Trần Hoàng Blog

►Người CỘNG SẢN lên tiếng về Trận Mậu Thân HUẾ 1968 — Nguyễn Hữu Vấn: Trận Mậu Thân: “Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân” (BBC, 6-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 12/02/2018

“So sánh với Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan…, thì Nguyễn Hữu Vấn là cán bộ cộng sản cao cấp hơn nhiều.

Vào đầu tháng 2, Vấn là người trực tiếp đến từng nhà các công chức, quân nhân VNCH đang ở nhà ăn Tết cùng gia đình, Vấn khuyến dụ họ ra trình diện, nộp súng và cho họ trở về nhà… bằng cách gây lòng tin tưởng để khuyến khích càng nhiều người khác (đang lẫn tránh trong nhà, trong vườn, ) ra trình diện.

Sau khi nắm được danh sách, địa chỉ, chức vụ của từng người,  chừng vài ngày sau, Vấn đến nhà họ vào ban đêm, kêu họ đi họp, rồi bắt và giam giữ họ trong các trường học, lập tòa án, và xử tử các công chức, quân nhân VNCH khi Vấn đang cùng quân đội cộng sản đang chiếm giữ Huế vào cuối tháng 1, và đầu tháng 2/1968.

Khi bị lính Nhảy Dù, Biệt Động Quân phản công chiếm lại thành phố Huế, cộng sản thiệt hại nặng và đuối sức vào ngày 23, 24, và 25 tháng 2. Cộng sản đã rút chạy. Khi rút quân khỏi thành phố Huế để chạy lên rừng, và để khỏi vườn bận, Nguyễn Hữu Vấn có thể là người đã ra lệnh giết và chôn sống các nạn nhân mà y bắt mang theo lên rừng. “

 

 

Trận Mậu Thân: ‘Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân’

 

BBC Tiếng Việt phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Vấn

6/2/2018

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-42960145

 

“Lúc đó, chúng tôi nghe có tin là họ phản kích, sẽ dùng cả chất độc và cả chất khiến mình ngủ, để họ vào chiếm lại thành phố, bắt sống,” ông Nguyễn Hữu Vấn, người giữ chức Quận trưởng Quận 1 của chính quyền cách mạng (cộng sản) trong chiến trận Mậu Thân ở Huế, nói.

 

Phó Quận Trưởng quận Triệu Phong Quảng Trị đã bị nhóm Nguyễn Hữu Vấn và cộng sản Bắc Việt chôn sống cùng 70 người khác- theo lời kể của một bộ đội cộng sản ra chiêu hồi vào tháng 1/1969...

 

https://ichef.bbci.co.uk/news/834/cpsprodpb/16922/production/_99905429_screenshot2018-02-06at11.35.18.png

 

Ông Nguyễn Hữu Vấn

“Cho nên chúng tôi phải tổ chức có danh nghĩa của chính quyền, đưa trẻ em, người già, phụ nữ già ra khỏi thành phố. Phải ra để tránh tổn thất. Chỉ trong một đêm là ra hết.”

Ngày 30/1/1968, lực lượng Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng bất ngờ đồng loạt tấn công trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Tại Huế, các lực lượng phe cộng sản tấn công và nhanh chóng chiếm giữ được phần lớn diện tích ở bờ bắc Sông Hương, nơi có quần thể di tích cố đô (thuộc Thành Nội Huế).

Ông Nguyễn Hữu Vấn khi đó “vẫn còn là một công chức, một giáo chức của chế độ cũ”, với công việc là dạy học tại trường Trung học Hàm Nghi và Trường Âm nhạc Huế.

“Khi có tiếng súng nổ, cách mạng về, tôi chưa phải là cơ sở cách mạng,” (?) ông Vấn, người khi đó sinh sống và làm việc trong Thành Nội, Huế, kể với BBC nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận Tết Mậu Thân.

“Chỉ là trong lòng luôn có ước nguyện đất nước mình được hòa bình, độc lập, đất nước mình được thống nhất. Cho nên khi cách mạng về, tôi đứng vào hàng ngũ nhân dân, những người nổi dậy.” (?)

‘Cố gắng tránh tổn thất’

Được “giao nhiệm vụ làm Quận trưởng Quận 1”, ông Vấn nói ông đã cố gắng “lo cho dân” với mục tiêu “tránh được những tổn thất nặng nề”. (?)

Thành Nội và phần lớn các khu vực phía bắc thành phố Huế rơi vào sự kiểm soát của lực lượng cộng sản, nhưng phần phía nam bờ Sông Hương thì không.

Sau những giờ phút bất ngờ ban đầu, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng phản kích.

Pháo kích từ tàu thuyền trên Sông Hương và từ Hạm Đội 7 đậu ngoài khơi dồn dập nã xuống, bên cạnh các trận ném bom từ trên không. 

Trần Hoàng:

Suốt cuộc chiến VN, và đặc biệt trong trận Mậu Thân, quân cộng sản rất gian manh và tàn ác, chúng núp trong nhà dân, dùng súng bắn lính Nhảy Dù và Biệt Đông Quân của VNCH. Lính quốc qia không dám bắn vào nhà dân, họ phải tiến đến gần nhà, vây bắt Việt cộng. Vì thế, nhiều lính quốc gia bị thiệt mạng.

Trên đường phố, quân đội cộng sản xua người dân đi trước, chúng đi sau, núp sau lưng dân chạy nạn, dùng đàn bà, trẻ em làm bia đỡ đạn cho chúng mỗi khi chạm trán với lính Nhảy Dù và Biệt Động Quân của VNCH. Sự kiện quân đội CS Bắc Việt núp trốn trong nhà dân bắn ra, hoặc đẩy người dân đi trước, bọn chúng đi sau, bắt dân miền Nam  làm bia đỡ đạn… đã xảy ra suốt cuộc chiến tranh VN, và xảy ra trong Tết Mậu Thân tại các thành phố Sài Gòn, Cần Thơ, Nha Trang, Biên Hòa, Đà Nẵng, Pleiku…

Quân CS đi tới đâu, người dân bỏ chạy ra khỏi chỗ đó; họ bỏ chạy về hướng có quân đội VNCH.

Bởi vậy, những gì Nguyễn Hữu Vấn trả lời phỏng vấn về sự nổi dậy của sinh viên học sinh Huế đều là láo. Ai cũng sợ Việt Cộng như sợ tà, sợ ma quỷ.

Quân đội Mỹ án binh bất động cho mãi tới ngày 6/2/1968 mới bắt đầu vào cuộc chiến. Đó là nguồn tin của quân đội VNCH, chính quyền hành chánh tỉnh, và người dân đã chứng kiến vụ phản công chiếm lại Huế.

“Khi đó, tàu của Mỹ và máy bay đánh tơi bời, cho nên phải bảo vệ làm sao cho người dân được sống. Chúng tôi vận động làm hầm để bà con chuẩn bị, tránh bớt tổn thất,” ông Vấn nói.

“Cái thứ hai là có khi bom đạn nhiều như vậy, chúng tôi phải tổ chức để đưa trẻ em, người già, phụ nữ già ra khỏi thành phố,” nhất là sau khi có tin phía Mỹ và đồng minh có thể dùng chất độc để tái chiếm thành phố, ông Vấn cho biết. “Ngoài ra, phải lo chuyện ăn, chuyện ở cho dân.”

Bên cạnh dân thường, ông Vấn cho biết chính quyền cách mạng cũng phải lo cho cả những người thuộc phe đối phương.

“Những người đi lính cho chính quyền Sài Gòn, sau khi cách mạng về, đánh tan rã thì họ đều nằm trong Quận 1 của tôi cả. Không chạy đi đâu cả.”

“Anh em họ rất tốt. Mặc dầu là người lính của chế độ Sài Gòn, nhưng khi họ bỏ súng xuống, họ là người dân. Chúng tôi phải chăm lo họ như là lo cho dân.”

“Phải làm sao giải thích cho họ biết, rồi tìm cách kêu gọi để họ ra trình diện, nộp súng, nộp tài liệu.”

“Tôi đã tiếp xúc rất nhiều người như vậy. Họ ra trình diện xong, tôi khuyên họ về nhà với vợ con, cùng với nhân dân trong xóm lo cho nhau trong cuộc sống, nhất là trong chuyện mai táng những người bị bom đạn chết tại chỗ.”

Nói về thời gian gần một tháng quân Cộng sản nắm khu vực Thành Nội, ông Vấn cho biết chính quyền cách mạng cũng chú trọng tới vấn đề bảo tồn di sản trong thành phố.

“Bom đạn là căng thẳng nhất,” ông Vấn nhớ lại. “Khi Mỹ pháo kích, cái lo nhất là dân bị chết.”

“Nhưng cái lo nữa, bởi tôi là người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, là lo sợ di sản di tích lịch sử của thành phố Huế bị bom đạn xóa đi.”

“Cho nên có những quả đạn làm vỡ cái gì đó, như làm hư hại những căn nhà cổ chẳng hạn, là chúng tôi phải nhặt lại, cất đó để sau khi súng đạn xong rồi thì đưa vào chỗ cơ quan bảo tồn.”

Rút lui

Sau hơn ba tuần giao tranh quyết liệt, thành phố Huế gần như tan hoang.

Trước hỏa lực và sức mạnh quân sự áp đảo của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, phía Cộng sản buộc phải rút lui sau 26 ngày đêm chiếm Huế.

“Cuộc chiến kết thúc bởi họ phản kích thì mình phải rút. Phải rút để bảo toàn lực lượng,” ông Vấn nói.

Là người công khai nắm vị trí trong chính quyền cách mạng lâm thời, nên ông Vấn cũng nằm trong số những người được lệnh phải ra đi.

“Ra đi rất lo lắng, rất khổ sở về chuyện dân ở lại rất khổ mà mình không còn ở đó để cùng gánh vác, cùng chia sẻ,” ông Vấn nói.

“Những người dân đứng dậy, ủng hộ cách mạng, sau này mình đi rồi chính quyền cũ đối xử với họ thế nào?”

“Rồi vợ con tôi còn ở đó, ra đi lòng rất buồn.”

“Nhưng tôi đã làm chính quyền cách mạng 25 ngày rồi, không thể ở lại thành phố với dân được.”

Tuy nhiên, ông Vấn nói rằng điều khiến ông ngạc nhiên, là có rất nhiều học sinh, sinh viên Huế đã tình nguyện đi theo lực lượng Cộng sản.

“Thanh niên, sinh viên đòi đi theo bộ đội, đi theo cách mạng. Đòi đi bằng được. Ra đi mà có hàng trăm người là sinh viên, học sinh đi cùng chứ không phải chỉ có những người đã làm cách mạng rồi.”

“Sinh viên, học sinh Huế gánh thương binh của cách mạng mà đi. Không có băng-ca, thiếu võng, họ vác lên trên người mà chạy. Chạy 5km, 3km mới ra khỏi cửa Chánh Tây. Nổi dậy là như vậy đó. Do tình cảm cả. Tất cả tình cảm, hiến dâng, cống hiến, đó là sự nổi dậy của người dân.”

“Chúng tôi ra đi với nhiệm vụ là sẽ trở về.”

https://ichef-1.bbci.co.uk/news/834/cpsprodpb/17CA/production/_99909060_gettyimages-3361422.jpg

Huế tan hoang sau các đợt giao tranh tháng 2 năm 1968.  GETTY IMAGES

Giải thích về phong trào ‘nổi dậy’ ở Huế trong trận Tết Mậu Thân khi phe cộng sản tấn công vào thành phố, ông Nguyễn Hữu Vấn nói:

“Tất cả mọi người mong muốn hòa bình, dân chủ, độc lập đều đứng dậy cả. Vì đó là mong muốn chung. Một người, hai người, cho đến hàng ngàn, hàng vạn người, thành một cuộc nổi dậy.”

“Bên cách mạng tấn công thì dân nổi dậy, ủng hộ con đường mà họ mong muốn.”

“Bởi ở miền Nam chúng tôi phải sống trong hoàn cảnh rất bức bách, rất đau khổ, có khi là uất hận vì chế độ không bao giờ tôn trọng quyền dân chủ, quyền tự do, tiếng nói của lòng mình, chỉ có đàn áp, chỉ có đè nén, cho nên mọi người đều bức xúc trong lòng.”

“Khi có điều gì chân chính, điều mà họ ước mong, đến, thì họ nổi dậy, họ đón chờ. Đó là điều tất nhiên.”

Cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Vấn được BBC thực hiện tháng 1/2018, nhân dịp 50 năm kỷ niệm trận Mậu Thân.

VIDEO :  Tết Mậu Thân: 25 ngày trong Thành Nội Huế

              http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-42960146

“Lúc đó, chúng tôi nghe có tin là họ phản kích, sẽ dùng cả chất độc và cả chất khiến mình ngủ, để họ vào chiếm lại thành phố, bắt sống,” ông Nguyễn Hữu Vấn, người giữ chức Quận trưởng quận 1 của chính quyền Cách mạng lâm thời trong chiến trận Mậu Thân ở Huế, kể lại với BBC.

“Cho nên chúng tôi phải tổ chức để đưa trẻ em, người già, phụ nữ già ra khỏi thành phố. Phải ra để tránh tổn thất. Chỉ trong một đêm là ra hết.”

Ngày 30/1/1968, lực lượng Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng bất ngờ đồng loạt tấn công trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Tại Huế, các lực lượng phe cộng sản tấn công và nhanh chóng chiếm giữ được phần lớn diện tích ở bờ bắc Sông Hương, nơi có quần thể di tích cố đô.

Ông Nguyễn Hữu Vấn, người giữ chức Quận trưởng Quận 1 chính quyền cách mạng lâm thời, kể lại với BBC về 25 ngày đêm ông tham gia trận Tết Mậu Thân ở cố đô.

 

_______

So với Nguyễn Đắc Xuân,  Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh,… Nguyễn Hữu Vấn là cán bộ cộng sản cao cấp hơn nhiều.

Nguyễn Hữu Vấn có quyền bắt bớ, xét xử, thảm sát nhiều nạn nhân trong Mậu Thân ở Huế.

_______

Đôi dòng về phỏng vấn của bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế

Rất ít người được biết bà Phạm Thị Xuân Quế là ai. Bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế sống ẩn tích từ trước 1975 và cả sau 1975. Tuy nhiên theo một tài liệu đã giải mật của CIA, Văn phòng Đông Á và Thái Bình Dương Vụ, đề ngày thứ Sáu 11 Tháng Tư, 1975 do wikileaks.org công bố thì Bs Phạm Thị Xuân Quế là đại diện của Lực lượng Hoà giải Dân tộc trả lời phỏng vấn trên Đài Phát thanh Hà Nội – phần Anh ngữ. Bà Quế cho biết bà đã hợp tác với chế độ (cộng sản) mới ở Huế.(12)

Nghe những lời bà trả lời phỏng vấn trong với WGBH-TV lưu trữ ở Open Vault thì thật sự ngỡ ngàng đến không hiểu được.

Tuy nhiên qua bà Quế, tự xưng là Việt Cộng, người ta có thể hiểu được phần nào những hoạt động của những người nằm vùng, của một sinh viên, trí thức Huế.

Những kẻ được gọi là Huế giết Huế.

Trong bài viết này, chỉ xin tóm lược vài ý nghĩ rời về những điều bà đã trả lời phỏng vấn trên.

Sau đây là những lời tố cáo của bà Quế một cán bộ cộng sản, độc ác và tàn bạo.

Bà gọi những người làm việc cho chính quyền miền Nam bằng một giọng y hệt cán bộ cộng sản như:

Bs. Phạm Thị Xuân Quế, Việt Cộng nằm vùng trước 1975. Nguồn:

Bs. Phạm Thị Xuân Quế, Việt Cộng nằm vùng trước 1975. Nguồn: WGBH Media Library & Archives. Web. September 14, 2015.

– Bọn chó săn, mật vụ nó bắt đổ bàn thờ và đi theo họ. Nó tra tấn dã man. Nó bắt con phải tố giác cha mẹ.

– Nhất là các chị có chồng đi bộ đội. Nó đánh đập, tra tấn, bắt ly dị chồng, xúc phạm đến nhân phẩm phụ nữ. Nó bắt phải lấy bọn chó săn, bọn mật vụ. Tôi cho là vô nhân đạo. Điển hình là ở Quảng Nam, những người phụ nữ có chồng đi tập kết. Nó lấy bao bố, cột lại, thả xuống sông. Chúng cột 40 người, rồi trôi sông ở đập Vĩnh Trinh.

– Và chính mắt tôi trông thấy.

Bà cũng có giọng điệu sắt máu như HPNT.

Thưa bà, nếu muốn giết một người thì miền Nam không dùng kỹ thuật của cộng sản là giết rồi cho vào rọ để trôi sông. Đó là lối giết hù dọa, nhằm cảnh cáo kẻ khác như trường hợp Ba Dũng giết Nguyễn Bá Thanh. Giết một người đe dọa muôn người.

Kỹ thuật cho vào rọ, rồi thả trôi sông là kỹ thuật sáng chế “độc quyền từ thời Cách mạng tháng 8”, của cách mạng!

Miền Nam – nếu quả có giết người thì dấu diếm, đào hố rồi chôn cất kín đáo lắm.

Bắt con tố giác cha mẹ cũng là chính sách của cộng sản thưa bà. Bắt các bà có chồng đi tập kết lấy mật vụ cũng là chính sách của cộng sản bà ạ.

Tuy nhiên qua bà Quế, người ta có thể hiểu được phần nào những hoạt động của những người nằm vùng, của một sinh viên, trí thức Huế. Những kẻ được gọi là “Huế giết Huế”.

Bà Quế chạy tội cho cộng sản và sẵn sàng nói rằng trong vụ Tết Mâu Thân, 99% các nạn nhân đều do bom đạn Mỹ. Căn cứ vào đâu, bà Phạm Thị Xuân Quế có thể xác quyết như thế?

Nếu tin rằng có oan hồn, có kiếp sau, có nhân quả, bà bác sĩ Quế sẽ ăn nói làm sao với các vong linh những người đã chết?

Hóa cho nên cả bọn chỉ học được một sách của cộng sản là: Sẵn sàng nói láo, sẵn sàng vu cáo, dối trá bất kể sự thật ra sa0

Về tết Mậu thân, bà cho biết:

– 1960, phong trào bắt đầu gây dựng, phát triển năm 1963. 1968, phong trào rất phát triển rất mạnh. 90% thành viên của phong trào hướng về cách mạng. (Huế tang tóc vì những tổ chức và những thành phần nội tuyến như bà Quế này.)

– Được tin ở trên cho biết sẽ tấn công ở Huế. Mạng lưới nội thành – mạng lưới của chúng tôi – đã bí mật hoạt động hợp pháp từ 1961. Có rất nhiều cơ sở.

– Từ 23 tháng 12 đến 29/1968 các cơ sở đã đi ra ngoài vùng và gánh vũ khi dấu trong những gánh rau. Do địch chủ quan, chị em qua mặt chúng và đã đưa được vũ khí vào thành phố. [Ở Sàigon, Việt Cộng tổ chức nhiều đám ma, trong quan tài chứa vũ khí – Nguyễn Văn Lục].

– Phần tôi đang ở trường trung cấp y tá, đã in một số truyền đơn. Nội dung đưa ra chính sách khoan hồng đối xử thế nào với địch.

– Mặt khác lo chuẩn bị bánh tét cho thật nhiều. Chuẩn bị cứu thương. Và may rất nhiều cờ. Trong số cán bộ 1/3 vẫn không ra mặt, tôi ở trong số đó nên chúng không biết tôi là Việt Cộng.

03 Feb 1968, Hue --- Terrified Vietnamese Civilians in City of Hue 1968 --- Image by © Bettmann/CORBIS

Người dân Huế hân hoan đón chào cách mạng.

3 Tháng Hai 1968, Hue — Terrified Vietnamese Civilians in City of Hue 1968 — Image by © Bettmann/CORBIS

 

– Không khí những ngày đầu tết Mậu thân: Dân chúng có bàng hoàng. Nhưng không thiếu niềm vui phấn khởi, họ đóng góp nào bánh chưng, bánh tét, yêu cầu ngụy quân, ngụy quyền ra hàng. Tôi đi xem văn nghệ.

– Đặc điểm là bộ đội giải phóng dễ thương quá, thân tình khác hẳn thái độ hách dịch của lính ngụy.

– Đến ngày mồng 7, một số đông ngụy quân, ngụy quyền ra hàng. Nhờ các anh bộ đội đã đào hộ các hầm trú ẩn nên ngụy bắn đại bác, dội bom đã có chỗ núp.

– Tôi cũng lo bảo vệ các giáo sư ngoại quốc người Đức, đang ở số 2 Lê Lợi. Nhờ đó, bộ chỉ huy đã mời các ông ấy đến ở chỗ quân đội trú đóng để bảo vệ họ. Nhưng địch đã dội bom làm chết các giáo sư ấy cũng như cả bộ đội. Địch phản tuyên truyền, bao nhiêu người chết đều là do Việt cộng tàn sát. Nhưng có thể nói 99% là do bom đạn Mỹ sát hại.

Đọc xong những đoạn trích dẫn phỏng vấn, tôi thiết nghĩ bạn đọc đủ để có thể tìm một câu trả lời về trường hợp HPNT, một trong những kẻ được gọi là “Huế giết Huế”.

Bọn họ đến nay vẫn chạy tội và sẵn sàng nói rằng trong vụ Tết Mâu Thân, 99% các nạn nhân đều do bom đạn Mỹ.

Căn cứ vào đâu, bà Phạm Thị Xuân Quế có thể xác quyết như thế? Nếu tin rằng có oan hồn, có kiếp sau, có nhân quả, Bà bác sĩ Quế sẽ ăn nói làm sao với các vong linh những người đã chết?

Nạn nhân của cộng sản Việt Namtrong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân. Nguồn: LIFE

Nạn nhân của cộng sản Việt Nam trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân. Nguồn: LIFE

Hóa cho nên cả bọn chỉ học được một sách của cộng sản là: Sẵn sàng nói láo, sẵn sàng vu cáo, dối trá bất kể sự thật ra sao.

Xin đừng ‘Đùa thôi nhé’. Xin đừng giỡn đùa với sự thật.

Tôi thấy không cần thiết phải nói thêm điều gì nữa.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: Bài và của thích của tác giả. DCVOnline.net minh hoạ và hiệu đính.

(1) National Geographic, số tháng 8-2015, À la découverte de la ville d’Huê, l’âme du Viêt Nam, trang 38

(2) Thụy Khuê, “Nói chuyện với Hoảng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu thân Huế”, RFI, 12 tháng 7, 1997

(3) “Interview with Pham Thi Xuan Que, 1981.”  02/29/1981. WGBH Media Library & Archives. Web. September 15, 2015. Phút thứ 35. <http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-9a446d-interview-with-pham-thi-xuan-que-1981&gt;

(4) Thụy Khuê, Ibid.

(5) Thụy Khuê, Ibid.

(7) Ông HPNT có vài điểm không chính xác khi nói đến cái ông gọi là “Việt Nam, một thiên lịch sử truyền hình” là phim do Burchett thực hiện.

Tên tiếng Anh của Việt Nam: thiên sử truyền hình là “Vietnam: A Television History”.

Đây là bộ phim tài liệu do nhà làm phim Richard Ellison và ký giả Stanley Karnow dự tính thực hiện từ 1977 và phát hành năm 1983.

Người phụ trách phần tài liệu là Tiến sĩ Lawrence Lichty, giáo sư tại Đại học Wisconsin, trong vai trò giám đốc nghiên cứu truyền thông giúp thu thập, sắp xếp và chỉnh sửa các tài liệu khác nhau, từ âm thanh và băng video, phim, hình và lời chứng thực.

Tài trợ ban đầu của bộ phim là của hãng truyền hình WGBH-TV Boston và National Endowment for the Humanities (Quỹ Quốc Gia cho Nhân Văn).

Tuy nhiên Liên đoàn Phát sóng Công (PBS) từ chối và do đó tài trợ sau này có được là nhờ vận động của Richard Ellison và Stanley Karnow với Britain’s Associated Television (sau này là Central Independent Television) và cùng sản xuất với with French Television (Antenne-2). Nguồn: Hannah Gourgey,  VIETNAM: A TELEVISION HISTORY.U.S.Compilation Documentary.


(8) Thụy Khuê, Ibid.


(9) “Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982.” 
02/29/1982. WGBH Media Library & Archives. Web. September 14, 2015. <http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-3fe9ec-interview-with-hoang-phu-ngoc-tuong-1982&gt;.


(10) “Interview with Pham Thi Xuan Que, 1981.” Ibid.


(11) John Prados, “Viet Nam, The History of an Unwinnable War”, 1945–1975, trang 240.


(12) 
SAIGON MISSION NORTH VIETNAM BI-WEEKLY NO. 32. ACTION EA – Bureau of East Asian and Pacific Affairs, 1975 April 11, 12:51 (Friday)

________

Cộng sản Bắc Việt đi tới đâu, người dân miền Nam bỏ chạy khỏi chỗ đó; họ chạy về hướng có quân đội VNCH.

Nữ sinh viên trường Cán sự Y Tế kể chuyện 1968.

“Lên tới nhà nội,… ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ…

Hai vợ chồng bác Hậu không nở bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nỉ tôi ráng ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi…

Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu.

Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọn VC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.”

_______ _ _ _ _ _ _ _ _

 

Phim phỏng vấn

 

Nguyễn Thị Thái Hòa

Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân, như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung, thay cho tất cả những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đảng Cộng Sản, và bè lũ tay sai khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v…

Hoàng Phủ Ngọc Phan, em trai Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nguồn: Hoàng tộc Bích Khê.

Thưa ông,

Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8 đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.

Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương … thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm … Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.

Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ. Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm.

Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.

Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè…

Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30, anh Hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.

Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.

Nhưng qua nữa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…

Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3, 4 giờ sáng, bất thần không biết từ ngõ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cả những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực.

Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba… rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.

Ra khỏi phòng cấp cứu, tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tư bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà sơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.

Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà sơ, và mấy người nữa.

Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở đâu thì cứ ở đó.

Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay chúng đang lẩn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết.

Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…

Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm…cầm hơi!

Tôi quyết định chạy về tìm gia đình. Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hãi, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.

Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẩy, tôi khuỵu xuống. Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gấn. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẩy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam), nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.

Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.

Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn.

Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan (HPNP) và Nguyễn thị Đoan Trinh (NTĐT) cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.

Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.

Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời HPNP nói.

Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chỗ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó.

Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn Khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô BV cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chỗ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vừa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.

Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày cũng đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương!

Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP, mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể những người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh đấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.

HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thì Văn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.

Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.

HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẩy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quãng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi.

Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rãi rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi ráng sức đẩy chiếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.

Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhả đạn xuống, Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều. Hoảng hồn, tôi, Văn chạy lại ngồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi.

Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.

Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “đi mau, ngó chi!”

Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.

Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ đội Bắc Việt khắp nơi.

Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bọn lính Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…

Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lũi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.

Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và NTĐT rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!

Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.

Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn Thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.

Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui còn sống. Tôi không khóc được, tôi run rẩy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.

Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nỗi ni…

Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến.

Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi, thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẽ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!

Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!

Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô.

Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti.

Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai,ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống… Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc anh Lộc tìm cách tuột xuống, thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nổ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván.

Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính.

Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lay, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẩm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm với ông nội đang ở trong nhà.

Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rũ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!

Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hâu còn giấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.

Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.

Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối tụi bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin chúng nó đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Chúng nó bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt.

Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nỉ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Chúng không cho. Chúng nó phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…

Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồn ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuổng xẻng đang đào đất. Tâm trí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…

Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.

Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu, bức tai, giọng tức tưởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.

Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa.

Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.

Hai vợ chồng bác Hậu không nở bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nỉ tôi ráng ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọn VC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.

Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tôi như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi, ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.

Sau khi Huế được giải thoát, ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cử hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn được nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi.

Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần đường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.

Thưa ông Liên Thành,

Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau đớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.

Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…

Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của lũ Cộng Sản ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.

Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.

Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người Thân Yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát

Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết.

Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:
Tên ông nội: Nguyễn Tín, 70 tuổi (khi bị giết).
Ba người anh: Nguyễn Xuân Kính, sinh viên y khoa, sinh năm 1942.
Nguyễn Xuân Lộc, sinh viên luật, sinh năm 1946
Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949
Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.

Nguyễn Thị Thái Hòa

Tưởng nhớ 7.600 người dân Huế bị thảm sát trong cuộc tổng tấn công của Cộng Sản, Tết Mậu Thân, 1968

 

 

 

 

________

 

Các bài liên quan:

Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân

Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

4 điều có thể bạn chưa biết về Mậu Thân 1968

 

 

Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Bà Hạnh Nhơn ‘trọn đời giúp thương phế binh VNCH’

———————————-

Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

‘The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

4 điều có thể bạn chưa biết về Mậu Thân 1968

1968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương

——-

Vietnam War: ‘Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi’

Phong trào phản chiến Mỹ sau Tết Mậu Thân

USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

——–

 


Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: