Trần Hoàng Blog

►Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã vĩnh viễn rời những Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới (26-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2018

 

 

26-2-2018

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã vĩnh viễn rời những Phiên Gác Đêm Xuân

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một tên tuổi lớn của nền văn nghệ ở miền Nam Việt Nam và là tác giả của Chiều Mưa Biên Giới, Phiên Gác Đêm Xuân, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Nhớ Một Chiều Xuân… và còn rất nhiều tác phẩm bất hủ khác được biết bao thế hệ khán thính giả yêu mến từ trước 1975 đến tận bây giờ.

Theo tin từ ca sĩ Giao Linh cung cấp cho tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ , ông đã trút hơi thở cuối cùng  lúc 19 giờ 30 ngày 26/2/18 (nhẳm 11 tháng Giêng năm Mậu Tuất) tại bệnh viện Chợ Rẫy – Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi.

Theo ca sĩ Giao Linh – người học trò thân thiết và cũng là bạn vong niên của nhạc sĩ cho biết, chiều 26.2, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thấy mệt nên được gia đình đưa vào bệnh viện Chợ Rẫy. Sau đó, ông mất nhẹ nhàng. Thông tin tang lễ sẽ được công bố vào ngày hôm nay 27.2.

(Nhưng theo Trần Quốc Bảo, nhạc sĩ  Nguyễn Văn Đông được đưa vào bệnh viện một vài ngày trước đó do khó thở, và vì bệnh già, chứ không có bệnh gì nặng hết, thế nên việc ra đi của ông khiến nhiều người bàng hoàng.)

Ca sĩ Giao Linh tâm sự, bà là học trò thân thiết của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông từ năm 1965. Về sau, mối quan hệ giữa vợ chồng danh ca Giao Linh và gia đình nhạc sĩ ngày càng gắn bó như những người bạn vong niên.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nổi tiếng từ trước 1975. Ông sinh năm 1932, sống ở TP.HCM. Năm 16 tuổi, ông đã có sáng tác đầu tay như Tạm biệt mùa hè.

Cuộc đời binh nghiệp

Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn nhưng nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh. Thuở bé, do điều kiện gia đình, ông học ở nhà dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao.

Năm 1945, chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi đấy ông mới 14 tuổi.

Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài, những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.

Trong thời gian ông theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một thành viên của ban quân nhạc thiếu niên, khi mới 15 tuổi.

Nhạc sĩ từng chia sẻ: “…Trường Thiếu Sinh Quân có riêng một đoàn quân nhạc trên 40 người có tầm vóc của người lớn, nhưng lại do chính những em thiếu sinh qưân chưa quá 16 tuổi đời cử hành nhạc, và do một giáo sư nhạc trưởng người Pháp chỉ huy. Đòan quân nhạc của chúng tôi có những nhạc sĩ tí hon có mặt trong những buổi lễ duyệt binh, diễn hành quan trọng một cách đường hoàng như các đoàn quân nhạc chuyên nghiệp người lớn”.

Trong đoàn quân nhạc tí hon này, ông sử dụng nhiều nhạc khí như: trompette, clairon, trống, chập chả, vv… Nhưng chuyên nghiệp hơn hết, là ông sử dụng đàn mandoline và guitar Hawaiienne trong ban nhạc nhẹ của trường.

Nhờ sống trong một môi trường âm nhạc sôi động như vậy trong trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã có dịp học sáng tác từ những giáo sư người Pháp. Kết quả là ông đã viết được những ca khúc đầu tiên ở tuổi 16 như Thiếu Sinh Quân Hành Khúc, Tạm Biệt Mùa Hè… Những nhạc phẩm này đã được nhà trường chấp thuận cho phổ biến, và được rất nhiều bạn bè ưa thích.

Ông cho biết gần 60 năm sau, khi ông gặp lại một số bạn bè, những người này vẫn còn thuộc nằm lòng những ca khúc này, và hát lại cho nhau nghe như những kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu.

Trong suốt 5 năm theo học ở trường Thiếu Sinh Quân, ông luôn luôn đoạt giải giọng ca hay nhất toàn trường. Nhưng sau một thời gian gia nhập quân đội, Bộ Quốc Phòng đã chính thức cấm ông không được xuất hiện hát trên sân khấu và các nơi công cộng, vì các chức vụ do ông đảm nhiệm thời đó có thể gây ảnh hưởng không tốt cho quân đội.

Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông nhập ngũ chính thức vào Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952.

Năm sau, ông được cử đi học khóa huấn luyện “Ðại đội trưởng” tại trường Võ bị Ðà Lạt.

Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu đoàn trưởng” tại trường chiến thuật Hà Nội.

Sự kiện này nói lên cái gì? HCM, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và các cán bộ cộng sản vẫn còn nằm ở trong rừng 1946-1955. Cũng vào thời gian này,  Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, đang hoạt động du kích ở các vùng quê (từ 1945-1957), vùng kênh rạch ở Bến Tre, Kiên Giang,… Ban đêm, du kích cộng sản vào các thôn làng để ám sát, cắt cổ, đâm chết nhân viên xã ấp, giết các nhân sĩ, trí thức không theo bọn chúng. Ban ngày, chúng ngủ, hoặc lẫn tránh trong rừng, trong các vùng hẻo lánh.

Ở miền Bắc, dân chúng nghèo hơn, cộng sản đang khởi đầu việc đấu tố cải cách ruộng đất (1953-1956) ở các vùng quê. Thực chất của việc đấu tố do CS khởi động là lấy lòng nông dân,  là  xúi dục, mượn tay của các nông dân nghèo để cướp đất đai nhà cửa tài sản của các nông dân giàu, có ruộng đất ở các vùng Thanh, Nghệ, Tỉnh, Thái Nguyên, Bắc Ninh,… (Trần Hoàng (sách đang viết.)

Ra trường, ông nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 22 tuổi.

Sau Hiệp định Genève, 1954, ông chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu 1956. Bấy giờ, tướng Dương Văn Minh là Tư lệnh chiến dịch, từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ. Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa.

Ông thăng đến chức đại tá trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. 1972, ông là chánh văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó cho đến 1975.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10 năm và ngừng sáng tác từ đó. Ra tù 1985, ông không thích nộp đơn xuất cảnh theo diện H.O. để ra nước ngoài vì không có con cái. Hai vợ chồng mở một quán bán bánh mì giò chả tại nhà tên là Nhiên Hương tại đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận cùng gia đình.

Hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc

Nguyễn Văn Đông từng nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 1975. Trong thập niên 1950, Nguyễn Văn Đông nổi tiếng khi là Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim… Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.

Từ năm 1958, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời Gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc… Năm sau ông là trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp quốc gia, đã huy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia, một giải thường do Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân trao tặng.

Nguyễn Văn Đông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân… Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở tuồng và cải lương.

Chính Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái Thanh và ban Thăng Long – Sơn Ca 10, Lệ Thu – Sơn Ca 9, Phương Dung – Sơn Ca 5 và 11, Giao Linh – Sơn Ca 6, Sơn Ca – Sơn Ca 8… và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.

Nhiều sáng tác của Nguyễn Văn Đông viết về chủ đề người lính miền Nam thời đó. Nhạc phẩm “Phiên gác đêm xuân” được ông viết vào đêm 30 Tết năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. “Chiều mưa biên giới” ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp” nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm Khúc tình Kinh Kha của Phạm Duy. Hà Thanh cũng chính là ca sĩ trình bày thành công nhất các nhạc phẩm của ông.

Nguyễn Văn Đông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như “Khi đã yêu”, “Thầm kín”, “Niềm đau dĩ vãng”, “Nhớ một chiều xuân”… Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như “Nửa đời hương phấn”, “Đoạn tuyệt”, “Tiếng hạc trong trăng”, “Mưa rừng”…

Nguồn: …và internet

________
Video:
_____________

 Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông – Các Bài Hát Chọn Lọc Hay Nhất Thu Âm Trước 1975

Ca sĩ Hà Thanh hát hai bài dưới đây.
Phiên Gác Đêm Xuân
Chiều Mưa Biên giới
______
THÊM MỘT NHẠC SĨ ÔNG TẠ TÀI HOA RA ĐI: NGUYỄN VĂN ĐÔNG

27-2-2018

Thật ra, vị nhạc sĩ tài hoa này là dân “ngoại ô” Ông Tạ chứ không ở trung tâm chợ Ông Tạ trước khi dời về chợ Phạm Văn Hai.

Cụ thể ông ở đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) – cắt ngang đường Thoại Ngọc Hầu (nay là đường Phạm Văn Hai). Tên con đường này cũng là tên một chiến dịch quân sự năm 1956 của Quân lực VNCH ở vùng Đồng Tháp Mười, do tướng VNCH Dương Văn Minh làm Tư lệnh, còn nhạc sĩ khi ấy 24 tuổi nhưng đã là Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu Đồng Tháp Mười VNCH.

Sinh năm 1932 ở Bến Cầu, Tây Ninh; theo binh nghiệp từ năm 14 tuổi (1946) ở Trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu và chức vụ cuối cùng trong Quân lực VNCH là đại tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu phó Quân lực VNCH.

Khi học Thiếu sinh quân 1946-1951, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp; thành viên ban Quân nhạc Thiếu sinh quân, sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ và 16 tuổi đã có những sáng tác đầu tay: Thiếu sinh quân hành khúc, Tạm biệt mùa hè…

Trước 1975, tên tuổi của ông lừng lẫy một cách đằm thắm – như tính cách của ông, không phải bằng binh nghiệp (dù tướng Dương Văn Minh từng bắt tay ngưỡng mộ ông trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu) mà là những tác phẩm âm nhạc:

+Chiều mưa biên giới, +Phiên gác đêm xuân, +Bến đò Biên giới,
+Về mái nhà xưa,
+Niềm đau dĩ vãng,

+Hải ngoại thương ca, +Khi đã yêu… (ngoài Nguyễn Văn Đông, ông còn ký tên Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử).

Tính cách nhẹ nhàng, yêu quê hương da diết của nhạc sĩ cũng khiến ông không chỉ viết tân nhạc mà còn cả cổ nhạc: viết nhạc, đạo diễn trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước 75 như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…

Thập niên 1950, ở tuổi đôi mươi, ông là Trưởng đoàn văn nghệ Vì Dân; 25 tuổi, ông là Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn. Ông từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia do đích thân bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu trao.

Phía sau cuộc sống khói lửa binh nghiệp thời chiến, phía sau ánh đèn sân khấu, dù là đại tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu phó Quân lực VNCH, ông lui về ngôi nhà nhỏ xíu trên đường Nguyễn Minh Chiếu vốn là một trong những ngôi nhà bị dân chiếm của Khu trồng trọt cây giống, bán lại và ông ở cho đến lúc ra đi. Nhà ông mặt tiền cách nhà của nhà thơ Bùi Chí Vinh  trong hẻm – cũng dân “ngoại ô” Ông Tạ – vài bước chân.

Sống lặng lẽ từ trước 75, sau 75 và cả khi cải tạo về năm 1985 cho đến lúc ra đi nhẹ nhàng – cô cháu kể trước khi đi còn uống ly nước mía…

Ông đạo Phật, con trai duy nhất một gia đình điền chủ lớn ở Tây Ninh, nơi có xóm đạo Tha La bao phen binh lửa (nhưng ông sinh ra và học ở quận Nhứt, Sài Gòn). Rồi sau đó gần như sống ở vùng “ngoại ô” khu “thủ phủ” Bắc di cư Công giáo Ông Tạ, thuộc khu nhà thờ Ba Chuông (Đa Minh) nên có nhiều nhạc phẩm Công giáo rất nổi tiếng: Bóng nhỏ giáo đường, Màu xanh Noel, Mùa sao sáng, Tình người ngoại đạo… Và viết lời Việt cho một số bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại: Ave Maria, Đêm thánh vô cùng (Stille Nacht), Hồi chuông nửa đêm (Jingle Bells)…

Tất cả đều là những giai điệu êm ả, nhẹ nhàng – như tính cách của ông: khi hành quân ở Đồng Tháp, lính tráng thời chiến thường đi săn bắn ở vùng biên giới lúc đó còn hoang sơ, ông thú thiệt “săn một con vật về cũng thương, ăn không được”. Cô cháu ở cùng nhà bảo: “Chưa bao giờ thấy ông la ai một tiếng”.

Theo binh nghiệp cả đời nhưng nhạc của ông không hề hứng thú với chiến tranh, thậm chí tác phẩm nổi tiếng “Chiều mưa biên giới” (cùng với “Mấy dặm sơn khê” của ông và 15 ca khúc khác) từng bị chính quyền Sài Gòn cấm chơi trên đài phát thanh quốc gia vào năm 1961 vì hơi hướng phản chiến, với ca từ bắt đầu trong hoang mang của một anh lính: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu – Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu…” (những năm 1955 – 1956, ông đóng quân ở khu biên giới Đồng Tháp Mười).

Nhạc phẩm này thoạt đầu do ca sĩ Trần Văn Trạch (em nhạc sĩ Trần Văn Khê) hát với giọng Nam rặt; s/x, ch/tr… rõ ràng. Sau do ca sĩ Hà Thanh, người Huế nhưng hát với giọng Hà Nội xưa – trong veo, tròn vành rõ tiếng rất sang cả chứ không uốn éo như một vài ca sĩ Hà Nội hiện nay. Khác hoàn toàn giọng, nhưng cả hai ca sĩ đều hát với giọng ca rung động lòng người khi ấy và cả hôm nay.

Không hiểu sao khu làm ăn Ông Tạ lại là nơi tìm đến của rất nhiều văn nghệ sĩ miền Nam trước 75. Cạnh nhà tôi và là bạn nhậu của ba tôi là nhạc sĩ “Ai về sông Tương”, “Hoa cài mái tóc”… Thông Đạt. Cách nhà tôi vài căn trước 1975 là nhà cha mẹ hai nhà văn tuổi mới lớn nổi tiếng Sài Gòn xưa: Võ Hà Anh và Dung Sài Gòn. Bà mẹ Dung Sài Gòn rất thương tôi vì tôi chơi thân với Tí, con út bà; hai đứa cùng tuổi và nghịch phá như nhau.

Tôi học chung lớp 4, 5 với Hoàng Hải Triều, con nhà văn “Công tử Hà Đông đẹp trai nhất Sài Gòn” Hoàng Hải Thủy rất nổi tiếng trước 75 và cuốn sách đầu tiên tôi được đọc là bộ truyện tranh Tây du ký mượn ở nhà Triều – tôi với Triều là bạn rất thân hồi lớp 4, 5; những đêm giáp tết còn tới nhà nhau chơi. Rồi ca sĩ Giang Tử, Vũ Anh, hai anh em MC Nguyễn Ngọc Ngạn – nhạc sĩ Ngọc Trọng (“Buồn vương màu áo”, “Đêm cô đơn”…) ở cùng đường nhà tôi, cách vài trăm mét, ngày nào đi học cũng đi qua. Rồi nhà thơ Trung Quan Do (học cùng lớp với anh ruột tôi ở “trường làng”, giờ là trường cấp 2 Ngô Sĩ Liên trước 75); nhà văn Đoàn Thạch Biền, Cô Gái Đồ Long Lê Nguyễn Hương Trà… (có lẽ đến 30-40 nhà văn, nhà thơ tên tuổi sống ở khu này).

Tôi quen và là “khách ruột” mua giò chả, phômai… mấy chục năm nay ở cửa hàng của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cô Nguyệt Thu. Cô Thu cùng quê Gò Công với Hoàng hậu Nam Phương (nhưng như chú Đông, quê Tây Ninh) nhưng cả hai vợ chồng đều sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn và nét mặt cũng hao hao: mặt thon dài, trắng trẻo, mắt một mí lót, hơi xếch; vốn là quản lý Hãng dĩa hát Continental mà ông là giám đốc nghệ thuật. Cô Nguyệt Thu về với ông năm 1968, niềm vui hạnh phúc chỉ được vài năm. Sau 75, ông đi cải tạo. Cải tạo về năm 1985 với nhiều bịnh; cô phải bồng bế ông, chăm sóc từng chút. Ông không chịu định cư ở Mỹ theo diện HO (vì không có con cái và lúc đó ông trên 62 tuổi). Cô Nguyệt Thu vẫn bình tâm một cách trang trọng chăm sóc chồng, từ cửa hàng nhỏ Nhiên Hương mà tôi đi qua hàng ngày, ghé mua hàng ngày và tết nào cô cũng lì xì tôi: khi hộp bánh, khi gói lạp xưởng…

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi tối 26-2-2018 (11 tháng Giêng), sau giao thừa thứ 87 của đời mình. Thế là hết những “Phiên gác đêm xuân”: “Đón giao thừa một phiên gác đêm…”.

Đến ngôi nhà rất nhỏ (chiều ngang chỉ khoảng hơn 3m; do vợ chồng ông gom góp mua từ năm 1970, sau hai năm cưới) thắp nhang, cô Nguyệt Thu gương mặt vẫn sang trọng nhưng mắt đỏ hoe: “50 năm cô chú đã đi cùng nhau và 48 năm ở ngôi nhà nhỏ này…”.

Giờ ai gác những đêm xuân cho cô khi cô chú không có con?..

______

Mar 1 at 3:17pm
Đến thắp nhang cho ông vào giờ khuya, ngồi cùng bà một lát, cuối ngày khi khách khứa đã vãn.
Xin phép chia sẻ với bà đôi chút, vì chúng ta đang hưởng những tinh hoa ông để lại cho đời, nhưng bà từ chối, vì trước khi nhắm mắt ông dặn dò bà không được nhận bất cứ tiền gì trong đám của ông 😥 .
Bà nói, chưa bao giờ bà không làm theo ý ông, ngay cả khi ông đã ra đi. Bà bảo, với bà tiền bạc không còn ý nghĩa gì nữa cả, vì cái quý báu nhất trong đời bà đã mất đi thì tiền bạc đâu còn giá trị .
Bà kể, Trung tâm TN về mời ông qua nhiều lần nhưng ông không nhận lời, vì ông đã chọn cách ở lại, đã ở thì phải ở cho tới tận cùng !Cọp chết để da- Người ta chết để tiếng.Người nhạc sỹ tài hoa của đất Sài Gòn ra đi sau bao nhiêu năm chọn thái độ ẩn dật.
Tôi chưa bao giờ có diễm phúc được giáp mặt ông, nhưng chỉ sau 30p thưa chuyện cùng bà, tôi đã nhìn thấy toàn bộ tính cách con người ông qua sự kính trọng của bà. .
Xin ngậm ngùi đưa tiễn
Một tài năng lớn, một nhân cách lớn của Sài gòn xưa

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: