Trần Hoàng Blog

►Hoa Địa Ngục — Tiễn anh, ngày mưa đầu mùa (3-10-2019)

Posted by hoangtran204 trên 04/10/2019

 

 

 

 

Thai Dinh is with Binh Nguyen.

Tiễn anh, ngày mưa đầu mùa*

(Hôm nay ngày 02 Tháng 10, 2019 là đúng bẩy năm Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện lìa trần. Xin phép đăng lại bài viết này nhân lễ an vị tro cốt của nhà thơ ngày 11 Tháng 10 năm 2012

Đinh Quang Anh Thái

Từ rạng sáng, trời rả rích mưa!

Mưa, nhưng không nặng hạt như ngày nghe tin anh mất, khi em vừa lên xe Greyhound từ Philadelphia đi Washington DC. Hôm đó là sáng Thứ Ba, ngày 02 Tháng 10. Lúc vừa dợm bước chân lên xe lúc 9 giờ 50 giờ Miền Ðông, nhà văn Trần Phong Vũ giọng hốt hoảng gọi từ California: “Nguyễn Chí Thiện đang hấp hối trong bệnh viện, anh bị kẹt xe quá, không biết có còn kịp không!”

Xe dừng ở trạm Delaware để lấy thêm khách, em gọi về Cali hỏi anh Vũ, anh nấc lên trong phone, anh Thiện mất rồi, lúc 7 giờ 17 phút sáng!

Mưa mỗi lúc một tầm tã, suốt dọc đường đi, em cố giấu nước mắt để tránh gây chú ý cho hành khách trên xe. Gọi báo tin cho những người yêu thương anh Thiện, nhà văn Nhật Tiến òa khóc và tỏ ý ân hận là đã không biết anh đau bệnh để vào nhà thương thăm anh.

Không ngờ anh đi mau như thế. Cách đó mới có 5 ngày, trên đường đi phi trường, em và một người bạn thân, cô Trang, đã đến thăm anh tại bệnh viện. Anh vốn dĩ đã khẳng khiu, nay lại đau bệnh nên nhìn anh gầy trơ xương. Anh ho từng cơn, có lúc phải dùng tay chặn cơn đau nơi ngực. Dù vậy, anh vẫn thăm hỏi em những chuyện đời thường. Em đùa hỏi anh có thèm thuốc lá không, anh bảo: “Làm thế nào được, ho bỏ mẹ đây này.”

“Làm thế nào được,” câu anh thường dùng khi đối thoại để tả tình huống chịu đựng, như những lần nhìn thấy anh xiêu vẹo, dáng đi như sắp ngã chúi về trước, em hỏi sức khỏe anh ra sao, anh bảo “làm thế nào được, đủ thứ bệnh trong người.”

Ngồi sau lưng tài xế nhìn cây quạt nước gạt bắn những hạt mưa mỗi lúc một nặng, em nhớ anh quá đỗi.

Nhớ những ngày vừa ra khỏi tù năm 1984, đêm đêm áp sát tai vào chiếc radio tại một chòi nuôi heo ở Tân Quy Ðông, nghe giọng xướng ngôn viên đài BBC đọc một bài thơ của tác giả “Khuyết Danh”:

Trong bóng đêm đè nghẹt

Phục sẵn một mặt trời

Trong đau khổ không lời

Phục sẵn toàn sấm sét

Trong lũ người đói rét

Phục sẵn một đoàn quân

Khi vận nước xoay vần

Tất cả thành nguyên tử

Nhớ những ngày đầu tiên nhìn tuyết rơi khi mới từ đảo tỵ nạn sang Mỹ định cư ở Virginia, cùng nhóm anh em báo Xác Ðịnh đọc từng bài thơ trong tập “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực.”

Nhớ những tháng làm việc trong trại tỵ nạn Hồng Kông năm 88, đem từ Mỹ cả trăm tập thơ và tape nhạc Phạm Duy phổ thơ để đồng bào trong trại đa số là dân ra đi từ miền Bắc biết về một nhân cách bất khuất Nguyễn Chí Thiện. Nhớ Giang, một kỹ sư từ Canada làm thiện nguyện trong trại ước mong, “nếu có ngày về lại miền Bắc, em sẽ tìm thăm bác Nguyễn Chí Thiện; nếu bác không còn nữa, em nguyện xây cho bác một nấm mộ.”

Nhớ lúc làm đài phát thanh VNCR năm 95, phỏng vấn anh khi anh vừa đặt chân đến đất Mỹ, cảm được tấm lòng của anh với đất nước và con người Việt Nam; kính phục tính vị tha của anh qua bài thơ tâm huyết “Sẽ có một ngày”:

… Về với miếu đường mồ mả gia tiên

Mấy chục năm trời bức bách lãng quên

Bao nhiêu thù hận tan vào hương khói…

… Kẻ bùi ngùi hối hận

Kẻ kính cẩn dâng lên

Này vòng hoa tái ngộ

Ðặt lên mộ cha ông

Khai sáng kỷ nguyên Tã Trắng thắng Cờ Hồng.

Hỏi anh sau 27 năm bị bạo quyền dìm xuống tận đáy địa ngục trần gian, bằng cách nào lòng anh khoan hòa được như vậy, anh bảo “làm sao được, con rắn cộng sản thì phải đánh giập đầu, còn dân tộc chả nhẽ hận thù nhau mãi sao.” Hỏi anh về ý thơ “Tã Trắng thắng Cờ Hồng,” anh nói, Việt Nam hồi sinh sẽ là một hài nhi trong trắng để tiến tới tương lai, với “tiếng mục đồng êm ả, tình quê bao la, thay tiếng Quốc Tế Ca bằng tiếng diều cao vút trong chiều tà, trên ruộng đồng quê ta.”

Nhớ cách hút thuốc của anh, chỉ hút nửa điếu, nửa còn lại dập tắt lửa rồi cất vào túi áo. Ðứng cạnh anh, mùi điếu thuốc hút dở dang bốc lên nghẹt thở. Hỏi anh sang đây thiếu gì thuốc lá mà cứ làm vậy, anh bảo “làm thế nào được, quen rồi, từ dạo đi tù.”

Nhớ những lần anh cho đi ăn, anh bảo, chú còn gia đình, đừng tiêu pha nhiều, chứ anh một thân một mình chả có ai để phải lo lắng, anh trả tiền cho chú. Nhiều năm Tết, anh còn dúi vào tay em hai trăm bạc để mừng tuổi hai con em. Và cũng nhiều lần anh đưa tiền cho em để gửi về cho những người đấu tranh dân chủ ở quê nhà.

Nhớ Tết năm nào ngồi với anh, nhà văn Vũ Thư Hiên từ Pháp sang và nhà văn Nguyễn Ðình Toàn, anh đọc cho nghe bài thơ anh làm năm 1966 lúc ở Hà Nội, lột tả được kiếp người cô quạnh của anh:

Tôi, một kẻ không gia đình bè bạn

Sống một mình, bệnh hoạn xanh xao

Chai nước con, chiếc điếu hút thuốc lào

Chiếc giường vải, chiếc bàn bằng gỗ cũ

Ðồ đạc tôi thế là tạm đủ

Cuộc sống nghèo nàn, không ước, không mơ

Ngoài thời gian dậy học vài giờ

Tôi tìm kiếm niềm khuây trong sách vở

Ít ra khỏi căn buồng con con tôi ở

Chủ nhật, ngày thường tôi thấy như nhau

Những khi buồn tôi đem điếu ra lau

Hoặc khe khẽ ngâm vài câu thơ cổ

Mỗi tháng một lần tôi mang phiếu sổ

Tiêu chuẩn thịt, đường một lạng mua ăn

Trong lòng tôi chỉ một nỗi băn khoăn

Sợ bị bắt, bị nghi là bất mãn!

Khốn nạn, cái chế độ kìm kẹp con người! Ðốn mạt, cái guồng máy khiến anh phải sống như thế!

Sống ở Mỹ, căn phòng anh ở có tươm tất đôi chút, nhưng cũng chỉ vỏn vẹn cái giường nằm, cái kệ sách, chiếc tivi cũ, vài xoong nồi chén bát ăn cơm, chiếc điếu cầy được thay bằng những bao thuốc lá. Thế thôi! Vậy mà vẫn có đứa khốn nạn, đốn mạt dựng điều bôi nhọ, vấy bẩn vào nhân cách của anh. Hỏi anh sao cứ để chúng yên, anh bảo, “làm thế nào được, đi rừng gặp thú dữ, chẳng lẽ mở mồm xin chúng buông tha.”

“Làm thế nào được,” anh Thiện ơi, để nguôi bớt nỗi đau khi anh ra đi! “Làm thế nào được,” để bớt nhớ dáng cao gầy của anh mỗi khi anh vào tòa soạn thăm em! “Làm thế nào được” để ghi lại vài lần thảng hoặc thấy anh cười.

Và “Làm thế nào được,” để thôi bị ám ảnh khi nhớ ánh mắt anh đuổi theo, khi em chia tay anh lần cuối cùng ở bệnh viện!

 

__________________

 

Cuộc đời tù đày và đấu tranh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời tại bệnh viện Western Medical Center tại Santa Ana sáng sớm ngày 2 tháng 10 năm 2012. Anh ra đi khi trời hừng sáng, bình an như sự lựa chọn của anh.
Trần Bình Nam gửi RFA
2012-10-03
Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

RFA files

Tôi đến thăm anh ngày 1/10. Bên giường bệnh là nhà báo Trần Phong Vũ. Anh Vũ cho biết dường như anh Nguyễn Chí Thiện bị ung thư phổi. Và bác sĩ đã báo cho anh Thiện triệu chứng nhưng anh không tiến hành chữa trị. Anh có sự lựa chọn của một người cao niên biết bị bệnh hiểm. Trên giường bệnh trắng tinh anh nằm im, nước da hồng hào, trán ấm, thở dưỡng khí, không trao đổi được bằng lời nhưng đôi mắt tinh anh cho biết anh còn nhận được anh em.

Thật buồn và thật là một mất mát lớn. Cái dũng khí, cái nhìn lớn của anh Nguyễn Chí Thiện là một thứ quý hiếm lịch sự Việt Nam không phải lúc nào cũng có.

Theo các tài liệu anh Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại phố Hàng Bột Hà nội, sau về Hải Phòng sinh sống. Năm 1958 nhân dính líu với vụ Nhân Văn Giai Phẩm anh bị tù 2 năm. Năm 1961 anh lại bị bắt vì tham gia nhóm Đoàn Kết. Ra tù anh Nguyễn Chí Thiện vẫn tiếp tục các hoạt động chống đảng Cộng sản. Năm 1965 anh bị bắt lại và lần này bị giam 13 năm qua các trại tù nằm dọc sông Hồng Hà.

Sau khi cộng sản chiếm miền nam, năm 1978 Nguyễn Chí Thiện được phóng thích và trả về Hải Phòng. Anh làm nghề kèm trẻ tại tư gia để sống. Mẹ anh mất năm 1970, bố anh mất vài năm sau đó.

Nguyễn Chí Thiện được thế giới bên ngoài biết đến qua tập thơ mang nhiều tên như  “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”, “Hoa Địa Ngục” anh âm thầm làm trong những năm tù đày. Ngày 2/4/1979 anh lần mò lên Hà Nội, quẳng tập thơ vào khuôn viên tòa đại sứ Anh. Anh bị bắt.

Do sự can thiệp của Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải ngoại và cộng đồng người Việt tị nạn, năm 1990 anh được trả tự do. Cuối năm 1995, sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ, Hà nội cho phép anh sang định cư tại Hoa Kỳ dựa vào thủ tục bảo lãnh của người anh ruột nguyên là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Tập thơ của anh được chính phủ Anh giao lại cho cộng đồng Việt Nam và nội dung của nó đã tạo nên một xúc động chưa từng có. Tập thơ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nó chứa đựng mặt thật của chủ nghĩa cộng sản và chế độ mang tên nó tại Việt Nam. Tập thơ cũng chứa đựng những tiên đoán chính xác về sự suy tàn của chủ nghĩa, và sự yếu kém của thế giới trước sức mạnh yêu ma của chủ nghĩa cộng sản, nhất là sự hoang tưởng của một số trí thức và triết gia phương Tây.

Hôm nay Nguyễn Chí Thiện đã nằm xuống, chúng ta hãy ngoảnh nhìn cuộc đời của anh để ghi lại những kỳ tích của một cuộc đời đấu tranh chống bạo tàn hiếm có.

Năm 16 tuổi khi quân đội của ông Hồ Chí Minh vào tiếp thu thành phố Hà Nội, anh vui mừng trong vận hội mới:

Ngày ấy tuy xa mà như còn đấy

Tuổi hai mươi tuổi bước vào đời

Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi

Bốn phía bao la chỉ thấy

Chân mây rộng mở tuyệt vời

Đồng Lầy – 1972

Nhưng Nguyễn Chí Thiện đã nhanh chóng nhận thấy sự tráo trở bất lương của người cộng sản:

Bùn đọng hồ ao mạn dưới phục chờ

Tuổi hai mươi tuổi của không ngờ

Không sợ!

Đồng Lầy – 1972

Chiến dịch cải cách ruộng đất đã biến Việt Nam thành một đấu tố trường đầy máu và nước mắt:

Ngàn vạn đấu trường mọc dậy giữa ban mai

…………………

Bãi sú, bờ lau, rừng rú

Thây người vun bón nuôi cây

Đạo lý tối cao của xứ đồng lầy

Là lừa thầy phản bạn

Và tuyệt đối trung thành với vô hạn

Với Đảng, với Đoàn, với lãnh tụ thiêng liêng

Đồng Lầy – 1972

Nhận thức của Nguyễn Chí Thiện đã đưa anh vào tù năm 1958 và ra vào nhiều lần tổng cộng 30 năm. Nhưng lao tù không khuất phục được anh:

Dù đời ta sa đáy vực khổ oan

Cũng được, miễn là thoát ra khỏi đó

Đời ta sẽ tự do như gió

Mang lời ca tha thiết tâm can

Dù đời ta – 1973

Nguyễn Chí Thiện không tin tưởng suông. Anh tin tưởng các chế độ cộng sản sẽ sụp đổ với một luận cứ vững chắc không khác gì 4 thế kỷ trước nhà khoa học Galileo người Ý đã tin quả đất tròn dù phải bị xử tội chết. Nguyễn Chí Thiện nhắn với đảng cộng sản:

Người  nhô lên trong cơn động đất nhất thời

Thì rồi cũng có thể nhất thời

Người chìm trọn trong những cơn động đất

Núi – 1973

Lời tiên đoán của anh đã xẩy ra 17 năm sau khi hàng lọat các nước cộng sản Đông Âu rồi đến Liên xô, thành trì của chủ nghĩa sụp đổ.

Năm 1975 khi được tin cộng sản Hà nội chiếm trọn miền Nam, Hoa Kỳ rút quân, cả thế giới cúi đầu nhục nhã, Nguyễn Chí Thiện đang bị giam tại nhà tù Phong Quang Lào Kay bình tĩnh viết:

Khi Mỹ chạy bỏ miền Nam cho cộng sản

Sức mạnh toàn cầu nhục nhã kêu than

Giữa lao tù bệnh hoạn cơ hàn

Thơ vẫn bắn, và thừa dư sức đạn!

Vì thơ biết một ngày mai xa xôi nhưng sáng lạn

Không dành cho thế lực yêu gian

Khi Mỹ chạy – 1975

Anh khuyên thế giới đừng sợ hãi và mất lòng tin

Đừng sợ cái cực kỳ man rợ

Dù nó đương thời rông rỡ nơi nơi

Phải vững tin vào bước tiến con người

Đừng sợ – 1975

Nhưng trong trí óc tuyệt vời và nhân bản của anh, Nguyễn Chí Thiện vẫn mường tượng một tiến trình sụp đổ trong hòa bình, một điều không một nhà chính trị lớn nào trên thế giới dám tiên đoán cho mãi đến năm 1989. Năm 1971 khi đang bị giam tại nhà lao Phú Thọ, anh đã làm bài thơ “Sẽ có một ngày” bất hủ:

Sẽ có một ngày con người hôm nay

Vất súng vất cùm, vất cờ, vất Đảng

Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng

Oan khiên!

Về với miếu đường mồ mã gia tiên

Mấy chục năm trời bức bách lãng quên

Bao hận thù độc địa dấy lên

Theo hương khói êm lan, tan về cao rộng

Tấ cả bị lùa qua cơn ác mộng

Kẻ lọc lừa kẻ bạo lực xô chân

Sống sót về đây an nhờ phúc phận

Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân

Đứng bên nhau trong mất mát quây quần

Kẻ bùi ngùi hối hận

Kẻ bồi hồi kính cẩn

Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông

Khai sáng kỷ nguyên tả trắng thắng cờ hồng

Tiếng sáo mục đồng êm ả

Tình quê tha thiết ngân nga

Thay tiếng “Tiến Quân ca”

Và “Quốc Tế ca”

Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!

Sẽ có một ngày -1971

Hôm nay Nguyễn Chí Thiện đã vĩnh viễn rời chúng ta, nhưng tinh thần anh vẫn còn đây: trong sáng, kiên quyết, nhìn xa, nhân bản giữa đại nạn của nhân loại và của đất nước không may vẫn còn đầy chia rẽ của chúng ta.

Anh Nguyễn Chí Thiện! Anh đi như một vì sao chợt tắt. Nhưng ánh sáng xẹt trên nền trời vẫn còn ôm ấp, an ủi và nuôi dưỡng lòng tin của dân tộc Việt Nam.

Trần Bình Nam

Oct. 3, 2012

binhnam@sbcglobal.net

http://www.tranbinhnam.com

_______

6-10-2012

Hoa Địa Ngục

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện người nổi tiếng với tập thơ Hoa Địa Ngục vừa qua đời ngày 2 tháng 10 năm 2012 tại miền Nam tiểu bang California hưởng thọ 73 tuổi. Cuộc đời nhà thơ là một gương đấu tranh không mệt mỏi của một người dám đối diện với những tàn bạo mà chế độ dùng để trấn áp người bất đồng chính kiến.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2012-10-06

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tác phẩm "Hoa Địa Ngục".

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tác phẩm “Hoa Địa Ngục”.

Mặc Lâm tuyển chọn một vài bài thơ tiêu biểu trong tập Hoa Địa Ngục gửi tới quý thính giả trong chương trình Văn hóa Nghệ thuật tuần này.

Nếu ai hỏi nhà tù của chế độ cộng sản của Việt Nam có gì đặc biệt so với thế giới, câu trả lời nhanh nhất có thể đưa ra: bạn hãy đọc Hoa Địa Ngục của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

Cuốn sách mỏng này có một lịch sử cũng lạ lùng không kém nội dung nó cưu mang. Thay vì in lén lút và chuyền tay nhau trong nước như thường thấy đối với những tác phẩm mà chế độ gọi là văn hóa phẩm phản động thì nó lại tìm đường vượt biên qua ngã tòa đại sứ Anh tại Hà Nội để từ đó bay sang tận Mỹ và phô bày cho cả thế giới xem những hình ảnh kinh hoàng được viết lại bởi chính nạn nhân của nó. Người tù này nhanh chóng được vinh danh bằng một cái tên lạ lùng nhất thế giới: “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện.

Tôi giảng về đại chiến thứ hai rằng sở dĩ Nhật đầu hàng là do hai quả bom nguyên tử của Mỹ nó bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki.Thế nhưng bài giảng đó nó sai với sách giáo khoa. Sách giáo khoa nói do Liên Sô đánh tan quân Nhật ở Mãn Châu thì Nhật phải đầu hàng chứ không phải do Mỹ.
Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Lý lịch tù tội của ông cho thấy tư duy của những người cầm quyền lệch lạc và độc đoán tới mức không ai có thể tưởng tượng nổi. Nhà thơ bị bắt giam vì một cái tội là nói đúng sự thật lịch sử khi sách giáo khoa của chế độ tuyên truyền xuyên tạc những dữ kiện đã được cả thế giới công nhận. Trong một lần phỏng vấn trước đây, nhà thơ kể cho chúng tôi câu chuyện ông bị bắt giam và phải ở tù ba năm rưỡi vì một tội danh không hề hiện diện trong bất cứ hiến pháp của một quốc gia nào:

“Khi bị bắt sự thực mà nói thì tôi không làm gì cả. Hôm ấy một ông bạn, ông ấy là giáo viên dạy sử. Ông ấy ốm nhờ tôi dạy hộ một lớp bổ túc văn hóa mà lớp ấy ở trước nhà tôi ở phố Ga Hải Phòng. Tôi cũng tình cờ vào dạy giúp ông ấy có hai tiếng thôi. Tôi giảng về đại chiến thứ hai rằng sở dĩ Nhật đầu hàng là do hai quả bom nguyên tử của Mỹ nó bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki.

Thế nhưng bài giảng đó nó sai với sách giáo khoa. Sách giáo khoa nói do Liên Sô đánh tan quân Nhật ở Mãn Châu thì Nhật phải đầu hàng chứ không phải do Mỹ. Tôi chỉ giảng như thế thôi. Mình cũng vô tình nhưng nó theo dõi mãi đến đầu năm 1961 nó bắt tôi ra tòa với tội là phản tuyên truyền. Khi ra tòa thì tôi cũng nói tôi giảng theo đúng lịch sử thôi. Lúc bấy giờ họ xử tôi hai năm tù nhưng tôi phải ở 3 năm rưỡi.”

Người ta không thể tìm thấy bất cứ lời hoa mỹ, khó hiểu hay cách dùng một thủ thuật ước lệ, ẩn dụ hay tự trào nào trong cả tập thơ Hoa Địa Ngục. Với Nguyễn Chí Thiện ông làm thơ với một mục đích duy nhất: tố cáo sự tàn ác của các nhà tù cộng sản mà ông là nhân chứng sống. Bài thơ mang tên “Thơ của tôi” được sáng tác vào năm 1970 khẳng định thơ của ông không phải là thơ theo định nghĩa thông thường:

Thơ của tôi

Bìa tập thơ 'Hoa Địa Ngục'
Bìa tập thơ ‘Hoa Địa Ngục’ Photo: RFA

Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở
Tiếng dạ dày đói lả bóp bâng quơ
Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ
Tiếng bất lực trước muôn ngàn sụp lở
Toàn tiếng của cuộc đời sống dở
Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ!
(1970)
Vẫn cảm thấy chưa đủ, năm năm sau ông viết tiếp một bài thơ thứ hai cũng có tựa như bài thơ ông viết năm 1970, lần này ông cho biết nguồn cội làm những bài thơ bật lên tiếng nói:

Thơ của tôi

Thơ của tôi không có gì là đẹp
Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
Thơ của tôi không có gì cao
Như chết chóc, mồ hôi, báng súng
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
Như Đảng, Đoàn, như lãnh tụ, như trung ương
Thơ của tôi kém phần tưởng tượng
Nó thật như tù, như đói, như đau thương
Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỉ đỏ
(1975)

Hai bài thơ cùng một tựa đề có thể được dẫn dắt từ hai lần bị bắt giữ. Bài thơ lần đi tù thứ nhất đã dẫn nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào nhà giam lần thứ hai, ông kể:

“Lần thứ hai sau khi tôi được thả về thì bom đạn chiến tranh ở miền Bắc tôi hết đường sống. Đành phải bỏ cái lớp dạy tư Anh, Pháp văn do một anh bạn có giấy phép mở tôi ké vào dạy kiếm sống và làm nghề dịch sách nữa.
Trong lần đi tù lần thứ nhất tôi có làm được khoảng 100 bài thơ đọc cho bạn bè nghe, nhiều bài được lưu truyền không may đến tai công an. Công an bắt tôi thì tôi không nhận là thơ do tôi làm. Công an không xử nữa mà nó bắt tôi tập trung cải tạo, lần này mất 11 năm rưỡi nữa mãi đến tháng 7 năm 1977 tôi mới được về, vì nó cần chỗ để nhốt người miền Nam. Trong giấy tha của tôi nó đề tội danh của tôi là tội làm thơ phản động dù tôi không nhận nó cũng để như thế.”

Bài thơ “Anh có biết” được ông sáng tác vào năm 1966 có thể xem là tiếng rống thống thiết của một con thú chứ không phải là con người khi sự đau khổ đã trở thành viên đá nằm câm nghẹn trong lồng ngực.

Anh có biết

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại buổi ra mắt tập thơ Hoa Địa Ngục. Photo by Nguyễn An/RFA.
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại buổi ra mắt tập thơ Hoa Địa Ngục. Photo by Nguyễn An/RFA. Photo: RFA

Anh có biết giữa lao tù cay đắng
Rét không quần, không áo, đập hàm răng
Đói xương sườn, xương sống chồi căng
Ốm không thuốc thân tàn xem khó thắng
Tôi vẫn có những đêm dài thức trắng
Tạo vần thơ câm lặng, anh ơi!
(1966)
Khi mà Trung Quốc đánh miền Bắc vào tháng 2 năm 79 thì công an bắt đầu gọi tôi lên sở lên đồn liên tục, viết kiểm điểm đe dọa bắt bớ đủ thứ. Đến nước này tôi thấy nguy cơ nếu mà nó bắt lần nữa thì khó sống. Thế nên tôi quyết định phải gửi tất cả thơ tôi làm được trong vòng 15 năm ra ngoại quốc.

Tôi vào tòa đại sứ Anh ngày 16 tháng 7 năm 1979 lúc 9 giờ sáng để gửi tập thơ ra ngoài. Sự thực tôi làm thơ để mong gửi vào miền Nam cho dân chúng biết chế độ miền Bắc để thêm tinh thần chiến đấu. Có ai làm thơ để gửi ra ngoại quốc bao giờ?”

Bài thơ “Trong bóng đêm” là một chuỗi âm thanh khác của sự áp bức khốc liệt của nhà giam mà chủ nhân của những nơi chứa đầy bóng tối này mang tên Đảng cộng sản.

Trong bóng đêm

Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử
(1976)

Nhiều năm trời bị giam giữ, nhà thơ gặp rất nhiều hạng người và số phận của họ vẽ lên khuôn mặt của chế độ bằng những nét nhớp nhúa, cáu bẩn. Các chính sách duy ý chí cộng với lòng nhiệt tình trái khoáy sản sinh ra hệ lụy kéo dài nhiều thế hệ. Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông trong tập Hoa Địa Ngục là bài “Anh gặp em” được viết năm 1965 kể về số phận một người con gái bị nhốt và mất xác trong tù.

Anh gặp em

Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (phải) và dịch giả Huỳnh Sanh Thông (trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005. Hình: Quang Phu Van - Vietnam Literature Project.
Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (phải) và dịch giả Huỳnh Sanh Thông (trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005. Hình: Quang Phu Van – Vietnam Literature Project. Photo: RFA

Anh gặp em trong bốn bức rào dầy
Má gầy, mắt trũng
Phổi em lao, chân em phù thũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng.
Em ngồi run, ôm ngực còm nhom
Y sĩ công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm.
Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co ro
Những tiếng ho
Những cục đờm mầu
Mớ tóc rối đầu em rũ xuống
Mình em, teo nhỏ, lõa lồ…
Em có gì đâu mà em xấu hổ!
Em là đau khổ hiện thân
Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa
Trên gò má tái
Trong lòng anh bấy lâu nay xám lại.
Nhìn em, lệ muốn chảy dài
Anh nắm chặt bàn tay em hơi rụt lại
Em nhìn anh, mắt đen, tròn, trẻ dại
Nước da xanh mái thoáng ửng mầu
Trong quãng đời tù phiêu dạt bấy lâu
Đau ốm một mình tội thân em quá!
Chắc đã nhiều đêm em khóc như đêm qua
Khóc mẹ, khóc nhà.
Khóc buổi rời miền Nam thơ ấu
Chân trời hun hút nay đâu?
Rồi đây, khi nằm dưới đất sâu.
Em sẽ hiểu một điều
Là đời em ở trên mặt đất
Đất nước đè em nặng chĩu hơn nhiều!
Nhưng nghĩ lúc thân mình bó trong manh chiếu
Anh biết lòng em kinh hãi hơn ai
Khi gió bấc ào qua vách ải
Những manh áo vải
Tả tơi
Vật vã
Vào thịt da..
Em có lạnh lắm không?
Mưa gió mênh mông
Thung lũng sũng nước bùn
Bệnh xá mối đùn,ẩm mốc
Những khuôn mặt xanh vàng gầy dộc
Nhìn nhau, đờ đẫn, không lời.
Nhát nhát em ho
Từng miếng phổi tung rời
Bọt sùi, đỏ thắm!
Em chắc oán đời em nhiều lắm.
Oán con tàu tập kết Ba Lan
Trên sóng năm nào
Đảo chao
Đưa em rời miền Nam chói nắng.
Sớm qua ngồi, tay em anh nắm
Muốn truyền cho nhau chút tình lửa ấm.
Mặc bao ngăn cấm đê hèn
Sáng nay em không trống không kèn
Giã từ cuộc sống
Xác em rấp trên đồi cao gió lộng.
Hồn anh trống rỗng, tả tơi…
(1965)
Hai năm sau khi bài thơ “Anh gặp em”, một bài thơ khác mang tên “Tôi là bạn” nói lên tâm trạng của nhà thơ khi gặp những mảnh đời khốn khổ khắp nơi trong khoảng thời gian hiếm hoi mà ông được tự do sau khi trở về từ nhà giam khép kín. Những con người ấy tuy đang sống và hít thở khí trời bên ngoài song sắt các nhà giam nhưng sự nghèo đói, lòng khinh bỉ của xã hội và gánh nặng của cuộc sống đè lên vai vẫn là hình ảnh của địa ngục bên trong cái được gọi là thiên đường cộng sản:

Tôi là bạn

Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa
Tôi chẳng có gì an ủi cô ta
Ngoài tình cảm chan hòa và không khinh bỉ
Tôi là anh của những em nhỏ tí
Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân
Bé tí hon mà tù tội bao lần
Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!
Tôi là con lão ăn mày cay đắng
Không gia đình, tàn phế lắt lay
Mời lão xơi một bữa rượu thực say
Nghe lão khóc kể những ngày xa cũ
Tôi, tóm lại, là trái tim ủ rũ
Thông cảm với nhiều số phận bùn đen
Vì chính tôi, tôi là gã nhiều phen
Khổ đói, lao tù, nhục khinh nếm đủ!
(1967)

Ở tù quá lâu khiến Nguyễn Chí Thiện trở thành nạn nhân của thứ phản xạ có điều kiện. Nếu cái giật mình của Trần Tế Xương trong bài “Sông lấp” vì tưởng có người gọi đò khi con sông không còn nữa khiến người đọc bồi hồi thì ngược lại trong bài “Tôi nhắm mắt” nỗi ám ảnh của nhà tù ghê gớm đến mức không bao giờ chấm dứt đối với một người tù chính trị vì bản án treo lơ lửng suốt đời trong tiềm thức, cứ “mở mắt ra là sừng sững bóng trại tù”.

Tôi nhắm mắt

Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. RFA files.
Cố nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. RFA files. Photo: RFA

Tôi nhắm mắt nằm yên, không ngủ
Kẻng báo rền vang, sáng tự bao giờ
Tôi nằm yên, không nghĩ ngợi, không mơ
Mà lịm chết trong bóng mờ ủ rũ
Bóng mẹ cha già đớn đau hóa mụ
Đêm tối mênh mông đốm lửa vật vờ
Bóng cuộc đời tôi lặng vắng như tờ
Thất thểu, bơ vơ, khóc cười lỡ dở
Bóng nhợt xám vài mối tình khổ sở
Lảo đảo đi về, tuyệt vọng, âm u
Bóng hình tôi ho ra máu, lưng gù
Mở mắt ra: sừng sững bóng trại tù
(1969)
Những ngày cuối cùng của nhà thơ tại Mỹ có thể là khoảng thời gian cô đơn nhất. Cô đơn giữa một cuộc sống sôi động thật khác xa với nỗi cô đơn giữa bốn bức vách nhà giam. Năm 1986, mười một năm trước khi qua Mỹ ông viết bài “Trái tim hồng” như một lời trăn trối trao lại cho ngàn sau khi hư vô trước sau gì cũng cập bến:

Trái tim hồng

Ta có trái tim hồng
Không bao giờ ngừng đập
Căm giận, yêu thương tràn ngập xót xa
Ta đương móc nó ra
Làm quà cho các bạn
Mấy chục năm rồi
Ta ngồi đây
Sa lầy trong khổ nạn
Như con tàu vượt trùng dương mắc cạn
Mơ về sóng nước xa khơi
Khát biển, khát trời
Phơi thân xác trong mưa mòn, nắng gỉ
Thân thế tàn theo thế kỷ
Sương buồn nhuộm sắc hoàng hôn
Ký ức âm u vất vưởng những âm hồn
Xót xa tiếc nuối
Ta vẫn chìm trôi trong dòng sông đen tối
Lều bều rác rưởi tanh hôi
Hư vô ơi, cập bến tới nơi rồi
Cõi bụi chờ mong chi nữa!
Một trái tim hồng với bao chan chứa
Ta đặt lên bờ dương thế trước khi xa
(1986)

Trong bài viết thương tiếc sự ra đi của nhà thơ, nhà báo Ngô Nhân Dụng đã dùng một cụm từ rất đắt: “Ngọn lửa tâm can của Nguyễn Chí Thiện”. Thật không còn từ nào đắt hơn. Cái ngọn lửa tâm can ấy chừng như không bao giờ tắt trong Hoa Địa Ngục mặc dù người sáng tạo ra nó đã đi xa. Tâm can nhà thơ như lời nguyền vẫn thở hừng hực trên từng con chữ đã được đánh đổi bằng máu huyết, nhục hình lẫn yêu thương thống thiết của nhà thơ, người Việt Nam duy nhất mang tên ngục sĩ.

___________________

 

NHỚ BẠN TÙ NGUYỄN CHÍ THIỆN

Nguyễn Chí Thiện tù cùng với tôi tại trại Phong Quang, Lào Cai. Tính về mức độ tàn bạo, nó chỉ đứng sau trại Quyết Tiến, hoặc còn gọi là Cổng Trời, ở Hà Giang.

Tôi ra tù trước Nguyễn Chí Thiện vài tháng, hoặc nửa năm chi đó. Người ta thả tôi với điều kiện ngặt nghèo – phải được một cơ quan, xí nghiệp nhận vào làm việc. Gia đình, rồi bè bạn chạy xất bất xang bang, cuối cùng cũng gặp được một ông giám đốc dám làm cái việc không ai muốn làm. Tôi được ký hợp đồng tạm tuyển, tạm thôi, làm công nhân bốc vác ở Công ty cung ứng vật liệu xây dựng Hà Sơn Bình. Nó là cái tỉnh mới, gồm Hà Đông, Sơn Tây và Hoà Bình, theo sáng kiến của ông tổng bí thư anh minh được ca ngợi là ngọn đèn 200 bougies soi đường cách mạng). Ông giám đốc tốt bụng cho phép tôi không phải ở nhà tập thể của công ty ở thị xã Hà Đông, hết ngày thì về nhà mình ở Hà Nội.

Nguyễn Chí Thiện được thả về nguyên quán Hải Phòng, ở đấy anh còn bà chị.
Chẳng khác gì tôi, anh không thể kiếm được việc làm. Trước khi đi tù lần thứ nhất, anh làm nghề dạy học. Sau lần đi tù thứ hai vì tội làm thơ phản động, anh thất nghiệp trăm phần trăm. Trở về nghề cũ, nghề duy nhất anh biết thì chắc chắn không được rồi. Làm thầy giáo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa nếu lý lịch không sáng như gương thì cũng phải là người không một lần vướng vòng lao lý. Các cơ quan, xí nghiệp nhà nước chỉ cần lướt qua lý lịch hai lần tù của anh là xua anh như xua tà. Anh sống vắt mũi bỏ miệng, lúc đói lúc no.

Thỉnh thoảng, chẳng có việc gì để làm, anh lên Hà Nội thăm tôi và bạn tù cũ: Trình Hàng Vải, Vĩnh Đại Uý, Văn Thợ Mộc, Dũng Con…, hi vọng anh em mách bảo cách nào kiếm sống.
Trình Hàng Vải hiến kế đi buôn – cất đũa xe đạp ở Hà Nội về bán ở Hải Phòng. Thiện đi được vài chuyến trót lọt, cũng kiếm được chút đỉnh. Cái may không dài – vào một ngày đông, anh đụng thuế vụ. ThấyThiện mặt gày quắt, áo bông lại to xù, người nhà nước đè ra khám. Mọi bó đũa xe đạp quấn quanh người bị tịch thu. Thế là mất cả vốn lẫn lãi.

Tôi may mắn hơn Thiện. Đang lúc không biết cách nào kiếm sống thì rất bất ngờ, tôi gặp lại ông bạn cũ, trước kia là giảng viên khóa 6 trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Tình đồng ngũ khiến anh tự tìm tôi để giúp đỡ. Lê Sĩ Thiện là con dao pha, việc gì đến tay anh cũng tìm ra cách làm bằng được. Trước khi về hưu, anh là phó giám đốc nhà máy điện Lào Cai. Mặt hàng đầu tiên chúng tôi sản xuất là bột nở thực phẩm. Chúng tôi gặp thời – trước kia bột nở nhập của Tàu, nay hai nước lủng củng, không có hàng về, cái quẩy giờ chỉ to bằng ngón tay. Các bà bán cháo quẩy ào ào mua hàng của chúng tôi. Nhờ nó cái quẩy lại phồng to như cán búa.
Thấy bột nở chạy, Nguyễn Chí Thiện muốn lấy một ít về Phòng bán thử. Nhưng ngay cả tiền trả hàng mẫu anh cũng không có.

Với bạn tù, tôi không tiếc. Nhưng việc này phải được Lê Sĩ Thiện bằng lòng. Chúng tôi khởi đầu bằng hai bàn tay trắng. Gõ mọi cửa có thể gõ mới vay được năm chục bạc, bằng lương kỹ sư một tháng. Được cái việc sản xuất không cần nhiều thiết bị lôi thôi, làm ra nhanh, chẳng mấy chốc chúng tôi đã có những đồng lãi đầu tiên. Tuy vậy, mới bắt tay vào sản xuất, tiền thu chưa được bao nhiêu. Bán chịu trong những ngày ấy không khó, nhưng nó mang lại sự xúi quẩy, người ta tin như thế.

Lê Sĩ Thiện không quen Nguyễn Chí Thiện, hai người mới chỉ gặp nhau vài lần ở nhà tôi. Tôi e anh không bằng lòng. Nhưng tôi lầm. Lê Sĩ Thiện biết chúng tôi thân nhau, rất có thể trong thâm tâm anh có cảm tình với những người bị bỏ tù vì tội chống chế độ.

Anh gãi đầu, rồi quyết:
– Để cậu ấy lấy. Bán rồi, trả sau có sao.

Vào thời gian ấy chẳng ai trong chúng tôi, những bạn tù của Nguyễn Chí Thiện coi anh là nhà thơ, mặc dầu không ít thì nhiều chúng tôi đều được anh thì thầm đọc cho nghe thơ anh trong những buổi tối của đời tù đằng đẵng. Anh cũng thật thà thú nhận:

Thơ của tôi không phải là thơ.
Mà là tiếng cuộc đời nức nở.
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở.
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ.
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ.
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ.

Nhưng cũng có những vần thơ của anh tôi nghe một lần mà nhớ mãi:

Người xưa ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Rồi cúi đầu thương nhớ cố hương.
Còn tôi – ngẩng đầu nhìn nhện chăng tơ vướng,
Rồi cúi đầu nhặt hạt cơm vương.

Từ hai câu: Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương của thi hào Lý Bạch mà bật ra sự liên tưởng so sánh vừa hồn nhiên vừa đau đớn ấy, hồn thơ trong Nguyễn Chí Thiện đã thức giấc. Nó đặc biệt gợi nhớ cái xà lim cấm cố ai từng qua thì không thể nào quên.
Nhưng khi nghe những vần thơ khác:

Đảng như hòn đá tảng
Đè lên vận mạng quê hương.
Muốn sống trong hòa hợp yêu thương,
Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống.

Lê Sĩ Thiện chưa từng ở tù, anh không thể biết tâm trạng người tù. Con người sống trong cái xã hội được gọi là xã hội chủ nghĩa, với cái sợ được chương trình hoá, được định hình trong vô thức, anh chăm chú nghe, giật mình khi nghe, rồi ngẩn người, không thốt được lời nào.
– Thiện có tâm hồn trong sáng – anh nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói riêng với tôi – Rất thật thà. Con người này rồi còn gặp nhiều nguy hiểm.

Nhờ buôn bột nở, Nguyễn Chí Thiện nhanh chóng trang trải được nợ nần, thậm chí còn dư chút đỉnh giúp họ hàng ở quê, giúp các bạn tù còn loay hoay tìm kế sinh nhai. Ấy là sau này Thiện tâm sự tôi mới biết.
Thiện rất sòng phẳng. Bán được nhiều rồi, tích được lãi làm vốn rồi, anh lấy hàng lần nào trả ngay lần ấy, không dây dưa.

Một lần, anh dồn tất cả tiền có được để mua một lượng hàng lớn theo yêu cầu của người đặt hàng. Hoá ra ở miền Nam bấy giờ rất thiếu bột nở cho cao su để làm dép Thái Lan. Lái từ miền Nam ra, nghe nói Hải Phòng có thứ đó, mua về, thấy tuy chất còn kém đấy, nhưng tạm dùng được, liền đặt hàng, bảo Thiện có bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Thiện tính sẽ lãi to, ai ngờ thất bại nặng. Tất cả số bột nở anh mang về đều bị thuế vụ tịch thu.
Vụ ấy tôi hoàn toàn không biết. Chỉ thấy Thiện vắng mặt lâu, không thấy lên lấy hàng.

Đùng một cái, Trình Hàng Vải hớt hơ hớt hải đến báo: “Thiện bị bắt lại rồi!”
Anh bàn với tôi và các bạn góp tiền đưa cho bà chị Thiện đi tiếp tế. Chúng tôi, tất nhiên không được thò mặt ra trong việc này. Thì ra thời gian Thiện vắng bóng là lúc anh âm thầm chép lại toàn bộ thơ làm trong tù để rồi đột nhập đại sứ quán Anh, nhờ họ chuyển ra nước ngoài. Tập thơ đầu tiên của Thiện có tựa đề “Hoa Địa Ngục”. Chi tiết vụ này thế nào mọi người đều đã biết.

Mãi sau tôi mới được nghe kể chuyện gì đã xảy ra trong chuyến lấy hàng lần chót của Thiện mang về Hải Phòng.

Một người bạn của Thiện, đại uý Bảo chính đoàn cũ, nay đạp xích-lô, một buổi tối vắng khách mới rẽ vào thăm Thiện. Đẩy cánh cửa không bao giờ khoá vào nhà, anh thấy nhà tối om. Bật lửa lên soi thì thấy Thiện nằm co trên giường. Sờ soạng tìm công tắc, bật điện Vẫn tối om.
– Điện đóm sao thế này? Đèn đâu? – anh hỏi.
Thiện ngỏng đầu lên:
– Bán rồi!
– Bán rồi là thế nào?
– Bán rồi là bán rồi, chứ còn là thế nào.

Thì ra sau vụ bị tịch thu tất cả số bột nở trên tàu, Thiện chẳng còn đồng nào trong túi. Về được đến nhà, bụng đói cật rét, trong nhà chẳng còn gì đáng giá ngoài cái bóng điện 15 watts. Bèn tháo ra mang đi đổi, được một bơ gạo (bơ, tức là cái vỏ hộp sữa đặc, một thời được dân chúng coi là đơn vị đo lường) về nấu cháo. Ăn cháo xong, đắp chăn ngủ.

Anh cựu đại uý đạp xích lô bảo Thiện:
– Cậu có khai với chúng nó là bột nở không đấy?
– Không.
– Cậu khai sao?
– Bảo: tôi không biết, người ta thuê tôi mang thì tôi mang.
Anh bạn thở phào:
– Thế thì có cơ cứu vãn. Chúng nó mà biết là bột nở thì xong phim. Chúng nó sẽ đem bán để chia nhau. Nghe đây, tớ có quen bọn ấy. Còn có cơ cứu vãn.
– Quen thế nào?
– Làm ăn ấy mà.
Thiện chồm dậy:
– Liệu lấy lại được không?
– Còn tùy tình hình. Mình sẽ hỏi chúng nó.
– Nhất rồi – Thiện reo lên – Có phải đấm mõm chúng nó không? Tớ không còn xu nào dính túi đâu đấy nhá.
Anh bạn gãi đầu:
– Không. Nhưng thế nào thì cũng phải đãi chúng nó một chầu.
– Tớ nói rồi – tớ không còn xu nào đâu.
– Để tớ lo. Sau, cậu trả lại tớ.
Anh cựu đại uý điều đình thế nào không biết. Một bữa thịt chó được anh tổ chức, không linhđình, nhưng ê hề. Đến lúc ấy Thiện mới biết bọn thuế vụ chẳng biết cái chúng thu là cái quái gì. Cứ thứ gì mà người mang không trình ra được hoá đơn là coi như hàng lậu, thu tất.
Thiện được trả lại tất cả số hàng bị thu.

Bữa ấy Thiện say khướt. Say đến nỗi không biết làm sao mình về được tới nhà. Anh không bao giờ uống rượu. Phần lớn thời gian đời anh trôi qua trong tù, nơi không thể có rượu, trừ những người trong toán tự giác. Những người này thỉnh thoảng cũng được một lần say sưa nhờ đổi chác với dân bản lân cận những vật dụng tù mang theo người khi vào trại.

Tôi hỏi Thiện chuyện này khi chúng tôi được sống cùng nhau trong một căn hộ tại Strasbourg, thành phố miền Bắc nước Pháp.
– Đó là lần đầu tiên tôi uống rượu đấy, ông ạ – Thiện nói – Trước đó cũng có lần nhấp một tí, trong một đám giỗ, chẳng thấy ngon lành gì. Cay xè.
– Say thế làm sao về? – tôi hỏi.
– Ông này buồn cười, anh đại uý bạn tôi chở tôi về chứ. Anh ta có cả một cái xích lô cơ mà.

10.2016

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: