Trần Hoàng Blog

►Chuyên gia Phạm Chi Lan: Hăng hái làm điện than, Việt Nam đi ngược với thế giới –20 nhà máy nhiệt điện than sẽ nhập khẩu và đốt 45 triệu tấn than mỗi năm (15-11-2016)

Posted by hoangtran204 trên 29/01/2018

 

 

 

Không đồng tình việc cơ quan thống kê không báo cáo được các chỉ tiêu phát triển bền vững ở nhiều bộ ngành; thừa nhận thực tế phát triển bền vững đang đi sau, chạy theo các kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn ví dụ về nhiệt điện than tại Việt Nam.

Formosa, biến đổi môi trường là những thách thức lớn cho phát triển bền vững của Việt Nam

20 nhà máy nhiệt điện than ngốn khoảng 45 triệu tấn than mỗi năm

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Tôi không yên lòng về phát triển bền vững ở Việt Nam

 
 Nếu biết tận dụng, xử lý tro xỉ tốt thành vật liệu xây dựng như ở Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng cũng sẽ giúp giảm tác động tiêu cực tới môi trường

Nếu biết tận dụng, xử lý tro xỉ tốt thành vật liệu xây dựng như ở Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng cũng sẽ giúp giảm tác động tiêu cực tới môi trường

Hiện Việt Nam có hơn 20.000 quy hoạch, tuy nhiên, nhiều quy hoạch vẫn chưa xét đến phát triển bền vững, chưa đưa lồng ghép bền vững vào phát triển. Do đó, theo bà Lan, cái nào không có yếu tố bền vững, không phù hợp với phát triển bền vững thì phải kiên quyết cắt đi.

Bà Lan dẫn ví dụ trong tổng sơ đồ điện 6 và điện 7, điện than đang chiếm 45% nguồn điện Việt Nam.

Điều này khiến Việt Nam đang đi ngược thế giới khi các nước đang tập trung phát triển năng lượng tái tạo và đây đang là xu hướng thế giới với chi phí và giá thành điện tái tạo đang giảm.

“Tại sao Việt Nam lại “khăng khăng” phát triển điện than?”, bà Lan đặt câu hỏi.

Theo bà Lan, đối với Việt Nam, phát triển bền vững là vấn đề hiện hữu và tác động của phát triển thiếu bền vững đã không còn là vấn đề của tương lai.

Năm 2016, mối họa môi trường từ Formosa, vấn đề thiếu nước, hạn mặn của Đồng bằng Sông Cửu Long… cho thấy đã đến lúc không thể chần chừ được nữa và đã đến lúc cần bàn tay kiên quyết của Chính phủ.

Bà Lan cho rằng: “Nếu tiếp tục cho phát triển điện than thì không lâu, nó sẽ gây hậu quả lớn. Người dân đang rất lo lắng nhưng dường như Nhà nước đang bỏ qua”.

Tại điểm số 5 trong báo cáo chỉ tiêu Phát triển bền vững mà Tổng cục Thống kê thông báo, có nói rõ các chỉ tiêu phát triển bền vững chưa thể áp dụng được ở trong các lĩnh vực:

Bảo vệ tài nguyên, môi trường, nông nghiệp và nông thôn. “Tôi giật mình bởi đây là các lĩnh vực nổi cộm về phát triển thiếu bền vững và nhiều hiểm họa môi trường xảy ra”, bà Lan nói.

Theo chuyên gia Lan, các vấn đề môi trường đã và đang có những tác hại vô cùng to lớn. Các chi phí về sửa chữa tác hại còn lớn hơn rất nhiều so với chi phí hiện nay chúng ta đưa ra. Tuy nhiên, ngay trong cơ chế quản lý và thực tế, Việt Nam đang có nhiều thách thức.

“Ngay cả ở chỉ đạo, Bộ ngành và Chính phủ vẫn yêu cầu mục tiêu tăng trưởng phải bằng con số trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu không đặt vấn đề để tăng trưởng dài hạn thì không thể bền vững được”, bà Lan nói

Chuyên gia Lan nói thêm: “Chúng ta cái gì cũng nói công việc của hệ thống, ngay các chỉ tiêu phát triển bền vững hiện nay cũng là nhiệm vụ của 22 bộ ngành. Nhưng khi phân chia ra thì cũng không phân rõ trách nhiệm giải trình và phân chia trách nhiệm thực hiện. Điều này sẽ dẫn đến thực hiện kém hiệu quả, kém hiệu lực”.

Theo bà Lan, phát triển bền vững hiện là công việc trọng tâm ở 3 bộ ngành. Bộ KH&ĐT phải là cơ quan đứng đầu thay mặt Chính phủ rà soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả. Bộ Công Thương, nơi có nhiều ngành công nghiệp phát triển đang xấu chứ không phải xanh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nơi có nhiều đối tượng là nông dân đã và đang gánh chịu những tác động của phát triển thiếu bền vững.

Nguyễn Tuyền

________

20 nhà máy nhiệt điện than ngốn khoảng 45 triệu tấn than mỗi năm

05:29 ngày 15/11/2016
 

Cả nước hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất đặt máy 13.110 MW, tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn than/năm, với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15.700 triệu tấn/năm.

Bình Thuận: Người dân trực tiếp vào giám sát môi trường ở nhà máy nhiệt điện

Mỗi năm nhập 15 triệu tấn than cho 3 nhà máy nhiệt điện của PVN

 
(Ảnh minh hoạ).
(Ảnh minh hoạ).

Theo thông tin từ Bộ Công Thương, cả nước hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất đặt máy 13.110 MW, tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn than/năm, với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15.700 triệu tấn/năm. Dự kiến tới năm 2020 có thêm 12 dự án nhiệt điện được đưa vào hoạt động và tổng công suất lắp đặt NĐT là 24.370 MW.

Theo kiểm tra của Bộ Công Thương, tính đến tháng 11, các nhà máy đã thực hiện đầy đủ việc lập và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM).

Một số nhà máy đã đi vào vận hành nhưng chưa có giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường mà báo chí phản ánh như: Vũng Áng, Vĩnh Tân 2, Duyên Hải 1, Formosa Hà Tĩnh. Tuy nhiên, những nhà máy này cũng đã gấp rút hoàn thành.

Theo Bộ Công Thương, hiện tại, nước thải công nghiệp, sinh hoạt của các nhà máy được xử lý đạt Quy chuẩn về môi trường và hầu hết được tuần hoàn tái sử dụng cho các mục đích khác nhau trong nhà máy. Nước làm mát sau quá trình trao đổi nhiệt để làm mát bình ngưng, được giải nhiệt và xả ra nguồn tiếp nhận như sông hoặc biển và đảm bảo nhiệt độ thấp hơn 400C để không ảnh hưởng tới môi sinh.

Các nhà máy đều lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống xử lý khí NOx và xử lý khí SO2 (có 02 nhà máy với công nghệ cũ nên không lắp hệ thống xử lý SO2 là Nhiệt điện Phả Lại I và Ninh Bình). Do vậy, khí thải của các nhà máy được xử lý đáp ứng QCVN 22:2009/BTNMT – về khí thải công nghiệp nhiệt điện.

Riêng khói bụi, với công nghệ hiện nay, khi khởi động lò hơi hoặc khi công suất lò thấp phải đốt kèm dầu FO, HFO và lúc này hệ thống lọc bụi tĩnh điện chưa đưa vào hoạt động do nguy cơ cháy nổ nên có hiện tượng khói đen tại miệng ống khói. Bộ Công Thương đang chỉ đạo các nhà máy nhanh chóng có giải pháp khắc phục hiện tượng này.

Về quản lý chất thải nguy hại, Bộ Công Thương cho biết, nước thải nguy hại được kiểm soát chặt chẽ theo quy định. Tuy nhiên, một số nhà máy vẫn mắc một số lỗi, như: thu gom và phân loại chất thải nguy hại chưa triệt để, xây kho lưu giữ chất thải nguy hại không đúng quy định, quản lý chứng từ chất thải nguy hại chưa chặt chẽ… Bộ Công Thương đã chỉ đạo các chủ đầu tư, doanh nghiệp nhanh chóng xử lý và đã khắc phục gần như triệt để.

Ngoài ra, một số vướng mắc trong thực thi pháp luật bảo vệ môi trường của các nhà máy nhiệt điện, qua rà soát, đánh giá Bộ Công Thương nhận thấy, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều vướng mắc: nhiều thủ tục hành chính có nội dung, đối tượng, bản chất trùng lắp; thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm của các Bộ, ngành trong tổ chức thực hiện pháp luật về môi trường; thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành.

 

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương cho rằng cần làm rõ trách nhiệm, việc phân công, phân cấp và công tác phối hợp giữa các Bộ/ngành, giữa trung ương và địa phương trong công tác quản lý môi trường của ngành, lĩnh vực.

Đối với Bộ Công Thương sẽ rà soát các dự án có nguy cơ ô nhiễm để kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường và xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật.

Đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường, Bộ khẳng định sẽ thẩm định chặt chẽ các hạng mục bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn thiết kế cơ sở; Đánh giá các nguy cơ, rủi ro về môi trường đối với các dự án đầu tư, giám sát công tác bảo vệ môi trường tại các dự án đầu tư trong giai đoạn xây dựng.

Đồng thời, kiên quyết từ chối đầu tư các dự án có công nghệ tiềm ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, từng bước đổi mới, cải tiến công nghệ đối với các nhà máy hiện có để giảm phát thải, cải thiện môi trường. Lắp đặt hệ thống giám sát, quan trắc môi trường tự động, kết nối với đơn vị chức năng tại địa phương theo quy định.

Phương Dung

________

Mỗi năm nhập 15 triệu tấn than cho 3 nhà máy nhiệt điện của PVN

Dân trí

20:45 ngày 02/11/2016

Kiến nghị dừng các dự án nhiệt điện than vì lo ô nhiễm môi trường

Nhập khẩu than “vỡ kế hoạch”, vượt lên 9,7 triệu tấn

Nhập khẩu than sẽ tăng liên tục trong tương lai

(Ảnh minh hoạ).
(Ảnh minh hoạ).

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vừa ký kết với Tổng Công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) hợp đồng cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện thuộc PVN.

Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trong giai đoạn 2011-2020, PVN được giao quản lý đầu tư và vận hành các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu than nhập khẩu gồm Long Phú 1 (công suất 1.200MW), Sông Hậu 1 (công suất 1.200MW) và Long Phú 3 (công suất 1.800MW). Ba nhà máy nhiệt điện có tổng nhu cầu sử dụng than khoảng 12 triệu tấn/năm với tổng sản lượng điện thương mại lên đến hơn 20 tỷ kWh.

Theo chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ và Bộ Công Thương, PV Power chịu trách nhiệm nhập khẩu và đảm bảo nguồn cung cấp than cho các dự án Nhiệt điện do PVN làm chủ đầu tư. Đến nay, PVN và PV Power đã thống nhất các nội dung và tiến tới ký kết hợp đồng nguyên tắc cung cấp than nhập khẩu cho các nhà máy sử dụng than nhập khẩu của PVN.

Chủ tịch HĐTV PV Power Hồ Công Kỳ cho biết, Tổng Công ty đã tìm hiểu, hoàn thành đàm phán với 7 đối tác cung cấp than quốc tế và các chủ mỏ than để ký hợp đồng khung, cung cấp khoảng 15 triệu tấn than/năm, đáp ứng đủ than cho các nhà máy than của Tập đoàn.

Lý giải về nguyên nhân phải nhập khẩu than để chạy nhà máy nhiệt điện, phía PVN cho biết, do khả năng cung ứng than trong nước còn hạn chế, chất lượng than chưa đủ đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện than công suất lớn, hiện đại, do đó phải chủ động thực hiện công tác nhập khẩu than.

Trước đó, trong một báo cáo đưa ra hồi tháng 4, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, lượng than nhập khẩu dự báo sẽ liên tục tăng lên trong tương lai. Hiện nay, các nhà máy nhiệt điện trong nước chủ yếu sử dụng than antraxit Việt Nam. Tuy nhiên, với nhu cầu than tăng mạnh của các nhà máy nhiệt điện, nguồn than này trong nước không đủ để cung ứng nên các nhà máy nhiệt điện xây dựng theo quy hoạch phải chuyển sang sử dụng than nhập khẩu (Vĩnh Tân, Duyên Hải 3 mở rộng…).

Theo dự báo về nhu cầu sử dụng than trong nước năm 2016 là 47,5 triệu tấn, năm 2020 là 86,5 triệu tấn, năm 2025 là 121,5 triệu tấn và năm 2030 là 156,6 triệu tấn. Theo đó, khối lượng than nhập khẩu phải tương ứng với sản lượng thiếu hụt nêu trên. Cụ thể, năm 2016 là 6,5 triệu tấn, năm 2020 là 36,4 triệu tấn, năm 2025 là 67 triệu tấn và năm 2030 gần 100 triệu tấn.

Nhằm hạn chế lượng than phải nhập khẩu, mới đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề nghị Bộ Công Thương có kế hoạch dự trữ than cho kế hoạch sử dụng sau năm 2020, khi Việt Nam dự kiến sẽ phải nhập khẩu số lượng lớn để phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện, tiêu hao nhiên liệu. Đặc biệt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu TKV và Tổng Công ty Đông Bắc cần tập trung vào chế biến những loại than mà trong nước đang có nhu cầu sử dụng, có yêu cầu cao thay vì chỉ tập trung khai thác, xuất khẩu.

Trong thời gian qua, nhiều nhà máy nhiệt điện, doanh nghiệp trong nước thay vì chọn than trong nước đã trực tiếp nhập khẩu than từ nước ngoài. Đây là một nghịch lý, bởi trong khi than trong nước tồn kho lớn, nhiều loại than có hiệu năng tương tự thì sản xuất bị ngưng trệ do không có đầu mối tiêu thụ thì than nhập từ nước ngoài lại ùn ùn vào Việt Nam với số lượng cực lớn. Thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/10, than nhập khẩu về Việt Nam đã đạt hơn 11 triệu tấn, tăng gấp gần 4 lần so với kế hoạch và tăng hơn 20 lần so với lượng than nhập cả năm 2015.

Than nhập khẩu đang gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt giá than từ Trung Quốc có giá cao ngất ngưởng. Đáng chú ý dù Trung Quốc là nước cung cấp than ít nhất cho Việt Nam (đứng thứ 4 trong số 4 nước cung cấp than cho Việt Nam sau Úc, Nga và Indonesia), tuy nhiên, giá than của Trung Quốc trung bình cao hơn nhiều so với các nước trên.

Việc giá than Trung Quốc cao bất thường so với giá bình quân của các loại than trên thế giới đã và đang là mối lo lớn bởi hiện đang có 3 nhà máy nhiệt điện Duyên hải 1, 2 và 3 đều do tổng thầu Trung Quốc hoặc có vốn vay từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc tham gia. Việc có mặt các nhà thầu Trung Quốc và vốn ngân hàng Trung Quốc sẽ chi phối về mặt công nghệ, với những công nghệ hao tốn nhiên liệu, đồng thời quá trình vận hành có thể phụ thuộc hợp đồng nguyên liệu từ các đối tác của Trung Quốc ký với chủ đầu tư.

Ngoài ra, ở một số khu công nghiệp, khu luyện cán thép như Formosa đều có những nhà máy nhiệt điện chạy công suất nhỏ, thay vì nhập than từ trong nước, các doanh nghiệp này đã tiến hành nhập than từ Trung Quốc. Các chuyên gia kinh tế đang đặt dấu hỏi về hiện tượng này có phải là một hình thức của chuyển giá hay không bởi nếu nhập từ Trung Quốc, với mức giá cao như trên doanh nghiệp sẽ không có lãi.

Phương Dung

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: