Trần Hoàng Blog

►Ông Nguyễn Hiến Lê và Tôi (Tạp chí Bách Khoa số tháng 4/1975)

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2017

Trích từ Bách Khoa số 426 tháng 4/1975

 

 

Ông Nguyễn Hiến Lê và Tôi

LTS.-Tác giả bài viết dưới đây, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (1940) cũng là nhà thơ Đỗ Nghê  một bút hiệu quen thuộc thường có sáng tác đăng trên Bách Khoa.

Đỗ Hồng Ngọc đã có một thời niên thiếu thật khốn khó: Cha mất sớm, nhà nghèo, ông phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng xén tại chợ Bình Thạnh. Nhờ được đọc những tác phẩm tự luyện tri đức của Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) lại có chí, ông đã đạt được nhiều kết quả tốt trên đường học vấn. Ông vẫn liên lạc thường xuyên với người đã viết nên những tác phẩm dìu dắt mình từ thuở còn niên thiếu.

**********

Ông Nguyễn Hiến Lê và Tôi

 

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc

Tạp chí Bách Khoa 4/1975

 

Tác phẩm đầu tiên của ông, Tổ chức công việc theo khoa học, ra đời năm 1949 nhưng mãi đến năm 1956 tôi mới được làm quen với tên tuổi ông.

Còn nhớ lần đó tôi theo xe chở cá ướp đá về Sài Gòn “bổ hàng” cho mẹ – mẹ tôi có quán hàng xén tại chợ B.T. – một buổi trưa lang thang trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, dừng chân ngắm hàng sách “xôn” bày la liệt, tình cờ thấy cuốn Kim chỉ nam của học sinh của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả hoàn toàn xa lạ với tôi lúc đó. Đọc qua lời Tựa, tôi mua ngay.

Tản cư về, tôi bị trễ học đến bốn, năm năm. Nhà nghèo, cha mất sớm, tôi phải phụ giúp mẹ trong nom cửa hàng cho nên dù hiếu học, tôi cũng không biết cách nào để tiến thân.

May quá, Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới. Đọc xong, tôi thấy mình gần gũi với ông kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn.

Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông nhàm chán. Thời gian sau đó tôi lại tìm mượn được thêm các cuốn Tự học để thành công, Rèn nghị lực của ông tại nhà một ông bạn làm nghề may.

(Anh Chín, khi đọc những dòng này, anh có nhớ bọn mình đã góp chung tiền để kiếm mua loại sách này chăng và bây giờ, làm chủ một tiệm may nho nhỏ chắc anh đã đủ tiền mua trọn bộ sách Nguyễn Hiến Lê cho các con anh như đã từng ao ước rồi phải không?)

Với niềm tin mới, tôi bắt tay vào việc lập chương trình “học nhảy”. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông về việc này và ông trả lời “được” vì qua bức thư thấy tôi đã khá già dặn và sức học đã vững. (Trong Kim chỉ nam của học sinh ông đả kích việc học nhảy dữ lắm!). Lúc đó tôi đang học đệ Thất – lớp đệ Thất đầu tiên, mới mở của tỉnh – và tôi đã rất xấu hổ phải ngồi bên cạnh học sinh nhỏ hơn mình bốn, năm tuổi.

Nhờ có chí và áp dụng những phương pháp học chỉ dẫn trong Kim chỉ nam của học sinh và Bí quyết thi đậu, tôi đã rút ngắn chương trình trung học được ba năm, đuổi kịp bạn bè cùng lứa. Được bà con khuyến khích, mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi Sài Gòn “du học”.

Đến Sài Gòn, việc đầu tiên của tôi là tìm thăm ông, định bụng sẽ báo tin cho ông biết là tôi đã thi đỗ và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn ông của tôi; nhưng khi gặp ông, tôi đã lúng túng không biết phải nói gì, chỉ ấp úng trả lời ông vài ba câu hỏi rồi về. Thấy ông có vẻ nghiêm nghị quá, lại đang bận sửa bản vỗ cho một tác phẩm nào đó. Như thế là lần này tôi hoàn toàn thất bại, cuốn Đắc nhân tâm của ông không giúp tôi được tí gì cả!

Từ đó, mỗi lần đến thăm ông tôi thường rất ngần ngại, lúc nào cũng có cảm tưởng như quấy rầy ông, không để ông “sống đủ 24 giờ một ngày” (1). Nhiều người quen biết ông chắc cũng có cảm tưởng đó lúc ban đầu. Về sau, nhiều năm trôi qua, quen thân ông nhiều hơn, tôi biết tôi đã lầm lẫn. Phong thái ông là phong thái một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người phương Tây. Chính cái ánh mắt của ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn.

Bây giờ tóc ông đã bạc nhiều, da sậm và nhăn nheo nhiều hơn, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và cái bắt tay vẫn nồng nhiệt như thuở đó. Những lúc đến thăm, tôi thấy ông luôn mặc bộ bà ba trắng nhạt, cũ kỹ quen thuộc, cũ kỹ quen thuộc như bì thư ông quen dùng trong bao nhiêu năm qua. Ông không thích đổi thay. Hình như ông hút thuốc hơi nhiều quá! Lúc nào cũng có lon thuốc rê bên mình, ông vừa trò chuyện với khách vừa vấn vấn, vê vê điếu thuốc lá, liếm nhẹ, rồi bật quẹt hút. Các ngón tay ông nhanh nhẹn, thuần thục đến vàng sậm màu khói. Ông khen Lâm Ngữ Đường là “cận nhân tình” có lẽ vì họ Lâm “bồ” với ông, đã không cấm ông hút thuốc dù cái bao tử ông cứ đau đi đau lại hoài!

Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi.

Quen biết ông mới thấy ít ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông “thao thao bất tuyệt” thì cứ việc nói đến tiếng Việt, nói về tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai. Còn nhớ khi bọn sinh viên chúng tôi vận động chuyển ngữ Việt tại trường Y khoa, ông đã hỗ trợ bằng những bài báo nẩy lửa. Lúc đó giọng không còn cái vẻ nghiêm túc, hiền lành, bình đạm thường ngày nữa mà sôi nổi, gay gắt, phẫn nộ, đầy khích động.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, chỉ là phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau tôi viết thêm một cuốn khác, cũng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch.

Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được người khác chút gì; lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy của công quyền là để giữ cho ngòi bút của mình độc lập, để có thể đóng vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến nhân mãn, ô nhiễm…

Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thật với chính ông. Đến nay ông cho ra được 100 tác phẩm, có những tác phẩm dày vài ngàn trang, có tác phẩm ba, bốn cuốn, về đủ mọi bộ môn, từ văn chương, y học, giáo dục, đến lịch sử, triết học… làm nhiều người kinh ngạc về sức làm việc của ông.

Tôi biết có những tác giả còn “sản xuất” nhiều hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông thì không. Tác phẩm ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là tấm gương nghị lực; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống ông là một sự tổ chức; ông viết về tự học thì chính ông nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều có thể ứng dụng được.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông Kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương triết học Trung Quốc, Ngữ pháp Việt Nam… và những Chiến tranh và hoà bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hoá miền Nam.

Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lại trong tay ta, Rèn nghị lực… Và nhất là bộ Gương danh nhân của ông.

Mà họ là ai? Là những thiếu niên thất chí bán hàng xén như tôi thuở đó, là anh thợ may lận đận như anh Chín N.S., là một giáo viên tiểu học, một y tá hương thôn, một thơ ký nghèo trong một công tư sở nào đó… Họ là những người có thiện chí, có tinh thần cầu tiến, hiếu học nhưng vì hoàn cảnh mà lỡ dở. Họ là thành phần đông đảo nhất trong xã hội ta bây giờ, một xã hội có vốn liếng hơn ba mươi năm chiến tranh. Nhờ những cuốn sách đó, trước mắt họ mở ra những cánh cửa mới, trong lòng họ nhen lên ngọn lửa nồng, và dù họ có không “thành công” nhiều thì đời sống họ cũng sẽ được nâng cao ít ra là về mặt tinh thần.

Thú thật, tôi rất bực mình khi thấy chính tác giả có lần xếp những loại sách đó vào hàng thứ yếu. Ông nói: “…nhưng chẳng qua cũng chỉ để cho thanh niên đọc” (Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại – Bàng Bá Lân). André Maurois 80 tuổi mới viết Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi!

***

Những năm gần đây ông chuyên viết về cuộc đời và tư tưởng của các triết gia Đông phương: Liệt Tử và Dương Tử, Mạnh Tử, Khổng Tử, Hàn Phi Tử… Ông viết chậm và ít hứng hơn, có lẽ tuổi đã lớn, một phần vì sức khoẻ suy kém.

Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khoẻ ông là một điều thiếu sót lớn!

Thực không ai ngờ rằng một người viết hàng trăm tác phẩm như vậy mà lại là một người đau yếu liên miên. Chứng đau bao tử kinh niên thỉnh thoảng trở đi trở lại. Mỗi lần gặp ông mà thấy ông có vẻ cau có thì chắc chắn là ông bị cơn đau bao tử hành rồi! Thứ bệnh đó thật là khó chịu (vì chính tôi cũng mắc phải nên hiểu lắm!): nó làm cho ta thành một con người… xa lạ, không thích giao du, không chịu được đám đông.

Phải ăn đúng giờ, nghỉ đúng giấc. Phải cữ món này, kiêng món nọ, không uống rượu, không hút thuốc. Tâm hồn ráng cho yên tĩnh. Nếu không vậy thì đau. Trong một bức thư, ông cho tôi biết ông vừa bị viêm bao tử (ulcère duodénal). Mỗi lần gặp chuyện lo lắng, buồn phiền hay gặp một chương sách khó viết, ông lại đau. Những lúc đó tay cầm viết của ông bị run rẩy. Có lần ông bị nấc cụt mấy hôm liền và thường hay bị mất ngủ, bón, trĩ… Tất cả những chứng đó đều có bà con xa gần với bệnh bao tử.

Cho đến ngày nay, y học cũng chưa có thuốc chữa dứt khoát bệnh này mà nguyên nhân một phần lớn là do tâm lý. Các thuốc chữa trị có tính cách ngăn chận cơn đau tạm thời, lại thường gây những phản tác dụng như mất ngủ, bón, trĩ, v.v…

Thỉnh thoảng tôi đến thăm, nghe ông ông khoe một thứ thuốc trị đau bao tử mới, uống khá hiệu nghiệm; còn tôi thì khoe với ông một phương pháp chữa bao tử cũng mới, là đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung, để quên hết những căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi. Rồi tôi biếu ông một bộ Cô gái Đồ long. Rất tiếc là ông không đọc được kiếm hiệp. Ông thử đọc cuốn đầu rồi thôi, chịu, không đọc thêm được nữa!

Năm ngoái, tự nhiên mắt ông nhìn kém đi, vẫn đọc sách được, nhưng trong khoảng cách hai thước ông nhìn thấy lờ mờ như có lớp sương mù. Tôi ngại ông có thể mắc bệnh hột cườm ở người già (cataracte sénile), định giới thiệu ông đến một bác sĩ nhãn khoa, nhưng ông chưa đi thì bệnh bớt dần rồi khỏi.

Những ngày gần đây ông còn bị đau răng, rồi bị thận viêm. Bệnh tuy không có gì nặng nhưng là những thứ bệnh khó chịu, và làm suy kém sức khoẻ.

Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ bệnh tật của ông.

Mắc bệnh đau bao tử, một thứ bệnh đòi hỏi phải sống, làm việc có tiết độ, ông chú trọng đến tổ chức, viết Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình… Để có thể tự chữa thứ bệnh tâm thể (psychosomatique) đó của mình, ông viết Sống 365 ngày một năm, Sống theo sở thích, Chấp nhận cuộc đời… Những lúc buồn phiền, lo lắng ông viết Quẳng gánh lo đi, Trút nỗi sợ đi, Xây dựng hạnh phúc

Những lúc bệnh bớt, thấy khoẻ khoắn, hăng hái trở lại, ông viết Thăng tiến trên đường đời, Tương lai trong tay ta

Và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi bằng Tô Đông Pha, Sống đẹp… Có phải tôi hơi “méo mó” mà nghĩ ra chuyện đó không? Và như vậy ta sẽ có một quan điểm phê bình gọi là “phê bình bệnh lý học” chăng?

***

Mơ ước lớn nhất của đời ông bây giờ có lẽ là được thấy cảnh thanh bình, con cháu đoàn tụ, rồi lui về sống với mảnh vườn ở miền quê.

Năm kia tôi gởi ông một bài thơ, bài Đi cho đỡ nhớ, viết từ nỗi xúc động thấy những chuyến xe lửa lại lăn trên đường sắt, dù chỉ lăn đến… Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu Nam Bắc. Ông trả lời:

“(…) Cháu làm cho tôi thèm quá! A, bao giờ Sài Gòn mới được nối với Hà Nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết công việc, nhờ cháu làm revision général [khám tổng quát] cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam Trung Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam Xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng, v.v…”

Rồi năm ngoái, có lẽ đã đợi mãi, hy vọng rồi thất vọng mãi vẫn chưa thấy hoà bình về trên quê hương mà chiến tranh càng ngày càng thêm thảm khốc, ông viết cho tôi: “Bây giờ chỉ mong được nghỉ ở thôn quê thôi. Hai mươi năm viết lách liên tiếp, chưa bao giờ được nghỉ đến một tháng (…)” Ý muốn này ông lặp đi lặp lại mãi như một điệp khúc từ nhiều năm qua mà không sao thực hiện được. Cứ nghỉ ít lâu ông chịu không nổi, phải cầm viết lại. Ông nghiện nặng rồi chăng?

Cuộc đời ông quả thật là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi được đọc như André Maurois viết Un ami qui s’appelait moi vậy.

Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ Thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi cũng đã khác; nên tuy không được may mắn học với ông một ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!

Đỗ Hồng Ngọc

(Trích từ Bách Khoa số 426 tháng 4/1975)

(1) Mượn nhan đề quyển “Sống 24 giờ một ngày” do Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) dịch từ nguyên tác How to live on 24 hours a day của Arnold Bennet. Dịch giả xuất bản lần đầu năm 1955.

_________

 

Những người Thầy hạnh phúc…”

27-11-2016

 

Tôi mê dạy học, mê văn chương và cũng mê làm nghề y. Hồi xưa, đậu Tú Tài 2 xong (1962), tôi băn khoăn không biết nên học Văn khoa, Sư phạm hay Y khoa… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên nên học y, vì ngành y có thể giúp đời cụ thể và nếu có tâm hồn, có năng khiếu thì làm nghề y cũng có thể viết văn và dạy học được. Tôi nghe lời.

Thực tế, ngay lúc còn là sinh viên y khoa, tôi đã dạy ở trường HTN bên Tân Định.  Thú vị, ngoài môn Vạn vật, tôi còn dạy cả môn Văn cho lớp Đệ ngũ (lớp 8)… Bây giờ nhiều em học sinh hồi đó còn mang… cháu ngoại đến nhờ tôi khám bệnh.

Từ năm 1972 đến 1982 tôi dạy môn Nhi khoa cho Trường Nữ Hộ Sinh quốc gia (BV Từ Dũ).

Ở đại học, tôi vẫn tiếp tục tham gia như một giảng viên thỉnh giảng ở Đại học Y dược Tp HCM (từ năm 1981 đến 1996) ở Bộ môn nhi của Giáo Sư Tạ Thị Ánh Hoa, hướng dẫn lâm sàng và đỡ đầu một số luận văn tốt nghiệp cho Sơ bộ chuyên khoa Nhi từ những năm xa xưa đó, bây giờ nhiều em cũng đã… về hưu!

Từ năm 1989, tôi phụ trách Bộ môn Tâm lý-Xã hội học Sức khỏe của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (lúc đó còn mang tên Trung tâm đào tạo). Sau này Bô môn Tâm lý- Xã hôi học SK đổi tên thành Bộ môn Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe, rồi nay là Y đức-Khoa học hành vi.

Năm kia, tôi quyết định… xin rút : “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thì lui”, (Ưng Bình Thúc Giạ Thị) về làm “cố vấn” từ xa cho các bạn trẻ!

Lại sắp tới ngày Nhà giáo 20/11 rồi, tôi xin ghi lại đây vài bài viết của các đồng nghiệp trẻ, thầy giáo Trương Trọng Hoàng và bác sĩ Nguyễn Thị Phương Trinh… như một kỷ niệm.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

https://www.dohongngoc.com/web/category/mot-chut-toi/mot-chut-tieu-su/

____________

Ghi chú:Thạc sĩ Bác sĩ Trương Trọng Hoàng hiện là Phó trưởng Bộ môn Y đức – Khoa học hành vi  Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM. 

Nhân Ngày Nhà giáo VN 20.11 thầy Hoàng gởi đến tôi 2 bài viết (một bài viết mới và một bài viết cũ) và cho biết: “Từ đầu niên khóa đến giờ em lu bu nhiều chuyện (…) nên ít có dịp đi cà phê đàm đạo cùng anh (…). Em xin kính chúc anh và gia đình luôn khỏe về cả thể chất, tâm thần và xã hội cũng như luôn cảm thấy an lạc”.

“Những người thầy hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới”

 

Hôm rồi tôi tình cờ được xem bức vẽ trong đó tôi rất thích hình ảnh khuôn mặt tươi vui của những người Thầy (tôi xin phép dùng chung từ này cho cả các Thầy và Cô)  và nhất là câu “Những người thầy hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” của Thầy Thích Nhất Hạnh.

Hồi nhỏ tôi hay nghe người ta nói nhiều câu khá u ám như dạy học là nghề “bán cháo phổi”, dạy học là một nghề “bạc bẽo” khiến tôi cũng tự thấy sờ sợ nghề này mặc dù từ hồi lớp 9 tôi đã đi dạy kèm cho mãi đến sau khi ra trường gần 5 năm tôi mới nghỉ. Thực tế cũng cho thấy tình trạng bồi dưỡng công lao động giảng dạy không đủ bù đắp sức khỏe (hay nói một cách hình tượng là người thầy phải tự “ăn” vào cái vốn sức khỏe của mình) và rằng chuyện nhiều người học trò khi thành đạt ít khi nghĩ đến những người thầy đã góp phần vun đắp cho sự phát triển của mình đã phần nào củng cố cho những nhận định như thế.

Thế nhưng số phận lại run rủi tôi đến với nghề làm thầy giáo khi tôi ra trường và làm việc với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – vừa là thủ trưởng, vừa là người anh, người bạn và nhất là một người Thầy mà tôi hằng kính mến.

Thầy có nói nếu chữa bệnh thì mình chỉ cứu được một số ít người còn nếu mình hướng dẫn được cho người dân cách tự chăm sóc sức khỏe để phòng ngừa bệnh, tật thì tác dụng sẽ gấp nhiều lần. Và Thầy cũng đã đề cập mình là người thầy thuốc đã từng được học nhiều điều từ thầy cô thì phải có trách nhiệm truyền đạt lại cho những thế hệ thầy thuốc sau mình những điều mình đã được học hoặc thu nhận thêm từ nghề nghiệp của mình. Vì vậy ngay từ khi tôi về cơ quan truyền thông sức khỏe của Thầy, Thầy đã dắt tôi theo để làm quen với công tác giảng dạy ở trường đại học và nhờ Thầy dìu dắt mà tôi đã trở thành một thầy giáo từ bấy lâu nay.

Ngoài Thầy Đỗ Hồng Ngọc tôi cũng có may mắn học từ nhiều Thầy, Cô khác và nhân đây cũng xin gởi lời tri ân chân thành đến tất cả Thầy, Cô trong đó có những Thầy, Cô giáo nước ngoài mà tôi đã được học. Sỡ dĩ tôi nhắc đến các Thầy, Cô nước ngoài ấy vì tôi đã học được không phải chỉ kiến thức mà còn về cung cách ứng xử tôn trọng, thân tình mà các Thầy, Cô là những chuyên gia hàng đầu của thế giới dành cho các sinh viên tầm thường như tôi. Viết đến đây mà tôi đã khóc vì rất nhớ những khi có Thầy thì đãi chúng tôi ăn gỏi đu đủ lề đường, có Cô thì chất hết một đám sinh viên lên chiếc xe hơi nhỏ xíu đi dạo phố phường hoặc những bữa cơm gia đình mà Thầy, Cô đã mời chúng tôi ăn cùng. Có lẽ chính những điều này đã ảnh hưởng đến phong cách của tôi bây giờ và thực tế nó giúp tôi cảm thấy hạnh phúc khi không phải chỉ gặp các em trên lớp mà còn được sống cùng với các em trong cuộc đời nhờ đó mà thực tế tôi được học rất nhiều từ các em và điều đó đã là động lực thúc đẩy tôi phải nỗ lực không ngừng trong giảng dạy để đáp lại chân tình và mong đợi của các em dành cho tôi.

“Những người thầy hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới”. Đúng là chỉ khi những người Thầy cảm thấy hạnh phúc với công việc giảng dạy thì họ mới cống hiến hết sức mình nhờ đó sẽ đào tạo nên những con người có thể thay đổi thế giới.

20 Mười một 2014

Trương Trọng Hoàng

_________________

Thầy Đỗ Hồng Ngọc
Hôm nay dù chưa đến ngày 20/11 tôi vẫn muốn viết về BS Đỗ Hồng Ngọc – một người Thầy với phong cách giảng dạy đặc biệt đã để lại những ấn tượng và ảnh hưởng sâu sắc đối với công việc giảng dạy của tôi.

Còn nhớ cách đây đã lâu lắm rồi, ngày tôi học năm thứ 4 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được học một buổi với Thầy – chỉ một buổi thôi nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm.

Ngày đó Thầy đến lớp, giảng bài Săn sóc sức khỏe ban đầu trong Nhi khoa, khác với tất cả các giảng viên khác đó là Thầy chỉ giảng bằng hình. Thời đó hình không phải dễ làm, phải chụp bằng phim dương bản (slide), vô khung và phải dùng máy chiếu slide để trình chiếu. Và chính là nhờ những hình ảnh ấy của Thầy mà tôi thấy được Săn sóc sức khỏe ban đầu là những hoạt động thực tế, thấy được cuộc sống thật, thấy được những cảm xúc của người dân thể hiện qua những nụ cười, những vẻ mặt hân hoan, những hoạt động tích cực của họ. Nhờ đó mà tôi có được những cảm nhận sâu sắc, điều mà những bài giảng khác không cho tôi được và đó chính là điều mà tôi nhớ nhất.

Bẵng đi một thời gian tôi không có dịp gặp Thầy cho đến ngày tôi vào Trung tâm Thông tin & Giáo dục sức khỏe để Thầy phỏng vấn khi tôi xin làm việc tại Trung tâm. Thầy hỏi tôi nhiều về các hoạt động xã hội, văn nghệ mà tôi đã tham gia. Đó là điều mà tôi không ngờ tới. Nhưng điều mà tôi không ngờ tới hơn nữa đó là Thầy bảo tôi trang trí cho một tờ giấy bristol trên gắn những tấm ảnh mới chụp về các hoạt động của một chương trình thí điểm giáo dục sức khỏe thông qua mạng lưới nhân viên sức khỏe cộng đồng ở xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè. Cùng ngồi với tôi, Thầy đọc các chú thích ảnh cho tôi viết và Thầy đã hướng dẫn thêm nhiều điều lý thú ví dụ như cách ghi thứ bậc bằng số khi viết tên người như “chị 4 Điện” thay vì “chị Tư Điện” theo cách viết của người dân tại địa phương.

Việc để tôi tận tay làm và hướng dẫn trực tiếp tại “hiện trường” giúp tôi cảm thấy tự tin hơn và cũng “nhớ bài” tốt hơn. Đó cũng chính là cách mà Thầy đã định hướng cho Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe tổ chức cho sinh viên học qua thực hành, thực tế.

Tính đến nay tôi đã làm việc chung với Thầy 22 năm và tôi cũng đã đi dạy chung với Thầy rất nhiều lần. Tôi nhớ cách đây hơn 15 năm, lần đó tôi cùng với Thầy giảng cho lớp Bác sĩ Chuyên khoa cấp I Vệ sinh dịch tễ tại Cần Thơ. Tôi phụ trách giảng một bài và tôi đã chuẩn bị nội dung bài giảng khá chi tiết. Tôi nhớ đó là vào một buổi chiều và tôi đã giảng đến hơn 5 giờ, vượt hơn giờ kết thúc chính thức gần 10 phút. Kết thúc buổi giảng, Thầy không nhận xét nhiều chỉ nhẹ nhàng bảo tôi rằng đúng là tôi dạy rất bài bản, tuy nhiên Thầy cũng hỏi tôi là liệu rằng người ta có tiếp thu được gì không vào thời gian cuối cùng nhất là vào những phút vượt giờ. Lúc ấy tôi giật mình và nhận ra rằng tôi đã cố giảng để hoàn thành nhiệm vụ của mình mà không để ý gì đến việc tiếp thu của người học mà đó mới chính là điều quan trọng nhất trong việc dạy-học. Từ đó tôi tập giảng bài thoải mái hơn, bớt lệ thuộc vào những nội-dung-chuẩn-bị-trước của mình mà hướng đến việc đáp ứng những nhu cầu của người học.

Tôi có nói với nhiều học trò hoặc người quen rằng cách giảng dạy của Thầy Ngọc rất khó bắt chước thậm chí là không thể bắt chước vì không lần nào Thầy giảng giống lần nào. Tất nhiên Thầy có chuẩn bị trước và đến với các lớp tập huấn Thầy với tôi thường trao đổi với nhau về những nội dung gì cần đề cập và những hoạt động gì của học viên cần triển khai. Tuy nhiên đó chỉ là cái sườn còn lại thì Thầy nói tùy cảm nhận mà mình quyết định sẽ nói điều gì, nói cách nào, kể những câu chuyện vui gì…

Vì vậy mà về sau này tôi cũng nhập tâm dần cách giảng dạy của Thầy, đến với bất cứ một lớp học nào, nhất là những lớp học lần đầu gặp mặt, tôi cũng dành ra một thời gian để cảm nhận rằng học viên đang muốn gì, đang không muốn gì và kể cả đang có những ưu tư, trăn trở gì ngoài việc học. Trên cơ sở đó mà tôi quyết định nội dung hoặc cách thức mà tôi giảng dạy giống như Thầy vậy.

Còn một điều nữa cũng rất khó bắt chước ở Thầy đó là trong giảng dạy Thầy kể rất nhiều câu chuyện dí dỏm, dùng nhiều sự so sánh rất đắc, chiếu nhiều hình ảnh ấn tượng… Cái nghệ thuật ấy, tôi phải dùng chữ “nghệ thuật”, mang phong cách nghệ sĩ đặc trưng Đỗ Hồng Ngọc. Nhiều khi chỉ bằng một câu chuyện vui mà Thầy làm cho người học “nhớ đời”, chỉ một trò chơi mà làm người học giật mình, hoặc chỉ một sự so sánh, một cách giải thích từ ngữ mà khiến mọi người hiểu rõ những khái niệm và kể cả thêm yêu ngôn ngữ Việt nhuần nhị, sâu sắc. Thật sự thì tôi cũng “cọp-dê” những câu chuyện, sự so sánh, những hình ảnh, những trò chơi Thầy đã dùng để đưa vào các buổi giảng của mình nhưng mãi vẫn không toát được cái phong cách của Thầy. Thôi thì tôi sẽ cố trau dồi thêm… cái “máu nghệ sĩ” của mình để có thêm sự nhạy cảm, sự tinh tế ngõ hầu trong giảng dạy có thể bật ra những “nốt nhạc” riêng của mình.

Có lẽ những điều tôi nêu trên đây chưa thể nói hết về phong cách giảng dạy của Thầy, nhưng có một điều mà tôi muốn nói đó là nếu không có sự hướng dẫn, khơi gợi của Thầy thì tôi đã không chọn giảng dạy là cái nghiệp của mình vì lẽ nhờ Thầy mà đối với tôi hiện giờ giảng dạy không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật, không chỉ là cái nghề mà còn là cái nghiệp trong đó mình trở thành một đóm lửa nhỏ nhen nhóm cho những ngọn lửa lớn cháy lên trong lòng người học, trong lòng con người.

23g30 28 Chín 2011

Trương Trọng Hoàng

…………………………………………

 

Đỗ Hồng Ngọc, ba trong một

Ghi chú: Bài viết ngắn dưới đây của một cô học trò khác: Bác sĩ Nguyễn Thị Phương Trinh, tốt nghiệp Đại học Y dược Tp.HCM năm 1991, hiện làm từ thiện tại một Phòng khám Lão khoa ở Gia Kiệm, Đồng Nai. Phương Trinh viết bài này gởi thầy Ngọc từ mấy năm về trước, cũng nhân Ngày Nhà giáo VN  20.11 khi cô còn đang công tác về Y tế học đường ở một trường Trung học phổ thông tại Bà rịa -Vùng tàu…

Tôi biết Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN) trước hết là một Bác sĩ, một Thầy dạy của trường Y, nhưng sau đó, cái làm tôi đến với Thầy BS đó là  ông dạy Cộng đồng, và cho đến sau này, kết nối tôi, để cho tôi qui ngưỡng, cúi đầu là vì ông giảng kinh, nói pháp.

Tôi học Y, đi xã hội, làm giáo dục. Trong công cuộc đổi mới toàn diện & căn bản nền giáo dục VN hiện nay, cần kết hợp hai nhà: nhà giáo và nhà Phật. Riêng lãnh vực  Giáo dục sức khỏe (GDSK) trong nhà trường thì phải thêm một nhà nữa để thành bộ ba: Nhà Y – Nhà Giáo – Nhà Phật. Nói như thế để thấy ĐHN ba trong một đặc biệt thích hợp với học trò.

Xa hơn, rộng hơn, cao hơn, là  Nâng cao sức khỏe (NCSK), liên quan đến những nguồn lực xã hội, chúng ta sẽ thấy rằng Sức khỏe liên quan chặt chẽ với Xã hội. Muốn nâng cao SK, phải nâng cao XH. Mà ĐHN, nhìn kỹ lại, là nhà hoạt động xã hội trong từng lãnh vực, y tế, giáo dục, Phật học. Vậy thì đó là người đang làm sự nghiệp NCSK.

Nhưng trên hết, tôi thích ĐHN vì ông là Nhà văn. Ông đã chuyển thể giáo trình, giáo án, kinh điển ra văn chương, mà văn chương bao giờ cũng thích hơn. Tôi vẫn thích cái nhìn, phân tích mọi chuyện mọi sự trên đời, kinh tế, chính trị, văn hóa, giải trí, pháp luật, hình sự, tào lao, bát nháo… dưới con mắt Đạo Phật, sâu sắc & đơn giản với giọng văn nhẹ nhàng, dí dỏm.

Như vậy, xét về Kiến thức – Kỹ năng thì ĐHN hội tụ đủ.

Một lý do nữa để tôi thích đọc ĐHN là ông viết về Tác giả, Tác phẩm. Tôi biết thêm một nhân vật, một cuốn sách nữa để tìm mua. Tôi thích kiểu đó, vì lười và vì có đọc cũng không hiểu hết, cho nên tủ sách của tôi, ngoài sách ĐHN, còn những sách khác, tôi mua về chưng, làm của.

Ví như Giáo sư Cao Huy Thuần (CHT), tôi biết đầu tiên là trên báo Văn hóa Phật giáo, tôi đã phải nhảy nhổm lên đi tìm xem ông này là ai, ở đâu, thế hệ nào, thuộc đảng phái chính trị ý thức hệ nào. Thấy sách ra mang tên CHT là tôi mua về ngâm. Đến khi thấy CHT trong “Nhớ đến một người” của thầy Ngọc thì tôi vô cùng khoái chí, vậy là cùng fan. Lúc đọc giới thiệu Chuyện  trò của BS ĐHN thì tôi tốc ra mua liền, đem về ngâm tiếp. Coi như đọc rồi.

Tôi ước mong BS ĐHN tiếp tục đọc và tiếp tục chuyển thể, phiên dịch (nói theo cách của ông), giới thiệu sách. Việc này sẽ muôn đời bất tận không bao giờ hết.

Xin chân thành cảm ơn BS ĐHN, Thầy ĐHN, Giảng sư ĐHN, Nhà văn ĐHN. Chúc cho ông trường sanh bất lão. (Ông đang rất trẻ khỏe vui vẻ yêu đời yêu người).

Nguyễn Thị Phương Trinh

______________

 

 

 

Advertisements

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: