Trần Hoàng Blog

►VIỆT NAM CÓ NÊN HỢP TÁC TOÀN DIỆN VỚI HOA KỲ ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI TRUNG CỘNG???

Posted by hoangtran204 trên 19/06/2019

 

 

 

SHOULD VIETNAM FULLY COOPERATE WITH THE U.S TO DEAL WITH CHINA???

VIỆT NAM CÓ NÊN HỢP TÁC TOÀN DIỆN VỚI HOA KỲ ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI TRUNG CỘNG???

5-4-2019

GIỚI THIỆU ( INTRODUCTION ):

Chiến tranh Việt Nam ( Vietnam War ) đã kết thúc trên bốn mươi năm, và tính từ ngày 30/4/1975, ngày Miền Nam Việt Nam ( the Southern Vietnam ) đã bị Cộng sản Bắc Việt “cưỡng chiếm” một cách bất hợp pháp khi đã “vi phạm” trắng trợn và thô bạo Hiệp định Hoà bình Ba Lê 1973 ( the Paris Peace Accords 1973, PPA 1973 ) là đã gần tròn 44 năm. Việt Nam và Hoa Kỳ đã đẩy quá khứ lại đằng sau lưng để củng cố liên kết về thương mại ( trade linkages ) và hợp tác an ninh ( security cooperation ) “mạnh hơn” trong những năm gần đây. Cũng như Nhật Bản ( Japan ) và Ấn Độ ( India ) đều đặc biệt quan tâm đến hành vi quyết đoán của Trung Cộng tại Biển Đông ( China’s assertive behavior in the South China Sea ), cho nên Việt Nam cần phải “thắt chặt” mối dây quan hệ với Hoa Kỳ. Các nhà phân tích ( the analysts ) hy vọng rằng, theo chiều hướng này sẽ thúc đẩy Việt Nam và Hoa Kỳ có mối quan hệ đối tác sâu sắc hơn ( Vietnam and the United States to foster a deeper partnership ) vào những năm sắp tới. Tuy nhiên, mối quan hệ này phải đối mặt với những hạn chế của nó, bao gồm Chủ nghĩa Tư bản Đỏ ( the Red Capitalism ) do Hà Nội “tạo ra” và sự mất lòng tin của Hoa Thịnh Đốn ( Washington ).

VIỆT NAM ĐƯỢC BIẾT ĐẾN TỪ CHIẾN TRANH ( VIETNAM IS KNOWN FROM WAR ):

Việt Nam tuyên bố độc lập khỏi ách thống trị của thực dân Pháp vào năm 1945 ( Vietnam declared its independence from French colonial rule in 1945 ) sau khi Quân phiệt Nhật Bản đã đầu hàng đồng minh. Điều này tạo tiền đề cho Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhất ( 1946 – 1954 ) ( the First Indochina War (1946–1954) ). Thực dân Pháp đã “chiến bại” trong trận Điện Biên Phủ trước quân Việt Minh vào năm 1954 ( có sự trợ giúp “ngầm” của Trung Cộng ) và đưa dẫn đến Hiệp định Geneva 1954 ( Geneva Agreement 1954, GA 1954 ) để “chia đôi” đất nước này, lấy Vĩ tuyến 17 để phân chia biên giới ( taking the 17th Latitude as the border line ). Lực lượng Bắc Việt thì được Trung Cộng ( China ) và Liên Sô ( Soviet Union ) công nhận ( to be recognised ), trong khi đó thì chính quyền Đệ Nhất Cộng hoà do cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ( former President Ngo Dinh Diem ) điều hành Miền Nam Việt Nam ( the Southern Vietnam ) thì được Hoa Kỳ ( the United States of America, USA ) và Vương quốc Anh ( the United Kingdom, UK ) công nhận. Và, để chống lại sự “nhuộm” Đỏ của Chủ nghĩa Cộng sản tại Bán đảo Đông Dương ( the Indochina Peninsula ), Hoa Kỳ đã chính thức “đưa” quân vào Miền Nam Việt Nam vào năm 1964, một năm sau khi Hoa Kỳ đã thực hiện xong âm mưu để “đảo chánh” chính quyền Đệ Nhất Cộng hoà của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhằm ngăn chặn Làn sóng đỏ này. Và, sau 21 năm chiến tranh tàn khốc với cộng sản, song qua sự “đi đêm” của Ngoại trưởng Henry Kissinger với phía Trung Cộng, Hoa Kỳ cuối cùng phải “rút” quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và “bán đứng” chính quyền Đệ Nhị Cộng hoà do cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu trước sự xâm lược của Cộng sản Bắc Việt. Hoa Kỳ sơ tán nhân sự vào năm 1975 trong lúc Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước ( the United States evacuated its personnel in 1975 as North Vietnamese Communists invaded the South and reunited the country ).

Theo thống kê thì phía Hoa Kỳ có đến 58220 lính tử vong ( dead ), hơn 150000 lính bị thương ( wounded ), và khoảng 2600 lính mất tích ( missing ). Phía Việt Nam thì, hơn 1 triệu lính tử vong, với hơn 2 triệu thường dân ( civilians ) đã bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh này. Sau khi cuộc chiến kết thúc, Hoa Thịnh Đốn đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Hà Nội và áp đặt lệnh cấm vận thương mại hoàn toàn ( And, after the war ended, Washington severed diplomatic with Hanoi and imposed a full trade embargo ).

Quan hệ ngoại giao của Cộng sản Việt Nam ( CSVN ) đối với một số quốc gia ngày càng “xấu” đi vì chiến dịch phía Tây của nó đối với Cambodia ( Cam Bốt ), một chiến dịch đã mở rộng thành một cuộc xung đột quân sự toàn diện ( expanded into a full-scale armies conflict ) vào tháng 12/1978. Quân đội CSVN đã phế truất ( to depose ) Pol Pot – nhà lãnh đạo toàn trị Cambodia và Khmer Đỏ ( the Cambodian totalitarian leader Pol Pot and the Khmer Rouge ) – khi chế độ của y đã đàn áp dân chúng và gây ra một cuộc diệt chủng ( a genocide ) vì đã giết chết trên 2 triệu thường dân Cam Bốt. Và, Trung Cộng là kẻ “đứng” sau lưng và “hậu thuẫn” cho Pol Pot, kẻ luôn luôn “dòm” vào Việt Nam từ phía Tây với mưu đồ thôn tính, nên chiến dịch này đã kích hoạt một cuộc tấn công trả đũa của Trung Cộng vào biên giới phía Bắc của Việt Nam trong năm 1979 ( this campaign triggered a retaliatory attack by China on the northern border of Vietnam in 1979 ) và CSVN đã bị sự cô lập quốc tế rộng rãi ( and widespread international isolation ).

Từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1980, nền kinh tế của CSVN đã bị “mỏng” lại do một hệ quả của một ngân sách quân sự lớn ( result of a large military budget ) đã dành cho các hoạt động ở Cambodia và những thiếu sót trong điều hành kinh tế. Những khó khăn này đã dẫn đến một sự phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô ( led to a heavy reliance on the Soviet Union ). Sau những cải cách kinh tế của Trung Cộng vào những năm 1970 và khi Liên Xô bắt đầu nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước ( to relax state control ) đối với nền kinh tế của chính họ vào những năm 1980, thì CSVN mới bắt đầu tìm cách chấm dứt sự cô lập ( to explore ways to end its isolation ).

CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN BÌNH THƯỜNG HOÁ ( THE WAY TO NORMALISE RELATIONS ):

Một trong những rào cản đầu tiên phải được giải tỏa để “khôi phục” lại quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là việc Việt Nam phải hợp tác trong việc trả lại hài cốt ( the remains ) của tù binh chiến tranh Hoa Kỳ ( the U.S prisoners of war, POW ) và các nhân viên bị mất tích trong hành động ( chiến đấu ) ( missing in action, MIA ). Đến cuối những năm 1980, các nỗ lực phục hồi được nối lại với các quy trình được thiết lập cho các cuộc tìm kiếm trên toàn quốc bởi các tổ đội ( teams ) của Hoa Kỳ. Tiến trình này đã dẫn đến việc mở một văn phòng hiện trường ( a field office ) cho Văn phòng Hoa Kỳ về MIA tại Hà Nội dưới thời của chính quyền Tổng thống George H.W Bush trong năm 1991, và đây là sự hiện diện chính thức đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Tiền đồn này ( this outpost ) kết hợp với một Uỷ ban Thượng viện Hoa Kỳ tạm thời đặc biệt ( a special temporary U.S. Senate committee ) được thành lập để điều tra các vấn đề liên quan đến POW / MIA, đã giúp xây dựng động lực để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước ( helped build momentum to normalize relations between the two countries ).

Lực lượng CSVN chiếm đóng tại Cambodia đã ủng hộ một chính phủ mới tại đây có khuynh hướng chính trị “nghiêng” về phía của mình để đảm bảo cho sự “an toàn” ở cạnh sườn phía Tây, các phần tử còn lại của Khmer Đỏ thì lưu vong sang Thái Lan ( Thailand ), và các cuộc xung đột dân sự ( civil conflict ) thì thường luôn xảy ra tại đây trong suốt những năm 1980. Các cuộc đàm phán hoà bình ( peace talks ) đã bắt đầu tại Ba Lê ( Paris ) vào tháng 8/1989, cuối cùng đã dẫn đến việc ký kết một hiệp định ( signing of an accord ) vào năm 1991. Điều này đã đưa đến lệnh ngừng bắn ( a cease-fire ) và thiết lập Cơ quan Chuyển tiếp LHQ ( the United Nations Transitional Authority, UNTA ) tại Cambodia, để hoạt động gìn giữ hoà bình, giám sát ( to oversee ) chính quyền của một quốc gia, đồng thời tổ chức và tiến hành một cuộc bầu cử quốc gia ( to organize and conduct a national election ). CSVN rút quân chiếm đóng tại Cambodia ( the Vietnamese Communist withdrawn the occupied forces in Cambodia ) và bắt đầu “điều chỉnh” lại mối quan hệ ngoại giao đối với các quốc gia khác. Cũng trong năm 1991, Hoa Thịnh Đốn ( Washington ) đã dỡ bỏ các hạn chế du lịch ( lifted travel restrictions ) đối với Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ( the U.S. State Department ) và Bộ Ngoại giao Việt Nam ( the Vietnamese Foreign Ministry ) đã “mở” văn phòng tại các thủ đô của nhau vào năm 1993, và Tổng thống Bill Clinton đã ký lệnh dỡ bỏ cấm vận thương mại vào năm 1994 ( President Bill Clinton signed to lift the trade embargo in 1994 ), Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hoá bang giao vào năm 1995 ( USA and Vietnam normalised the relations in 1995 ).

LIÊN KẾT KINH TẾ ( ECONOMIC LINKAGES ):

Vào năm 1986, Việt Nam đã “đưa” ra những cải cách kinh tế lớn ( the major economic reforms ) để thúc đẩy một nền kinh tế quá èo uột, yếu kém, nó báo hiệu một sự háo hức trong việc khôi phục về quan hệ quốc tế. Các cải cách được gọi là “ Đổi Mới “ ( the New Changing ), ưu tiên trong việc xây dựng một Nền kinh tế thị trường ( a Market Economy ) và tạo cơ hội cạnh tranh cho các ngành ( nghề ) tư nhân ( creating opportunities for private-sector competition ). Trước đây, Nền Kinh tế Chỉ huy ( the Command Economy ) đã tạo ra sự không cân xứng, mất thăng bằng với ngành công nghiệp nặng ( heavy industry ) và các ngành khác như Ngành Nông nghiệp ( Agriculture ) vẫn gặp rất nhiều khó khăn.

Một Nền Kinh tế Thị trường tại Việt Nam lại ra đời, một đất nước với hơn 95 triệu người, đã thu hút các khoản đầu tư quốc tế lớn ( attracted sizeable international investments ). Sau khi khôi phục lại quan hệ, Hoa Thịnh Đốn ( Washington ) và Hà Nội đã làm việc trong 5 năm để đàm phán một Hiệp định Thương mại Song phương ( a Bilateral Trade Agreement ) có hiệu lực vào năm 2001. Hiệp định này đã dỡ bỏ được nhiều rào cản ( nontariff barriers ) để giao dịch ( to trade ), bao gồm hạn ngạch ( quotas ), cấm và hạn chế nhập khẩu ( bans and import restrictions ), giảm thuế từ mức trung bình 40% xuống 3% đối với nhiều loại hàng hoá ( on a variety of goods ), bao gồm cả các sản phẩm thuộc về nông sản ( agricultural products), động vật ( animal products ) và điện tử ( electronics ), và cấp cho Việt Nam điều kiện của một tối-huệ-quốc ( the most-favored-nation trade status ), một chuẩn mực quan trọng ( a critical benchmark ) và cần thiết để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( the World Trade Organization, WTO ). Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, hai nước đã thành lập một diễn đàn ( a forum ) để thảo luận về các cam kết ( commitments ) của Việt Nam đối với WTO và tự do hóa đầu tư và thương mại ( investment and trade liberalization ).

Chính quyền Barack Obama đã vô địch ( championed ) về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ( Trans-Pacific Partnership, TPP ), nó là một hiệp định thương mại tự do ( a free trade agreement ) mà hàng chục quốc gia ở Châu Á – Thái Bình Dương ( Asia-Pacific ), cùng gia nhập, bao gồm cả Việt Nam, với tư cách là một trụ cột chiến lược ( a strategic lynchpin ) của Hoa Kỳ trong khu vực. Các nhà phân tích cho rằng, Việt Nam, nước có tổng sản lượng quốc nội bình quân đầu người thấp nhất ( the lowest per capita gross domestic product , GDP ) trong tất cả các bên ký kết, có khả năng là người hưởng lợi lớn nhất của hiệp ước, đặc biệt là có được quyền ưu đãi để vào thị trường Hoa Kỳ. Thế nhưng, Tổng thống Donald J. Trump, đã tuyên bố là hiệp định này sẽ làm suy yếu cơ sở sản xuất của Hoa Kỳ, và đã rút Hoa Kỳ ra khỏi TPP ngay sau khi ông nhậm chức vào năm 2017.

Những người ủng hộ nhân quyền ( the human rights advocates ) nói rằng sự đảo ngược của Hoa Kỳ ( the U.S. reversal dealt ) đã “giáng” một đòn mạnh vào các công đoàn viên thương mại ( trade unionists ), các nhà hoạt động môi trường ( environmentalists ), và những nhà hoạt động khác ( other activists ) tại Việt Nam, những người đã coi TPP là giúp thúc đẩy một làn sóng cải cách rộng lớn hơn. Ông Brad Adams – người đứng đầu Tổ chức Theo dõi Nhân quyền của khu vực Châu Á ( who leads Human Rights Watch’s Asia division ) – nói: “ Kéo TPP ra khỏi là một trở ngại lớn trên hiệu ứng gợn đối với những cộng đồng hoạt động tại Việt Nam! “.

( Mr Brad Adam said: “ Pulling out of the TPP has been a big setback on the ripple effects for Vietnam’s activist communities! “ ).

Việt Nam và 10 quốc gia khác tham gia TPP đã tiến lên một hiệp định thương mại mà không có Hoa Kỳ, được gọi là Hiệp định Thoả thuận Toàn diện và Tiến bộ cho Quan hệ đối tác Xuyên Thái Bình Dương ( the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership, CPTPP ). Vào tháng 11/2018, Việt Nam là quốc gia thứ 7 đã phê chuẩn ( to ratify ) vào hiệp định. Thỏa thuận giảm thuế ở Châu Á-Thái Bình Dương và có các điều khoản để cải thiện điều kiện lao động ( to improve labor conditions ) và thúc đẩy tư nhân hóa ( and boost privatisation ), nhưng còn quá sớm để đánh giá về kết quả của CPTPP. Các bên ký kết ( the signatories ) đã cho Việt Nam gia hạn thời gian 3 năm để tuân thủ các điều khoản lao động của hiệp định ( to comply with the agreement’s labor provisions ), và trong đó cũng có kêu gọi giới thiệu các công đoàn độc lập ( the introduction of independent unions ).

Các nhà kinh tế ( the economists ) đã hy vọng rằng thương mại với Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh. Thương mại song phương về hàng hoá ( bilateral trade in goods ) đã tăng vọt kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam đã bình thường hoá ngoại giao, từ 451 triệu đô la ( $ 451 million USD ) năm 1995 lên đến hơn 60 tỷ đô la ( $ 60 billion USD ) năm 2018. Hoa Kỳ hiện là điểm đến hàng đầu của hàng hóa Việt Nam, bao gồm dệt may ( textiles ), điện tử ( electronics ), và các sản phẩm động vật như hải sản ( animal products such as seafood ). Các mặt hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam gồm bông ( cotton ), các con chip của máy vi tính ( computer chips ) và đậu nành ( soybeans ).

Một số thách thức đã hiện ra trong mối quan hệ thương mại ( commercial relationship ) vừa chớm nở. Như Tổng thống Donald Trump ( TT Trump ) đã có với một số đối tác thương mại ( the trading partners ) khác, và ông đã nhìn thấy rất rõ sự mất cân bằng về thương mại giữa Hoa Kỳ với Việt Nam khi ước tính chỉ 39.5 tỷ đô la ( $39.5 billion USD ) trong năm 2018. Hoa Thịnh Đốn ( Washington ) đã viện dẫn các rào cản khác để trao đổi thương mại với Việt Nam, bao gồm bảo vệ sở hữu trí tuệ không đầy đủ ( inadequate intellectual property protections ), các quy định an toàn về thực phẩm ( food safety regulations ), hạn chế truy cập internet và kinh tế kỹ thuật số ( restrictions to the country’s internet access and digital economy ), và các vấn đề quản trị chung khác ( other general governance issues ), bao gồm sự thiếu minh bạch và trách nhiệm trong các lĩnh vực công cộng và tư nhân ( a lack of transparency and
accountability in the public and private sectors ).

LIÊN HỆ AN NINH NGÀY CÀNG GIA TĂNG ( INCREASINGLY GROWING SECURITY CONTACTS ):

Hoa Thịnh Đốn ( Washington ) và Hà Nội đã có những bước tiến đáng kể trên mặt trận an ninh ( security front ). Mối quan hệ quốc phòng ( defense ties ) ban đầu được củng cố khi thông qua vấn đề MIA của Hoa Kỳ, bao gồm hợp tác ( cooperation ) về các hoạt động tìm kiếm ( to search ) và cứu hộ ( to rescue ), an ninh môi trường ( environmental security ) và rà phá bom mìn ( demining ); Việt Nam tham dự các hội nghị ( conferences ) và hội thảo ( seminars ) của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ ( the U.S. Pacific Command, USPC ) và trao đổi quân sự cấp cao ( high-level military exchanges ). Năm 2016, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ lệnh cấm kéo dài hàng thập kỷ về việc bán vũ khí sát thương cho Hà Nội ( on lethal arms sales to Hanoi ).

Mối quan hệ an ninh đã tập trung vào việc tăng cường trao đổi lực lượng bảo vệ bờ biển ( coast guards ) giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, và Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam tàu tuần tra ( patrol vessels ). Năm 2018, Hàng không Mẫu hạm Carl Vinson ( the USS Carl Vinson ) đã “cập” bến Đà Nẵng, là địa danh đầu tiên mà Quân đội Hoa Kỳ đã “đổ” bộ vào Việt Nam, và đó cũng là lần đầu tiên một hàng không mẫu hạm của Hải quân Hoa Kỳ đã đến Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc. Năm này cũng là năm đầu tiên Việt Nam tham gia vào cuộc tập trận Vành đai của Thái Bình Dương ( the Rim of the Pacific, RIMPAC ) do Hoa Kỳ tổ chức 2 năm 1 lần.

Động lực cho phần lớn hoạt động này là do Trung Cộng ngày càng có lập trường quyết đoán ( increasingly assertive stance ) trong khu vực, đặc biệt là tại Biển Đông ( the South China Sea ), nơi Hà Nội và Bắc Kinh ( Beijing ) đã, đang cạnh tranh về các yêu sách hàng hải ( have competing maritime claims ). Căng thẳng giữa các nước trong khu vực đã lên đến đỉnh điểm vào năm 2014 vì Trung Cộng đã “đưa” một giàn khoan dầu ( an oil rig ) vào vùng biển đang tranh chấp, là nguyên nhân chính đã thúc đẩy các cuộc biểu tình bạo lực chống Trung Cộng lan rộng trên khắp lãnh thổ Việt Nam ( it’s a main reason for a move that prompted widespread anti-China protests and violence across Vietnam ). Các cuộc biểu tình chống Trung Cộng định kỳ ( Periodic anti-China protests ) vẫn tiếp tục diễn ra tại Việt Nam.

Trước sự quyết đoán của Trung Cộng tại Biển Đông và khu vực ngày càng thể hiện rõ sự “thách thức” với Hoa Kỳ và đồng minh ( the alliances ) khi Trung Cộng đã “cản trở” tuyến hàng hải quốc tế ( the international marine route ) và Việt Nam là quốc gia đã “bị” nhiều sự ảnh hưởng “nặng nề” nhất, và khi đã, đang đối diện trước tình thế “bi đát” như vậy thì liệu chừng Việt Nam có nên hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ để đối phó với Trung Cộng hay không?

KHÔNG CHẤP NHẬN CÁC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN ( UNACCEPTABLE ON HUMAN RIGHT ISSUES ):

Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ( the U.S. State Department ), các Tổ chức Quyền Quốc tế ( the International Rights Organisations ), chính phủ của các quốc gia khác ( the other governments ) và các nhóm giám sát ( the watchdog groups ) thì nhà cầm quyền Việt Nam ( Vietnam’s authority ) đã “vi phạm” nhân quyền một cách rất trắng trợn, thô bạo, tàn ác khi đã đàn áp bất đồng chính kiến ( suppressed dissent ), bao gồm từ phe đối lập chính trị ( the political opposition ), cộng đồng tôn giáo độc lập ( independent religious communities ), các bloggers, các nhà báo ( journalists ), những người ủng hộ nhân quyền ( human rights advocates ), và các luật sư ( lawyers ) bởi vì đất nước này vẫn đang “bị cai trị” bởi một hệ thống độc đảng, độc tài ( by a one-party, authoritarian system ) nên nó đã hành xử toàn Luật Rừng ( the Jungle Laws ) như vậy!

Nhà chức trách đã thực hiện các vụ bắt giữ và giam giữ tuỳ tiện ( carried out arbitrary arrests and detentions ), và giết người một cách phi pháp ( extrajudicial killings ); các quyền tự do, chẳng hạn như tôn giáo, hội họp ( assembly ), và ngôn luận ( speech ) bị hạn chế rất nhiều; và hệ thống tư pháp ( the judicial system ) thiếu tính minh bạch và tính độc lập của nó đã bị xâm phạm ( is compromised ). Và, đó chính là những “kỷ lục nghèo nàn” về các vấn đề nhân quyền của Việt Nam!

Mặc dù chính phủ Việt Nam ( the Vietnamese government ) đã có các cuộc đối thoại về nhân quyền ( thường xuyên ) với Hoa Kỳ và đôi khi nó “phóng thích” các tù nhân chính trị ( political prisoners ) ( tuỳ lúc và có mục đích ) nhưng nó vẫn bị các nhà giám sát về quyền quốc tế ( the international rights monitors ) đánh giá rất yếu kém. Việt Nam được xếp hạng 175 trên 180 quốc gia về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2018 ( the 2018 World Press Freedom Index ) của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới ( Reporters Without Borders ), và nó chỉ “đứng” trên 5 quốc gia, gồm Trung Cộng ( China ), Syria, Turkmenistan, Eritrea và Bắc Hàn ( North Korea ).

Nhóm vận động Freedom House ( Ngôi nhà Tự do ) đã cho Việt Nam 20 điểm trên 100 điểm, tức 20% trên thang điểm, dưới mức trung bình ( 50% ), và phân loại “nó không có Tự do” theo báo cáo hàng năm.

MỘT MỐI QUAN HỆ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN THÊM ( AN INCREASINGLY GROWING RELATIONSHIP ):

Những quyết đoán ( thô bạo, thách thức ) của Trung Cộng trong cả khu vực và tại Biển Đông sẽ có thể thúc đẩy lợi ích chiến lược ( strategic interests ) của Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng tiến lại gần nhau hơn mặc dù những bất đồng về sự mất cân bằng trong thương mại có thể ngăn cản tiến trình này.

Hà Nội là nơi diễn ra hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – Bắc Hàn lần thứ hai ( the second U.S.-North Korea summit ) từ ngày 26 đến ngày 28/2/2019. Nó đóng “vai trò chủ nhà” ( as the host ) vì nhiều lý do, mà trong đó mối quan hệ ( ngoại giao ) của nó với Hoa Kỳ và kể cả Bắc Hàn đã trở thành một yếu tố quan trọng. Alexander Vuving – một chuyên gia về an ninh Châu Á tại một viện của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có trụ sở tại Hawaii ( an expert on Asia security at a Hawaii-based U.S. Defense Department institute ) – viết: “ Việt Nam nắm giữ một chìa khóa cho sự cân bằng quyền lực trong khu vực! “ ( “Vietnam holds a key to the regional balance of power! “ ).

Thế nhưng, chính sách quốc phòng của Việt Nam ( Vietnam’s defense policy ) là “dựa” trên nguyên tắc “3 KHÔNG” ( the “3 NOS” principle ): 1) KHÔNG liên minh quân sự ( NO military alliances ), 2) KHÔNG có quân đội nước ngoài đóng quân trên đất Việt Nam ( NO foreign troops stationed on Vietnamese soil ), và 3) KHÔNG hợp tác với một thế lực nước ngoài nào để chống lại kẻ khác ( NO partnering with a foreign power to combat another ). Và, phải chăng đây là cách “chơi” chữ của nhà cầm quyền, một cách “chơi” chữ mang tính “hèn nhược”, và là cách “áp đặt” của Trung Cộng lên trên “đầu” trên “cổ” nhà cầm quyền khi Trung Cộng đã “chi phối hoàn toàn” các chóp bu lãnh đạo CSVN phải răm rắp tuân thủ một nguyên tắc hết sức quái đản đã trở thành văn ( a very monstrous principle has become text ): THÀ MẤT NƯỚC CÒN HƠN MẤT ĐẢNG !??? ( IT IS BETTER TO LOSE THE COUNTRY THAN TO LOSE THE PARTY !??? ).

Liên minh Châu Âu ( the European Union), Nhật Bản ( Japan ), Ấn Độ ( India ), Úc ( Australia ) đều đã, đang quan tâm sâu sắc đến sự quyết đoán ngày càng tăng lên của Trung Cộng tại Biển Đông và toàn khu vực, còn riêng Việt Nam thì đang đối diện trước Thảm họa Diệt vong ( Catastrophic Destruction ) và Mất nước ( Losing the country ) bởi âm mưu xâm lăng, bành trướng của Trung Cộng, và ĐỂ ĐƯỢC SỐNG CÒN ( TỒN TẠI ) thì liệu chừng Việt Nam có nên xem xét lại chính sách không liên kết ( non-alignment policy ) của mình hay không, đặc biệt là sự liên kết chặt chẽ của nó đối với Hoa Kỳ, đây chính là một quyết định mang tính sinh tử ( this is a life-and-death decision ) mà nhà cầm quyền Hà Nội không thể nào không suy nghĩ đến ( nếu họ vẫn còn có Trí óc và Lương tâm ) vì bất cứ một triều đại nào, một chế độ nào, một thể chế chính trị nào rồi thì theo dòng thời gian cũng sẽ “ra” đi, CHỈ CÓ DÂN TỘC VÀ ĐẤT NƯỚC LÀ MÃI MÃI MÀ THÔI…!!??? ( ONLY PEOPLE AND THE COUNTRY ARE FOREVER…!!??? ).

Chúc Trung – OID

( Friday, 05/4/2019 )

Sources:

– Viết dựa theo bài của Council on Foreign Relations ( Hội đồng Quan hệ Đối ngoại ).
– Google.

 

Image may contain: stripes
No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: ocean, water and outdoor
Advertisements

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: