Trần Hoàng Blog

►Sau khi dẫn dắt cả nước đi lòng vòng 63 năm, Hội nghị Trung ương 5, và TBT Nguyễn Phú Trọng thú nhận: Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế

Posted by hoangtran204 on 13/05/2017

  • kinh tế nhà nước thông qua cổ phần hóa sẽ dần nhường chỗ cho khu vực Kinh Tế Tư Nhân thực hiện vai trò động lực tăng trưởng, vì chỉ có khu vực KTTN mới có thể có sự năng động, thích ứng nhanh với sự biến động của nền kinh tế thị trường.
  • Ngay ở những giai đoạn kinh tế khó khăn (2008-2009 và 2011-2013) thì vốn đầu tư khu vực tư nhân vẫn tăng cho thấy tính ổn định, bền vững của khu vực này. Qua số liệu thống kê trên lại càng chứng tỏ vai trò quan trọng, không thể thiếu của KTTN (Hội nghị Trung Ương 5, ngày 5-5-2017).
  • “Từ khoá mà Thủ tướng đưa ra ở đây chính là “xã hội hoá”, là “đầu tư tư nhân”.

    “Trước đây chúng ta hay nói về đầu tư Nhà nước nhưng Nhà nước không có nguồn lực nhiều. Kinh tế tư nhân là động lực phát triển của kinh tế Việt Nam. Chúng ta phải vận dụng điều này”, người đứng đầu Chính phủ cho biết. Trích “Doanh nghiệp trả 2 triệu đồng đến 2 triệu rưỡi 1 tháng thì công nhân làm sao sống được!” Thứ 2, 27/02/2017,

Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế

Vinanet 10/05/17

Nghị quyết Đại hội X của Đảng năm 2006 đã khẳng định: Kinh tế tư nhân (KTTN) là khu vực “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”…
 
Đến Đại hội XII của Đảng năm 2016, khu vực KTTN được nhấn mạnh là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”.
 
Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy, quan điểm của Đảng về vai trò của khu vực KTTN.

Kinh te tu nhan la dong luc quan trong cua nen kinh te - Anh 1

Nhận thức mới trong phát triển kinh tế tư nhân

Theo PGS.TS Vũ Hùng Cường – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam:

Qua các kỳ Đại hội Đảng, sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) dần được khẳng định và nhấn mạnh.

Nghị quyết Đại hội VI của Đảng năm 1986 chính thức công nhận khu vực KTTN với việc lần đầu tiên công nhận sự tồn tại của hai nhóm thành phần kinh tế: Các thành phần kinh tế XHCN và các thành phần kinh tế phi XHCN, gồm: Kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tụ túc.

Nghị quyết Đại hội VII năm 1991 đã phân tách từ hai nhóm: Thành phần kinh tế XHCN và thành phần kinh tế phi XHCN thành 05 thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước.

Việc khu vực kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân được chính thức công nhận đã tạo điều kiện, tiền đề tốt hơn cho sự phát triển của khu vực KTTN.

Sau đó một năm, năm 1992, Hiến pháp cũng đã ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân.

Nghị quyết Đại hội VIII năm 1996 tiếp tục khẳng định sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN bằng việc công nhận thêm thành phần tiểu chủ. Đây là sự đánh dấu bước chuẩn bị cho việc công nhận hình thức sở hữu cá nhân.

Theo Nghị quyết Đại hội IX năm 2001, khu vực KTTN được công nhận bao gồm: Kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Có thể nói, đây là nền tảng cơ bản cho sự bùng nổ đầu tư vào KTTN trong những năm tiếp theo.

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ được sức mạnh, là một trong các động lực phát triển đất nước.

Đến Hội nghị Trung ương 5 khóa IX của Đảng, lần đầu tiên, vấn đề phát triển kinh tế tư nhân đã được đưa ra thảo luận trong một chuyên đề riêng và ra Nghị quyết “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”; trong đó khẳng định: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đây là một bước tiến đáng kể về tư duy lý luận và quan điểm, đường lối kinh tế của Đảng ta, thể hiện tính nhất quán của đường lối đổi mới theo hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nên động lực và sự yên tâm cho các doanh nhân và nhà đầu tư được tự do kinh doanh theo pháp luật.

Qua các kỳ Đại hội Đảng, sau khi khu vực KTTN được chính thức công nhận, Văn kiện Đại hội X năm 2006 đã nhận định: KTTN là khu vực “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”.

Trong Nghị quyết Đại hội XI năm 2011 của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”. Nói về khu vực KTTN,

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng năm 2016 nêu: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”.

Như vậy đã có sự nhấn mạnh rõ hơn, coi KTTN “một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy, quan điểm của Đảng về vai trò của các khu vực kinh tế nhìn từ phương diện sở hữu.

Khu vực kinh tế nhà nước thông qua cổ phần hóa sẽ dần nhường chỗ cho khu vực KTTN thực hiện vai trò động lực tăng trưởng, vì chỉ có khu vực KTTN mới có thể có sự năng động, thích ứng nhanh với sự biến động của nền kinh tế thị trường.

Tạo động lực để kinh tế tư nhân phát triển

Tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh rõ hơn vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại tá, PGS.TS Phạm Văn Sơn, Viện Khoa học Nhân văn Quân sự cho biết:

Những đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong những năm qua, bao gồm:

Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; huy động các nguồn vốn trong nhân dân, trong xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam…

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2016, khu vực KTTN hiện có khoảng 500.000 doanh nghiệp, chiếm gần 90% số doanh nghiệp của cả nước.

Trong giai đoạn 2006-2015, so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực KTTN đóng góp hơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển.

Trong thời gian tới, khu vực KTTN sẽ tiếp tục đóng góp khoảng 30% ngân sách và khoảng 40% GDP của cả nước.

Đặc biệt, khu vực KTTN thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần quan trọng vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt tạo việc làm mới cho những đối tượng bị giảm biên chế hoặc mất việc làm do quá trình tinh giản bộ máy hành chính, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hay dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn.

Mức thu nhập cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân được cải thiện đáng kể. Tính trung bình, mức thu nhập bình quân hàng năm của người lao động năm 2005 khoảng 25,4 triệu đồng/người, đã tăng 1,66 lần lên 42,3 triệu đồng/người vào năm 2014. Xét về cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn tư nhân không chỉ luôn chiếm vị trí thứ 2 giữa 3 khu vực, mà còn có xu hướng tăng nhẹ từ mức 22% năm 2000 lên 38,4% năm 2014, trong khi khu vực FDI lại giảm rõ rệt từ mức cao nhất 30,9% năm 2008 về mức 21,7% năm 2014 và khu vực kinh tế nhà nước giảm từ 47% năm 2006 về khoảng 40% năm 2014.

Ngay ở những giai đoạn kinh tế khó khăn (2008-2009 và 2011-2013) thì vốn đầu tư khu vực tư nhân vẫn tăng cho thấy tính ổn định, bền vững của khu vực này. Qua số liệu thống kê trên lại càng chứng tỏ vai trò quan trọng, không thể thiếu của KTTN, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.

Tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), ngày 5/5/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:

Kinh Tế Tư Nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội.

Tỷ trọng trong GDP của khu vực KTTN, bao gồm cả kinh tế cá thể duy trì ổn định khoảng 39-40%.

Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh.

Số lượng doanh nghiệp của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh…

Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng cho rằng, KTTN đã bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém: Tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm trong những năm gần đây; xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại nhìn chung còn thấp, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, cá thể. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; trình độ quản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh còn yếu kém; chủ yếu tham gia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp. Khả năng liên kết với các thành phần kinh tế khác và tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu còn nhiều hạn chế.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp tư nhân hoạt động thiếu ổn định, bền vững, thậm chí bị thua lỗ, giải thể, phá sản. Tình trạng vi phạm pháp luật, gian lận thương mại, trốn thuế, nợ thuế, cạnh tranh không lành mạnh, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, không quan tâm bảo đảm lợi ích của người lao động diễn biến phức tạp, có nơi, có lúc rất nghiêm trọng.

Đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những mặt còn hạn chế sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân là một trong các nội dung chính được Trung ương cho ý kiến tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) đang diễn ra tại Hà Nội.

Hy vọng rằng, trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) sẽ tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ và giải pháp lớn cần được quán triệt và triển khai thực hiện để kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đúng đắn và lành mạnh hơn, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nguồn: dangcongsan.vn

http://baomoi.com/kinh-te-tu-nhan-la-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te/c/22229951.epi

Báo Mới trực thuộc đảng bộ Thành phố Hà Nội

__________

(Trần Hoàng) Đây không phải là lần đầu mà đảng CsVN thú nhận Kinh Tế Tư Nhân là hình thái siêu việt, và hơn hẳn kinh tế nhà nước (tức 2800 doanh nghiệp quốc doanh, tập đoàn, tổng công ty nhà nước).

Họ đã nhận ra điều này suốt 20 năm qua, và đã thú nhận lần đầu 2006, và khá trung thực như trong Hội nghị Trung Ương 5, 2017 như bài báo trên tường thuật. 

Nói ngắn gọn: hội nghị trứng ương 5, 2017 đi đến kết luận giống như của các hội nghị trước đây: chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế thị trường là hình thái kinh tế ưu việt nhất. 

Khốn thay, sau 63 năm cố gắng không thành công, với 2 triệu bộ đội đã chết trên đường vượt Trường Sơn, với hơn 160.000 đảng viên cộng sản hy sinh, 236.000 quân nhân quân lực VNCH đã hy sinh vì bảo vệ miền Nam khỏi rơi vào tay cộng sản trong chiến tranh VN 1954-1975, hàng triệu người dân sự cả hai miền đã hy sinh… chỉ để đi tới kết luận hôm nay: phải phát triển kinh tế tư nhân, dần dần cổ phần hóa để  xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước.

“Ngay ở những giai đoạn kinh tế khó khăn (2008-2009 và 2011-2013) thì vốn đầu tư khu vực tư nhân vẫn tăng cho thấy tính ổn định, bền vững của khu vực này. Qua số liệu thống kê trên lại càng chứng tỏ vai trò quan trọng, không thể thiếu của KTTN”.

(Trong giai đoạn này, 2800 doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ, mắc nợ hơn 1500 triệu tỷ đồng)

“kinh tế nhà nước thông qua cổ phần hóa sẽ dần nhường chỗ cho khu vực Kinh Tế Tư Nhân thực hiện vai trò động lực tăng trưởng, vì chỉ có khu vực KTTN mới có thể có sự năng động, thích ứng nhanh với sự biến động của nền kinh tế thị trường.

Tạo động lực để kinh tế tư nhân phát triển”

 ______________

“sau 15 năm sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 Khóa IX, DNNN đã giảm mạnh về số lượng. Từ chỗ cả nước có hơn 12.000 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, đến cuối năm 2016 còn 718 doanh nghiệp.”

Khối nợ khổng lồ 1,5 triệu tỷ của doanh nghiệp nhà nước

 | 23/10/2016

May 26, 2012 – Bài 1
_____________
_____________

1 con lợn chịu 51 loại thuế, phí thì doanh nghiệp nào chịu nổi!

Thứ Bảy, ngày 14/11/2015
Tại hội thảo “Cơ hội đối tác để Việt Nam tham gia thành công vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức sáng 13.11, ông Jonathan Dunn, Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam cho rằng, sự chi phối của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đã ngăn cản sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Doanh nghiệp trong nước gặp khó 

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, hiện doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vẫn được bảo hộ và nhận đặc quyền. Do đó, DNNN không quan tâm nhiều đến hội nhập, vấn đề mà khối DNNN quan tâm là tiếp cận Nhật Bản, EU để có vốn ODA.

 1 con lon chiu 51 loai thue, phi thi doanh nghiep nao chiu noi! hinh anh 1

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Bên cạnh đó, bà Chi Lan cho hay, DNNVV, thậm chí siêu nhỏ có mối lo trước mắt quá lớn, phải đối phó với các vấn đề môi trường kinh doanh và ám ảnh bởi số doanh nghiệp giải thể đang rất lớn.

Cũng tại hội thảo, ông Jonathan Dunn cho rằng, các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Vị chuyên gia này đề xuất Việt Nam phải cải cách tài chính khi tham gia kinh tế toàn cầu. Ông nói thêm rằng, cải cách giáo dục để chuyển dịch lực lượng lao động hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất cũng là điều Việt Nam cần quan tâm.

Một khó khăn không nhỏ được đề cập tại báo cáo chính là vấn đề tài chính. Ông Aaron Batten, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng ADB nhận định, AEC sẽ hỗ trợ Việt Nam kết nối cơ sở hạ tầng và rào cản về pháp lý liên quan đến thương mại mậu biên, hỗ trợ tài chính cho các dự án này.

Vị chuyên gia cũng nói thêm, các doanh nghiệp tư nhân chưa được phát huy trong khi Nhà nước hiện nay rất cần DN tư nhân. Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài cảm nhận rủi ro ở Việt Nam rất cao, thiếu sự bình đẳng và thách thức trong nhiều dự án.

“Việt Nam cần hài hòa hóa chính sách và khung pháp quy đồng thời tăng cường đối thoại với khu vực tư nhân”- ông Aaron Batten cho hay.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, mặc dù môi trường kinh doanh của Việt Nam có nhiều cải thiện, hàng rào thuế quan đối với các nước khi tham gia Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giảm, nhưng đối với doanh nghiệp trong nước nhiều hàng rào lại được dựng lên. Đây là nghịch lý tồn tại lâu nay, cần phải xử lý.

“Hiện nay, thủ tục hành chính của Việt Nam cực kỳ phức tạp và nhiêu khê, cấp nào cũng đều có quyền gây khó cho doanh nghiệp. Thậm chí, thuế phí ở Việt Nam quá nhiều, chẳng hạn 1 quả trứng phải “cõng” 14 loại thuế, phí; 1 con lợn chịu 51 loại thuế, phí. Thuế, phí như thế doanh nghiệp nào chịu nổi” – bà Lan nhấn mạnh.

Bà Phạm Chi Lan cho hay, tình trạng đó là rào cản cho sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân Việt Nam đang có chiều hướng tăng.

Cũng theo báo cáo về sự sẵn sàng của doanh nghiệp khi tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các doanh nghiệp Việt Nam còn bị động và mức độ sẵn sàng hội nhập AEC chưa cao. Biểu hiện là nhận thức của doanh nghiệp về các vấn đề chung của AEC còn thấp, chưa nhận rõ các cơ hội, thách thức và thiếu sự chuẩn bị cho hội nhập AEC.

Nguyên nhân được báo cáo chỉ ra rằng, do nhiều doanh nghiệp thụ động, có chênh lệch lớn giữa thông tin, tuyên truyền, tập huấn và việc tiếp nhận các thông tin này. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đang dốc sức vượt qua khó khăn hiện tại nên không chú trọng được nhiều vấn đề xung quanh, vai trò của các Hiệp hội chưa được phát huy đúng mức…

Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Mặc dù sự sẵn sàng cho hội nhập của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao nhưng Việt Nam đã thực hiện khá tốt các cam kết. Báo cáo cho rằng, Việt Nam cần phải đổi mới tư duy khi hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), phải xem AEC là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, là cầu nối của tiến trình hội nhập, là cơ hội tập dượt để tiến tới những sân chơi lớn hơn với yêu cầu khắt khe hơn. AEC cũng là một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường tính độc lập, tự chủ thông qua việc đa dạng thị trường và đối tác.

Theo chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành, Nhà nước cần dẫn dắt và tạo một cơ chế hội nhập hiệu quả. Phải phát huy và hoàn thiện cơ chế phối hợp của các cơ quan đầu mối về hội nhập hiện có, xây dựng một cơ chế phối hợp thông tin, phản hồi của doanh nghiệp về quá trình hội nhập. Bên cạnh đó là chú trọng đào tạo nhân lực, di chuyển lao động lành nghề trong ASEAN sau 2015…

Báo cáo cũng chỉ ra, về phía doanh nghiệp, các DN cần phải chủ động chuẩn bị cho hội nhập, định vị lại thị trường, biến cạnh tranh thành cơ hội. Song song với đó là tích cực tham gia mạng lưới sản xuất khu vực, chủ động tìm hiểu thông tin…

Ngoài ra, các Hiệp hội, cơ quan nghiên cứu đóng vai trò tư vấn, hỗ trợ quá trình hội nhập. Phải cung cấp thông tin và ví dụ tốt nhất, kinh nghiệm tốt nhất, chủ động xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo nhân lực, kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, xây dựng chuẩn mực kinh doanh…

Theo Toshiro Nishizawa, Giáo sư Chính sách công, Đại học Tokyo, để phát triển trong tình hình hiện nay, Việt Nam nên chọn làm “con rùa” hơn là một “con thỏ” trong cuộc đua.

Theo vị GS này, những nước dựa vào sự phát triển kinh tế vững chắc trong khi tập trung tích lũy vốn có thể không tăng trưởng nhanh, nhưng ổn định hơn, tránh được khủng hoảng và cuối cùng theo được các nước tiên tiến.

Theo Hoàng Long (Một thế giới
Các điểm chính của bài báo:

-“Hiện nay, thủ tục hành chính của Việt Nam cực kỳ phức tạp và nhiêu khê, cấp nào cũng đều có quyền gây khó cho doanh nghiệp. Thậm chí, thuế phí ở Việt Nam quá nhiều, chẳng hạn 1 quả trứng phải “cõng” 14 loại thuế, phí; 1 con lợn chịu 51 loại thuế, phí. Thuế, phí như thế doanh nghiệp nào chịu nổi” – bà Lan nhấn mạnh.Bà Phạm Chi Lan cho hay, tình trạng đó là rào cản cho sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân Việt Nam đang có chiều hướng tăng.

-các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn.

-hiện doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vẫn được bảo hộ và nhận đặc quyền. Do đó, DNNN không quan tâm nhiều đến hội nhập, vấn đề mà khối DNNN quan tâm là tiếp cận Nhật Bản, EU để có vốn ODA nói chính xác là để mượn tiền viện trợ ODA.

Advertisements

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: