Trần Hoàng Blog

►Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam 2000-2015 — Vay mượn để chi tiêu.

Posted by hoangtran204 trên 04/03/2018

 

 

 

 

1./ Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam

Thâm hụt (hay bội chi) ngân sách đang là một vấn đề nan giải chưa tìm ra hướng giải quyết của Việt Nam trong những năm vừa qua kéo theo một loạt các hậu quả làm gia tăng tỷ lệ nợ công trên GDP, làm tăng lãi suất, tác động tiêu cực tới tỷ giá, bất ổn kinh tế vĩ mô và gây áp lực trở lại đối với ngân sách nhà nước khiến Việt Nam đi vào một vòng luẩn quẩn với gánh nặng nợ ngày càng tăng.

Việt Nam đã thâm hụt ngân sách liên tục trong 15 năm trở lại đây với tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP luôn ở trên mức trên dưới 5%. Mức thâm hụt này thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực.

Theo thống kê sơ bộ trong giai đoạn 2011-2014 thì trên thế giới chỉ có 25/178 quốc gia có ngân sách dương[1]. Mức độ thâm hụt ngân sách thường được xác định bằng tỷ lệ thâm hụt trên GDP. Hiện Việt Nam có thâm hụt ngân sách hàng năm ở mức khoảng ~5% GDP. Tuy nhiên chỉ số này chỉ phản ánh chính xác tương đối.

Các đo lường khác như thâm hụt trên tổng thu ngân sách hoặc thâm hụt chia GNP sẽ có ý nghĩa hơn. Đặc biệt với trường hợp Việt Nam khi gần một nửa GDP hiện do khối doanh nghiệp nước ngoài làm ra trong khi nguồn thu từ khối này không chiếm tỷ lệ lớn (do vấn đề chuyển giá, ưu đãi đầu tư,…). 

70% tổng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI) mở hãng xưởng ở VN. VN chỉ xuất khẩu 30%.

 

 

Đồng thời phải cân đối với số dư nợ công và vay nợ nước ngoài. Ở các chỉ tiêu này Việt Nam đều cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin (thâm hụt số dư tương đương Thái Lan nhưng thu ngân sách chỉ bằng một nửa, hoặc thâm hụt và vay nợ nước ngoài đều cao hơn Philippin).

[1] Nguồn http://www.tradingeconomics.com/country-list/government-budget, theo thống kê của CIA thì là 44/218.

2./ Giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách

 Trước hết cần phải phân biệt được giảm thâm hụt ngân sách và bù đắp thâm hụt ngân sách. Giảm thâm hụt ngân sách chỉ có cách là tăng thu và giảm chi. Điều này phải được thực hiện ngay từ khi dự toán ngân sách và xuyên suốt trong quá trình triển khai. Trong trường hợp có thâm hụt ngân sách thì trên bảng cân đối Ngân sách Nhà nước sẽ xuất hiện thêm mục bù đắp thâm hụt để cân bằng giữa thu và chi. Để bù đắp nguồn tiền thâm hụt ngân sách, Chính phủ sẽ sử dụng một số giải pháp chính như sau:

2.1. Phát hành tiền

Biện pháp này giúp cho Chính phủ huy động nhanh nguồn vốn để cân đối ngân sách Nhà nước mà không tốn kém nhiều chi phí nhưng sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp tham hụt ngân sách.

2.2. Phát hành trái phiếu Chính phủ

Khả năng vay bằng trái phiếu của Chính phủ bị giới hạn trong phạm vi lượng tiết kiệm của khu vực tư nhân. Mặt khác, nhu cầu vay nợ của Chính phủ sẽ đẩy lãi suất thị trường tăng lên.

2.3. Vay nợ nước ngoài

Thực hiện thông qua vay từ nguồn vốn ODA, phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế. Việc gia tăng vay nợ nước ngoài trước mắt sẽ làm đồng nội tệ lên giá, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu, tình trạng cán cân thanh toán quốc tế. Trong dài hạn có thể gia tăng áp lực khủng hoảng nợ.

 Vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối khi trả nợ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất và cái vòng nợ – trả lãi – bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách cho các thời kỳ sau.

3./ Các giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách ở Việt Nam

Để bù đắp thâm hụt ngân sách tại Việt Nam, Chính Phủ đang sử dụng một số giải pháp chính như sau:

3.1. Vay nợ thông qua phát hành Trái phiếu Chính Phủ

Trong năm 2015, Chính phủ Việt Nam có kế hoạch vay nợ 436.000 tỷ đồng để đảo nợ và đáp ứng nhu cầu huy động vốn. Trong đó vay để sử dụng mục đích bù đắp bội chi Ngân sách Nhà nước là 226.000 tỷ đồng chiếm tới 52% tổng nhu cầu vay. Theo kế hoạch năm 2016, bội chi Ngân sách Nhà nước dự kiến là 254.000 tỷ đồng tăng 12,4% so với năm 2015. Trong khi đó việc vay nợ năm 2015 gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là việc phát hành Trái phiếu mới không đủ để trả nợ Trái phiếu cũ khi Chính Phủ chỉ phát hành thành công 160.000 tỷ trên 250.000 tỷ đồng Trái phiếu theo kế hoạch. Việc phát hành Trái phiếu không thành công khiến Chính phủ phải sử dụng thêm các giải pháp khác để bù đắp thâm hụt ngân sách.

3.2 Vay Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại

 Do việc phát hành Trái phiếu Chỉnh phủ không hoàn thành kế hoạch nên Bộ Tài chính đã phải vay Vietcombank 1 tỷ USD với mức lãi suất khá cao là 4,8% tạo thêm gánh nặng trả nợ lãi cho Chính phủ khi lãi suất huy động USD trên thị trường tại thời điểm này là 0,75% và hiện nay đã giảm về 0%. Hiện đã có thông tin Bộ Tài chính dự kiến sẽ tiếp tục phải vay thêm Vietcombank 1 tỷ USD với lãi suất thấp hơn từ 3-4%.

Ngoài ra để hoàn thành kế hoạch vay nợ Bộ Tài chính đã phải vay Ngân hàng Nhà nước 30.000 tỷ đồng. Điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn phục vụ cho các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

3.3 Vay nợ nước ngoài

Vay nợ nước ngoài của Việt Nam chủ yếu là khoản vay ODA. Vay nợ nước ngoài chiếm khoảng 45% tổng nợ và với tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam đang ở mức cao thì việc vay nợ nước ngoài đang trở thành mối đe dọa đối với nền kinh tế. Do vậy trong năm 2015 Chính phủ chỉ dự kiến vay 36.000 tỷ đồng nước ngoài/436.000 tỷ đồng vay nợ.

3.4 Phát hành Trái phiếu quốc tế

Ngoài các giải pháp trên, Việt Nam dự kiến sẽ phát hành 3 tỷ USD Trái phiếu quốc tế cho thấy Chính phủ đang sử dụng nhiều giải pháp để đa dạng hóa các khoản vay nợ.

3.5 Vay từ các quỹ tài chính

Vay từ các quỹ tài chính (Bảo hiểm xã hội, bình ổn xăng dầu..) chiếm tỷ trọng khá trong tổng vay nợ trong nước và tổng nợ vay. Với 436.000 tỷ dự kiến vay nợ trong năm 2015, Chính phủ dự kiến vay các Quỹ tài chính trong nước là 118.000 tỷ trong đó vay quỹ Bảo hiểm xã hội là các khoản vay có kỳ hạn dài.

3.6 Bán vốn Nhà nước

Một trong các giải pháp khác được Chính phủ sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách là bán vốn Nhà nước. Theo Đề án tái cơ cấu, SCIC sẽ thoái toàn bộ vốn tại 10 doanh nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp lớn và hoạt động hiệu quả như Vinamilk, FPT, Nhựa Bình Minh… Tổng giá trị của đợt thoái vốn này có thể lên tới 3-4 tỷ USD để hỗ trợ bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước.

4./ Tác động của vay nợ bù đắp thâm hụt ngân sách ở Việt Nam

4.1./ Gia tăng nợ công

 Khi vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước thì nợ của Chính phủ sẽ tăng lên làm tăng nợ công. Trong khi đó tình trạng nợ công ở Việt Nam đang ở mức báo động do thâm hụt Ngân sách liên tục ở mức cao dẫn đến tốc độ tăng nợ công cao hơn tốc độ tăng GDP. Theo báo cáo của Thủ tướng chính phủ với quốc hội tháng 5/2015, tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam đã đạt 60,3% GDP tính đến tháng 5/2015 và được dự đoán tăng lên 64,9% GDP năm 2016. Trong khi đó, tỷ lệ nợ công theo quy định không được vượt quá 65% GDP.

4.2./ Đẩy mặt bằng lãi suất thị trường tăng lên

 Trong 436.000 tỷ đồng kế hoạch vay nợ của Chính Phủ năm 2015 thì nguồn chủ yếu là phát hành 250.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên do Trái phiếu Chính phủ hiện phát hành với kỳ hạn dài trên 5 năm nhằm cơ cấu lại các khoản nợ, đẩy nghĩa vụ trả nợ của Chính Phủ từ ngắn hạn sang dài hạn nên không thu hút được người mua. Các Ngân hàng thương mại là người mua trái phiếu chủ yếu không có nhu cầu nắm giữ kỳ hạn dài. Do vậy trong năm 2015 Chính Phủ chỉ phát hành thành công 160.000 tỷ trên 250.000 tỷ đồng Trái phiếu theo kế hoạch.

 Để phát hành Trái phiếu kỳ hạn dài thành công thì lãi suất Trái phiếu phải đủ hấp dẫn. Việc tăng lãi suất Trái phiếu một mặt sẽ khiến áp lực trả nợ lãi của Chính Phủ càng lớn đồng thời kéo theo việc gia tăng mặt bằng lãi suất trên thị trường khi một phần nguồn tiền đổ vào Trái phiếu Chính phủ khiến các Ngân hàng phải tăng lãi suất để có nguồn tiền cho vay.

4.3./ Mất ổn định tỷ giá

Việc huy động vốn từ phát hành Trái phiếu khó khăn buộc Bộ Tài chính phải vay nợ từ Ngân hàng Nhà nước và Vietcombank với khối lượng lớn. Trong khi đó Ngân hàng Nhà nước cần sử dụng vốn để phục vụ cho các mục đích điều hành. Khi Bộ Tài chính vay Ngân hàng Nhà nước từ nguồn dự trữ ngoại hối hoặc USD từ các Ngân hàng thương mại sẽ khiến cung USD trên thị trường suy giảm và ảnh hưởng đến việc can thiệp tỷ giá trong tương lại.

4.4/ Ảnh hưởng đến các quỹ tài chính đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội

 Khi vay từ các quỹ tài chính trong đó có quỹ Bảo hiểm xã hội để bù đắp thâm hụt ngân sách có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng quỹ trong tương lai khi đến kỳ hạn trả nợ nhưng không có nguồn để bù đắp nhất là trong bối cảnh việc cân đối thu chi của quỹ Bảo hiểm xã hội hiện đang gặp nhiều khó khăn. Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đến năm 2034 Việt Nam có khả năng vỡ quỹ và khi đó người lao động sẽ không nhận được lương hưu. Ngoài ra các quỹ tài chính đều có mục đích riêng và một phần xây dựng từ NSNN, một phần từ đóng góp của khu vực tư nhân. Việc lấy tiền từ các quỹ này dưới hình thức vay nếu không đúng mục đích sẽ có tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân

5./ Hạn chế thâm hụt ngân sách ở Việt Nam

 Khi thâm hụt ngân sách xảy ra, dù sử dụng giải pháp nào để bù đắp cũng có ít nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế đặc biệt là đi vay nợ. Để vay nợ có hiệu quả cần tăng năng suất lao động, tăng đầu tư để có thặng dư trả nợ và giảm dần thâm hụt. Tuy nhiên tại Việt Nam do năng suất lao động và hiệu quả đầu tư thấp nên thâm hụt ngân sách liên tục xảy ra và tăng nhanh khiến tỷ lệ nợ công trên GDP cũng tăng cao ở mức báo động. Ngoài ra còn có thể làm tăng lãi suất thị trường, mất ổn định tỷ giá… khiến Việt Nam đi vào vòng luẩn quẩn bội chi, vay nợ, trả nợ, mất ổn định kinh tế, tăng bội chi và nếu lâu dài có thể dẫn đến tình trạng vỡ nợ.

Giải pháp chính về lâu dài là phải giảm thâm hụt ngân sách thông qua việc tăng thu và giảm chi chứ không phải bù đắp thâm hụt. Tăng thu có thể thực hiện thông qua tăng thuế nhưng giải pháp này thường không được sự ủng hộ từ dân chúng, và xét về lâu dài lại ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh tế – tiền tệ. Hơn nữa theo các cam kết Hiệp định thương mại, Việt Nam thậm chí còn phải giảm dần thuế phí theo lộ trình. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có thể tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế VAT. Tại các nước phát triển, thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng thu lớn nhất trong cơ cấu tổng thu Chính phủ từ thuế và lệ phí nhưng ở Việt Nam thì chỉ mới gần 20 năm nay mới có loại thuế này.

Để giảm chi phí cần cắt giảm những khoản chi tiêu lãng phí, bất hợp lý. Bên cạnh đó cần tái cơ cấu nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế để tăng các nguồn thu, cải cách nâng cao hiệu quả đầu tư công, mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả. Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề nan giải đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

LPBResearch tổng hợp

___________

Trần Hoàng

Trong thời gian 15 năm, nhà cầm quyền Hà Nội đã bán phần lớn 507 triệu tấn dầu thô khai thác ngoài khơi Vũng Tàu để chi tiêu, cộng thêm món nợ chính phủ đi vay tính đến năm 2015 là 115 tỉ đô la Mỹ, bằng 59,5% GDP, và nợ của doanh nghiệp nhà nước đi vay là 321 tỷ đô la ( sau khi trừ đi các sự trùng lập, chồng chéo trong giấy tờ vay mượn), thì VN hiện mắc nợ 431 tỷ đô la – theo bài báo của Ts. Vũ Quang Việt, nguyên Vụ Trưởng Vụ Thống kê của Liên Hiệp Quốc cho biết vào tháng 2/2017.

Đây là lý do tại sao khi giá dầu hạ giảm cuối năm 2014 cho đến năm nay, thì VN phải đi:

+vay mượn của nước ngoài trên 5 tỷ đô la mỗi năm,

+vay mượn trong quỹ đóng góp xã hội của hàng chục triệu công nhân viên trong nước,

+cùng lúc World Bank và quỹ viện trợ cho nước ngoài của Bộ Ngoại giao Mỹ phải vội vàng bơm mỗi năm gần 1,5 đến 2 tỷ đô la (dưới hình thức các dự án cải tạo đường sá vùng Sài Gòn Chợ Lớn, viện trợ cho 3 trường đại học, các bạn vào website của World Bank, dự án tại VN, đọc phần tiếng Việt, và website của tòa đại sứ Mỹ tại VN tài trợ cho 3 trường đại học 100 triệu đô la 2017.); và

+ VN hoàn tất việc xây dựng xong Nhà Máy In Tiền năm 2015 để từ đây chủ động in tiền, không thuê mượn Úc in tiền nữa.

Kết quả của việc giá dầu xuống là VN phải đi vay để trả nợ, gọi là đảo nợ.

Báo đăng: 2015, VN vay 15 tỷ đô la, năm 2016 VN vay 20 tỷ đô la, năm 2017 VN vay 16 tỷ đô la để trả nợ.

Một mặt, chính phủ VN ra sức nói kinh tế VN tăng trưởng tỷ lệ 6,5 – 6,8% mỗi năm để đánh lừa các chức tín dụng để họ cho mượn thêm tiền. Vì nói dối quá tay về tỷ lệ tăng trưởng hàng năm, tức nói về GDP gia tăng, cho nên các đại biểu quốc hội trẻ nghi ngờ về các con số tăng trưởng, và đặt câu hỏi thắc mắc  cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu Tư…

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: