rồi cười như một mình, nói với tôi “Nếu giờ này, anh và em ngồi ở một quán café nào đó Sài Gòn thì hay biết mấy nhỉ”. Đuôi mắt ông nheo nheo, ẩn trong nụ cười là một nỗi buồn vô hạn.

Điều đó, tôi hiểu. Không chỉ văn nghệ sĩ mà bất kỳ con người nào bị buộc phải rời khỏi quê hương trong bất toại, đều là những vệt ám ảnh trong ký ức. Đau đớn hay hạnh phúc, họ đều muốn được tận hưởng với hơi thở quê nhà. Họ cần hít hà nguồn cội đó, hít hà để nhớ và để chết. Hít hà như những kẻ nghiện nơi chốn của mình.

Những ngày đi xa, ngồi trên máy bay về Việt Nam có lẫn nhiều người đã tha hương rất lâu, có trẻ, có già… tôi chứng kiến khi chiếc máy bay sà xuống, khi những khối nhà và con đường hiện lên, nhiều người đã xúc động kêu lên “tới rồi, tới Sài Gòn rồi…”. Những cái đầu vói nhìn qua cửa sổ, những lời bàn về chỗ sắp đến của họ râm ran khắp các ghế. Quê hương như một liều doping mầu nhiệm, trong phút chốc mọi người phấn chấn và tạm quên vì sao họ bị bứt khỏi nơi này, tạm quên nơi họ đến, là nơi những người cộng sản cầm quyền chứ không như ngày xưa ấy.

Cũng vì vậy mà trong lịch sử, mọi chế độ độc tài đều muốn cầm giữ quê hương và dân tộc như một loại con tin để mặc cả với tương lai, để hành hạ con người, tra tấn sự yêu thương.

Từ những điều đơn giản đó, mà tôi cảm nhận được nhiều hơn với chuyện quay về. Du Tử Lê từng bị gọi là ham tiền, hám danh… khi quay lại Việt Nam, nhưng thật ra, tôi tin là ông, cũng như Phạm Duy hay Khánh Ly, tìm thấy nhiều điều khác hơn, sâu thẳm hơn so với những lời kết tội đó. Mỗi người có một lý do của mình, và họ có quyền im lặng, quyền chọn vào sự phán xét cuối cùng ở tương lai chứ không bởi một cá nhân hay một cộng đồng nào.

Trong giai đoạn còn khỏe, Du Tử Lê hay gặp vài thân hữu khép kín vào buổi sáng. Ngày chẳn thì ở một quán café tại Westminster, ngày lẻ thì ở một quán Bún bò Huế tại Garden Grove. Các câu chuyện về văn chương và cuộc đời với nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, nhà báo Vương Trùng Dương, nhà báo Ngọc Hoài Phương… vẫn thời sự nhưng rồi, bao giờ đề tài Việt Nam và quá khứ luôn là chính. Có những lúc nhìn họ, tôi tự hỏi vì sao họ có thể nói về Việt Nam và một thời mãi không chán. Họ như những đứa trẻ đầy ký ức luôn cười khúc khích và sôi nổi tranh nhau khi kể về.

Rồi tôi cũng chợt nhìn thấy trong những văn nghệ sĩ Việt bị gọi là lưu vong đó, một cách giải thích khác trong chuyện quay về. Với họ, quê hương là mẹ, là mãi mãi với cuộc đời của họ. Chế độ chỉ là giai đoạn. Và nếu người mẹ bị cầm giữ, thì dù phải luồn lách thế nào, họ cũng chấp nhận để được chạm vào, để được nhìn thấy.

Trong một lần nhà thơ Du Tử Lê lấy xe đưa tôi về, trên đường đi bất thần tôi hỏi “anh có nhận biết ngoài những người yêu mến anh, còn rất nhiều người ghét bỏ anh không?”. Ông sựng lại ít giây, rồi mặt rất nghiêm “anh biết chứ. Anh đã không làm vừa lòng rất nhiều người. Không có nghĩa là anh đã đúng và tử tế hoàn toàn đâu Nhưng anh thấy mình vui vì không chối bỏ, và thật sự biết vì sao mình làm như vậy”.

Có rất nhiều điều trong đời, không cần người phải biết, nhưng riêng mình biết, trời biết. Khi chiếc xe của ông đi khuất, đứng lại trên con đường vắng với gió nhẹ mùa hè, tôi thấy mình thấu hiểu hơn, dung nhận rõ nỗi cô đơn của người-trong-cộng-đồng- người.

Và hôm nay, khi nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, tôi tin có không ít đồng loại cúa mình, cũng đang mỉm cười và cô đơn đến cuối cùng.

Em đã nói giúp suy nghĩ của anh rồi đó. Hẹn gặp lại anh, Du Tử Lê.

——————
TB: Tấm ảnh tôi “rình” chụp ông tại quán café thường ngày, khi đưa ra, ông bật cười và nói “anh nhìn bụi đời dữ vậy Khanh”.

___________

Đỗ Dzũng/Người Việt

9-10-2019

Cố thi sĩ Du Tử Lê. (HÌnh: Uyên Nguyên)

GARDEN GROVE, California (NV) – Thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười, tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi.

Tin này được cô Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của ông, cho nhật báo Người Việt biết lúc 11 giờ tối Thứ Ba.

Cô kể: “Em báo tin này hơi trễ vì bây giờ mọi việc mới xong. Thực ra, tim bố ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai. Lúc đó, em vẫn gọi 911 và đưa bố vào bệnh viện. Bây giờ thì bố đã thật sự vĩnh viễn ra đi.”

Theo trang nhà dutule.com, nhà thơ Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam.

Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục, rồi đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên sĩ quan QLVNCH.

Ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong.

Năm 1969, ông theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Năm 1973, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm: “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”

Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được ông dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983, và New York Times, 1994.

Năm 1993, Giáo Sư Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam,” do hai đại học UC Berkeley và UCLA và nhà xuất bản London ấn hành, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu.

Vẫn theo tác giả này, cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như Linh Mục Thanh Lãng và Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam, trang 344).

Du Tử Lê là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ 20, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ Tới Ngày Nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time) do nhà xuất bản W.W. Norton New York, New York, ấn hành năm 1998.

Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990.

Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde của Pháp, đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do Seuil de Paris xuất bản năm 1975.

Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ miền Nam, được cố nhà văn Mai Thảo chọn là “Bảy Vì Sao Bắc Đẩu” của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, và Tô Thùy Yên.

Du Tử Lê là tác giả của trên 70 tác phẩm đã xuất bản.

Thi phẩm đầu tiên của ông xuất bản năm 1964.

Tùy bút của ông bao gồm “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời,” do công ty Văn Hóa Cổ Phần Phương Nam, Sài Gòn, ấn hành Tháng Tư, 2017; “Mẹ về Biển Đông,” do Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, xuất bản Tháng Sáu, 2017; Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” do Phanbook, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018; Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” và truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (in lần thứ ba), do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

Nếu không kể những tác phẩm được tái bản thì tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” là tác phẩm thứ 73 của họ Lê, tính đến Tháng Bảy, 2018.

Là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và trở thành những bài nhạc nổi tiếng như “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn,” “Hạnh Phúc Buồn (Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi),” “Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em),” “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển,” “Khúc Thụy Du,” “K Khúc Của Lê,” “Khi Cuộc Tình Đã Chết,”….

Từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến Harvard University để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Ngoài thi ca, Du Tử Lê còn là một họa sĩ.

Kể từ Tháng Bảy, 2011, nhiều tranh của ông được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ.

Tính tới 2012, ông đã có hai cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas, và một tại Seattle, Washington.

Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ ba của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy, 30 Tháng Ba, 2013, tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm.

Và năm 2014 của họ Lê được đánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi ở Coffee Lover, San Jose, California, với bảy tác phẩm hội họa, được bán hết trong vòng 45 phút.

Cuối năm 2012, với sự hướng dẫn của Giáo Sư Diêu Thị Lan Hương, cô Trần Thị Như Ngọc, cư dân Hà Nội, đã chọn thơ Du Tử Lê cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Lý Luận Văn Học, với tựa đề “Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật,” được hội đồng giám khảo chấm đậu và được phép dùng để giảng dạy. Luận văn này hiện được lưu trữ tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mã số: 60 22 01 20.

Năm 2013, Tuyển Tập Du Tử Lê (1957-2013) của ông được nhà xuất bản Người Việt xuất bản.

Chưa hết, thi sĩ Du Tử Lê còn viết văn và biên khảo văn học.

Năm 2014, nhà xuất bản Người Việt xuất bản “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm Văn Học Nghệ Thuật Miền Nam 1954-1975” của ông.

Bước vào năm 2015, tác phẩm truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (tái bản lần thứ nhất) của nhà thơ, và bộ sách dầy 700 trang, tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 1, được cơ sở H.T. Productions xuất bản, công ty Amazon in và phát hành. Ngoài ra, bộ sách “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 2, đầu sách thứ 67, của nhà thơ Du Tử Lê cũng được công ty Amazon in và phát hành giữa Tháng

Chín.

Riêng năm 2018, tại Sài Gòn, đã có bốn đầu sách của Du Tử Lê được xuất bản cũng như tái bản, trong số đó, có các tuyển tập như:

-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” tác phẩm thứ 72, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu,” tác phẩm thứ 73, do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

Trong lĩnh vực truyền thông người Việt hải ngoại, nhà thơ Du Tử Lê từng là “host” của chương trình “Du Tử Lê và Bằng Hữu” trên đài truyền hình SBTN, và là cộng tác viên trang Văn Học Nghệ Thuật của nhật báo Người Việt. (Đỗ Dzũng)


Chương trình tang lễ cố thi sĩ Du Tử Lê

* Phát tang thăm viếng: Thứ Bảy, 26 Tháng Mười, 2019. (Từ 9AM – 8PM): Chủ Nhật, 27 Tháng Mười (Từ 8AM – 1PM)

* Nghi thức tưởng nhớ và an táng: Chủ Nhật, 27 Tháng Mười, 2019. (Từ 1PM – 3PM)

Tại nhà quàn Peek Family, thành phố Westminster, CA 92683.

_____________________________________

Thi sĩ Du Tử Lê và nhà văn Đỗ Vẫn Trọn trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim - 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)
Thi sĩ Du Tử Lê và nhà văn Đỗ Vẫn Trọn trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim – 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)

Đỗ Vẫn Trọn

Sau mười năm, chống chỏi với những cơn bệnh, cuối cùng thi sĩ Du Tử Lê/ Thầy tôi, đã đi… lúc 8 giờ 6 phút tối thứ Hai, ngày 7 tháng Mười năm 2019 tại tư gia ở Garden Grove – California, hưởng thọ 77 tuổi, với 77 tác phẩm thi ca và văn chương để lại cho đời.

Thầy tôi, đi bình an, hơi thở tắt lịm nhưng nụ cười vẫn thản nhiên – đôn hậu. Đứa cháu ngoại “hồn nhiên” tưởng là ông ngoại đang ngủ, kêu hoài mà ông ngoại không thức nên chạy ra ngoài báo cho bà ngoại biết: “Ông ngoại không ôm con nữa, ông ngoại đã lên trời…”

Thi sĩ Du Tử Lê trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim - 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)
Thi sĩ Du Tử Lê trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim – 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)

Những ngày qua, tôi thơ thẩn và miên man suy nghĩ về tình thân giữa tôi và thi sĩ Du Tử Lê. Nghĩ đến, tôi rưng rưng một nỗi buồn. Sự ra đi của Thầy, khiến tôi hụt hẫng.

Thầy đi vào mùa thu, gió buồn lao xao thổi những cành lá rơi rụng như cung phím tơ vương, sầu theo hư ảo, hợp lại nhau thành sự chia ly như những vần thơ Thầy gieo xuống hạt mầm định mệnh.

“….

này tháng chín, mùa thu về rất mới
bởi hôm qua có kẻ mới qua đời
hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
em xạ hương từ quá khứ tôi

này tháng chín, này em, này tháng chín
em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường

…”

Tôi thương Thầy như cha mẹ, như anh em ruột thịt. Bút hiệu của tôi – Đỗ Vẫn Trọn do chính Thầy đặt tên. Tác phẩm đầu tay của tôi “Nỗi Niềm Mang Theo” cũng chính Thầy chọn tựa. Và sự nghiệp của tôi, của Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao 39 năm qua, tôi chỉ là người nuôi nấng, Thầy mới chính là linh hồn.

“Bởi, Du Tử Lê/ nên, Đỗ Vẫn Trọn”

Giữa năm 1972, ở chốn núi rừng Pleiku, mưa như thác lũ, mưa dầm dề, mưa ròng rã hàng tháng trời, thỉnh thoảng những cơn gió lạnh thổi về. Thành phố chìm đắm trong mùi thuốc súng, bom đạn nổ từng hồi…

“Ở đây, tiếng súng, tiếng đạn,

Anh còn tiếng nào, nói yêu em…”

Qua người anh là nhà thơ Vũ Kim Hoàng, tôi may mắn được gặp Thầy. Thầy xoa đầu tôi bảo: “Thằng nhỏ này khác người…”

Tôi được ngồi bên Thầy, bên những ly café đậm đặc ở quán Dinh Điền, quán Văn…, bên những lần đi cắm trại, nghe nhà thơ Kim Tuấn đọc thơ của Thầy. Rồi sau đó, là những lần ngồi với Thầy hàng giờ ở café Brodard, La Pagode,… ở Sài Gòn.

Thời đó, tôi như một thanh niên hăm hở vào đời, mở ra những cửa gương soi bóng. Thơ Du Tử Lê chiếm ngự hoàn toàn. Lớp trẻ chúng tôi, sinh viên – học sinh, chép thơ tình Du Tử Lê để ví von, để tỏ tình. Vị ngọt ngào – mặn nồng trong thơ Du Tử Lê, tô điểm tình yêu cho đôi lứa. Sài Gòn của chúng tôi là những hàng me xanh rợp bóng, bên những tà áo dài trắng trên con đường Trần Quý Cáp, Duy Tân.

Tôi diễm phúc chừng nào khi được thân quen thi sĩ Du Tử Lê, ngọn núi cao ngất của thơ tình mà bao người say đắm ngưỡng mộ.

Bẵng đi một thời gian là sự chia lìa – thất lạc. Tin tức trên đài phát thanh Hoa Kỳ (VOA) cho biết là Thầy đã định cư ở Mỹ từ sau tháng Tư năm 1975, chứ không phải là Thầy đã chết hay tự tử giữa dòng sông Sài Gòn như những tin đồn.

Tháng Hai năm 1981, tôi đến Trại tị nạn Songkhla – Thái Lan, tôi liền gửi thư cho Thầy. Một tháng sau, tôi nhận được thư của Thầy, trong đó có thêm tấm chi phiếu và một Tạp chí Nhân Chứng. Một món quà vô giá đối với tôi. Thầy đưa tin: “Đã có một phóng viên của Tạp chí Nhân Chứng có mặt ở trại tị nạn Thái Lan”, và đăng một đoạn thư mà tôi đã viết cho Thầy: “Bây giờ, em đã mất, mất tất cả thứ tình thân sâu đậm ở bên kia bờ biển nhớ…”

Những ai ở bên trại rất hiểu nỗi lòng trông ngóng thư từ của người thân. Những lá thư an ủi tinh thần và thể hiện bằng những “money order” nhét trong giấy carbon. Họ thắp thỏm trông chờ ngày đi, trông chờ ngày được phỏng vấn. Họ muốn thoát ra khỏi những con mắt soi mói của đồng loại, cho dù họ là nạn nhân của một vụ hãm hiếp tàn nhẫn trên biển đông. Thầy đã thắp sáng cho tôi một niềm hy vọng, một tình người để tôi gìn giữ mãi.

Đọc thư Thầy, tôi vui lắm, niềm vui trong nước mắt không thể diễn tả được. Lá thư của Thầy là niềm an ủi lớn nhất của tôi trong những ngày ở trại tị nạn, khi mà nỗi nhớ quay quắt về Ba Mẹ, anh chị em, quê hương mà tôi vừa rời xa, bỏ lại. Hơn thế nữa, Thầy vẫn nhớ đến tôi, đến một cậu học trò bé nhỏ tập làm người lớn. Một ân tình biển rộng của Thầy dành cho tôi.

Tháng Sáu năm 1981, tôi đến Hoa Kỳ. Tôi gọi ngay cho Thầy, Thầy bảo: “Em về Orange County phụ anh làm báo…” Tôi chưa nghĩ ra là tôi có thể làm báo được, nhưng tôi rất muốn về đó, vì tôi cảm nhận Thầy đã cho tôi một tình cảm thân thiết, một điểm tựa tinh thần mà những người xa xứ mong mỏi có được.

Một tuần lễ ở Dallas – Texas với hai người chị ruột, một tuần lễ ở Mountain View – California với người anh bạn cùng trại tị nạn là tiến sĩ Nguyễn Thanh Tòng, rồi tôi đi xe bus xuống Orange County để gặp Thầy. Sau bao năm xa cách, giây phút gặp lại Thầy, tôi vô cùng xúc động. Tôi ôm Thầy thật chặt rồi bật khóc. Trí nhớ của Thầy về tôi như in rõ, Thầy nói: “Anh vẫn nhớ em ngày nào, vẫn dáng vẻ thư sinh…” Tôi kể cho Thầy nghe, tôi tâm sự cùng Thầy nỗi buồn ly hương. Tôi nhớ ba mẹ, nhớ người thân, nhớ quê nhà… Thầy bảo tôi hãy viết xuống những suy nghĩ, cảm nhận của mình. Thế là tôi viết. Bài đầu tay là “Thư Gửi Mẹ”, Thầy đăng lên tạp chí Nhân Chứng, sau đó đài BBC phát thanh về Việt Nam. Thầy đã mở cánh cửa để tôi bước vào văn chương – báo chí một cách may mắn và thuận buồm xuôi gió.

Tôi phụ với Thầy làm báo Nhân Chứng, báo Tay Phải, báo Nàng, quán café Tay Trái. Thời đó có cố nhà văn Mai Thảo, nhà báo Hoàng Dược Thảo, cố nhà báo Đào Quý Châu, cố nhà thơ Cao Đồng Khánh, cố nhạc sĩ Việt Dzũng, nhà thơ Võ Thạnh Đông, nhà thơ Trầm Phục Khắc,… sau này có thêm họa sĩ Trần Đình Thục, nhạc sĩ Trần Duy Đức, nhà thơ Lê Giang Trần,… chúng tôi làm báo với nhau trong một garage ở Ranchero Way, thành phố Garden Grove. Tất cả đều nhiệt tình để có một món ăn tinh thần cho người Việt.

Hàng tuần, cố nhà thơ Nguyên Sa, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tài tử Kiều Chinh, nhà báo Du Miên, nhà thơ Thái Tú Hạp, ca sĩ Lệ Thu, chị Topas Trần Hoàng Ngọc, nghệ sĩ Quỳnh Như, nghệ sĩ Đoàn Vững,… hay đến để cùng nhau bàn chuyện về thi ca – văn học – âm nhạc. Nhìn lại bây giờ, không còn bao nhiêu người nữa, những người anh đã lần lượt ra đi.

Sau mấy năm làm báo với Thầy, tôi lên San Jose để lập nghiệp. Tôi ấn hành tuần báo Yêu, cùng lúc tôi đại diện hai tờ báo của Thầy là tạp chí Nhân Chứng và tuần báo Tay Phải.

Tính đến nay đã gần nửa thế kỷ gắn bó với Thầy. Tôi suy nghĩ tình thân sâu đậm giữa tôi và Thầy như một định mệnh mà Trời đã cho tôi cái duyên gặp. Hồi tưởng lại chuỗi ngày qua, hình như Thầy chưa bao giờ trách mắng hay nói nặng tôi một lần nào. Liên tục bao nhiêu năm qua, tình thầy trò, tình anh em giữa chúng tôi chưa bao giờ có sự rạn nứt. Thầy luôn để tâm đến những sinh hoạt của tôi. Thầy bảo: “Góc cạnh của em là một nhà văn, một người viết chữ, nhưng góc nhọn của em là một người làm thương mại. Hãy cố gắng cân bằng, đừng quên lãng với văn chương, tránh những hệ lụy trong nghề nghiệp…”

Điều này rất khó cho tôi, dù tôi luôn luôn gìn giữ cái gốc, cái vốn của mình như Thầy dạy bảo. Thời gian sau này, tôi thích làm thơ hơn viết văn. Thầy bảo: “Sao trước đây em thân với nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tại sao không đưa thơ cho mấy anh ấy phổ nhạc để thơ của em sẽ chấp cánh, tỏa rộng hơn. Tôi nói: “Em bị cái bóng thơ của anh quá lớn nên không tự tin …”

Mới đây, khi Thầy biết được thơ của tôi được các nhạc sĩ: Từ Công Phụng – Vũ Thành An – Song Ngọc – Nguyên Nhu – Mai Hoài Thu… phổ nhạc, Thầy mừng lắm và viết cho tôi những dòng chữ đầy khích lệ, Thầy chỉ cho tôi cách làm thơ thế nào để những nhạc sĩ dễ phổ thơ theo vần điệu, cung bậc âm thanh.

Từ khi Thầy bị bệnh, tôi muốn được ở bên cạnh Thầy nhiều hơn. Mỗi lần xuống Orange County, tôi đều thăm Thầy. Tôi muốn được đưa Thầy đi chỗ này chỗ nọ. Như mới đây, tôi hẹn Thầy cùng đi Âu Châu, dự định là ngày 13 tháng Mười năm 2019, Thầy do dự, vì sức khỏe yếu dần, nhưng Thầy vẫn chần chừ đợi tin anh Nguyễn Khắc Nhượng có cùng đi không. Thầy bảo: “Đi đâu cũng được, miễn là có dịp anh em mình ngồi với nhau hàn huyên là thích rồi…”

Một chuyến đi xa với nhau, tôi đã không thực hiện được, Thầy đã chọn một nơi xa hơn, bình yên hơn mà Thầy đã chấp nhận, Thầy xem những ngày còn lại là một phần thưởng, là một “bonus” mà Thầy có được khi những chứng bệnh của Thầy luôn làm khó và trở nên thân thiết với Thầy hơn.

Thi sĩ Du Tử Lê và nhà văn Đỗ Vẫn Trọn trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim - 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)
Thi sĩ Du Tử Lê và nhà văn Đỗ Vẫn Trọn trong buổi tổ chức “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim – 26/10/2014”. (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)

Ngày 26 tháng Mười năm 2014, trong một buổi tổ chức tại San Jose “Du Tử Lê, Tôi với Người chung một trái tim”. Chỉ trước đó hai tiếng, Thầy mệt và khó thở. Tôi lo lắng vô cùng, nhà văn Thanh Thương Hoàng, luật sư Nguyễn Hữu Liêm, nhạc sĩ Nguyên Nhu… có mặt hôm đó cũng đậm nét âu lo. Ý lực của Thầy thật mạnh mẽ và Thầy đã vượt qua để đến với bạn hữu và những người yêu mến Thầy.

Mới đây nhất và cũng là lần cuối cùng, vào Chủ Nhật ngày 18 tháng Tám năm 2019, tại Hệ Thống Truyền Thông Viên Thao – San Jose, Thầy ra mắt “Thơ, Tranh Du Tử Lê”. Khi lên sân khấu Thầy nói: San Jose là trái tim nhân ái… Nếu sức khỏe tôi còn cho phép, tôi có thể trở lại San Jose lần nữa…

Thi sĩ Du Tử Lê và bằng hửu trong buổi “Thơ, Tranh Du Tử Lê”- 18/08/2019” (Phạm Phúc - Du Tử Lê - Đỗ Vẫn Trọn - Mai Hân - Ngọc Trọng). (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)
Thi sĩ Du Tử Lê và bằng hửu trong buổi “Thơ, Tranh Du Tử Lê”- 18/08/2019” (Phạm Phúc – Du Tử Lê – Đỗ Vẫn Trọn – Mai Hân – Ngọc Trọng). (Hình: Đỗ Vẫn Trọn cung cấp)

Không lẽ, Thầy đã tiên liệu được…, Thầy biết, ngày tháng của Thầy không còn bao lâu nữa, Thầy báo trước sự chia lìa sẽ đến như chính những bài thơ Thầy viết, mang theo một định mệnh.

Cho dù là định mệnh, tôi cũng không muốn chấp nhận. Ngọn đèn dầu yếu ớt, cạn kiệt, lóe lên trong tôi một tia hy vọng. Nhưng tôi vẫn bị ám ảnh. Tôi hoảng hốt bởi câu nói của Thầy. Linh cảm cho tôi biết có điều gì đó không yên bình.

Một ngày trước đó, Thầy bảo tôi đưa lên San Francisco để thăm họa sĩ Duy Thanh. Đi chưa được bao lâu thì Thầy lại mệt, khó thở. Tôi nói: “Thôi để vài ngày nữa, em thay anh lên thăm anh Duy Thanh và trao thư của anh luôn…” Thầy miễn cưỡng chấp nhận lời đề nghị của tôi.

Bất cứ một người bạn nào bệnh, Thầy cũng cố gắng đi thăm như lúc cố nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, cố nhà báo Phạm Huấn, cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, cố nhà thơ Hà Thượng Nhân… ở San Jose, nhạc sĩ Từ Công Phụng ở Portland – Oregon.

Tôi thường gửi thuốc cho Thầy trị bệnh, một lần tôi nhờ Thầy chuyển thuốc cho anh Nguyễn Khắc Nhượng, Thầy chưa kịp nhận thuốc của tôi gửi cho anh Nhượng, nhưng Thầy bảo với tôi, anh đã có hai hộp thuốc mà em mới gửi cho anh, để anh đưa cho anh Nhượng trước, rồi em gửi sau cũng được.

Tôi nhớ lại, khi thân mẫu của Thầy mất, Thầy đã ngồi bất động ở bàn viết lữ thứ hằng bao ngày để viết thành “Trường Khúc Mẹ Về Biển Đông”. Những dòng thơ đậm tình về đấng phụ mẫu dưỡng dục sinh thành của Thầy, đã làm rơi lệ nhiều người con hiếu thảo nhớ về Mẹ.

Thầy sống thật tử tế và thủy chung với bạn hữu. Ở Thầy, không có chiếu trên chiếu dưới, không có khoảng cách giữa một tên tuổi lớn trong thi ca – văn chương với những người trẻ muốn tìm đến lĩnh vực này. Tôi không ngạc nhiên khi Thầy có quá nhiều người hâm mộ từ trong nước và ngoài nước. Họ tìm đến Thầy không những ở tài năng của Thầy, một thi sĩ đặc biệt, hiếm hoi của thế kỷ này, của dòng văn học nghệ thuật ở miền Nam từ trước tháng Tư năm 1975, cho tới hôm nay, sau 44 năm ở quê người mà họ còn tìm đến Thầy, tiếp xúc với Thầy ở một tấm lòng qua tư cách và phẩm chất của một nhà thơ – nhà văn – nhà nghiên cứu để học hỏi những điều tốt đẹp nơi Thầy, nơi cách cư xử rất tế nhị của Thầy.

Thầy là một nhà thơ – nhà văn hàng đầu của văn học nghệ thuật Việt Nam, với 77 thi phẩm – tác phẩm lưu giữ ngàn sau, hơn 300 bản nhạc phổ thơ của Thầy, mỗi bản nhạc nổi tiếng gắn liền với từng nhạc sĩ qua nhiều giai đoạn – thời gian từ năm 1966 đến nay. Văn – thơ của Thầy là những nét chấm phá tuyệt tác, chữ nghĩa và cách đặt tựa bài của Thầy như một câu chuyện, một tâm sự mà người đời hay ví von: Ở chỗ nhân gian không thể hiểu/ Tan theo ngày nắng vội/ Con dế buồn tự tử giữa đêm sương…

Những ngày qua, trên các làn sóng phát thanh, các đài truyền hình, phát nhiều bài hát quen thuộc phổ thơ của Thầy được nhiều người nhắc, nhớ như: Khúc Thụy Du, Ơn Em, Trên Ngọn Tình Sầu, Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển, Ca Khúc Của Lê, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, Trên Cọc Nhọn Trăm Năm…để tưởng niệm một thi sĩ tài hoa, làm sáng rực bộ môn thi ca.

Mỗi câu, chữ của Thầy viết ra là một sắc thái riêng biệt, ý nghĩa thật sâu thẳm. Chữ nghĩa của Thầy thật đẹp trên từng dấu phẩy, dấu chấm,… Thầy đã cố gìn vàng giữ ngọc và làm phong phú cho tiếng Việt chúng ta dù ở nơi xứ người.

Từ năm 1977, Thầy đã đến nhiều nơi có người Việt sinh sống để khuyến khích bậc phụ huynh dạy dỗ tiếng Việt cho con em. Thầy tổ chức những buổi ra mắt thơ-văn ở khắp nước Mỹ, Canada, Úc Châu. Thầy đã đào tạo và chỉ bảo cho những người trẻ làm thơ, viết văn. Nhiều người trong số này đã thành danh.

Dễ gì có được bao người như Thầy. Đã sống và hiến trọn với chữ nghĩa, với văn chương cả một đời.

Sự ra đi của Thầy là một sự tiếc nuối cho bao người, dẫu biết rằng thơ văn của Thầy vẫn nhớ mãi, vẫn được truyền tụng, lưu giữ trong kho tàng văn chương Việt Nam, nhưng lòng tôi vẫn buồn vô hạn, dạt ngang miền ký ức, nhung nhớ đầy kỷ niệm bên Thầy.

Khi nhà văn Mai Thảo còn sống, hàng ngày Thầy, và tôi cùng anh Mai Thảo đều gặp nhau. Ba anh em chúng tôi thương nhau như không thể chia lìa. Ngày nào thiếu một người như thiếu một điều gì đó rất thân quen.

Tôi và Thầy cùng thờ kính nhà văn Mai Thảo. Trên bàn thờ của Ba Mẹ tôi, có di ảnh của nhà văn Mai Thảo, nay có thêm Thầy tôi/ thi sĩ Du Tử Lê.

Mỗi buổi sáng, mỗi buổi tối tôi thắp hương, châm trà, châm rượu, pha café và thỉnh thoảng tôi đốt một điếu thuốc cho Ba tôi, cho anh Mai Thảo, cho Thầy tôi/Du Tử Lê.

Nhà văn Mai Thảo đang nhìn nhà thơ Du Tử Lê mĩm cười. Cuối cùng rồi mình cũng gặp nhau.

Sáng nay, tôi dậy thật sớm, tôi ngồi ngay chỗ mà Thầy và tôi đã ngồi hàng giờ, hàng đêm trong tháng qua. Nhìn qua màn sương đêm dày đặc, thoảng mùi hương từ cây California Pepper như mùi hương trầm, thiêng liêng – u tịch và tĩnh lặng. Gió lạnh từng hồi, đâu đó tôi thấy bóng dáng của Thầy khăn choàng áo dạ, bước nhanh lên ngọn đồi, tiến về chỗ tôi ngồi. Hôm nay mới thật sự là gió của mùa thu, và mùa thu đã mang Thầy tôi đi thật xa. Những chiếc lá vàng vừa rụng khỏi cành để thân cây trơ trọi, chơ vơ trên miền yêu thương.

Được tin Thầy đi, nhiều người thân rất bàng hoàng. Nhạc sĩ Từ Công Phụng buồn bã nói: “Lê đi rồi, buồn quá Trọn ơi!” Nguyễn Vũ Nhã nhắn tin: “Trọn ơi! tôi như chết hết một phần thân thể”. Nhạc sĩ Vũ Thành An: “Tiếc quá, Trọn ơi! hôm thứ Hai anh em mình đã không gọi được cho anh Lê”.

Tôi ngồi trong căn phòng của Thầy, nơi chiếc bàn có máy vi tính. Ở đây, là nhịp sống, là sinh mệnh, là hơi thở của Thầy. Những con chữ, những dòng thơ, những áng văn chương được thoát ra từ căn phòng này. Tôi tìm hơi ấm của Thầy trên chiếc giường giờ đã được trải drap giường thẳng nếp, những bộ quần áo được treo ngay ngắn hơn. Tôi thấy căn phòng lặng vắng im ỉm một nỗi buồn.

Từ hôm Thầy đi, chị Hạnh Tuyền không khóc, chị như người mất hồn. Tôi không dám hỏi, nhưng rất lo. Cuối cùng, chị đã khóc, khóc thật nhiều khi những con cá mà anh chị đã nuôi từ 20 năm qua, bỗng nhiên chết hết. Chị khóc uất nghẹn: “Ảnh đi rồi, mấy con cá cũng đi theo ảnh luôn, em ơi…”

Tôi nói với chị Hạnh Tuyền: “Khóc đi chị, hãy để những lệ sầu rơi xuống. Chị cứ khóc, đừng cố gắng chịu đựng. Như em, cũng không thể chịu đựng. Em đã khóc, khóc từ khi cơn bệnh hành hạ anh, từ những cơn ho trái mùa làm đau lồng ngực anh. Anh đi rồi, em buồn lắm, em xót xa vô ngần. Nhiều thành phố, nhiều con đường em đã đi cùng anh. Bây giờ vắng anh, em thiếu một con đường, một hướng đến, một phương chỉ nam”.

Thầy ơi! 47 năm, gần một nửa thế kỷ, em được hạnh phúc vô cùng khi được Thầy yêu thương đùm bọc. Bây giờ Thầy đã đi. Ở một nơi nào đó, bóng Thầy vẫn quanh quẩn đâu đây. Giọng nói của Thầy vẫn văng vẳng dấy lên trong em một nỗi nhớ khôn nguôi, một nỗi niềm mang theo, bỏ lại. Lời ước nguyện của Thầy vẫn còn đây:

“…

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

Bên kia biển là quê hương tôi đó

Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

….

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết

Đời lưu vong tận huyệt với linh hồn”

Thầy ơi! Thầy ơi!

Thầy đi, để lại bao sầu nhớ

Thất thểu hồn tôi, mối thâm tình

Mong Thầy đi thanh thản, thưa Thầy!

Em – Đỗ Vẫn Trọn

https://www.voatiengviet.com/a/du-tu-le-do-van-tron-thay-toi/5130122.html

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: