Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 4th, 2016

►Khi chính quyền cộng sản làm từ thiện

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2016

Blog VOA

Bùi Tín

3-11-2016

Đã có nhiều lời than vãn trong xã hội Việt Nam rằng làm sao mà dân ta khổ sở, thiếu thốn và lạc hậu đến thế này. Nguyên nhân là từ đâu, vì ai mà tai họa xảy ra dồn dập khắp ba miền? Hết thiên tai lại đến nhân họa. Bão quét, lụt lội, lũ to, Hà Nội và Sài Gòn biến thành bể bơi. Rồi tai họa môi trường, bùn đỏ lan tràn do khai thác bô-xít ở vùng chiến lượng Cao Nguyên ; vùng đồng bằng trù phú sông Cửu Long khô cằn nứt nẻ và nhiễm mặn nặng. Cá tôm chết la liệt, ngư dân điêu đứng dọc vùng biển miền Trung.

 

Đọc tiếp »

Posted in Xã Hội Dân Sự- vai trò đóng góp của hội đoàn, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Bắc Kinh đã ngăn cản Võ Nguyên Giáp trở thành Tổng Bí thư như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2016

Blog VOA

Lê Anh Hùng

3-11-2016

Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Reuters.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Reuters.

Sau Hội nghị Trung ương 4 khoá XII diễn ra từ ngày 9 đến 14/10 và chuyến thăm Trung Quốc của Thường trực Ban Bí thư Đảng CSVN diễn ra từ ngày 19 đến 21/10 vừa qua, dư luận đang dấy lên đồn đoán là ông Đinh Thế Huynh đã được chọn làm người kế nhiệm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chưa biết tin đồn này có trở thành hiện thực hay không, nhưng dường như một lần nữa Trung Quốc lại nổi lên như một nhân tố quyết định ngôi vị lãnh đạo tối cao ở Việt Nam.

Không ít người cho rằng đây là một “thông lệ” bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô năm 1990, hội nghị mà cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch từng cảnh báo là sẽ đưa Việt Nam bước vào “một thời kỳ bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Tuy nhiên trên thực tế, Bắc Kinh đã thò “bàn tay lông lá” của mình vào chính trường Việt Nam từ trước đó rất lâu.

Ngược dòng thời gian, sau thảm hoạ diệt chủng mang tên “Cải cách ruộng đất” do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, Trưởng ban Cải cách Ruộng đất Trung ương Trường Chinh bị biến thành con dê tế thần và mất chức Tổng Bí thư vào tháng 10/1956. Lúc bấy giờ, trong số những trợ thủ thân cận nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi lên như là ứng cử viên số một để tiếp quản chiếc ghế mà ông Trường Chinh để lại. Vậy nhưng, sau một thời gian ông Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng) kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư, tại Đại hội lần thứ III Đảng CSVN năm 1960, nhân vật được bầu vào vị trí Bí thư Thứ nhất lại là ông Lê Duẩn, một người mới từ Miền Nam ra Hà Nội cuối năm 1957, chứ không phải là ông Võ Nguyên Giáp, người từng sát cánh với ông Hồ Chí Minh suốt mười mấy năm.

Một số người, trong đó có Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, cho rằng việc ông Võ Nguyên Giáp bị loại và ông Lê Duẩn được chọn xuất phát từ ý muốn của ông Hồ Chí Minh. Theo họ, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành một tên tuổi nổi bật trên thế giới. Uy tín của ông Võ Nguyên Giáp trong nhân dân lớn tới mức, sau thất bại thảm hại của cuộc Cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã phải cử ông thay mặt họ nhận tội và xin lỗi nhân dân tại sân vận động Hàng Đẫy vào ngày 29/10/1956. Ông Hồ Chí Minh lo sợ trước viễn cảnh một vị Tổng Bí thư với vầng hào quang chói lọi sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sẽ khiến hình ảnh của mình bị lu mờ.

Tuy nhiên, trong một cuộc trò chuyện mới đây giữa chúng tôi với Đại tá Đoàn Sự, một sự thật hoàn toàn khác lại hé lộ. Đại tá Đoàn Sự là em ruột của Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo (nay là Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng), trợ thủ đắc lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bị bắt trong vụ án “xét lại chống đảng” tháng 2/1968. Đại tá Đoàn Sự là người phiên dịch tiếng Trung tại đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, và có thời gian làm thư ký cho ông. Từ năm 1955-1959, ông là phó tuỳ viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Ông cũng từng mấy lần tháp tùng và phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc.

Với vị thế đó, Đại tá Đoàn Sự là một nhân chứng lịch sử, một trong số ít người nắm được những bí mật thuộc hàng “thâm cung bí sử” của chế độ. Ông cho biết, sau khi ông Trường Chinh bị mất chức, ông Hồ Chí Minh tạm quyền Tổng Bí thư và chủ trương đưa ông Võ Nguyên Giáp lên ngồi vào chiếc ghế đó. Vì thế, ông đã bí mật cử ông Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để “tham vấn” ý kiến của Bắc Kinh. Ông Hồ nói với ông Võ Nguyên Giáp: “Thôi bây giờ chú trút bỏ quân phục đi. Chú phải làm nhiệm vụ này. Nhưng trước hết là ta phải sang trao đổi với Trung Quốc, trên đường chú đi Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc.”

Sau khi trở thành đại tướng, tổng tư lệnh quân đội, ông Võ Nguyên Giáp luôn mặc quân phục mỗi khi tham gia các sự kiện hay các cuộc gặp gỡ, giao đãi. Thói quen này vẫn được ông duy trì cho đến những năm tháng cuối đời. Chuyến sang Tiệp Khắc lần đó là một dịp hiếm hoi ông mặc quần áo dân sự, mà mục đích là để tạo hình ảnh của một Tổng Bí thư tương lai.

Đoàn Việt Nam sang Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lần thứ 11 năm 1958 gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Tố Hữu và một vài người khác. Cả đi lẫn về đoàn đều dừng chân ở Bắc Kinh. Mặc dù đoàn gặp Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông sau khi từ Tiệp Khắc trở lại Bắc Kinh, nhưng thực ra đó mới là mục đích chính của đoàn.

Đại tá Đoàn Sự đã gặp Mao Trạch Đông từ trước. Theo ông, đó là một con người cao to, hách dịch và ăn nói thì rất khó nghe. Tham dự cuộc gặp bên phía Trung Quốc còn có Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm. Phía Việt Nam còn có ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Đại tá Đoàn Sự làm phiên dịch cho đoàn Việt Nam. Trong cuộc gặp, Mao Trạch Đông hết lời khen ngợi ông Võ Nguyên Giáp, nào là “Võ Tổng tài ba lắm”, “Võ Tổng giỏi giang lắm”, v.v. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta lại chốt một câu: “Nhưng tôi thấy hình như Võ Tổng chưa làm công tác lãnh đạo địa phương bao giờ cả thì phải? Chưa làm qua tỉnh uỷ… gì gì cả. Võ Tổng toàn là thân chinh bách chiến, toàn là đánh nhau cả. Cho nên tôi cũng e ngại là Võ Tổng có ít kinh nghiệm về chuyện này [làm Tổng Bí thư]. Tôi đã trao đổi với mấy người. Chúng tôi không dám có ý kiến gì về chuyện đồng ý hay không đồng ý. Nhưng chúng tôi thấy là ở Việt Nam còn nhiều đồng chí giỏi lắm mà, như đồng chí Lê Duẩn này, đồng chí Lê Đức Thọ này, v.v. Các đồng chí cũng nên cân nhắc xem thế nào.”

Đây là một cuộc gặp bí mật. Hai bên không ghi chép gì. Bên Việt Nam chỉ đến trao đổi rồi lẳng lặng ra về. Sau cuộc gặp, ông Võ Nguyên Giáp nói với ông Đoàn Sự: “Thôi thế là trật rồi. Mình giờ lại khoác quân phục rồi.” Và trước khi mặc lại quân phục, ông đã chụp ảnh kỷ niệm với người cộng sự thân tín một thời, ghi lại hình ảnh hiếm hoi của mình trong bộ quần áo dân sự.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Đoàn Sự sau cuộc gặp với Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh năm 1958. Ảnh do Đại tá Đoàn Sự cung cấp.

Thời điểm diễn ra cuộc gặp giữa Mao Trạch Đông và ông Võ Nguyên Giáp thì bà vợ hai của ông Lê Duẩn là Nguyễn Thụy Nga cũng mới sinh người con trai út Lê Kiên Trung ở Bắc Kinh. Theo thông tin mà người ta rỉ tai nhau vào lúc đó thì ông Lê Duẩn phải đưa vợ bé sang Trung Quốc và tá túc trong Đại sứ quán Việt Nam vì bị bà vợ cả đánh ghen. Tuy nhiên, sau những gì đã xảy ra cùng tiết lộ của Đại tá Đoàn Sự thì rất có thể đây là chiêu mà ông Lê Duẩn nghĩ ra để lấy được lòng tin của Bắc Kinh.

Ông Lê Duẩn đem vợ con sang Bắc Kinh như một thứ “con tin” để đổi lấy sự ủng hộ của Bắc Kinh cho ngôi vị Tổng Bí thư. Vậy ông Đinh Thế Huynh lấy gì để “thế chấp” cho các ông chủ Trung Nam Hải?

Hội nghị Trung ương 4 khoá XII kết thúc, người ta nhận thấy Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải, một người Hán trá hình, “cha đẻ” của Formosa Hà Tĩnh cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác ở Việt Nam và là người bị tố cáo những tội ác khủng khiếp suốt hơn 8 năm nay nhưng vẫn không được giải quyết đúng pháp luật, lại xuất hiện nổi bật trên truyền thông sau một thời gian khá trầm lắng: phát biểu trong chương trình thời sự VTV 19h về tái cấu trúc nền kinh tế, chỉ đạo công an Hà Nội xử lý vụ nhân viên Vietnam Airlines bị hành hung… (Theo một nguồn tin của chúng tôi, ông Hoàng Trung Hải vẫn thường lui tới nhà ông Đinh Thế Huynh từ hồi ông ta còn làm Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương).

Tối 28/10 vừa qua, buổi lễ kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Câu lạc bộ bóng đá No-U FC, nơi tập hợp những tiếng nói đấu tranh ôn hoà chống bá quyền Trung Quốc, dù đã phải diễn ra trong khuôn viên Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà để đảm bảo an toàn nhưng vẫn bị chính quyền Hà Nội huy động một lực lượng an ninh hùng hậu đến bao vây và tiến hành cắt điện, ngắt Internet, phá sóng điện thoại di động. Một số nhà hoạt động thậm chí còn bị công an ngăn cản tại nhà, không cho đến địa điểm tổ chức.

Phải chăng cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Phú Trọng sắp sửa nhường sân chơi cho cặp bài trùng cũng đặc biệt nguy hiểm cho tương lai đất nước là Hoàng Trung Hải – Đinh Thế Huynh? Và “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải lại tiếp tục kiểm soát ban lãnh đạo tối cao của Việt Nam hòng tiếp tục gieo rắc tai ương cho dải đất hình chữ S này?

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Bà Hillary Clinton liệu có thể là một tổng thống lớn của Hoa Kỳ không?

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2016

Chu chi Nam Vũ văn Lâm

4-11-2016

Bà Hillary Clinton. Ảnh: internet

Bà Hillary Clinton. Ảnh: internet

Ngày hôm nay, qua nhiều cuộc thăm dò, mà thường tương đối đúng trong quá khứ, thì bà Hillary Clinton sẽ thắng cử, trong cuộc bầu cử sắp tới, vào ngày 8/11/2016, mặc dầu cuộc tranh cử còn rất gay go, lúc lên lúc xuống, đối thủ của bà không ngừng gây cho bà những khó khăn. Nhưng người xưa có câu: “Khó khăn là bước thang của bật anh tài, là mồ chôn những người yếu đuối.”

Nếu kỳ này Bà thắng cử, thì câu hỏi được đặt ra, đó là: “Liệu Bà sẽ là một anh tài hay nói rõ hơn là một tổng thống lớn của Hoa kỳ hay không,  trong vòng ít nhất một nhiệm kỳ 4 năm, Bà có đủ tài cán, sáng suốt và can đảm để lấy những quyết định to lớn, có lợi ngắn hạn và cả dài hạn, không những về chính trị quốc nội, mà cả quốc ngoại, cho Hoa kỳ mà cho cả thế giới,  hay không?”

I) Thế nào là một tổng thống lớn?

Tổng thống lớn hay là vĩ đại, là một tổng thống, như vừa nói là một người dám lấy những quyết định to lớn, có lợi cho Hoa kỳ mà cả thế giới, không những hiện tại mà còn có hậu quả tốt cho cả tương lai.

Trong lịch sử cận đại của Hoa kỳ, một người tổng thống lớn, vĩ đại, đó là ông Franklin Roosevelt (1932 – 1945); ông ra tranh cử vào năm 1932, đang lúc Hoa kỳ và cả thế giới lâm vào cuộc Đại khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933); ông đã thắng cử, và đã đưa ra những biện pháp lớn, áp dụng lý thuyết của nhà kinh tế Keynes, đã đưa nước Hoa kỳ không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn giúp Hoa kỳ đến chỗ giầu mạnh. Không những vậy, ông còn tham gia Đệ Nhị thế Chiến (1939 – 1945), đưa đến chiến thắng, giúp thế giới thoát khỏi đe dọa độc tài Phát xít Đức – Ý – Nhật. Đồng thời ông thành lập ra Tổ chức Liên Hiệp quốc, Hệ thống tiền tệ quốc tế với Tổ chức Quĩ tiền tệ thế giới (IMF), Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Ngân hàng quốc tế (WB), với những hậu quả tốt còn kéo dài cho tới ngày hôm nay.

II) Điều kiện để trở thành một người tổng thống lớn:

Người Việt nam chúng ta có câu: “Thời thế tạo anh hùng hay anh hùng tạo thời thế.” Thường thì lúc đầu là thời thế tạo anh hung. Nhưng anh hung cũng phải đủ tài cán, sửa soạn để bắt thời cơ, thời thế. Thời thế có thể ví như những ngọn song lớn, lúc thủy triều dâng, đưa người anh hung lên đầu ngọn song. Nhưng người anh hung cũng phải đủ tài để đạp ngọn song, cỡi sóng, để tồn tại, để thực hiện những điều mình muốn làm, và những điều này có lợi cho quốc gia, dân tộc, có hậu quả tốt lâu bền, chứ không, với thời gian lâu dài chỉ toàn là hậu quả xấu, thì không thể gọi là anh hùng được. Trường hợp điển hình là Hitler, Mao trạch Đông và Hồ chí Minh.

Hitler, lợi dũng lòng yêu nước, tự ái dân tộc bị tổn thương sau vụ bại trận Thế Chiến thứ Nhất (1941 -1918), bị 2 Cường quốc Anh Pháp, buộc trả tiền thua trận quá cao, liền đó có cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933), đã được đưa lên đầu ngọn song, lãnh đạo dân Đức; tuy nhiên sau đó, vì chủ trương chính sách kỳ thị chủng tộc, cho rằng giòng giống Aryen là đứng đầu thế giới, chủ trương chính sách hiếu chiến, bành trướng, tiêu diệt dân Do thái, đưa không những dân tộc Đức mà cả Âu châu và thế giới, đi vào cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, mà hậu quả không những thảm bại cho Đức mà cả thế giới và  còn kéo dài cho tới hôm nay.

Mao trạch Đông và Hồ chí Minh cũng vậy. Nhờ Phong trào đòi độc lập, giải phóng các dân tộc bị trị, đã được đưa lên đầu thủy triều; nhưng lỗi lầm to lớn nhất của 2 người này là vội vã nhập cảng lý thuyết Mác Lê, cặn bã của văn hóa Tây phương, chủ trương đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, xúi dục con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau, vứt bỏ mọi giá trị nhân bản, tốt đẹp cổ truyền, đưa đến một xã hội hội không còn tình người, kẻ này cấu xé kẻ khác, không đạo đức, chẳng ra con người, như xã hội cộng sản Tàu và Việt Nam hiện nay.

Được đưa lền đầu ngọn sống, tức là “Thời thế tạo anh hùng”; sau đó lấy những quyết định “Anh hung tạo thời thế”; nhưng những quyết định này không những phải tốt cho hiện tại, mà còn phải tốt và kéo dài cho tương lai. Đó mới thật là anh hùng. Nếu không chỉ là anh hung rơm hay là tội đồ của dân tộc. Lịch sử Việt Nam hiện đại, anh hung rơm đó là Dương văn Minh, tội đồ của dân tộc, đó là Hồ chí Minh. Dương văn Minh thì 3 lần thời thế đưa lên làm chủ tịch nhà nước, một lần với cuộc đảo chính 1/11/1963, một lần với cuộc chỉnh lý của tướng Nguyền Khánh, lần thứ 3 khi miền Nam đang thất thủ tháng 4 năm 1975, nhưng rồi sau đó thì bị những ngọn sóng của thời thế vùi dập. Hồ chí Minh thì nhập cảng lý thuyết Mác Lê vào Việt Nam, trong khi đó thì chính ông tự thú nhận trong quyển “Những mẫu truyện về cuộc đời Hồ Chủ tịch” tác giả là Trần dân Tiến, chính là ông, đã thú nhận khi đi họp Hội nghị Tours ở Pháp năm 1920, tiếng Pháp ông hiểu chữ được chữ không, không phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. Chủ thuyết này vẫn còn đang hoành hành ở Việt Nam, mà hậu quả xấu xa còn kéo dài không biết bao lâu. Hồ chí Minh quả là tội đồ của dân tộc.

Không những họ Hồ mà ngay chính cả Lénine và Mao.

Liên Xô thì đã vứt bỏ chủ nghĩ Mác Lê. Nhưng Trung cộng và Việt Nam thì vẫn còn giữ.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến bức thư mà ông La Vũ gửi cho ông Tập cận Bình mới đây, theo đó:

“Cha chúng ta đều là đại công thần của Mao. Nhưng điều đáng tiếc đó là sau cuộc cách mạng Mao trạch Đông là một chế độ độc đảng, độc tài. Đây là điều khác biệt lớn nhất giữa Mao và Washington. Vì sau cuộc cách mạng Washington là một chế độ dân chủ.”

Ông La Vũ, hiện sống ở Hoa kỳ, con của ông La thụy Khanh, ông Tập cận Bình, hiện là lãnh đạo Trung cộng, con của ông Tập trọng Huấn, thân sinh của 2 ông đều đi theo Mao rất sớm, có thể nói lúc còn nhỏ, một người làm đến chức Phó Thủ tướng, Đặc trách về công an, tình báo, nội vụ, người kia cũng là Phó Thủ tướng, Đặc trách về Thông tin, Tuyên truyền, Ý thức hệ. Hai người vợ cũng rất thân với nhau. Tất nhiên những người con, trong đó có ông La Vũ và Tập cận Bình, là những người bạn nối khố, từ thưở nhỏ.

Chỉ đáng tiếc là ông Tập trọng Huấn và ông La thụy Khanh đều là nạn nhân của độc tài Mao, trong thời kỳ Cách mạng Hồng vệ binh (1964 – 1976), cả 2 đề bị cầm tù hay giam lỏng, có người phải nhảy lầu tự tử.

Bà Hillary Clinton, trong thời gian làm Ngoại trưởng, cũng có tuyên bố:

“Giới lãnh đạo Trung cộng hiện nay đang đi theo một chính sách phản lại lòng dân, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của nhân loại là dân chủ, nhân quyền. Nhưng họ vẫn cố bám víu vào quyền hành. Làm như vậy chỉ làm khổ dân và làm trò cười cho người khác.”

III) Bà Hillary Clinton có đủ hoàn cảnh và những điều kiện để trở thành một người tổng thống lớn hay không?

1) Giả thuyết cho rằng bà Clinton không có đủ điều kiện:

Những người theo giả thuyết này đưa ra một số dữ kiện sau đây:

– Bà là một người “lươn lẹo, dối trá”, ít nhất có 1/4 dân Hoa kỳ không tin tưởng ở bà với một mực độ khá cao, mà để làm việc lớn, thì phải có lòng tin tưởng không phải là của toàn dân, nhưng cũng phải là của số đông, không có những thành phần chống đối quyết liệt. Có một tầng lớp dân Hoa kỳ chống đối bà quyết liệt.

– Đường lối quốc nội và hải ngoại của bà cũng chỉ là đi theo vết chân của Obama, có vẻ nói nhiều, nói hay, nhưng thực tế thì không được như vậy.

– Thêm vào đó, theo như dự đoán của một số nhà kinh tế, thì vào năm 2017, Hoa kỳ và có thể toàn thế giới sẽ lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế, có tính cách chu kỳ cứ vào khỏang, xưa kia, là 20, 30 năm, nay ngắn hơn vào khoảng 10 hay hơn 10 năm. Một lý do nữa đó là nợ công chính phủ, riêng của Hoa kỳ, đã là 100% tổng sản lượng quốc gia, thế giới còn hơn nữa. Nhật bản là 400%, Trung cộng là 380 %; giá dầu hỏa vẫn còn thấp, những nước sống về dầu hỏa như Vénézuela, Iran, Nga v.v.., kinh tế rất khó khan, làm cho nền kinh tế thế giới rất bấp bênh, tụt xuống vực thẳm lúc nào không hay.

2) Giả thuyết cho rằng bà Clinton có đủ hoàn cảnh và điều kiện:

– Bà là một người có tài cá nhân và có kinh nghiệm nhất, hơn cả Bill Clinton và Obama. Cả ba người đều là luật sư lúc ban đầu, nhưng riêng bà được xếp vào hang 100 người luật sư giỏi nhất Hoa kỳ lúv bấy giờ. Bà có nhiều kinh nghiệm nhất, không những là 8 năm làm Đệ Nhất Phu nhân, 10 năm làm Thương Nghi sĩ và 4 Năm làm Ngoại trưởng. Trong thời gian làm Đệ Nhất Phu nhân, vào năm 1995, bà có tham dự một buổi họp về Quyền Phụ nữ, do Liên hiệp quốc tổ chức ở Bắc kinh, bà tuyên bố: “Quyền phụ nữ cũng là nhân quyển”, chỉ trích Trung cộng không những vi phạm nhân quyền mà còn miệt thị người phụ nữ, đã gây tiếng vang và sự bất mãn của giới lãnh đạo Trung cộng. Trong thời gian bà làm Ngoại trưởng, bà thường đi họp những hội nghị thường niên của các nước Đông Nam Á. Chính bà làm sống dậy hội nghị về các nước có liên quan đến sông Mékong. Bà có tâm sự là đã nhiều lần gặp những giới chức quan trọng nhất của Trung cộng, và đã ngay thẳng nói với họ: “Việc Trung cộng bảo biển Đông Nam Á là của mình dựa trên sự kiện địa lý và một vài dữ kiện như một vài đồng bạc, mảnh vụn của một vài chiếc tàu xưa kia, sự kiện này là hoàn toàn trái với luật quốc tế. Làm như Trung cộng thì Hoa kỳ cũng có thể làm, vì phía tây của Hoa kỳ, từ Alaska cho tới San Diego, giáp giới với biển Thái bình dương, còn việc đưa ra bằng chứng một vài mảnh vụn của những chiếc tàu nằm trong long biển thì quá dễ dàng. Nên nhớ là ít nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai, nhờ Hoa kỳ mà sự lưu thông hàng hải ở vùng biển Thái bình dương được dễ dàng và bảo đảm.”

Ngoài việc có tài và nhiều kinh nghiệm, nếu trường hợp bà đắc cử, thì bà được hưởng một tình trạng quốc nội và ngay cả quốc ngoại tốt, do Obama để lại:

– Về quốc nội, nhất là về kinh tế, nếu bà được đắc cử, thì bà được hưởng một tình trạng kinh tế tương đối tốt đẹp. Không cần đi quá xa, chúng ta chỉ cần so sánh tình trạng kinh tế hiện nay với 3 người tiền nhiệm của bà.

Với Bill Clinton, chồng bà, ông lên nhậm chức vào năm 1993, lúc này tinh trạng kinh tế và xã hội của Hoa kỳ sau một nhiệm kỳ của Georges Bush (cha) không mấy sang sủa, mặc dầu Hoa kỳ vừa mới chiến thắng Irak ở Koweit. Chính vì tình trạng quốc nội không sáng sủa, kinh tế khựng lại, sự bất mãn của cộng đồng da màu gia tăng, có những cuộc biểu tình đốt phá; chính vì vậy mà Clinton  đã dựa vào câu : “Nguy hiểm của Hoa kỳ không phải đến từ nước ngoài, mà đến từ lòng nước Hoa kỳ.” Và ông đã thắng cử.

(Phân tích của 2 tác giả không đúng. Một, kinh tế của Mỹ sút kém dưới thời Bush cha, 1988-1992, nhưng đang trên đà đi lên vào cuối nhiệm kỳ của Bush cha; giá dầu rất thấp 1992-1997. Hai, Bill Clinton gặp may do dân Mỹ luôn thích sự đổi mới, không thích bầu cho đảng Cộng Hòa nữa, vì đảng này đã nắm chức vụ tổng thống 3 nhiệm kỳ, từ 1980-1992.)

So với Georges Bush (con), thì không cần chứng minh, vì vừa mới nhậm chức thì đã xẩy ra vụ khủng bố 9/11, rồi chiến tranh A phu hãn, chiến tranh Irak.

So với Obama, thì cũng không cần dài dòng, vì vừa mới nhậm chức thì Obama bị cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, bắt đầu từ Hoa kỳ, sau đó lan tỏa ra thế giới.

Nếu bà Hillary Clinton thắng cử thì tương đối tình hình kinh tế Hoa kỳ tốt đẹp. Có người tiên đoán là vào năm 2017, Hoa kỳ và cả thế giới sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế mới, họ đưa ra một số luận cứ như sau:

Họ dựa vào thuyết khủng hoảng chu kỳ, ngày xưa xa xôi, thì cứ 20 năm có một cuộc khủng hoảng, bay giờ thì ngắn hơn, cứ 10 năm. Hoa kỳ và thế giới vừa mới trải qua cuộc khủng hoảng 2008, nay cuộc khủng hoảng sẽ trở lại vào năm 20017 hay 20018, theo chu kỳ.

Thực ra lý thuyết chu kỳ này đã lỗi thời. Không cần đi vào lý thuyết, chúng ta cứ lấy thí dụ một cặp vợ chồng rời bố mẹ, lập gia đình: nào phải mua nhà, mua xe, mua đồ dùng cho gia đính, tất cả, vào thời xưa, có thể kéo dài độ 20 năm, rồi phải mua sắm cái mới, ngay cả căn nhà cũng phải tu bổ, đó chính là thuyết kinh tế khủng hoảng chu kỳ vậy. Nhưng ngày hôm nay khác, hiện chúng ta đang sống trong một nền văn minh “xài rồi bỏ”, đời sống những đồ dùng rất ngắn. Lấy muột thí dụ điển hình là điện thoại cầm tay hay chiếc bật lửa hút thuốc. Giới trẻ không cần xài lâu một chiếc điện thoại cầm tay, chỉ cần có một chiếc mới, với một vài công dụng hơn chiếc cũ là chúng bỏ chiếc cũ và mua chiếc mới. Những người hút thuốc lá, chỉ cần dùng chiếc bật lửa xài xong thì bỏ.

Vì vậy nên áp dụng lý thuyết khủng hoảng chu kỳ vào kinh tế hiện đại không còn hợp thời nữa.

Có người thì đưa ra nguyên do rằng kinh tế Mỹ và thế giới sẽ khủng hoảng vì nợ công càng ngày càng tăng. Có ngày chiếc bong bóng này sẽ bùng nổ đưa đến khủng hoảng. Thực ra quan niệm này chưa trở thành một lý thuyết và có tiền lệ. Nợ công đến mức độ nào, trong thời gian bao lâu, sẽ dẫn đến khủng hoảng. Chua một nhà kinh tế nào có thể lập thuyết về vấn đề, khác với khủng hoảng chu kỳ.

Đồng ý rằng nợ công của Hoa kỳ hiện nay lên đến 100% tổng sản lượng quốc gia, nợ công Nhật lên đế 400%, Trung cộng lên đến 382%, đấy là con số chính thức, nhưng thực tế với Trung cộng, con số này còn cao hơn nhiều. Đồng ý rằng kinh tế Nhật và kinh tế Trung cộng gặp khó khăn, nhưng bảo rằng đi đến khủng hoảng thì không đúng lắm.

Ngược lại kinh tế Hoa kỳ, nếu không nói là khởi sắc, thì cũng có thể nói là “tương đối tốt”, dựa vào một số dữ kiện su đây:

– Chỉ số thất nghiệp trên dưới 5%, đây là con số tốt, trong khi đó ở nhiều nước khác, ngay cả Âu châu, trung bình là 10%. Có người phản bác lại bảo rằng Hoa kỳ có tạo ra công ăn việc làm, nhưng những việc này chỉ có tính cách tạm thời, chứ không phải là công ăn việc làm tốt, lâu bền. Đồng ý. Nhưng đây là chiều hướng kinh tế hiện đại. Sau một thời gian  toàn cầu hóa kinh tể, bảo rằng chiều hướng này không còn nữa, thì không đúng, nhưng chỉ đúng với trường hợp những hang xưởng thật lớn, còn là khuynh hướng “Trở về quốc nội”. Khi trở về quốc nội, thì những hãng xưởng bậc trung và bậc nhỏ giữ một vai trò quan trọng, nên những công việc tạo ra, có tính chất tạm thời và không cần đến kỹ thuật thiệt cao. Hơn thế nữa ở Hoa kỳ, dù một người có kỹ thuật cao, con ông cháu cha, nhà giầu, nhưng khi họ thất nghiệp, chỉ cần một thời gian ngắn, là họ đi làm, chấp nhận dẽ dàng bất cứ một công việc gì đến với họ, chứ không ngồi ăn thất nghiệp.

– Một chỉ dấu khác tốt cho kinh tế Hoa kỳ đó là chỉ dấu đầu tư. Đường biểu diễn của chỉ dấu này không tăng mạnh, nhưng có tăng, đủ để tránh khủng hoảng.

– Chỉ dấu tốt thứ tới là chỉ dấu tiêu dùng, nhờ giá dầu hỏa thấp, nên dân Hoa kỳ có được thặng dư trong ngân khoản này, nên đã dùng tiền tiêu xài thứ khác, hay mua xe mới. Chỉ dấu mua xe mới tăng, khác hẳn với năm 2009, hãng xe lớn của Hoa kỳ lâm vào tình trạng phá sản. Một cách tổng quát, chỉ dấu tiêu thụ của dân tăng một cách tương đối vào năm qua.

– Chỉ dấu tốt cho kinh tế Hoa kỳ hiện nay, đó là thị trường chứng khoán. Tất nhiên thị trường này có lúc trồi xụt; nhưng tương đối thì thị trường này tăng, không tăng nhiều, nhưng có tăng, đủ để tránh cho một cuộc khủng hoảng gần, vào những năm 2017 hay 2018. Xa nữa thì không rõ.

– Những chỉ dấu tốt khác là cán cân ngoại thương và tăng trưởng tổng sản lượng: Cán cân ngoại thương đi từ con số – 5,7; -5,8 vào năm 2005; 2006, nay chỉ còn -2,4; -2,3 năm 2014; 2015. Tổng sản lượng quốc gia tăng, với con số + 2,2; + 2,4 năm 2013; 2014; năm 2015 là + 3,1. Tôi lấy con số một năm trước cho chính xác.

Đó là về kinh tế quốc nội, còn về đối ngoại thì như thế nào?

Người ta có thể nói, nếu bà Hillary Clinton thắng cử, thì bà cũng được hưởng một tình trạng chính trị đối ngoại tương đối tốt.

Phải công nhận rằng vào nhiệm kỳ đầu của Obama, ông này, phải chăng còn quá lý tưởng, nên đi theo một chính sách ngoại giao “ngây thơ”, giơ tay muốn bắt với thế giới Ả rập, như bài diễn văn ông đọc tại thủ đô Le Caire của Ai cập, và thủ đô Jakarta của Nam dương, một nước Ả rập lớn không những ở châu Á mà ở cả thế giới.

Không những vậy, ông còn muốn bắt tay với cả Trung cộng. Vào ngay những ngày đầu của nhiệm kỳ đầu, ông tuyên bố: “Trung cộng là một đại cường quốc, nhưng không hành xử có trách nhiệm như một đại cường quốc”, hy vọng rằng Trung cộng sẽ thay đồi.

Tuy nhiên đến nhiệm kỳ nhì, thì đường lối ngoại giao của ông đã thay đổi, không còn ảo tưởng về Trung cộng và thế giới Ả rập.

Đây là 2 vấn đề lớn mà nếu bà Clinton thắng cử phải đương đầu: vấn đề Trung đông trong đó có dính dàng đến Nga và Âu châu; vấn đề châu Á thái bình dương có liên quan đến Trung cộng.

Nhưng di sản mà Obama để lại có xấu như một vài người nghĩ hay không?

Cũng không đến nỗi xấu lắm, nếu không muốn nói là tốt.

Vấn đề Trung Đông, vấn đề chính ở đây là vấn đề Nhà nước Hồi giáo? Như tin mới nhất cho chúng ta biết, những người Hồi giáo cực đoan đã chiếm vùng này, định lập nên một Nhà nước Hồi giáo. Tuy nhiên ngày hôm nay, nhà nước này đã bị đánh bật ra khỏi vùng Moussoul, phía bắc Irak. Những lực lương tham chiến gồm có nhiều, trước tiên là Liên minh các nước Trung Đông đứng đầu bởi Hoa kỳ, sau đó có Nga và Syrie, rồi tới Iran, Thổ nhĩ kỳ và ngay cả Lực lượng người Kurkes, ở phía đông nam Thổ nhĩ kỳ, muốn trở thành độc lập. Có người trách Hoa kỳ ở Trung Đông là đã nhân nhượng chính quyền độc đoán độc tài Assad của Syrie, mà trước đây Obama đã dọa trừng phạt vì chính quyền này xử dụng võ khí hóa học để giết những lực lượg đối lập. Rồi Obama lại nuốt lời hứa. Thêm vào đó ông lại dung túng Iran, kí hiệp ước về vấn đề nguyên tử và bỏ cấm vận cho Iran; ngay cả yếu mền với Nga, công nhận một phần nào sự có mặt của Nga ở vùng này, mà quên đi sự kiện Nga gửi quân chiếm đóng vùng Krimée của Ukhraine.

Đồng ý có những sự kiện đó, nhưng đã từ lâu, chính sách ngoại giao của Hoa kỳ là chỉ có đông minh trong từng hoàn cảnh, chứ không có bạn lâu dài.

Trong hoàn cảnh chống khủng bố ở Trung Đông, Hoa kỳ chấp nhận bất cứ lực lương nào, quốc gia nào đóng góp vào việc loại trừ khủng bố, Nhà nước Hồi giáo trong vùng này. Chúng ta nên nhớ việc đánh bật Nhà nước Hồi giáo khỏi Irak, nước Iran, ngay cả Syrie, trong đó có Nga, Lực Lượng Kurkes giữ một vai trò quan trọng.

Bảo rằng Lực lượng Nhà nước Hồi giáo đã bị tiêu diệt 100% khi bị đánh bật khỏi cứ điểm quan trọng là thành phố Moussoul, thì không đúng; nhưng lực lượng Nhà nước Hồi giáo đã bị khá yếu ở vùng này. Đây là một di sản tương đối tốt đẹp, mà nếu bà Hillary Clinton , nếu đắc cử, được hưởng.

Về châu Á Thái bình dương và chiến lược chuyển trục của Hoa kỳ:

Đây là một vùng quan trọng và có lẽ sẽ nóng bỏng trong tương lai về vấn đề bang giao quốc tế.

Nhiều người thấy việc Obama đi sang Hàn châu dự cuộc Họp Thượng đỉnh G20, không được trải thảm đỏ tiếp đón, rồi việc Tổng thống Phi luật tân Duarte tuyên bố lung tung, làm ra có vẻ bỏ Mỹ, theo Trung cộng, thì nghĩ rằng chính sách chuyển trục của Hoa kỳ là thất bại.

Đó chỉ là cái nhìn ngắn hạn và hời hợt bề ngoài. Nếu nhìn sâu và dài hạn thì không phải như vậy.

Hoa kỳ đã thành công trong việc chuyển trục, đã đặt được mình vào cái thế tất thắng lâu dài về tương lai.

Thực vậy, người ta có thể nói chưa bao giờ Hoa kỳ có những Hiệp ước liên minh quân sự với những nước  hàng đầu châu Á như Nhật bản, Nam Hàn, Đài loan  và ngay cả Ấn độ, như vào lúc này.Chưa bao giờ Hoa kỳ có những cuộc tập trận hỗn hợp nhiều bằng hiện nay.

Hoa kỳ đã chuyển 60% lực lương hải quân sang châu Á Thái bình dương, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm, nhưng ngân sách cho chấu Á thái bình dương vẫn tăng; như sự kiện Hoa kỳ vừa tăng cường Hạm đội Bảy, của vùng này, bằng một số tàu từ Hạm đội Ba, gần đây.

Có thể nói Obama đẵ đặt được thế chiến lược lâu dài ở vùng này, nhấn mạnh đến thế cờ, chứ không quan tâm đến một vài hành động và con tốt nhỏ.

Đây cũng là một di sản tốt, mà nếu bà Hillary Clinton đắc cử tổng thống, thì được thừa hưởng.

Người Việt Nam, xưa kia các cụ trồng dâu, nuôi tằm có câu: “Sẵn nong, sẵn né, sẵn cả con bé giữ em.”

Ngày hôm nay quả thực tình hình quốc nội và cả quốc ngoại của Hoa kỳ tương đối tốt. Nhưng “Con tằm Hillary Clinton” có nhả tơ tốt hay không.

Đây là một câu hỏi lớn và chờ tương lai trả lời.

Tuy nhiên dầu sao Hoa kỳ vẫn là một nước dân chủ, nếu con tằm Clinton không nhã tơ tốt, lấy những quyết định quan trọng, tốt để trở thành một vị tổng thống lớn, thì cũng không có thể nhả tơ xấu, vì sự quân bằng quyền lực, Thượng Viện và Hạ Viện không cho phép. Khác hẳn với những nước độc tài như Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn của Mao, Hồ và Kim, cùng con cháu sau này, vẫn tiếp tục nhả tơ xấu, dù dân đã chán ghét.

Paris ngày 02/11/2016

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

 

anhbasam

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »