Trần Hoàng Blog

■ Chính Thống và Phi Chính Thống – Hương Khê Nguyễn

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2018

Thật là một tiểu luận xuất sắc nói rõ bản chất của đảng CsVN. Tác giả cho biết đã công bố cuối bài này năm 1995.

 

 

Vũ Thư Hiên đã chia sẻ một bài viết. Tác giả Huong Khe Nguyen

CHÍNH THỐNG VÀ PHI CHÍNH THỐNG – HƯƠNG KHÊ NGUYỄN

(Một bài khảo luận hơi dài, nhưng rất đáng đọc, của Hương Khê Nguyễn (bút danh của một tiến sĩ thật, không phải tiến sĩ mua) viết các đây 23 năm, nhưng vẫn rất thời sự. Các bạn có ý nghiên cứu sự hình thành và tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa sẽ tìm thấy ở đây nhiều nhận định lý thú).

Huong Khe Nguyen

Nhân sự kiện giáo sư Chu Hảo và các bạn mới quen trên FB tăng lên, mình đăng lại 1 bài viết cũ để các bạn tham khảo. Xin lỗi các bạn đã đọc bài này nếu thấy bị làm phiền. Bài đã công bố cuối năm 1995.

Chính thống và Phi chính thống
Nguyễn Thế Việt

I – Khái niệm phi chính thống và chính thống của tư tưởng thuộc phạm trù ý thức hệ.Trước khi xuất hiện mô hình xã hội dân chủ pháp trị,các khái niệm này nhằm phân biệt giữa một bên là tư tưởng thống trị xã hội, được tuyên truyền và bảo vệ bởi cơ chế thống trị hiện hành và một bên khác là tư tưởng đối kháng hoặc khác biệt xuất hiện một cách tự phát hoặc có tổ chức của nhân dân nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ chế chính thống.

Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và cơ chế thích ứng trong lý do tồn tại khởi nguyên của chúng là mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện.Hệ tư tưởng tự thân nó chỉ có tiềm năng làm bùng nổ những cuộc cách mạng xã hội nhằm hiện thực hóa những mục tiêu dự đoán.Tiềm năng này chỉ có cơ sở thực hiện khi nào có một tổ chức xã hội vì nó, nghĩa là phải có một cơ chế thích ứng như là phương tiện để giải quyết những vấn đề xã hội của hệ tư tưởng.

Nói cách khác , hệ tư tưởng tự thân nó sẽ không là gì cả, nếu không được một cơ chế thích ứng quảng bá , thuyết phục hoặc cưỡng bức sự chấp nhận của số đông.Tập hợp lực lượng nhằm giành quyền lực thống trị và chính thống hóa hệ tư tưởng là mục tiêu quan trọng nhất của cơ chế thích ứng trong giai đoạn chuyển tiếp.Để đạt được điều này việc độc tài hóa cơ chế thích ứng, tập trung quyền quyết định đối với số đông trong tay một thiểu số người đặc biệt đã trở thành thông lệ của lịch sử các giai đoạn chuyển tiếp.Khái niệm độc tài nếu chưa bị nhuốm sắc màu chính thống tha hóa thì cũng chỉ nhằm diễn đạt một trong những hình thức thống trị xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp .Đó là hình thức tập trung quyền lực và đề cao trách nhiệm cá nhân trước lịch sử.

Tuy nhiên, cơ chế thích ứng khi đã được định hình thành một tổ chức có quyền lực, thành một thực thể sống thì nó tồn tại với những quy luật nội tại độc lập với ý đồ của các nhà tư tưởng đã sáng lập ra nó.Từ chỗ chỉ là phương tiện của hệ tư tưởng, thực thể sống này tìm mọi cách thích nghi để kéo dài lý do tồn tại của chính nó. Nó trở thành thủ lĩnh quyền uy của hệ tư tưởng.Qúa trình chính thống hóa hệ tư tưởng theo hướng có lợi cho chế dộ độc tài là dấu hiệu phản bội đầu tiên của cơ chế chính thống đối với hệ tư tưởng đã sản sinh ra nó.(1) (2) Những cá thể nhân danh đại diện cho cộng đồng và nắm được trong tay quyền lực vô biên không dễ gì sẵn sàng chấm dứt vị trí quyền lực hấp dẫn kia một khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp.Và thế là họ tìm cách cắt nghĩa sao cho giai đoạn giao thời kéo dài ra vô tận để hợp pháp hóa lý do tồn tại của chế độ độc tài. Đó là lý do vì sao có sự cắt xén và xuyên tạc kinh điển xẩy ra một cách khá phổ biến trong các thời đại lịch sử.
Qúa trình chính thống hóa Khổng Nho theo hướng ngu trung và sự đề cao một cách cực đoan quan hệ huyết thống của các triều đại phong kiến hậu kỳ là những ví dụ điển hình.Những đồ đệ phản bội của chủa nghĩa Mac còn tiến xa hơn là biến ông thủy tổ của mình thành lá chắn cho sự tồn tại phi lý của chế độ độc tài.Hệ tư tưởng và cơ chế thích ứng đến đây đã có sự hoán vị chức năng:chế độ độc tài như là một phương tiện của giai đoạn chuyển tiếp đã được hợp thức hóa thành mục đích và hệ tư tưởng từ chỗ là mục đích đã trở thành phương tiện thuần túy.

Các khuynh hướng phê phán chủ nghĩa Marx mấy thập niên gần đây ở Việt Nam dù khác nhau về phương pháp và trình độ tư duy , khác nhau về xuất phát điểm của “lập trường” và động cơ phê phán nhưng cùng giống nhau trong cách lựa chọn đối tượng phê phán.Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt (chúng tôi sẽ có ý kiến riêng), các khuynh hướng phê phán chủ nghĩa Mác thường lấy việc chỉ trích những sai lầm của cơ chế thích ứng làm dẫn chứng để phán quyết lý do cáo chung của hệ tư tưởng.Xét theo hình thức tư duy, dường như chẳng còn phải nghi ngờ gì nữa một khi cơ chế thích ứng đã không “kham ” nổi hệ tư tưởng thì ắt hẳn là hệ tư tưởng sai.Thực ra, mối liên hệ giữa hệ tư tưởng và cơ chế thích ứng là mối liên hệ nhân qủa nhưng không phải hiểu theo nghĩa giản đơn.Vạch ra được mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau và tính độc lập tương đối giữa hệ tư tưởng và cơ chế thích ứng sẽ là phương pháp tiếp cận khoa học để hiểu đúng qúa trình , lý do nẩy sinh và diệt vong của chúng.

Trên thế giới đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều những công trình khoa học chỉ ra được các mâu thuẫn nội tại trong cấu trúc của hệ tư tưởng Mácxít (3). Nhưng đó lại là một phạm vi khác của đề tài; vấn đề tác giả bài viết này quan tâm là cần phải tìm hiểu vì sao sự độc tôn trở thành một định mệnh không sao tránh khỏi đối với những dân tộc đã trót rơi vào quỹ đạo của hệ tư tưởng Mácxít; mặc dù ngay cả Marx kẻ khai sinh ra học thuyết cũng từng khiêm tốn thừa nhận rằng học thuyết của ông cũng chỉ là một trong những con đường tìm tòi chân lý và cũng có thể sai.

Thực ra mầm mống độc tôn đã có lý do nẩy sinh từ bên trong cấu trúc khép kín và chối từ đối thoại của những nguyên lý vốn được coi là “hòn đá tảng” của chủ nghĩa Mác. Cắt nghĩa tiến bộ xã hội bằng đấu tranh giai cấp; cổ động bạo lực của ” tầng lớp tận cùng của xã hội” đứng lên “đào mồ” chôn những kẻ giàu có ; chưa hết , ông còn cân nhắc thiệt hơn hộ những kẻ “tận cùng”: “Họ chẳng mất gì ngoài xiềng xích quanh mình . Đổi lại họ được cả thế giới” 4). Không còn nghi ngờ gì nữa đó là lý do để các thế hệ môn đồ hậu sinh Marx dựng lên bức màn sắt chính thống để đẩy bất kỳ ai muốn đối thoại nghiêm chỉnh sang hàng ngũ “kẻ thù” để dễ bề đàn áp. Từ chỗ độc tôn ( hệ tư tưởng) sang độc tài ( cơ chế thích ứng) là một mối liên hệ nhân qủa không sao tránh khỏi.

Như trên đã nói, cơ chế thích ứng được sinh ra nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu gần và xa của hệ tư tưởng.Mối liên hệ nhân qủa nguyên thủy đó không cần phải bàn cãi.
Tuy nhiên , khi đã được hoàn thiện như là một bộ máy một thực thể sống thì vì lý do tồn tại của nó, những mối liên hệ nhân qủa mới nẩy sinh: – Mối quan hệ chẳng hạn giữa mục đích xa và quyền lợi sát sườn ,mối quan hệ giữa các cơ chế thích ứng trong cùng một hệ thống ý thức hệ chính thống.( Sự liên minh theo quan hệ phe phái thường thấy trước đây.)…Những mối liên hệ nhân quả “mẹ” này lại sinh ra tiếp những mối liên hệ nhân quả “con” để rồi từ đó bộ máy cai trị dần dần được hoàn thiện theo hướng xa dần chức năng nguyên thủy của nó như một quy luật tất yếu.

Có một câu hỏi tưởng đơn giản mà chưa từng có câu lý giải thỏa đáng.Tại sao thế hệ cộng sản đầu tiên với mục đích lương thiện lại tạo ra một cơ chế chính trị ngày càng bất lương.?Tại sao chính họ lại bị trói chân trói tay bởi cái cơ chế họ tạo ra khi họ còn sống?

Nguyên nhân bao trùm nằm trong đặc thù cấu trúc của cơ chế độc tài, một loại cấu trúc không có đối lập. Trong cơ chế này những kẻ trực tiếp nắm quyền lực vừa có qúa nhiều quyền vượt lên trên luật pháp, lại vừa bị giới hạn tối đa vào những quy định , những “niêm”, “luật” của chính thống.Trong cơ chế đó , một vị tổng bí thư có thể quyết định những vấn đề liên quan đến quyền sinh quyền sát đối với vận mệnh của cộng đồng với điều kiện là quyết định đó phải phù hợp với những thông lệ của chính thống hoặc nhân danh chính thống. Ngoài giới hạn này vị tổng bí thư cũng chỉ là một kẻ bất lực. Lâu nay ta vẫn quen nghe những lối lập luận xét đoán nhân cách cá nhân trong phương pháp phê phán những người lãnh đạo trong hệ thống cộng sản nhưng lại không thấy được rằng cá nhân trong cơ chế cộng sản chỉ được phép “vùng vẫy” trong “cái ao” chật hẹp của chính thống. Nếu ai muốn thoát ra khỏi “cái ao” tù hãm đó mà biểu hiện ra bên ngoài thì đó cũng đồng thời là sự cáo chung vị trí quyền lực của họ trong cơ chế chính thống.

Cơ chế chính trị khép kín này lọai trừ rất tàn bạo những khuynh hướng chính trị có hại hoặc đe dọa sự tồn vong của nó. Ví dụ điển hình là nó rất căm thù cụm từ „xét lại“ hoặc „đa nguyên, đa đảng“. Nó đồng thời cũng căm thù „tiến bộ xã hội“, vì mọi tiến bộ nói chung đều xung khắc một mất một còn với chế độ toàn trị.

Cũng như mọi thực thể sống khác phản xạ tự vệ của cơ chế chính thống rất nhạy cảm trước những “độc tố ” độc hại đối với cơ chế. Bởi vì cơ chế đó đã hoàn thiện được bộ máy giám định để phân định ranh giới giữa chính thống và phi chính thống.Trong cơ chế đó phụ hoạ với chính thống là”ta” khác biệt với chính thống là” địch”. Một công thức giám định ngắn gọn và dễ hiểu.

Chức năng giám định về mặt lý thuyết của cơ chế cộng sản nằm trong tay các trường đảng Mac-Lenin các cấp (Gần đây được đổi tên thành học viện…).

Ban văn hóa tư tưởng chuyên giám định những biểu hiện của chính thống và phi chính thống của tư tưởng trong nội bộ cũng như bên ngoài để hoạch định sách lược đối phó thích ứng. Ngoài ra có vô số những cơ quan chức năng nhằm chính thống hóa hệ tư tưởng trong công chúng như mọi người đã biết.

Dường như ai cũng dễ nhận ra một nghịch lý trớ trêu là những tiêu chí để phân định chính thống và phi chính thống thậm chí ngay cả hệ tư tưởng được coi là chính thống càng ổn định bao nhiêu thì càng tụt hậu xa với tiến bộ xã hội bấy nhiêu.Kinh điển Marx từ một trước tác khoa học được thần thánh hóa lên thành một loại tín ngưỡng của đám đông tai hại chẳng khác gì cái vòng kim cô trên đầu Tôn Hành Giả. Tâm lý nô lệ kinh điển, sợ đối thoại, tự dối mình và lừa người nẩy sinh một cách phổ biến. Các khoa học xã hội phải tồn tại lao đao trong bức màn sắt chính thống. Đó là lý do vì sao trong một cơ chế độc tôn hoàn thiện đến như thế lại thường xuyên phải đối phó vất vả với sự nẩy sinh ngày càng nhiều, càng mạnh của khuynh hướng tư tưởng phi chính thống từ phía những người trung thực và dám có gan chịu trách nhiệm trước chính kiến của mình.

Tuy nhiên việc dị ứng với tiến bộ xã hội của cơ chế chính thống không nên cắt nghĩa giản đơn một chiều vì lý do trí tuệ mặc dù có không ít những sai lầm của cơ chế nẩy sinh từ sự dốt nát ,ấu trĩ của những người cầm quyền.Nếu chỉ vì lý do trí tuệ thì cách khắc phục những sai lầm cũng thật dơn giản , nghĩa là chỉ cần tìm căn nguyên từ lý do nhận thức.Tiếc rằng trên thực tế những bài học lịch sử chua xót thường tái diễn trong hệ thống cộng sản lại không phải có căn nguyên từ lý do nhận thức. Chính vì vậy, sự phê phán hệ thống lý thuyết và cơ chế của hệ thống cộng sản từ phương diện trí tuệ là một cách tiếp cận đúng nhưng chưa đủ. Quả không ít những nhân vật lịch sử có tầm cỡ trong hệ thống cộng sản có đủ phẩm chất trí tuệ để phân định được tiến bộ và phản tiến bộ. Ngay cả những nhân vật đó vẫn cam chịu sự phản bội lại trí tuệ của mình vì sự ràng buộc của hàng loạt những mối liên hệ nhân quả phức tạp khác một khi chiếc ghế chức quyền của họ còn nhân danh chính thống.

2.Chính vì thế sự xuất hiện của khuynh hướng tư tưởng phi chính thống với tư cách là đại diện cho trí tuệ, cho tiến bộ xã hội lại thường bị dập tắt vì lý do chính thống.Các cơ quan chức năng chuyên giám định tư tưởng từng nhân danh chính thống để trừng trị “bọn” gián điệp, tay sai trong nhómNhân Văn -Giai Phẩm(5), trừng trị “bè lũ” “xét lại chống Đảng đứng đầu là Hoàng Minh Chính(6) (7) (8)… Đó là những vụ án tày đình còn kéo dai dẳng đến nay như công luận đã biết. Nhẹ hơn nữa thường là những án quyết về tội lệch lạc tư tưởng hoặc bị bọn xấu lợi dụng thì khó mà kể hết. Những ai đã bị cơ quan chức năng ban cho cái giám định tư tưởng “đen tối” kể trên thì nếu không vào tù ra tội thì suốt đời cũng không bao giờ ngóc đầu lên được. Đó là tiếng sét giữa thanh thiên bạch nhật, giữa trời quang mây tạnh giáng vào đầu những kẻ “ngoan cố”. Đó là cái án chung thân với những bức tường nhà tù hữu hình và vô hình đối với “bọn cặn bã của xã hội”. Quả thật , những ai đã trót mang án” chống Đảng” thời đó thì chẳng khác gì kẻ mắc bệnh hủi giữa cõi người. Người ta lảng tránh bọn “Nhân Văn” , bọn “Xét lại “đã đành , người ta còn ” tởm lợm” , từ chối quan hệ với cả đám con cháu , họ hành ruột thịt của họ. Đó chính là ” sức mạnh vô địch” của chính thống trong bức tranh xã hội đen tối của chế độ cộng sản trong những thập niên trước.

Trong bối cảnh đen tối đó, dường như là một nghịch lý, khuynh hướng tư tưởng phi chính thống không những không bị dập tắt vì bạo lực và quyền uy mà lại ngày càng sinh sôi nảy nở.Bọn” ương bướng gàn dở “theo nhãn quan của chính thống cứ vẫn xuất hiện và”chọc gậy” vào “bánh xe lịch sử”.Từ một Phùng Quán ngạo nghễ đòi “khắc văn trên đá”…đến một Việt Phương dám dỡn mặt với chính thống”:Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ.Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”…và sau này là hàng loạt văn nghệ sĩ phản kháng… chứng minh rằng lịch sử đã không lười biếng như những thói quen nô dịch tư tưởng.Những tiên đoáncủa các nhà nghiên cứu khoa học như Hà Sĩ Phu , Hoàng Ngọc Hiến , Trần Quốc Vượng, Nguyễn Kiến Giang, Lữ Phương ,…đã và đang trở thành hiện thực.Không còn nghi ngờ gì nữa , mặc dù thường xuyên bị cơ chế chính thống đàn áp , khủng bố, tư tưởng phi chính thống đang từng bước được chính thống hóa trong lòng xã hội Việt Nam ngoài ý muốn của những kẻ cầm quyền bảo thủ , ngoan cố.

3 – Nếu như vào những thập niên 50 , 60 việc nhân danh chính thống để đàn áp và thủ tiêu triệt để tư tưởng đối lập của cơ chế thống trị ở miền Bắc Việt Nam diễn ra khá dễ dàng suôn sẻ thì sau năm 75 tình hình lại không còn xẩy ra một cách đơn giản như thế nữa.Lẽ ra sau chiến thắng bằng bạo lực , cơ chế chính thống càng dễ dàng phô trương thanh thế của mình trong một đất nước không còn đối lập. Nhà cầm quyền đang thắng thế đã lặp lại phương pháp bạo lực trong việc chính thống hoá tư tưởng, nhưng lần này phương pháp bạo lực đã không giúp họ gặp may một lần nữa.Vô hiệu hóa sự tồn tại của hàng trăm ngàn tướng lãnh và công chức của chế độ cũ bằng lao động khổ sai và nhà tù là điều chẳng mấy khó khăn đối với kẻ thắng trận trang bị đầy vũ khí với kẻ bại trận trắng tay sau năm 1975. Tuy nhiên việc vô hiệu hóa những di sản văn hóa , những giá trị tinh thần của kẻ chiến bại lại không thể cũng đơn giản như thế. Trên lĩnh vực này phương pháp bạo lực thô lỗ đã không đạt được mấy hiệu qủa khả quan. Sau những vụ truy cướp, thiêu hủy hàng trăm tấn sách vở, băng hình ( trong đó có không ít những tuyệt tác nghệ thuật, những biên khảo khoa học có giá trị…) mà kẻ thắng trận kiêu ngạo đặt tên cho là sản phẩm văn hóa đồi trụy, cơ chế chính thống vẫn không thực hiện nổi chiến lược diệt trừ tận gốc tư tưởng đối lập. Sự tha hóa của đại bộ phận công chức , tướng lãnh thắng trận trước những cám dỗ của cái gọi là lối sống xa hoa trụy lạc ở các thành phố lớn sau năm 1975 là dấu hiệu của những bước lùi, những thất bại rõ rệt của lối sống khắc kỷ cộng sản. Chỉ sau một thời gian ngắn , những người dân miền Bắc không những chỉ quen xài tivi , tủ lạnh , xe máy , nhà lầu, mà còn thích xài cả “nhạc ngụy” , “phim Mỹ, Hồng Kông…”.Sự thay đổi lối sống sớm hay muộn sẽ kéo theo sự chuyển hóa tâm lý xã hội và ý thức hệ.

4 – Sau sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô cũ , một mắt xích quan trọng trong những mối liên hệ nhân qủa của cơ chế thích ứng đã bị phá vỡ.Đó là mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau trong các cơ chế chính thống cùng hệ thống cộng sản.Mối quan hệ Việt -Trung “môi hở răng lạnh ” đã được kết liễu trước đó bằng một cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu. Sự kết thúc vai trò chính thống của chế độ độc đảng ở Đông Âu và Liên Xô cũ đã chấm dứt thời kỳ được nuôi dưỡng bằng viện trợ để rồi lệ thuộc về chính trị trước đây của cơ chế thống trị hiện hành ở Việt Nam.Trong cái rủi, nhà cầm quyền đã tìm được cơ may: Từ nay họ không còn bị phụ thuộc vào chính thống với tư cách là một hệ thống cơ chế thích ứng và ràng buộc lẫn nhau như trước.Khó khăn mới của họ là sự lựa chọn giữa một bên là làm thế nào để tiếp tục giữ vai trò chính thống của cơ chế một khi lý do tồn tại của nó đã cáo chung và một bên là sư mạnh dạn đoạn tuyêt với chính thống để đứng hẳn về phía tiến bộ xã hội như là một xu thế thế giới mới.

Trong bước ngoặt lịch sử đó sự lựa chọn con đường “leo dây” nước đôi của cơ chế hiện hành là một kiểu lựa chọn dễ hiểu.Một mặt cơ chế chính thống vẫn tiếp tục phô trương nhân danh chính thống để dằn mặt khuynh hướng tư tưởng phi chính thống.Mặt khác họ âm thầm quay lưng lại với chính thống trên nhiều lĩnh vực , nhất là trên lĩnh vực kinh tế và ngoại giao nhằm bằng mọi giá thích ứng để tồn tại.Tuy nhiên đây là một kiểu thích ứng không sòng phẳng nên họ đã và đang bị những sự phản kháng chính đáng từ phía phi chính thống.Khác với mức độ của nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm và các xu hướng phản kháng trước đây, khuynh hướng tư tưởng phi chính thống hiện nay không dừng lại ở mức độ phê phán những biểu hiện tiêu cực hoặc tha hóa của cơ chế mà là tấn công thẳng vào bản chất bất hợp hiến của chế độ độc tài và độc tôn.Về văn học nghệ thuật, những tác phẩm của nữ văn sĩ đảng viên cộng sản Dương Thu Hương đã vạch trần sự sụp đổ tất yếu của ý thức hệ và cơ chế độc tài cộng sản ( Xem: Những thiên đường mù, Tiểu thuyết vô đề) , những nhà văn tài năng như Nguyễn Huy Thiệp , Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… mỗi người một cách khác nhau đã góp phần hạ bệ thần tượng chính thống.Nhà hoạt động chính trị, nhân vật giữ chức vụ cao trong đảng cộng sản Trần Xuân Bách đã chính thức công bố tham luận từ bỏ lề lối cai trị độc tài để tiến tới một xã hội dân chủ đa nguyên.Nhà nghiên cứu khoa học mang bút danh Hà Sĩ Phu đã công bố chuyền tay bài báo nổi tiếng :”Cùng dẫn dắt nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”.Có thể coi bài báo này như là một sự tấn công triệt để về phương diện lý luận đối với chính thống.Trước tình hình đó các nhà lãnh đạo đã nhận ra một nguy cơ không dễ dập tắt bằng vũ lực kết hợp với vu khống như giai đoạn trước đây, đó là nguy cơ của qúa trình chính thống hóa những tư tưởng phi chính thốngđang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên đất nước này, đặc biệt là sau sự mở cửa bang giao kinh tế với những nước vốn có quan hệ thù địch về ý thức hệ từ khi Mỹ bỏ cấm vận.

So với những thập niên trước ,những án quyết của cơ quan chức năng nhân danh chính thống để chụp mũ những ai khác chính kiến hiện nay đã không tìm được sự đồng thuận của công chúng và của ngay những đảng viên trung thực trong bộ máy lãnh đạo của đảng cộng sản.Sự xuất hiện của những Nguyễn Trung Thành(7) , Đỗ Trung Hiếu(9), Lê Hồng Hà(8)… đã báo hiệu sự cần thiết phải chấm dứt lối chụp mũ với những ý đồ chính trị đen tối nhưng lại nhân danh công lý , nhân danh chính thống.Câu đồng thanh của các cháu thiếu niên :”Chúng cháu lạy bác Chính ạ” lúc ông Hoàng Minh Chính bị bắt gần đây là một cách tỏ thái độ của công chúng đối với những thủ đoạn bạo lực phi lý của cơ chế.(10)

Dường như là một nghịch lý, khi chính quyền hiện hành quay lưng lại với chính thống, trên nhiều bình diện họ đã đồng hóa và thích nghi dần những quan điểm then chốt của khuynh hướng tư tưởng phi chính thống.Từ chiến lược ngoại giao không phân biệt ranh giới ý thức hệ đến việc thừa nhận những quy luật của kinh tế thị trường, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế cá thể và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì rõ ràng là những nguyên tắc kinh điển chính thống đã bị vô hiệu hóa. Tuy nhiên , càng xích lại gần những quan điểm chính trị của khuynh hướng tư tưởng phi chính thống,nhà cầm quyền hiện hành càng tìm mọi thủ đoạn đàn áp , chụp mũ những ai công khai thể hiện chính kiến ủng hộ phi chính thống(11) (8) (9).Đó là một nghịch lý dễ hiểu. Nếu chịu khó quan sát sự thể hiện có tính đồng bộ đó trên các phương tiện truyền thông chính thống , ta sẽ thấy đi đôi với việc tưởng tượng ra kẻ thù đang dùng thủ đoạn diễn biến hòa bình là chiến dịch dằn mặt khuynh hướng công khai dân chủ.Việc đẩy những đảng viên trung kiên của đảng cộng sản trước đây sang hàng ngũ” kẻ thù” vào những thập niên 50, 60 lại tiếp tục tái diễn.Trong đơn khiếu nại gần đây ( 18-7-1995) ông Lê Hồng Hà đã vạch trần sự gian manh ” lừa dối Đảng” của những kẻ thủ phạm và đồng lõa nhân danh Đảng để trù dập một cách oan ức các đồng chí của mình trước đây cũng như hiện nay.(8)Đến đây tác giả bài viết thấy cần nhắc lại một so sánh thú vị của ông Hà Sỹ Phu:” Tôi hình dung ra một cảnh tượng như sau: Cả đoàn người đang đi trên một con đường lớn gập gềnh thì một tốp người tách ra, đi quay trở lại, vào rừng tìm hướng đi mới, vì nghe nói phía ấy có ” rừng mơ” bạt ngàn.Tốp này tuyên bố ly khai thành một phe riêng , thách thức “ai thắng ai”, vì tin rằng mình có sứ mệnh phá con đường cũ để mọi người phải giác ngộ mà đi cả về phía”rừng mơ”.Nhưng đường mới càng đi càng mờ mịt, càng đi về miền hoang vu. Biết mình lầm đường , những người “da trắng” trong tốp ly khai này bảo nhau làm động tác”Đằng sau quay” để trở lại đường cũ, và đương nhiên phải chấp nhận sự”xáo trộn” là người đi đầu trở thành người đi cuối.Nhóm “da vàng ” của tốp “ly khai” không chấp nhận sự xáo trộn ấy , ban lãnh đạo nhóm nghĩ ra một kế: cứ coi như đường vẫn đúng, phải giữ hàng ngũ và tiếp tục đi”thẳng” nhưng mỗi ngày lượn cong thêm một chút, cuối cùng quỹ đạo vẫn thành vòng tròn, vẫn trở về đường cũ mà không cần “đằng sau quay”.(12)

Tuy nhiên, cơ chế chính thống như trên đã nói, chỉ phân hóa theo nguyên tắc: Ai có nguy cơ cho sự tồn vong của nó , ngay tức khắc bị các đối thủ chính trị phò chính thống loại bỏ.Theo thông lệ này, những người đảng viên trung kiên với lý tường vì dân, những người cộng sản lý tưởng sẽ bị triệt tiêu, hoặc trói chân trói tay vô hiệu hóa.Để cuối cùng cơ chế chính trị chỉ còn những kẻ cầm quyền, vì lợi ích sống còn của thể chế sẽ phản bội nhân dân một cách triệt để như một quy luật khó có thể đảo ngược.Chính thống chính trị sẽ bị xuyên tạc theo hướng có lợi của thể chế, của chế độ toàn trị.Nhân dân từ chỗ là mục đích tối thượng, trở thành con bò sữa cho thể chế chính trị vắt cạn kiệt.Sức mạnh tàn độc của thể chế chính trị bây giờ chỉ còn dựa vào súng đạn, và chính thống chính trị đã bị xuyên tạc đến mức đáng xâu hổ và bị đánh tráo ăn cắp khái niệm.Tât cả các câu trong văn kiện của thể chế chính trị có cụm từ „đảng“ và „ dân“ chỉ cần hoán chuyên vị trí là sự thật được trả về đúng nghĩa của nó.( Vị dụ : Quân đội „nhân dân“ thành quân đội của „đảng“.Vì „nhân dân“ quên mình thực chất là „vì đảng“ quên mình.vv..và vv)

Như thế là đã rõ.Con đường đi đến văn minh không thuần túy chỉ cần trí tuệ. Những lý do đối đầu về ý thức hệ được thổi phồng lên một cách muộn mằn như đã thấy hiện nay của cơ chế chính thống không che giấu nổi thực chất bên trong của vấn đề.Điều đáng nói hơn là trong nhận thức của nhân dân và những thành phần cấp tiến trong bộ máy cầm quyền.Điều đáng nói hơn là khuynh hướng tư tưởng phi chính thống đang thâm nhập dưới nhiều hình thức phong phú và đang dần dần được chính thống hóa về phương diện nhận thức cũng như thực tiễn.Nỗi sợ hãi và cam chịu của nhân dân sẽ mất đi khi nào họ có một chỗ dựa mới, một quan niệm mới về tiến bộ xã hội.Đó cũng đồng thời là thời cơ cho sự thay đổi triệt để , sự chuyển hóa toàn diện của tư duy mới từ vị trí phi chính thống trở thành „chính thống“.

Chú thích:1 – Tôi là bác sỹ riêng của Mao. – Lý Thế Túy – (Trung Quốc).Thiện Chí từ số 26 -(3-1995).

2 – Tờ trình bí mật của Krupsep về Stalin.Tủ sách nghiên cứu 1994

3 – Điều đáng chú ý là những công trình nghiên cứu về lý do cáo chung của chủ nghĩa cộng sản đáng quan tâm gần đây lại xuất hiện ở Đông Âu và Liên Xô cũ là nơi trước đây không lâu giới trí thức dường như câm lặng.Cắt nghĩa hiện tượng này nhà nghiên cứu Mihajlo Mihajlov có bài báo nổi tiếng”Tại sao chúng ta lại câm lặng?”.Phan Tấn Hải chuyển ngữ.Hợp Lưu1số11 – tháng 6&7-1993.

4 – Tuyên ngôn đảng cộng sản.K.Marx-F.Engels.

5 – Der Prozess “Nhân văn -Giai phẩm”…Vietnam forum N2 und 3 Dezember1994 – Februar 1995.

– Những hồi tưởng của một nhân chứng.16- 8/95.Hy Vọng.

6 – “Vụ án xét lại chống đảng…”Trần Minh Nguyễn Thị Xuân Hòa – Hoàng Trọng Nghĩa. Thiện Chí số 27-28-1995.

7 – Cuộc gặp mặt giữa Nguyễn Trung Thành và Đỗ Mười.Thiện chí số 32/9-1995.

8 – Tài liệu về vụ “xét lại chống Đảng”.Đơn khiếu nại của ông Lê Hồng Hà.Thông luận 86 – Tháng 10-1995.

9 – Thống nhất phật giáo Việt Nam – Đỗ Trung Hiếu – Quê Mẹ – số 133-Tháng 5&6 1995.

10- Vụ án Hoàng Minh Chính đi về đâu ? (Thiện Tâm) – Kèm theo “Quyết định khởi tố bị can.”( Đại tá Phạm Chuyên ký).!6-8-95 Hy Vọng.

11 – Nguyễn Hộ -Tình yêu và cuộc sống.

12 – Đôi điều suy nghĩ của một công dân – Hà Sỹ Phu.

_______

Trần Hoàng bổ sung:

Giao Hoi Phat Giao Viet Nam 1981

Ông Ðỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, trước năm 1975 làm Trưởng ban Trí Trẻ (vận động trí thức, sinh viên, học sinh) khu Saigon – Gia Ðịnh công tác dưới quyền Trần Bạch Ðằng. Sau năm 1975, ông được Trung ương Ðảng qua các ông Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn trực tiếp giao phó nhiệm vụ “thống nhất Phật giáo” đưa tới việc ra đời của tổ chức “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Năm 1979, ông Xuân Thủy, người cầm đầu Phái đoàn Hà Nội tại Hòa hội Paris đầu thập niên 70, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Tổ quốc Trung ương, đã triệu ông Hiếu ra Hà Nội giao phó ông Hiếu chức Chính ủy của Ðoàn công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam. Ông chính là kiến trúc sư của Giáo hội Phật giáo Nhà nước ngày nay.

Năm 1994, thấy rõ những sai lầm của Ðảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong chính sách đối với Phật giáo. Ông viết một tài liệu sám hối mang tựa đề “Thống nhất Phật giáo Việt Nam” 50 trang đánh máy (xem toàn văn trong Tạp chí Quê Mẹ số 133, tháng 5 & 6, 1995) phát hành vào đúng Phật Ðản năm ấy. Ông tố cáo công cuộc “thống nhất Phật giáo” tại Chùa Quán Sứ ngày 4.11.1981. Vì sự tiết lộ này, ông bị bắt và bị 18 tháng tù giam. Chúng tôi xin trích đăng vài đoạn nói về thực chất cuộc “thống nhất” này:

“Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. Còn thấp hơn hội đoàn, vì chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên mà không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (…) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội (…) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội”.

(…) “Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Ðại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Ðảng”.

(…) “Cuộc thống nhất Phật giáo lần này BÊN NGOÀI DO CÁC HÒA THƯỢNG GÁNH VÁC, NHƯNG BÊN TRONG BÀN TAY ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM XUYÊN SUỐT QUÁ TRÌNH THỐNG NHẤT ÐỂ NẮM VÀ BIẾN TƯỚNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRỞ THÀNH MỘT TỔ CHỨC BÙ NHÌN CỦA ÐẢNG”.

“Thống nhất Phật giáo Việt Nam”

Mùa Phật Ðản 2538 (1994)

ÐỖ TRUNG HIẾU

>>http://www.ghpgvntn.net/thu-vien/thong-nhat-phat-giao/

____

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: