Trần Hoàng Blog

►Ủy ban Nhân quyền LHQ họp báo công bố Bản Nhận Xét và Kết Luận về các quyền dân sự tại Việt Nam (28-3-2019)

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2019

“Điều khiến tôi thấy thú vị và ngạc nhiên là trong (Công ước về các quyền dân sự tại Việt Nam) ấy  có phần VN cam kết cho phép đa nguyên chính trị, tức là chính quyền VN cho phép người có tư tưởng chính trị khác được tham gia vào chính quyền. Nhưng tiếc thay, cái điều khoản này bị VN lờ đi.”

 

 

 

Chau Doan

Sau 15 năm chờ đợi, phiên đối thoại về thực hiện Công ước về các quyền dân sự tại Việt Nam đang diễn ra tại Geneva, Thụy Sỹ giữa phái đoàn Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Nhân quyền LHQ trong hai ngày 11-12/3/2019. Đây là một số thông tin trong lần họp báo công bố Bản Nhận Xét và Kết Luận Ủy ban Nhân quyền của LHQ gồm 18 chuyên gia độc lập của LHQ có nhiệm vụ giám sát việc thực thi Công ước về các quyền dân sự và chính trị.

Điều khiến tôi thấy thú vị và ngạc nhiên là trong (Công ước về các quyền dân sự tại Việt Nam) ấy  có phần VN cam kết cho phép đa nguyên chính trị, tức là chính quyền VN cho phép người có tư tưởng chính trị khác được tham gia vào chính quyền. Nhưng tiếc thay, cái điều khoản này bị lờ đi.

“Những gì chúng tôi biết được thông qua cuộc đối thoại mang tính xây dựng với Việt Nam là, có rất nhiều điểm, nếu không nói là tất cả, về các quyền dân sự và chính trị mà chúng tôi quan tâm, có thể cải thiện”, bà Marcia Kran, Ủy ban Nhân quyền LHQ nhận định trong buổi họp báo công bố Bản Nhận xét kết luận về Việt Nam hôm 28/3/2019.

Bản Nhận xét Kết luận gồm 11 trang nêu rõ các mặt tích cực, các quan ngại và khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền dành cho Việt Nam về việc thực thi các quyền dân sự và chính trị.

Bản Nhận xét đã được HRS dịch sang tiếng Việt và công bố tại http://hrs.org.vn/…/nhan-xet-ket-luan-cua-uy-ban-nhan-quyen…

Chúng tôi xin gửi tới các bạn nội dung được công bố tại buổi họp báo hôm 28/3.

Phần nội dung dưới đây trích dịch các trao đổi liên quan đến Việt Nam trong clip ghi âm buổi họp báo công bố tại trang web cơ sở dữ liệu của Liên Hợp Quốc, các bạn có thể truy cập nguyên bản tiếng Anh tại https://www.unog.ch.

Trong phần họp báo dưới đây có ba thành viên Ủy ban tham gia trao đổi là bà Marcia Kran, ông Santos Pais và ông Ahmed Fathala.

(Đính chính: người thứ hai trong buổi họp báo là ông Christof Heyns, không phải là ông Santos Pais).

———————————————-

Bà Marcia Kran: Tôi sẽ nói về Việt Nam, một trong những nước được rà soát trong kỳ họp này. Đoàn Việt Nam ra đối thoại trước Ủy ban vào ngày 11 và 12 tháng Ba. Việt Nam đã không làm việc với Ủy ban từ năm 2002 nên chúng tôi luôn khuyến khích (Việt Nam) gửi báo cáo. Việt Nam ra trước Ủy ban bằng một phái đoàn khá đông.

Có một số diễn biến tích cực về mặt luật pháp theo như báo cáo của đoàn, chẳng hạn, Việt Nam có một chương trong Hiến pháp 2013 về nhân quyền. Thường cách thức đối thoại của ỦY ban, cũng như trong phần với Việt Nam, chúng tôi hỏi nhiều câu hỏi để có được thông tin về tình hình người dân ở Việt Nam có thể thực hành các quyền dân sự và chính trị trong Công ước như thế nào. Và trong quá trình đối thoại chúng tôi lưu ý và trao đổi về một số lĩnh vực có vấn đề.

Các bạn sẽ thấy những vấn đề này được nêu trong bản Nhận xét Kết luận mà chúng tôi đã công bố và ở đây tôi muốn đưa ra một số quan ngại chính mà chúng tôi nhận thấy.

Các bạn sẽ có thể thấy một bức tranh về thực hành các quyền dân sự và chính trị (tại Việt Nam) khi bạn xem xét tổng hợp các quan ngại hiện nay.

Quan ngại thứ nhất là về Những người bảo vệ nhân quyền. Việc bắt bớ những người bảo vệ nhân quyền đã tăng lên đáng kể. Họ bị sách nhiễu, tấn công, họ bị giam giữ biệt tích không được liên lạc với bên ngoài trước khi xét xử. Một vài người phải nhận hình phạt tù dài với những tội nằm dưới những quy định pháp lý mập mờ, và họ cũng bị ngược đãi khi bị giam giữ. Một số bị ngăn không được đi ra nước ngoài, chẳng hạn để tham gia các cuộc hội họp về nhân quyền. Và họ cũng phải đối diện với việc bị trả thù do tương tác với các cơ chế nhân quyền Liên Hợp Quốc, đây là việc hết sức đáng lo ngại.

Một vài người phải sống lưu vong sau khi ngồi tù với bản án của họ một thời gian, lưu vong ở các nước xung quanh… Vì vậy chúng tôi đã nêu ra vấn đề này và trao đổi với phái đoàn, và cuối cùng có khuyến nghị như các bạn đọc thấy trong bản Nhận xét, rằng người bảo vệ nhân quyền cần được tạo một hành lang đủ rộng để tiến hành các hoạt động của mình mà không sợ bị trả thù, rằng nhà nước cần điều tra và truy tố những người đe dọa và tấn công chống lại người bảo vệ nhân quyền.

Vấn đề thứ hai mà chúng tôi quan ngại là về cách thức áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam. Họ có những quy định trong luật pháp quốc gia về các tội về an ninh quốc gia và quy định này được định nghĩa bao gồm các hoạt động được coi là chống lại chính quyền. Và tội này có trong khung hình phạt tử hình, nên trong tình trạng số người bị kết án tử và danh tính của họ bị chính quyền giữ kín có nghĩa là có khả năng những người bất đồng chính kiến bị nhắm tới và bị kết án tử hình mà không qua một quy trình thích đáng.

Một số người bị chết khi bị giam giữ và chúng tôi có những báo cáo rằng những cái chết này được cán bộ báo cáo là tự vẫn. Với vấn đề này, một khuyến nghị chúng tôi nêu ra là đề nghị đưa ra một lệnh đình chỉ áp dụng án tử hình hoặc bỏ án tử hình, cũng như các biện pháp khác.

Vấn đề quan ngại thứ ba là về đảm bảo đa nguyên chính trị theo như Công ước quy định. Chúng tôi là Ủy ban về các quyền dân sự chính trị, nên chúng tôi xem xét việc tham gia vào các công việc công của người dân ở các nước, như là một quyền được đảm bảo. Ở Việt Nam có những hình phạt được định nghĩa mơ hồ khiến cho bất đồng chính kiến có thể được coi là mối đe dọa an ninh quốc gia. Việc chia sẻ thông tin mang tính chất phê phán chính quyền bị cấm. Các nhà hoạt động và những người bất đồng chính kiến bị ngăn chặn không thể trở thành ứng cử viên chính trị hoặc bỏ phiếu nếu họ đang thi hành án tù vì chống lại chính quyền.

Tức là những người bị đưa vào tù vì đối lập với nhà nước và người tù nói chung không được bầu cử. Một ví dụ là Nguyễn Văn Đài, một người bảo vệ nhân quyền và là người đồng sáng lập Hội Anh em Dân chủ, một người vận động cho nhân quyền và cho nhu cầu về một nền dân chủ đa đảng. Ông ta đã bị buộc tội và kết tội nhiều lần do hoạt động đối lập với chính quyền. Công dân chỉ được bầu cho những ứng cử viên do Đảng Cộng sản lựa chọn. Ứng cử viên được chọn và phải được duyệt bởi một tổ chức (Mặt Trận Tổ Quốc) do Đảng đứng sau. Kết quả là, những ứng cử viên có đầu óc cải cách không được chấp nhận vào danh sách bầu cử, và họ không thể tranh cử.

Để được lựa chọn như một ứng cử viên chính thức, các ứng cử viên độc lập về chính trị phải qua nhiều vòng thương lượng với Mặt trân Tổ quốc, tổ chức do đảng lãnh đạo, trong khi cơ quan có trách nhiệm đưa ra danh sách ứng cử viên chính thức thì gồm hoàn toàn nhân sự từ Đảng. Việc này cho phép chúng ta cảm nhận những khó khăn rõ ràng trong tham gia chính trị của những người không phải là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vấn đề thứ tư mà chúng tôi trao đổi với phái đoàn là về việc lấy đất của các dân tộc bản địa và những người thiểu số. Chúng tôi rất lo ngại rằng Việt Nam không công nhận các dân tộc bản địa. Đây là một chủ đề chúng tôi đã trao đổi, đặt ra câu hỏi và mong muốn nhận được câu trả lời. Họ không công nhận về mặt pháp lý các dân tộc bản địa hay quyền của dân tộc bản địa với đất đai của tổ tiên hoặc đất đai truyền thống.

Chính phủ đã thu đất của các dân tộc bản địa và người thiểu số mà không có tham vấn thích đáng, đôi khi họ dùng bạo lực để thu đất. Về vấn đề này chúng tôi khuyến nghị có các tham vấn với các dân tộc bản địa và người thiểu số khi có các dự án phát triển được hoạch định, để đảm bảo việc các dự án này ảnh hưởng đến sinh kế, lối sống và văn hóa của người thiểu số và người bản địa sẽ được tính đến. Và chúng tôi cũng nhắc với chính quyền một yêu cầu pháp lý quốc tế về các dân tộc bản địa là họ phải được đưa ra quyết định đồng thuận hay không một cách tự nguyện, trước và được thông tin đầy đủ.

Cho phép tôi đề cập một số vấn đề khác, rất ngắn gọn nhưng không có nghĩa là kém phần quan trọng, chỉ là đề cập ngắn gọn ở đây. Tự do tôn giáo. Các cộng đồng tôn giáo không được công nhận chính thức ở Việt Nam, họ phải đối diện với việc kiểm soát, sách nhiễu, đe dọa và phá hủy tài sản. Chúng tôi có các báo cáo về việc bị ép gia nhập các tôn giáo được chính thức công nhận, và bạo lực, trong một số trường hợp là chết người.

Một hội gọi là Hội Cờ đỏ đã được tổ chức để áp chế các khiếu nại về chính quyền. Đây là tác nhân ngoài nhà nước nhưng có vẻ họ hành động vì lợi ích của chính quyền. Ví dụ, khi chính quyền giải quyết sự cố nhà máy thép Formosa làm rò rỉ hợp chất có xianua ra biển làm cá chết và ảnh hưởng sinh kế của hàng ngàn người, Hội Cờ đỏ khuyến khích và kích động phân biệt về tôn giáo và họ dùng phát ngôn thù hận và bạo lực với những người thiểu số về tôn giáo, và hội này được hưởng gần như miễn trừ hoàn toàn. Vậy chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị về bỏ các hạn chế về tự do tôn giáo và tín ngưỡng và rằng chính quyền cần giải quyết hiệu quả hơn các phát ngôn thù hận.

Cũng có một số vấn đề về xét xử công bằng, về việc ảnh hưởng chính trị xem nhẹ tính độc lập của tòa án. Người bảo vệ nhân quyền không được tiếp cận với tư vấn pháp lý. Các luật sư bị trả thù khi biện hộ cho người bảo vệ nhân quyền. Một luật sư đã bị khai trừ chỉ bốn ngày trước khi chính thức đại diện cho một người bảo vệ nhân quyền được biết đến dưới bút danh Mẹ Nấm. Luật sư này cũng bị sách nhiễu, đe dọa giết và trả thù vì thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình. Chúng tôi đã có khuyến nghị về vấn đề này. Đây là một số quan ngại nghiêm trọng, trong số nhiều vấn đề. Bản nhận xét kết luận chúng tôi công bố có các chi tiết về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Sau đây tôi sẽ trả lời các câu hỏi. …

(Lược bỏ một số phần không liên quan đến Việt Nam)

Câu hỏi từ trong phòng: Qua phần thông tin của bà, tôi thấy một bức tranh mang màu sắc ảm đạm. Điều này có gì trái với những thông tin về các tiến bộ và phát triển kinh tế của Việt Nam mà chúng ta được biết? Chẳng hạn Việt Nam được coi là một gợi ý cho Kim Jong Un của Triều Tiên như gần đây?

Bà Marcia Kran: Có một sự khác biệt giữa phát triển kinh tế nói riêng, và phát triển bền vững có yếu tố nhân quyền mà chúng tôi bàn tới. Bạn biết là Việt Nam đã thành công về kinh tế. Việt Nam cũng là nước tiến bộ hàng năm trong số những quốc gia đang cố gắng đạt được các mục tiêu Phát triển Bền vững về mặt kinh tế. Những các Mục tiêu Phát triển Bền vững cũng bao gồm những phần nói về chất lượng, chẳng hạn không bỏ sót người nào khỏi những thụ hưởng thành quả của phát triển, yêu cầu giải quyết tình trạng của những người bị tụt lại xa nhất trong phát triển. Và về lĩnh vực này thì Việt Nam làm chưa tốt, về những khía cạnh về tính bền vững và phát triển dành cho mọi người.

Nếu chỉ tính kinh tế, thì Việt Nam thành công. Và tôi nghĩ kinh tế là trọng tâm của Việt Nam. Nếu nói Việt Nam có thể là hình mẫu, thì những gì chúng tôi biết được thông qua cuộc đối thoại mang tính xây dựng với Việt Nam là, có rất nhiều điều điểm, nếu không nói là tất cả, về các quyền dân sự và chính trị mà chúng tôi quan tâm, có thể cải thiện.

Tôi không muốn nói rằng Việt Nam không có tiến bộ nào về nhân quyền. Tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi phải chỉ ra một lĩnh vực chung mà Việt Nam có tiến bộ, như là phái đoàn đã trình bày, và đây cũng là nghĩa vụ chính thức về pháp lý, thì Việt Nam đã có một vài luật mang tính bảo vệ nhân quyền. Có một luật mới về chống buôn bán người, trong đó cấm lao động cưỡng bức. Trong thực tế, năm 2017 Luật Hỗ trợ pháp lý được sửa trong đó mở rộng danh sách những người được hỗ trợ pháp lý. Cũng có những sửa đổi trong Bộ luật Hình sự và Tố tụng hình sự, về quyền được tham vấn ở tất cả các bước tố tụng hình sự.

Như vậy chỉ nhìn vào khuôn khổ pháp lý không thôi mà không cần biết khuôn khổ này được áp dụng trong thực tế ở Việt Nam như thế nào và cuộc sống của người dân ra sao, thì có vẻ vẫn có thụ hưởng quyền ở Việt Nam… Khuôn khổ pháp lý cho thấy một vài sự tiến bộ trên giấy, nhưng đấy không phải là trọng tâm đối thoại của chúng tôi. Ví dụ, và tôi cũng đã hỏi một số lần, chẳng hạn xin lấy ví dụ về một cá nhân trải qua việc vi phạm nhân quyền, họ đòi quyền mà họ đã bị vi phạm, họ đưa ra trước cơ quan có thẩm quyền và có được nhận khắc phục thế nào đó. Và trả lời cho câu hỏi này, câu hỏi mà tôi hỏi một số lần, thì không có câu trả lời nào.

Như vậy dường như là không có biện pháp khắc phục hiệu quả. Và phái đoàn chỉ tập trung vào việc trích dẫn những gì có trong luật, trong cả hai buổi đối thoại với Ủy ban, trích dẫn khuôn khổ pháp lý chính thức, và gợi ý chúng tôi cho rằng những gì có trong luật là những xảy ra trên thực tế. Tất nhiên đó không phải là cách Ủy ban làm việc. Vì vậy chúng tôi không có được cảm nhận gì về thực tế thông qua cuộc đối thoại này. Chúng tôi đã có cảm nhận thực tế từ cuộc gặp với các tổ chức phi chính phủ, và từ các báo cáo mà các tổ chức đã gửi đến trước khi đối thoại diễn ra.

Vậy là đã có một số tiến bộ nhỏ về khuôn khổ pháp lý..

Câu hỏi từ trong phòng: Việt Nam cử một phái đoàn đông đủ tham dự đối thoại. Theo bà trong các tương tác với phái đoàn, có dấu hiệu nào cho thấy họ cởi mở với những lời phê phán hay tiếp thu các gợi ý?

Marcia Kran: Tôi thật khó nói nhưng điều tôi nhận thấy là phái đoàn rất nhất quán với cách trả lời là trích dẫn luật, và không tương tác với chúng tôi về tình hình thực tế người dân ở Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực này như thế nào. Tôi muốn nói rằng Việt Nam rất quan tâm trong việc chuẩn bị từng bước cho cuộc đối thoại với Ủy ban. Họ đã mời một cựu thành viên Ủy ban, một vị từ Hoa Kỳ, sang Việt Nam hai lần, để làm việc cùng họ, để có thể dự kiến một số câu hỏi chúng tôi sẽ đặt ra.

Tức là phái đoàn có tập huấn, nếu có thể nói như vậy, về cách thức làm việc và tiến hành đối thoại với Ủy ban Nhân quyền. Nên họ đã có rất nhiều nỗ lực để chuẩn bị, để sẵn sàng, và để trả lời các câu hỏi của chúng tôi một cách cởi mở, tôi đoán là họ đã nhận được tư vấn như vậy. Nhưng khi đến chính phiên đối thoại, tôi có thể nói không có dấu hiệu gì về một sự cởi mở hay ý muốn tương tác về việc thực thi Công ước trong thực tế. Thay vào đó họ đưa ra một bản mô tả khuôn khổ pháp lý chính thức. Ngoài điều này ra tôi khó có thể nói trong đầu họ nghĩ gì.

Ông Santos Pais: Tôi có thể nói thêm, mặc dù tôi đồng ý với hầu hết những gì bà Kran nói, rằng thực tế là họ đã ra trước Ủy ban, đối thoại với Ủy ban, dù đó không phải là dấu hiệu cụ thể chúng tôi tìm kiếm, thì cũng là một điều gì đó, cho phép xây dựng mối quan hệ và..

Bà Marcia Kran: Đúng vậy,

Ông Santos Pais: và đây là một cuộc thảo luận đang diễn ra, xét về góc độ nào đó, nên tôi không nghĩ cuộc trao đổi này là là vô dụng.

Ông Ahmed Fathala (Chủ tịch Ủy ban): Tôi có thể thêm vào ở đây là chúng ta có thể nhìn một cách tích cực là, mặt khác chúng ta cũng có thủ tục rà soát vắng mặt nếu không có báo cáo của nước thành viên, nên trong trường hợp này họ (Việt Nam) đã gửi báo cáo và đã tham gia đối thoại thì cũng là một sự cải thiện đôi chút. Về Việt Nam thì đánh giá của tôi là có lẽ sau khi Việt Nam thoải mái hơn về phát triển kinh tế, có lẽ một ngày nào đó họ sẽ nhìn nhận lại vấn đề nhân quyền. Bởi vì nhân quyền quan trọng cho việc phát triển bền vững, nên có lẽ, có lẽ chúng ta có thể hy vọng Việt Nam sẽ nhìn nhận lại và Việt Nam sẽ tốt hơn rất nhiều thông qua việc giải quyết vấn đề nhân quyền.

_____

2 Comments

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: