Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Ba 2019
    C H B T N S B
    « Th2   Th4 »
     12
    3456789
    10111213141516
    17181920212223
    24252627282930
    31  
  • Bài viết mới

►QUỐC GIA VIỆT NAM (Hiệp định Élysée 8/3/1949)

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2019

 

 

 

Image may contain: 2 people, people walking, people standing, shoes, wedding and outdoor

Bức ảnh chụp tại sân bay Gia Lâm vào tháng 3/1954, quốc trưởng Bảo Đại cùng các quan chức QGVN và tướng Rene Cogny. Lính mặc đồ đen là quân đội QGVN, nhóm lính bên trái có vẻ là lính lê dương thuộc quân đội Liên hiệp Pháp.

Dương Quốc Chính

QUỐC GIA VIỆT NAM

Ngày 8/3/1949 là ngày ký hiệp định Elysee giữa TT Pháp Auriol và cựu hoàng Bảo Đại. Thông qua hiệp định này, TT Pháp kiêm chủ tịch Liên hiệp Pháp đã công nhận Quốc gia VN là 1 nhà nước độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Ngày này được coi là ngày thành lập QGVN.

QGVN là chính quyền quản lý cả nước VN (trừ các vùng chiến khu do VNDCCH kiểm soát) từ năm 1949-1954, tại Bắc vĩ tuyến 17 và sau đó đến tháng 10/1955 tại Nam vĩ tuyến 17, sau HĐ Geneva. QGVN chấm dứt tồn tại sau cuộc trưng cầu dân ý phế truất quốc trưởng Bảo Đại, thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm quốc trưởng và tuyên bố thành lập VNCH.

Đa số người Việt hiện nay không biết tới QGVN do chính quyền CS không công nhận. Vì thế, chính quyền này coi như bị xóa khỏi lịch sử VN hiện nay.

Tuy nhiên, QGVN vẫn là 1 phần của lịch sử VN, cho dù có được phe CS công nhận hay không. Nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập chính quyền này, mình viết vài dòng sơ lược để mọi người thấy được bức tranh toàn cảnh về lịch sử VN giai đoạn 1945-1954, vốn rất nhạy cảm.

Bối cảnh

Ngày 2/9/1945 nước VNDCCH ra đời, để có tính chính danh, Việt Minh tổ chức bầu cử quốc hội khóa 1 vào tháng 1/1946. Với 90% dân số mù chữ, kết quả bầu cử là VM chiếm đa số ghế trong QH, đảng đối lập là Việt Quốc, Việt Cách tẩy chay bầu cử, vì cho là VM độc diễn. Ông HCM được bầu với hơn 98% số phiếu! Công dân Vĩnh Thụy cũng trúng cử đại biểu QH cho dù ông không tham gia bầu cử cũng không trực tiếp ứng cử!

Tuy nhiên, VNDCCH không được bất nước nào trên thế giới công nhận, kể cả Liên Xô.

Ngay cuối tháng 9/1945, người Pháp theo chân người Anh vào Nam vĩ tuyến 16 và Trung Hoa dân quốc (chính quyền Tưởng) vào Bắc vĩ tuyến 16 để giải giáp quân đội Nhật. Người Pháp không công nhận VNDCCH ở miền Nam, người Tàu chấp nhận sự tồn tại VNDCCH ở miền Bắc nhưng gây sức ép để CP và QH VNDCCH phải cải cách để trao thêm quyền lực cho những người không phải VM. Việt Quốc và Việt Cách được đặc cách 70/300 ghế đại biểu QH và được cử người nắm 1 số chức vụ quan trọng trong chính phủ.

Ngày 6/3/1946, CT HCM ký với Sainteny, đại diện của Pháp tại miền Bắc hiệp định Sơ bộ. Hiệp định này cho phép quân đội Pháp thay thế quân TQ giải giáp quân đội Nhật ở miền Bắc. Trước đó, Pháp và Tưởng đã ký hiệp định Trùng Khánh để Tưởng chấp nhận cho Pháp được thế chân tại Bắc Việt. Đổi lại, Pháp trả lại Tưởng nhượng địa của Pháp tại TQ và đường sắt Côn Minh.

Quân Pháp ra Bắc giải giáp quân Nhật nhưng không thể tiếp tục thương thảo được với VNDCCH về vai trò của nước VN. VNDCCH đòi VN phải được độc lập và thống nhất 3 kỳ trong khi HĐ Sơ bộ trước đó đã thống nhất là VN chỉ độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp (không phải nước Pháp) và Nam Kỳ có nhập vào 2 kỳ còn lại hay không còn phụ thuộc vào 1 cuộc trưng cầu dân ý.

Mâu thuẫn kể trên khiến cho chiến tranh Việt – Pháp nổ ra vào ngày 19-12-1946. Chính quyền VNDCCH rút lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến. Trước đó, vào 1/6/1946, Cộng hòa Nam Kỳ được thành lập, Nam Kỳ ly khai khỏi VNDCCH bằng 1 cuộc bầu cử của Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (kiểu như Hội đồng nhân dân hiện nay). Chính quyền này chỉ được người pháp công nhận. Trên thực tế từ cuối năm 1945, chính quyền VNDCCH đã bị vô hiệu tại Nam Kỳ.

Như vậy, sau khi VNDCCH rút lên chiến khu thì không có 1 chính quyền nào chính thức quản lý Bắc Việt. Người Pháp cần có 1 chính quyền của người Việt để quản lý VN và không muốn biến VN thành thuộc địa như trước 45. Người Pháp muốn biến cuộc chiến Pháp – Việt thành cuộc chiến chống Cộng giữa 2 phe người Việt chứ không phải là cuộc chiến giành thuộc địa của mẫu quốc với dân bản xứ.

Sau khi thoái vị ngày 25/8/1945, vua Bảo Đại thành cố vấn Vĩnh Thụy cho chính quyền mới. Nhưng trong chuyến công cán sang TQ để vận động Tưởng Giới Thạch ủng hộ VNDCCH, Vĩnh Thụy bị bỏ lại TQ (VM thì cho là ông trốn lại). Vĩnh Thụy được 1 số người cưu mang và chuyển tới ở Hongkong.

Thành lập chính phủ

Giải pháp Bảo Đại được cả người Pháp lẫn phe Quốc gia (không CS) người Việt ở Nam Kỳ thấy là tối ưu nhất để thành lập 1 chính quyền của người Việt. Hai bên đều cử đại diện sang Hongkong để thuyết phục Bảo Đại quay lại VN chấp chính. Cựu hoàng không dễ dàng chấp nhận mà ra điều kiện với Pháp về nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của VN. Cuối cùng, người Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận từ bỏ thuộc địa Nam Kỳ vô điều kiện 1 cách chính thức (thông qua quốc hội Pháp). Hiệp định Elysee cụ thể hóa điều đó thành văn bản.

Bảo Đại đã làm được điều mà VM mong muốn mà không được người Pháp chấp nhận, đó là VN được toàn vẹn lãnh thổ. Khi ký kết HĐ, Bảo Đại ký với TT Pháp kiêm chủ tịch Liên hiệp Pháp, thể hiện vai trò của Bảo Đại như 1 nguyên thủ quốc gia. Trong khi trước đó, CT HCM chỉ được ký HĐ Sơ bộ với Sainteny là 1 ủy viên cộng hòa Pháp (tương đương Thống sứ Bắc kỳ, dưới quyền cao ủy – toàn quyền Đông Dương). Sau đó, CT HCM ký Tạm ước với Mautet (Bộ trưởng Pháp). Tức là người Pháp không coi CT HCM như 1 nguyên thủ quốc gia ngang hàng.

Quốc gia VN có thủ đô đặt tại Sài Gòn, quốc kỳ là cờ vàng 3 sọc đỏ, quốc ca là bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước được cải lời. Đây chính là quốc kỳ và quốc ca VNCH sau này.

QGVN là 1 chính thể lai tạp giữa quân chủ chuyên chế và quân chủ lập hiến. Bảo Đại là nguyên thủ, gọi là quốc trưởng, nhưng quyền hành pháp được trao cho thủ tướng (khác quân chủ chuyên chế) nhưng chưa có hiến pháp và quốc hội (khác quân chủ lập hiến). QGVN khi thành lập vẫn phụ thuộc về kinh tế, ngoại giao và quân sự vào Liên hiệp Pháp. Sau đó người Pháp trao trả dần sự tự chủ cho QGVN cùng với sự lớn mạnh của chính quyền này. Đến tháng 6/1954, trước khi HĐ Geneva được ký kết thì Pháp đã trao trả hoàn toàn nền độc lập cho QGVN. Tuy nhiên lúc đó, Điện Biên Phủ đã thất thủ và VNDCCH đã kiểm soát hầu hết vùng nông thôn và miền núi.

Đến năm 1950, có 35 nước công nhận QGVN và thiết lập ngoại giao. Trong khi đó, phe XHCN thì công nhận VNDCCH cũng chỉ từ tháng 1/1950, sau khi thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Năm 1952, QGVN đại diện cho VN tham dự hội nghị San Francisco, thủ tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố chủ quyền HS và TS của QGVN, không có nước nào tham dự hội nghị phản đối. Đài Loan và Trung Cộng (lúc đó đã nắm Hoa lục) đều không được tham dự hội nghị.

Chấm dứt

Sau khi Hiệp định Geneva ký kết giữa Pháp và VNDCCH (QGVN và Mỹ không ký), chính quyền QGVN rút khỏi Bắc vĩ tuyến 17 cùng quân đội Pháp và chỉ quản lý hành chính miền Nam. Tháng 7/1954, thủ tướng Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại (lúc đó ở Pháp) ủy quyền toàn bộ về hành pháp. Thủ tướng Diệm nhận chức trong bối cảnh có các sứ quân có quân đội riêng cát cứ ở VN. Các giáo phái, phe nhóm này đều thân Pháp và không phục TTg (thân Mỹ) khiến ông phải dùng bạo lực để dẹp loạn hòng thống nhất quyền lực về chính quyền trung ương. Mâu thuẫn cao trào khi Bảo Đại triệu hồi NĐ Diệm sang Pháp (có ý đồ cách chức). Trong hoàn cảnh đó, nhóm thân cận ông Diệm đề nghị tổ chức trưng cầu dân ý phê truất Bảo Đại.

Sau cuộc trưng cầu dân ý (23/10/1955) bị cho là gian lận, Bảo Đại bị phế truất, TTg Diệm lên thay và tuyên bố thành lập nền cộng hòa, là chính thể VNCH. QGVN chính thức chấm dứt hoạt động.

Dưới đây là toàn văn hiệp định Elysee, dịch từ tiếng Anh, bản lưu trữ tại Mỹ:

 

Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949 (Hiệp định Élysée)

Bản dịch của Nguyễn Quốc Vĩ

tháng 4 năm 1950, tại đô thành Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại công bố nền độc lập của Quốc gia Việt Nam trước sự chứng kiến của giới quan chức Việt Nam và các quan khách quốc tế

Tháng 4 năm 1950, tại đô thành Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại công bố nền độc lập của Quốc gia Việt Nam trước sự chứng kiến của giới quan chức Việt Nam và các quan khách quốc tế

 

Bản dịch của Nguyễn Quốc Vĩ

Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [Pháp], Tổng thống Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:

Tổng Thống Cộng Hòa Pháp

Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949

Thưa Hoàng Thượng,

Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, các nguyên tắc đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.

Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.

Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.

Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.

I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM

Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).

Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.

Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.

Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [của Pháp].

Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.

Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Hoàng Đế về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng.

Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thương chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triễn tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.

II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO

Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.

Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.

Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.

Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.

Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.

Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.

Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đế các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.

Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẳn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.

Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hổ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệ Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.

III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ

Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [Pháp]. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hổ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân dội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.

Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỷ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền xử dụng của Việt Nam.

Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận với không bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.

Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [quân sự] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.

Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.

Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.

Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.

IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC

Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.

Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.

Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.

V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP

Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.

Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.

Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:

1. Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh”.

2. Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.

3. Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.

Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.

Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [pháp lý] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.

Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.

Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.

VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA

Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.

Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt.

Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.

Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỷ Thuật và chuyên nghiệp.

Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây.

Học sinh Việt Nam được tư do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt.

Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.

Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.

Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh.

Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.

Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam.

Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại.

Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có , dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đai diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.

Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.

Trong giảng dạy truyền thống:

a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp

b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.

Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể đươc cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.

Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.

Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan.

Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:

Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiện bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [Institut de France].

Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.

Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
– Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.

– Việt Nam là sở hửu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.

– Viện Pasteur giữ quyền sở hửu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.

– Viện Pasteur là sở hửu chủ các vật tư khoa học.

– Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.

Tài Liệu Lưu trữ:

Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hửu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.

Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.

VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH

Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hổ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.

Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sữa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này.

Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:

a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;

b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;

c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.

Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.

Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triễn của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.

Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những xử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.

Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.

Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.

Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.

Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.

Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.

Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:

1. Dịch vu về phát thanh
2. Kiểm soát di trú
3. Thương mại quốc tế và quan thuế
4. Kho bạc
5. Kế hoạch trang thiết bị

Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.

Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.

Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.

*
** 

Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này.

Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.

Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng va Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hổ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.

Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi

Vincent Auriol

Chú thích:

Vicent Auriol là Tổng Thống thứ 166 của Pháp (1947-54)

http://fr.wikipedia.org/wiki/Vincent_Auriol

Liên Hiệp Pháp: http://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_hi%E1%BB%87p_Ph%C3%A1p

http://www.vietnamgear.com/Indochina1947.aspx

April 23rd 1949 Cochin-China assembly votes for unification with Annam and Tonkin as part of the State of Vietnam within the French Union June 4th 1949 French Assembly passes the Cochin-China bill unifying Vietnam

December 7th 1947 Bao Dai signs the Ha Long Bay Agreement, which weakly commits the French to national independence for Vietnam. Prominent nationalists, including Ngo Dinh Diem, condemn the agreement as falling far short of real independence

June 5th 1948 Bao Dai and Bollaert sign a second Long Bay Agreement in which France solemnly recognizes the independence of Vietnam. However, the French government retains control over foreign relations and the Army and defers transference of other government function to future negotiations

July 3rd 1953 French government issues a declaration of its intention to complete the independence and sovereignty of the three Associated States (Cambodia, Laos and Vietnam)

_________

Dương Quốc Chính Xét theo lịch sử thì VNDCCH độc lập được đúng 3 tuần từ 2/9 đến 23/9.

Dương Quốc Chính Anh em cứ nhớ là VNDCCH cướp nền độc lập của Đế quốc VN nhé. Nếu ko có CM tháng 8 thì Đế quốc VN sẽ đương nhiên có độc lập hoàn toàn vì Nhật bị giải giáp.

Dương Quốc Chính Anh em bò đỏ cứ chê là Đế quốc VN vẫn bị Nhật kiểm soát. Thực tế là có nhưng rất rất không đáng kể. Lúc đó các quan chức Nhật tỏ ra rất kính trọng CP TTK và Bảo Đại, không lúc nào tỏ ra ức hiếp, áp đặt, cư xử đúng như 1 đồng minh chứ không hề ngang ngược theo kiểu mẫu quốc Pháp cũ.

Đọc hồi ký của các quan chức CP TTK là thấy rõ.

Nhật trước ngày 9/3 hoàn toàn khác với Nhật sau ngày 11/3 nhé. Có lẽ lý do chính là vì lúc đó họ xác định là sẽ đầu hàng đồng minh rồi.

Nam Vu Tuan Họ còn đề nghị để họ tiêu diệt bọn Việt Minh vì lúc ấy QĐ Nhật ở Đông Dương vẫn còn rất mạnh, nhưng BĐ không đồng ý. Thế mới dở..

Dương Quốc Chính Phạm Lê Di nếu không có CM thì quy trình giống bên Cam. Bên đó Sihanouk cũng được Nhật trả độc lập, rồi lập CP thân Nhật. Lúc Pháp quay lại thì giải tán CP đó, lập cái mới, Sihanouk vẫn làm vua tiếp. Rồi VM đánh Pháp. Pháp lại trả độc lập cho Cam vào năm 53. Đến HĐ Geneva, Cam được thành trung lập, anh em CS Cam phải tập kết về Bắc VN. Vì thế nên sau này Khmer đỏ mới chửi CS VN bán đứng CS Cam!

 

_____

Image may contain: 3 people, text

 

Đoc Và Suy Ngẫm (12/ 03/2017)

Cộng sản không có lịch sử thật sự là lịch sử. Cái được gọi là lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam “làm ra, tàng trữ, phát tán” giống như bộ tiểu thuyết huyễn hoặc nhiều hư cấu. Thực chất lịch sự đối với cộng sản đích thực cũng chỉ là những tài liệu ngụy tạo, bóp méo sự thật lịch sử nhằm mục đích tuyên truyền bịp bợm dối trá, nhồi nhét tẩy não nhiều thế hệ người Việt Nam và phục vụ mục tiêu chính trị của đảng cộng sản.

Hậu quả tuyên truyền cộng sản đã làm cho nhiều thế hệ lớn lên, sống trong môi trường cộng sản cứ tin “dối trá” là thật và vô tư lập lại, bênh vực những luận điểm đổi trắng thay đen do hệ thống tuyên giáo cộng sản cấy vào đầu từ tấm bé. Thế cho nên có một bộ phận không nhỏ lên gân như vong nhập, múa may quay cuồng, phản bác lại những người trải nghiệm cộng sản, nạn nhân cộng sản sống sót sau nhiều đợt tàn sát tập thể lên tiếng tố cáo tội ác, vạch trần tuyên truyền dối trá của cộng sản và gán ghép cho họ là “ … phản bội dân tộc, chống phá tổ quốc(?)”

Sắp đến ngày 30/04 kết thúc cái được đảng cộng sản gọi là “…Chiến tranh thần thánh chống Mỹ cứu nước…giải phóng Miền Nam…” và rồi giống như đến hẹn lại lên, hệ thống tuyên truyền phục vụ mục tiêu chính trị lại rầm rộ vào cuộc, giăng mắc khẩu hiệu cờ xí rợp trời, các loa đài hò hét “cờ sao như tung bay cao…vui sao nước mắt lại trào…” và các hệ thống truyền thông đa phương tiện thi nhau ra rả ca ngợi đảng cộng sản “…Sáng suốt tài tình…lãnh đạo đánh thắng…”

Những ngày tháng 30/04 trôi qua, có rất nhiều tác giả, nhiều nạn nhân cộng sản, ngay cả một số người sưu tầm, thu thập tài liệu làm thành bản cáo trạng tội ác, vạch trần tuyên truyền dối trá của cái gọi là “…Cuộc chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước…giải phóng Miền Nam…” và để tiện theo dõi sự thật lịch sử mà đảng cộng sản đã cố tình bóp méo, che dấu thân phận tay sai cuồng tín của chúng cho cộng sản quốc tế, xin góp một phần sự thật vào cái ngày đảng cộng sản gọi là “giải phóng Miền Nam.”

Sự thật về chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam chỉ là chiêu bài mị dân để cho tên tay sai cộng sản đệ tam Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam núp bóng dân tộc hô hào khẩu hiệu “…Vì độc lập, vì tự do…Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi…” nhằm thực hiện nhiệm vụ làm tay sai cho tham vọng nhuộm đỏ Việt Nam mở rộng biên giới của đế chế cộng sản quốc tế, là sự thật lịch sử không thể chối cãi!

Thế nhưng những ngày như thế này, tuyên giáo cộng sản lại tổ chức hội họp, lễ lạc để tung hê, ca ngợi, tuyên truyền láo về “lãnh đạo tài tình… công lao đánh đuổi” của tên tội đồ Hồ Chí Minh:
“… Chúng ta mãi mãi nhớ về những ngày đại lễ gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới….

Cả cuộc đời Bác đã hy sinh cho hạnh phúc của nhân dân, cả cuộc đời Bác đã hy sinh cho dân tộc Việt Nam. Bác đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân vượt qua bao gian nan thử thách, lập nên nhiều kỳ tích vẻ vang, từ thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 08/1945 đến thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt, giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới…”

Đến ngày hôm nay, thời đại tin học, thời thông tin mở tràn ngập trên mạng lưới thông tin toàn cầu không ai còn hiểu mơ hồ, hiểu lệch lạc về Hồ Chí Minh, về đảng cộng sản Việt Nam, nhất là về cái gọi là cuộc chiến tranh thần thánh “chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam”. Chiêu bài này chỉ ăn khách đối với những tên mù đảng thật sự và những tên mù đảng giả vờ để được phần xương thừa của đảng quăng ra.

Sự thật lịch sử đã chỉ ra Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam không hề “…vì độc lập, vì tự do…” mà chỉ lý tưởng cộng sản ngu muội, theo lệnh quan thầy cộng sản nhẫn tâm đưa nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam lên giàn lửa thiêu của cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn không cần thiết. Sự thật đã phơi ra trần trụi cái được gọi là chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam chỉ là hành động tay sai, hiếu chiến, ngu muội của những tên lãnh đạo cộng sản đời đầu. Cho đến bây giờ, những tên lãnh đạo cộng sản đời nay vẫn tiếp tục sử dụng cuộc chiến ô nhục này như là chiến thắng hào hùng đánh thắng…nhằm đầu độc thế thệ sinh sau đẻ muộn vào mục tiêu lợi dụng thế hệ trẻ như những con thiêu thân không hiểu bộ mặt thật cộng sản, lao vào bảo vệ độc quyền quyền lực chính trị cho đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày nay không còn ai mơ hồ hiểu lệch lạc, không biết Hồ Chí Minh là tên cộng sản đệ tam “lãnh tiền ngoại bang” làm theo lệnh của cộng sản quốc tế và đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là chi bộ của đảng cộng sản Nga – Tàu làm theo lệnh trên giao. Nga – Tàu bảo đánh là đánh, bảo dừng là dừng, không hề có sự độc lập của đảng cộng sản Việt Nam với đảng cộng sản quốc tế và chiêu bài chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam không nằm ngoài chính sách nhuộm đỏ toàn cầu của cộng sản quốc tế được cộng sản Việt Nam mị dân, khoát áo “độc lập dân tộc”ngoan ngoản vâng lời thi hành.

Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam làm theo lệnh trên giao phải chiếm cho được Miền Nam bằng mọi giá “dù cho phải đốt cả dãi trường Sơn” như lời Hồ Chí Minh hiệu triệu, là một nỗi ô nhục khi sự thật lịch sử làm tay sai lộ ra không có chi là tự hào nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn ngoan cố, lì lợm lợi dụng sự thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân để tiếp tục tuyên truyền dối trá về cái gọi là chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam.

Theo chính tài liệu được lưu trữ trong kho tài liệu của đảng cộng sản đưa ra thì không có cái gọi là “chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam” bởi theo nghị quyết Đại Hội III của đảng Lao Động Việt Nam, tiền thân của đảng cộng sản, đăng tải trên báo nhân dân từ năm 1959 có đoạn như sau:

“…Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông – Nam Á và thế giới…”

Đọc tài liệu của chính cộng sản với những lời lẽ đơm đặt như bản chất láo của cộng sản vốn có, qua các cụm từ “…đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược… đánh đổ tập đoàn độc tài Ngô Đình Diệm tay sai đế quốc Mỹ…” Không ai không nhận ra cái láo của cộng sản bởi thời điểm đảng lao động ra nghị quyết “chống đế quốc Mỹ xâm lược…chống tay sai đế quốc Mỹ…” chưa có sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Mãi đến năm 1965 Mỹ mới đem quân vào Việt Nam khi cộng sản Bắc Việt nhận viện trợ vũ khí của khối cộng sản, theo lệnh Nga – Tàu đưa quân vào xâm chiếm Miền Nam, lấy chi gọi là chống tay sai đế quốc Mỹ, chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam!

Ngày nay ai cũng biết Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam thành lập ngày 20/12/1960 là do cộng sản Bắc Việt dàn dựng, chỉ sau một năm ngày đảng lao động nhóm họp đại hội III ra nghị quyết “chống đế quốc Mỹ xâm lược… đánh đổ tay sai đế quốc Mỹ…” Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam tuyên bố đường lối, chủ trương… trước khi quân đội Mỹ chưa đưa quân vào bảo vệ Miền Nam tự do chống lại âm mưu thôn tính của cộng sản quốc tế có đoạn viết như sau:

“Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới.”.

Hành động tay sai cho cộng sản quốc tế của đảng cộng sản Việt Nam hiển hiện qua các câu chữ “…tiến tới hoà bình thống nhất tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới” đã rõ ràng cho mục tiêu nhuộm đỏ toàn cầu, không hề có chuyện chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam. Hành động tay sai còn lộ rõ hơn nữa qua việc ba bên bốn phía tham chiến ký kết hiệp định đình chiến ở Paris năm 1973 có điều khỏan quy định Mỹ rút quân về nước để những người Việt Nam hai miền Nam – Bắc, những phe phái tham dự trong cuộc chiến thảo luận chương trình thống nhất đất nước trên nền tảng đối thoại hòa bình qua các tổ chức ngoại vi của cộng sản Bắc Việt công khai hoạt động hợp pháp ở Miền Nam gồm có:

“Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của Mặt trận được thành lập và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia Mặt Trận:

• Hội Liên hiệp Sinh viên Học sinh Giải phóng, chủ tịch Trần Bạch Đằng, phó chủ tịch Lê Văn Thanh, thành lập 24-4-1961

• Hội Liên hiệp Thanh niên Học sinh, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, thành lập 9-1-1961

• Kỳ ủy Đảng Dân chủ Miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, Tổng thư ký Huỳnh Tấn Phát, phó Tổng thư ký Ung Ngọc Kỳ, thành lập 31-1-1961

• Đảng Xã hội Cấp tiến Miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký Nguyễn Văn Hiếu, sau là Nguyễn Văn Tiến, phó Tổng thư ký: Nguyễn Ngọc Thương, ủy viên TW Lê Văn Thà, thành lập 1-7-1961

• Thông tấn xã Giải phóng

• Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (do Bộ tư lệnh Các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy)

• Hội Phụ nữ Giải phóng, chủ tịch Nguyễn Thị Tú (về sau là Nguyễn Thị Định), thành lập 8-3-1961

• Ủy ban Tự trị Dân tộc Tây Nguyên (sau là Phong Trào Các Dân Tộc Tự Trị Tây Nguyên), chủ tịch Ybih Aleo, thành lập 19-5-1961

 

_____

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: