Trần Hoàng Blog

■ Dân Thủ Thiêm bị đối xử như không tồn tại (Erik Harms,10-5-2018)

Posted by hoangtran204 trên 12/05/2018

.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 1

Hòn đảo Thủ Thiêm diện tích gần 800 hecta, nằm cách quận 1, Sài Gòn chỉ  một con sông chiều ngang  200 mét là 15.000 hộ dân. 

 

 

 

..

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 1

“Phát triển là dành cho người dân, không phải cho dự án. Tuy vậy tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân”, Erik Harms, Đại học Yale (Mỹ), viết cho Zing.vn.

Trong suốt tuần qua, Thủ Thiêm đã trở thành từ khóa nóng và đang tràn ngập các trang báo Việt Nam. Tuy nhiên, với những hộ dân thuộc diện di dời để nhường chỗ cho các dự án Khu Đô thị mới Thủ Thiêm, vấn đề này đã thực sự “nóng” từ lâu.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 2

Phó giáo sư, tiến sĩ Erik Harms đang công tác tại ngành Nhân học Văn hóa xã hội (Socio-Cultural Anthropology) thuộc Đại học Yale, Mỹ. Ông thường xuyên đến Việt Nam để nghiên cứu từ năm 1997.

Cuốn sách mới đây của ông Luxury và Rubble (Xa hoa và đổ nát), tập trung về sự phát triển của các khu đô thị mới ở TP.HCM.

Vào thời điểm đó, chính quyền tuyên bố rằng khu vực giải phóng mặt bằng tại Thủ Thiêm là nơi sinh sống của 14.600 hộ dân. Tất cả những người sống trong các hộ gia đình này đều bị buộc di dời để nhường chỗ cho dự án.

Suốt tuần qua, trong khi mọi người đang bàn tán về tấm bản đồ bị mất, câu chuyện thực sự nằm ở việc những cư dân bị mất nhà cửa. Đó là cuộc sống của những người đã hy sinh cho thành phố và đất nước.

Khi được mời đưa ra nhận định chuyên môn về Thủ Thiêm, tôi chỉ có một lời khuyên thế này: Đừng mất thời gian nghe tôi, hay tất cả các “chuyên gia” khác. Thay vào đó, hãy dừng lại và lắng nghe tiếng nói của những người dân tại các phường An Khánh, Thủ Thiêm và An Lợi Đông, TP.HCM.

Hãy lắng nghe những người sống ở các khu dân cư xung quanh các con đường nhộn nhịp như Lương Định Của, Cây Bàng và Trần Não. Họ thân thuộc với từng con kênh, con rạch chạy qua Thủ Thiêm tương tự như người dân thành thị am hiểu về phố xá Sài Gòn.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 3
Giữa Khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2, TP.HCM), nơi có những đại dự án nghìn tỷ của các đại gia bất động sản đã và đang xây dựng, nhiều khu nhà cũ nát, tạm bợ, ngập nước, sinh hoạt thiếu thốn vẫn tồn tại. Ảnh: Lê Quân.

HỌ ĐÃ MẤT CẢ CỘNG ĐỒNG

Tôi đã nhận được rất nhiều email và tin nhắn từ bạn bè, chỉ ra chuyện này sẽ khiến các nhà chức trách quy hoạch đô thị trở nên buồn cười như thế nào. Mọi người hỏi tôi đây có phải là một trò đùa không và những email, tin nhắn của họ chứa đầy các dấu chấm than và chấm hỏi hàm ý sự giễu cợt.

Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.

TS. Erik Harms

Bản thân tôi không thể cười, dù đồng ý rằng câu chuyện này đang khiến mọi người hoài nghi về năng lực và ý định ban đầu của các nhà lãnh đạo dự án.

Tôi không thể cười vì trong quá trình thực hiện cuốn sách về sự phát triển của các khu đô thị mới tại Việt Nam, tôi có thể hình dung được những gì hàng nghìn người dân Thủ Thiêm phải trải qua. Với những người dân Thủ Thiêm, dự án này không phải là trò cười. Họ đã mất kế sinh nhai. Họ đã mất làng xóm, tình bạn. Họ đã mất cả một cộng đồng.

Nếu ai đó sẵn sàng lắng nghe người dân Thủ Thiêm – và ý tôi là thật sự lắng nghe chứ không chỉ gặp mặt đơn thuần – họ sẽ hiểu rằng có rất nhiều người đang hồ hởi vì được là một phần trong dự án phát triển đô thị mới nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng của thành phố.

Rất nhiều bạn bè tôi ở Thủ Thiêm nói rằng họ sẵn sàng hy sinh. Họ sẵn sàng làm vậy vì họ yêu Việt Nam và yêu TP.HCM như mọi người dân khác. Nhưng những ai chấp nhận hy sinh cũng xứng đáng nhận được sự tôn trọng.

Thế nhưng thực tế lại ngược lại. Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 4
Căn nhà lụp xụp trên phố Trần Não là chỗ trú của 16 người suốt 8 năm qua. Ảnh: Phúc Minh

Theo báo chí mấy ngày qua, số lượng các hộ gia đình trong diện giải tỏa từ Thủ Thiêm cao hơn cả con số tôi từng nghe được trong quá trình thực hiện cuốn sách. Bây giờ con số này đã là trên 15.000 hộ gia đình.

Trong các tài liệu này, các hộ gia đình trong diện giải tỏa không được nhận dạng là con người mà thay vào đó là “hồ sơ”, như thể giấy tờ còn quan trọng hơn nhân phẩm của họ.

TS. Erik Harms

Hiểu rõ điều này, James Scott, đồng nghiệp của tôi tại Yale, đã chỉ ra một vấn đề cố hữu: Các nhà chức trách bỏ qua thực tế đang diễn ra trước mắt khi tiến hành dự án, do đã quen nhìn nhận qua văn bản và bản đồ (khi bản đồ chưa bị mất).

Có thể thấy điều này trong các tài liệu quy hoạch của Khu Đô thị mới Thủ Thiêm. Trong các tài liệu này, các hộ gia đình trong diện giải tỏa không được nhận dạng là con người mà thay vào đó là “hồ sơ”, như thể giấy tờ còn quan trọng hơn nhân phẩm của họ.

Điều này được minh chứng rõ trong các bản đồ quy hoạch, thường xuyên được các hình ảnh mô tả như những vùng đất trống không có dân cư. Mọi thứ được thể hiện qua góc nhìn từ trên xuống, và không hề tính đến thực tế cuộc sống con người ở nơi mà các nhà quy hoạch tuyên bố đang được cải thiện.

 
 
Cuộc sống tạm bợ của người dân khu đô thị mới Thủ ThiêmTrong khi vẫn còn nhiều tranh cãi về việc quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm thì cuộc sống hiện tại của những hộ dân ở đây đang phải chịu một cuộc sống đầy khó khăn, tạm bợ.

“ĐI XE XEM ĐẤT”

Điều tôi đang mô tả, dĩ nhiên, không có gì bất ngờ với những người bạn của tôi ở Việt Nam. Họ gọi hình thức quản lý này là “cưỡi ngựa xem hoa”. Hình thức này cũng phổ biến tại Trung Quốc.

Tôi sẽ để cho độc giả tự quyết định tại sao các hộ dân trong khu vực giải tỏa của các dự án phát triển đô thị mới lại dùng câu thành ngữ này để mô tả các nhà quy hoạch dự án Thủ Thiêm.

Có thể chúng ta nên áp dụng một thành ngữ mới trong thời kỳ hiện đại: “Đi xe xem đất”. Dù trong trường hợp nào, tôi chỉ có duy nhất một khuyến nghị: Các nhà quy hoạch đô thị tốt cần phải xuống ngựa hoặc xuống xe để nói chuyện với người dân.

Các dự án phát triển đô thị quy mô lớn được điều hành bởi những nhà quy hoạch “tháp ngà” và không lắng nghe người dân thường không đạt được kết quả như mong muốn. Các chuyên gia đã mô tả không ít các dự án lớn trên thế giới phải nhận sự thất bại do không tính đến yếu tố con người mà đáng ra mục đích của dự án phải là nâng cao đời sống người dân. Chandigarh (Ấn Độ) và Brazilia (Brazil) và nhiều dự án nhà ở xã hội tại Mỹ là các ví dụ điển hình.

Với các dự án được các chuyên gia coi là thành công như dự án nhà ở xã hội của Cơ quan phát triển nhà ở Singapore (HDB), các nhà quy hoạch đã đặt tâm nguyện của người dân lên trên. Trong khi nhiều nhà quy hoạch Việt Nam lấy Singapore làm hình mẫu, họ thường bỏ qua một yếu tố quan trọng trong mô hình HDB.

Theo chuyên gia đô thị Chua Beng Huat, mô hình HDB là một phần quan trọng của mạng lưới an toàn xã hội cho người dân và đồng thời là một hình thức quy hoạch đất đai cân đối giữa người giàu và nghèo để đảm bảo tất cả công dân đều có nhà để ở.

Tại Singapore, mô hình HDB là cách để chính phủ dân chủ hóa nhà ở. Mô hình này giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội, vốn thường đi kèm với bùng nổ đất đai. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia khác, mô hình nhà ở xã hội này lại được biến tướng thành cơ hội phát triển bất động sản.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 5
Những căn nhà loang lỗ ở Thủ Thiêm hiện tại. Ảnh: Lê Quân.

HÃY NGHE DÂN THỦ THIÊM NÓI

Bài học chính mà tất cả các chuyên gia đô thị muốn truyền tải là việc lắng nghe người dân phải được coi là cốt lõi trong quá trình phát triển bất cứ hình thức nhà ở nào. Phát triển là dành cho người dân, không phải cho dự án. Tuy vậy tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân. Vì thế, nhiều công dân Việt Nam đã dùng từ “bị quy hoạch” thay vì “được quy hoạch” khi nói về các dự án đô thị.

Tại Thủ Thiêm, dự án đã trở nên quan trọng hơn người dân. Vì thế, nhiều công dân Việt Nam đã dùng từ “bị quy hoạch” thay vì “được quy hoạch” khi nói về các dự án đô thị.

TS Erik Harms

Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi người dân Thủ Thiêm bị biến thành vô hình.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy những người dân ở đó dường như không tồn tại trong phần lớn lịch sử Sài Gòn.

Trong lần đầu đặt chân đến Sài Gòn năm 1997, tôi ghé thăm bến Bạch Đằng và hỏi người dân bên kia sông là gì, họ trả lời: “Không gì cả”. Thủ Thiêm dường như không tồn tại trong các bản đồ của các chính quyền ở Việt Nam. Thế nhưng nếu thật sự tìm hiểu thì có thể nhận thấy những người dân Thủ Thiêm đã ở đây từ rất lâu rồi.

Các nghiên cứu của sử gia Nguyễn Đình Đầu đã chỉ ra sự tồn tại của người dân nơi đây trong lịch sử. Cuộc sống nhộn nhịp ở cả hai bên bờ sông Sài Gòn đã được mô tả trong nhật ký của các nhà thám hiểm đến Sài Gòn lẫn trong văn chương của Trịnh Hoài Đức hay Trương Vĩnh Ký.

Khi bắt đầu học tiếng Việt và đọc về lịch sử Nam Bộ, tôi đã học được câu nói: “Nơi nào có đình thì nơi đó có làng Việt Nam”. Sau đó, khi tìm hiểu về Thủ Thiêm, tôi được biết ở đó không chỉ có hai đình (An Khánh và An Lợi Đông) mà còn có rất nhiều chùa, đền, và nhà thờ. Tổng cộng, có 29 công trình tôn giáo phục vụ cho nhu cầu tâm linh của người dân.

Với tôi, đây hoàn toàn không phải là một khu đất trống. Đó là một khu dân cư chứa đựng đầy đủ những tinh hoa văn hóa Việt Nam. Để có thể biết về cuộc sống của họ, chúng ta phải bước chân xuống ngựa hoặc mở cánh cửa ôtô để nói chuyện với người dân.

Chuyen gia DH Yale: 'Dan Thu Thiem bi doi xu nhu khong ton tai' hinh anh 6
Nhiều xóm trọ tạm bợ, lụp xụp mọc lên gần khu đô thị Thủ Thiêm. Ảnh: Lê Quân

Thế nhưng, vì một lý do nào đó, các nhà quy hoạch đã coi mảnh đất này là trống bất chấp rất nhiều bằng chứng về sinh hoạt dân cư. Họ vẫn phớt lờ tiếng nói của người dân kể cả trong quá trình xử lý “hồ sơ”. Trong quyển sách của tôi về các khu đô thị mới, tôi gọi hiện tượng này là “nhìn mà không thấy”. Đây chính xác là những gì đang xảy ra khi các nhà quy hoạch chỉ nhìn chằm chằm vào mảnh đất và mơ về những dự án lớn trong tương lai.

Mọi chuyện không cần thiết phải diễn ra như vậy. Kể cả những nhà lãnh đạo cũng có khả năng bước ra khỏi ôtô và nói chuyện với người dân.

Trong khi đang theo dõi tin tức về vụ mất bản đồ, tôi rất vui khi được biết về một cựu lãnh đạo hiểu được tầm quan trọng của việc lắng nghe dân. Ông Võ Viết Thanh, cựu Chủ tịch UBND TP.HCM, đã thể hiện cách nhìn nhận riêng của mình với những vấn đề liên quan đến dự án Thủ Thiêm, một dự án mà chính ông đã tham gia trong giai đoạn đầu.

Ông cho biết bài học của mình không đến từ chuyên gia nước ngoài nào mà đến từ một người dân sinh sống tại đường Lương Định Của, con đường nằm giữa trung tâm của khu vực giải tỏa. “Gia đình tôi sắp bị giải tỏa và chúng tôi vẫn chưa biết phải dọn đi đâu nữa,” dược sĩ này buồn bã cho biết khi ông Thanh dừng lại để mua thuốc.

Khi tôi đọc lời chia sẻ của ông Thanh, tôi nhận ra những hành động nhỏ bé như nói chuyện với người dân chính là yếu tố cốt lõi đang bị bỏ sót trong toàn bộ kế hoạch. Những dẫn chứng từ các chuyên gia đã củng cố thêm cho phát hiện của ông Thanh vào ngày đó khi nói chuyện với một người dân Thủ Thiêm.

Trên tinh thần này, tôi sẽ bảo lưu quan điểm: Đừng nghe tôi, hãy lắng nghe người dân Thủ Thiêm.

Người dân Thủ Thiêm trào nước mắt tại buổi gặp đại biểu Quốc hội

(Ngọc Linh dịch)

__________

 

Trần Hoàng giới thiệu đến bạn đọc một bài báo của tác giả khác nói về Thủ Thiêm

 

Q&A: Anthropologist Erik Harms on ‘luxury and rubble’ in today’s Saigon

test test
Phú Mỹ Hưng, a commercial and residential development in Ho Chi Minh City, provides a home for members of Vietnam’s rising upper-middle class.

“Luxury and Rubble,” a new book by Yale anthropologist Erik Harms, tells the tale of two urban developments in Ho Chi Minh City, the Vietnamese city formerly called Saigon.

Phú Mỹ Hưng, a luxurious commercial and residential development, provides a home to members of Vietnam’s rising upper middle class. Thủ Thiêm, a similar development under construction in a nearby district, required the mandatory eviction of 14,600 households.

Harms conducted intensive ethnographic research with residents of the existing luxury development, where he lived for nine months, and also with those being displaced. His book draws contrasts and connections between the two. It shows the human costs of master-planned urban development while exploring the effects of privatization in a socialist country.

“Luxury and Rubble: Civility and Dispossession in the New Saigon” is published by the University of California Press. It is also available to anyone as a free e-book, thanks in part to the support of Yale’s Department of Anthropology, Council of Southeast Asian Studies, Whitney and Betty MacMillan Center for International and Areas Studies, and Frederick W. Hilles Publica­tion Fund.

Harms, an associate professor of anthropology and Southeast Asian studies, spoke to YaleNews about the project. An edited version of the conversation follows.

What drew you this project?

During the socialist period in post-war Vietnamese society, private property was abolished and all land was socialized. But starting with a 1992 land law, the Vietnamese government began introducing what are called land-use rights. This eventually created a massive real estate market, which led to a lot of excitement among everyday Vietnamese, particularly in Ho Chi Minh City and other big cities. It also led to rapid increases in land appropriation and dispossession. I became fascinated with how to tell a story that might convey both the excitement and enthusiasm people have for the massive new urban developments that were transforming Vietnam into a “post-socialist” society, while at the same time paying careful attention to the acts of dispossession and disenfranchisement that often accompany building these developments.

How did you approach your fieldwork and research?

My fieldwork was based in the two developments. I rented an apartment with my family in the existing commercial and residential development, Phú Mỹ Hưng (roughly pronounced Foo Mee Hoong). We lived there for five months as a family. I spent another four months living there on my own, doing daily interviews with people who lived in this new upper-middle class residential district. At the same time, I would ride a motorbike each day with my Vietnamese research colleagues over to the second development, Thủ Thiêm (roughly Too Tee-um), where we interviewed people who were struggling against the mass evictions that were destroying their neighborhoods and forcing them out of their homes. This research method gave me a window into both worlds, what I call the “luxury” and the “rubble” of modern real estate driven urban development.

Erik Harms’ book looks at the changing face of Vietnam’s largest city.

I would have liked to live in the zone of eviction, but it wasn’t feasible as a researcher to live in a place that the city authorities were trying to clear. Everyday, at about 5 a.m., I would go into that district with my research colleagues, and we would initially just sort of hangout in the cafes and amid the rubble. Then we’d start walking around, and people would invite us into their homes or businesses and start sharing their stories. This snowballed into an extensive corpus of ethnographic interviews.I had expected the research in the zone of eviction to be the most politically contentious, but in some ways it was the easiest part of the research because the people there wanted to talk about their houses being demolished and their disagreements with the compensation authorities over how much they would receive in return for their lost homes. By contrast, in Phú Mỹ Hưng, research was slower going; there I encountered more professionals whose lifestyles were a little more private. It made it challenging to cultivate the relationships needed to conduct classic ethnographic-style research. But ethnography requires persistence and time, and by conducting full-time research over all these months I was able to interview 148 informants in Thủ Thiêm and 187 informants in Phú Mỹ Hưng. Of those, 122 interviews were in-depth ethnographic interviews that provided a nuanced and multifaceted perspective on how different Ho Chi Minh City residents experienced the changes engulfing their city.

How did your perceptions of the situation change as you conducted your fieldwork?

I had many expectations going in, not all of which turned out to be true once I actually began conducting ethnographic research. That’s why we do ethnography, after all — to challenge our assumptions! The first thing I realized in the research is that the literature on master-planned urban developments around the world tends to focus too much, and in my mind slightly superficially, on the alienation that people experience. Many scholars assume that these developments will be necessarily sterile and devoid of sociality. They are viewed as foreign impositions on the local landscape. Of course, there are aspects of this that are true. Master-planned urban developments are more privatized. People’s lifestyles have turned inward in a way because there is more of separation between work and home that leads to new livelihoods and lifestyles. But I was totally surprised once I started to get to know people in Phú Mỹ Hưng. They were completely excited about living there. There was no sense of this alienation or loneliness. They had extensive networks of friends. Once you got to know people, this whole social world opened up within the new urban development that I had not expected to see because of the assumptions in the academic literature.

The second surprising thing about Phú Mỹ Hưng is that, although it is often styled as a symbol of privatization in a late socialist society, residents there constantly evoked what they saw as an emergent sense of collectivity. For residents, the private was not the opposite of the collective. Rather, they felt that their new sense of private rights fostered a renewed sense of obligation to others and a renewed ethic of civic engagement. This rise of rights, in surprising ways, is unwittingly tied in with the reemergence of property rights in post-socialist Vietnam.

Meanwhile, residents in Thủ Thiêm, who are being stripped of house and home, are also mobilizing this language of property rights, which becomes conflated with rights more broadly construed. Although the “luxury and rubble” of my book’s title implies binary opposites, I also show that the emerging consciousness of rights and property is a thread that runs through the story both of the rise of urban civility and collective consciousness in Phú Mỹ Hưng and the story of mass dispossession in Thủ Thiêm.

How do the residents of the existing development view the rights of those being evicted in Thủ Thiêm?

During their daily lives, it never occurred to residents of the luxurious housing developments in Phú Mỹ Hưng to imagine the plight of people being evicted from the other development in Thủ Thiêm. It wasn’t that they weren’t capable of empathy, but that the plight of others didn’t enter their daily consciousness. One of the tasks of the book is to show that the two developments are connected. In some ways, it’s like when you’re living in New Haven and teaching at or attending Yale. You’re often worried about internal concerns to Yale, but you’re not immediately thinking about the structural imbalances of Yale-New Haven relations. Nevertheless, they exist. I’m trying to show that there are similar connections linking the residents of Phú Mỹ Hưng and Thủ Thiêm, despite the way they are often rendered invisible by the spatial divisions of the city.

How did the residents of Thủ Thiêm view urban development in general?

I would talk to people who, on one hand, were extremely enthusiastic about the modernization of Saigon and urban development projects in general as a symbol of post-war regeneration. At the same time, they were facing eviction for the sake of pursuing these kinds of projects. That forced me to be a lot more complicated about the way I understood eviction or the resistance to it. There was no sense in my research that people were opposed to the idea of development or master planning in a general way. It’s not what people were worried about. They were worried about their own loss in the process of creating that modern development — of being excluded from the modernization process, rather than the process of modernization itself.

What would you like readers to be thinking about after they finish the book?

It depends who they are. For the people in the rubble, I want them to know that their stories are being heard in other parts of the world — that people are paying attention. They often told me that they wanted people to know what was happening. I want the elite in Vietnamese society to recognize that their aspirations for modernization and development, and what they call “civility,” are often founded on the deep sacrifices of their own countrymen. At the same time, I don’t want readers to develop a one-dimensional caricature of Vietnamese elites as inherently evil or self-interested. Many people in Saigon are dedicated to building an inclusive civil space that they believe is disappearing from Vietnamese society. What I tried to construct is a conversation between these two places. I truly believe the elites living in these luxurious master-planned developments, at the core of their developing ideas about urban consciousness and collectivity, will be sympathetic to the plight of those being evicted once they become aware of the connections between them.

I’m eager for the scholarly community to move beyond the knee-jerk critique of master-planned development and develop a more nuanced understanding of why it has become such a common model of development around the world. The critique of master planning has been very important, but I think we need to get to a stage where we start understanding why people are attracted to these master-planned developments. The first-level critique, which focused on foreign projects imposed on societies around the world, was useful to a point. Now, however, we need to pause and try to figure out why these developments are so popular. They are appearing all over the place in China, India, and Southeast Asia. If all we do is call them foreign impositions and leave it at that, then we’re not getting very far at understanding what they’re appealing to. Once we can take their appeal seriously, then we can have a dialogue about having more sustainable and inclusive forms of development.

Erik Harms

What did the people you met in Saigon find appealing about these developments?

I think they find them appealing because the form of governance in Vietnam has not been inclusive. It’s not a democracy. Critical perspectives that argue that corporate urbanism is anti-democratic might be true in an American context, such as a gated community run by a homeowners association that trumps the democratically elected officials of a city. In Vietnam, people don’t give a whole lot of credence to the democratic capacity of municipal governance anyhow. Thus, in their political context, they tend to see these corporate developments as a democratic alternative to existing governance. They’re disillusioned by the state so they prefer these developments where they can, in a sense, vote with their feet: If they don’t like the development, they can move to another one.

Can you talk a little about the open-access aspect of the project?

I was excited when the University of California Press offered the opportunity to make the book open access. There are challenges involved. By making it open access, an author renounces any rights to royalties, but I didn’t get into this profession for business reasons. It’s not a business. Being a university professor is about education and scholarship. I want my book to be available to anyone who wants to read it.

I’m in a fortunate position to be able to do this because Yale supported the project through the Department of Anthropology, the Council of Southeast Asian Studies, and the MacMillan Center, as well as the Hilles Fund, which helped finance the production costs. That support made the project possible, and it is a recognition of the changing landscape of how academic labor works.

Academic research isn’t always driven by market imperatives. To make knowledge available, a range of new creative means are being developed to pay for the labor of the scholar and the costs of production. Yale pays me a salary as a professor, so there is no need for me to demand royalties for my book. But professional editors also need to be paid, as does everyone else involved in the production of a book, so there a real cost involved.

These new open-access models being developed by academic publishers are an attempt to recognize, and pay for, those costs up front. It’s an experiment. We’ll see how it goes, but I’m happy to know that anyone can read the book for free at the same time that the people involved in its production were paid fair living wages.

Source: yale

_______________

For English

Last Church Standing: Resisting Demolition in Ho Chi Minh City

ucpress

17-3-2017

by Erik Harms, author of Luxury and Rubble: Civility and Dispossession in New Saigon

This guest post is published in conjunction with the Association for Asian Studies conference in Toronto. Check back regularly for new posts through the end of the conference on March 19th.

Since January of this year, Ho Chi Minh City residentsand intellectuals have been increasingly rallying around the fate of the Thủ Thiêm Catholic Church and the neighboring convent of the Lovers of the Holy Cross. These architecturally and religiously significant structures currently face the prospect of demolition. The church, which still fills its pews with worshippers at its regular Sunday masses, and the convent, which is still home to an active congregation of nuns who have diligently maintained their historic buildings and grounds, both stand in the middle of a major urban redevelopment scheme called the Thủ Thiêm New Urban Zone. Surrounded by the rubble of mass eviction, the story of these religious structures provides a useful counterpoint to the story of more than 14,500 individual households who have been displaced by the project over the course of more than a decade.

 

Thủ Thiêm Catholic Church and Convent of the Lovers of the Holy Cross, viewed from Ho Chi Minh City’s District One. Once surrounded by dense neighborhoods, all of which have been demolished, the church is itself threatened by demolition. Photo by Erik Harms. June 2016.

 

In 2010 the pace of eviction and demolition picked up rapidly in Thủ Thiêm as many residential areas were reduced to rubble. Photo by Erik Harms. September 2010.

 

The story of the Thủ Thiêm New Urban Zone is detailed in the recent UC Press book, Luxury and Rubble: Civility and Dispossession in the New Saigon. This new urban development, which is being built directly across the Saigon River from Ho Chi Minh City’s central commercial and shopping District, has been saddled with controversy. Throughout the project’s development, the biggest dispute surrounding its construction has swirled around the amount of compensation being offered to individual households who were asked to give up their homes and land to make way for the project. Luxury and Rubble details the ways in which the compensation process itself gradually drew residents into a largely monetized mode of negotiation with project authorities. This process, in turn, transformed how people in the area conceived of land and rights. Their negotiations over land-use rights framed their understanding of rights by focusing on “money and meters,” that is, how many square meters residents would be compensated for and how much money each square meter was deemed to be worth. In the process, evicted residents learned to fight for their right to receive just compensation based on market values. But in doing so, they also started to think of land primarily in terms of its monetary value, which in turn conflates the act of fighting for one’s rights with gaining the market-based value of land.

By contrast, the fight to preserve the Thủ Thiêm Catholic Church and the convent of the Lovers of the Holy Cross employs a very different idiom. Instead of focusing on the monetary value of the land, this fight is has been framed in terms of preserving the cultural and religious value of the structures. For example, in a post to its facebook page on January 12th, the Consulate General of Canada in Ho Chi Minh City posted the question: “Do you think it’s a good idea to demolish something that is even older than Canada?” In a follow-up post on January 25th, the consulate page noted: “Nearly 100% of comments made were in favour of integrating historic buildings such as the Thu Thiem Convent and Parish Church into new urban developments.”

The fact that the Thủ Thiêm church remains standing, while all the individual houses surrounding it have been demolished, makes it worth considering what strategies might be most successful in helping to resist eviction. In this case, resistance is most successful when it rejects the marketized idioms of land compensation and instead focuses on alternative idioms of justice that cannot be calculated in terms of money and meters.


Erik Harms is Associate Professor of Anthropology and Southeast Asia Studies at Yale University and the author of Saigon’s Edge: On the Margins of Ho Chi Minh City.

Luxury and Rubble is currently available as a free, open access eBook as part of our Luminos program. Read it onlinenow

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: