Trần Hoàng Blog

►Bộ Giáo dục nên dừng o bế Giáo sư Đại, chấm dứt lấy ngân sách làm sách giáo khoa

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2018

 

 

 

 

Giáo dục

HỒNG THỦY 

(GDVN) – Giáo sư Hồ Ngọc Đại và cộng sự dùng ngân sách làm đề tài nghiên cứu, kết quả của nó thuộc sở hữu nhà nước. Tiền bán sách có phải thu hồi nộp ngân sách?

Trong bài viết trước, chúng tôi đã phân tích vai trò “sân sau, sân trước” của Vụ Giáo dục tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc giúp Giáo sư Hồ Ngọc Đại triển khai thí điểm các tài liệu công nghệ giáo dục  mà ông dẫn đầu nghiên cứu.

Tiếp theo, chúng tôi xin được phân tích những ưu ái bất thường của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho Giáo sư Hồ Ngọc Đại, dẫn đến những bất công với các nhà khoa học khác.

Tiền tỷ bán sách đi về đâu?

Trong một cuộc phỏng vấn về Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục, biên tập viên truyền hình Thông tấn xã Việt Nam đặt câu hỏi với Giáo sư Hồ Ngọc Đại, rằng: 

“Xin hỏi một câu là thầy có nhận tiền bản quyền tác giả không?”

Ảnh chụp màn hình phóng sự của đài VTV9 về Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Giáo sư Hồ Ngọc Đại trả lời:

“Từ hôm làm việc với anh Luận thì tôi tặng cho Bộ đấy, Bộ muốn làm gì thì làm. Bởi vì thế này này, khi Bộ nắm bản quyền của sách này, nắm chắc thì Bộ có thể mạnh tay hơn.

Nói miệng với nhau, thân tình, nhưng sau đó có làm thủ tục, và tôi phải làm giấy cam đoan là tôi biếu không.

Thực ra là thế này, lợi ích của mình là cái gì? Là trẻ con. Lợi ích của trẻ con là hạnh phúc lớn nhất mà không gì hơn.” [1]

Theo lẽ thường, đã “tặng” cho Bộ Giáo dục và Đào tạo “muốn làm gì thì làm”, thì Giáo sư Hồ Ngọc Đại có nên cho phép mọc ra một công ty tư nhân chuyên bán Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục và các tài liệu kèm theo khác cho học sinh?

Đã “tặng” cho Bộ Giáo dục và Đào tạo rồi, thì tiền bán sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục có được nộp vào ngân sách?

3 cuốn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục có giá tổng cộng 35.500 đồng. Nhưng Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đang giới thiệu 1 bộ “trọn gói” đến cha mẹ học sinh thông qua các sở, phòng và nhà trường có giá tổng cộng 472.000 đồng.

Nhân với 800 ngàn học sinh đang học tài liệu công nghệ giáo dục, thì doanh thu cao nhất có thể lên tới 377,6 tỷ đồng mỗi năm.

Tất cả chảy về Công ty Cổ phần đầu tư phát triển trường trung học phổ thông công nghệ giáo dục như hướng dẫn của một công văn Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển ký.

Có quan chức, cựu quan chức nào của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục tiểu học hay người thân của họ đang nắm cổ phần hoặc hưởng lợi tức từ công ty này không?

Ngộ nhận về sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân

Giáo sư tự hào khoe lách luật, cả ngành phục vụ nhóm người bán sách đánh vần lạ

Theo công văn số 296/GDTH ngày 5/7/2016 do Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học Tạ Ngọc Trí ký, gửi Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phối hợp cung cấp thông tin cho Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, thì:

Trước năm 2000, Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục là sản phẩm của 1 đề tài cấp nhà nước do Giáo sư Hồ Ngọc Đại làm chủ nhiệm nghiệm thu năm 1991, và 1 đề tài cấp bộ, do Phó giáo sư Nguyễn Kế Hào làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 1994.

Sau năm 2000, Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục tiếp tục được hoàn thiện thông qua 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 1 do Giáo sư Hồ Ngọc Đại làm chủ nhiệm, bảo vệ năm 2001;

Đề tài thứ 2 do Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Ngọc Riệp làm chủ nhiệm; Đề tài thứ 3 do Tiến sĩ Lê Văn Hồng làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2006.

Tất cả các đề tài nghiên cứu khoa học này đều sử dụng ngân sách nhà nước.

Cho nên, theo Điều 26, Luật Khoa học và Công nghệ (số 21/200/QH10) hay Điều 41 Luật Khoa học và Công nghệ (số 29/2013/QH13) đều xác định rõ:

Nhà nước là chủ sở hữu của các đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng ngân sách nhà nước.

Cụ thể, Điều 41 Luật Khoa học và Công nghệ hiện hành, quy định:

1. Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

2. Đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước thì đại diện chủ sở hữu nhà nước được quy định như sau:

a) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia;

b) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở do mình phê duyệt;

Học sinh lớp 1 vùng Đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn với Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục, theo phản ánh của VTV 9. Ảnh chụp màn hình.

c) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức không thuộc quy định tại điểm a và điểm b của khoản này là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình quyết định phê duyệt.

3. Đại diện chủ sở hữu nhà nước quy định tại khoản 2 Điều này có quyền xét giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Như vậy, có thể hiểu Bộ Giáo dục và Đào tạo là chủ sở hữu các đề tài nói trên cũng như kết quả của nó – Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục chứ không phải Giáo sư Hồ Ngọc Đại.

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khi tại chức là đại diện chủ sở hữu của Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục.

Do đó, phải chăng tuyên bố của Giáo sư Hồ Ngọc Đại rằng ông tặng công trình này (Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục) cho Bộ Giáo dục và Đào tạo là một sự ngộ nhận?

Đó là còn chưa kể đến, Công ty Cổ phần đầu tư phát triển trường trung học phổ thông công nghệ giáo dục đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học sử dụng ngân sách nhà nước hay chưa?

Nếu chưa, thì những khoản thu có được từ bán sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục có phải nộp lại ngân sách nhà nước không?

Do đó chúng tôi thiết nghĩ, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay nên trao đổi rõ với Giáo sư Hồ Ngọc Đại về việc này, đâu là sở hữu nhà nước, đâu là sở hữu tư nhân, đâu là việc công, đâu là chuyện tư, để tránh tạo ra những bức xúc không đáng có, trước hết là cho chính Giáo sư như đã từng xảy ra.

Vụ Tiểu học có phải sân sau của Giáo sư Đại, ai cứu học sinh thoát thí điểm?

Bàn về số phận của Trung tâm Công nghệ giáo dục, Trường Thực nghiệm công nghệ giáo dục trong Diễn từ nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh 2009, Giáo sư Hồ Ngọc Đại từng phải cảm khái thốt lên:

“Năm 2008, giữa tháng 5, đùng một cái, một Quyết định hành chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long ký, đã ngay lập tức lấy đi tất cả, lấy đi Trường Thực nghiệm, lấy đi sổ đỏ, lấy đi cả tên gọi, lấy đi cả con dấu, lấy đi cả tài khoản, lấy sạch cả từng đồng tiền mặt trong két.”

Nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo không lên tiếng giải thích rõ ràng về việc này, dư luận sẽ nghĩ như thế nào về hành động mà Giáo sư Hồ Ngọc Đại gọi là “lấy đi tất cả…lấy sạch cả từng đồng tiền mặt trong két”?

Truyền thông lâu nay vẫn gọi Giáo sư Hồ Ngọc Đại là người sáng lập Trường Thực nghiệm, nhưng cơ sở vật chất của nó là do ngân sách đầu tư hay Giáo sư bỏ tiền túi ra làm?

Nếu Giáo sư và Nhà nước cùng làm, thì tỉ lệ góp vốn mỗi bên là bao nhiêu?

Còn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục là sản phẩm các đề tài nghiên cứu dùng tiền thuế của dân thì đã rõ.

Bộ Giáo dục nên dừng o bế Giáo sư Hồ Ngọc Đại, chấm dứt dùng ngân sách viết sách giáo khoa

Chúng tôi buộc phải dùng từ “o bế”, bởi không biết dùng từ nào để diễn đạt việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dùng ngân sách nhà nước hỗ trợ Giáo sư Hồ Ngọc Đại cùng cộng sự nghiên cứu hết đề tài này đến đề tài khác;

Bộ trưởng, Thứ trưởng thì giúp Giáo sư “lách luật” bằng 2 từ “thí điểm”; Vụ trưởng, Vụ phó và các chuyên viên Vụ Giáo dục tiểu học thì cúc cung tận tụy theo Giáo sư xuống các tỉnh để tập huấn “giáo viên cốt cán”;

Miếng bánh sách giáo khoa và thế chân vạc “chia ba thiên hạ”

Vụ Giáo dục tiểu học đã đưa Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục vào Dự án VNEN, thiết lập hệ thống phân phối độc quyền và khép kín bằng công văn, ngành dọc.

Có lẽ chưa có một nhà khoa học giáo dục nào hay một nhóm nhà khoa học nào được hưởng những đặc ân như thế từ số 35 Đại Cồ Việt.

Nhưng cũng chính cách làm này, đã góp phần tạo ra một nhóm lợi ích bán tài liệu sử dụng như sách giáo khoa cùng các sản phẩm ăn theo;

Thời ông Ngô Trần Ái còn làm Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng thành viên hay kể cả khi chỉ còn là cố vấn cấp cao của Nhà xuất bản Giáo dục, 3 nhóm tồn tại đồng thời, nước sông không phạm nước giếng.

Sách giáo khoa 2000 thì vẫn đi đường chính ngạch, học sinh có thể mua ở bất kỳ hiệu sách nào. Sách công nghệ giáo dục và sách VNEN thì đi qua đường dự án, có kênh phân phối riêng.

Không chỉ Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục bán lạc kèm biaVNEN bán sách học “đắt sắt ra miếng”, mà ngay cả sách giáo khoa 2000 cũng thường kèm sách tham khảo, sách bài tập, sách nâng cao, đặc biệt là các sách luyện thi, hướng dẫn ôn tập của quan chức các vụ chuyên môn của Bộ.

Trong cuộc cạnh tranh miếng bánh thị trường này, nếu công nghệ giáo dục và VNEN càng phát triển thì thị phần của sách 2000 càng thu hẹp. Nhưng tất cả đều dưới trướng Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Có điều, người mất nhiều nhất là dân nghèo. Bởi họ phải bỏ những đồng tiền mồ hôi nước mắt để mua những cuốn vở sử dụng một lần, cả những “tài liệu tương đương sách giáo khoa” dùng xong rồi bỏ.

Con em họ bị thí điểm mà không hay biết, bản thân họ phải bỏ tiền mua rất nhiều sách vở sử dụng một lần (cả sách 2000, sách VNEN hay công nghệ giáo dục đều có), tốn rất nhiều tiền và lãng phí kinh khủng.

Vì vậy chúng tôi thiết nghĩ, cần dừng ngay việc dùng tiền ngân sách, tức tiền thuế của nhân dân đóng góp để viết sách giáo khoa.

Còn làm thế nào không tốn ngân sách mà vẫn có nhiều bộ sách tốt, cạnh tranh lành mạnh với nhau để ngày càng nâng cao chất lượng, chúng tôi xin trở lại trong một bài viết khác.

Nguồn:

[1]https://www.youtube.com/watch?v=9U3yqMZhb3g

________

 

Vụ Tiểu học có phải sân sau của Giáo sư Đại, ai cứu học sinh thoát thí điểm?

(GDVN) – Giáo sư Phạm Vũ Luận, Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển chịu trách nhiệm chính về việc thí điểm lan tràn để “lách luật”, Vụ Giáo dục tiểu học là đơn vị triển khai.

Trong bài viết trước, Giáo sư tự hào khoe lách luật, cả ngành phục vụ nhóm người bán sách đánh vần lạ, chúng tôi đã nhắc lại vai trò của (nguyên) Bộ trưởng Phạm Vũ Luận;

Ông Luận được cho là đã bỏ 50 triệu đồng thuê luật sư tư vấn việc “lách luật” triển khai đại trà Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục, theo những gì Giáo sư Hồ Ngọc Đại kể trên truyền thông ít nhất 3 lần.

Sự đỡ đầu của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khi đó, bất chấp quy định của Điều 29 Luật Giáo dục hiện hành, đã khiến việc thí điểm nhanh chóng lan rộng ra 49 tỉnh thành hiện nay, với hơn 800 ngàn học sinh bị thí điểm.

Do đó có thể đặt vấn đề, Giáo sư Phạm Vũ Luận sẽ phải chịu trách nhiệm chính về việc đem hàng trăm ngàn học sinh ra thí điểm một tài liệu chưa được thẩm định về tính pháp lý của việc sử dụng như sách giáo khoa.

Ngày 21/9/2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận, Giáo sư Hồ Ngọc Đại, Tổng giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Ngô Trần Ái cắt băng Khai trương Trung tâm Công nghệ giáo dục thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. (Ảnh: gdtd.vn)

Ông Phạm Vũ Luận đã trở về Đại học Thương mại thực hiện công việc giảng dạy của một giáo sư, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ kế nhiệm, sẽ kế thừa trách nhiệm với hơn 800 ngàn học sinh này, cũng như hàng trăm ngàn học sinh bị thí điểm mô hình VNEN.

Tuy nhiên, nguyên Bộ trưởng Phạm Vũ Luận và nguyên Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển khi còn tại vị, chủ yếu chống lưng cho Giáo sư Hồ Ngọc Đại về mặt pháp lý bằng cách “lách luật”, theo chính lời Giáo sư.

Còn việc triển khai đại trà và ồ ạt “tài liệu thí điểm” này, vai trò chủ yếu thuộc về Vụ Giáo dục tiểu học.

Vụ Giáo dục tiểu học – sân nhà / sân sau của Giáo sư Hồ Ngọc Đại?

Năm 2001, Tiến sĩ Nguyễn Kế Hào – Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học đệ đơn xin từ chức để phản đối chương trình cải cách giáo dục mới (chương trình 2000). Báo Tuổi trẻ đã phỏng vấn ông:

Thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng vì ông là một trong những tác giả của chương trình công nghệ giáo dục nên không muốn ủng hộ chương trình tiểu học mới?

Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Kế Hào cho hay:

“Tôi có thể tự tin khẳng định rằng những gì mình làm đều không vì một động cơ nào hết. Nếu nghĩ đến bản thân tôi đã không từ chức.

Vì không thể nhắm mắt bỏ qua, chấp nhận được những sai sót của chương trình tiểu học mới, tôi phải lên tiếng.

Tôi cũng muốn kiến nghị như một người làm quản lý, một nhà khoa học, nhưng ý kiến không được để ý nên phải lựa chọn cách này, để mình được đứng về phía quyền lợi của hàng triệu học sinh, của phụ huynh mà phát biểu.

Tôi cũng tin rằng khi đã nói để dân biết thì có thể thay đổi được vì dân trí bây giờ đã khác, cao hơn, xã hội dân chủ hơn, không dễ gì buộc người dân phải chấp nhận một sản phẩm chưa đạt.

Không thể chỉ dùng những quyết định để biến mọi thứ thành chuyện đã rồi.” [1]

Thẩm định Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục chỉ để hợp pháp hóa việc “lách luật”?

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Kế Hào về chương trình, sách giáo khoa 2000. Thực tiễn đã chứng minh ông đúng.

Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến việc triển khai công nghệ giáo dục (thu hẹp trong tài liệu Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục) một cách cưỡng bách;

Hệ lụy là 800 ngàn học sinh hiện nay bị thí điểm mà cha mẹ chúng không hay biết, hàng trăm tỷ đồng mỗi năm đã chảy từ túi người dân lao động vào công ty bán sách.

Công văn số 296/GDTH ngày 5/7/2018 của Vụ Giáo dục tiểu học phúc đáp công văn số 645/VP-TTTTGD của văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo, về phối hợp cung cấp thông tin cho Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, cho biết:

Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Kế Hào là chủ nhiệm đề tài “Chuyển giao công nghệ giáo dục bậc tiểu học”, nghiệm thu năm 1994.

Và sau khi Trung tâm Công nghệ giáo dục thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được thành lập năm 2012, ông trở thành Phó giám đốc Trung tâm giúp Giáo sư Hồ Ngọc Đại. [2]

2 đời Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học sau này là ông Lê Tiến Thành, ông Phạm Ngọc Định đều là người đóng vai trò chủ chốt trong việc chèn Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục vào dự án VNEN, để nó nhanh chóng được triển khai (cưỡng bức) ra cả nước.

Ông Lê Tiến Thành khi nghỉ hưu, làm Hiệu trưởng Hệ thống giáo dục CGD Victory, trường (tư thục) thực nghiệm thứ 3 do Giáo sư Hồ Ngọc Đại sáng lập. [3]

Nguyên Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học Trần Thị Thắm khi còn tại chức thường xuyên đảm nhiệm vai trò tổ chức về các tỉnh tập huấn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục cho “giáo viên cốt cán” giúp Giáo sư Hồ Ngọc Đại. [4]

Chuyên viên Vụ Giáo dục tiểu học – Tiến sĩ Ngô Hiền Tuyên, chuyên viên chính Vụ Giáo dục tiểu học Trần Hải Toàn đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai tập huấn, kiểm tra đốc thúc dạy Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục của Giáo sư Hồ Ngọc Đại về các tỉnh. [5] [6]

Bà Trần Thị Thắm – Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học trong một chuyến công tác Điện Biên năm 2014 thăm cơ sở triển khai mô hình VNEN, những trường này phải dùng Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục. Ảnh: dienbien.edu.vn.

Bà Ngô Hiền Tuyên và ông Trần Hải Toàn là đồng tác giả 3 đầu vở bài tập Em tập viết lớp 1 Công nghệ giáo dục trong cái gọi là “danh mục sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục” của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. [7]

Vấn đề chúng tôi xin đặt thẳng ra đây mong nhận được phản hồi từ Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Có hay không việc các cán bộ, chuyên viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các đơn vị trực thuộc, nhất là Vụ Giáo dục tiểu học đương chức hay nghỉ hưu, hoặc có người thân hưởng lợi từ việc bán “sách giáo khoa công nghệ giáo dục”?

Chẳng phải ngẫu nhiên Phó vụ trưởng Tạ Ngọc Trí khẳng định với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam:

“Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.”

Còn Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, Chủ biên môn Tiếng Việt – Ngữ văn từ lớp 2 đến lớp 9 của Chương trình 2000, Tổng chủ biên chương trình phổ thông tổng thể mới lại tuyên bố điều ngược lại:

Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không phải sách giáo khoa, không viết theo Chương trình 2000 (chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học hiện hành, theo cách nói của ông Tạ Ngọc Trí), càng không phải viết theo chương trình mới.

Thực tế triển khai Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục có đúng như nhận xét của Phó vụ trưởng Tạ Ngọc Trí chăng?

“Cha mẹ không hiểu đừng xen vào, cách đánh vần lạ không hiệu quả vì xã hội không hiểu”

Trả lời phỏng vấn VTC14 xung quanh những ồn ào tuần qua về “cách đánh vần lạ”, Giáo sư Hồ Ngọc Đại cho biết:

Công nghệ giáo dục của GS.Hồ Ngọc Đại qua góc nhìn trực diện từ cơ sở

“Bố mẹ không can thiệp vào việc học của con, kệ nó, con học ở trường như thế nào. Không theo cái cách của mình, không theo trình độ của mình mà áp đặt trẻ con hiện đại.

Cho nên trẻ con về nhà, bố mẹ có thắc mắc và nói với tôi thế này này, học theo kiểu của thày Đại không giúp được trẻ con. Tôi cần gì các vị giúp?” [8]

Nhưng câu hỏi ngược lại cần được đặt ra với Vụ Giáo dục tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Giáo sư Hồ Ngọc Đại rằng:

Có bao nhiêu học sinh trong số hơn 800 nghìn em thí điểm được hỏi ý kiến, bao nhiêu bậc cha mẹ học sinh đã được hỏi ý kiến và bao nhiêu người cần sự giúp đỡ của quý vị?

Bao nhiêu thầy cô đang dạy bình thường, bị cưỡng bách phải dạy tài liệu mà họ không hiểu?

Mới nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo có công văn số 3674/BGDĐT-GDTH ngày 22/8/2018 về việc triển khai Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục năm 2018-2019.

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các phòng xây dựng kế hoạch triển khai và chịu trách nhiệm về chất lượng dạy Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục. [9]

Báo cáo tổng kết năm học 2017-2018 và phương hướng năm học 2018-2019 cấp tiểu học của Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình, nội dung liên quan đến Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục có những chi tiết khá thú vị.

Phần đánh giá kết quả, báo cáo cho biết:

Thực hiện Quyết định số 2222/QĐ-BGDĐT ngày 1/7/2016, năm học 2017-2018 Thái Bình tiếp tục triển khai nhân rộng dạy học Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục ở 100% trường tiểu học (295 trường, 895 lớp, 28.002 học sinh).

Dạy và học Tiếng Việt lớp 1 theo tài liệu Công nghệ giáo dục đã làm thay đổi phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh, và là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng môn tiếng Việt cho học sinh.

Phần tồn tại và hạn chế, báo cáo viết:

Thực tiễn chỉ đạo dạy học Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục hay việc thực hiện Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT cho thấy, khó khăn trở ngại lớn nhất trong việc đổi mới giáo dục là thói quen cũ trong cách nghĩ, cách làm (của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và của cả xã hội).

Phần nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện năm học 2018-2019 thì không thấy Sở nhắc gì đến Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục nữa. [10]

Cô giáo Ðặng Thị Liễu và học sinh khối 1 Trường Tiểu học Kỳ Bá (thành phố Thái Bình) trong tiết học môn tiếng Việt 1 theo chương trình công nghệ giáo dục. Ảnh: Báo Thái Bình.

Phải chăng phần đánh giá là để đẹp lòng Bộ Giáo dục và đào tạo, phần tồn tại và hạn chế phản ánh đúng thực trạng suy nghĩ và đánh giá của người dân, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh Thái Bình?

Quan trọng hơn, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp cho năm học 2018-2019 không còn nhắc đến Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục, phải chăng ngầm gửi gắm một niềm hy vọng năm tới triển khai chương trình mới, sẽ không còn tiếp tục phải thí điểm tài liệu này nữa?

Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, cũng giống như việc giáo viên Thái Bình vỡ òa sung sướng như trút được gánh nặng, khi tỉnh không nhân rộng VNEN [11], và bây giờ là bỏ hẳn VNEN [12].

Lãnh đạo tỉnh Thái Bình đã từng than với Giáo sư Phạm Tất Dong, họ rất khổ vì nghe lời Bộ phát triển tất cả các trường ở Thái Bình theo mô hình giáo dục VNEN. Bây giờ không làm nữa biết trả lời dân ra sao? [13]

Địa phương biết sai rồi, bỏ cũng không phải dễ. Bởi đó là danh dự của chính họ, thậm chí là uy tín trước dân, vì chỉ 1 – 2 năm trước còn hùng hồn, đanh thép bảo vệ cái nay chính họ phải hủy bỏ vì “nghe lời Bộ”.

Không phải địa phương nào cũng dũng cảm trong chuyện này như Thái Bình, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hà Giang…

Các địa phương sẽ còn bị cưỡng bách sử dụng đến khi nào?

Thế nên mới có chuyện ở Kon Tum năm học mới này, nhiều phụ huynh phải tìm trường nào không dạy VNEN để xin học cho con, ấy nhưng không phải ai cũng toại nguyện, khi chạy Trời đâu khỏi nắng. [14]

Đây là những thực tế sống động nhất và cũng day dứt nhất về chuyện “thí điểm”, biến hàng trăm ngàn học sinh thành “chuột bạch”.

Có lẽ đã đến lúc Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nên chủ động dừng các hoạt động “thí điểm” vô nguyên tắc này lại, để giữ lại chút niềm tin của học trò và thầy cô, cha mẹ học sinh.

Bộ Giáo dục nên dừng o bế Giáo sư Đại, chấm dứt lấy ngân sách làm sách giáo khoa

Chấm dứt như thế nào, chúng tôi xin phân tích trong bài viết tới.

Nguồn:

[1]https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/vu-truong-vu-tieu-hoc-xin-tu-chuc-de-phan-doi-chuong-trinh-cai-cach-giao-duc-moi-1957769.html

[2]http://www.nxbgd.vn/bai-viet/tin-tuc-va-su-kien/khai-mac-hoi-nghi-tong-ket-trien-khai-thi-diem-cac-mon-cong-nghe-giao-duc-nam-hoc-2015–2016-va-tap-huan-giao-vien-nam-hoc-2016–2017-817.htm

[3]http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Giao-duc/827226/he-thong-truong-thuc-nghiem-thu-3-cua-gs-ho-ngoc-dai

[4]https://thuathienhue.edu.vn/tin-tuc/trien-khai-tap-huan-phuong-phap-day-hoc-theo-bo-sach-tieng-viet-lop-1-cong-nghe-giao-duc.htm

[5]http://phonggiaoduckienxuong.eportal.vn/trang_chu/tin_tuc/articletype/articleview/articleid/22256/phonggiaoducvadaotaokienxuongtochucvatrienkhaidayhoctiengviet1congnghegiaoduc

[6]http://laichau.edu.vn/?page=Article.Print.detail&id=5a439e51a8b0a647b238463a

[7]http://ninhbinh.edu.vn/van-ban-cong-van/van-ban-so-gd-dt/cong-van/dang-ky-tai-lieu-va-thiet-bi-giao-duc-cap-tieu-hoc-nam-hoc-2.html

[8]https://news.zing.vn/video-gs-ho-ngoc-dai-noi-gi-ve-cach-danh-van-la-khien-phu-huynh-hoang-mang-post873169.html

[9]http://gialai.edu.vn/upload/18282/20180824/1299-SGDDT-GDTH.pdf

[10]http://thaibinh.edu.vn/van-ban-cong-van/van-ban-so/cong-van-so-571-sgddt-gdth-v-v-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-nam.html

[11]http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/dien-dan/item/34077502-vi-sao-thai-binh-dung-nhan-rong-mo-hinh-truong-hoc-moi.html

[12]https://vtv.vn/giao-duc/thai-binh-khong-ap-dung-mo-hinh-truong-hoc-moi-tu-nam-hoc-2018-2019-20180607181513549.htm

[13]https://www.nguoiduatin.vn/vnen-vo-tran-that-bai-dau-don-cua-bo-gddt-a333331.html

[14]http://baokontum.com.vn/xa-hoi/ban-khoan-vnen-9263.html

________

 

Giáo sư tự hào khoe lách luật, cả ngành phục vụ nhóm người bán sách đánh vần lạ

(GDVN) – Tại sao quyền hạn trong tay, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận không thể biến sách “đánh vần lạ” thành sách giáo khoa” mà phải “lách luật” với 50 triệu đồng?

Cuộc thí điểm triền miên Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục suốt 40 năm qua không chỉ tiêu tốn khá nhiều ngân sách nhà nước, mà còn khiến người dân bỏ ra hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để con em họ “thí điểm” mà không hề hay biết.

Đằng sau cuộc thí điểm này là cả một hệ thống bán “sách giáo khoa” thu về hàng trăm tỷ đồng mỗi năm hoàn toàn khép kín theo chỉ đạo chặt chẽ của ngành giáo dục.

Trong bài viết này, chúng tôi xin tiếp tục phân tích lý do tại sao lại có cuộc trường kỳ thí điểm này.

Giáo sư tự hào khoe lách luật

Trong bài trả lời phỏng vấn Báo Nhân Dân điện tử có tiêu đề “Thực nghiệm là “lời thưa” của tôi với con trẻ” đăng ngày 19/8/2013, Giáo sư Hồ Ngọc Đại cho biết:

“Cách đây hai năm, anh Luận đã bỏ tiền túi đi tàu hỏa lên Lào Cai, thuê xe ôm đi về năm trường tiểu học ở địa phương để tự tìm hiểu chương trình tiếng Việt thực nghiệm đang được giảng dạy ở đây.

Sau khi tự mình mắt thấy tai nghe, Bộ trưởng đã biết rằng sách của tôi có thể triển khai đại trà được.

Ngày 21/9/2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận, Giáo sư Hồ Ngọc Đại, Tổng giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Ngô Trần Ái cắt băng Khai trương Trung tâm Công nghệ giáo dục thuộc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. (Ảnh: gdtd.vn)

Nhưng để chắc ăn, anh Luận đã bỏ ra 50 triệu đồng thuê luật sư tư vấn về mặt pháp lý cho mình, sau đó mới gọi tôi lên và hỏi:

“Thầy ơi, em làm như thế có được không?”. Tôi trả lời Bộ trưởng bằng một câu hỏi: “Anh làm như thế mà không sợ à?”. Và Bộ trưởng trả lời tôi rằng:

“Sợ thì em có sợ, nhưng Bác Hồ nói cái gì có lợi cho dân thì em làm”.

Tôi đã nói với Bộ trưởng rằng anh muốn tôi làm đến đâu tôi sẽ làm đến đấy, tôi đủ sức làm cả nước cũng được, nhưng hoàn cảnh của anh thì khác.

Trước đây, quyển sách Tiếng Việt lớp 1 của tôi chỉ được áp dụng ở các tỉnh miền núi.

Những đứa trẻ người dân tộc thiểu số không biết tiếng Kinh, cha mẹ chúng nói tiếng Kinh cũng không sõi, không học thêm ở đâu, chỉ sáu tuổi đi học, nhưng chỉ sau một năm học thì đã viết đúng chính tả và không thể tái mù.

Năm ngoái, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép mở rộng cuốn sách về một số tỉnh đồng bằng và đạt kết quả tốt.

Năm nay, Bộ trưởng đã ký quyết định chương trình sách giáo khoa lớp 1 do tôi soạn sẽ là một phương án sách giáo khoa của Bộ được áp dụng đại trà, nơi nào muốn dạy giáo trình nào cũng được.

Hiện đã có 38 tỉnh dạy theo giáo trình của tôi.

…Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa 10 năm 2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã quy định cả nước chỉ dùng chung một bộ sách giáo khoa.

Nhưng Bộ trưởng Luận đã dám công nhận bộ sách của tôi làm bộ sách thứ hai, đó là một người dám làm.”[1]

Dân phải bỏ hàng trăm tỷ đồng mỗi năm nuôi cách đánh vần lạ?

Việc Bộ trưởng Phạm Vũ Luận thuê luật sư tư vấn vụ triển khai đại trà Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục được thày Đại nhắc lại khi trả lời phỏng vấn Báo Giáo dục và Thời đại ngày 20/8/2013. [2]

Nhưng tường thuật sự việc một cách rõ ràng, sinh động nhất phải kể đến chia sẻ của Giáo sư Hồ Ngọc Đại tại bàn tròn trực tuyến “Những vấn đề giáo dục sau sự kiện đạp đổ cổng trường”, do Báo Điện tử VietnamNet tổ chức ngày 21/5/2012:

“Năm vừa rồi, Bộ trưởng  Phạm Vũ Luận ra quyết định chính thức đưa phương án của công nghệ giáo dục về địa phương.

Nhưng vì Quốc hội ra Nghị quyết số 40 chỉ có một bộ sách toàn quốc nên buộc phải dùng từ “thí điểm”.

Nhưng mà “thí điểm” hiện nay có 16 tỉnh và có 50.000 học sinh… Chỉ cần nếu làm thí điểm thì chỉ cần 1.000 là đáng  tin cậy.

Giải pháp đưa ra là giải pháp, khi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận chỉ đạo thì xuống chủ tịch ủy ban nhân dân quận ra quyết định, ủy ban nhân dân huyện ra quyết định nên làm việc ngon hẳn. Rất ngon!

Tôi chưa bao giờ làm việc thuận lợi như năm vừa rồi.

Trước đây làm gì thì chỉ làm với anh Hiển thôi, anh Thành thôi. Anh Hiển là Thứ trưởng, anh Thành là Vụ trưởng, các anh ấy cho phép làm, cùng hỗ trợ.

Trong 3-4 năm nay, khi chỉ có thứ trưởng và vụ trưởng làm, nói chung cũng vất vả, phải thuyết phục.

Nhưng khi Bộ trưởng có quyết định thì tình hình khác hẳn.

Tôi thấy khi thực sự chính quyền vào cuộc thì tình hình rất dễ. Mà cũng may, hai anh là anh Hiển và anh Luận phụ trách là hai người thực bụng muốn làm giáo dục, không sợ, không ngại thủ tục và chấp nhận danh từ “thí điểm” để lách luật. 

Kể cả sau khi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận ra quyết định triển khai đại trà, Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục vẫn là “tài liệu thí điểm”, ảnh: NXBGDVN.

Khi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận dám ra quyết định chính thức bằng văn bản, tôi thấy tình hình khác rồi.”[3]

Quyền hạn trong tay, sao Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khi đó phải lách luật?

Xin lưu ý rằng, “lách luật” là từ của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, chúng tôi dẫn lại. Lách như thế nào thì Giáo sư Hồ Ngọc Đại đã kể rõ mồn một rồi.

Nhưng tại sao khi đó thầy Đại được cả Vụ Giáo dục tiểu học giúp sức, được Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển đồng hành, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận ủng hộ mà vẫn phải “lách luật”?

Điều 29 Luật Giáo dục hiện hành quy định:

“Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa.”

Bộ Giáo dục nên dừng o bế Giáo sư Đại, chấm dứt lấy ngân sách làm sách giáo khoa

Điều 11. Cơ quan tổ chức thẩm định, Quyết định số 37/2001/QĐ-BGDĐTcủa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hội đồng quốc gia thẩm định chương trình và thẩm định sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ghi rõ:

“Cơ quan tổ chức thẩm định là Vụ chuyên môn có chức năng chỉ đạo thực hiện chương trình hoặc sách giáo khoa được thẩm định.”

Với tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục, thì cơ quan tổ chức thẩm định sẽ là Vụ Giáo dục tiểu học;

Đơn vị này cho đến hiện nay vẫn chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai tài liệu này vào trường học toàn quốc, tại sao lại không thẩm định cho đúng quy trình mà để Bộ trưởng phải “lách luật” bằng 50 triệu, theo lời Giáo sư Hồ Ngọc Đại?

Theo thiển ý của chúng tôi, có lẽ có 2 khả năng có thể giải thích cho sự “lách luật” này.

Thứ nhất là mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm viết sách giáo khoa.

Bởi cho dù Vụ Giáo dục tiểu học có quyền lựa chọn thành viên, chủ tịch hội đồng thẩm định đi nữa, thì phải chăng hầu hết những người có thể chọn lại nằm trong nhóm biên soạn chương trình – sách giáo khoa 2000?

Hãy nghe xem thầy Hồ Ngọc Đại nhận xét gì về đội ngũ này trong cuộc bàn tròn trực tuyến với Báo VietnamNet năm 2012:

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết chọn cách im lặng?

“Chúng ta không nên nhận, kể cả anh Tiến, anh Thành, anh Luận… không phải là tác giả của “chương trình 2000”. Chương trình này đã triển khai đã mười mấy năm nay.

Những người đó là một bộ phận hoàn toàn khác. Còn các anh là những người chịu một việc đã rồi.

Vấn đề này, phải bàn lại công việc trước đó nữa, cần nói đến nguồn gốc sâu xa nữa. Vụ Tiểu học thực bụng muốn làm. Anh Hiển, anh Luận thực bụng muốn làm.

Nhưng cả một hệ thống từ xưa đến nay… Chuyện này, chuyện khác là hậu quả của “Chương trình năm 2000”.

Nên nếu nền giáo dục hiện này có vấn đề gì, cần truy cứu thì phải truy cứu bộ máy làm chương trình năm 2000, tốn hàng ngàn tỉ nhưng không ra gì. Cần phải nhìn sâu xa hơn nữa mới thấy gốc rễ vấn đề.” [3]

Trong một cuộc bàn tròn khác (về đề án đổi mới sách giáo khoa 70 nghìn tỷ đồng) với Bộ trưởng Phạm Vũ Luận và nhà báo Quang Minh trên VTV1 phát sóng cho nhân dân cả nước xem, Giáo sư Hồ Ngọc Đại bình luận về đội ngũ làm chương trình, sách giáo khoa 2000:

“Sau 2015 Bộ lại có một đợt cải tổ chương trình sách giáo khoa. Vấn đề cải cách sách giáo khoa là buộc phải làm thôi.

Vấn đề là ai làm? Tôi thì tôi không tin cái bộ phận hiện nay làm có thể thành công được.

Những người mà từng làm dự án ấy, họ mà tiếp tục làm thì không thể thành công được.

Vì mỗi một người cái trình độ tư duy chỉ có thế thôi. Một cái tổ chức, trình độ tư duy của nó chỉ có thế thôi.

Anh không thể khác được. Không thể ra tư duy mới được. Nhất là những người đã định hình rồi. Nghe danh hiệu thì ghê gớm lắm, nhưng mà không biết gì đâu.

Giáo sư gì, Phó giáo sư gì, Tiến sĩ, Phó tiến sĩ. Tư duy cũ lắm.

Với cái lớp ấy mà nó hạn chế thì đất nước này nguy hiểm lắm.

Cho nên tôi tin rằng Bộ trưởng mới (Phạm Vũ Luận) sẽ có cách xử lý mới. Tôi tin là như thế. Bởi vì không thể dựa vào cái lực lượng như thế được.”

Ông Phạm Vũ Luận khi đó đáp lời: “Điều ấy là khẳng định rồi!” [4]

Bộ trưởng – Giáo sư Phạm Vũ Luận, Giáo sư Hồ Ngọc Đại và nhà báo Quang Minh, ảnh chụp màn hình.

Những người Giáo sư Hồ Ngọc Đại chê là “tư duy cũ lắm”, “không biết gì đâu” mà ngồi hội đồng thẩm định, thì liệu sách của ông có thông qua nổi không?

Phải chăng chính vì điều này, nên ngay cả khi Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ra quyết định thành lập hội đồng quốc gia thẩm định Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục, thì điều kiện tiên quyết của hội đồng này là không xem xét tính pháp lý để công nhận nó là sách giáo khoa?

Và bây giờ, điều Giáo sư Hồ Ngọc Đại lo lắng, rằng những người tham gia biên soạn chương trình sách giáo khoa 2000 “tốn hàng nghìn tỷ (đồng) nhưng không ra gì” lại tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa mới, đã thành sự thật.

Phải chăng cũng chính vì “thái độ” ấy của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, nên Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới đây đã khẳng định với báo giới:

Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không phải sách giáo khoa nằm trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; càng không phải sách viết theo chương trình giáo dục phổ thông mới. [5]

Phó giáo sư Bùi Mạnh Hùng – Chủ tịch Hội đồng quốc gia thẩm định Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục, đồng thời là điều phối viên ban phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới cũng cho biết:

“Cũng cần phải nói rõ rằng là, tài liệu Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục chưa phải là sách giáo khoa chính thức, Hội đồng thẩm định thẩm định tài liệu này như một tài liệu dạy học cho phép được tiếp tục thí điểm trong một phạm vi hạn chế chứ chưa công nhận nó như một cuốn sách giáo khoa chính thức.

Chúng tôi có một đề nghị như vậy với Bộ Giáo dục và Đào tạo, vì căn cứ vào những đánh giá ưu điểm, hạn chế của tài liệu này đặc biệt là căn cứ vào bối cảnh.

Tài liệu này đã được thí điểm trong gần 40 năm qua và thời gian mà chúng ta tiếp tục thí điểm không còn nhiều.

Vì theo kế hoạch, năm 2019, Bộ Giáo dục sẽ đưa sách giáo khoa tiếng Việt 1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới vào giảng dạy.”

Giáo sư Hồ Ngọc Đại khai mạc một khóa tập huấn giáo viên dạy Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Thừa Thiên Huế năm 2016. Ảnh: Nguyễn Thị Mỹ Thái / thuathienhue.edu.vn.

Về chương trình sách giáo khoa 2000 “tốn hàng nghìn tỷ đồng nhưng không ra gì”, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã có nhiều bài phân tích. Có thể kể ra đây như:

Những quy luật bất thường qua 3 lần thay sách giáo khoaKiến nghị Quốc hội giám sát việc phát hành, phân phối sách giáo khoa;

Mong Quốc hội giám sát, làm rõ kinh phí cho chương trình, sách giáo khoaHàng tỉ đô la Mỹ đi vay đầu tư cho giáo dục thế nào, hiệu quả ra sao?

Về chương trình sách giáo khoa mới đang triển khai với những con số nhảy múa, đội ngũ tham gia cũng có rất nhiều vấn đề;

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã phản ánh qua loạt bài 80% thành viên ban phát triển chương trình tổng thể viết sách giáo khoa cho 1 doanh nghiệp tư nhân do ông Ngô Trần Ái lãnh đạo, khi đang thực hiện nhiệm vụ.

Rõ ràng, sách giáo khoa và các tài liệu sử dụng như sách giáo khoa cùng hàng loạt thứ ăn theo (sách tham khảo, sách nâng cao, đề thi và kiểm tra, vở bài tập dùng 1 lần…) là biểu hiện rõ ràng nhất của các nhóm lợi ích đang chi phối giáo dục phổ thông nước nhà.

Vụ Tiểu học có phải sân sau của Giáo sư Đại, ai cứu học sinh thoát thí điểm?

Nên giả sử có mâu thuẫn, thì đó cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu. Dù Bộ trưởng có thành lập hội đồng, nhưng khi đã không cùng “hội”, không dễ để hội đồng thông qua.

Khả năng thứ 2 là, những người triển khai Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục chỉ muốn “thí điểm” chứ không muốn thành sách giáo khoa chính thức.

Bởi vì chỉ có “thí điểm” thì mới năm nào cũng được in lại, sách dùng một lần, thu về cả trăm tỷ đồng như chúng tôi đã phân tích.

Nguồn:

[1]http://www.nhandan.com.vn/hangthang/khoahoc-giaoduc/item/21018502-thuc-nghiem-la-%E2%80%9Cloi-thua%E2%80%9D-cua-toi-voi-con-tre.html

[2]https://giaoducthoidai.vn/tieu-diem/gs-ho-ngoc-dai-toi-nhan-duoc-su-hau-thuan-lon-tu-bo-gdampdt-5547-u.html

[3]http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/truong-thuc-nghiem-mot-bi-mat-khong-ai-biet-73075.html

[4]https://www.youtube.com/watch?v=5x1vTk3L1Fs

[5]https://news.zing.vn/cach-danh-van-la-khong-lien-quan-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-moi-post872306.html

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: