Trần Hoàng Blog

►THOÁT LŨ, THẮNG LŨ, TẠI SAO KHÔNG?

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2017

 

 

06.11.2017

THOÁT LŨ, THẮNG LŨ, TẠI SAO KHÔNG?

Trương Duy Nhất 

Ra khỏi Đà Nẵng là mênh mông nước. Không thể về quê. Nhà, nước đã lút cửa sổ. Mẹ và mấy đứa nhỏ lên gác từ đêm qua.

Đâu chỉ nhà tôi. Khắp dải miền Trung là hàng chục triệu sinh mạng đồng bào. Sẽ lại nghe những báo cáo “đúng qui trình”. Những “qui trình đúng”, mỗi năm giết chết hàng trăm sinh mạng đồng bào.

Đã đến lúc phải phá bớt các đập thuỷ điện giết người này. Đã đến lúc phải tìm cách tránh lũ, thoát lũ, thắng lũ, không thể cứ bắt dân phải “sống chung với lũ”.
Khái niệm “thoát lũ, thắng lũ” tôi nhắc đến từ đợt lũ đầu 2016:
_______________
THOÁT LŨ, THẮNG LŨ, TẠI SAO KHÔNG?

Tại sao không thể thoát lũ, thắng lũ. Sao bao đời, truyền kiếp dân mình cứ phải chọn cách sống chung với lũ, cùng lũ, chết trong lũ?

Ngang qua Hà Tĩnh – Quảng Bình – Quảng Trị những ngày này, mới thấy hết thế nào là bi thương. Lũ trước vừa đi, lũ sau lại ập về, xô sập tiếp những khung nhà không còn gì để sập, trơ trụi, hoang tàn.

Miền Trung, năm nào cũng vậy. Mới hai cơn lũ đầu mùa. Rồi sẽ bão nữa. Có năm, hàng chục cơn, hết bão đến lũ quần quét tan hoang.

Với Thừa Thiên- Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên là những cơn đại hồng thuỷ 1998 – 1999. Nhiều nơi, xác người đắp chiếu xếp lớp dọc quốc lộ 1A. Rồi hai trận cuồng phong Chanchu, Sangsane năm 2006 với xác người xếp lớp trên bến cảng Bạch Đằng. Và rồi năm nay, là Quảng Trị – Quảng Bình – Hà Tĩnh.

Vì sao, muôn đời rồi, qua bao nhiêu những thế hệ, những hình ảnh tang thương ấy vẫn cứ lặp lại đến… quen thuộc? Vì sao không thoát nổi? Vì sao, vẫn cứ phải chấp nhận mãi trong cái khái niệm sống cùng lũ, chung với lũ, sống trong lũ truyền kiếp vậy?

Ngay trong các nghị quyết, văn kiện đảng các nhiệm kỳ, lẫn các quyết nghị của chính phủ… Tôi chưa hề nghe, thấy trông được một lần nào nhắc tới khái niệm “thoát lũ, thắng lũ, vượt qua lũ”.

Tại sao không ai nghĩ tới điều này? Tại sao bao chục năm rồi, vẫn là những mái lá nhà tranh, những thôn làng ọp ẹp chỉ một cơn lũ thôi đã cuốn sạch sành sanh? Bao nhiêu nhiệm kỳ, bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu những chương trình mục tiêu mới cũ- cũ mới về nông thôn, những chương trình mục tiêu thiên niên kỷ gì đấy nữa… Những “đoàn tàu” mục tiêu với định hướng phát triển, phát triển định hướng gì đấy vẫn hùng hục lao về một nơi nào đó, rất xa xôi. Còn những vùng quê ấy, vẫn như bị bỏ rơi lại phía sau. Tài sản của nhiều hộ dân, hàng triệu triệu những hộ dân vùng lũ, vẫn không gì hơn ngoài mấy con bò. Một thùng mì tôm, mấy ổ bánh mỳ, với nhiều gia đình vẫn là nỗi khát khao.

Vài năm gần đây, mới nghe nói đến các khu nhà chống lũ. Tức các trường học, công sở vài ba tầng để lùa dân vào chạy lũ. Chưa nghe một chương trình nào từ chính phủ bàn tới việc xoá nhà ngập lũ, vùng ngập lũ, qui hoạch, kiến thiết lại một cách bài bản cho các cư dân vùng lũ ấy. Thậm chí mô típ – kết cấu nhà thế nào, tránh các cửa miệng thuỷ điện ra sao…

Quả thật, ngoài những thùng mì cứu đói, chưa nhìn thấy một phương cách cứu dân “thoát lũ thắng lũ” nào từ chính phủ, một chủ trương và phương cách mang tầm mục tiêu quốc gia.

Xây Formosa được. Dựng hàng trăm đại tượng đài, mỗi ông nghìn tỷ được. Tài sản gia đình, dòng tộc quan chức – nghe nói có nhà X nào đó hơn cả ngân khố quốc gia. Nhưng cư dân vùng lũ, bao đời rồi, vẫn tự bơi. Khá chút thì đôn tầng, thêm cái gác bê tông. Không thì vẫn vậy, vài ba thanh tre gỗ ọp ẹp, lũ đến chỉ đủ treo cặp lợn, hay cột dây gác mõm cho chú bò thở chờ nước rút.

Sống trong lũ, chết chìm trong lũ.

Chính phủ cam chịu. Dân tình cam chịu. Một dân tộc cam chịu. Loay hoay, xà quần trong lũ không ra lối thoát. Mặc cho lũ, kệ cho lũ. Cứ lũ xong – mì tôm cứu trợ. Lũ về – cứu trợ mì tôm. Không phải lũ chồng lên lũ, mà lũ chồng lên hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Riết rồi quen. Quen đến mất quên cả khái niệm phản kháng, như một lẽ tự nhiên. Quen đến kiếp đời không nhận ra cái vận số cả dân tộc còn đang ngụp lặn chìm vùi trong một cơn lũ khác, đại lũ – Cơn lũ tư tưởng đục đắm tanh hôi, mà cứ tưởng “vĩ đại quang vinh”. Cơn lũ mà thế gian đều đã biết đạp qua, bỏ lại mình ta. Khi chới với nhận ra thì thiên hạ đã bơi xa, quá xa rồi.

Nguồn
– http://truongduynhat.org/thoat-lu-thang-lu-tai-sao-khong/

_____________

Trần Hoàng:

Tốt nhất là dùng điện mặt trời. Các tấm Solar panel giờ đây đã rẻ, hiện đã xuống dưới 2 đôla/ 1kw, so với nhiệt điện than là 7 cents/ 1 kw, nhưng đốt than gây ô nhiễm môi trường, và cái giá để trả là quá lớn. Đốt than gây ô nhiễm không khí, gây mưa acid thiệt hại mùa màng, cây trái, bệnh suyễn, viêm xoang, viêm mũi, lao, sưng phổi… 30 triệu tấn Xỉ than thải ra hàng năm sẽ không biết đổ ở đâu cho hết.

Thủy điện thì gây lụt lội và thiệt hại nhân mạng, thiệt hại kinh tế, hàng trăm ngàn người dân bị thiệt hại hàng năm.

Tập đoàn Điện Lực EVN hầu như không nghĩ đến điện mặt trời.

 

_____________

30-9-2017

Thủy điện EVN và sứ mệnh lịch sử

30-9-2017

Với vai trò là một trong những trụ cột an ninh năng lượng quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được nhà nước giao đầu tư, quản lý, vận hành nhiều thủy điện lớn trên cả nước với mục tiêu tận dụng khai thác tiềm năng kinh tế – kỹ thuật các dòng sông, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Hồ Thủy điện Sơn La làm tốt nhiều nhiệm vụ

Cung cấp nguồn điện năng lớn

EVN hiện đang đầu tư, quản lý, vận hành 37 thủy điện, chủ yếu là các thủy điện vừa (từ 160MW) và lớn (2.400MW) với tổng công suất nguồn chiếm trên 16.000MW, khoảng 38% của cả hệ thống điện.

Ở miền Bắc, với sự giúp đỡ của Liên Xô, Nhà máy Thủy điện Thác Bà 108MW (trên sông Chảy, nhánh phải sông Lô) đã được xây dựng và hoàn thành năm 1972, nhưng do đế quốc Mỹ ném bom bắn phá nhiều lần bị hư hỏng nặng, những kỹ sư, công nhân ngành điện vừa chiến đấu vừa sửa chữa, phục hồi và sản xuất, bảo đảm cấp điện kịp thời cho hậu phương miền Bắc.

Cùng với các nhà máy điện khác, Thủy điện Thác Bà đã chiếm 70% sản lượng điện của hệ thống điện miền Bắc, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà. Đây cũng là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân thủy điện của ngành điện cho đến tận ngày nay.

Sau 1975, ngành điện đầu tư xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình 1.920MW trên Sông Đà và Nhà máy Thủy điện Trị An 400MW trên sông Đồng Nai.

Công trình Thủy điện Hòa Bình được coi là công trình thế kỷ xây dựng với sự giúp đỡ của Liên Xô, đã cho thấy hiệu quả mọi mặt về trị thủy và kinh tế.

Không chỉ giữ vai trò là nguồn điện chủ lực của quốc gia, thủy điện còn chống lũ và cung cấp nguồn nước tưới cho vùng trung du và Đồng bằng Bắc bộ, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, mỗi năm đóng góp hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế, phí để phát triển kinh tế – xã hội các tỉnh địa phương Tây Bắc.

Ở phía Nam, Thủy điện Trị An khi hoàn thành cũng đã kịp thời giải quyết tình trạng thiếu điện triền miên ở vùng kinh tế năng động của cả nước với sản lượng hàng năm khoảng 2 tỷ kWh; đóng góp cho địa phương hàng trăm tỷ đồng. Bên cạnh đó, hồ thủy điện đã điều tiết cấp nước, giữ mức nước chống ngập mặn ở hạ du sông Đồng Nai, trong đó có TP. Hồ Chí Minh.

Từ năm 1990 đến nay, nhất là sau Đại hội VI của Đảng, ngành điện đã làm chủ toàn diện các dự án thủy điện, từ khâu nghiên cứu, khảo sát thăm dò, tư vấn, thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, giám sát thiết kế, giám sát thi công cho đến nghiệm thu, đưa công trình vào vận hành. Giai đoạn này, phải kể đến việc thi công xây dựng song song 3 công trình thủy điện lớn ở khu vực miền Trung Tây Nguyên là: Yaly (720MW) trên sông Sê San, Thủy điện Hàm Thuận (300MW) và Đa Mi (172MW) trên sông La Ngà.

Tiếp đến là các công trình Thủy điện: Sông Tranh, A Vương, sông Bung.

Từ năm 2000 đến nay, các công trình Thủy điện Sơn La, Lai Châu đã được thực hiện; đặc biệt là hai công trình lớn đều do người Việt Nam tự thiết kế, thi công và đã vượt tiến độ xây dựng từ 1 – 3 năm.

Góp phần phát triển kinh tế – xã hội

Ông Phạm Hồng Phương – Giám đốc Ban A Sơn La – cho biết: Nếu như phần lớn kỹ thuật, thi công Thủy điện Hòa Bình phụ thuộc vào sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài thì đến công trình Thủy điện Sơn La – Lai Châu, số lượng chuyên gia chỉ “đếm trên đầu ngón tay”.

Nhờ sự phát triển của các công trình thủy điện, sản lượng điện từ thủy điện chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng cơ cấu nguồn điện, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế nhiều năm qua.

Năm 2014, sản lượng thủy điện đạt trên 62,5 tỷ kWh, chiếm 44,4%. Trong tổng sản lượng thủy điện, sản lượng điện của hệ thống sông Đà chiếm 27,8%, sông Đồng Nai chiếm 15,9%, sông Sê San chiếm 14,1%.

Năm 2016, sản lượng điện sản xuất từ thủy điện của EVN chiếm khoảng trên 30% của toàn hệ thống.

Ở các tỉnh thuộc Tây Bắc, miền Trung – Tây Nguyên, sản xuất điện từ thủy điện (phần lớn của EVN) đã đóng góp trên 40% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh và mang lại nguồn thu cho ngân sách địa phương hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm.

Đơn cử như Thủy điện Hòa Bình đã nộp ngân sách đạt 900 – 1.200 tỷ đồng/năm, xấp xỉ 50% tổng thu ngân sách của tỉnh Hòa Bình.

Thủy điện Sơn La, Huội Quảng đóng góp cho ngân sách địa phương trên 1.000 tỷ đồng, chiếm 1/3 ngân sách của tỉnh.

Chỉ tính riêng năm 2016, Thủy điện Lai Châu đã đóng góp 474,352 tỷ đồng, nộp quỹ dịch vụ môi trường rừng 184,75 tỷ đồng.

Tương tự, các thủy điện của EVN ở khu vực miền Trung cũng đóng góp hàng trăm tỷ đồng đến gần 1.000 tỷ cho ngân sách địa phương.

Bên cạnh đó, thủy điện đã làm tốt công tác vận hành liên hồ chứa, góp phần cắt, giảm lũ cho vùng hạ du mùa mưa bão; cung cấp nước tưới, sinh hoạt cho người dân vùng hạ lưu.

Chỉ riêng 3 hồ Thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà đã cấp hàng tỷ m3 nước phục vụ tưới cho hơn 600.000ha đất nông nghiệp của đồng bằng Bắc bộ và Trung du miền núi phía Bắc.

Các hồ thủy điện của EVN khu vực miền Trung – Tây Nguyên như: Đa Nhim, Ialy, sông Tranh, sông Bung, Đồng Nai… cũng điều tiết hàng tỷ m3 nước cho sản xuất lúa, hoa màu, cây công nghiệp cà phê, cacao…, gần đây là chống hạn, đẩy mặn cho khu vực hạ lưu.

 

Những công trình thủy điện của EVN đã làm tốt sứ mệnh: Khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; chống lũ, chống hạn mặn và tưới tiêu nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân. Đồng thời, đóng góp nguồn ngân sách lớn cho nhà nước; giúp thay đổi bộ mặt hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Đình Dũng

_______________

Tập đoàn Điện Lực VN

Chính phủ điểm danh ‘ông lớn’ gánh nợ khủng

Thứ Bảy, 21/10/2017

(Doanh nghiệp) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam… có tên trong danh sách này.

Báo cáo hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2016 do vừa được Chính phủ gửi đến Quốc hội. Ký báo cáo là Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng.

Theo báo cáo thì tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2016, có 583 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Trong đó có 7 tập đoàn kinh tế  và 67 tổng công ty nhà nước.

Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, theo báo cáo hợp nhất của các tập đoàn, tổng công ty có tổng số nợ phải trả là 1.537.292 tỷ đồng, tăng 3% so với thực hiện năm 2015.


Tính đến thời điểm 31/12/2016, Chính phủ cho biết nợ phải trả quá hạn của Tổng công ty Giấy Việt Nam (Dự án Nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam) là 2.736 tỷ đồng. Trong đó nợ phải trả Bộ Tài chính (khoản nợ Bộ Tài chính ứng ra từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài để trả nợ thay cho Tổng công ty Giấy Việt Nam) là 1.610 tỷ đồng.

-Một số “ông lớn” được điểm danh có nợ phải trả lớn như tập đoàn Điện lực Việt Nam nợ phải trả 486.981 tỷ đồng (công ty mẹ: 313.578 tỷ đồng).

-Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam nợ phải trả 100.729 tỷ đồng (công ty mẹ: 64.510 tỷ đồng).

-Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel, nợ phải trả 75.111 tỷ đồng (công ty mẹ: 39.674 tỷ đồng)…

-Ngoài ra, Công ty TNHH một thành viên Nguyên liệu Giấy Miền Nam là công ty con 100% vốn của Tổng công ty Giấy Việt Nam có dự án đầu tư kinh doanh rừng thông tại tỉnh Kon Tum cũng không có khả năng trả nợ các khoản nợ đến hạn. Đến 31/12/2016, nợ phải trả cho Chi nhánh Ngân hàng phát triển Kon Tum là 504.493 triệu đồng (nợ gốc và lãi), Tổng công ty Giấy đã có văn bản xin gia hạn nợ vay đến 1/1/2018 và trình cấp có thẩm quyền về cơ chế vay đối với phương án chuyển đổi 25 năm của dự án, tuy nhiên chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Chính phủ nhìn nhận, mặc dù theo quy định việc huy động vốn vượt quá mức 3 lần vốn chủ sở hữu phải có ý kiến chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhưng vẫn còn 18 tập đoàn, tổng công ty trong số 91 doanh nghiệp có mức huy động vốn vượt quá mức trần huy động (3 lần vốn chủ sở hữu).

Về lỗ phát sinh, báo cáo nêu, theo báo cáo hợp nhất của Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, Tổng công ty viễn thông toàn cầu Gtel, Tổng công ty Lương thực Miền Nam và Công ty TNHH 1TV Duyên Hải là 1.305,026 tỷ đồng.

Báo cáo hợp nhất có 17 tập đoàn, tổng công ty còn lỗ lũy kế là 12.504 tỷ đồng và 6 công ty mẹ còn lỗ lũy kế là 4.595 tỷ đồng, Bộ trưởng thông tin thêm.

Trước đó, Kiểm toán Nhà nước cũng có báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2017 đã được gửi tới các đại biểu Quốc hội để chuẩn bị cho kỳ họp thứ 4.

Theo báo cáo này, Kiểm toán 13 tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Kiểm toán Nhà nước cũng đã phát hiện nhiều tồn tại, sai sót, trong công tác quản lý tài chính, tài sản công như: khai thác tài nguyên, khoáng sản khi chưa được cấp giấy phép, giấy phép hết hạn hoặc khai thác vượt công suất; chưa nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, lợi nhuận sau thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Các doanh nghiệp này còn để phát sinh nợ phải thu khó đòi, hàng hóa tồn kho, ứ đọng, kém, mất phẩm chất với giá lớn; hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư ra nước ngoài hiệu quả thấp, xác định giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu, giá trị thực tế tài sản cố định, giá trị các khoản đầu tư tài chính không đầy đủ hoặc bàn giao tài sản không đúng thực tế dẫn đến xác định thiếu giá trị doanh  nghiệp khi cổ phần hóa; quản lý đất đai lỏng lẻo, thiếu hồ sơ pháp lý, bị lấn chiếm. Phần lớn doanh nghiệp hạch toán tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí còn sai sót, nhiều doanh nghiệp có bộ máy tổ chức cồng kềnh, năng suất lao động thấp.

Thông qua kết quả kiểm toán của 2 tháng cuối năm 2016 và 9 tháng đầu năm 2017, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xử lý trách nhiệm của các tập thể, cá nhân có liên quan đến các sai phạm được phát hiện tại các báo cáo kiểm toán.

Chuyển hồ sơ hai vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện thông qua kết quả kiểm toán sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an để điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Gồm vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ dầu khí Hoàng Ngân và vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Công ty Cổ phần DAP số 2 – Vinachem thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và một số tổ chức cá nhân có liên quan trong quá trình đầu tư, xây dựng Dự án Nhà máy sản xuất phân bón Diamon phốt phát (DAP) số 2.

Minh Thái (Tổng hợp)

 

____

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: