Trần Hoàng Blog

►Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2018

Mặc dù bị cộng sản Bắc Việt tra tấn tàn bạo hơn 5 năm rưỡi  trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội từ gần cuối 1967-1973, nhưng ông John McCain không hận thù. Ông và John Kerry đã là những người có công đầu trong việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và nhà cầm quyền Hà Nội 1995.

 

 

 

Tác giả: John McCain

NHL chuyển ngữ

+Đã đăng trên báo U.S. News & World Report lần đầu ngày 14-5-1973.

+Khi ra tranh cử Tổng thống 2008, bài này được tái đăng lại trên báo US News &World Report ngày  28-1-2008.

☆☆☆▪▪▪

Đó là ngày 26-10-1967, tôi chuẩn bị cho chuyến oanh tạc miền Bắc Việt Nam lần thứ 23 của tôi từ sáng sớm – đó là trận đánh đầu tiên vào thủ đô của địch, Hà Nội.

Mục tiêu của chúng tôi là nhà máy nhiệt điện ở gần một cái hồ nhỏ giữa thành phố. Trên độ cao khoảng 9000 feet (2700 mét), khi chúng tôi chuyển hướng vào phía trong thành phố để tới mục tiêu thì đèn báo động lóe sáng và tín hiệu báo có ra đa địch bắt đầu vang lên lớn đến nỗi tôi phải tắt nó đi.

Tôi đã nhìn thấy khói và bụi bốc lên từ mặt đất như những đám mây khổng lồ khi hỏa tiễn đất đối không bắn vào chúng tôi. Chúng tôi càng tới gần mục tiêu, hệ thống phòng không càng ác liệt hơn. Tôi nhận ra mục tiêu ở cạnh một cái hồ nhỏ và tôi nhào ngay xuống đó vừa lúc tín hiệu báo động ngưng kêu để báo cho tôi biết là hỏa tiễn địch đang lao vào tôi.

Tôi biết là phải cho máy bay lăn vòng ra phía ngoài và dùng thao tác tránh né – bay “luồn lách” theo cách nói của các phi công – nhưng chính đó là lúc tôi sắp sửa thả bom, và nếu tôi bay luồn lách thì tôi sẽ không bao giờ có thời gian, và chắc chắn là cũng không có cả can đảm để bay trở lại mục tiêu, một khi tôi thoát được quả hỏa tiễn đó. Như vậy là từ độ cao 1000 mét, tôi thả quả bom, rồi tôi kéo cần lái trở lại để bắt đầu cho máy bay vọt thẳng lên một độ cao an toàn hơn.

Trong giây phút chớp nhoáng, trước khi máy bay bắt đầu phản ứng thì quả hỏa tiễn đã thổi tung mất cánh máy bay bên phải. Tôi biết là máy bay của mình đã bị hỏa tiễn bắn trúng. Chiếc máy bay A-4 của tôi đang bay với tốc độ khoảng 900 cây số/giờ, đã lao nhanh xuống mặt đất theo vòng xoáy trôn ốc. Khi bị trúng hỏa tiễn, tôi đã phản ứng một cách máy móc là với lấy và kéo cái cần bật của ghế ngồi. Tôi bị đập vào máy bay làm gãy cánh tay trái, ba chỗ của cánh tay phải, đầu gối phải và ngất đi. Những người chứng kiến nói rằng cái dù của tôi chỉ vừa mở là tôi rớt ngay xuống chỗ nước nông của hồ Trúc Bạch.

Ðồ trang bị trên người nặng khoảng 25 ki-lô, tôi chìm xuống đáy hồ, và chạm đất bằng cái chân còn lành của tôi. Tôi không hề cảm thấy đau khi chạm đáy hồ, và tôi không hiểu tại sao tôi không thể dùng cánh tay để kéo cái chốt áo cứu đắm của tôi. Tôi lại bị chìm xuống đáy hồ một lần nữa. Khi chạm đáy hồ lần thứ hai, tôi đã cố gắng để bơm phồng cái áo cứu đắm của tôi bằng cách dùng răng để kéo cái chốt của nó ra. Sau đó tôi lại bị bất tỉnh một lần nữa. Lần thứ hai bị chìm thì tôi được kéo lên bờ bằng những cái sào tre. Một đám đông khoảng vài trăm người Việt Nam bu quanh tôi, lột trần tôi ra, khạc nhổ vào mặt tôi, đá và đánh tôi.

Sau khi quần áo và đồ trang bị của tôi bị lột ra hết, tôi thấy đau nhói ở đầu gối bên phải. Tôi nhìn xuống thì thấy cái bàn chân phải của tôi nằm ngay cạnh đầu gối bên trái của tôi ở một góc 90 độ. Tôi bật kêu lên: “Trời ơi! Cái chân của tôi!”. Một người nào đó đã dùng báng súng phang mạnh vào tôi làm xương vai của tôi bị gẫy ra. Một người khác thì dùng lưỡi lê đâm vào mắt cá chân và háng của tôi. Một người đàn bà, có thể là nữ y tá, đã cố gắng thuyết phục đám đông không nên hành hạ tôi thêm nữa. Sau đó bà ấy dùng các thanh nẹp tre để kẹp chân và cánh tay phải của tôi. Tôi cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm khi chiếc xe tải của quân đội tới chỗ tôi bị bắt.

Mấy người lính đặt tôi vào cái cáng, mang lên xe tải và lái đi vài khu phố tới một nhà tù được xây cất theo kiểu Pháp, đó là Hỏa Lò mà tù binh chúng tôi gọi là khách sạn Hilton Hà Nội. Khi cánh cửa sắt đồ sộ được đóng lại vang lên tiếng loảng xoảng phía sau tôi, tôi chưa bao giờ cảm thấy khiếp sợ ghê gớm như vậy. Hôm đó là ngày 26 tháng 10, năm 1967. Lúc đó tôi 31 tuổi, và là thiếu tá Hải Quân Hoa Kỳ khi máy bay của tôi bị bắn rớt. Suốt hai thế kỷ, thanh niên trong dòng họ tôi được dạy dỗ để ra chiến trường với tư cách là sỹ quan trong quân lực Hoa Kỳ.

john mccain
Phi công Hải quân trẽ John McCain.

Tôi là con và cháu của các sỹ quan Hải Quân, và cha của tôi tin tưởng rằng mỗi khi gặp nghịch cảnh, tôi phải noi theo những tấm gương mà cha tôi đã nêu lên. Mấy người lính dẫn tôi vào trong một xà lim trống, đặt cái cáng tôi đang nằm trong đó xuống sàn và phủ cái chăn lên mình tôi. Trong vài ngày sau, tôi sống trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Những người hỏi cung gọi tôi là tội phạm chiến tranh, và khai thác tin tức quân sự. Họ đánh đập tôi liên hồi, và tôi bắt đầu cảm thấy đau khủng khiếp ở những chỗ chân tay bị gãy. Tôi bất tỉnh sau vài cú đánh.

Tôi nghĩ, nếu mình có thể chịu đựng được, họ sẽ mủi lòng và đưa tôi đi bệnh viện. Nhưng tới ngày thứ tư, tôi nhận biết tình trạng của tôi đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi bị sốt nóng và thời gian bất tỉnh trở nên lâu hơn. Tôi nằm trong cái vũng của những thứ do tôi nôn mửa cùng với những thứ do cơ thể tôi bài tiết ra, và đầu gối tôi đã bắt đầu sưng tấy lên khủng khiếp và bị biến màu đi. Nhân viên y tế gọi Zorba tới bắt mạch cho tôi. Tôi hỏi rằng: “Các ông sắp đưa tôi đi bệnh viện có phải không? Ông ta trả lời: “Không, quá trễ rồi”. Nỗi kinh hoàng về cái chết ập tới bất thần. Người Việt Nam luôn luôn từ chối điều trị cho những người bị thương trầm trọng.

Thật là hạnh phúc, tôi lại rơi vào cơn mê. Một lúc sau tôi tỉnh lại khi viên trưởng trại, một tên chó đẻ hèn hạ tên là Bug (Bắc) xô vào xà lim của tôi với vẻ hốt hoảng, lớn tiếng rằng: “Cha của anh là một đô đốc có uy tín lớn, bây giờ chúng tôi đưa anh đi bệnh viện”. “Xin Trời ban phước cho cha tôi”. Thật không thể hiểu được nếu không nhìn thấy họ đã sung sướng biết bao khi bắt được con trai của một đô đốc và tôi hiểu rằng chính cái địa vị của cha tôi đã trực tiếp liên can đến sự sống còn của tôi. Tôi được chuyển đến một bệnh viện ở trung tâm thành phố Hà Nội.

Tới hai ngày sau đó, tôi thấy mình nằm trong một căn phòng bẩn thỉu, muỗi “nhiều như trấu” và chuột nữa. Mỗi khi trời mưa, bùn và nước đọng thành vũng trong sàn nhà. Không có ai lưu tâm đến việc giúp tôi rửa những cáu ghét nhầy nhụa trên thân thể tôi. Tôi đã bắt đầu phục hồi được trí não, và những người thẩm vấn đã tới bệnh viện để tiếp tục làm việc. Sự đánh đập cũng giới hạn trong thời gian ngắn bởi vì tôi đã thốt ra những tiếng kêu thét rợn tóc gáy khi tôi bị đánh và những người thẩm vấn tôi tỏ ra lo ngại rằng nhân viên của bệnh viện có thể phản đối họ. Cuối cùng thì tôi cho họ biết tên chiến hạm của tôi và số hiệu của hạm đội. Khi bị hỏi về những mục tiêu dự trù trong tương lai, tôi kể tên những thành phố đã từng bị oanh tạc. 

John McCain as a prisoner of war during the Vietnam war

Ðầu tháng 12, họ giải phẫu chân phải của tôi, cắt hết các dây chằng ở một bên đầu gối, chỗ đó không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn được. Tới cuối tháng 12, họ quyết định cho tôi xuất viện. Tôi bị sốt cao độ, tiêu chảy và mất khoảng 25 ký lô, chỉ còn nặng 45 ký lô thôi. Ngực tôi vẫn còn bó bột và chân đau nhừ tử. Tôi bị bịt mắt, đặt trong thùng xe tải và đưa tới một nhà tù gọi là Ðồn Ðiền (The Plantation). Thật là một niềm khuây khỏa lớn lao cho tôi, vì được giam chung xà lim với 2 người tù khác là hai thiếu tá không quân “Bud” Day và Norris Overly.


 

Có một điều không thể nghi ngờ được là chính Bud và Norris đã cứu mạng sống của tôi. Sau đó hai người này đã nói ra cái ấn tượng đầu tiên của họ khi gặp tôi là thấy tôi sinh lực kiệt quệ, mắt lồi ra, đờ đẫn vì sốt, đó là một người đứng trước ngưỡng cửa của tử thần. Hai bạn đó nghĩ rằng người Việt Nam đợi cho tôi chết và giao tôi cho hai bạn đó săn sóc tôi để họ khỏi bị lên án nếu tôi chết. Bud đã bị thương nặng khi nhảy dù khẩn cấp ra khỏi máy bay. Sau khi bị bắt, anh ấy đã trốn thoát gần tới một phi trường dã chiến của Mỹ thì bị bắt lại. Bọn người bắt anh ấy đã dùng vòng thòng lọng bằng dây thừng để cuốn quanh vai của anh ấy rồi xiết thật chặt cho tới khi hai bả vai của anh ấy hầu như sắp chạm vào nhau, rồi trói hai cánh tay của anh ấy lại và treo anh lên xà nhà của nơi tra tấn làm hai vai của anh ấy bị xé rời nhau ra.

Tù binh John McCain bị giam tại Hỏa Lò – khách sạn Hilton Hà Nội.

Tình trạng như thế kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ. Bud không bao giờ chấp nhận sự điều tra khai thác của người Việt Nam về những tin tức quân sự. Thà Bud để cho bọn đó đập gẫy cánh tay phải của anh lần thứ hai, đó là cánh tay vốn dĩ đã bị gẫy, và chúng còn dọa đập gẫy nốt cánh tay kia, chứ anh không hề cho chúng một mẩu tin nào. Vì những thương tích của Bud nên anh không thể giúp gì trong việc săn sóc thân thể của tôi. Norris là người có bản chất hòa nhã, nhẫn nhục, đã làm vệ sinh thân thể cho tôi, đút cho tôi ăn và giúp tôi đổ bô phân và nước tiểu.

Nhờ có hai người bạn này, tôi đã bắt đầu hồi phục. Tôi đã sớm tự đứng dậy và có thể dùng đôi nạng để đi lại trong cái xà lim đó.

Tháng 4 năm 1968, Bud bị chuyển đi nhà tù khác. Norris thì được trả tự do dưới cái gọi là “ân xá” và tôi còn bị giam riêng trong hai năm nữa. Mặc dầu tôi còn phải dùng đôi nạng để đi lại khập khiễng trong xà lim của tôi, hình dạng tôi vẫn còn thê thảm lắm, tôi không thể nhặt lên hoặc cầm bất cứ một cái gì. Bệnh kiết lỵ đã làm tôi khổ sở. Thức ăn và nước uống bị thải ra ngay tức khắc, và dạ dày bị đau quặn đã làm tôi rất khó ngủ. Cô độc là một vấn đề hãi hùng, nó đã đè bẹp tinh thần và làm suy yếu sức kháng cự của con người một cách có hiệu quả hơn bất cứ một hình thức hành hạ nào khác. Không có ai để tham vấn, con người bắt đầu nghi ngờ sự phán xét và can đảm của mình. Vài tuần lễ đầu tiên là gay go nhất.

Tuyệt vọng ập đến ngay tức khắc, và đó là một kẻ thù ghê gớm, tôi đã phải dựng lại trong trí nhớ những cuốn sách, những bộ phim mà tôi đã thưởng thức. Tôi đã thử viết sách và kịch bản về chính mình, trình diễn những chuỗi sự kiện trong cô đơn của xà lim. Tôi phải thận trọng ngăn ngừa trí tưởng tượng đã trở nên mãnh liệt đến nỗi thường xuyên đưa đẩy tôi tới một nơi trong tâm trí mà từ đó tôi không thể trở lại được nữa. Xà lim của tôi đối diện với phòng thẩm vấn ở bên kia sân. Giường nằm là một tấm ván, và một cái bóng đèn treo lủng lẳng trên sợi dây điện từ trần nhà thòng xuống. Bóng đèn thắp sáng suốt ngày đêm.

Cộng thêm với những khổ sở của chúng tôi là cái mái nhà lợp tôn đã làm tăng cái nóng của mùa hè lên khoảng 5 độ hoặc hơn thế.

Giữa tháng 6 năm 1968, viên trưởng trại gọi tôi tới gặp hắn, có bày ra bánh bích quy, thuốc lá và hỏi tôi có muốn về với gia đình không. Tôi muốn nói là có: Tôi bị mỏi mệt, bệnh hoạn và sợ hãi. Nhưng cái quy tắc hành xử đã rõ ràng: “Những tù nhân Mỹ không thể chấp nhận tha có điều kiện, ân xá hoặc đặc ân”. Tôi nói là để tôi suy nghĩ về vấn đề đó. Tôi hiểu việc phóng thích tôi sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cha tôi và các bạn đồng tù, và sau đó tôi được biết cái mà người Việt Nam hy vọng sẽ dành được. Ngày 4 tháng 7 cha tôi được thăng lên chức Tư Lệnh Thái Bình Dương.

Phía Việt Nam định chào mừng cha tôi bằng một ấn tượng tuyên truyền gây chú ý là trả tự do cho con trai của ông và coi đó như một hành động “thiện chí”. Hai tháng trôi qua, không có gì xảy ra. Và những đợt hành hạ lại bắt đầu. Tôi bị lôi vào trong căn phòng trống và giam ở đó 4 ngày. Từng đợt, bọn lính gác trở lại đánh đập tôi. Một tên giữ tôi cho những tên khác đánh đập túi bụi. Tôi bị gãy mấy xương sườn và hai cái răng. Suy nhược vì bị đánh đập và kiết lỵ, chân phải của tôi lại trở nên vô dụng, do đó tôi không thể đứng được. Tới đêm thứ ba thì tôi nằm trên máu, phân và nước tiểu của mình, vì mệt mỏi và đau đớn, tôi không thể chuyển động được.

Ba tên lính gác đỡ cho tôi đứng dậy rồi chúng đánh tôi cực kỳ khủng khiếp. Chúng để tôi nằm trên sàn nhà rên rỉ vì cực kỳ đau đớn ở cánh tay lại mới bị gãy ra. Tuyệt vọng vì đau đớn không thuyên giảm và tra tấn thì tàn bạo hơn. Tôi cố tự sát. Sau vài lần không thành công, tôi tìm cách để đứng dậy. Lật úp cái bô đựng phân và nước tiểu, tôi đứng lên đó, níu vào tường bằng cánh tay còn lành, tôi luồn cái áo của tôi qua cái cửa chớp và buộc thành vòng tròn. Khi tôi đang lồng cái vòng ấy vào cổ, tên lính gác nhìn thấy cái áo của tôi luồn qua cửa sồ, kéo tôi xuống và đánh tôi. Sau đó tôi lại làm lần thứ hai, một cố gắng tự sát nhẹ nhàng hơn. Vào ngày thứ tư, tơi đành chịu thua.

 John McCain leaving POW camp

 HQ Thiếu tá John McCain trong ngày trao trã tù binh năm 1973.

Tôi đã ký vào bản tự thú rằng: “Tôi là một tên tội phạm độc hại, và tôi đã thực hiện những công việc của một phi công”. Mấy tên lính gác bắt tôi cho thâu lời thú tội này vào trong băng ghi âm. Tôi từ chối, và bị đánh đập cho tới khi tôi đồng ý. Ðó là hai tuần lễ kinh khủng nhất trong đời tôi. Tôi rùng mình, như thể sự nhục nhã của tôi là một cơn sốt, và sẽ không còn ai nhìn tới tôi nữa, ngoại trừ trong sự thương hại hoặc khinh bỉ. Người Việt Nam dường như không bao giờ bận tâm tới việc làm thương tổn tới chúng tôi, nhưng họ luôn luôn thận trọng không để chúng tôi bị chết. Chúng tôi tin chắc rằng một số tù binh đã bị tra tấn tới chết và hầu hết là bị đối xử dã man.

Có một người, Dick Stratton, có những vết sẹo lớn bị nhiễm độc trên hai cánh tay vì bị tra tấn bằng dây thừng. Hai móng ngón tay cái bị xé rách toạc ra, và anh ấy bị châm bỏng bằng thuốc lá. Tuy nhiên, người Việt Nam đánh giá chúng tôi như những con bài để mặc cả trong vấn đề thương lượng hòa bình, và thường thì họ không có ý định giết chúng tôi khi họ tra tấn để buộc chúng tôi phải hợp tác với họ. Tới cuối năm 1969, những sự đánh đập thường lệ được ngừng lại, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những khẩu phần ăn thêm. Hoàn cảnh của chúng tôi không còn thảm khốc như những năm trước đó nữa. Tôi được trả tự do và trở về Mỹ khi chiến tranh kết thúc, tính tới tháng 3 năm 1973, tôi đã bị cầm tù trong 5 năm rưỡi.

Chúng tôi được dạy phải có niềm tin nơi Thượng Ðế, nơi tổ quốc, và tin nhau. Hầu hết chúng tôi đã sống như vậy. Nhưng điều cuối cùng của những niềm tin này – niềm tin vào nhau – là vũ khí phòng vệ tối hậu của chúng ta, là những thành lũy mà kẻ thù của chúng ta không thể vượt qua được. Ðó là niềm tin tôi đã ấp ủ từ trong Học Viện Hải Quân. Ðó là niềm tin của cha tôi, ông tôi. Trong nhà tù, tôi là một người dơ dáy, què quặt, suy nhược, tất cả những gì tôi còn giữ lại trong phẩm hạnh của tôi là niềm tin của cha-ông (FATHERS) tôi. Như vậy là đủ.

 “Niềm Tin của Tổ Tiên (FATHERS) Dòng Họ Tôi”.

Tác giả: JOHN McCAIN

Bài dịch tiếng Việt đăng trên

 
Nguồn tiếng Anh:

https://www.usnews.com/news/articles/2008/01/28/john-mccain-prisoner-of-war-a-first-person-account

______

Tu chính án John McCain

 

Vì Đâu Có “tu Chính An Mccain?”

23/09/200800:00:00(Xem: 112513)

Tác giả là một nhà báo Việt ngữ tại Atlanta. Ông làm báo, viết tin, bình luận…. với bút hiệu Phuơng Điền Nguyễn.

Một trong những mục ông phụ trách là  “Thư Atlanta Về SaiGon” với bút hiệu Bình Thiên ; Tác giả nay đã 70 tuổi. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là “Cô Thắm Qua Cầu… Goden Gate. Sau đây là bài viết thứ hai, về chuyện thời sự đi bầu Tổng Thống Mỹ. (2008)

***

Anh chị Năm thân mến,

Ai không nhớ TNS McCain là cựu phi công chiến đấu của quân đội Mỹ bị bắn rơi trên chiến trường ViệtNam vào những năm chiến tranh  khốc liệt nhất; rồi ông bị tù, được thả về Mỹ, ra ứng cử vào Thượng Viện. Nay ông lại là ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ. Mà cuộc đời thì cũng có lắm bất ngờ, chúng ta qua đây “gặp lại ông” để… trả cho xong món “nợ” chiến hữu, cũng như các đặc ân ông đã tạo cho cộng đồng với lòng biết ơn!

Dĩ nhiên thôi, mặc dù cũng đâu ai ngờ có ngày tôi và anh chị là công dân Mỹ để đi bầu các chức vụ công quyền – nhất là tổng thống Hoa Kỳ – mà cuộc đời Tám Phở và Hai Lúa như anh với tôi, dân tỵ nạn, còn thật thà như ngô khoai… lại có ngày lên hương vì được quàng ba chữ “quốc tịch Mỹ.” Và việc đứng ra cho cử tri “điểm mặt, biết tên” thì ứng viên cũng phải có sức thuyết phục lắm mới làm người đi bầu đem quyết tâm, lòng hãnh diện vì cảm tình – lúc thấy chính sách của ứng viên phù hợp với cộng đồng như ông có cơ hội sống… giúp đỡ, nhân ái, dày kinh nghiệm lãnh đạo, cộng lòng chính trực, và sự dũng cảm… mới làm cho người dân quyết định bầu ai. Vì những đức tánh này liên quan đến trách nhiệm của tổng thống khi đối đầu các thách đố căng thẳng tại quốc nội cũng như đối ngoại…

Anh chị Năm,

Nhớ thuở “vàng son” còn trong nước, tôi cùng anh lang thang ra khu nhà thờ Đức Bà… để gặp người đồng hội đồng thuyền nào đó nghe ngóng bất cứ tin ra đi nào cũng có thể làm chỗ dựa tinh thần cho mình. Điều đó có thể lên hay xuống, thông thường là những tin hỏa mù… biết mà vẫn cứ lấy đó làm lẽ sống. Hoặc tìm địa chỉ gởi lén hồ sơ qua Bangkok… Hay có khi đến Nguyễn Trải thăm dò lịch trình phái đoàn phỏng vấn Mỹ… đã thấy lên Thủ Đức làm việc với nhóm người ra đi theo diện nào đó – thì lúc về, lòng chúng ta càng chộn rộn, nôn nao… vì xác và hồn bị xẻ chia lúc lủi thủi về lối cũ, với con đường bụi mù quen, mà trí thì u hoài… liên tưởng đến những cách đi… Khi đó, đời ta sống trên quê nhà mà dường như bị chính tà ma vất ra khỏi nước…

Sự nghịch lý này vẫn cứ vật vờ âu lo vì cuộc sống đen tối, nên ta thường lăn xả vào các “đam mê bất đắc dĩ” để tìm lối thoát đời nghiệt ngã bằng “giấc mộng bình yên…” qua những lần vượt biên Rạch Giá, Vũng Tàu…! Tất cả các liều lĩnh đều nẩy sinh mầm biệt ly quê hương để đi tìm… những dòng sông, bến bãi, hay ta lén lút trong các gộp đá/động cát tối ngoằng ngoèo, mong sao chạy lên kịp con tàu để thoát ra khơi! Và như canh bạc đỏ đen, cũng còn tùy số mạng hên may, không bị con bịp đưa đi lòng vòng…! Rồi òa vỡ chạy tán loạn. Hay tù đày! Ra về hết vàng, hết bạc…!

Anh chị Năm, còn nhớ những nỗi thống khổ đó không…”

Rồi đến thời kỳ mở đầu hàng loạt sự ra đi trong vòng trật tự “ODP:” Bảo Lãnh, Con Lai, HO… Lòng ta lại rộn ràng khích động với bao gian nan biết mấy! Người người chạy tìm con lai, kiếm chỗ làm giấy giả, mua bán tên tuổi, ghép hộ, đổi hồ sơ… để cho các ông bà thầy bói, thầy bùa, chiêm tinh gia ăn tiền người dự tính “tìm mộng bình yên xứ xa” một cách thản nhiên. Xã hội tự nó nhốn nháo trong âm thầm thì có sao đâu! Chẳng qua mọi người trong bước đường cùng, ai cũng muốn đổi đời… cho dù công an khu vực hoặc thầy có khiếu “tiết lộ thiên cơ” vẫn muốn có tiền là việc đời thường!

Từ đó, tôi và anh nộp hồ sơ xuất cảnh. Anh HO. Tôi ODP.

Vào phỏng vấn, hồ sơ con lai của tôi có kèm theo tấm hình du học ở Fort Benjamin Harrison, Ind., Hoa Kỳ lúc còn trong quân ngũ 1972, đang nằm trên bàn phỏng vấn viên Hoa Kỳ. Gia đình tôi vào chừng mười phút ra, mọi người chung quanh chưng hửng, nghĩ chúng tôi rớt.

Tưởng vẫn thế, anh Năm, người bạn HO không được ra đi dễ dàng như tôi, vì đứa con gái bị gác lại!

Tội nghiệp nó, trong những năm dài, cháu cứ đợi chờ ra đi mãi, mà chẳng ngờ tuổi xuân lướt qua như bóng câu bên cửa sổ – khi tuổi dậy thì qua thì 21 cũng đang lên. Nàng cũng chưa dám có gia đình, mặc dù người tình khẩn cầu cho làm lễ cưới cùng nhau sống tại quê hương… mà bây giờ cha mẹ phải bỏ nàng lại mới là sự bi hài, cười với những giọt nước mắt vắn dài…! Trong tình thế chẳng đặng đừng này, họ hàng bàn: hai vợ chồng nên đi với đứa con trai thứ rồi tính sau!

Hôm xuống phi trường Los Angeles, Hội USCC ra đón, đưa về chỗ ngụ. Và vợ chồng anh kể hoàn cảnh ái ngại của mình cho Hội nghe. Hội USCC, [sau này cũng như các cơ quan thiện nguyện khác] sốt sắng tham chiếu Tu Chánh An mang tên của Thượng Nghị Sĩ John McCain và Dân Biểu Tom Davis đã được Thượng Viện Hoa Kỳ chấp thuận cho phép con của cựu tù cải tạo được ra đi định cư theo diện tỵ nạn, dù đã quá 21 tuổi, nếu còn độc thân. Nhưng, sau này, dù con của bất cứ người tỵ nạn nào vượt qua tuổi đó, dù có gia đình rồi, cũng có thể nộp đơn để xin cứu xét… nếu còn muốn đi.

Và, anh chị Năm thân mến,

Còn nói về mặt nhân đạo, trong tận cùng sự sống của một bào thai, TNS McCain cũng đã “pro-life…” với tấm lòng quý nhân xử thế đó! Mà cũng nhờ vậy, ông đã “vinh danh cựu tù cải tạo” bằng Tu Chính An của ông để giúp người tỵ nạn Việt ra đi “trọn gói.” Giờ mọi người có cuộc sống đẹp, sống hùng, sống văn minh trên đất Mỹ thì cũng nhờ vào nghĩa khí của một role model như ông. Các cháu thế hệ thứ hai ở Hoa Kỳ ca tụng John McCain là vị anh hùng thật sự đúng nghĩa, mà còn là vị ân nhân lớn trong cuộc sống tự do an vui trên đất Mỹ của các thế hệ kế tiếp. Các cháu góp ý trên các websites: mong mỏi tất cả người Việt sẽ bầu cho liên danh McCain-Palin để cùng nhau trả ơn sâu với câu logo: “Không để khung thành White House lọt lưới Obama thành Black House!”

Một là “duyên,” hai cũng là “nợ” danh dự chúng ta phải trả cho xong đó anh chị Năm… Vì ông hiểu tục ngữ ViệtNam: nếu con cái bị bỏ lại thì sẽ “sẩy đàn tan nghé,” tăng thêm nỗi sầu chia lìa cốt nhục – vì khi “một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ…” là chuyện đâu ai muốn xảy ra! Cho nên, ta mới biết: TNS McCain đã làm hết sức mình để thi ân cho những gia đình người Việt ra đi từ những ngày ông còn “hàn vi… chưa ra ứng cử tổng thống.”

Thì anh chị cũng biết rồi, Tu Chính An này tiếp sức cho gia đình người đi… như “cây kia bị bứng đem trồng chỗ khác” cho mau chóng hồi sinh. Vì ông biết trước phải đợi bao năm “cây đó mới hạp thổ nhưỡng để đơm bông kết trái,” lại còn bị “chặt nhánh tỉa cành…” thì sao phát triển trên đất mới – cho nên Tu Chính An của ông mới ra đời. Như vậy… Cháu Hương đã đoàn tụ với anh chị. TNS McCain là ân nhân của anh chị – trong khi đó, ông cũng là người làm việc công ích cho biết bao gia đình tỵ nạn Việt khác không cảm thấy bơ vơ, lạc loài trên xứ lạ. Tu chánh án này áp dụng rộng rãi cho người đi không vì kinh tế như dân Latino sau này. Nhờ thế, sự đợi chờ của cháu không phí một đời lỡ dở như những ngày đầu nộp đơn mà mọi thành viên trong gia đình đã lo! Giờ cháu là cánh tay mặt của gia đình anh chị lúc tuổi xế chiều…

Dù sao đi chăng nữa thì “một miếng khi đói bằng một gói khi no” lúc gia đình người người đã ổn định… thì việc “ăn trái nhớ kẻ trồng cây…” đều là các ân nghĩa đáp đền của người Việt, để đời ta không “mắc nợ,” mặc dù đời mình chẳng có ai là chủ nợ…

Nói cho cùng, dù nước Mỹ trong tay vị tổng thống của Dân Chủ hay Cộng Hòa gì thì chính sách vẫn chủ trương bành trướng ảnh hưởng Hoa Kỳ ra thế giới. Mà mạnh hay yếu thế” Sự toàn vẹn lãnh thổ ViệtNam cũng là vấn đề! Và người đã từng có liên hệ sâu xa với mình vẫn còn hơn không”

Anh chị Năm này,

Cũng theo tuần báo TIME ngày 9/8/’08, tông chi dòng họ [clan] của TNS McCain là những người hùng trong cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Các cố-cố-cố-nội của John McCain, gồm Đại Úy John Young là nhân vật trong ban tham mưu của Tướng George Washington; rồi đến ông William Alexander McCain là chiến sĩ của 11 bang Miền Nam [Confederate]; cả chú họ xa của ông là Trung Tướng Henry Pinckney McCain, cũng là vị tướng phát họa kế hoạch Thế Chiến 1; rồi cho đến ông nội của ông là Hải Quân Đô Đốc 4 sao, John (Slew) McCain Sr., vị tướng tiên phong dùng Không-Hải chiến [naval aviation pioner] trong Thế Chiến 2. Cho nên TNS John McCain tự hào: “Hồ sơ của tôi chứng tỏ rằng tôi đặt quê hương lên hàng đầu” với logo “Country First.” Có nghĩa ông không phục vụ riêng cho đảng như bên Dân Chủ. Và…

…Ngày 8/8/’08 vừa qua, TNS McCain gởi thư đăng báo cho cộng đồng ViệtNam, tôi xin trích đoạn sau đây:

“Quý bạn thân mến,

Tôi xin gởi lời chào mừng đến những người Công Giáo Mỹ gốc Việt tham dự Ngày Đại Hội Thánh Mẫu tại Carthage, Missouri… Là một cựu tù nhân chiến tranh dưới chế độ cộng sản, tôi đã tranh đấu cho nhân quyền ở bất cứ nơi nào nhân quyền bị vi phạm… Nhưng, Cindy và tôi cũng rất đau buồn về tai nạn đã xảy ra tại Texas sáng thứ Sáu vừa qua… Xin cho chúng tôi được bày tỏ sự chia buồn sâu sắc đến các thân nhân của tất cả gia đình bị tai nạn kinh hoàng này… Xin Chúa phù hộ và cảm ơn những sự ủng hộ của các bạn. Thân ái, John McCain.”

Dear Friends,

I send greetings to the many Vietnamese American Catholics observing the Marian Day celebration in Carthage, Missouri… As a former prisoner of war under a communist regime, I have fought for human rights wherever human rights have been violated… But, we are also deeply saddened to learn of the accident that happened in Texas on Friday morning… Please allow us to offer our deepest condolences to all the family members affected by this terrible event… God bless you and I thank you for your support. Sincerely, John McCain].

Thế, cũng quá đủ rồ,i anh chị Năm,

Anh chị cứ nghĩ mình cầm lá phiếu bầu cho TNS McCain thì cũng đúng như câu nhận xét của Hải Triều (Nhóm Nhà Văn Quân Đội QLVNCH) ở Canada viết: “…cảm thông, những gian khổ, bất hạnh mà ông đã trải qua khi chiến đấu vì tự do cho quê hương Việt Nam chúng ta – chính đảng Dân Chủ đã bỏ phiếu cắt viện trợ miền Nam ViệtNam trong những giờ phút hấp hối – trong đó có BIDEN, ứng viên phó của Obama” để tôi làm câu kết cho bức thư quan trọng lần này!

Mến chào anh chị.

Phương Điền Nguyễn

_____________

Trần Hoàng

TNS John McCain là một người bạn trung thành của VN.

Mặc dù bị cộng sản Bắc Việt tra tấn tàn bạo hơn 5 năm rưỡi  trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội từ gần cuối 1967-1973, nhưng ông John McCain không hận thù. Ông và John Kerry đã là những người có công đầu trong việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và nhà cầm quyền Hà Nội 1995.

Người VN tị nạn CS ở Mỹ mang ơn ông. Hàng trăm ngàn quân nhân VNCH và gia đình được đưa đến Mỹ là nhờ nhiều đời tổng thống Mỹ, các tướng lãnh, các TNS, dân biểu Mỹ, và đặc biệt nhất là ông John McCain vận động để xúc tiến chương trình H.O. giúp quân nhân công chức VNCH được rời khỏi VN 1990-1998. Tu chính án John McCain là để giúp cho con cái của VNCH trên 21 tuổi đã có gia đình được định cư ở Mỹ sau thời gian H.O. nói trên.

Ông cũng là người đấu tranh mạnh mẻ cho nền dân chủ và tự do ở Việt Nam. Nhiều tù nhân chính trị VN đã được ông can thiệp ra khỏi tù sớm, và nhiều người khác được định cư tại Mỹ.

Ngày nay, người VN còn sống ở trong nước đỡ bị công sản đàn áp hơn trước đó là nhờ Mỹ quan hệ với VN dùng chính sách “cây gậy và cử cà rốt” để làm cho cộng sản bớt man rợ và văn minh hơn khi đối xử với dân chúng,  và thúc đẩy nhà cầm quyền VN phải thay đổi đường lối. Đó cũng là nhờ công lớn của John McCain  và các bạn bè của ông trong quốc hội Mỹ.

Theo đài SBTN.TV, ông John McCain đã vận động đem nhạc sĩ Việt Khang đến Mỹ ngày 8-2-2018. Từ giữa năm 2017 đến nay, ông bị ung thư, ông có bướu ở não nên phải điều trị chemotherapy. Ông bị ung thư da ở mặt đã hơn 20 năm rồi. Và ung thư da đã di căn tới não. Hiện nay, ông vẫn là thượng nghị sĩ.

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: