Trần Hoàng Blog

►Lời nói sau cùng của ông Nguyễn Giang Nam, nguyên Phó TGĐ Navibank vụ án làm trái qui định…bị truy tố trên tư cách người gửi tiền (24-3-2018)

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2018

“Tôi tham gia vào nhiều vụ án kêu oan, nhưng chưa hề thấy lời kêu oan nào thống khổ và hay như một bản cáo trạng của người bị hàm oan, lột tả được bộ mặt tư pháp ẩn sau thần công lý rõ ràng như thế này” P.C.Út

 

 

LỜI NÓI SAU CÙNG CỦA ÔNG NGUYỄN GIANG NAM, NGUYÊN PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC NAVIBANK, 1 TRONG 10 BỊ CÁO KÊU OAN VỤ ÁN “CỐ Ý LÀM TRÁI…” TẠI PHIÊN SƠ THẨM TAND TP. HỒ CHÍ MINH TỪ NGÀY 28/2 ĐẾN 19/3/2018.

 
24-3-2019 

– Kính thưa Hội đồng xét xử TAND TP. Hồ Chí Minh,
– Thưa tất cả mọi người tham dự phiên tòa,

Như lời anh Lê Quang Trí đã nói, tôi vinh dự là người đầu tiên đi theo anh Trí xuống Kiên Giang làm việc để cùng xây dựng lên Navibank. Chúng tôi đã đi chung, ở chung, làm việc chung từ những ngày đầu gian khổ nhất. Và tất cả anh em chúng tôi đều tự hào khi xây dựng lên một Navibank với mạng lưới tại thời điểm anh Trí rời khỏi Navibank là hơn 100 điểm giao dịch. Tuy nhiên những con số này bây giờ cũng không còn nhiều ý nghĩa.

Sau khi vụ án “Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm” xảy ra, tuy Navibank không hề có bất kỳ kỷ luật nào, thậm chí đều giữ tất cả mọi người lại làm việc ở vị trí cũ, nhưng với ý thức trách nhiệm của mình, chúng tôi đều lần lượt nghỉ việc, hầu hết đều không còn làm trong ngành ngân hàng. Nhưng có lẽ số phận đeo đuổi và, như quý vị cũng đã biết, nếu như BLHS 2015 có hiệu lực vào 01/07/2016 như kế hoạch thì chúng tôi đã không bị khởi tố vào ngày 20/07/2016, vỏn vẹn 20 ngày sau khi Luật này được Quốc hội cho hoãn thi hành. Vừa qua, cuối cùng BLHS 2015 đã có hiệu lực ngày 01/01/2018, nếu như thông thường thì 10 người chúng tôi không còn là đối tượng của 1 điều luật đã bị bãi bỏ. Thế nhưng, Nghị quyết 41 của Quốc hội ban hành, trong đó Điều 165 vẫn áp dụng theo BLHS cũ với những vụ án đã khởi tố trước đó, đã một lần nữa tước đi của chúng tôi cơ hội thoát khỏi các cáo buộc này.

Chúng tôi vẫn luôn tự hào trong bất kể tình huống nào xảy ra, chúng tôi không hề tư lợi một đồng nào, kể cả trong suy nghĩ lẫn trong thực tế. Thế nên thật là éo le khi mà cả 10 người ở đây, đã lần lượt rời khỏi Ngân hàng mỗi người 1 nghề khác nhau thì đùng 1 cái lại quay trở lại ngồi cùng nhau trên 1 vị trí, ở 1 hoàn cảnh mà chắc chắn không ai muốn. Tuy vậy, với sự giúp đỡ của rất nhiều luật sư, cả 10 người chúng tôi đều quyết tâm làm rõ đúng sai. 

Trong suốt thời gian xét xử, đặc biệt khi vị đại diện VKS đọc lời luận tội, có thể nói tất cả chúng tôi đều bị sốc. Tôi xin phép được nói ra ngoài 1 tí, khi vụ án Huỳnh Thị Huyền Như xảy ra, ngân hàng ACB, quy mô lớn hơn Navibank rất nhiều lần, số tiền thiệt hại 718 tỉ, lớn hơn gấp 3 lần con số 200 tỉ của NVB, HĐQT ACB có họp ra biên bản và bị truy tố, Tòa phán xử mức án cao nhất là 7 năm tù. Còn chúng tôi, kính thưa vị đại diện VKS, 7 năm sau thời điểm xảy ra vụ án, đang đối diện với mức án được các vị đề nghị thấp nhất là 8-9 năm tù. Tôi không hiểu tại sao lại có sự khập khiễng đến phi lý ở đây. Và thậm chí là tất cả những cá nhân, tổ chức liên quan đến vụ án Huyền Như này, chỉ có chúng tôi là những cá nhân bị khởi tố điều tra, truy tố vì vi phạm Thông tư 02, đặc biệt là chúng tôi bị truy tố trên tư cách người gửi tiền. Không 1 cá nhân, tổ chức nào gửi tiền với lãi suất cao hơn 14% dù là trong hay ngoài vụ án Huyền Như bị khởi tố, truy tố vì vi phạm Thông tư 02 ngoài chúng tôi. Như vậy liệu rằng VKS đang truy tố oan chúng tôi, hay là VKS đang bỏ lọt tội phạm? Về vấn đề này tôi cũng đã từng hy vọng là thông qua đối đáp với VKS sẽ giúp HĐXX làm sáng tỏ vấn đề. Mười người chúng tôi, ngay từ khi bị khởi tố, mặc dù cũng biết là bị can, bị cáo có quyền im lặng, tất cả chưa bao giờ sử dụng quyền im lặng. Chúng tôi luôn cố gắng hết sức mình hợp tác với các cơ quan điều tra để góp phần làm sáng tỏ sự thật và qua đó minh oan cho chúng tôi.

Thế nên ngay khi HĐXX cung cấp những tài liệu chứng cứ mới, 10 người chúng tôi, ban ngày ngồi đây trên ghế bị cáo tham dự phiên tòa, buổi tối, ban đêm về miệt mài xem và đối chiếu từng ly từng tí một đến 2-3-4h sáng, rồi sau đó 6h dậy để có mặt tại phiên tòa nguyên một ngày. Xong rồi tối lại về ngồi nghiên cứu hồ sơ tài liệu, liên tục, liên tục với mong muốn tìm ra những điểm mới, những chứng cứ mới để vừa giúp HĐXX làm sáng tỏ sự thật, vừa chứng minh sự trong sạch của chúng tôi.

Tuy nhiên ngày hôm nay tôi thật sự buồn. Các vị đại diện VKS đề nghị HĐXX tuyên buộc chúng tôi mức án vô cùng nặng, nặng 1 cách phi lý, theo đánh giá của cá nhân tôi, rồi sau đó từ chối mọi tranh luận, từ chối mọi chứng cứ được đưa ra, từ chối, từ chối, từ chối tất cả những nỗ lực nghiên cứu tìm tòi chứng cứ của chúng tôi và của các luật sư và sau đó vẫn tiếp tục giữ nguyên quan điểm đưa chúng tôi vào vòng lao lý “cách ly khỏi xã hội một thời gian dài”. Tôi cho là, theo đánh giá của cá nhân tôi, là rất thiếu tình cảm, rất vô cảm. Tôi biết các vị cũng chỉ là đại diện cho 1 cơ quan giữ quyền công tố chứ không phải là vấn đề cá nhân gì ở đây, nhưng mà rõ ràng 10 con người ở đây, với 10 gia đình phía sau lưng, không hiểu các vị đánh giá mức độ vi phạm nếu có như thế nào mà các vị đưa ra mức án vô cùng nặng nề, 107-117 năm cho 10 người. Trong đó thậm chí những bị cáo như Phạm Thị Thu Hiền không hiểu mình vi phạm cái gì. Tôi thấy VKS tại tòa cũng phải đồng ý những điểm mà chị Hiền đưa ra: không là thành viên ALCO, làm đúng nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn bị VKS đề nghị mức án ưu ái là 8-9 năm tù.

Tôi vẫn giữ vững niềm tin là vị Chủ tọa và HĐXX sẽ xem xét hết mọi vấn đề, mọi ngóc ngách để đưa ra phán quyết công bằng, hợp lý cho chúng tôi. Tuy nhiên tôi vẫn mong các vị bên VKS, khi đưa ra những lời buộc tội cần kèm theo chứng cứ chứng minh, đặc biệt khi cả 10 người chúng tôi đều kêu oan. Đến giờ này chúng tôi vẫn tiếp tục kêu oan, và khi các vị đại diện VKS, thay vì giữ quyền công tố lại đi giữ quyền im lặng vốn là của chúng tôi, không trả lời, từ chối trả lời, tôi lại cho là mình vừa bị oan thêm 1 lần nữa. 

Diễn biến tại phiên tòa cho thấy thậm chí các vị bỏ mặc nhiệm vụ giải quyết quyền khiếu nại của chúng tôi bởi vì “sơ suất”, quên đưa hồ sơ chứng từ vụ án vì “thiếu sót”, những tài liệu mà tôi cho là cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá, kết tội chúng tôi, đánh giá thân phận của 10 con người và 10 gia đình phía sau, những người chưa bao giờ phạm tội.

 

Thậm chí khi mà các luật sư trình bày, các vị đại diện VKS nghe rất thờ ơ, lấy điện thoại bấm bấm, tôi biết các vị cũng không buồn nghe vì không có ý định trả lời bất kỳ câu hỏi hay ý kiến tranh luận nào. Chúng tôi, 10 thân phận, ngồi thấp thỏm phía ghế bị cáo không biết sau khi nghị án kết quả sẽ ra sao thì các vị đại diện VKS, thực hành quyền công tố, phán một câu vô cảm: “từ chối tranh luận với tất cả ý kiến của bị cáo và luật sư”, sau đó bỏ mặc 10 thân phận kêu oan với mức án phi lý mà các vị đưa ra, với những lời buộc tội đầy cảm tính, chung chung, không dựa trên bất kể một cơ sở nào. Vụ án Huyền Như xảy ra đã 7 năm rồi, 10 người chúng tôi đều đã nghỉ việc từ rất lâu rồi, vậy thì các vị VKS đánh giá sự “nguy hiểm” của chúng tôi dựa trên tiêu chí nào để rồi quyết tâm, rất quyết tâm, cực kỳ quyết tâm “cách ly chúng tôi ra khỏi xã hội 1 thời gian dài”.

Các vị đại diện VKS, khi các vị đọc lời luận tội, vốn không phải do cá nhân các vị soạn ra, khi các vị đọc những dòng buộc tội đó, đọc những mức án phi lý đó, các vị có thấy xót xa không? Các vị có thấy lăn tăn gì trong lòng không? Các vị có cảm giác chia sẻ gì với 10 con người đang bị các vị đọc những lời buộc tội oan ức ở đây không?

Thưa các vị đại diện VKS, hiện giờ cá nhân tôi thực sự không quan tâm nhiều đến mức án đề nghị phi lý mà các vị đang cố đặt lên đầu chúng tôi. Điều tôi quan tâm nhiều hơn, và trong thời gian qua đã tốn bao công sức, tâm huyết của 10 người chúng tôi, là nỗ lực giúp cho HĐXX tìm ra sự thật khách quan, điều mà các vị đang dày công ngăn trở bằng cách sử dụng “Quyền im lặng” của chúng tôi.

Kính thưa HĐXX,

Khi vụ án Huyền Như xảy ra, hầu như ai cũng đặt câu hỏi về việc Huyền Như là ai mà có tài xuất chúng đến độ chỉ với 1 chức vụ nhỏ là quyền Trưởng PGD của Vietinbank mà có thể khuynh đảo giới tài chính ngân hàng trong 4 năm, lừa 4.000 tỉ đồng các công ty, ngân hàng với vô số các chuyên gia giỏi 1 cách dễ dàng đến thế… Phải chăng Vietinbank là nơi ngọa hổ tàng long, chỉ 1 Quyền TPGD nho nhỏ cũng có sức mạnh hơn nhiều lãnh đạo các ngân hàng khác tập hợp lại?

Kết quả điều tra của CQĐT và VKS đã khám phá ra sự thật bất ngờ hơn nữa: Huyền Như chỉ dùng 1 chiêu bài “lãi suất cao”, tự ký giả chứng từ, nhờ 1 tay thợ vô danh làm giả vài con dấu và thế là ung dung chuyển/rút tiền hàng chục ngàn tỉ từ vô số các tài khoản của khách hàng tại Vietinbank một cách dễ dàng. Thật là đơn giản.

Và kết quả điều tra này cũng làm chúng tôi bất ngờ. Khi điều tra thì CQĐT và VKS hình như không kiểm chứng lại lời khai nhận tội của Huyền Như mà xem như mặc nhiên đúng, không cần phải chứng minh. Kẻ lừa đảo đã thừa nhận và khai nhận mọi tội trạng rồi, chỉ cần mang ra xử và kết án là xong. 

Không cần phải có kiến thức quá chuyên sâu về ngân hàng, các vị ở CQĐT và VKS hoàn toàn có thể tự kiểm chứng lại lời khai của Huyền Như bằng cách yêu cầu Huyền Như thực nghiệm giả chữ ký rồi lấy tiền ra xem có rút được tiền ra, từ đó chứng minh lời khai có đúng hay không?

Thực tế là Huyền Như không thể, và không bao giờ có thể rút được tiền từ tài khoản khách hàng dù chỉ 1 đồng, chỉ với những chữ ký, dù là giả hay thật, và con dấu, dù giả hay thật, bởi vì Huyền Như chưa bao giờ là người canh giữ tài khoản, canh giữ kho tiền của Vietinbank cả. Chính những giao dịch viên của Vietinbank mới là những người tiếp nhận yêu cầu của khách hàng hoặc của Huyền Như nhập Lệnh chi vào hệ thống, những kiểm soát viên của Vietinbank phê duyệt các giao dịch đó mới là những người cho phép tiền chảy ra khỏi tài khoản khách hàng.

Thế nhưng tôi đọc tất cả các bút lục, xuyên suốt vụ án, không 1 dòng nào của CQĐT nhắc đến các đối tượng là GDV, KSV trong suốt 4 năm ở cả 2 chi nhánh, 3 phòng giao dịch của Vietinbank cả. Chắc chắn những người này nếu không phải là đồng phạm với Huyền Như thì cũng phải là đối tượng bị Huyền Như dẫn dụ, lừa đảo. Tôi tự hỏi phải chăng CQĐT và VKS đang có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, dẫn đến nhận định sai lệch và kết oan người vô tội, trong đó có 10 người chúng tôi?!

Kính xin HĐXX xem xét:

– Yêu cầu CQĐT, VKS điều tra làm rõ cách thức thực hiện và thực nghiệm xem trên thực tế Huỳnh Thị Huyền Như sử dụng chữ ký giả, con dấu giả như thế nào để rút được tiền ra khỏi tài khoản khách hàng;

– Yêu cầu CQĐT, VKS điều tra, đánh giá vai trò của các GDV, KSV của Vietinbank đã thực hiện các lệnh chi trái luật giúp cho Huỳnh Thị Huyền Như rút tiền ra khỏi tài khoản khách hàng.

Tôi xin không đi sâu thêm nữa. Một lần nữa, tôi kính xin vị Chủ tọa, các vị trong HĐXX, khi nghị án xin hãy cố gắng xem xét một cách toàn diện và đưa ra phán quyết công bằng, hợp lý cho tất cả chúng tôi, điều mà tôi không hy vọng gì có được từ phía các vị đại diện VKS.

Trân trọng cảm ơn.

Nguyễn Giang Nam

Trịnh Vĩnh Phúc…Đã xin phép đăng và có sự đồng ý của ông Nguyễn Giang Nam.

____

“TẢNG ĐÁ CHẶN ĐƯỜNG” VỤ ÁN NAVIBANK

Hôm qua 16/3, trong phần đối đáp tại phiên tòa xét xử vụ án Navibank, tôi kết thúc ý kiến phát biểu của mình bằng câu:

“Việc đại diện Viện Kiểm sát từ chối đối đáp các vấn đề mà bị cáo và luật sư đặt ra, chẳng khác gì các vị tự biến mình thành khối đá tảng chặn đường đi tìm sự thật khách quan của vụ án”.

Nói thế mà không làm lay chuyển ý chí sắt đá của 2 vị nữ kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đang cố giữ “quyền im lặng”, thật đáng nể

_____

* án đã có sẵn, cấp trên của họ không cho 2 KSV trả lời, 

______

Navibank khổ sở kiện đòi 200 tỷ đồng tiền gửi bị Huyền Như chiếm đoạt

TGO

Ngày 7/9/2011, siêu lừa Huỳnh Thị Huyền Như đã tất toán 12 hợp đồng tiền gửi của Navibank tại Vietinbank TP.HCM với tổng số tiền 300 tỷ đồng. Còn 200 tỷ đồng chưa tất toán đã bị Như chiếm đoạt.

Navibank khổ sở kiện đòi 200 tỷ đồng tiền gửi bị Huyền Như chiếm đoạt

 

Ngân hàng NCB (trước là Navibank) vẫn theo đuổi vụ kiện đòi 200 tỷ đồng tiền gửi vào VietinBank đã bị Huyền Như chiếm đoạt 

Từ ngày 28/2 đến 16/3/2018, Tòa án nhân dân TP.HCM sẽ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, xảy ra tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank, nay là NCB).

HĐXX gồm chủ tọa là thẩm phán Vũ Thanh Lâm, thẩm phán Nguyễn Anh Tuấn và 1 thẩm phán dự khuyết; 2 kiểm sát viên VKSND TP.HCM giữ quyền công tố tại phiên tòa là bà Hà Thị Bích Thu, Nguyễn Ngọc Lê.

Navibank được xác định là nguyên đơn dân sự của vụ án này.

Trong phiên toà này, HĐXX sẽ làm rõ tội danh của 10 bị can bị là những cán bộ lãnh đạo của ngân hàng Navibank, gồm ông Lê Quang Trí (nguyên Tổng giám đốc Navibank), các ông Cao Kim Sơn Cương, Nguyễn Giang Nam, Nguyễn Hùng Sơn (nguyên Phó tổng giám đốc Navibank). 6 bị can còn lại nguyên là trưởng các phòng ban của Navibank.

Bị cáo nổi tiếng là Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên Phó phòng quản lý rủi ro Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, chi nhánh TP.HCM) và Võ Anh Tuấn nguyên Phó Giám Đốc chi nhánh VietinBank Nhà Bè, TP.HCM – cũng bị trích xuất tham gia phiên tòa này.

Toà án cũng triệu tập nguyên 3 nguyên cán bộ lãnh đạo của Vietinbank chi nhánh TP.HCM, gồm các ông Nguyễn Văn Sẽ (nguyên giám đốc), bà Nguyễn Thị Minh Hương và ông Trương Minh Hoàng (cùng nguyên phó giám đốc) với tư cách người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan. Trước đó, 3 cá nhân này đều vắng mặt trong phiên tòa xử vụ Huỳnh Thị Huyền Như diễn ra hơn 10 ngày trước.

Theo kết luận điều tra bổ sung lần thứ 2, từ tháng 4/2011, Lê Quang Trí đã họp thống nhất chủ trương cho các nhân viên Navibank để đứng tên, gửi hơn 1.500 tỷ đồng vào VietinBank chi nhánh Nhà Bè và chi nhánh TP HCM để nhận gần 76 tỷ đồng tiền lãi.

Đến tháng 7/2011, VietinBank chi nhánh Nhà Bè quyết toán cho Navibank hơn 1.000 tỷ đồng. Còn 500 tỷ đồng tiền gửi chưa đến hạn quyết toán được gửi vào VietinBank chi nhánh TP HCM bằng 18 hợp đồng tiền gửi.

Ngày 7/9/2011, Huyền Như đã tất toán 12 hợp đồng với tổng số tiền 300 tỷ đồng, còn 200 tỷ đồng còn lại đã bị Như chiếm đoạt.

Cơ quan điều tra nhận định việc các bị can nguyên là lãnh đạo, cán bộ Navibank ra chủ trương gửi tiền vào VietinBank là vi phạm các quy định pháp luật, tạo điều kiện để Huyền Như chiếm đoạt 200 tỷ đồng.

Trước đó, sau khi kết thúc các phiên xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản do Huyền Như và đồng bọn thực hiện, đã chiếm đoạt hơn 5.000 tỷ đồng của nhiều ngân hàng, tổ chức, bị cáo Huyền Như đã bị toà tuyên án tù chung thân. Mức án cao nhất của Huyền Như do bị cáo phạm hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Nhưng đến tháng 2/2015, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM đã tuyên hủy một phần bản án nêu trên để điều tra lại nhằm làm rõ hành vi tham ô tài sản của Huyền Như trong việc chiếm đoạt 1.285 tỷ đồng của một số công ty, cá nhân và ngân hàng, trong đó Navibank thiệt hại 200 tỷ đồng. Cơ quan điều tra tách ra thành 2 vụ, trong đó Navibank thành 1 vụ để điều tra riêng. Ngày 9/2 vừa qua, TAND TPHCM đã tuyên án sơ thẩm 1 vụ và sẽ đưa vụ Navibank ra xét xử vào ngày 28/2/2018

_______

4 “KHỐI ĐÁ TẢNG” CHẶN ĐƯỜNG VỤ ÁN NAVIBANK

 
19-3-2018
 
Trong vụ án Navibank, mọi người đều nhận ra có nhiều “khối đá tảng” chặn đường các bị cáo và luật sư trong nỗ lực làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và giải oan cho các bị cáo kêu oan.Đó là:

Tảng đá 1:

Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh, có nội dung “buộc bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như phải bồi thường cho Navibank 200 tỷ đồng” mà các cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào đó để quy kết 10 bị cáo nguyên là cán bộ Navibank đã gây ra hậu quả cho tội danh “Cố ý làm trái…”, không cho họ và các luật sư được đề cập và chứng minh sự mâu thuẫn và bất hợp lý với lý do “bản án đã có hiệu lực pháp luật” (?).

Tảng đá 2:

Bị án Huỳnh Thị Huyền Như ra phiên tòa vụ án Navibank với tư cách “Người làm chứng” với điệp khúc “Vụ việc lâu quá tôi không nhớ, những gì Cơ quan CSĐT Bộ Công an điều tra kết luận về hành vi của tôi đều đúng, tôi xin không trả lời các câu hỏi của luật sư”. Bị án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” số tiền trên 4.000 tỷ đồng với 2 án tù chung thân nay bỗng trở thành ”thánh nữ” khi lời khai của cô ta trở thành “khuôn vàng thước ngọc”, nói sao nghe vậy, không cần phải đối chất, xác minh, giám định, thực nghiệm điều tra, mặc dù mâu thuẫn với lời khai của một số bị cáo và bộc lộ rõ sự phi lý (!).

Tảng đá 3:

Người đại diện theo ủy quyền của Vietinbank là ông Nguyễn Tiến Hùng (luật sư Đoàn Luật sư TP. Hà Nội), với câu chữ được lập trình sẵn: “Tất cả tài liệu có liên quan đến vụ án, Vietinbank đã cung cấp cho Cơ quan CSĐT Bộ Công an trong quá trình điều tra vụ án Huyền Như, tôi không có nghĩa vụ phải trả lời các luật sư…”, bất chấp quy định của Điều 315 Bộ luật TTHS quy định về nghĩa vụ cung cấp và giải trình tài liệu chứng cứ của cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tảng đá 4:

Đó là việc giữ “quyền im lặng”, “bảo lưu quan điểm truy tố”, từ chối đối đáp của 2 vị đại diện Viện KSND TP. Hồ Chí Minh trước hàng loạt câu hỏi và vấn đề đặt ra của 10 bị cáo và trên 20 luật sư trong phần tranh luận – đối đáp, bất chấp quy định tại Điều 322 Bộ luật TTHS: “Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”!!!

Chiều nay 19/3 lúc 3 giờ, Hội đồng xét xử TAND TP. Hồ Chí Minh sẽ đưa ra quyết định sau thời gian nghị án từ chiều 16/3, theo đó có thể tuyên án, có thể trả hồ sơ điều ra bổ sung và cũng có thể quay lại phần xét hỏi và tranh luận…

Bất luận Tòa án quyết định ra sao, vụ án Navibank sẽ đi vào lịch sử tố tụng Việt Nam với các dấu ấn khó phai mờ.

 

 

_______

10 cựu lãnh đạo Navibank chạy tội bất thành

Dù dùng nhiều chiêu đối phó nhưng cuối cùng nhóm cựu lãnh đạo Navibank vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

10 cựu lãnh đạo Navibank chạy tội bất thành

 

Sáng 28/2, TAND TP HCM khai mạc phiên tòa xét xử bị can Lê Quang Trí (nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Nam Việt – Navibank, sau này là Ngân hàng Quốc Dân) cùng 9 đồng phạm về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Ngoài 10 bị cáo bị bị VKSND Tối cao truy tố, 2 bị án Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên quyền Trưởng Phòng Giao dịch Điện Biên Phủ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – VietinBank – Chi nhánh TP HCM) và Võ Anh Tuấn (nguyên Phó Giám đốc VietinBank Chi nhánh Nhà Bè) đã bị tuyên án trước đó trong vụ án khác sẽ được triệu tập với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Thậm thụt hưởng lãi ngoài

Theo cáo trạng, để có tiền trả nợ vay do kinh doanh thua lỗ, từ tháng 3-2010 đến tháng 9-2011, Huyền Như lấy danh nghĩa đi vay tiền gửi cho VietinBank đã trực tiếp gặp gỡ, thỏa thuận với các đối tượng môi giới, đại diện của các đơn vị, cá nhân. Theo đó, Huyền Như sẽ nhận tiền gửi của các đơn vị với lãi suất ưu đãi, hứa hẹn trả cho người môi giới, đại diện của các công ty tiền chênh lệch ngoài hợp đồng, phí môi giới. Cụ thể, lãi suất theo quy định thì do VietinBank trả, tiền chênh lệch ngoài hợp đồng, tiền hoa hồng do Huyền Như trả.

Tháng 11/2010, biết Navibank có chủ trương gửi tiền nhàn rỗi huy động được vào các tổ chức tín dụng để lấy lãi suất cao, Huyền Như đã nhờ Võ Anh Tuấn gặp Đoàn Đăng Luật – Trưởng Phòng Nguồn vốn Navibank – trao đổi việc gửi tiền.

Theo thỏa thuận, Navibank gửi tiền sang VietinBank Chi nhánh Nhà Bè sẽ được hưởng lãi suất từ 16,5%-22,5%/năm; lãi suất ghi trên hợp đồng là 14%/năm, lãi ngoài hợp đồng từ 2,5%-8,5%/năm; phần lãi chênh lệch ngoài hợp đồng được trả cho Navibank ngay sau khi tiền được chuyển vào VietinBank Chi nhánh Nhà Bè mà không đợi đến hạn tất toán hợp đồng tiền gửi. Sau cuộc gặp này, Đoàn Đăng Luật đã báo cáo với lãnh đạo Navibank. Cựu Tổng Giám đốc Navibank Lê Quang Trí đã chỉ đạo, thống nhất phương án cho 14 nhân viên đứng tên trên các thủ tục vay tiền và gửi tiền.

Do thực chất số tiền của Navibank thỏa thuận với Võ Anh Tuấn gửi vào VietinBank Chi nhánh Nhà Bè là do Huyền Như huy động nhằm mục đích chiếm đoạt nên Như đã ra lệnh cho Trần Thị Tố Quyên (người giúp việc) mang hồ sơ mở tài khoản của 14 nhân viên Navibank đến giao cho Đoàn Đăng Luật. Các nhân viên đứng tên vay ký một số chứng từ theo yêu cầu và giao tại Navibank, không đến VietinBank Chi nhánh Nhà Bè để làm thủ tục mở tài khoản theo quy định.

Do vậy, ngay từ khi nhận được 14 bộ hồ sơ để mở tài khoản tiền gửi, Như đã thay bằng hồ sơ do Như ký giả chữ ký của 14 nhân viên Navibank rồi đưa Quyên mang đến mở tài khoản tiền gửi tại Phòng Giao dịch Võ Văn Tần để thực hiện việc lập các chứng từ giả, giả chữ ký chủ tài khoản. Từ đó, tiền được chuyển ra khỏi tài khoản 14 nhân viên để Như sử dụng cá nhân.

Bằng những chiêu thức này, từ ngày 19-11-2010 đến 26-7-2011, Navibank đã cho 47 lượt cá nhân đứng tên vay 1.543 tỉ đồng gửi vào VietinBank Chi nhánh Nhà Bè và Chi nhánh TP HCM. Tổng số tiền lãi Navibank thu được là 75,7 tỉ đồng; trong đó lãi trong hợp đồng là 51,3 tỉ đồng, lãi chênh lệch là 24,3 tỉ đồng. Số tiền lãi ngoài hợp đồng này Navibank đã chuyển cho 47 lượt cá nhân. Trong vụ án này, Huyền Như đã chuyển trả cho Navibank 1.343 tỉ đồng, còn 200 tỉ đồng mất khả năng thanh toán.

Kế hoạch đối phó bất thành

Sau khi Bộ Công an khởi tố Huỳnh Thị Huyền Như thì ông Lê Quang Trí cùng dàn lãnh đạo Navibank thời đó đã có cuộc họp khẩn lên phương án đối phó.

Tại cuộc họp khẩn cấp này, dưới sự chủ trì của ông Trí, dàn lãnh đạo đã thống nhất phương án nhờ Nguyễn Hồng Hà (Giám đốc Công ty Bắc Hà) ký khống hợp đồng mua bán ngoại tệ, hợp đồng nhận chuyển nhượng 6 hợp đồng tiền gửi của 4 nhân viên Navibank tại VietinBank Chi nhánh TP HCM. Nội dung là Navibank tạm ứng cho Công ty Bắc Hà số tiền 200 tỉ đồng để mua ngoại tệ nhằm hợp thức hóa chứng từ, hạch toán khống, tất toán khống khoản vay 200 tỉ đồng của 4 nhân viên tại Navibank.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Hồng Hà khai rằng đến tháng 6-2011, dư nợ của Công ty Bắc Hà tại Navibank là 118 tỉ đồng. Vào khoảng thời gian này, một lãnh đạo Navibank gặp ông đề nghị ký các hợp đồng vay 200 tỉ đồng của Navibank và ký hợp đồng chuyển nhượng, các biên bản giao 200 tỉ đồng cho 4 cá nhân để tất toán khoản nợ với Navibank về mặt chứng từ.

Thực tế, Công ty Bắc Hà chưa bao giờ giao 200 tỉ đồng cũng như không ký trực tiếp với 4 cá nhân, ông Hà là người ký đầu tiên trên các tài liệu này. Ông Hà khai không được hưởng lợi gì từ việc ký hồ sơ do Navibank yêu cầu. Hiện tại, Công ty Bắc Hà đã dừng hoạt động và vẫn còn dư nợ 118 tỉ đồng với Navibank.

Quá trình xử lý vụ án có nhiều đơn kiến nghị kêu oan của các bị can và luật sư. Luật sư của bị cáo Huỳnh Vĩnh Phát (nguyên Trưởng Phòng Kế toán Navibank) và một số bị cáo khác có ý kiến cho rằng: Bản án phúc thẩm phiên tòa xử Huỳnh Thị Huyền Như không hủy phần 200 tỉ đồng của Navibank và cũng không ra quyết định khởi tố vụ án đối với hành vi liên quan đến số tiền này. Tuy nhiên, cáo trạng của VKSND Tối cao lại truy tố các thành viên liên quan đến số tiền 200 tỉ đồng là vi phạm tố tụng do vi phạm nguyên tắc “một hành vi chỉ được xét xử một lần”.

Ngoài ra, hành vi của Huyền Như chiếm đoạt 200 tỉ đồng của Navibank là “Tham ô tài sản” chứ không phải “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, không có cuộc họp Hội đồng Ủy ban Quản lý tài sản – nợ (Hội đồng Alco) quyết định việc gửi tiền sang VietinBank. Các bị cáo cũng không biết về chủ trương của Hội đồng Alco, chưa bao giờ thực hiện bất kỳ chỉ đạo nào của Hội đồng Alco cho nhân viên của Navibank vay tiền gửi sang VietinBank; việc Huỳnh Vĩnh Phát nhận tiền lãi suất chênh lệch là không trái pháp luật.

Về vấn đề này, Bộ Công an và VKSND Tối cao đã có công văn trả lời rất rõ ràng, việc xử lý và truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Theo Phạm Dũng/NLĐ

 

_______

14-3-2018

LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO PHẠM THỊ THU HIỀN, 1 TRONG 10 CÁN BỘ NAVIBANK BỊ CƠ QUAN CSĐT BỘ CÔNG AN KHỞI TỐ ĐIỀU TRA, VIỆN KSND TỐI CAO TRUY TỐ VÀ TAND TP. HỒ CHÍ MINH XÉT XỬ SƠ THẨM VỀ TỘI “CỐ Ý LÀM TRÁI CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG” THEO QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 3 ĐIỀU 165 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999, TẠI TRỤ SỞ TAND TP. HỒ CHÍ MINH, TỪ NGÀY 28/02 ĐẾN NGÀY 19/3/2018.

– Kính thưa Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh!
– Thưa hai vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố tại phiên tòa!
– Thưa quý vị đồng nghiệp luật sư và những người tham gia tố tụng trong vụ án, cùng toàn thể cử tọa có mặt trong phiên tòa! 

Tôi, Luật sư TRỊNH VĨNH PHÚC là người bào chữa cho bị cáo PHẠM THỊ THU HIỀN bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công an (CQCSĐT-BCA) khởi tố điều tra và cấm đi khỏi nơi cư trú, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) truy tố và Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (TAND TPHCM) thụ lý xét xử sơ thẩm về tội “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 3 Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Đây là vụ án liên quan đến vụ án “Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm” đã trãi qua Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST ngày 27/01/2014 của TAND TPHCM và Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM, mà trong đó 2 bản án đã kiến nghị khởi tố điều tra đối với các cán bộ ngân hàng Navibank về hành vi cố ý làm trái, gây hậu quả bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt 200 tỷ đồng.

Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 ngày 17/11/2017 thay thế Cáo trạng số 01/KSĐT-VKSTC-V3 ngày 02/12/2016 của VKSNDTC truy tố 10 bị cáo nguyên là cán bộ Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank), trong đó có bị cáo Phạm Thị Thu Hiền, do quyết định tách vụ án của CQCSĐT-BCA.

Trước đó, 10 bị can bị quy buộc trách nhiệm hình sự theo Bản kết luận điều tra số 68/C46-P10 ngày 12/9/2017 của CQCSĐT-BCA, thay thế Bản kết luận điều tra số 59/C46-P10 ngày 01/8/2016, do quyết định tách vụ án của CQCSĐT-BCA.

Bên cạnh đó, CQCSĐT-BCA còn ban hành Bản kết luận điều tra bổ sung số 96/C46-P10 ngày 31/10/2016 với một phần dành cho việc làm rõ nội dung đơn kêu oan của bị can Phạm Thị Thu Hiền.

Cáo trạng truy tố các bị cáo ra tòa hôm nay có đặc điểm dễ nhận ra là trong phần kết luận không cá biệt hóa hành vi phạm tội của từng bị cáo, mà chỉ có kết luận chung.

Đây là vụ án có nhiều vấn đề về thủ tục tố tụng và nội dung đáng để luận bàn, nó có liên quan đến đại án Huỳnh Thị Huyền Như đã trãi qua 2 cấp xét xử (giai đoạn 1) và đại án Huỳnh Thị Huyền Như vừa mới trãi qua xét xử sơ thẩm (giai đoạn 2), và hơn hết nó là vụ án mà tất cả các bị cáo đều kêu oan.

Dù với danh nghĩa luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Thu Hiền nhưng tôi xác định quyền lợi của thân chủ mình được đặt chung trong quyền lợi của cả 10 bị cáo. Nếu vụ án được làm rõ, chứng minh được hành vi của các bị cáo không cấu thành tội phạm thì sẽ hóa giải cho tất cả bị cáo trong vụ án, không riêng gì một bị cáo Phạm Thị Thu Hiền.

Trong phần Luận tội, đại diện Viện Kiểm sát gần như lập lại nội dung Cáo trạng và đưa ra mức án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt, trong đó bị cáo Phạm Thị Thu Hiền bị đề nghị mức án từ 9 – 10 năm tù.

Sau khi nghe 10 bị cáo tự bào chữa và nghe khoảng 2/3 luật sư bào chữa cho các bị cáo, trong đó có các luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Thu Hiền. Tôi tán đồng nội dung lời tự bào chữa của 10 bị cáo, trong đó nhiều bài tự bào chữa có nội dung khúc chiết, lập luận chặt chẽ, thông tin chi tiết chính xác, chứa đựng cảm xúc chân thành.

Tôi tán đồng và đánh giá cao nhiều ý kiến bào chữa của các luật sư, tiêu biểu là ý kiến của LS Trần Thị Hồng Việt, LS Bùi Quang Nghiêm, LS Trần Vũ Hải, LS Nguyễn Minh Tâm, LS Nguyễn Minh Cảnh, LS Nguyễn Đình Thuận, LS Đồng Hữu Pháp, LS Huỳnh Phước Hiệp, LS Nguyễn Hà Luân, LS Đào Kim Lân, LS Đặng Đình Mạnh, LS Ngô Anh Tuấn, LS Nguyễn Duy Bình, LS Nguyễn Đình Thái Hùng…

Tôi phải cố nén cảm xúc trong thời gian nghe các bị cáo trình bày lời bào chữa và cả khi chính mình trình bày lời bào chữa hôm nay.

Tham gia vụ án có nhiều luật sư bào chữa, để tìm sự hợp lý hóa cao nhất cho công việc bào chữa, tiết kiệm thời gian chung cho phiên tòa, không để xảy ra sự trùng lập không cần thiết, giữa các luật sư cũng đã có sự phân công nhau với mức độ tương đối hợp lý.

Về phần mình, tôi xin phát biểu một số vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án, liên quan đến căn cứ kết tội các bị cáo và nhấn mạnh một vài nội dung liên quan đến yếu tố gây oan cho các bị cáo trong đó có bị cáo Phạm Thị Thu Hiền, như sau đây:

I. VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG:

1. Vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) được khởi tố điều tra, truy tố và xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, các bị can – bị cáo bị xử lý về một tội danh không còn tồn tại theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành (BLHS ban hành năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018).

Về mặt nhận thức pháp luật, tội danh theo Điều 165 BLHS năm 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập về lý luận cũng như thực tiễn xét xử; khi xây dựng mới BLHS năm 2015, Ban soạn thảo dự án luật cũng như Quốc hội cũng đã quyết định bỏ điều luật này để thay thế bằng nhóm điều luật mới, đảm bảo tính khoa học pháp lý và sát với thực tiễn hơn. Do đó, có thể hiểu đây là một trong những vụ án cuối cùng xét xử các bị cáo về tội danh theo điều luật cũ và nó sẽ chấm dứt tình trạng này trong một thời gian không xa.

Luật sư Trần Vũ Hải trong phần bào chữa đã phân tích sâu về điều luật này và đã đưa ra kiến nghị Hội đồng xét xử TAND TPHCM ra quyết định dừng phiên tòa để Tòa án kiến nghị UBTVQH xem xét và giải thích việc áp dụng luật trong trường hợp hồi tố Điều 165 BLHS (năm 1999, 2009) đã được BLHS mới (năm 2015, 2017) thay thế, tôi tán thành và không phân tích thêm.

2. Về mặt lý thuyết và cả về thực tiễn, tội danh theo Điều 165 BLHS năm 1999 lâu nay thường được áp dụng cho khối doanh nghiệp Nhà nước vì doanh nghiệp này vận hành bằng vốn và nhân sự từ Nhà nước, theo các quy định về quản lý kinh tế của Nhà nước. Trong khi đó, Navibank là ngân hàng thương mại cổ phần với vốn tư nhân, nhân sự không do Nhà nước bổ nhiệm. Các bị cáo nguyên là các cán bộ Navibank không bị Hội đồng quản trị hay Đại hội đồng cổ đông xử lý kỷ luật hay trách phạt, Navibank không buộc cán bộ của mình nộp bồi thường tiền thất thoát nếu xem 200 tỷ bị thất thoát. Việc áp dụng điều luật cũ, lại có phần xa lạ về chủ thể trong trường hợp này, là một vấn đề đáng suy xét.

3. Vụ án này từ lúc khởi tố điều tra đến lúc kết thúc điều tra chỉ diễn ra đúng 11 ngày bao gồm ngày nghỉ cuối tuần, tính từ ngày CQCSĐT BCA ban hành Quyết định khởi tố bị can ngày 20/7/2016 đến ngày ra Bản kết luận điều tra số 59/C46-P10 ngày 01/8/2016. Chính vì vụ án điều tra và kết luận trong thời gian ngắn kỷ lục đến mức chưa từng có trong lịch sử tố tụng nên có nhiều bất cập trong việc xác định sự thật vụ án như nhiều vấn đề của vụ án chưa được làm rõ, nhiều tài liệu chưa được thu thập, việc thu thập tài liệu chưa đảm bảo đúng trình tự thủ tục, các bị cáo chưa được đối chất khi có nhiều vấn đề chưa rõ và mâu thuẫn, chưa được giải quyết các yêu cầu khiếu nại trong tố tụng…

Cũng xuất phát từ công tác điều tra mà dẫn tới nội dung Bản kết luận điều tra số 68 của CQCSĐT BCA, Cáo trạng số 80 của VKSNDTC và Bản án hình sự phúc thẩm số 02 của Tòa Phúc thẩm TANDTC có sự mâu thuẫn về tình tiết mấu chốt của vụ án, không được VKSNDTC làm rõ khi truy tố và đại diện VKSND TPHCM không đề cập khi luận tội. Các vấn đề này đã được nhiều luật sư đề cập, nên tôi không lập lại các tình tiết cụ thể.

4. Cũng vì việc giải quyết vụ án chạy theo chỉ tiêu thời gian, nên trong việc giải quyết vụ án, VKSNDTC đã tước mất quyền khiếu nại của các bị cáo và từ bỏ trách nhiệm giải quyết khiếu nại của cơ quan mình. Tại phiên tòa, qua phần thẩm vấn của các luật sư đối với 10 bị cáo, cho thấy trừ bị cáo Trần Thanh Bình, còn lại 9 bị cáo đều có đơn khiếu nại đối với Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 ngày 17/11/2017 sau khi được tống đạt. Thế nhưng không một bị can – bị cáo nào nhận được văn bản giải quyết khiếu nại của VKSNDTC.

5. Về việc sử dụng Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM để mặc định hậu quả của hành vi cố ý làm trái của các bị cáo mà không cần chứng minh, không được chứng minh, cần được nhìn nhận, đánh giá một cách khoa học và hợp lý.
Theo đó, nếu căn cứ vào bản án trước đó thì lại mâu thuẫn với nội dung Bản kết luận điều tra và Cáo trạng của vụ án này, thì phải xử lý sao đây?

Không những mâu thuẫn số liệu giữa các văn bản tố tụng mà còn phát sinh chứng cứ là các bản sao kê và bút toán có nội dung mới phát sinh, làm lộ ra sự bất hợp lý và không chính xác của số liệu trong bản án có hiệu lực pháp luật trước đó.

6. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử TAND TPHCM đã ra Quyết định dừng phiên tòa từ ngày 07/3 đến 12/3/2018, ra Quyết định yêu cầu VKSNDTC cung cấp tài liệu gồm: Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST ngày 27/01/2014 của TAND TPHCM và Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM cùng với Sao kê tài khoản 4 nhân viên Navibank mở tại Vietinbank CN TPHCM. Vào ngày 12/3/2018 Tòa án tiếp tục xét xử và chúng tôi được cung cấp bản photocopy các tài liệu đã được VKSNDTC thu thập và cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên, chúng tôi chưa được dành thời gian tối thiểu cần thiết để nghiên cứu thẩm định tài liệu. Trong đó các bản Sao kê có nội dung thể hiện bằng tiếng Anh chưa được dịch thuật, không phù hợp với quy định tại Điều 29 BLTTHS “Tiếng nói và chữ viết trong tố tụng hình sự”.

7. Việc xét xử tại phiên tòa chưa đảm bảo quy định tại Điều 315 BLTTHS “Trình bày, công bố tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Theo đó, trong vụ án này đại diện Vietinbank tham gia tố tụng tại Tòa là ông Nguyễn Tiến Hùng đã không thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu và không trình bày các tài liệu có liên quan theo yêu cầu của các luật sư trong phần thẩm vấn khi xét xử vụ án như theo quy định tại điều luật mới này. Ông Nguyễn Tiến Hùng, trong phần thẩm vấn, khi các luật sư hỏi đến các vấn đề thuộc trách nhiệm của Vietinbank thì ông trả lời với câu chữ gần giống như được lập trình: “Tất cả tài liệu có liên quan đến vụ án, Vietinbank đã cung cấp đầy đủ cho cơ quan điều tra, tôi không có nghĩa vụ phải trả lời các luật sư…”. Qua cách thể hiện như vậy, người đại diện Vietinbank gần như vô hiệu hóa điều luật tiến bộ của BLTTHS mới và biến mình thành khối đá tảng chặn đường các luật sư trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án.

8. Trong hồ sơ vụ án có nhiều tài liệu không bình thường chưa được làm rõ, cả về nội dung và thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ của CQCSĐT BCA. Một trong các tài liệu đó là Công văn không số đề ngày 20/6/2012 của Vietinbank TPHCM, không người ký tên, không đóng dấu pháp nhân, với nội dung khó hiểu, phi lý và đáng ngờ. Trong đó, sau khi thực hiện phép tính cộng trừ đơn giản, lấy số tiền 4 nhân viên của Navibank gồm: Huỳnh Linh Chi, Lương Thị Thủy Tiên, Nguyễn Cao Thùy Anh và Lê Thị Thu Hương nộp vào tài khoản Vietinbank TPHCM trừ số tiền chuyển ra cho 5 người gồm Nguyễn Thị Lành, Nguyễn Lê Anh Tú, Dương Thanh Tâm, Nguyễn Cao Thùy Anh và Lương Thị Thủy Tiên, thì số tiền còn lại là: 200 tỷ – 184,6 tỷ = 15,4 tỷ đồng. Tại sao lại có số liệu chênh lệch như thế này, cần phải được làm rõ.

9. Căn cứ vào nội dung chi tiết Sao kê tài khoản của 4 nhân viên Navibank gồm Huỳnh Linh Chi, Lương Thị Thủy Tiên, Nguyễn Cao Thùy Anh và Lê Thị Thu Hương tại Vietinbank, được VKSNDTC cung cấp theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu của Tòa án, bằng cách kiểm tra theo cách thức thông thường các bị cáo là các cán bộ Navibank phát hiện ra số dư trong tài khoản của 4 nhân viên này cộng lại con số gần tròn 300 triệu đồng. Như vậy Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST ngày 27/01/2014 của TAND TPHCM và Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM quy kết Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt từ tài khoản Vietinbank 200 tỷ đồng có chính xác không? Căn cứ vào 2 bản án có sẵn, VKSNDTC thông qua Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 ngày 17/11/2017 và các vị đại diện VKSND TPHCM tại phiên tòa xác định Navibank bị mất 200 tỷ đồng do bị lừa đảo chiếm đoạt, có cơ sở pháp lý và dựa trên thực tế hay không?

10. Trong phần thẩm vấn, các bị cáo đồng loạt phản ánh một thực tế trong quá trình điều tra họ bị Điều tra viên Cục C46 dụ cung và ép cung, dọa sẽ bắt giam hoặc chuyển sang khởi tố tội danh nặng hơn nếu không nhận tội, không chịu ký tên vô các bản cung viết sẵn, vì bị áp lực và quá lo sợ nên các bị cáo nhận liều, ký liều, chỉ mong khi ra Tòa sẽ có cơ hội trình bày đúng và đủ ý kiến của mình. 

Đáng tiếc, việc các luật sư đề nghị triệu tập điều tra viên đến tham gia phiên tòa để làm rõ các vấn đề và tình tiết của vụ án, để cho các bị cáo có cơ hội đối chất đã không được thực hiện. Do đó,vấn đề các bị can bị dụ cung và ép cung không được làm rõ…

Còn nhiều vấn đề khác nữa, nhưng thiết nghĩ chỉ với bấy nhiêu cũng đủ nhận thấy việc điều tra và truy tố vụ án “Cố ý làm trái…” xảy ra tại Navibank còn nhiều vấn đề bất cập, ảnh hưởng đến việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án, không đảm bảo quyền lợi của các bị cáo kêu oan trong vụ án này.

II. VỀ NỘI DUNG GÂY OAN SAI:

Về nội dung cáo buộc của Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 ngày 17/11/2017 của VKSNDTC đối với 10 bị cáo, trong đó có bị cáo Phạm Thị Thu Hiền, tôi xin phép miễn trích dẫn hoặc lặp lại.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai nhận của các bị cáo, căn cứ vào nội dung các đơn khiếu nại và kêu oan của bị cáo Phạm Thị Thu Hiền, căn cứ diễn biến phiên tòa, chúng tôi có các nhận định sau đây:

1. Các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank trước khi ra Tòa trong vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” này đã bị “kết án” trước bởi một bản án khác.

– Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 ngày 17/11/2017 của VKSNDTC đã căn cứ vào Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07/01/2015 của Tòa Phúc thẩm TANDTC đã có hiệu lực để kết luận số tiền 200 tỷ đồng của Ngân hàng Navibank đã bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt, từ đó xác định các bị cáo đã “gây hậu quả” theo Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi và bổ sung năm 2009.

– Tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, 9/10 bị cáo là các cán bộ Navibank không được tham dự với bất kỳ tư cách gì để được tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật (riêng Đoàn Đăng Luật tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không được tham gia tranh tụng về thiệt hại 200 tỷ đồng của Navibank). Nay, Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT đã có hiệu lực pháp luật và không thể thay đổi. Tại phiên tòa xét xử đang diễn ra, Hội đồng xét xử cũng dựa vào Bản án phúc thẩm số 02/2015/HSPT để mặc nhiên xem các bị cáo trong vụ án này đã “gây hậu quả” 200 tỷ đồng mà không cần chứng minh, không được bào chữa. Theo các bị cáo, nếu được tham gia các phiên tòa xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, họ hoàn toàn có thể chứng minh được 200 tỷ đồng của Navibank không bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt và trách nhiệm liên quan đến Huỳnh Thị Huyền Như tại Vietinbank TPHCM hoàn toàn thuộc Vietinbank TPHCM và do đó sẽ không có phiên tòa xét xử các bị cáo hôm nay.

– Việc sử dụng kết quả một bản án trước đã có hiệu lực pháp luật để quy kết các bị cáo “gây hậu quả” là một sự bất công khủng khiếp, tước đi quyền được bào chữa của các bị cáo đối với việc “gây hậu quả”, một yếu tố quyết định cấu thành nên tội “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

2. Hành vi của các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank trong vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” này không gây hậu quả.

– Trong các bản án vụ án Huỳnh Thị Huyền Như của TAND TPHCM, của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM và Cáo trạng số 80/Ctr-VKSTC-V3 của VKSNDTC, một sự thật không thể phủ nhận là toàn bộ số tiền gửi của phía Navibank đã được ghi nhận vào hệ thống của Vietinbank một cách an toàn.

– Các giao dịch giữa các nhân viên Navibank với Ngân hàng Vietinbank là giao dịch hợp pháp: hợp đồng tiền gửi được ký với người đại diện hợp pháp của Vietinbank CN TPHCM, qua giám định khoa học hình sự đã xác định chữ ký thật, con dấu thật; thủ tục mở tài khoản được thực hiện đúng quy định tại trụ sở của Vietinbank.

– Tiền đã vào tài khoản an toàn: tiền được chuyển khoản qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước đã được ghi nhận an toàn vào các tài khoản của các cá nhân tại Vietinbank theo như Kết luận điều tra và Cáo trạng đều xác định điều này và kể từ thời điểm này Vietinbank có trách nhiệm quản lý an toàn số tiền trên tài khoản cho khách hàng, chỉ được thực hiện các giao dịch khi có lệnh của chủ tài khoản.

– Các hành vi vi phạm pháp luật như làm giả lệnh chi, ký giả chữ ký chủ tài khoản… của Huỳnh Thị Huyền Như và các cán bộ Vietinbank để rút tiền của khách hàng mà không được sự đồng ý của chủ tài khoản là thuộc trách nhiệm các nhân viên khác của Vietinbank nói riêng và của Vietinbank nói chung, ngoài tầm kiểm soát của các cán bộ Navibank nên không thể quy kết các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank gây ra hậu quả.

– Toàn bộ tiền lãi từ các hợp đồng tiền gửi tại Vietinbank đã được hạch toán đầy đủ vào lãi tiền vay của các hợp đồng vay tại Navibank. Các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank không có bất kỳ tư lợi nào trong các giao dịch này, tất cả là vì lợi nhuận của Navibank.

– Ngân hàng Navibank, nay là Ngân hàng TMCP Quốc Dân, bên được xác định là thiệt hại trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như, đã có văn bản khẳng định không có yêu cầu bồi thường đối với 10 bị cáo và yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý hình sự đối với 10 người này.

3. Các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank không làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.

– Tại thời điểm năm 2010-2011, không có bất kỳ quy định pháp luật nào cấm nghiệp vụ ngân hàng cho cá nhân vay rồi cá nhân đó gửi tiền tại ngân hàng khác.

– Đối với quy kết vi phạm Quyết định số 34/2010/QĐ-TGĐ do Tổng giám đốc Navibank ban hành, đây là quy định nội bộ của Navibank không phải là quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế. Ngoài ra, Hội đồng tín dụng của Navibank nhận thấy Vietinbank là ngân hàng thương mại nhà nước quy mô lớn và có uy tín nên quyết định tăng tỷ lệ cho vay lên 100% là thuộc thẩm quyền của Hội đồng tín dụng vì theo quy chế tổ chức hoạt động của Hội đồng tín dụng thì Hội đồng tín dụng phê duyệt các khoản vay vượt thẩm quyền của Tổng giám đốc.

– Đối với quy kết vi phạm Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN và Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: Công văn số 1132/NHNN-CSTT ngày 18/10/2002 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Luật các tổ chức tín dụng và Quyết định 1627 về cho vay cầm cố giấy tờ có giá có quy định phương án vay vốn có thể ghi ngay trên giấy đề nghị vay vốn, chứ không nhất thiết phải lập phương án riêng. Navibank làm theo công văn hướng dẫn chi tiết cho nghiệp vụ cụ thể nên không thể kết luận vi phạm.

– Đối với quy kết vi phạm Thông tư 02/2011/TT-NHNN: Thông tư này quy định “Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam… không vượt quá 14%/năm” chỉ là quy định dành cho tổ chức tín dụng huy động vốn (nhận tiền gửi) không được áp dụng lãi suất vượt quá lãi suất trần do Ngân hàng Nhà nước quy định, không có điều khoản nào dành cho việc quy định đối với tổ chức, cá nhân gửi tiền.

Theo chúng tôi, các lập luận trên đây đã hóa giải các cáo buộc mà Cáo trạng của VKSNDTC dành cho các bị cáo nguyên là cán bộ Navibank về hành vi “làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế”.

Đối với riêng bị cáo Phạm Thị Thu Hiền:

– Phạm Thị Thu Hiền chưa bao giờ là thành viên của Hội đồng Alco, chưa bao giờ tham dự một cuộc họp nào của Hội đồng Alco và không biết chủ trương của Hội đồng Alco Navibank và không thực hiện bất kỳ chỉ đạo nào của Hội đồng Alco cho các nhân viên Navibank vay tiền của Navibank để gửi vào Vietinbank. Bà Hiền là thành viên của Hội đồng tín dụng. Theo quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng tín dụng, mỗi thành viên là đại diện cho một phòng ban, chịu trách nhiệm thực hiện công việc theo chức năng nhiệm vụ của Phòng mình phụ trách.

– Sau khi ký vào các biên bản họp Hội đồng tín dụng thì Bà Hiền đã hoàn thành nhiệm vụ được phân công là thành viên của Hội đồng tín dụng. Tất cả các bước tiếp theo của quá trình cho vay như: Thông báo cho vay chuyển về cho các đơn vị để tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng, giải ngân, theo dõi quá trình sử dụng vốn vay, thu nợ là do các bộ phận chuyên môn khác thực hiện, bà Hiền không tham gia và không được biết bất kỳ một thông tin nào liên quan đến việc thực hiện. 

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Với những vấn đề về thủ tục tố tụng của vụ án có những vi phạm và bất cập như được nêu trên, vụ án đáng được Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để VKSNDTC và CQCSĐT BCA điều tra bổ sung làm rõ và khắc phục các sai sót về tố tụng. Với những nội dung vụ án được minh định tại phiên tòa, cho thấy các bị cáo bị oan trong việc bị xử lý hình sự, rất cần được Hội đồng xét xử TAND TPHCM tuyên bố các bị cáo không phạm tội “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Tôi trân trọng thỉnh cầu Hội đồng xét xử minh xét và giải oan cho các bị cáo, phán quyết các bị cáo không phạm tội.

Chúng tôi trân trọng biết ơn Hội đồng xét xử.

Luật sư TRỊNH VĨNH PHÚC

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: