Trần Hoàng Blog

►Formosa ở Vũng Áng có thể tàn phá môi trường hàng trăm năm vì Dòng Chảy Acid Thải ra từ Khai Thác Mỏ Sắt và Làm Thép

Posted by hoangtran204 on 10/10/2016

Lời dịch giả: Về việc Formosa gây ô nhiễm trên 200 km ven biển, đã có nhiều thông tin về nguyên do sự cố, phân tích khoa học v.v… nhưng lại thiếu thông tin phân tích về hệ lụy lâu dài. Qua hình ảnh và miêu tả nguyên nhân cá chết, có những dấu hiệu tương đồng với hiện tượng “dòng thải mỏ axit” trong hoạt động khai thác mỏ. Ví dụ, Kênh chứa nước thải đục ngầu của Formosa:

h1Nguồn ảnh: báo Người Đưa Tin

Trong một bài viết đăng trên trang Ba Sàm ngày 6-10-2016, TS Nguyễn Đức Thắng cho biết: “Cá ở 4 tỉnh miền Trung đã chết vì nước tầng đáy biển bị cạn kiệt oxy do sự cố Formosa Hà Tĩnh đã xả 2500 m3 nước thải của khâu súc, rửa, tẩy gỉ các hệ thống đường ống kim loại, có chứa khoảng 5 tấn cation sắt hai ( Fe2+), ‘phản ứng với’ oxy trong nước, làm cạn kiệt oxy vốn đã rất khan hiếm ở tầng đáy về ban đêm. Kết quả là đã tạo ra 9,6 tấn hydroxit sắt Fe(OH)3 không độc, mầu vàng nâu, còn tươi mới lắng đọng dưới đáy biển, thành màng rất mỏng, rải đều từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế”.

Để độc giả có khái niệm về khả năng tàn phá môi trường có thể xảy ra trong trường hợp Formosa có liên quan đến “dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ”, tôi xin mạo muội dịch bài “HARDROCK MINING: Acid Mine Drainage” của tác giả Alan Septoff, đăng trên báo Earth Works, phát hành năm 2005.

___________

Mỏ khoáng sản rắn: dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ

Earth Works

Tác giả: Alan Septoff

Dịch giả: Nguyễn Quan Tâm

16-12-2005

anhbasàm

Dòng thải mỏ axit – Acid mine drainage (AMD)

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ được coi là một trong mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho môi trường nước thiên nhiên (1). Hoạt động khai thác mỏ với dòng thải mỏ axit có tiềm năng tàn phá lâu dài tác động trên sông, suối và đời sống thủy sinh.

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hình thành như thế nào?

Dòng chảy axit thải ra từ khai thác mỏ là vấn đề lo ngại nghiêm trọng trong lãnh vực khai thác kim loại, vì mỏ kim loại ví dụ như vàng, đồng, bạc và molypden thường được tìm thấy trong đá với khoáng chất sulfide (ion lưu huỳnh S–). Trong quá trình khai thác khi ion lưu huỳnh sulfide tiếp xúc với nước và không khí chúng trở thành phản ứng hóa học tạo ra axit sulfuric, H2SO4. Chất axit sulfuric có thể làm tan chảy những kim loại độc trong đất đá xung quanh, tạo thành dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. Nếu không kiểm soát được, nước axit này có thể chảy vào suối, sông hoặc ngấm vào dòng nước ngầm. Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ có thể sinh ra từ bất kỳ giai đoạn nào trong hoạt động khai thác khi sulfide tiếp xúc với không khí và nước, bao gồm các đống đá thải, chất thải, mỏ hố, hầm ngầm, và đệm ngấm.

Thảm hại cho cá và các thủy sinh

Nếu chất thải của mỏ là axit, tác động hủy hoại cho cá, động vật và thực vật có thể rất nặng nề. Khi dòng nước thiên nhiên (pH=7), bị ô nhiễm bởi dòng chảy acid từ mỏ, độ pH sẽ giảm xuống pH=4  hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong bình ắc quy, pH =1 (2). Thực vật, động vật và cá khó sinh sống được trong môi trường như thế này. Ví dụ, dòng axit và kim loại tan chảy từ mỏ Questa molypden ở New Mexico đã tàn phá sinh học trong 13 km trên con sông Red River (3).

Kim loại độc

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ còn làm tan những kim loại độc hại như đồng, nhôm, cadmium, arsenic, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại này, đặc biệt là sắt, gây ô nhiễm môi trường qua lắng động thành một màng nhờn nhờn mầu cam-đỏ,lóng ở đáy dòng nước gọi là “yellowboy”. Cho dù với số lượng ít số kim loại tan này vẫn độc hại cho con người và sinh vật. Hơn nữa chất ô nhiễm theo dòng nước lan tràn ra một vùng rộng lớn gây hại cho thủy sinh từ chết cấp tốc cho đến ngộ độc từ từ, làm hại đến khả năng phát triển và sinh sản.

Vấn đề lo ngại đặc biệt là những kim loại tan này không phân hủy trong môi trường. Chúng tồn tại ở đáy dòng nước trong thời gian rất dài, làm ô nhiễm môi trường dài hạn cho hệ sinh thái (ví dụ: vi sinh vật bị ô nhiễm, cá nhỏ ăn vi sinh vật bị ô nhiễm, cá lớn ăn cá nhỏ bị ô nhiễm, con người ăn cá bị ô nhiễm).

Hơn 100 dặm trên sông Clark Fork ở Montana, sông Coeur d’Alene ở Idaho, và sông Columbia ở Washington bị ô nhiễm kim loại tan từ những hoạt động khai thác trước đây ở thượng nguồn.

Ô nhiễm vĩnh viễn

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ đặc biệt độc hại vì nó có thể tiếp tục tồn tại vô thời hạn, gây thiệt hại trong thời gian dài sau khi hoạt động khai thác đã chấm dứt (4). Do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ gây ô nhiễm chất lượng nước ở mức độ nghiêm trọng, nên nhiều mỏ ở Tây phương cần phải xử lý (lọc) nguồn nước vĩnh viễn. Ví dụ, các quan chức chính phủ đã xác định rằng dòng chảy acid thải ra từ khai thác tại mỏ Golden Sunlight sẽ tiếp tục tồn tại hàng ngàn năm (5). Cái giá xử lý nước là một gánh nặng kinh tế cho địa phương nếu công ty khai thác phá sản hoặc từ chối trang trải chi phí xử lý nước. Ví dụ,

  • Axit chảy tràn từ mỏ Summitville ở Colorado giết chết tất cả sinh học trong một đoạn 27 km trên sông Alamosa. Vùng này đã được chỉ định thành vùng Superfund của liên bang, và Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) của Mỹ phải chi tiêu $30.000/ một ngày (USD trị giá vào năm 2000) để xử lý ô nhiễm (6)
  • Tại bang South Dakota, công ty khai thác mỏ Dakota đã từ bỏ mỏ Brohm năm 1998, để lại South Dakota với $40 triệu chi phí trong việc xử lý và bình thường hóa môi trường sau khi những hoạt động khai quật – phần lớn là do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. (7)
  • Tại mỏ Zortman Landusky ở Montana, chính phủ tiểu bang Montana gánh chịu hàng triệu đô chi phí xử lý nước sau khi công ty Pegasus Gold Corp phá sản năm 1998 (8)

h2Mỏ axit thời Roman ở Anh vẫn tồn tại sau 2000 năm. Nguồn: Earth Works

Ngay cả với công nghệ hiện có, dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hầu như không thể ngăn chận lại được khi các phản ứng hóa học đã bắt đầu.

Việc cho phép khai thác mỏ có dòng chảy acid thải ra có nghĩa là đã xếp đặt các thế hệ tương lai sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý môi trường ô nhiễm có thể kéo dài đến hàng trăm năm. Dự đoán về sự thành công trong việc quản lý chất thải này trong dài hạn khả năng tốt nhất cũng chỉ là suy đoán (9)

Nguồn:

  1. USDA Forest Service 1993, Acid Mine Drainage from Impact of Hardrock Mining on the National Forests: A Management Challenge. Program Aid 1505. p. 12.
  2. Mineral Policy Center, Golden Dreams, Poisoned Streams, 1995.
  3. Atencio, Earnest, High Country News, “The mine that turned the Red River Blue,” August 2000.
  4. Placer Dome 2002, Available: http://www.placerdome.com/sustainability/environment/reports/ard.html
  5. Montana Department of Environmental Quality, Draft Environmental Impact Statement, Golden Sunlight Mine, November 1997.
  6. U.S. Environmental Protection Agency, Liquid Assets, 2000.
  7. McClure, Robert. “The Mining of the West: Profit and Pollution on Public Lands”. Seattle Post- Intelligencer, June 13, 2001.
  8. Ibid.
  9. Environmental Mining Council of B.C., Acid Mine Drainage: Mining and Water Pollution Issues in B.C., Brochure.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: