Trần Hoàng Blog

►Để tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Chính sách Cải Cách Điền Địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Posted by hoangtran204 trên 31/10/2017

 

 

Chính sách Cải Cách Điền Địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Lâm Lễ Trinh

(Đại Học Sư Phạm Saigon)

 

CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT MIỀN NAM.

Khác hẳn chính sách cải cách ruộng đất miền Bắc, chế độ miền Nam đặt lên ưu tiên hàng đầu chính sách tư hữu hoá ruộng đất cho tất cả tá điền, mỗi gia đình làm chủ thật sự một mãnh ruộng tư hữu.

Trong 20 năm (1955-1975), chính phủ miền Nam đã thực hiện 2 lần cải cách điền địa:

– Cuộc cải cách điền địa lần thứ nhất do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện (1955-1963)

– Cuộc cải cách điền địa lần thứ nhì do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chủ trương (1967-1975)

I – CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Trở thành Thủ tướng dưới chế độ quân chủ của Hoàng đế Bảo Đại (7-7-1954), Ông Ngô Đình Diệm khẩn trương, sau Hiệp định Genève được ký kết, ban hành 2 Dụ (số 2 và sổ 7) đánh dấu bước đầu của chính sách cải cách điền địa. Dụ sô’ 2 và Dụ số 7 nầy thiết lập quy chế tá canh (22) gồm các điều khoản chủ yếu như sau:

– Địa tô: Cho đến cuối năm 1955, miền Nam không hề áp dụng thủ tục ký hợp đồng cho thuê mướn ruộng đất canh tác.

Thường thường có sự thỏa thuận bằng miệng giữa chủ điền và tá điền. Chiếu theo quy luật cung và cầu, chủ điền áp đặt các điều kiện khắc khe bất lợi cho tá điền. Địa tô chẳng hạn thường thật cao, từ 40% (ở môt số tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long còn thưa đân) đến 60% vụ lúa thu hoạch (ở các tỉnh trung ương thuộc đồng bằng sông Cửu Long, bị áp lực nhân mãn).

Từ khi quy chế tá canh được ban hành, địa tô nầy được giảm bớt phân nửa:

* 15% vụ lúa thu hoạch (trường hợp ruộng cho một vụ mỗi năm).

* Từ 15% đến 25% vụ lúa chánh thu hoạch, đối với các ruộng lúa cho 2 vụ mỗi năm.

– Thời gian cho thuê ruộng đất. Thời gian cho thuê ruộng đất được quy định là 5 năm (thay vì 2-3 năm hoặc 5 năm truớc kia, tùy theo tỉnh).

Hợp đồng đuơng nhiên được tái ký giữa chủ điền và tá điền. Tá điền có thể xin hủy bỏ tái ký hợp đồng, nhưng phải thông băo cho chủ điền biết trước 6 tháng.

Chủ điền cũng có thể từ chối, không tái ký hợp đồng, với điều kiện là phải thông báo cho tá điền biết truớc 3 năm.

– Trường hợp ruộng đất bị bỏ hoang.

Diện tích ruộng lúa bị bỏ hoang trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập (không có chủ điền hiện diện nhìn nhận quyền sỡ hữu) được ước lượng khoảng 500.000 ha.

Những ruộng lúa nầy một phần lớn thuộc quyền sở hữu của các trung điền chủ (từ 5 đến 10 ha) và đại điền chủ (từ 50 ha trở lên). Họ phải rời bỏ nông thôn để tránh quân “kháng chiến” Việt Minh (Cộng sản) khủng bố.

Họ sống tỵ nạn ở các thành phố. Một số người thuộc 2 thành phần chủ điền nầy trở thành công chức, và một số khác hành nghề tư do (thương nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, xuất nhập cảng vv…).

Nếu họ không có mặt tại chổ, lúc chính quyền địa phương kiểm kê ruộng- đất, thì đương nhiên ruộng đất nầy thuộc quyền sở hữu quốc gia. Chính quyền địa phương sẽ cấp phát không cho tá điền.

Một năm, sau khi áp dụng quy chế tá canh, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm (trở thành tổng thống VNCH) ban hành Dụ số 57 ngày 22-10-1956, thiết lập chính sách cải cách điền địa.

Sau dây là các điểm chính (23):

– Số diện tích đất tư hữu được quyền giữ lại. Mỗi điền chủ được quyền giữ tối đa 100 ha ruộng lúa, trong số nầy 30 ha được phép trực canh, và 70 ha phải cho tá điền thuê, đúng theo quy chế tá canh.

– Bồi thường thiệt hại. Ðiền chủ bị truất hữu được chính phủ bồi thường thiệt hại một cách công bằng và thỏa đáng:

• 10% trị giá ruộng đất bị truất hữu đuợc trả ngay bằng tiền mặt.
• 90% được trả trong thời hạn 12 năm, dưới hình thức là trái phiếu được chính phủ bảo đảm, với lãi suất là 3% mỗi năm.

Đương sự có thể sử dụng trái phiếu nầy để trả thuế điền thổ hoặc mua các chứng khoán của các xí nghiệp quốc doanh.

– Bán lại truất hữu cho tá điền. Ruộng bị truất hũu được chính phủ bán lại cho các tá điền (mỗi gia đình được quyền mua lại tối đa 5 ha) và họ phải trả cho nhà nước trong 12 năm (vốn và lãi).

Giá tiền ruộng đất bằng với giá tiền thiệt hại mà chính phủ trả cho chủ điền, khi truất hữu ruộng đất của họ.

Theo Bộ Canh Nông, thì có 1.085 đại điền chủ (có trên 100 ha) bị truất hữu bởi Dụ số 57, và số diện tích ruộng đất truất hữu đạt 430.319 ha (24).

Ngoài ra, còn thêm vào đấy có 220.813 ha ruộng đất của Pháp kiều (chiếu theo Hiệp Ðịnh Việt-Pháp được ký kết ngày 11-9-1958), như vậy, tổng số diện tích ruộng lúa được truất hữu lên đến 651.182 ha.

Số tá điền được hữu sản hóa ruộng đất (từ 1957-1963) đạt 123.198 nguời, cộng thêm vào đấy 2.857 tá điền khác đã trực tiếp thỏa thuận mua lại các đại điền chủ ruộng lúa của họ, đưa tổng số tá điền được hữu sản hóa ruộng đất lên thành 126.050 tiểu điền chủ (duới 5 ha), với tổng số diện tích truất hữu là 252.218 ha.

Chúng ta có thể đưa ra một vài nhận xét dưới đây:

– Mặc dù bị truất hữu, giới điền chủ giàu có tỏ ra hài lòng.

Thật vậy, trong thời chiến tranh giành độc lập, một phần lớn các trung điền chủ (5-10 ha) và đại điền chủ (50 ha hoặc nhiều hơn nữa) phải rời bỏ nông thôn. Họ phải bỏ hoang ruộng đất, nhà của v.v… Tài sản của họ bị xem như là đã mất. Vì họ vắng mặt, nên Việt Minh xung công ruộng đất của họ, chia ra thành nhiều lô và phân phát không cho các tá điền. Ðịa tô bị hủy bỏ.

Quy chế tá canh và Dụ số 57 khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất của trung và đại điền chũ, do đó, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thuờng thiệt hại khi bị truất hữu. Hơn nữa, giới dại điền chủ còn được quyền giữ lại 100 ha, mà lợi tức mỗi năm (nhờ thâu địa tô) thừa nuôi sống họ một cách thoải mái.

– Tá điền cũng không chống đối chính sách cải cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Diệm. Thật vậy, chiếu theo quy chế tá canh, tất cả nông dân đã trồng trên mảnh ruộng do Việt Minh cấp phát trong thời chiến, đều có quyền tiếp tục canh tác trên mảnh ruộng nầy, với điều kiện phải trả địa tô. Như vậy, quyền tá canh của họ vẫn được chính phủ nhìn nhận và bảo đảm.

– Ðịa tô được giảm hơn 50% so với thời kỳ thuộc địa, như thế rất có lợi cho tá điền. Hơn nữa, Dụ Số 57 tạo cho tá điền một cơ hội tốt để trở thành tiểu điền chủ.

Song song với cải cách điền địa, Tống Thống Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách được gọi là “dinh điền” và “khu trù mật”, nhằm mục đích:

– Giải quyết công ăn việc làm cho 850.000 đồng bào miền Bắc di cư vào Nam tỵ nạn Cộng sản.

– Giải quyết nạn thất nghiệp hoành hành các đồng bằng duyên hải Trung phần Việt Nam.

Nhiệm vụ thực hiện các trung tâm dinh điền và các khu trù mật được giao phó cho Phủ Tống ủy Dinh Ðiền.

Nhờ sự viện trợ kỹ thuật và tài chánh dồi dào của Hoa Kỳ, Pháp, Tố Chức Sức Khỏe Thê’ Giới (OMS), Phủ Tổng ủy Dinh Điền thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi (1957- 1961) 169 trung tâm tái định cư (trong số nầy, có 25 Khu Trù Mật, tất cả đều tập trung trên đồng bằng sông Cửu Long).

Diện tích đất trồng được khai hoang hay được tái canh tác đạt 109.379 ha (26). Các trung tâm tái định cư nầy đã tiếp nhận 50.080 gia đình, tính ra có đến 250.000 người tái định cư ở những nơi nầy.

• Các Trung tâm Dinh Điền là những làng mạc mới được thành lập để đón nhận đồng bào di cư miền Bắc và giới nông dân nghèo khó- của các đồng bằng duyên hải Trung phần Việt Nam di dân đến đây sinh cơ lập nghiệp.

Mỗi khu dinh điền tập trung từ 1.000 đến 1.500 dân, có chợ trời, một nữ y tá, một cô mụ đở đẻ, một trường tiểu học có 8 lớp.

Trên đồng bằng sông Cửu Long, Phủ Tống Ủy Dinh Điền cấp phát không từ 1 đến 3 ha cho mỗi gia đình định cư; và 1 ha đất khẩn hoang tại miền Ðông Nam Phần và trên Cao nguyên Trung Phần.

Mỗi gia đình định cư có quyền khẩn thêm đất hoang để đạt đến 5 ha/mỗi gia đình. Sau đó, chính phủ cấp phát cho họ một bằng khoán xác nhận quyền sở hữu ruộng đất nầy.

Ngoài ra, mỗi gia đình còn được chính phủ trợ cấp lương thực 1 năm cho đến khi họ bắt đầu thu hoạch mùa màng đầu tiên.

Các nông cụ (cuốc, búa, mác, xẻng, phân bón hóa học…), hạt giống, con giống (gà, vịt) được nhà nước cấp phát không tốn tiền mua.

Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay tiền lãi suất thấp, để họ có phương tiện tài chánh canh tác, hoặc để mua một con trâu hay một con bò, một con heo nái hoặc heo nọc giống ngoại quốc cho năng suất cao (Yorkshire, Landrace, Duroc Berkshire).

• Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đây sinh sống ở những địa phương nào chưa được bảo đảm an ninh”.

Các thôn dân sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược của cộng sản miền Bắc, Tổng thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với “Việt Cộng”, giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được.

Mỗi Khu Trù Mật có khoảng từ 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tầng cơ sở giống như của thành phố.

• Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).
• Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).

Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).

• Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất mầu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ lớn lên trở thành điền chủ.

• Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cũng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với nền nông nghiệp địa phương.

• Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều tư bản đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v…).

• Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng sản Bắc Việt.

Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn được trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một “tiền đồn” để ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.

Bởi vậy, các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh.

Ðồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp.

Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000m2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia dình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh.

– Thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc. Ðể yểm trợ chính sách cải cách điền địa, Tổng thống Diệm thành lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc, chiếu theo Nghị định sô’ 65 DTCC (tháng 4-1957). Ðây là một cơ quan quốc doanh tự trị, có nhiệm vụ phát triển mọi lãnh vực kinh tế nông thôn thôn (nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm ngiệp, tiếu thủ côn nghiệp). Để chống lại nạn cho vay nặng lãi, Quốc Gia Nông Tín Cuộc chấp thuận cho nông dân vay tiền để làm ruộng một cách dễ dàng, khác hẳn với các cơ quan nông tín của chể độ thuộc địa trước kia.

Căn cứ vào Khả năng Sản Xuất của nông dân, Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay nợ mà không đòi hỏi vật thế chấp, hay người bảo lãnh:

• Lãi Suất 1% mỗi tháng, nếu nông dân vay mượn ngắn hạn (dưới 18 tháng).

• Lãi Suất 8%/năm, nếu vay trung hạn (18 tháng đến 5 năm).

• Lãi Suất 6%/năm, nếu vay mượn dài hạn (5 đến 15 năm).

• Lãi Suất rất thấp chỉ có 5%/năm đối với các hợp tác xã nông nghiệp.

Trong 9 năm (1955-1963), Quốc Gia Nông Tín Cuộc đã cho vay trong tất cả các lãnh vực nông nghiệp số tiền trên 4 tỷ 600 triệu đồng được phân chia như sau:

• 85% cho vay ngắn hạn, để tiểu điền chủ (1 đến 5 ha) và tá diền có tiền nông làm ruộng.

• 7% Cho vay trung hạn để trồng các; loại cây đa niên.

• 8% Cho vay dài hạn để thực hiện hạ tầng cơ sở như thủy nông hoặc thiểt lập một cơ sở tiểu thủ công nghiệp chẳng hạn.

Quốc Gia Nông Tín Cuộc cũng cho những người tái định cư vay để mua ruộng đất gần nơi cư ngụ để canh tác.

Các cán bộ Xây dựng nông thôn có nhiệm vụ cố vấn, hướng dẫn nông thôn áp dụng phương pháp đa canh.

Ngoài ngành trồng lúa, nhà nước khuyến khích họ trồng các loại cây cho lợi tức cao như dừa, đậu phộng, mía, khoai mì, cây ăn trái, để tạo cơ hội tốt cho giới kinh doanh địa phương phát triển các kỹ nghệ chế biến thực phẩm như dầu ăn, đường, bột khoai mì v.v…Những tiểu thủ công nghiệp nầy tạo công ăn việc làm cho dân tại đây, hảm bớt một phần nào hiện tượng di dân cô truyền từ nông thôn ra thành thị.

Nhờ an ninh được vãn hồi trong Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật, Tổng thống Diệm đã thành công cải thiện trong một khoảng thời gian ngắn ngủi điều kiện sinh sống của giới nông dân nghèo khó:

– Gia đình họ được tư hữu hóa một mãnh đất trồng (từ 1 đến 5 ha).

– Con cái họ có cơ hội cấp sách đến trường, mà trước kia, chúng không hề có dịp may để học hành.

– Ðiều kiện sức khỏe của dân chúng được cải thiện rõ rệt. Các nhóm y tế lưu động viếng thăm có định kỳ các Khu Dinh Ðiền. Nhờ viện trợ kỹ thuật và tài chánh của Cơ Quan Y Tể Liên Hiệp Quốc và các nước bạn (Hoa Kỳ, Pháp), nhiều đoàn y tế có nhiệm vụ rải thuốc bột DTT, đào giếng (để cung cấp nước uống), lấp bằng các vùng sình lầy nước ứ đọng, để diệt trừ các ổ phát sinh ra các bệnh truyền nhiễm như bệnh sốt rét; hoặc các bệnh tật khác có tính cách giới hạn trong địa phương.

Người ta cũng nhận thấy kỹ thuật cạnh tác và chăn nuôi đạt nhiều tiến bộ ở các Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật. Nhiều trại nông nghiệp hướng dẫn nông dân. Duới sự hướng dẫn của các cán bộ nông thôn, cày, bừa, trục, máy cày được áp dụng. Nông đân cũng được hướng dẫn áp dụng đa canh, lựa chọn giống cho năng suất cao, Sử dụng phân hóa học thích hợp với từng loại đất trồng và khí hậu ở mỗi địa phương v.v…

Chăn nuôi heo ngoại quốc, heo lai giống địa phương cho năng suất cạo được phát triển dần dần, kỹ thuật chăn nuôi nầy được nông dân ở các làng bao quạnh các Khu Dinh Ðiền và Khu Trù Mật noi gương theo.

Trao đổi thương mãi giữa các Khu Dinh Ðiền, Khu Trù Mật và thành phố lân cận ngày càng phát triển, vượt khỏi hẵn ra ngoài địa phương.

Dần dần, Khu Trù Mật biến đổi trở thành một thành phố nhỏ. Nhờ tín dụng lãi suất thấp, những nhà tiểu công nghiệp vay tiền thành lập các tiểu xí nghiệp. Nhiều sinh hoạt xưởng chữa xe, máy cày, trạm bán thuôc tây v.v… mọc lên như nấm.

Từ năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định biến đổi tất cå các làng mạc cổ truyền thành “ấp chiển lược”, theo kiểu của các Khu Dinh Điền.

Trong bản thông điệp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được chuyển đến Quốc Hội (1-10-1962), Ông cho biết là “thôn dân sinh sống an toàn trong 5.758 Ấp Chiến Lược, với tổng số dân lên đến 9.253.000 nguời” (26).

Khi thực hiện quy chế tá cành và cải cách điền địa, kèm theo chính sách dinh điền và khu trù mật Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhắm mục đích xóa bỏ dần chế độ phong kiến về quyền sở hữu ruộng đất, xóa bỏ dần những bất công xã hội thời thuôc địa. Ông cũng tìm cách nâng cạo dần mức sống của giới nông dân, cô lập dân chúng với Việt Cộng.

 

Trong 9 năm cầm quyền (1955-1956), có 176.130 gia đình nghèo khó thuộc các thành phần tá điền và nông dân tái định cư trở thành tiểu điền chủ từ 1 đến 5 ha ruộng đất trong số nầy:

– 126.050 tá điền, với tổng số diện tích là 252.218 ha (chiếu theo Dụ số 57).

– 50.080 gia đình tái định cư với tổng số diện tích là 109.879 ha.

Tổng cộng, 176.180 gia đình nghèo khó, trở thành điền chủ (khoảng gần bằng 20% tổng số tá điền miền Nam)’ với tổng số diện tích là 361.595 ha.

Nhờ kỹ thuật cạnh tác tiến bộ và nhờ sử dụng phân bón hóa học, năng suất ruộng lúa gia tăng: từ 1,4 tấn/ha trong những năm 1950-1954, năng suất nầy đã vọt lên 2t/ha năm 1960-1963. Sự kiện nầy rất có ích lợi cho nông dân và lợi tức của họ không ngớt gia tăng đều, đồng thời VNCH bắt đầu tái xuất cảng gạo và phó sản: 70.000 tấn năm 1955, 323.000 tấn năm 1963 (được xếp hạng nhì, sau các sản phẩm được xuất cảng). (27)

Mặc dầu kinh tế nông nghiệp được cải tiến, chính sách cải cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đem lại kết quả khiêm tốn, hạn chế. Số tá điền trở thành chủ điền ít oi. Chỉ có gần 20% được hữu sản hóa, trong khi ấy, trên 80% chưa được thỏa mãn.

Theo nguồn tin chính thức(28), 795.480 gia đình nông dân còn tiếp tục phải trả địa tô cho chủ điền vào năm 1960-1968, với tổng sổ diện tích là 1.331.589 ha (nghĩa là 74% tổng số diện tích ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long).

Tuy nhiên, nếu ta đặt lại trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thì ta sẽ thấy rằng chính sách cải cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất thích hợp với hoàn cảnh xã hội và kinh tế. Thật vậy, sau Hiệp định Genève (Tháng 7-1954), Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải đối phố với nhiều vấn đề khó khăn:

– Tái xây dựng đất nước sau 9 năm chiến tranh tàn phá.

– Tái định Cư cho 850.000 đồng bào miền Bắc di cư vào nam tỵ nạn Cộng sản.
– Nội chiến vào năm 1955: một vài đảng phái (được lực lượng Bình Xuyên và một vài tôn giáo ( Cao Ðài, Hòa Hảo tích cực ủng hộ) vẫn trung thành với Hoàng để Bảo Ðại, chống đối bằng vũ trang, tìm cách đảo chánh lật đổ chính quyền của Thủ tướng Ngô Ðình Diệm lúc bấy giờ.

– Chiến tranh xâm lược của Cộng sản Hà Nội vẫn đe dọa miền Nam sau Hiệp định Genève 1954.

Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã thắng cuộc nội chiến và hủy bỏ chế độ quân chủ của Bảo Đại (sau một cuộc trưng cầu dân ý).

Chế độ Cộng Hòa đã được ban hành ngày 26-10-1956. Tổng thống Ngô Đình Diệm được lòng dân và nhân cơ hội hòa bình được vãn hồi vào những năm 1956-1960, Ông tìm cách cũng cố quyền hành và tái phát triển nền kinh tế quốc gia.

Chính sách nầy đi song hành với việc tăng cường quân sự, để đối phó lại hiểm họa xâm lược của Cộng sản miền Bắc.

Chính hiểm họa cộng sản mới là mối ưu tiên nhất của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Để đạt chiến thắng trong cuộc chiến tương lai đầy cam go, ông cần tập hợp, thực hiện sự đoàn kết của toàn dân.

Sinh quán tại Quảng Bình (Trung nguyên Trung phần Việt Nam) năm 1903, Tổng Thống Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình “quan lại” nổi tiếng ở miền Trung. Ông là người sùng đạo Thiên Chúa, được nhân dân miền Trung và đồng bào Công Giáo miền Bắc đi cư vào Nam triệt để ủng hộ. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng cần đến sự ủng hộ của nhân đân đồng bằng sông Cửu Long. Họ chiếm 2/3 dân số VNCH (29). Bởi Vậy, trong cải cách điền địa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cần phải lưu tâm đến nguyện vọng của nhân dân miền Nam nầy. Trên 4/ 5 diện tích ruộng lúa tập trung trong tay của giới trung điền chủ (5-50 ha) và đại điền chủ (trên 50 ha). Mặc dù thiểu số (72.073 nguời) (30), so với 1 triệu gia đình tá điền, trung điền chủ (65.7 57 người) và đại điền chủ (6.316 nguời) thuộc các thành phần ưu tú của đất nuớc, mà trong số những người nầy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chọn các cộng sự viên. Ða số thuộc những người quốc gia, có khả năng, mà Tổng Thống có nhiều tin cậy. Họ trực tiếp lãnh đạo dân, từ trung ương (các bộ) đến địa phương (tỉnh, quận, huyện, xã-ấp). Tuy nhiên, Ông không thể lãng quên giới nông dân nghèo khó, bị áp bức dưới thời thuộc địa dẫy đầy bất công xã hội. Việt Minh đã biết cách khai thác khéo léo hoàn cảnh nầy, trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập (hủy bỏ tá canh, phát không ruộng đất cho tá điền ở các vùng “giải phóng”). Nhờ chiến thuật nầy, họ đã thành công lấy cảm tình thôn dân và được họ tích cực ủng hộ. Nhờ đó, Việt Minh đã “chiến đấu” đạt đến thắng lợi. Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, nông dân miền Nam vẫn còn giữ lại nhiều kỷ niệm, nhiều cảm tình đối với các lãnh tụ miền Bắc, nhất là “Bác Hồ kính yêu”.

(Theo tài liệu của đảng CSVN trên mạng internet trong thời gian này ở miền Bắc, ông HCM phát động đấu tố Cải Cách ruộng đất 1953-1956, giết 172.000 địa chủ, và hơn 550.000 người bị liên lụy mất hết nhà cửa, bị đàn áp kéo dài cho đến 1975. Đặc biệt, đến 1959, đảng csvn tước đoạt ruộng đất khỏi tay nông dân bằng cách ép họ vào hợp tác xã nông nghiệp. Thế là nông dân nghèo trắng tay, trở thành công nhân đi làm ruộng cho hợp tác xã. Chủ đất giờ đây là đảng csvn. Đất đai thuộc sở hữu “toàn dân”, tức sở hữu tập thể và do nhà nước quản lý. So sánh chính sách điền địa giữa 2 miền nam bắc xảy ra trong cùng thời gian 1953-1963 như thế để thấy ai là thiện, ai là ác. Trần Hoàng ghi chú)

Bởi vậy, nhiệm Vụ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm rất tế nhị. Làm sao đã phá huyền thoại Việt Mính? Họ là những người Cộng sản độc tài, khát máu. Họ không bao giờ tôn trọng nhân quyền, tôn trọng quyền sở hữu ruộng đất, trái ngược hẳn những gì họ đã làm, đã thực hiện, trong suốt 9 năm chiến tranh giành độc lập (19/1.5-1954).

Sau Hiệp định Genève, 850.000 đồng bào miền Bắc di cư vào Nam tỵ nạn Cộng Sản (1954-1955) và chính sách cải cách ruộng đất đẫm máu của Hồ Chí Minh (1955-1956) đã gây nhiều tiếng vang ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Mặc dù thế, chính phủ Sàigòn đã không thành công đã phá huyền thoại Việt Minh, không thành công thuyết phục nhân dân miền Nam về hiểm họa Cộng sản. Họ không tin hoặc không muốn tin. Ðể đối phó lại Cộng sản miền Bắc trên phương diện chính trị, Tổng thống Ngô Đình Diệm hành động ngược lại. Nhưng làm thế nào tạo điều kiện thuận lợi để tá điền trở thành chủ điền thật đông đảo, mà không gây nhiều thiệt hại và sự bất mãn của các đại điền chủ, vì ruộng đất họ sẽ bị truất hữu. Họ lại là thành phần quốc gia, là cộng sự viên đắc lực của Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Vì đặc biệt lưu tâm đến vấn đề đoàn kết quốc gia, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã áp dụng chính sách cải cách điền địa ôn hoà, một sự chọn lựa thận trọng. Chỉ một thành phần nhỏ bé thuộc giới đại điền chủ bị truất hữu thôi (các đại điền chủ có trên 100 ha): 2.035 bị truất hữu, nghĩa là 82% tổng số đại điền chủ có trên 50 ha.

Trong 3 năm cuối cùng cầm quyền (1960-1963), Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất khó thi hành chính sách cải cách điền địa vì chiến tranh du kích không ngớt gia tăng. Bằng bất cứ giá nào, Việt Cộng cũng tìm cách phá hoại, đánh bại chuơng trình cài cách điền địa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhằm mục đích ngăn chặn, không để ông củng cố quyền hành ở miền Nam:

– Cấm tá điền làm đơn xin mua ruộng đất truất hữu.

– Cấm tá điền ký hợp đồng với chủ điền, chiếu theo quy chế tá canh của Tổng thống Diệm.

– Hủy bỏ địa tô.

– Ám sát cán bộ và chuyên viên nông thôn, đặc trách hướng dẫn áp dụng thì hành quy chẽ tá canh và cài cách điền địa.

– Phá hoại các nông thôn kiểu mẫ hướng dẫn nông dân canh tác, phá hoại các trung tâm thí nghiệm trồng tỉa và chăn nuôi v.v…

Dưới sự đe dọa của Việt cộng, nông dân không dám lập thủ tục hành chánh để mua ruộng đất truất hũu, và điền chủ bắt buộc phải từ bỏ quyền địa tô.

Diện tích ruộng lúa truất hữu có sẵn để hữu sản hóa cho các tá điền là 405281 ha [34]

– Diện tích ruộng truất hữu teho Dụ số 57 ngày 22-10-1956 là 651.132 ha.
– Diện tích ruộng truất hữu có sẵn để hữu hóa tá điền là: 631.182 ha -245.851ha : 405281 ha.

Vì không có đơn xin hữu sản hóa ruộng đất, nên số diện tích ruộng đất nêu trên bị bỏ hoang. Như vậy, chính sách cãi cách điền địa của Tổng Tổng thống Ngô Đình Diệm bị gặp nhiều trở ngại, vì nông thôn thiếu an ninh. Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm qua đời (cuộc đảo chánh ngày l-11-1963, chế độ chính trị miền Nam trở nên bất ổn. Các cuộc đảo chánh thuờng xuyên xảy ra, chính phủ nội các bị thay đổi nhiều lần. Do đó, đường lối, chính sách thiếu liên tục. Chính sách cãi cách điền địa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị gián đoạn từ năm 1963 đến năm 1967, đồng thời chính sách dinh điền và khu trù mật cũng tạm đình chỉ.

Trở thành “Chủ tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng”, Tướng Duơng Văn Minh quyết định hủy bỏ “Ấp Chiến Luợc”, không được lòng dân. Chính phủ đổi tên lại gọi là “Ấp Ðời Mới” hay “Ấp Tân Sinh”. Thừa dịp có sự sự tranh chấp quyền hành trong nội bộ của chính quyền miền Nam, “Mặt Trận Giåi Phóng” đã tìm cách gây ản hưởng và kiểm soát nông thôn, áp dụng chiến thuật cổ điển, lấy nông thôn bao vây thành thị. Vì nền an ninh nông thôn bị xuống cấp trong những năm 1963-1967, nên Việt Cộng đã thành công len lỏi xâm nhập vào các trung tâm dinh điền và các ấp đời mới. Họ thành lập các tổ đặc công khủng bố nhằm mục đích gây ra tình trạng thiếu an ninh thường trực ở nông thôn. Họ gia tăng bắt cóc cán bộ nông thôn, ám sát các yếu nhân dịa phuơng, các cán bộ đặc trách an ninh xã-ấp v.v…

– Ở những vùng đặt dưới quyền kiểm soát của họ, họ phân chia ruộng đất thành từng lô và phát không cho các tá điền giống y như họ đã thực hiện trong thời chiến tranh giành độc lập.

Bị mất kiểm soát một phần lớn thôn dân, chính quyền miền Nam khó có thể đơn phương đương đầu lại chiển tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nhờ sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ và các nước bạn khác (Úc, Thái lan, Phi Luật Tân, Nam Hàn) vào năm 1965, VNCH đã thành công khôi phục lại tình hình quân sự và chính trị, nông thôn dần dần được vãn hồi an ninh. Trật tự ở thành thị cũng được đảm bảo, sau khi Hiến Pháp được ban hành(ngày 1-4-1967). Tiếp liền theo đó, có Cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội mới. Trở thành Tổng thống của nền Ðệ nhị cộng hòa, Tướng Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục công trình dang dở cải cách điền địa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Gs Lâm Thanh Liêm

_______________

 

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM có bất công gia đình trị, tôn giáo trị?

Dưới đây là những Phật Tử cộng tác với TT Diệm:
– Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống.
– Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng.
– Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định.
– Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
– Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng.
– Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng.
– Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng.
– Ông Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng.
– Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký.
– Ông Trần Sử, Bí Thư.
Toàn Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử.
Bên Quốc Hội có 75 trong tổng số 123 dân biểu Quốc Hội là Phật Tử.
Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công Giáo.
Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật Tử. “

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM Là một người hiếu sát, lê máy chém đi toàn miền Nam?)

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM là một Tín hữu Công Giáo.
1. Trong thời gian 9 năm giữ quyền điều hành đất nước TT Diệm chưa hề ra lệnh hành quyết một tử tội nào.
2. Tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh do Toà Đại Hình Cần Thơ tuyên án tử hình, và bị hành quyết ngày 13-07-1956 (theo sử gia Cao Thế Dung đã viết trong cuốn VN 30 Năm Máu Lửa: Đấy là chủ trương của Nguyễn Ngọc Thơ và Dương Văn Minh, hai người vốn không ưa Ba Cụt và Hòa Hảo. Ông Nhị Lang, một chiến hữu sát cánh tướng Ba Cụt ở chiến khu Núi Bà cũng nói: TT Diệm không có ý định sát hại tướng Ba Cụt mà chỉ có ý định thương lượng đón ông Vinh về như trường hợp ông Trình Minh Thế).
3. Tên cán bộ Việt Cộng nằm vùng được csBV chỉ thị ám sát TT Diệm tại hội chợ kinh tế Ban Mê Thuật ngày 22-02-1957 bị bắt sau khi hắn bắn hụt TT Diệm nhiều viên đạn tiểu liên. Ai cũng tưởng tên cán bộ ấy sẽ bị tra tấn dã man rồi bị thủ tiêu âm thầm, thế nhưng sau chính biến 11-1963 tên cán bộ ấy vẫn sống phây phây và tỏ ra rất cảm phục cung cách chính quyền VNCH đối xử với y trong tù, nhất là tỏ lòng ngưỡng mộ vì lòng nhân từ bác ái cuả TT Diệm.
4. Cuộc đảo chính 11-11-1960 bị thất bại, một số do sắp đặt của Mỹ chạy ra nước ngoài. Số còn lại trong đó có nhóm Caravelle như Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Trần Văn Hương, Phan Quang Đản và Vũ Hồng Khanh cũng đều được trả tự do từ 1961 đến 1963.
5. Phạm Phú Quốc oanh tạc dinh Độc Lập 27-02-1962 bị bắn hạ và bị bắt cũng sống khoẻ và về với gia đình. Sau 01-11-1963 ông trở lại không quân, và rồi bị bắn hạ trong phi vụ Bắc Việt không rõ sống hay chết.

6. Bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh ở tiểu bang Louisiana từng là thầy thuốc riêng của cố Tổng thống Diệm. Bác sĩ Tuấn Anh cho biết ông Diệm chỉ thị cho bác sĩ Trần Kim Tuyến bảo ông mỗi tuần hai lần đến chăm nom sức khỏe cho ông Hà Thúc Ký, người lập chiến khu Ba Lòng chống ông Diệm và cũng là người âm mưu ám sát ông Diệm. Ngoài ra, ông Diệm còn mật lệnh cho ông Cao Xuân Linh, em ông Cao Xuân Vĩ (hiện sống ở Orange County, California) ngầm giúp đỡ tài chánh cho bà Hà Thúc Ký để bà ấy có phương tiện cho các con ăn học

Khi ông Hà Thúc Ký ra tù, được biết nghĩa cử của ông Ngô Đình Diệm thì lấy làm cảm động vô cùng, nhưng không có cách gì để đền ơn ân nhân!

Đối xử với một người tù âm mưu ám sát mình, lập chiến khu Ba Lòng chống mình mà nhân đức như thế thì làm sao dám bảo ông Ngô Đình Diệm là Cần Lao ác ôn? Thử hỏi ở Miền Bắc một người nào dám hành động phản nghịch chống lại Hồ Chí Minh mà toàn mạng và gia đình không tan nát? Chỉ cần sơ ý phát biểu một câu “nghịch nhỉ” cũng đủ tàn mạt suốt cả một đời. Người thi ân cho cách mạng như bà Nguyễn thị Năm ở Hải Phòng, cũng bị Hồ Chí Minh giết!

 

______

Đấu tố Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc 1953-1956:

 

Trích: Trong bài viết “Địa chủ ác ghê” của C.B trên báo Nhân dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 có kể tội bà Nguyễn Thị Năm là

“Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân…”.

Cũng theo đó, Nguyễn Thị Năm đã “thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến” và cũng theo đó thì Nguyễn Thị Năm “không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác”.[11]

Theo hồi ký Trần Huy Liệu, lúc đó là uỷ viên Thường trực Quốc hội, thanh tra Cải cách Ruộng đất tại Thái Nguyên, thì cuộc đấu tố bà Năm được tổ chức ngày 22 tháng 5 năm 1953, với sự tham dự của gần 1 vạn người. Cũng theo ông Liệu, hai con trai của bà Năm lúc đó cũng bị đấu tố.[12]

Theo Trần Đĩnh viết trong hồi ký Đèn cù thì lúc bấy giờ ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm;

theo Trần Đĩnh thì Hồ Chí Minh đã bịt râu và Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố bà Năm.

Trần Đĩnh cũng cho rằng Hồ Chí Minh là tác giả bài báo  Địa Chủ Ác Ghê, ký tên C.B có nghĩa là “Của Bác” trên tờ Nhân dân kết tội bà Năm.[19

Bà Nguyễn Thị Năm là ai? Là kẻ thù hay ân nhân? 

Bà là một người ủng hộ Việt Minh. Bà đã đóng góp hơn 1000 lượng vàng cho cộng sản. Cộng sản ghi nhận công lao của bà như sau: 

Bà Nguyễn Thị Năm đã đóng góp nhiều tiền bạc, vải vóc, nhà cửa cho Việt Minh.[4]

Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên.[5]Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến.

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, gia đình bà từng ủng hộ Việt Minh 20.000 đồng bạc Đông Dương (tương đương bảy trăm lạng vàng lúc bấy giờ) và sau đó giúp đỡ nhiều vật dụng, thóc gạo, y tế và nhà cửa.[3] 

Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức “Tuần lễ vàng”, bà đóng góp hơn 100 lạng vàng.[6] 

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên[7].

Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên.[7].

Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường ChinhHoàng Quốc Việt [8]Lê Đức ThọPhạm Văn ĐồngHoàng Hữu NhânVõ Nguyên GiápNguyễn Chí ThanhHoàng TùngVũ Quốc UyHoàng Thế ThiệnLê Thanh Nghị[9]

Bà còn “đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.[3]

Thế mà đích thân Hồ Chí Minh viết bài “Địa chủ ác ghê”  để đấu tố, và sai đàn em bắn bà chết…

Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên vào 29 tháng 5 âm lịch (tức 9 tháng 7) năm 1953 và được báo chí đương thời coi là phát súng hiệu cho một cuộc vận động “long trời lở đất”…

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” – Hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước. Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác. Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này. Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.

Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được. Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.

Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sỹ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các ông lãnh đạo xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là một Liệt Sỹ, nhưng không có một hồi âm nào. Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”.

Ông than thở: “Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”.

Ảnh Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953) cùng các con. 

 

 

_________

 

 

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: