Trần Hoàng Blog

►Đây là vị trí của CÁC LÔ DẦU KHI HOÀN TOÀN NẰM TRONG VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ CỦA VN (EEZ).

Posted by hoangtran204 trên 15/07/2019

 

 

 

CÓ NHẦM ĐỊA ĐIỂM – BÃI TƯ CHÍNH ?

Stt trước tôi có nói “Tìm đỏ con mắt thông tin về bãi Tư Chính”. Thì giữa đêm, đọc thấy có 2 luồng tin tương tự nhau, chỉ khác ở địa điểm xảy ra căng thẳng. Như sau.

LUỒNG TIN 1. (Tuần qua) Trung Quốc đưa một chiếc tàu khảo sát dầu khí vào hoạt động trong vùng biển gần Bãi Tư Chính ở quần đảo Trường Sa hiện do Việt Nam kiểm soát, tàu cảnh sát biển Việt Nam đã được phái đến nơi theo dõi.
Người đầu tiên tiết lộ thông tin là ông Ryan Martinson, trợ lý giáo sư tại Trường Hải Chiến Hoa Kỳ (Naval War College).

Trong một tin nhắn Twitter gởi đi hôm 09/07, ông Martinson cho biết là kể từ ngày 03/07, chiếc tàu khảo sát dầu khí Hải Dương Địa Chất (Haiyang Dizhi) số 8 của Trung Quốc « đã tiến hành khảo sát địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tại một vùng biển ở ngay phía tây quần đảo Trường Sa do Việt Nam kiểm soát. Tàu khảo sát này được nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống, trong đó ông nhận dạng được chiếc Hải Cảnh 37111.

Ngày 10/7, giáo sư Martinson tiết lộ thêm là « Việt Nam có vẻ như đang thách thức hoạt động này » của Trung Quốc. Tin nhắn có kèm theo một sơ đồ cho thấy 4 tàu hải cảnh Trung Quốc bị ba chiếc tàu của Việt Nam kèm chặt. Chuyên gia này nhận dạng được hai chiếc tàu kiểm ngư Việt Nam mang ký hiệu Kn-472 và Kn-468, cùng với chiếc tàu cảnh sát biển Nam Yết 207008. Và trong số tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống có chiếc mang ký hiệu 3901, với lượng giãn nước hơn 10.000 tấn.

LUỒNG TIN THỨ 2, cho biết, có liên lạc được với nhà giàn DK1. Tất cả là do xuất hiện của “vị khách không mời” -Tàu Haiyang Dizhi 8- tàu thăm dò địa chấn của Trung Quốc. Nó xuất hiện và tiến hành hoạt động thăm dò địa chất từ ngày 3/7 trên vùng biển phía tây đảo Trường Sa, thuộc vùng EEZ của VN. Mọi hoạt động của tàu Hải Dương địa chấn 8 và các tàu bảo vệ được giám sát chặt bởi các lực lượng chấp pháp trên biển của VN. Và cả GS Ryan Martinson, người chyên theo dõi diễn biến biển Đông thuộc US Naval War College (Mỹ).

Ryan Martinson đã đưa lên mạng twitter hành trình chi tiết của Haiyng Dizhi 8 và các con hải giám bảo vệ, cùng các tàu kiểm ngư VN bám chặt theo là KN-272 và KN-468. Thông tin này được một số fbker VN rất quan tâm tình hình biển Đông như Duan Dang và Song Phan chú ý và cập nhật lên FB của mình, với những chú giải chính xác về vị trí.
Nhà giàn DK1 không bị uy hiếp, tấn công, hiện vẫn bình thường.

TỜ SCMP ĐÃ NHẦM LẪN DO KHÔNG ĐỐI CHIẾU HÌNH ẢNH VỆ TINH VỚI BẢN ĐỒ BIỂN ĐÔNG NÊN BỊ SAI LẠC NGHIÊM TRỌNG VỀ ĐỊA ĐIỂM: BÃI TƯ CHÍNH. Rồi sau đó nhiều người và hãng tin trích lại của SCMP.

Đây là vị trí của CÁC LÔ DẦU KHI! HOÀN TOÀN NẰM TRONG VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ CỦA VN (EEZ).

Tuy nhiên, theo Reuters, vài ngày trước đó, ngày 27/6 tập đoàn dầu khí Trung Quốc đã phát đi thông báo mời thầu 8 lô dầu khí ngoài khơi VN. Vị trí các lô dầu khí này trùng với lộ trình thăm dò của Haiyang Dizhi 8, từ lô 130 đến lô 156.

Nhắc thêm: tòa án PCA đã phán quyết bác bỏ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ngày 12/7/2016, điều này có nghĩa họ không có quyền gì đối với tài nguyên biển thuộc EEZ của quốc gia khác, trong đó có VN.
Chuyện nhầm địa điểm hay không, cơ quan chức năng nói cái một? Tôi chỉ ghi nhận, đối chiếu, để chờ …
Ảnh chụp lộ trình của Haiyang Dizhi 8: của Ryan Martingson

No photo description available.
Ảnh chụp lộ trình của Haiyang Dizhi 8: của Ryan Martinson

_____

 

Trần Hoàng (bổ sung)

 

See the source image

Vùng đặc quyền kinh tế VN theo Công ước Luật biển 1982?

21/06/2014

(Kiến Thức) – Hoàng Sa, Trường Sa không thể thuộc chủ quyền lãnh thổ của TQ vì Hoàng Sa cách lục địa TQ 270 hải lý và Trường Sa cách 750 hải lý.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng. Theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) điều chỉnh.
 Vùng đặc quyền kinh tế VN theo Công ước Luật biển 1982?
Căn cứ theo điều 57 – UNCLOS, vùng đặc quyền về kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải để khai thác, đánh cá và đồng thời là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Điều đó chứng minh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc bởi lẽ Hoàng Sa cách lục địa Trung Quốc khoảng cách 270 hải lý và Trường Sa cách lục địa Trung Quốc 750 hải lý.
Để cung cấp cho độc giả hiểu rõ hơn về các quyền, quyền tài phán, nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế… Kiến Thức trích đăng:
Điều 56: Các quyền, quyền tài phán và các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền về kinh tế
1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có:
a) Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.
b) Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:
i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;
ii. Nghiên cứu khoa học về biển;
iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
c) Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định.
2. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, quốc gia ven biển phải tính đến các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và hành động phù hợp với Công ước.
3. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nêu trong điều này được thực hiện theo đúng phần VI.
Điều 58: Các quyền và các nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền về kinh tế
1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợp của Công ước trù định, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm nêu ở Điều 87, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là những khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.
2. Các Điều từ 88 đến 115, cũng như các quy tắc thích hợp khác của pháp luật quốc tế, được áp dụng ở vùng đặc quyền kinh tế trong chừng mực mà chúng không mâu thuẫn với phần này.
3. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyền và các nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mực mà các luật và quy định đó không mâu thuẫn với phần này và với các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.
Điều 59: Cơ sở giải quyết các tranh chấp trong trường hợp Công ước không quy định rõ các quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền về kinh tế
Trong những trường hợp Công ước không quy định rõ các quyền hay quyền tài phán trong các vùng đặc quyền về kinh tế cho quốc gia ven biển hay cho các quốc gia khác và ở đó có xung đột giữa lợi ích của quốc gia ven biển với lợi ích của một hay nhiều quốc khác thì sự xung đột này phải được giải quyết trên cơ sở công bằng và có chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đó đối với các bên tranh chấp và đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế.
Điều 60: Các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền về kinh tế
1. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng:
a) Các đảo nhân tạo;
b) Các thiết bị và công trình dùng vào các mục đích được trù định ở Điều 56 hoặc các mục đích kinh tế khác;
c) Các thiết bị và công trình có thể gây trở ngại cho việc thực hiện các quyền của quốc gia ven biển trong vùng.
2. Quốc gia ven biển có quyền tài phán đặc biệt đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình đó, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế
khóa, y tế, an ninh và nhập cư.
3. Việc xây dựng các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình đó phải được thông báo theo đúng thủ tục, và việc duy trì các phương tiện thường trực để báo hiệu sự có mặt của các đảo, thiết bị và công trình nói trên cần được bảo đảm. Các thiết bị hay công trình đã bỏ hoặc không dùng đến nữa cần được tháo dỡ để đảm bảo an toàn hàng hải, có tính đến những quy phạm quốc tế đã được chấp nhận chung do tổ chức quốc tế có thẩm quyền đặt ra về mặt đó. Khi tháo dỡ phải tính đến việc đánh bắt hải sản, bảo vệ môi trường biển, các quyền và các nghĩa vụ của quốc gia khác. Cần thông báo thích đáng về vị trí, kích thước và độ sâu của những phần còn lại của một thiết bị hoặc công trình chưa được tháo dỡ hoàn toàn.
4. Quốc gia ven biển, nếu cần, có thể lập ra xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị hoặc công trình đó những khu vực an toàn với kích thước hợp lý; trong các khu vực đó, quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đó.
5. Quốc gia ven biển ấn định chiều rộng của những khu vực an toàn có tính đến các quy phạm quốc tế có thể áp dụng được. Các khu vực an toàn này được xác định sao cho đáp ứng một cách hợp lý với tính chất và chức năng của các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trinh, và không thể mở rộng ra một khoảng cách quá 500m xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị và các công trình, tính từ mỗi điểm của mép ngoài cùng của các đảo nhân tạo, thiết bị và các công trình dó, trừ ngoại lệ do các vi phạm của quốc tế đã được thừa nhận chung cho phép hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền kiến nghị. Phạm vi của khu vực an toàn được thông báo theo đúng thủ tục.
6. Tất cả các tàu thuyền phải tôn trọng các khu vực an toàn đó và tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận chung liên quan đến hàng hải trong khu vực của các đảo nhân tạo, các thiết bị, các công trình và các khu vực an toàn.
7. Không được xây dựng những đảo nhân tạo, thiết bị hoặc công trình, không được thiết lập các khu vực an toàn xung quanh các đảo, thiết bị, công trình đó khi việc đó có nguy cơ gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải đã được thừa nhận là thiết yếu cho hàng hải quốc tế.
8. Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình không được hưởng quy chế của các đảo. Chúng không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có tác động gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế hoặc thềm lục địa.
Xem tiếp: Thềm lục địa của VN theo Công ước Luật biển 1982?
Hoàng Hoa

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: