Trần Hoàng Blog

►BÀI 2. Diệt Khẩu Gia Đình HỒ HỌC LÃM – Chủ Tịch Việt Minh

Posted by hoangtran204 trên 14/12/2017

Sau khi bò vào tổ nuốt chim mẹ, con rắn no nê cuộn mình ấp trứng và chờ chim con nở… Việt Minh được thành lập 1936 và bị tiêu diệt 1941. Cụ Hồ Học Lãm (1884-1942) là chủ tịch Việt Minh.

Việt Minh dỏm do Hồ Quang, (tức Già Lương, Nguyễn Ái Quấc, Trần Dân Tiên, Tuyết Lan, C.B., …) lấy bí danh của cụ Hồ Học Lãm là Hồ Chí Minh làm tên thật và đột nhập  vào miền Bắc Việt Nam 1941.

HCM đội lốt cụ Hồ Học Lãm, để râu cho già hơn 8-10 tuổi, và làm chủ tịch Việt Minh dỏm kể từ đó.

Hàng nhiều chục ngàn học sinh thanh niên VN sinh trong thập niên 1930s đã nghe theo tiếng gọi Việt Minh dỏm 1941-1946, đi theo “cụ Hồ làm cách mạng” kháng chiến chống Pháp giành “độc lập”. Nhưng, họ đã bị Việt Minh dỏm tức cộng sản giết dần từ 1946-1953 (vì phát hiện Việt Minh là cộng sản đội lốt; họ đi theo Việt Minh vì tưởng tổ chức này của phe quốc gia tức cụ Hồ Học Lãm; họ lên tiếng phản bác lại với các tuyên truyền của cộng sản; bị giết trong cuộc “chỉnh quân” 1953 ).

 

 

BÀI 2. DIỆT KHẨU GIA ĐÌNH HỒ HỌC LÃM – CHỦ TỊCH VIỆT MINH.

 

Ta hãy tìm hiểu gia đình ông Hồ Học Lãm người sáng lập và đích thân làm chủ tịch Việt Minh từ năm 1936 xem sao:

  1. Ông Hồ Học Lãm ốm nặng từ 1940 và chết năm 1942 – (có tài liệu nói 1943)
  2. Vợ ông bà Ngô Duy Khôn bị bệnh tâm thần phân liệt từ 1940.
  3. Con gái lớn Hồ Diệc Lan (sinh 1920) bị chết tháng 10/1947 tại quê nhà (Nghệ an) sau khi được “Đón” về nước năm 1946
  4. Con rể bị chết mất xác.
  5. Em vợ: Trần Báo (Ngô Chính Học) thì bảo là phản bội rồi chết đâu cũng không rõ.
  6. Nhà bên vợ thì chẳng còn ai.
  7. Người anh trai ông Lãm là Hồ Xuân Kiên – cũng là một trí sĩ yêu nước thì không thấy một thông tin gì cả.
  8. Ba anh em, bố con nười cháu họ là Hồ Tùng Mậu thì “chết bom” năm 1948 – 1951.
  9. Cả nhà Hồ Học Lãm chỉ còn đứa con nhỏ Hồ Mộ La (Nói là sinh 1930) là còn sống lành lặn.

Một gia đình ngài Chủ Tịch Việt Minh như vậy thì không phải là Diệt Khẩu thì là gì?

I. Bằng chứng và phân tích:

  1. Ông Hồ Học Lãm ốm nặng từ 1940 và chết năm 1942 – (có tài liệu nói 1943) – thọ 59 tuổi.

“Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Tây, lực lượng cách mạng của ta tại đây ngày càng lớn mạnh. Thời gian này, ông Hồ Học Lãm cũng đã chuyển về Quế Lâm chữa bệnh. ” (xem văn bản 1- bài 1)

“Ông mất năm 1942.” (văn bản 1)

Di sản của  HỒ HỌC LÃM chẳng còn gì:

“… không hề để lại những bút tích hay giấy tờ quan trọng để làm bằng chứng lịch sử về sự cống hiến của mình…” (trang 12 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

Ông LÃM thì chết trẻ, con gái lớn chỉ sau vài tháng về tới quê cha đất tổ thì cũng chết và lạ lùng là cả 2 bố con đều MẤT MỘ PHẦN, bố thì làm ĐẠI TÁ LỪNG DANH, MỘT CHÍ SĨ CÓ TIẾNG, con gái là vợ của ngài LÊ THIẾT HÙNG một công thần của chế độ!

VẬY MÀ…

Điều gì đây?

  1. Vợ ông Hồ Học Lãm- bị bệnh tâm thần phân liệt.

“… Vào khoảng thập kỷ bảy mươi, có lần tôi hỏi anh Lê Thiết Hùng: …Còn mẹ thì làm mất lòng các chú ở trong nhà phải không?

Anh nói: Sinh nở nhiều lần không nuôi được, mỗi lần sinh đều phải dùng thuốc mê lấy đứa bé ra, nên mẹ em mắc chứng tâm thần phân liệt…” (trang 102 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)”

  1. Con gái lớn Hồ Diệc Lan (sinh 1920) bị chết tháng 10/1947 tại quê nhà (Nghệ an) sau khi được “Đón” về nước năm 1946. (Xem bài 3 – chương 1)

Diệc Lan mất mộ:

“… Chị Diệc Lan tôi mất ngày 25 tháng mười năm 1947, tại Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ An. Lúc này ba mẹ con tôi vẫn ở với nhau. Chị tôi được an táng ngay tại một thửa ruộng trong làng…” (trang 233 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

“… Khoảng đầu những năm 60, người em dâu của anh Lê Thiết Hùng có nói là đã cải táng và xây mộ lập bia cho chị Diệc Lan. Tôi tin là thật.

Sau Hiệp định Pari 1972, tôi có hỏi anh Thiết Hùng để cùng về quê thăm mộ chị. Anh Hùng trả lời: “anh đã đưa cho em dâu 100 đồng để cải táng, xây mộ làm bia cho chị Lan rồi. Không mất mộ đâu mà sợ.”

Năm 1993 tôi có dịp vào Nghệ An và liền về Nam Kim thăm mộ chị. Tôi không tìm thấy ngôi mộ nào được xây cất với bia ghi tên chị tôi.

… Nhiều năm rồi nên tôi không nhớ chị táng ở vị trí cụ thể nào.

Về Vinh gặp người em dâu ông Hùng, tôi khóc và muốn sỉ vả bà ta cay độc, song nhìn bà đã quá già nên tôi kìm lại.” (trang 234 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

  1. Con rể bị chết mất xác. (Người được cho là Lê Quốc Vọng con rể ông với tên mới là Lê Thiết Hùng thì như Chương 1 đã chỉ rõ là không phải)
  1. Trần Báo (Ngô Chính Học) em vợ Hồ Học Lãm cũng bị cho là Phản Động!

“… Khi ở Trường Sa, có một người đến với gia đình, tên là Trần Báo, người thấp lùn, nhìn kỹ hao hao giống mẹ tôi. Đó là cậu ruột tôi, tên thật là Ngô Chính Học. Cậu không ở hẳn với gia đình tôi. Trước cậu hoạt động ở Xiêm… Về sau tôi được biết chú Lý Quang Hoa rất ghét cậu tôi, cũng như ông đã rất ghét chú Đặng Xuân Thanh. Lý Quang Hoa gọi hai người đó là đặc vụ Quốc dân Đảng Trung Quốc(?)…” (trang 132 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

  1. Người nhà bên vợ của Hồ Học Lãm cũng … không còn ai!

“… Mẹ tôi tên thật là Ngô Khôn Duy, là con gái cả của Thần Sơn Ngô Quảng – Phó lãnh binh của Phan Đình Phùng…

… Cuối tháng tám năm 1946, sau khi từ Trung Hoa về Việt Nam, mẹ có đưa tôi về quê ngoại ở Hà Tĩnh, những ông bà bằng tuổi gọi mẹ tôi là o Quảng. Người nhà con cháu ông cậu hầu như không còn ai… Mẹ về thăm vài tiếng rồi đi khỏi làng luôn. (Hồi đó tôi còn ngô nghê quá, cho nên không ghi nhớ tên làng xã là gì cả)…” (trang 215 – 216 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011

  1. Người anh trai ông Lãm là Hồ Xuân Kiên – cũng là một trí sĩ yêu nước thì không thấy một thông tin gì cả.
  2. Ba anh em, bố con người cháu họ là Hồ Tùng Mậu thì “chết bom” năm 1948 – 1951. (Xem chi tiết tại quyển 9)
  3. Cả nhà Hồ Học Lãm chỉ còn đứa con gái nhỏ Hồ Mộ La (Nói là sinh 1930) là còn sống lành lặn.

Hồ Mộ La nói là sinh 1930, đến 1945 mới 15 tuổi, chưa biết gì, nên thoát chết.

Một gia đình ngài Chủ Tịch Việt Minh như vậy thì không phải là Diệt Khẩu thì là gì?

Thế mới thật là: Việt Minh sự thật ở đâu?

Lý do để chúng thanh minh là gì?

Gia đình Chủ Tịch Việt Minh

Thủ tiêu gần hết, chuyện gì ở đây?

  1. Tài liệu nghiên cứu.

(văn bản 1)

Hồ Học Lãm  http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_H%E1%BB%8Dc_L%C3%A3m

Hồ Học Lãm (chữ Hán: 胡學覽; 1883?-1942), tự Hinh Sơn, là một chí sĩ Việt Nam thời cận đại.

…Do ảnh hưởng từ sự giáo dục của thân mẫu, ông sớm ý thức về lòng yêu nước. Năm 1908, hưởng ứng phong trào Đông duphong trào Duy tân, ông du học sang Nhật.

Khi các du học sinh Việt Nam ở Nhật bị trục xuất, ông sang Trung Quốc vào học Trường Võ bị Bắc Kinh.

…Năm 1936, ông tham gia tổ chức Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội của hoàng thân Cường Để và dùng tiền riêng để ra một tờ tạp chí nhỏ bằng chữ Hán lấy tên là Việt Thanh. …

Ông mất năm 1942.

…Ông là người sáng lập ra Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội tại Nam Kinh vào năm 1936, làm tổ chức cơ sở cách mạng cho người Việt ở hải ngoại. Về sau một tổ chức khác với tên gọi này lại được  Nguyễn Ái Quốc tái thành lập và tổ chức trong nước vào năm 1941, và được nhiều người biết đến với tên gọi Việt Minh.

…Ông có vợ là bà Ngô Khôn Duy và hai con gái là Hồ Diệc Lan và Hồ Mộ La.

Bà Hồ Diệc Lan, kết hôn với Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhưng mất sớm (năm 1947, ở tuổi 27) và chưa có con.

Khi bà Hồ Diệc Lan mất, báo Cứu quốc Liên khu IV có đăng lời chia buồn và ông Phạm Văn Đồng cũng gửi lời chia buồn đến bà Hồ Diệc Lan.

Bà Hồ Mộ La sau này là giảng viên trường nhạc Hà Nội.

HCM xuat hien la HHL chet

 

I. Bằng chứng và phân tích.

  1. Hồ kể chuyện láo.

“…Bác cười, nói vui: – Lại “mới” nữa, cách nay độ 30 năm, lần đầu gặp cháu còn mặc quần thủng đít…

…Mộ La trấn tĩnh lại nói tiếp: – Dạ, thưa Bác, cháu xin mạn phép: Bác quên rồi. Khi Bác cháu ở Liễu Châu, cháu đã 13 tuổi, sao lại là mặc quần trẻ nhỏ?

– Ấy, ấy… Hẳn cháu không phải không nhớ mà có thể chưa biết. Hồi nớ cháu mới lên hai, bà nhà bế theo lên Thượng Hải dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa…
– Trời đất ơi, chuyện nhỏ đã qua 30 năm, Bác nhớ từng chi tiết!” (Văn bản 1)

Nhận xét: Láo! Làm gì có chuyện bế con đi “dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa”?

Vợ bị thần kinh đi họp cách mạng thay chồng?

“Thế hôm ấy đến Thượng Hải làm gì hở mẹ? Anh cả Nguyễn Lương Bằng triệu tập thầy con đến họp Mặt trận phản đế đồng minh.  Vì bận, thầy con không đi được, mẹ đi thay”. (trang 57 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

Có ai đi họp cách mạng thay chồng không?

Hơn nữa, Hồ Mộ La sinh 1930, nếu đúng “Hồi nớ cháu mới lên hai, bà nhà bế theo lên Thượng Hải dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa…”  như vậy là phải 1932 mới được 2 tuổi, mà Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt ngày 6 -6 -1931, Vậy Nguyễn Ái Quốc “dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa” khi nào?

Rõ ràng là không có chuyện Nguyễn Ái Quốc “dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa”, vậy phải chăng Hồ đã dự còn Nguyễn đang đi tù!

Lưu ý: Đoạn này bọn chúng đã thêm vào quyển sách của Hồ Mộ La cho khớp với chuyện Hồ kể ở trên mà thôi. (Cũng như các quyển hồi ký khác, thường xuất bản khi Tác giả đã mù lòa hoặc chết… – xem Quyển 19. Viết Hồi ký láo để sửa Lịch Sử đảng. )

Khi xuất bản quyển sách này thì bà Hồ Mộ La đã lòa không đọc được chữ: “…Tháng 11 năm 2008, tôi xuất bản cuốn sách thứ 2… Sau khi viết xong 2 cuốn sách trên , thị lực tôi giảm hẳn, tôi bị lòa. Tôi không đọc được sách báo, không đọc được Kinh Phật hàng ngày nữa, cũng như không xem được tivi…” (trang 250 – Hồi tưởng về cha tôi – HỒ HỌC LÃM, Nxb Phụ Nữ, Hồ Mộ La, 2011)

  1. Viết thư cho Hồ Mộ La, Hồ cố tình viết giọng Nghệ an nhưng vẫn không đúng

Xem ảnh thư – (văn bản 1)

Hồ cố tình viết dấu hỏi thành dấu ngã nhưng không đúng giọng Nghệ! (Bình thường Hồ không viết thế (Hồ viết chuẩn như người Ngoại quốc viết chữ Việt), nay cố bịa ra cho đúng Nghệ, nhưng lại sai)

Giọng Nghệ An không phải dấu hỏi (?) thành dấu ngã (~)! Các nhà Nghệ An học giải thích như thế nào với (Cảm = Cãm, Khỏe = Khõe, Fổ = Fỗ, Fải = Fãi)?

“…Về âm điệu, trong “từ điển tiếng Nghệ” cũng ghi rõ: “Dấu ngã (~) thành dấu nặng (.) nên mới nghe giọng Nghệ An và Hà Tĩnh nặng trình trịch (ở một số vùng, dấu hỏi (?) cũng nói thành dấu nặng (.). ” (Văn bản 2)

“(bữa ni ) = (bựa ni ),  (gãi mãi ) = (gại mại ), (cũng nỏ đợ) = (cụng nỏ đợ), (cho đỡ ngá) = (cho đợ ngá)” (Văn bản 3)

Thế mới thật là:  Ái Quốc đang ở trong tù

Hồ kia đi họp “phản đế toàn Trung ”!

Giọng Nghệ: Dấu ngã (~) thành dấu nặng (.)

Hồ nhầm: Dấu hỏi (?) thành dấu ngã (~)

  1. Tài liệu phân tích.

(Văn bản 1)

Bác Hồ qua lời kể của nhà giáo Hồ Mộ La

17/05/2010

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/phong-su/500255/Bac-Ho-qua-loi-ke-cua-nha-giao-Ho-Mo-La.html

…Bác nhớ từng chi tiết

Bà Mộ La kể, Bác có trí nhớ tuyệt vời, mình không thể tưởng tượng. Người nhớ hẳn vì sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ nhặt, rất tình người. Một lần, khi bà đang học tại Nhạc viện Traikôvxki ở Matxcơva (1961-1966), được đến thăm Bác, Người nhận xét vui: – Hồi ni cháu ăn diện đồ tây nom to nậy hề? Mới đó, cháu viết thư gọi Bác là “Minh thúc”. Bác cười, nói vui: – Lại “mới” nữa, cách nay độ 30 năm, lần đầu gặp cháu còn mặc quần thủng đít…

…Mộ La trấn tĩnh lại nói tiếp: – Dạ, thưa Bác, cháu xin mạn phép: Bác quên rồi. Khi Bác cháu ở Liễu Châu, cháu đã 13 tuổi, sao lại là mặc quần trẻ nhỏ?

– Ấy, ấy… Hẳn cháu không phải không nhớ mà có thể chưa biết. Hồi nớ cháu mới lên hai, bà nhà bế theo lên Thượng Hải dự Hội nghị Mặt trận phản đế toàn Trung Hoa…
– Trời đất ơi, chuyện nhỏ đã qua 30 năm, Bác nhớ từng chi tiết!

…Lá thư báu vật

Cháu Mộ La.

Đã nhận được thư cháu, Chú cảm ơn. Biết cháu to nậy, mạnh khỏe, tiến bộ, chú mầng. Nhưng cháu viết hơi “văn nghệ” quá, Chú ngại. Ví dụ: Răng không kêu chú là chú Minh, lại kêu bằng “Minh thúc”. Tiếng ta có, thì nên zùng tiếng ta, như rứa phổ thông hơn, phải không cháu?

Hôn cháu

Chú Minh

Nhà giáo Mộ La gọi đây là thư Bác Hồ, vật báu của gia đình, tự tay Người gõ máy chữ trên tấm giấy dó nhỏ sản xuất thời chống Pháp, được ép nilon, đựng trong cái túi riêng, nay mới công bố.

Thư Bác gửi bà Hồ Mộ La .

Được hỏi về ngày tháng, xuất xứ của thư, tâm trạng khi nhận thư, bà nhớ lại: Đúng năm 1945 như Bác đã dự báo, sau Cách mạng Tháng Tám, phái đoàn Hà Phú Khương sang Trùng Khánh đón “Hải ngoại quân”: lính khố xanh, khố đỏ về nước, Bác dặn tìm, đưa cả ba mẹ con bà hồi hương. Tiếc là về nước đúng vào thời gian Bác đi thăm Pháp.

Mẹ con về quê Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An tham gia công tác. Nhớ Bác quá, năm 1950, bà gửi thư lên Bác, cả thư tiếng Trung. Thật bất ngờ, Bác trả lời ngay. Bà thấy xấu hổ quá, ngượng quá, sao lại viết dông dài, hươu vượn làm Bác phiền lòng. Nhưng lại nghĩ: thế mới là Bác vĩ đại! Bác thương con cháu, chỉ bảo từng li, từng tí.

Bác dạy: người ta dùng tiếng ta mới là “hiện tượng” thôi. Còn bản chất, ý Bác là đừng đánh mất mình, mất gốc, quên ông cha đất tổ. Thì đó, xa quê đã gần tròn 40 năm mà trong thư vẻn vẹn hơn 60 từ, có tới 6 tiếng gốc Nghệ An: to nậy, mầng, răng, rứa, kêu, ngại. Việc nhỏ mà ý nghĩa giáo dục sâu sắc, tình quê cao đẹp biết bao!

Trịnh Tố Long

(Văn bản 2)

Giới trẻ mê mẩn “từ điển tiếng Nghệ”

27.12.2012

http://www.nguoiduatin.vn/gioi-tre-me-man-tu-dien-tieng-nghe-a57267.html

…Về âm điệu, trong “từ điển tiếng Nghệ” cũng ghi rõ: “Dấu ngã (~) thành dấu nặng (.) nên mới nghe giọng Nghệ An và Hà Tĩnh nặng trình trịch (ở một số vùng, dấu hỏi (?) cũng nói thành dấu nặng (.). Các phụ âm s và x, tr và ch, r và d, người Nghệ Tĩnh phát âm rất rõ ràng (nên viết ít sai)”…

Lạc Thành

(Văn bản 3)

KỂ CHUYỆN BẰNG TIẾNG NGHỆ

http://hoayenlan.blogtiengviet.net/2010/09/03/kar_chuyar_n_baodng_tiaofng_nghar

Vừa lúc đó thì chú út đi thả tru vìa, thấy tui chú cười:
– Mi mới vìa à, tau bựa ni đi bò bị trâu ngá rớt vô ngài đỏ lựng, gại mại mà cụng nỏ đợ, mi mà bị rứa thì chết ngất luôn hầy.
Tui lè lợi:
– Rứa răng chú ko nhảy xuống mương mà tắm cho đợ ngá, gại hấn xước ngài rát chết.
– Ầy, tau cụng định rứa nhưng nác mương bựa ni đục lắm nỏ tắm được, mi rửa nhanh lên cho tau tắm cấy, hông tau rảy nác ướt hết ngài mi đó.

Bac Ho ke laoDau Nga

 

____

Trần Hoàng

bổ sung một đoạn nhật ký của Hồ Mộ La. Đoạn nhật ký dưới đây không biết là đã được “chỉnh sửa” cho hợp với nhãn quan “cách mạng” chưa. Chỉ nhận ra năm sinh của cụ Hồ Học Lãm là 1884… khác với đoạn trên. Xin đọc bài với sự dè dặt.

Nguồn bài:

Văn Hóa Nghệ An 

Hồi tưởng về cha tôi – Chí sĩ Hồ Học Lãm [I]

Văn Hóa Nghệ An 

  •   HỒ MỘ LA
  • Thứ sáu, 26 Tháng 6 2015 10:23
  • font sizegiảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Chí sĩ Hồ Học Lãm [Ảnh chụp năm 1923 tại Nhật Bản]Chí sĩ Hồ Học Lãm [Ảnh chụp năm 1923 tại Nhật Bản]

LỜI MỞ ĐẦU

Từ nhiều chục năm nay, tôi rất muốn tự tay viết một cái gì đó về cha mình – Chí sĩ Hồ Học Lãm – người những năm đầu thế kỷ XX đã cùng một số người trẻ tuổi sớm theo tiếng gọi Đông du của cụ Phan Bội Châu xuất dương tìm đường cứu nước. Nay đã quá tuổi “cổ lai hy”, (tôi sinh năm 1930), với đôi mắt mờ lòa, ước nguyện đó của tôi mới thành hiện thực.

Cuốn sách nhỏ này là những hồi tưởng của tôi về người cha kính yêu đã quá cố, những hồi tưởng không hoàn chỉnh và có phần lộn xộn. Ở tuổi ngoài bảy mươi, tôi cố gắng để không giấu diếm những cảm xúc và những suy nghĩ thật của mình. Biết có ai đó chăng thương cảm với kẻ ra đi tìm đường cứu nước những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ Tổ quốc ta lầm than, thời kỳ đế quốc thực dân đang hoành hành trên những miền đất hoang sơ lạc hậu ở Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam… Kẻ ra đi, và suốt ba mươi bảy năm trời ở quê người đất khách, ông sống giữa những người xa lạ “đồng sàng dị mộng”; chí muốn tung hoành mà lực bất tòng tâm. Cuối cùng cha tôi phải bỏ nắm xương quê người, phải ngậm ngùi đau khổ vì mình chưa làm được gì nhiều cho công cuộc cứu nước, cứu nòi và không được gặp lại người mẹ mà ông vô cùng yêu thương và kính trọng. Bà nội đã là ngọn đuốc soi đường, là tấm gương sáng cho cha tôi noi theo và cố gắng làm những việc có ích cho đời, cho nhân dân và cách mạng hai nước Việt Nam – Trung Quốc.

Cha tôi không phải là đảng viên cộng sản, nhưng ông sống như một người chân chính, theo tiêu chí của chủ nghĩa yêu nước. Suốt cuộc đời ông đã chiến đấu, dâng hiến tất cả cho lý tưởng cao quý mà ông đã lựa chọn.

Tôi rất tự hào và cảm phục cha mình.

Những dòng cuối của “Hồi tưởng” này tôi phải viết bằng bút dạ ngòi to với sự trợ giúp của kính phóng đại. Sau gần ba năm, khi đà tám mươi tuổi mụ, tôi mới hoàn thành ý nguyện. Một sự hồi tưởng ít vui sướng, nhiều đau đớn, vượt quá sức chịu đựng của tôi. Tôi biết ngày tôi ra đi đã rất gần, ngày đó tôi sẽ tìm thấy cha, sẽ gặp chị và mẹ ở thế giới bên kia, thế giới của Tâm linh – Siêu vật chất “… Sắc bất dị không, không bất dị sắc…”.

Tất cả, tôi xin dâng tặng hương hồn cha tôi – Chí sĩ Hồ Học Lãm.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, người thân đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn hồi tưởng này.

Nguyên Tiêu Kỷ Sửu

HỒ MỘ LA

 

CHƯƠNG I

SINH LY TỬ BIỆT

Viết về cha tôi thật là khó, bởi vì rất nhiều sự kiện về đời ông xảy ra khi tôi chưa ra đời, tôi cũng chưa bao giờ được nghe ông trực tiếp kể lại. Hơn nữa, khi cha tôi còn sống, tôi còn quá nhỏ, chưa đủ ý thức để ghi nhớ việc làm tuy nhỏ nhưng hết sức không đơn giản của người cha đáng kính trọng của mình.

Nay tôi ghi lại những điều tai nghe mắt thấy khi tôi bắt đầu có trí nhớ của đứa trẻ, những điều do mẹ nhiều lần kể lại. Có những sự việc do chị tôi kể về cha. Khi tôi bắt đầu lớn khôn hơn thì cha tôi đã mất, tôi càng muốn hiểu rã cha mình, đặc biệt khi tôi ý thức được vị trí của ông trong lòng một số người cộng sản Việt Nam “trọng nghĩa”, nhất là những năm 1946, 1947. Tôi thực sự sửng sốt khi nghe một số người nói: “Nếu cụ Hồ Học Lãm không mất nay sẽ là Chủ tịch nước…”. Khi đó tôi mới hiểu một phần nhỏ giá trị về cha mình trong công cuộc cứu nước chung.

Để cố gắng đảm bảo độ chính xác về cuộc đời cha mình, gần đây tôi tìm đọc lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc và Lịch sử Quốc dân đảng Trung Quốc, hồi ký của các nhà cách mạng tiền bối, của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng … Tôi cố gắng chắp nối các việc làm và cuộc đời của cha tôi theo trình tự thời gian.

Mọi việc làm của cha tôi xuất phát từ lòng yêu nước thực sự, ông không mảy may nhắc vợ con ghi nhớ việc làm vì sự nghiệp cứu nước của mình, không hề để lại những bút tích hay giấy tờ quan trọng để làm bằng chứng lịch sử về sự cống hiến của mình, không hề nói đến hai chữ “công lao” để sau này vợ con yêu sách đãi ngộ với cách mạng. Ông chỉ nói một câu đơn giản với vợ: “Mình ra đi vì nước, chớ bao giờ có tư tưởng công thần…”.

 

*

*    *

Khi có lời kêu gọi xuất dương “Đông du” cứu nước của cụ Phan Bội Châu, bà nội tôi, Trần Thị Trâm, tục gọi là bà Lụa, hưởng ứng ngay. Đích thân bà đưa con trai thứ rất đỗi yêu quý cùng một số thanh niên khác (bà đã làm việc đó nhiều đợt) đến biên giới Việt – Trung để vượt biên sang Trung Quốc chờ dịp đi Nhật.

Trước khi đưa con trai đi, bà nội tôi đi xem bói. Thầy bói phán rằng: “Chuyến đi buôn xa của con trai bà e rằng có đi không về… Hai mẹ con bà có khi không gặp mặt nhau nữa…”. Bà nội tôi trăn trở nhiều đêm không ngủ. Nhưng cuối cùng bà tặc lưỡi nói với cha tôi: “Lời phán của thầy bói lăng nhăng tin làm chi… mà con trai quẩn bên váy mệ biết khi mô nên người!… Thôi, đi đi con ạ, mệ sẽ sống khỏe mạnh đợi con trở về, mong rằng khi đó con cầm quân đuổi Pháp khỏi nước mình, mệ tin con làm được, con là đứa con can đảm có chí của mệ”.

Đó là một đêm mưa phùn gió bấc năm 1906, trời lạnh lẽo, lòng người tê tái trước cuộc chia tay sinh ly tử biệt. Hai mẹ con nắm chặt tay nhau không nói nên lời, tuy không khóc ra tiếng, nhưng đều nước mắt đầm đìa. Cuối cùng chiếc thuyền đánh cá ghé vào bến giục giã, cha tôi cùng hai người bạn xuống thuyền, quay lại nhìn lên bến thấy bóng người mẹ đứng so vai đơn chiếc, cha tôi muốn òa lên khóc vì thương mẹ nhiều nỗi, nhưng nghĩ đến ông nội tôi bị giặc giết, bà nội can trường lặn lội đó đây hoạt động cứu nước, nghĩ đến ăn mày chết đói rải xác trên đường quốc lộ từ Bắc vào Nam… cha tôi cắn răng nén tiếng thổn thức… Sau này có lúc cha tôi kể với mẹ tôi: “Khéo lời phán của ông thầy bói là đúng, nay mình đã sắp ngũ tuần, chưa thấy loé lên tia hy vọng nào về sự nghiệp cứu nước. Bản thân mình sức hèn, tài mọn, chẳng làm nên trò trống gì … lắm khi lòng nóng như lửa thiêu …”.

Con thuyền đánh cá chở ba thanh niên Việt Nam đi suốt đêm, đến chiều hôm sau, khi sắp cập vào một cửa khẩu ở Quảng Đông, thì có tin báo lính tuần đang lục soát các thuyền đánh cá, ba người phải ôm bọc quần áo nhảy vội xuống nước, nấp dưới đuôi thuyền. May là khi đó trời đã tối mịt, chờ khi bọn lính tuần đi khỏi, cả ba mới lặng lẽ bơi vào bờ… Giữa mùa đông Trung Hoa băng giá, do ngâm lâu dưới nước, cha tôi nhiễm lạnh đến sưng phổi. Ở Quảng Đông, ông phải làm bốc vác kiếm cơm từng bữa, nói gì đến dành tiền mua thuốc. Dần dà, cha tôi bị hen phế quản, sau cùng biến chứng thành bệnh tim to…

Trong thời gian chờ đợi, cha tôi và hai người bạn làm phu bốc vác và học tiếng Trung Quốc. Khi cụ Phan Bội Châu lo đủ kinh phí và số lượng thanh niên Đông du, cụ đích thân dẫn đoàn sang Nhật. Đến Tôkyo, nhờ sự giúp đỡ của hoàng thân Nguyễn Cường Để, đoàn lưu học sinh được sắp xếp vào học trường võ bị Chấn Vũ[1].

Mùa xuân năm 1907, thời gian đầu lưu học sinh Việt Nam học tiếng Nhật cấp tốc trong ba tháng, sau đó vừa học tiếng, vừa học lý thuyết cơ bản, thao tác quân sự, cách sử dụng súng trường, súng lục v.v… Nói chung lưu học sinh Việt Nam hăng hái học tập, nhưng một số ít do không chịu đựng nổi cuộc sống kham khổ của người lính, đã bỏ về nước. Học quân sự vừa được một năm, do sự xúc xiểm, gây sức ép của đế quốc Pháp, chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất toàn bộ lưu học sinh quân sự ra khỏi nước Nhật (trừ một số ít học chuyên ngữ tại trường Thanh Hoa Tôkyo như Trần Thức Canh, sau này lấy tên là Trần Trọng Khắc, được cụ Phan gửi sang Đức học về y)… Cuộc “Đông du” của cụ Phan Bội Châu coi như thất bại.

Khoảng mùa xuân 1908, Tưởng Giới Thạch cũng vào học trường Chấn Vũ vì cùng chí hướng phản đế, phản phong, quen thân một số lưu học sinh Việt Nam, trong đó đặc biệt chơi thân với cha tôi. Trong một bữa ăn ở Tam Sơn Lý, cha tôi kể chuyện: “Tưởng Giới Thạch khôi ngô, tuấn tú, thông minh… Có lần, anh ta nhờ mình viết luận văn trả bài thi. Không hiểu hắn bận chơi gái hay bận hoạt động chính trị, thường xuyên vắng mặt ở lớp… Thực ra anh ta là thân tín của Trần Kỳ Mỹ, một trong những lãnh tụ của Đồng minh Hội của Tôn Trung Sơn… Mình học có giỏi giang gì đâu, chẳng qua dân xứ Nghệ quen học gạo, cho nên kết quả học tập trội hơn một tý….”. Một người cách mạng Việt Nam sống trong nhà tôi lúc đó hỏi: “Thế cụ có viết luận văn hộ cho Tưởng không?”, “Có, luận văn quân sự mang tính chiến thuật không có gì khó. Mặt khác mình nghĩ, đi học nước ngoài quen thân nhiều bạn bè nước ngoài càng tốt chứ sao? Hơn nữa, anh ta có tư tưởng tiến bộ, chống phong kiến, đế quốc, các kiến giải của anh ta khi đó khá tiến bộ, sau này anh ta mới lộ rõ bản chất phản động”.

Năm 1908, trước tình hình chính phủ Nhật trục xuất lưu học sinh Việt Nam, có nhiều thanh niên nhân dịp đó xin trở về nước, bởi vì cuộc sống lưu học ở nước ngoài quá ư thiếu thốn, gian khổ. Một số học sinh xứ Nghệ – Tĩnh và xứ Bắc vốn quen cuộc sống kham khổ, đã cương quyết theo cụ Phan sang Trung Quốc. Nhờ sự giới thiệu của Tưởng Giới Thạch, đặc biệt nhờ sự giúp đỡ của nhóm nhân sĩ tiến bộ đứng đầu là Khang Hữu Vi, cụ Phan được trường quân sự của Mãn Thanh “Thông quốc lục quân tốc thành học đường”, tiền thân của trường sĩ quan lục quân Bảo Định, nhận đào tạo quân sự cho một số thanh niên Việt Nam, trong đó có cha tôi.

Cha tôi học tại đấy khoảng ba năm, chơi thân với các bạn đồng học như Bạch Sùng Hy, Lý Tế Thâm và nhiều người khác nữa, họ là những thanh niên yêu nước Trung Quốc. Theo mẹ tôi kể, nhiều bạn đồng học Trung Quốc rất quý cha tôi vì tính khoan hòa, khiêm tốn, hiếu học, đối nhân xử thế trung thực, nhân hậu. Sau này, Bạch Sùng Hy, Lý Tế Thâm đều là tướng lĩnh cao cấp của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc. Một số khác là đại tá, thiếu tướng cùng làm việc trong bộ Tổng tham mưu tại Nam Kinh cùng cha tôi, nghĩa là giữa cha tôi với một số bạn học vừa là đồng môn, đồng ngũ, và đồng liêu nữa.

Xuân hè năm 1911, trong thời gian đang học ở trường sĩ quan lục quân Bảo Định[2], cha tôi tiếp cận và chơi thân với một số bạn đồng học có tư tưởng chống đế quốc, chống phong kiến và chuyền tay nhau đọc “Tam dân chủ nghĩa” của Tôn Trung Sơn. Qua câu chuyện mẹ tôi kể, cha tôi chơi khá thân với Tưởng Giới Thạch, thỉnh thoảng giữa họ có thư tín với nhau.

30 tháng 10 năm 1911 cuộc khởi nghĩa
Vũ Xương thắng lợi, Trung Quốc coi đó là mốc lịch sử của cách mạng Tân Hợi. Về danh nghĩa, cách mạng Tân Hợi thành công, Nhưng thực chất là thất bại, sau đó là có tới 10 năm nội chiến chống bọn quân phiệt Bắc Dương – tay sai của bọn đế quốc Nhật, Anh, Pháp. Sau khi khởi nghĩa Vũ Xương thành công, Tưởng lập tức từ Nhật trở về nước hoạt động ở tỉnh Triết Giang. Tưởng có gửi thư rủ cha tôi về đó tham gia hoạt động giải phóng tỉnh Triết Giang. Trước khi tốt nghiệp quân sự, cha tôi viết thư hỏi ý kiến cụ Phan (hình như thời gian đó cụ Phan ở Quảng Đông). Nội dung thư trả lời của cụ Phan đại khái là: Cách mạng của ông Tôn Trung Sơn không thành công thì công cuộc cứu nước của mình sẽ khó khăn. Trong lúc chờ thời cơ và rèn luyện qua thực tiễn, cụ khuyên cha tôi cứ tham gia “Trung Hoa cách mạng quân” của Tôn Trung Sơn. Do đó cha tôi về Triết Giang với Tưởng, và làm sĩ quan trong Bộ tư lệnh quân đoàn của Tưởng ở Thượng Hải. Thời kỳ đó Tưởng làm quân đoàn trưởng cho Trần Kỳ Mỹ – một trong những người lãnh đạo Đồng Minh hội do Tôn Trung Sơn sáng lập.

Sau khi giải phóng Hàng Châu và Thượng Hải, Tưởng và cha tôi tiếp tục cầm quân chiến đấu. Trong một trận đánh bọn quân phiệt Mãn Thanh, Tưởng bị vây hãm nguy khốn, song cha tôi đã kịp thời đem quân đến giải vây, do đó Tưởng càng tỏ ra quý mến cha tôi hơn.

Cha tôi kể với mẹ tôi: Cuộc sống chiến đấu cực kỳ gian khổ, vì nghĩa quân cách mạng Trung Hoa thời đó chưa có xe cơ giới, mỗi lần di chuyển địa điểm chiến đấu đều hành quân bộ. Ngày đi đêm nghỉ, đi dưới mưa to gió lớn, tiện đâu ngủ đấy, nhiều khi phải ngủ trên bãi tha ma hay trong miếu để quan tài người chết[3]. Ăn uống thiếu thốn, áo mặc phong phanh, lính tráng thường xuyên đào ngũ. Cha tôi hay lên cơn hen suyễn vào những ngày mưa lạnh.

Tưởng biết cha tôi là một chỉ huy gương mẫu, chiến đấu dũng cảm, không nề hà gian khổ, lại nhớ rằng ông vốn học giỏi, có năng lực nghiên cứu lý luận quân sự, vì vậy khi nghe tin cha tôi hay lên cơn hen suyễn, Tưởng liền điều cha tôi về làm tham mưu tại Bộ Tư lệnh đốc quân phủ Hàng Châu. Đó là khoảng cuối năm 1916, đô đốc Hàng Châu là Lư Vĩnh Tường.

Từ năm 1913, cha tôi mất liên lạc với cụ Phan Bội Châu. Vẫn biết vị thầy, vị lãnh tụ của mình vì sự nghiệp cứu nước, bất chấp mọi gian khổ, nguy hiểm bươn chải đây đó, không chịu ngồi yên một chỗ. Song bao năm trời giữa hai người vẫn giữ mối liên hệ thường xuyên với nhau, nay bỗng bặt tin. Sau khi về Hàng Châu ổn định công việc, cha tôi ra sức tìm kiếm, cuối cùng được biết đô đốc tỉnh Quảng Đông Long Tế Quang cầm tù cụ Phan khoảng hai năm chưa thả. Ông liền đến gặp Lư Vĩnh Tường trình bày mọi sự tình, đề nghị ông ta viết thư tay để cha tôi cầm đi gặp Long Tế Quang. Đô đốc Hàng Châu vốn biết cha tôi là người Việt Nam yêu nước, là bạn học của Tưởng Giới Thạch. Hơn nữa ông ta là người trọng nghĩa khí nhận lời ngay, và cho cha tôi nghỉ phép để đi Quảng Châu.

Đến đó, cha tôi đưa thư cho Long và đề nghị thả cụ Phan ra. Giữa Lư và Long vốn là chỗ quen biết, cuối cùng Long chịu thả cụ Phan.

Bị giam cầm hơn hai năm, cụ Phan hầu như không nắm được tình hình thời cuộc. Vừa được thả, cụ đòi đi Nam Ninh Quảng Tây ngay để bắt liên lạc với trong nước. Sau khi phân tích tình hình nội chiến giữa quân cách mạng với quân phiệt Bắc Dương, tình hình chính trị nhiều phe cánh ở Trung Quốc và tình hình thế giới, việc đi lại dễ gặp những sự bất trắc, cha tôi khuyên cụ Phan hãy về Hàng Châu nghỉ dưỡng sức một vài tháng, vì cụ mới ra tù, rồi sẽ tìm cơ hội. Khi đó, cụ mới chịu theo cha tôi về Hàng Châu.

Mẹ tôi rất quý trọng cụ Phan, thường kể rằng cụ Phan có phong độ đạo mạo, nhưng cũng rất hóm hỉnh và rất tinh nghịch. Tâm cụ luôn sục sôi vì sự nghiệp cứu nước. Văn chương cụ nồng nhiệt, hào sảng. Hễ lóe ra một tia hy vọng nào đó, cụ quên cả tuổi tác, sức khỏe và bất chấp hiểm nguy vội vàng đi ngay. Con người cụ chân thành và cả tin, đôi lúc hơi nông nổi. Cha tôi làm việc trong bộ máy nhà nước của Trung Hoa Quốc Dân đảng, lại tương đối quảng giao, nên nắm được nhiều thông tin và tình hình chính trị. Vì sợ cụ Phan bị sa bẫy, nên giữa hai thầy trò có giao kèo với nhau: Hễ cụ Phan muốn đi đâu, nhất thiết phải trao đổi với cha tôi, để nếu có thể, cha tôi sẽ đi cùng để bảo vệ cụ, hoặc để cụ đi một mình, nhưng nếu có việc gì xảy ra, cha tôi còn biết đường mà tìm. Ở Hàng Châu có cụ Nguyễn Thượng Hiền cũng là người xuất dương tìm đường cứu nước. Sau này thấy thời cuộc phức tạp, sự nghiệp cứu nước còn mù mịt, cụ chán nản bỏ đi tu. Ngoài ra còn có Phan Bá Ngọc, con trai cụ Phan Đình Phùng, cũng thuộc thế hệ Đông du, sau vì không chịu nổi cuộc sống gian khổ, cuối cùng làm mật thám cho Pháp. Ông ta không ở hẳn Hàng Châu, không rõ nghề nghiệp, thỉnh thoảng gửi bài đăng ở “Binh sự tạp chí”, hay đi Quảng Châu và Thượng Hải và vẫn đi lại với gia đình tôi.

Về Hàng Châu, cha tôi giới thiệu cụ Phan với Tổng giám đốc nhà in “Binh sự tạp chí” – ông Lâm Lương Sinh. Ông Lâm vốn có thiện cảm với cách mạng Việt Nam, vừa hay đang cần thêm một biên tập viên, cho nên ông nhận ngay cụ Phan vào làm việc. Như vậy, trong ban biên tập ngoài hai người Trung Quốc có hai người Việt Nam, đó là Trần Trọng Khắc và cụ Phan. Để nội dung tạp chí phong phú, Ban biên tập nhận các bài luận văn quân sự hoặc chính trị của cha tôi nữa. Như vậy mấy thầy trò cụ Phan và Trần Trọng Khắc, Hồ Học Lãm, v.v… thường xuyên gặp mặt nhau khi đi vãn cảnh Tây Hồ Hàng Châu, lúc đi ăn liên hoan ở nhà hàng với nhau, bàn luận thời cuộc v.v… Cuộc sống cụ Phan nay tạm ổn.

Một hôm cụ Phan nói chuyện với cha tôi: “Năm nay anh cũng băm ba, băm tư tuổi rồi đấy nhỉ. Sự nghiệp cứu nước xem ra còn lâu dài, anh cũng nên tính chuyện lấy vợ đi chứ”. Cha tôi khẽ cười, thưa: “Biết lấy ai bây giờ. Đành ở vậy thôi”. Cụ Phan cho biết có con gái cụ Ngô Quảng, nguyên phó lãnh binh của cụ Phan Đình Phùng, tên là Ngô Khôn Duy.  Vốn là học sinh cưng của cụ Đặng Thúc Hứa bên Xiêm, Khôn Duy hiện theo học “Trường Đức Hoa nữ tử cao đẳng tiểu học” ở Khúc Giang, Quảng Đông, mùa hè năm ấy sẽ tốt nghiệp. Cuối hè năm 1918, cha mẹ tôi thành hôn thú. Theo giấy giá thú, cụ Phan đứng chủ hôn. Năm đó cha tôi ba mươi tư tuổi, còn mẹ tôi hai mươi lăm tuổi. Tháng 3 năm 1920 mẹ tôi sinh con gái đầu lòng là Hồ Diệc Lan ở thành phố Hàng Châu. Sau đó mẹ tôi sinh nở bốn, năm bận trai có, gái có. Vì khung xương chậu mẹ tôi nhỏ, trình độ y học thời đó còn kém, cho nên các anh chị khác của tôi, người chết ngay trên bàn đẻ, người chỉ sống được một vài tháng. Mỗi bận sinh nở, vì mẹ tôi đẻ khó, phải dùng thuốc mê. Điều này đã để lại chấn thương cả về tinh thần lẫn sức khỏe cho mẹ tôi. Còn tôi, suýt nữa đã không được ra đời. Vì khi có mang tôi, hai ông bà bàn nhau sẽ bỏ tôi đi và bà đã uống thuốc đả thai… Nhưng tôi cứng cổ quá, cứ ở lỳ trong bụng mẹ, và được sinh ra cuối tháng 8 năm 1930. Khi đó mẹ tôi ba mươi bảy tuổi, cha tôi bốn mươi sáu tuổi, và gia đình đã về ở Nam Kinh.

Theo mẹ kể, khoảng năm 1921 – 1922, hai anh Hồ Tùng Mậu và Lê Tản Anh đến với gia đình tôi ở Hàng Châu. Ở với gia đình khoảng một năm, các anh muốn học tiếng Trung Quốc và tiếng Anh, cha tôi chu cấp tiền học phí. Chí của hai anh là hoạt động cách mạng, cho nên không chuyên tâm học tiếng Anh. Sau đó các anh đi hoạt động ở Quảng Châu, Thượng Hải v.v… Khoảng tết Nguyên tiêu (rằm tháng giêng) năm Tân Dậu 1921, chị tôi vẫn còn ẵm ngửa, Phan Bá Ngọc chủ động rủ mọi người ra phố chơi. Sau bữa cơm tối, Lê Tản Anh, Phan Bá Ngọc cùng cha mẹ tôi đi ra phố xem hội hoa đăng, trưng bày các loại đèn lồng và bắn pháo hoa. Lê Tản Anh giành bế chị Lan hộ mẹ tôi. Hàng Châu có Tân thị trường là phố sầm uất, bán các loại đèn lồng và pháo hoa. Tối hôm đó, người đông như nêm. Gần Tân thị trường có một sân vận động lớn gọi là “Công chúng vận động trường”. Sau khi sắm đèn lồng, mua pháo hoa, mọi người kéo ra sân vận động này bắn pháo hoa. Hôm đó, Phan Bá Ngọc rất hào hứng mua các loại pháo hoa đốt để mọi người xem cho vui mắt. Phan đặt pháo hoa xuống đất, cúi người xuống châm lửa. Bỗng có hai tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo hoa, tiếng trẻ con reo hò. Bất thần, mọi người thấy Phan ngã sóng xoài giữa vũng máu. Mọi người la hét và chạy tán loạn. Lê Tản Anh ẵm Diệc Lan chạy trước tiên. Cha mẹ tôi không rõ là Pháp hay phía cách mạng bắn Phan Bá Ngọc, cho nên cũng vội theo Lê Tản Anh về nhà. Sáng sớm hôm sau, Lê Tản Anh bỏ đi không một lời từ biệt. Khi đó cha mẹ tôi mới vỡ lẽ ai là người xử bắn tên phản bội, và vì sao đêm qua Lê Tản Anh nhất định giành ẵm Diệc Lan, vì anh giấu súng dưới chăn tã của chị tôi.

Ngày hôm sau, các báo Hàng Châu đưa tin và đăng bài của một người không rõ tên: “Hạch tội tên phản quốc Việt Nam – Phan Bá Ngọc”. Về sau cha mẹ tôi mới rõ Lê Tản Anh bắn Phan Bá Ngọc là thừa lệnh hoàng thân Nguyễn Cường Để. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Lê Tản Anh sang Nhật ngay để trả lại súng cho Cường Để. Tản Anh đã phải phục mãi mới tìm được dịp, vì Phan Bá Ngọc không ở hẳn Hàng Châu. Sau Tết âm lịch năm đó, Phan Bá Ngọc về Hàng Châu, nhờ đó Lê Tản Anh hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Đêm hoa đăng ấy, cụ Phan Bội Châu đã không có mặt.

Một hôm, mẹ tôi kể chuyện cụ Phan cho các chú nghe, tôi gối đầu lên đùi bà nghe chăm chú: “Người cụ Phan gầy gò, xương xương. Tiền lương hàng tháng của cụ với tiền nhuận bút, thu nhập của cụ cũng khá. Nhưng cụ sống hết sức tiết kiệm, căn cơ. Tích vài ba tháng cụ lại gửi tiền sang Đức cho Trần Trọng Khắc đang học y ở đó… Vì nôn nóng sự nghiệp cứu nước, cụ nhiều lần nghe Sở Cuồng (Lê Dư), Phan Bá Ngọc phỉnh phờ về vấn đề Pháp Việt đề huề, cụ tự ý bỏ sang Nhật tìm gặp Sở Cuồng. Mãi sau cha tôi viết thư sang Nhật cho cụ Nguyễn Cường Để thì mới hay cụ Phan lại mắc lừa Sở Cuồng. Dù cha tôi vẫn luôn nhắc cụ đi đâu, làm gì, thì hai thầy trò hãy bàn bạc với nhau trước, cụ gật đầu, nhưng rồi vẫn nông nổi… Giữa năm 1924, một hôm “Hàng Châu nhật báo” đưa tin: Chí sĩ yêu nước Việt Nam Phạm Hồng Thái ném bom vào cầm quyền Pháp Méc-lanh ở một khách sạn Sa Diện. Vì bị săn đuổi ráo riết, anh đã nhảy xuống sông Hoàng Phố tử tiết… Tin về Phạm Hồng Thái khiến mọi người vô cùng sửng sốt, khâm phục, thương tiếc và tự hào. Ít lâu sau cụ Phan nhận được thư của Nguyễn Hải Thần mời về Quảng Châu bàn việc hoạt động… Cụ Phan lại đòi đi ngay. Để đảm bảo sự an toàn cho cụ Phan, cha tôi xin nghỉ phép vài tháng, đưa cụ đi Quảng Châu.

Đến Quảng Châu, cha tôi cùng cụ Phan đi gặp Uông Tinh Vệ (một trong những người lãnh đạo cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc. Về sau y trở thành Hán gian của Nhật) và Liêu Trọng Khải (một đảng viên cộng sản nằm trong cơ quan lãnh đạo của Quốc dân đảng). Qua trình bày của cụ Phan, Uông và Liêu tỏ ý sẵn lòng ủng hộ cách mạng Việt Nam theo đường lối của Tôn Trung Sơn. Để có danh nghĩa hoạt động hợp pháp, cụ Phan thảo tuyên ngôn, điều lệ với “Chủ nghĩa Dân bản” để thành lập Quốc dân đảng Việt Nam. Do thiếu kinh phí hoạt động (phía Trung Quốc thời kỳ đó không có khả năng tài trợ) và thiếu thanh niên hăng hái hoạt động, rút cuộc tổ chức đó hữu danh vô thực. Cụ Phan đành lại theo cha tôi quay về Hàng Châu chờ thời cơ. Phía Trung Quốc chỉ có thể giúp Việt Nam bằng cách cho thanh niên Việt Nam vào học trường quân sự Hoàng Phố (Có nhiều thanh niên cộng sản Việt Nam học ở trường đó như Lê Hồng Phong, Lê Tản Anh, Lê Thiết Hùng, Hồ Tùng Mậu, v.v…).

Quay về Hàng Châu, cụ Phan Bội Châu tiếp tục làm biên tập viên cho “Binh sự tạp chí”, vẫn sống ở ký túc “Đồng bào xã”.

Một ngày giữa năm 1925, cụ Phan lại “mất tích” ở Hàng Châu. Cha tôi hết sức lo lắng, vội viết thư đi Quảng Châu, Nam Ninh, Tôkyô v.v… để tìm tung tích cụ Phan. Không ai biết cụ ở đâu. Mãi hai tháng sau được tin cụ bị Pháp bắt ở Thượng Hải, mọi người nghi cháu của cụ Nguyễn Thượng Hiền là Nguyễn Thượng Huyền đã lừa cụ vào tròng. Cuối cùng cụ bị đưa về nước. Cha tôi rất buồn, vì cụ Phan vừa là người thầy, người lãnh tụ, người anh cả…

Mẹ tôi kể: “Khi đọc Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn, cụ Phan rất thích thú, muốn phỏng theo đường lối cách mạng của Tôn; Khi đọc những quyển sách nói về chủ nghĩa cộng sản, cụ Phan cũng rất hào hứng và thú vị…”. Các cụ xuất dương cứu nước, ban đầu vẫn là tư tưởng “cứu nước phò vua”, do đó cụ Phan đã khuyên hoàng thân Nguyễn Cường Để sang Nhật, những mong nhờ sự giúp đỡ của Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp, sẽ xây dựng chế độ quân chủ với kinh tế tư bản chủ nghĩa – khuôn mẫu của Minh Trị thiên hoàng. Nhưng lệnh trục xuất toàn bộ lưu học sinh Việt Nam đã khiến cụ Phan bừng tỉnh. Nguyện vọng của các cụ sau này là xây dựng thể chế cộng hòa dân chủ, nhưng mục tiêu trước mắt là giải phóng dân tộc. Mẹ tôi gọi đó là “quốc gia chủ nghĩa “.


[1]Masutakesi Military College

[2]Trước Cách mạng Tân Hợi (10-10-1911) vùng Bắc Kinh vẫn là địa phận cai trịcủa Triều đình Mãn Thanh. Năm 1912 PhổNghi mới thoái vị. Bảo Định nằm gần Bắc Kinh.

[3]Thời trước, Trung Quốc đểngười chết nằm trong quan tài tại miếu tới 3 tháng 10 ngày mới đem đi chôn. Có gia đình đểhàng năm vì quan tài nhà giầu đóng bằng gỗsúc, sơn hàng mấy chục lần nước sơn, cho nên quan tài rất kín.

 

 

Sau khi biến mất 1931-1938, và sau đó nổi lên với danh xưng Hồ Chí Minh kể từ  1940-1941, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: những ai từng biết mặt, từng nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1923-1930 đều bị (Hồ âm mưu) giết sạch, bằng cách mật báo cho Pháp biết chỗ họ đang họp, đang ở, đang đóng quân… Theo cách đó, Hà Huy Tập, Trần Phú, Lê Hồng Phong đã bị giết trước. Kế đó, tướng Phùng Chí Kiên chết 1941. Học giả Phạm Quỳnh từng gặp và nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc 1925 cũng bị HCM ra lệnh giết 6-9-1945 cùng với ông Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân.

Theo nhiều nguồn nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Paris (biến mất 1931) và HCM là 2 người khác nhau. Sau 8 năm đột ngột biến mất 1931-1939, ông già Lương, hay Hồ Quang, xuất hiện 1939-1940. Ông xâm nhập vào tổ chức Việt Minh ở bên Tàu vào cùng thời gian, rồi lấy bí danh của cụ Hồ Học Lãm (là Hồ Chí Minh) làm tên riêng, trở về VN năm 1941. Lúc đầu, nhiều khi ông xưng là Nguyễn Ái Quấc

_________________

AI ĐÃ BÁO TIN CHO PHÁP GIẾT PHÙNG CHÍ KIÊN 1941?

(Đọc để hiểu giữa hai hàng chữ)

(Baonghean) Đúng 70 năm sau ngày vị danh tướng đầu tiên quê Nghệ An hy sinh lẫm liệt, tại mảnh đất cố hương thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, hậu thế tiến hành xây dựng Khu tưởng niệm đồng chí Phùng Chí Kiên, một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh…

 

 

 

Từ năm 1992, Trường PTCS xã Diễn Yên đã vinh dự mang tên Phùng Chí Kiên. Năm 2002, một khu phố thuộc quận Cầu Giấy giữa lòng Thủ đô Hà Nội, đã được mang tên ông. Cuộc đời, sự nghiệp lẫy lừng như thế, vậy mà do đâu hy sinh đã 62 năm (1941-2003), tên tuổi của ông vẫn chưa hiện hữu trên tấm bằng Tổ quốc ghi công?

Tháng 4/2003, chúng tôi ngược ra xã Diễn Yên, vào nhà anh Nguyễn Văn Việt (SN 1944), Thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, nghỉ hưu năm 1999 (năm 2008 mất vì bạo bệnh), là cháu gọi Phùng Chí Kiên bằng chú ruột, người đang thờ chú. Sau ngày về hưu, anh Việt mới có điều kiện tham gia tôn lập phả hệ chi họ đi gõ cửa từ xã, huyện, tỉnh đến Trung ương… để xin Nhà nước cấp bằng Tổ quốc ghi công cho người chú hy sinh từ thuở anh chưa có trên đời. Vậy mà kết quả vẫn chưa đâu vào đâu. Anh Việt lặng buồn…

Trong căn nhà lợp ngói tường bao, treo trang trọng tấm Huân chương Chiến công hạng Ba (số 283/KT/CT do Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký, ngày 6/6/1994) ghi rõ: Tặng Liệt sỹ Phùng Chí Kiên. Tấm Huân chương Chiến công hạng Ba còn khiêm tốn so với sự cống hiến hy sinh lẫm liệt của ông, song dù sao hai chữ Liệt sỹ cũng  đã phần nào an ủi, động viên thân nhân, gia đình, dòng họ, quê hương!

Vợ chồng cụ Nguyễn Khoản-Trần Thị Cúc sinh hạ 4 người con gồm: ông Nguyễn Văn Dốc (?-1947), thân sinh anh Việt; bà Nguyễn Thị Loan, ông Nguyễn Văn Thừa, út là Nguyễn Vỹ – tức Phùng Chí Kiên.

Phùng Chí Kiên còn nhiều tên gọi khác như Mạnh Văn Liễu, Nguyễn Hào… Ông sinh ngày 18/5/1901, quê làng MỹQuan Thượng, Tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Yên. Cụ Tổ chi họ tên là Nguyễn Đình Liễn, quê huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng đầu thế kỷ  XIX, cụ Liễn ra xã Diễn Yên lấy vợ và ở rể  tại đó,  đến đời cụ Nguyễn Khoản (1872-?) thân sinh của ông Phùng Chí Kiên đã là hậu duệ đời thứ 5 của cụ Liễn, hiện Nhà thờ cụ Liễn vẫn ở xã Diễn Yên.

Năm 1926, Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng chọn gửi Nguyễn Vỹ sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Lý Thụy – Nguyễn Ái Quốc tổ chức, giảng dạy. Sau đó, ông được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi sang Liên Xô học Trường Đại học Phương Đông. Học xong về làm việc trong Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng lần thứ I (từ 27-31/3/1935), Đại hội I bầu ông vào BCH Trung ương.

Ngày 28/1/1941, ông cùng Nguyễn Ái Quốc về tới Cao Bằng, tháng 5/1941 tham dự Hội nghịTrung ương 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Hội nghị tiếp tục bầu ông vào BCH Trung ương, ông được phân công trực tiếp thành lập chỉ huy Đội Cứu quốc quân I, Tổng chỉ huy Khu căn cứ Bắc Sơn.

Tháng 6/1941, quân Pháp càn quét quy mô lớn vào Khu căn cứ Bắc Sơn, tiến hành “tát cạn đìa hốt cá”. Ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ đưa các đồng chí Trung ương về xuôi; đồng chí Hoàng Quốc Việt, đồng chí Phùng Chí Kiên… cùng lực lượng Cứu quốc quân bám trụ Võ Nhai, phân tán thành từng tổ bám dân chiến đấu chống càn.

Cuộc chiến đấu diễn ra quá chênh lệch về mọi mặt, ta quyết định để một bộ phậnđánh chặn, hai bộ phận còn lại phá vây rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Ngày 21/8, đơn vị do Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri chỉ huy lên tới xã BằngĐức (huyện Ngân Sơn) thì bị lọt vào vòng vây của địch, chúng huy động kháđông châu đoàn, lính dõng khép chặt các hướng. Ông Lương Văn Tri hy sinh, ông Phùng Chí Kiên bị thương nặng vẫn kiên cường chiến đấu hút địch về phía mình để đồng đội phá vây thoát hiểm. Tổng chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên bị sa vào tay giặc sau khi đã bắn viên đạn cuối cùng. Bọn châu đoàn không còn tính người đã chặt đầu ông, đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn, hòng uy hiếp tinh thần cán bộ và nhân dân địa phương!

Ngày 10/3/1990, thân nhân gia đình, Bộ Quốc phòng, cùng một số đồng đội từng vào sinh ra tử đã đưa một phần hài cốt của Phùng Chí Kiên từ Bắc Cạn vềNghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội).

Trong quá trình thu thập tư liệu về Phùng Chí Kiên, tôi được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại tư dinh. Sau khi nghe tôi trình bày xin Đại tướng phát biểu vềPhùng Chí Kiên, Đại tướng cũng nhòa nhòa nước mắt: “Nếu anh Phùng Chí Kiên còn sống thì Đảng, Bác Hồ không phân công tôi phụ trách quân sự… Đồng chí Phùng Chí Kiên là một tiền bối cách mạng có đức độ, có tài năng về chính trị, vềquân sự; một con người rất hòa hợp với đồng chí, đồng bào, luôn gương mẫu vềmọi mặt. Mỗi lần nghĩ về anh, bản thân tôi lại muốn khóc…”.

Nghe tôi báo cáo về việc cho đến nay đã 62 năm ông Phùng Chí Kiên vẫn chưa có Bằng Tổ quốc ghi công, ánh mắt Đại tướng rất buồn: “Lần đầu tôi gặp anh Phùng Chí Kiên vào tháng 5/1940, lúc đó tôi được Đảng cử đi Côn Minh cùng anh Phạm Văn Đồng. Các anh Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đón chúng tôi. Anh Phùng Chí Kiên bố trí cho tôi và anh Phạm Văn Đồng gặp đồng chí Vương (tức Bác Hồ). Sau đó tôi may mắn ở chung với anh Phùng Chí Kiên một thời gian. Chúng tôi rất thương nhau và rất hiểu nhau… Anh Phùng Chí Kiên được phân công công tác tại địa bàn Cao Bằng – Bắc Sơn. Nên tìm gặp đồng chí Doãn Hằng, nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Cạn, hiện ở Thái Nguyên, để tìm cho ra chỗchôn đầu anh Phùng Chí Kiên, rồi đưa về chôn cùng thi thể còn lại của anh. Tôi nghĩ, nhân ngày hy sinh của anh, đề nghị xây nhà lưu niệm anh Phùng Chí Kiên, còn việc làm chế độ liệt sĩ cho anh là đương nhiên. Nên bàn với Hội đồng khoa học lịch sử tổ chức cuộc Hội thảo về Phùng Chí Kiên… Không hiểu ở Diễn Châu, anh Kiên còn nhà cửa, vợ con không?”.
Tôi báo cáo với Đại tướng: Trên khu đất xưa hiện vẫn còn ngôi nhà của 2 cụ thân sinh để lại cho cậu út Nguyễn Vỹ – Phùng Chí Kiên. Theo anh Nguyễn Việt, cháu gọi Phùng Chí Kiên là chú ruột: Vợ chồng cụ Khoản, cụ Cúc trước lúc quy tiênđều dặn con cháu gắng giữ lại ngôi nhà của 2 cụ dành cho cậu út Vỹ. Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, người cháu nội tộc vì còn trẻ người non dạ, trước khi di cư lên huyện Quỳ Hợp lập nghiệp đã trót bán ngôi nhà cho một người dân trong vùng. Sau ngày nghỉ hưu, anh Nguyễn Việt đã vận động anh em nội tộc góp tiền chuộc và tái dựng ngôi nhà trên nền cũ.

 

 

 

Ngôi nhà của Tướng Phùng Chí Kiên
Về chuyện gia đình riêng của Tướng Phùng Chí Kiên, từ năm 1925 đến khi hy sinh, ông luôn bị mật thám Pháp ráo riết truy lùng khắp trong và ngoài nước. Thời gian Nguyễn Vỹ đang “mất tích” thì tại quê nhà, hai cụ thân sinh đã kiếm tìm dạm hỏi một thôn nữ đẹp người đẹp nết, quê xã Diễn Mỹ, đôi bên gia đình tổchức đám cưới vắng chú rể. Dẫu thế, chú rể Nguyễn Vỹ vẫn là “chồng hờ” của cô gái ấy. Nàng về ở nhà bố mẹ chồng, suốt 5 năm vòi vọi đợi chờ mà chưa một lầnđược bén hơi chồng(!).

Cảm thương xuân sắc có thì, đôi bên gia đình đành phải động viên khuyên bảo cô đi bước nữa. Nhưng cái thời xanh đẹp nhất của cuộc đời thiếu nữ đã trôi qua, cô đành an phận làm vợ lẽ cho một người quê xã kề bên. Sau ngày gia đình cụKhoản – cụ Cúc cưới chồng cho con dâu, hai cụ vẫn đồng ý để cô thường xuyên qua lại chăm sóc an ủi bố mẹ chồng cũ…

 
Thoạt đầu, tôi nghĩ chỉ là sự tình cờ, nhưng 4 tháng sau kể từ ngày báo LaoĐộng đăng bài “Liệt sỹ Phùng Chí Kiên 62 năm… chưa là Liệt sỹ” (27/7/2003), tôi phấn khởi được chứng kiến tấm bằng Tổ quốc ghi công do Thủ tướng Phan Văn Khải ký, ngày 17/11/2003, đã mang tên Liệt sĩ Phùng Chí Kiên. Rồi chứng kiến Lễ đón rước tấm bằng do chính quyền huyện, xã, gia đình họ tộc, cùngđông đảo nhân dân xã Diễn Yên trân trọng rước về, kính cẩn bày lên bàn thờ Liệt sĩ, thì tôi lại nghĩ không là tình cờ nữa!

Giao Hưởng

LỜI BAN BIÊN TẬP

Sau khi bài viết được đăng tải chúng tôi đã nhận được phản hồi của bạn đọc Nguyễn Bằng ở  Sông Cầu – Bắc Cạn ĐT 0979304866 . Email nguyenbang@gmail.com như sau :

“Trong bài đăng \”Chuyện còn ít biết về Tướng Phùng Chí Kiên\” của tác giả Giao Hưởng. Trong đó có nhắc tới đoạn \”…Chúng tôi rất thương nhau và rất hiểu nhau… Anh Phùng Chí Kiên được phân công công tác tại địa bàn Cao Bằng – Bắc Sơn. Nên tìm gặp đồng chí Doãn Hằng, nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Bắc Cạn, hiện ở Thái Nguyên, để tìm cho ra chỗ chôn đầu anh Phùng Chí Kiên, rồi đưa về chôn cùng thi thể còn lại của anh…\”.

Tôi được biết về vị tướng Phùng Chí Kiên rất ít, hôm nay qua bài đọc này tôi đã có thêm nhiều thông tin hơn. Hôm nay, 10/7/ 2013 – là ngày giỗ đầu của bác tôi là đồng chí Doanh Hằng – người đã được nhắc tới trong bài viết. Khi về hưu bác tôi thường hay làm chứng cho những người tham gia trước, sau cách mạng T8 về thân thế, tên tuổi, quá trình hoạt động cách mạng… để họ được hưởng những chính sách của Đảng và Nhà nước. Đã có lần về thăm Bác tôi đươc nghe bác kể về việc Trung Ương về Bắc Kan tìm nốt phần còn lại thi thể bác Phùng Chí Kiên. Tôi khâm phục các bác – những nhà cách mạng chân chính, liêm khiết. Bài viết đã nêu sai tên bác Doanh Hằng là Doãn Hằng. Vậy tôi đề nghị hội phải kiểm chứng thông tin trước khi cho đăng tin và đồng thời phải có đính chính trên chuyên trang để bác được yên nghỉ nơi chín suối. Sau khi đã đính chính, mong hội có thông tin phản hồi lại để gia đình được biết. Tôi xin chân thành cảm ơn “

Như vậy theo  bạn đọc Nguyễn Bằng thì Bác Doãn Hằng tên đúng  là Doanh Hằng , do chúng tôi đăng tải lại bài viết từ báo Nghệ An nên không sửa lại mà đăng nguyên lời đính chính của bạn lên đây để tất cả bạn đọc cùng biết. Xin chân thành cảm ơn góp ý của bạn đọc Nguyễn Bằng (BBT).

 

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: