Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám, 2016

►Lần đầu trong lịch sử đảng CSVN: Súng nổ, người chết trong văn phòng đảng

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2016

 

Những phát súng bên trong văn phòng Đảng

RFA

Mặc Lâm, BTV RFA

18-8-2016

Lần đầu tiên một cuộc xả súng xảy ra bên trong Ủy ban Nhân dân tỉnh Yên Bái, giết chết Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh và ngay sau đó sát thủ cũng là một cán bộ kiểm lâm cao cấp, cũng tự sát sau khi gây án. Vụ giết người đẫm máu này cho thấy điều gì trong nội bộ của UBND tỉnh Yên Bái, và hệ quả nó ra sao?

Chấn động dư luận

Bảy viên đạn K59 bắn vào ba người, ba viên cho ông Bí thư tỉnh ủy Phạm Duy Cường, ba viên cho ông Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Ngô Ngọc Tuấn, viên còn lại dành cho người gây án: Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái.

Vụ án gây chấn động Ủy ban Nhân dân tỉnh Yên Bái và báo chí vì kẻ hạ thủ là một cán bộ kiểm lâm cao cấp, vào Ủy ban nhân dân tỉnh mà không bị khám xét hay nghi ngờ vì ông Cường là khuôn mặt quen biết với cán bộ nơi đây. Sau khi vụ án xảy ra, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã mở cuộc họp báo công khai trả lời báo chí chi tiết sự việc, tuy nhiên nguyên nhân vụ giết người vẫn còn là điều bí ẩn.

Theo sự giải thích của ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc Công an tỉnh cho biết thì sáng hôm nay, 18 tháng 8 sẽ có cuộc họp HĐND tỉnh vào lúc 8 giờ.  

Nhưng vào khoảng 7 giờ trước lúc khai mạc, ông Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh đi vào trụ sở tỉnh ủy, trước tiên đến phòng làm việc dùng súng K59 bắn Bí thư tỉnh ủy Phạm Duy Cường, tiếp đó ông Minh đến phòng làm việc của ông Ngô Ngọc Tuấn cách đó 150m và bắn ông Tuấn. Ngay sau đó ông Minh dùng súng tự sát tại phòng làm việc của ông Tuấn.

H1

 

 

 

 

 

Đây là lần đầu tiên Chính quyền Việt Nam có một động thái được xem là hiếm thấy, đó là tổ chức họp báo ngay sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đích thân tới Ủy ban nhân dân tỉnh để làm việc sau khi vụ xả súng xảy ra. Động thái này nhằm minh bạch hóa vụ án không để dư luận xôn xao, mất phương hướng và nhất là cán bộ đảng viên cả nước mất bình tĩnh vì câu chuyện giết người này.

Tuy nhiên nguyên nhân dẫn đến hành động nghiêm trọng này vẫn là một dấu hỏi lớn đối với người dân. Hàng chục lý do xoay quanh động cơ giết người của một cán bộ kiểm lâm làm người ta chú ý ngay tới việc phá rừng cũng như buôn lậu gỗ đang là đề tài nóng của tỉnh Yên Bái trong thời gian gần đây.

Động cơ giết người chính là câu hỏi bức xúc nhất của dư luận ngay sau khi vụ án diễn ra, mỗi người nhận định một cách khác nhau và trước tiên chúng tôi xin ý kiến của ông Lê Văn Cuông, nguyên đại biểu Quốc hội, được ông cho biết:

“Theo cảm nhận của tôi thì chuyện này thuộc về cá nhân thôi không có vấn đề chính trị gì trong này. Chắc là có mắc mứu cá nhân mà hành động nó không làm chủ được, nó bột phát như thế. Cụ thể như thế nào thì cơ quan điều tra người ta tìm hiểu kỹ để xác định được nhưng theo suy nghĩ và nhận định của tôi thì đây không phải là trường hợp mang tính chất chính trị mà đây là trường hợp mâu thuẫn cá nhân mà thôi.”

Có người cho rằng phải chăng vấn đề tổ chức nhân sự đã làm cho ông Minh bất mãn vì sợ mất ghế dẫn tới hành động giết người? Theo bà Phạm Thị Thanh Trà Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, người tổ chức cuộc họp báo cho biết trước khi vụ việc xảy ra, tỉnh có chủ trương sáp nhập Chi cục kiểm lâm với một đơn vị khác, tuy nhiên chưa có quyết định gì cụ thể, lãnh đạo tỉnh đã gặp ông Minh để vận động tư tưởng. Bà Trà khẳng định không có cơ sở để cho rằng nguyên nhân vụ việc dính tới công tác tổ chức cán bộ.

Rúng động đảng cộng sản

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, cũng là một nhà báo từng làm việc nhiều năm trong UBND thành phố Hồ Chí Minh cho biết:

“Vì bất cứ lý do gì thì cũng dẫn tới hành vi bắn nhau! Thay vì làm đơn tố cáo hay triệt hạ nhau bằng những thủ pháp chính trị như trước đây có nghĩa là về mặt mức độ xung đột và tính chất xung đột đã khác hẳn trước đây, nó thể hiện ra hành vi và hành vi cực kỳ thô bạo, hành vi đó là hành vi thảm sát. Tất nhiên bây giờ chưa thể biết đây có vấn đề tư thù, quyền lợi hay tranh chấp nhưng khi đã thể hiện ra như vậy và giữa những người quan chức cấp cao như vậy thì rõ ràng đây là chuyện lớn rồi, đây là chuyện rất nguy hiểm đối với đảng, có thể nói nó đẩy đảng đứng trước một bờ vực. Một ranh giới sụp đổ trên bờ vực.”

Ông Kha Lương Ngãi, nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng nhận định theo cảm xúc của một người trông mong cuộc thay đổi, mặc dù giải pháp bạo động không phải là khuynh hướng mà ông ủng hộ:

Những diễn biến tình hình gần đây từ tới giờ tôi vẫn có một cái niềm hy vọng mà cũng có thể là một niềm tin nữa, đó là ngay trong nội bộ của tập đoàn cầm quyền vẫn có những người muốn chuyển hóa, muốn diễn biến theo xu hướng tiến bộ cho nên tôi vẫn hy vọng có một lực lượng có một xu thế hay một người nào đó họ sẽ có những hành động, chủ trương hướng về sự tiến bộ. Trường hợp này cũng có thể là nội bộ họ xâu xé họ đấu đá với nhau mà cũng có thể nói là một trong những cái xu hướng tiến bộ có thể đang diễn ra.”

Ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương nhìn cuộc tàn sát này là vấn đề nội bộ trong bối cảnh mâu thuẫn quyền lực và chia chát quyền lợi. Khả năng lấy cấp dưới làm dê tế thần cũng là một điều cần chú ý:

“Cái vụ này mình chưa có thông tin đầy đủ nhưng theo cá nhân tôi thì có vấn đề. Cái anh kiểm lâm ấy anh bức xúc một vấn đề gì đấy có thể anh có những sai lầm gì đấy của hệ thống nhưng anh ta là con dê bị bắt ra để tế anh ấy uất ức thì tiêu diệt cái đám hệ thống của anh, đấy có thể là một khả năng chứ không phải tự nhiên người ta lại điên rồ gì mà lại đi giết nhau như vậy.

H1

 

 

 

 

 

 

Đây là vấn đề mâu thuẫn quyền lực cũng như lợi ích. Đặc biệt vấn đề hiện nay là cấp trên ăn no đủ rồi bây giờ tìm một thằng để tế và như thế thì mình phải xem xét lại toàn bộ hệ thống cái nhân cách của con người trong bộ máy rõ ràng nó đang có vấn đề. Ăn chia với nhau không sòng phẳng nên diệt nhau. Khi bình thường thì dùng người ta để mà kiếm chác đến khi có nguy cơ gì đấy thì đem người ta ra để tế thì người ta sẽ không chịu.

Nó là vấn đề mâu thuẫn trong hệ thống mafia thôi người ta gọi cho nó nhẹ nhàng là nhóm lợi ích nhưng mà lợi ích này là lợi ích của mafia, lợi ích của bọn kẻ cướp với nhau.”

Nhà báo Phạm Chí Dũng nhận xét vụ án theo một góc khác, góc tự diễn biến nội bộ của đảng cộng sản Việt Nam trước các vấn đề lợi ích cá nhân và tranh chấp ngấm ngầm giữa các phe phái:

“Có thể nói đây là lần đầu tiên nếu tính từ thời điểm từ năm 1975 tới nay. Trước đây cũng đã xảy ra vụ quan chức bắn nhau nhưng nó nằm ở cấp xã chủ yếu ở một số địa phương nhưng trường hợp đó cũng hiếm. Còn đây là lần đầu tiên xảy ra vụ quan chức bắn nhau mà thảm sát hàng loạt làm tôi nhớ có một sự thay đổi đáng kể về tính chất.

Tháng 9 năm 2013 xảy ra vụ một nông dân là Đặng Ngọc Viết đã dùng súng bắn vào quan chức tỉnh Thái Bình do bị đền bù và cưỡng chế và bây giờ sau 3 năm lại xảy ra vụ không phải dân bắn quan chức mà là quan chức bắn nhau, hơn nữa không phải quan chức cấp thấp mà là quan chức cấp cao, Bí thư tỉnh và Chủ tịch HĐND tình tức là Phó bí thư tỉnh như vậy là đụng tới Ủy viên trung ương rồi.

Tôi cho rằng nó đặc biệt quan trọng ở chỗ này: đó là không khí xung đột trong nội bộ đảng đã phát triển tới tiệm cận giới hạn bùng nổ thảm sát cá nhân, có nghĩa là căng thẳng lắm rồi. Tất cả những gì mà trước đây người ta xưng hô với nhau đồng chí này đồng chí kia tất cả những cái đó đều là sáo ngữ hết, và bây giờ không còn đồng chí nữa, thậm chí người ta sẵn sàng loại trừ thanh trừng lẫn nhau vì quyền lực, vì quyền lợi và vì những rủi ro áp đặt lẫn nhau, thành thử tôi cho rằng cái vụ quan chức bắn nhau ở Yên Bái nó sẽ mở ra một giai đoạn mới cho cuộc xung đột nội bộ trong đảng.”

Những viên đạn tuy nổ trong văn phòng của một cơ quan thuộc tỉnh Yên Bái nhưng tiếng vang của nó làm cả nước sửng sốt. Người dân thực sự đang theo dõi từng chút vì theo như lời thú nhận của bà Phạm Thị Thanh Trà trong cuộc họp báo: vụ án đã gây chấn động sâu xa trong nội bộ cán bộ đảng viên và người dân tỉnh Yên Bái.

 

Theo rfa

Nguyên nhân?

Nguyên nhân của vụ nổ súng nghiêm trọng này hiện vẫn chưa được biết.

Trả lời Đài Á Châu Tự Do (RFA), ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương nhìn cuộc tàn sát này là vấn đề nội bộ trong bối cảnh mâu thuẫn quyền lực và chia chát quyền lợi. Ông nói:

“Cái vụ này mình chưa có thông tin đầy đủ nhưng theo cá nhân tôi thì có vấn đề. Cái anh kiểm lâm ấy anh bức xúc một vấn đề gì đấy có thể anh có những sai lầm gì đấy của hệ thống, nhưng anh ta là con dê bị bắt ra để tế, anh ấy uất ức thì tiêu diệt cái đám hệ thống của anh, đấy có thể là một khả năng chứ không phải tự nhiên người ta lại điên rồ gì mà lại đi giết nhau như vậy.

Đây là vấn đề mâu thuẫn quyền lực cũng như lợi ích. Đặc biệt vấn đề hiện nay là cấp trên ăn no đủ rồi bây giờ tìm một thằng để tế, và như thế thì mình phải xem xét lại toàn bộ hệ thống cái nhân cách của con người trong bộ máy rõ ràng nó đang có vấn đề. Ăn chia với nhau không sòng phẳng nên diệt nhau. Khi bình thường thì dùng người ta để mà kiếm chác, đến khi có nguy cơđấy thì đem người ta ra để tế, thì người ta sẽ không chịu.

Nó là vấn đề mâu thuẫn trong hệ thống mafia thôi người ta gọi cho nó nhẹ nhàng là nhóm lợi ích, nhưng mà lợi ích này là lợi ích của mafia, lợi ích của bọn kẻ cướp với nhau”.

Đặc biệt nghiêm trọng

Được biết, ngay sau khi vụ việc xảy ra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có mặt ở Yên Bái, trực tiếp chỉ đạo giải quyết vụ việc.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, chưa từng xảy ra ở Việt Nam. Ông Phúc yêu cầu Bộ Công An khẩn trương điều tra vụ án và công bố thông tin đến người dân.

Vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày 18 tháng 8, Ủy ban Nhân dân Tỉnh Yên Bái tổ chức họp báo với sự tham dự của Chủ tịch tỉnh, bà Phạm Thị Thanh Trà và Giám đốc Công an tỉnh, Thiếu tướng Đặng Trần Chiêu.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên, hai vị này cho biết thủ phạm, ông Đỗ Cường Minh là người hiền lành, con rể của một nguyên bí thư Tỉnh Yên Bái, đã được bổ nhiệm đúng quy trình và luôn hoàn thành tốt công tác.

Hai vị này nói thêm là sáng nay, ông Minh không được mời đến dự họp, nhưng trước khi phiên họp khai mạc, ông Minh xin phép được gặp Bí thư tỉnh là ông Phạm Duy Cường và vụ nổ súng đã xảy ra.

____

BBC

em trai hung thu 2

Đỗ Cường Minh tại gia đình dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.

Qua tài liệu ban đầu của cơ quan điều tra, Đỗ Cường Minh sinh ngày 28-11-1963, là con một cán bộ chủ chốt tỉnh Hoàng Liên Sơn trước đây.

Năm 2011, em trai Đỗ Cường Minh là là Đỗ Phú Giang, trong lúc say rượu, đã dùng dao chém chết một người bạn và hiện đang thụ án 20 năm tù.

Từ công nhân trở thành Chi cục trưởng Kiểm Lâm.

Vntinnhanh.vn – Trước khi trở thành Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, ông Minh từng có 2 năm làm công nhân đường sắt, hơn 10 năm đi học và làm việc tại Đài Phát thanh Truyền hình Hoàng Liên Sơn (nay là Đài Phát thanh Truyền hình Yên Bái).

Đỗ Cường Minh không phải là dân Kiểm lâm “nòi”. Năm 1983, anh ta công tác tại Xí nghiệp đường sắt Hà  – Lào, năm 1986 chuyển về công tác tại Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hoàng Liên Sơn.

10 năm sau, Minh mới chuyển sang công tác tại Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, biên chế tại Trạm kiểm lâm 16.

Tháng 6-2008 được bổ nhiệm làm Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái.

Theo thông tin, ông Đỗ Cường Minh được bổ nhiệm làm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái từ tháng 3/2014 và buổi lễ công bố chính thức diễn ra vào ngày 4/4/2014.

Ông Minh được nói là con rể một cựu Bí thư Yên Bái.

Tỉnh Yên Bái cho biết vợ của ông Đỗ Cường Minh cũng là một ủy viên ban chấp hành tỉnh ủy.

Vợ chồng Minh có một con gái độc nhất sinh năm 1992, hiện đang du học ở Thụy Sỹ mới về nước được ít ngày.

Theo thông tin tại cuộc họp báo cung cấp cho báo chí, cá nhân Đỗ Cường Minh là người hiền lành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong cuộc sống gia đình hay công việc không có vấn đề gì cả. Ông Minh cũng được giới thiệu, bổ nhiệm rất đúng quy trình.

Nhận xét về quá trình làm việc của ông Minh tại đây, một người làm việc tại Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái cho biết, ông Minh là người hiền lành nhưng có phần cục tính

Liệu điều này có tác động đến ông Minh? Sáp nhập cơ quan.

Bà Thanh Trà giải thích Bộ Chính trị Đảng Cộng sản có nghị quyết 39 tinh giản biên chế, chính phủ có quyết định 1228 về sắp xếp biên chế.

Một chi tiết được quan tâm là Sở Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn Yên Bái đã có chủ trương sáp nhập chi cục kiểm lâm (nơi ông Minh làm việc) và chi cục phát triển lâm nghiệp.

Liệu điều này có tác động đến ông Minh?

“Nhưng chưa có quyết định chính thức, chưa bàn đồng chí nào sẽ làm giám đốc khi sáp nhập. Nhưng bản thân đồng chí Minh đã gặp đồng chí Bí thư tỉnh, được làm công tác tư tưởng.”

“Nhưng đồng chí Bí thư cũng chỉ mới nói rằng đang tiếp tục xem xét. Quá trình phải do tập thể quyết định. Vì thế chưa đến độ vì có quyết định mà dẫn đến việc này.”

ở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái đang sắp xếp theo thông tư của Bộ Nông nghiệp, tức là sáp nhập Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp.

“Tuy nhiên, chúng tôi mới thống nhất về chủ trương chứ chưa có quyết định chính thức thành lập, và chưa bàn đồng chí nào làm giám đốc sau khi sáp nhập. Quá trình đó phải được tập thể thường trực quyết định. Đồng chí Minh đã được Bí thư tỉnh gặp gỡ làm công tác tư tưởng. Không thể khẳng định việc sáp nhập, bố trí cán bộ liên quan đến động cơ gây án”, bà Trà nói.

Bà Trà cũng bác bỏ động cơ gây án liên quan đến trách nhiệm của Chi cục trưởng Kiểm lâm trong các vụ phá rừng trước đây: “Những vụ đó phân cấp trách nhiệm rõ, cấp nào làm cấp đó chịu, chưa hề nhắc đến kiểm lâm, nên không liên quan đến hành động của đồng chí Minh”.

_____

Trước đây khi 2 ông nầy cần gì, thì ông Minh đều đáp ứng. Nhờ đó, ông mới chi tiền để từ chi cục phó được nâng lên làm chi cục trưởng 2014. Nhưng trước mắt là tinh giản biên chế.

Liệu bí thư tỉnh ủy và trưởng ban tổ chức tỉnh đã đòi ông Minh nộp thêm một số tiền quá lớn thì mới được tiếp tục làm chi cục trưởng Lâm Nghiệp, nhưng ông Minh không có đủ tiền, vì phải lo cho con gái du học Thụy Sĩ, và vì quá tức giận hai ông nầy ăn quá nhiều mà vẫn đòi thêm, nên ông Minh bắn chết cả hai.

.________

Ông Phạm Duy Cường, sinh năm 1958, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái ngày 26/2/2015 tại Hội nghị lần thứ 25 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái nhiệm kỳ 2010 – 2015.

Ông Cường từng công tác thời gian dài tại Nhà máy xi măng Phú Thịnh, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là Nhà máy xi măng Yên Bái), sau đó kinh qua các chức vụ: Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Phó bí thư Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái. Ông Cường không phải là ủy viên trung ương đảng.

Ông Ngô Ngọc Tuấn, sinh năm 1964, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái.

Ông được bầu giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh tại phiên họp của HĐND tỉnh ngày 30/6. Ông Tuấn từng là Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bí thư Huyện ủy Văn Chấn; Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu; Chánh văn phòng Tỉnh ủy Yên Bái.

___

Từ công nhân trở thành chi cục trưởng kiểm lâm

Vntinnhanh.vn – Trước khi trở thành Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, ông Minh từng có 2 năm làm công nhân đường sắt, hơn 10 năm đi học và làm việc tại Đài Phát thanh Truyền hình Hoàng Liên Sơn (nay là Đài Phát thanh Truyền hình Yên Bái).

Đỗ Cường Minh, sinh 1963, không phải là dân Kiểm lâm “nòi”. Năm 1983, anh ta công nhân công tác tại Xí nghiệp đường sắt Hà  – Lào, năm 1986 chuyển về công tác tại Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm gửi lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ông Đỗ Cường Minh sinh năm 1963, quê xã Văn Lâm (Yên Mỹ, Hưng Yên), hiện thường trú ở phường Đồng Tâm, TP Yên Bái.

Tháng 9/1983, ông Minh khởi nghiệp là công nhân Xí nghiệp đầu máy Hà Lào thuộc ngành đường sắt.

Từ tháng 9/1985, ông chuyển đến làm việc tại Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Hoàng Liên Sơn. Công tác 2 năm tại nhà đài, ông Minh tiếp tục theo học trường Công nhân kỹ thuật Truyền thanh – Truyền hình tỉnh Hà Nam Ninh từ năm 1987 đến 1990. Học xong, Đỗ Cường Minh trở về công tác tại Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là Đài Yên Bái) cho đến năm 1996 thì chuyển tới Chi cục Kiểm lâm Yên Bái.

Sau 12 năm làm việc trong ngành kiểm lâm, Minh được bổ nhiệm giữ chức Chi cục phó từ giữa năm 2008.

Tháng 3/2014, Chủ tịch tỉnh Yên Bái ký quyết định bổ nhiệm Minh giữ chức Chi cục trưởng Kiểm lâm.

Có chuyên môn là cử nhân luật, lý luận chính trị cao cấp và trình độ B về ngoại ngữ, ông Minh vào Đảng tháng 9/2001.

Vợ nghi can Minh là Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Yên Bái, là con gái nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Ý.

Vợ chồng ông Minh có một con gái, đang học tại Đại học Quản trị kinh doanh (HTM) Thuỵ Sĩ.

Nghi can Đỗ Cường Minh.

Trong lễ nhậm chức tháng 3/2014, ông Đỗ Cường Minh hứa với lãnh đạo tỉnh Yên Bái sẽ hết sức mình cùng lực lượng kiểm lâm sát cánh với các cấp chính quyền bảo vệ 400.000 ha rừng, trong đó hơn một nửa là rừng tự nhiên.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng, Chi cục được trang bị 50 khẩu súng tiểu liên AK; 55 khẩu súng K59; 4 khẩu súng điện; 118 khẩu súng bắn đạn hơi cay và cao su; 91 dùi cui điện; 83 còng số 8, 38 áo chống đạn…

Chủ trì cuộc họp báo chiều 18/8, đề cập tới nguyên nhân vụ án, bà Phạm Thị Thanh Trà, Chủ tịch tỉnh Yên Bái, (ủy viên trung ương đảng), bác bỏ thông tin động cơ gây án của ông Minh có liên quan đến việc bố trí cán bộ khi tỉnh chuẩn bị sáp nhập Chi cục Kiểm lâm với Chi cục Lâm nghiệp, cũng như các vụ phá rừng trước đó.

Phá rừng tại Yên Bái rất tinh vi và phức tạp

Thắng Quang
18-8-2016
 
Lãnh đạo Bộ NN&PTNT cho hay, nguyên nhân dẫn đến rừng tự nhiên ở Yên Bái vẫn chảy máu làm do công tác quản lý rừng vẫn còn buôn lỏng. Một bộ phận cán bộ kiểm lâm làm việc chưa quyết liệt.

Sáng 18/8, trao đổi với Zing.vn, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, những năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ rừng đã có những chuyển biến đáng kể nhưng nạn phá rừng vẫn xảy ra, với hình thức tinh vi hơn.

Theo vị lãnh đạo này, một trong nguyên nhân dẫn đến rừng tự nhiên ở Yên Bái vẫn chảy máu làm do công tác quản lý rừng vẫn còn buôn lỏng. Một bộ phận cán bộ kiểm lâm vẫn chưa thực sự quyết liệt để cho “lâm tặc” phá rừng.

 

 

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

► Xung quanh chuyện hoàn thuế của Formosa

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Vũ Thành Tự Anh
Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Thứ Năm, 18/8/2016, 08:57 (GMT+7)

(TBKTSG) – Việc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa), doanh nghiệp gây ra thảm họa môi trường ở miền Trung hồi tháng 4, đã được hoàn thuế hơn 13.000 tỉ đồng(*) đang thu hút sự chú ý của dư luận. Sự thật về khoản tiền hoàn thuế này là như thế nào?

Theo Công văn 3475/TCT-KK ngày 4-8-2016 của Tổng cục Thuế, từ tháng 4-2014 đến tháng 5-2016, Cục Thuế Hà Tĩnh đã hoàn tổng cộng 13.483 tỉ đồng thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho Formosa. Việc này hợp pháp vì theo Thông tư 205/2009/TT-BTC, đối với các máy móc, thiết bị… trong nước chưa sản xuất được thì doanh nghiệp sẽ được hoàn thuế Giá Trị Gia Tăng hàng nhập khẩu. (Xem thêm box Cơ sở pháp lý để hoàn thuế GTGT cho Formosa).

Tuy nhiên, có một số khe hở từ các quy định của Việt Nam đã bị Formosa lợi dụng triệt để.

Thứ nhất, nếu Formosa giữ công nghệ xử lý cốc khô như ban đầu thì việc hoàn thuế GTGT để khuyến khích nhập khẩu công nghệ thân thiện với môi trường là điều nên làm. Tuy nhiên, khi Formosa tự tiện đổi sang công nghệ xử lý cốc ướt, với nguy cơ gây ô nhiễm rất cao, thì chẳng nhẽ Chính phủ vẫn phải hoàn thuế cho công nghệ lạc hậu, chỉ vì công nghệ lạc hậu này trong nước chưa sản xuất được?!

Rõ ràng quy định của Việt Nam hiện nay quá lỏng lẻo khi việc hoàn thuế chỉ dựa vào năng lực sản xuất trong nước (vốn rất yếu) chứ không dựa vào trình độ công nghệ, do vậy vô hình trung mở đường cho công nghệ thải ngang nhiên vào Việt Nam.

Thứ hai, lấy lý do bị tổn thất vì “sự kiện 14-5-2014”, Formosa khai vống số thiệt hại, lấy đó làm đòn bẩy để gây sức ép. Cụ thể là Formosa khai báo tổng thiệt hại lên tới 5.533 tỉ đồng, cao gấp 75 lần so với kết quả đánh giá thiệt hại của cơ quan bảo hiểm và cơ quan chức năng Hà Tĩnh.

Tại sao mức thiệt hại do Formosa ước lượng lại cao ngất ngưởng như vậy? 

 
(“Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Formosa sẽ tai qua nạn khỏi, tiếp tục gây ô nhiễm, không đời nào rút khỏi VN nhờ vào sự bao che của đảng- theo Trần Hoàng)
Lý do là công ty này tính cả các “thiệt hại trong tương lai”. Về mặt kinh tế, cách tính này hoàn toàn có lý. Song vô lý là ở chỗ khi Formosa trở thành thủ phạm thì họ lại không chấp nhận nguyên tắc do chính họ sử dụng, không đếm xỉa tới những thiệt hại gián tiếp và trong tương lai của người dân, doanh nghiệp, và môi trường mà họ đã làm tổn thương.

Đến nay Chính phủ chưa hề có một công bố chính thức nào về ước lượng tổng thiệt hại do Formosa gây ra, song nếu tính đúng, tính đủ những thiệt hại kể cả hiện tại và tương lai, cả trực tiếp và gián tiếp, chắc chắn con số thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều lần so với 500 triệu đô la Mỹ mà Formosa cam kết bồi thường.

Thứ ba, là trong hồ sơ nộp cho Cục Thuế và Hải quan Hà Tĩnh để nhận hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn do “sự kiện 14-5-2014”, Formosa đã kê khai sai, lập hợp đồng xây dựng bổ sung không đúng quy định, kê khai bổ sung khấu trừ và hoàn thuế GTGT của 19.497 hóa đơn, chứng từ, với tổng số tiền khai man lên tới hơn 1.730 tỉ đồng!

Thứ tư, lợi dụng tư cách “nạn nhân”, công ty này đã đòi miễn giảm, miễn phạt và hoàn lại số tiền phạt cho cả những vi phạm xảy ra trước “sự kiện 14-5”?! Tổng số tiền Formosa trục lợi từ hành vi này lên tới 281 tỉ đồng!

Khi cấp giấy phép đầu tư cho Formosa, chính quyền Hà Tĩnh kỳ vọng dự án này sẽ làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của tỉnh, sẽ đem tới thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế và lao động cho tỉnh. Tất cả những điều này đều đang xảy ra, chỉ có điều theo chiều ngược lại. Những bãi biển vắng hoe, ngư dân không thể bám biển, sống vất vưởng, còn diện mạo và môi trường kinh doanh – đầu tư của Hà Tĩnh thì xấu hơn bao giờ hết.

Khi cấp giấy phép đầu tư cho Formosa, chính quyền cũng nuôi hy vọng là dự án này sẽ trở thành động lực đột phá cho cả vùng Bắc Trung bộ. Giờ đây, người dân từ Nghệ An cho đến Huế chưa thấy quả ngọt đâu mà chỉ thấy trái đắng do vụ thảm sát môi trường mà Formosa gây ra. Không những thế, với 53 sai phạm lớn nhỏ, với chất thải rải khắp nơi, từ công viên cho tới trang trại hay rừng dự án, thậm chí vượt hơn 500 cây số ra tận Phú Thọ, Formosa đang trở thành một của nợ không ai muốn bị liên lụy. 

Chính phủ đã có chủ trương không thu hút đầu tư FDI bằng mọi giá. Chính phủ cũng không nên giữ chân FDI bẩn bằng mọi giá, nhất là khi cái giá phải trả là sinh kế của hàng vạn con người và sự tồn vong của hàng vạn héc ta hệ sinh thái ven biển.

(*) Các trích dẫn về thông tin và số liệu trong bài lấy từ Công văn 3475/TCT-KK 
ngày 4-8-2016 của Tổng cục Thuế.
LÊ KIÊN

 

 
 
______

Formosa tự ý thay đổi công nghệ luyện cốc từ khô sang ướt – Tuổi Trẻ Online – Báo Tuổi Trẻ

11-7-2016

TTO – Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 11-7, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường Trần Hồng Hà cho biết trong số 53 vi phạm bị phát hiện, nguy hiểm nhất là việc Formosa tự ý thay đổi công nghệ luyện cốc.

Hệ thống bến cảng của Formosa để nhập, xuất hàng hóa - Ảnh: VĂN ĐỊNH
Hệ thống bến cảng với 23 cầu cảng của Formosa để nhập, xuất hàng hóa – Ảnh: VĂN ĐỊNH

(Theo Tiến sĩ môi trường Mai Thanh Truyết, Formosa nhập chất thải từ khắp nơi trên thế giới, chở vào Hà Tỉnh, và thải ra biển. Vì không lý nào Formosa chỉ mới chạy thử, công suất chỉ bằng 1/4, nhưng có khả năng gây ô nhiễm trên một diện rộng, sâu, và kéo dài 200 km- theo Trần Hoàng.)

 

Ông Hà nói: “Qua kiểm tra, phát hiện trong giai đoạn hiện nay Formosa đang chạy thử nghiệm trước khi cơ quan nhà nước vào kiểm tra để cho phép hoạt động”.

“Formosa có 6 nhà thầu nước ngoài, liên quan việc chuyển giao công nghệ, lắp đặt thiết bị, cho đến vận hành hệ thống nước thải. Các nhà thầu này hầu hết là của Trung Quốc”.

“Qua kiểm tra đã phát hiện Formosa có 53 hành vi vi phạm về hành chính. Trong đó liên quan đến cả những quá trình như thiết kế, vận hành, xây dựng, thi công, kể cả những vấn đề qua thử nghiệm chúng ta phát hiện sự cố liên quan đến việc triển khai hệ thống xử lý chưa đúng quy chuẩn, quy định của pháp luật, của cơ quan quản lý”.

Vẫn theo bộ trưởng Hà, “trong 53 hành vi đó thì đặc biệt có một hành vi là tự ý thay đổi công nghệ nghệ xử lý cốc, từ công nghệ xử lý cốc khô (có nghĩa là công nghệ thân thiện) sang công nghệ xử lý cốc ướt (là công nghệ phát tán rất nhiều chất thải, đặc biệt là khí thải). Đây là việc họ tự ý điều chỉnh, tuy nhiên việc thay đổi công nghệ này không liên quan đến sự cố môi trường vừa rồi”.

“Hiện nay, Formosa đang trong quá trình chạy thử. Phải nói rằng nơi có nguồn thải nguy hiểm nhất đó là lò luyện cốc. Tại đấy nguồn nước thải ra được xử lý tại trạm sinh hóa. Cho đến nay mới chạy ¼ công suất”.

Ông Hà khẳng định: “Việc diễn ra ô nhiễm như vậy có thể khẳng định là do sự cố. Trên thực tế khi vận hành đầy đủ và đúng quy định, được kiểm tra chặt chẽ, thì chúng ta cho rằng nó hoàn toàn có thể đảm bảo được kiểm soát và xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường”.

Trình bày về công tác quản lý lao động nước ngoài (chủ yếu là lao động Trung Quốc) tại khu công nghiệp của Formosa, Thứ trưởng Bộ Lao động, thương binh và xã hội Phạm Minh Huân cho biết bộ đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra.

“Hiện nay khoảng 70% lao động ở Formosa đã được cấp giấy phép. Chúng tôi giao cho địa phương Hà Tĩnh cấp phép và việc cấp giấy phép đã diễn ra đúng quy định” – ông Huân nói.

LÊ KIÊN

 

 
 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Nghi phạm bắn chết Bí thư tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức tỉnh Yên Bái, cũng đã chết, không khởi tố vụ án

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Nghi phạm bắn hai lãnh đạo Yên Bái đã chết, không khởi tố vụ án

18-8-2016  14:24

TTO – Ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc Công an tỉnh Yên Bái, cho biết do nghi phạm Đỗ Cường Minh đã chết nên cơ quan công an không khởi tố vụ án hình sự.

Bà Phạm Thị Thanh Trà, chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, chủ trì buổi họp báo thông tin về vụ việc – Ảnh: THÂN HOÀNG

14g20 chiều nay 18-8, tỉnh Yên Bái tổ chức họp báo vụ việc Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết. 

Buổi họp báo do Tỉnh ủy, UBND tỉnh ủy tổ chức thông tin về vụ việc nghiêm trọng này.

Buổi họp báo do bà Phạm Thị Thanh Trà, chủ tịch UBND, ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc Công an tỉnh, ông Hà Đức Hoan, trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy, chủ trì.

Khoảng 30 báo từ Hà Nội lên và thường trú tại Yên Bái quan tâm đến vụ việc đã có mặt tại hội trường tỉnh ủy.

14g35, bà Trà thay mặt tỉnh ủy, UBND tỉnh thông tin vụ việc. Theo đó, lúc hơn 7g sáng 18-8, ông Phạm Duy Cường – bí thư Tỉnh ủy Yên Bái và ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức bị bắn tại phòng làm việc.

Giọng nói run run, bà Trà cho biết hai lãnh đạo chủ chốt của tỉnh là bí thư tỉnh ủy, chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh ủy bị sát hại là mất mát, đau thương lớn đối với người dân, các đồng bào dân tộc của tỉnh Yên Bái.

Bà Trà thay mặt lãnh đạo tỉnh thông tin một số nội dung đầy đủ và chính xác về vụ việc. Theo chương trình làm việc sáng nay, HĐND tỉnh tổ chức kỳ họp thứ 2, dự kiến khai mạc lúc 8g nhưng riêng đại biểu HĐND tỉnh sẽ có mặt sớm hơn, lúc 7g45 để chuẩn bị cho việc khai mạc kỳ họp.

Trước lúc khai mạc, khoảng 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh, đi vào trụ sở tỉnh ủy, dùng súng K59 đi đến phòng làm việc bắn bí thư tỉnh ủy.

Tiếp đó ông Minh đi đến phòng làm việc của ông Tuấn cách đó 150m và bắn ông Tuấn. Ngay sau đó ông Minh dùng súng tự sát tại phòng làm việc của ông Tuấn.

Đại diện của khoảng 30 cơ quan truyền thông đã có mặt tại hội trường Tỉnh ủy Yên Bái chờ họp báo – Ảnh: THÂN HOÀNG

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, các bác sĩ của bệnh viện đa khoa tỉnh đã có mặt đưa những người bị bắn đi cấp cứu.

Bà Trà  trực tiếp liên lạc với Bệnh viện Bạch Mai để điều động những bác sĩ tốt nhất lên Yên Bái cứu chữa các nạn nhân.

Lãnh đạo tỉnh Yên Bái cũng đã báo cáo trung ương về vụ việc. Tỉnh đã tập trung huy động tối đa lực lượng tập trung cứu chữa.

Tỉnh cũng báo cáo Thủ tướng Chính phủ huy động các bác sĩ giỏi nhất của hai bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức lên Yên Bái để cứu chữa cho hai lãnh đạo tỉnh này.

Đồng thời chỉ đạo công an tỉnh phong tỏa hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại trụ sở tỉnh ủy, khám nghiệm hiện trường. An ninh tại một số khu vực được thắt chặt. Tỉnh ủy cũng triệu tập cuộc họp để lên phương án ổn định tình hình, không để người dân hoang mang.

Theo bà Trà, đây là sự việc gây rúng động dư luận. Các cơ quan chức năng đã tăng cường hỗ trợ Yên Bái điều tra nguyên nhân vụ việc.

Bộ Công an đã cử thượng tướng Nguyễn Văn Thành, thứ trưởng Bộ Công an, trực tiếp đến hiện trường thị sát, chỉ đạo công tác điều tra.

Bà Trà cũng cho biết Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã lên Yên Bái ngay trong buổi sáng để nắm bắt thông tin vụ việc, triệu tập cuộc họp với lãnh đạo tỉnh Yên Bái để chỉ đạo điều tra nguyên nhân, sớm ổn định tình hình trật tự trên địa bàn cũng như tư tưởng của người dân.

Đây là mất mát lớn lao, đau đớn vô cùng không chỉ của lãnh đạo mà của cả nhân dân tỉnh Yên Bái.

Tuổi Trẻ đặt câu hỏi đầu tiên và chia sẻ với mất mát của tỉnh Yên Bái: Xin được hỏi trực tiếp ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh: từ công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập thông tin, tài liệu, có thể cho biết nguyên nhân ban đầu dẫn đến việc ông Đỗ Cường Minh gây ra vụ việc rúng động bắn hai lãnh đạo chủ chốt của tỉnh?

Báo Nông nghiệp Việt Nam: Ông Minh có dấu hiệu bị tâm thần không? Nguyên nhân nào mà một cán bộ, đảng viên lại có hành động như vậy?

VTV hỏi trực tiếp ông Đặng Trần Chiêu: Xin cho biết động cơ gây án của nghi can?

Báo Tuổi Trẻ: Khẩu súng mà nghi can sử dụng để gây án lấy từ đâu? Khám nghiệm hiện trường, khám xét nhà của nghi can có phát hiện thư tuyệt mệnh, lời trăn trối gì để lại hay không? Được biết nghi can là con rể của một nguyên lãnh đạo tỉnh, xin cho biết động cơ gây án có liên quan gì đến công tác tổ chức cán bộ của tỉnh hay không?

Ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh, cho biết sự việc xảy ra rất mau lẹ. Chúng tôi tập trung ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn và cứu chữa nạn nhân, kể cả nghi phạm gây án.

Hiện nay ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đã tắt thở lúc 13g05.

Theo ông Chiêu, trong lúc này chưa có đủ căn cứ trả lời được, xin hẹn trả lời vào dịp khác

Việc khẩu súng của Đỗ Cường Minh, chúng tôi kiểm tra vũ khí do Bộ NN và PTNT cấp cho lực lượng kiểm lâm.

Theo quy định của Bộ Công an, khẩu súng này được cấp cho người sử dụng là Đỗ Cường Minh.

Khẩu súng là vũ khí quân dụng được trang bị cho chính nghi can.

Nội dung nghi phạm có thư trăng trối gì không, chúng tôi đang phối hợp với Tổng cục An ninh, Bộ Công an kiểm tra, khám xét nơi ở và nơi làm việc của nghi phạm nên chưa kết luận chính xác.

Trả lời tại cuộc họp báo, bà Trà cho biết giám đốc công an tỉnh đã nêu một số vấn đề mà các báo hỏi, tuy nhiên vụ việc đang trong quá trình điều tra nên chưa thể cung cấp nguyên nhân chính xác về vụ việc.

“Liên quan đến việc bổ nhiệm ông Minh, trước đây ông Minh là người rất hiền lành, luôn cố gắng hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ được giao. Trong đối nhân xử thế không có vấn đề gì. Theo suy nghĩ của tôi, có thể trong một phút không làm chủ được bản thân nên có hành vi hồ đồ gây ra hậu quả đau lòng” – bà Trà nói.

Cũng theo bà Trà, trước khi vụ việc xảy ra, tỉnh có chủ trương sáp nhập Chi cục kiểm lâm với một đơn vị khác, tuy nhiên chưa có quyết định gì cụ thể, lãnh đạo tỉnh đã gặp ông Minh để làm tư tưởng. Đến nay không có cơ sở để khẳng định nguyên nhân vụ việc do công tác tổ chức cán bộ.

Bà Trà cho biết sáng nay ông Minh vào trụ sở làm việc của tỉnh ủy có thông qua văn phòng tỉnh ủy và phiên họp HĐND sáng nay không có nội dung nào liên quan đến ông Minh. “Có thể nói đây là cơn bão lòng” – bà Trà nói.

Tuổi Trẻ tiếp tục đặt câu hỏi: Được biết những vụ việc phá rừng tại Yên Bái đã quy trách nhiệm cho ông Minh, đây có phải là một trong nhữnômg lý do gây án?

Bà Trà cho biết tại kỳ họp trước không nhắc đến trách nhiệm cụ thể ông Minh. Việc phá rừng thì trách nhiệm thuộc các đơn vị có trách nhiệm, tỉnh cũng đang yêu cầu xử lý. Tuy nhiên tỉnh chưa có quyết định cụ thể gì liên quan đến trách nhiệm của ông Minh.

Theo bà Trà, ngay sau khi vụ việc xảy ra, nghe tỉnh ủy báo cáo tình hình, Thủ tướng chính phủ đồng ý điều động một trực thăng lên để nếu có thể đưa hai lãnh đạo tỉnh về Hà Nội cấp cứu. Tuy nhiên rất đáng tiếc đến 13g05, cả hai ông đều đã tử vong.

Thủ tướng chính phủ chỉ đạo, Ban thường vụ tỉnh ủy đã thống nhất giao ông Dương Văn Thống, phó bí thư thường trực tỉnh ủy, chịu trách nhiệm chỉ đạo chung hoạt động Đảng bộ của tỉnh.

Khẩu súng K59 được bắn hết đạn

Ông Đặng Trần Chiêu cho biết do nghi phạm là người quá quen, khi đến trụ sở tỉnh ủy có đăng ký với văn phòng, được cán bộ dẫn lên. Vì ông Minh là cán bộ, người quen nên không kiểm tra người và không phát hiện nghi phạm mang súng.

Ông Chiêu cho biết lúc 15g26 chiều cùng ngày, nghi phạm Đỗ Cường Minh gây ra vụ án rúng động này đã tử vong.

Theo ông Chiêu do nghi phạm, người thực hiện hành vi giết người đã chết nên theo quy định của pháp luật nên cơ quan công an không khởi tố vụ án hình sự.

Ông Đặng Trần Chiêu cho biết vị trí phòng làm việc của ông Phạm Duy Cường cách vị trí phòng ông Ngô Ngọc Tuấn khoảng 150m. Tuy nhiên, khi nghi phạm nổ súng bắn ông Cường mà không ai phát hiện là do loại súng K59 có tiếng nổ không lớn.

(Cơ ngơi Tỉnh ủy quá lớn! Một số hình ảnh Phapluatplus.vn ghi nhận được tại hiện trường.

Khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái. Ảnh T.H
Khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái. Ảnh T.H
Rất nhiều người bất ngờ khi nhận được thông tin vụ án xảy ra.
Rất nhiều người bất ngờ khi nhận được thông tin vụ án xảy ra.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ban đầu, cơ quan công an xác định nghi phạm bắn ông Cường trước, rồi mới bắn ông Tuấn. Do phòng ông Cường cửa kín nên cán bộ làm việc tại trụ sở tỉnh ủy không nghe được tiếng súng.

Khi nghi phạm sang phòng làm việc của ông Tuấn, các cán bộ của Ban tổ chức tỉnh ủy cũng nhìn thấy, nhưng nghĩ là đến phòng ông Tuấn có việc. Chỉ sau khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phòng ông Tuấn, mọi người mới chạy sang, bàng hoàng phát hiện cả ông Tuấn và nghi phạm nằm dưới nền nhà.

Ông Chiêu cho biết thêm, khẩu súng K59 đối tượng sử dụng tại hiện trường đã bắn hết đạn, không có nòng giảm thanh. Công an thu được 4 vỏ đạn tại phòng làm việc của ông Tuấn và 4 vỏ đạn khác ở phòng làm việc của ông Cường. 

THÂN HOÀNG – ĐỨC BÌNH

*Bà Trà mô tả về nghi can Đỗ Cường Minh “là người rất lành hiền, cố gắng để hoàn thành nghĩa vụ”, bà cũng nói ông Minh là “con của nguyên lãnh đạo tỉnh”. Nhưng bà Trà cũng nói “có thể tâm lý gì diễn biến trong nội tâm không làm chủ được” và có “dấu hiệu của sự cực đoan”.

Trước câu hỏi của phóng viên báo tại Việt Nam là vụ bắn có liên quan đến tình ái hay làm ăn, bà Thanh Trà nói “chắc chắn không có liên quan đến công tác cán bộ” và ông Minh “được tín nhiệm giữ chức chi cục trưởng chi cục kiểm lâm”.

Ở Sở Nông nghiệp tỉnh này đã có sự thống nhất về chủ trương sáp nhập Chi cục Kiểm Lâm và Chi cục Lâm nghiệp.

Thông tin tiểu sử

Ông Phạm Duy Cường, sinh năm 1958, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái ngày 26/2/2015 tại hội nghị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái. Ông từng là Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Phó bí thư Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Trong khi đó, ông Ngô Ngọc Tuấn, sinh năm 1964, vừa được bầu giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Yên Bái vào tháng 6. Ông cũng kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái.

Người bắn, Đỗ Cường Minh, sinh năm 1963, từng giữ chức vụ Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, và giữ chức vụ Chi cục trưởng ngày 1/4/2014.

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái và Chủ tịch HĐND tỉnh bị bắn chết, nghi phạm là chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái tự tử

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Trích: Sáng nay 18-8, ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đến trụ sở tỉnh ủy từ sớm để chuẩn bị dự buổi khai mạc kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên trước khi kỳ họp diễn ra, khoảng ngoài 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đi vào trụ sở tỉnh ủy. Ông Minh vào phòng làm việc của ông Cường và rút súng bắn vào đầu bí thư tỉnh ủy. Sau đó ông Minh đóng cửa phòng của ông Cường lại rồi đi sang phòng ông Tuấn và tiếp tục bắn ông Tuấn.

Ngay sau khi bắn hai lãnh đạo của tỉnh Yên Bái, ông Minh dùng súng tự sát ngay tại phòng ông Tuấn.”

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong

Tuổi Trẻ

18-8-2016

TTO- Một vụ án nghiêm trọng xảy ra sáng 18-8 tại Yên Bái. Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm trưởng Ban tổ chức tỉnh ủy Yên Bái Ngô Ngọc Tuấn bị bắn đã tử vong vào trưa cùng ngày.

* Bí thư tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong tại BV Đa khoa Yên Bái. Nghi phạm Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, tự bắn vào đầu tự tử.

An ninh được thắt chặt ở khu vực bệnh viện, nơi đang cấp cứu cho các nạn nhân sau vụ nổ sưng - Ảnh THÂN HOÀNG
An ninh được thắt chặt ở khu vực bệnh viện, nơi đang cấp cứu cho các nạn nhân sau vụ nổ súng – Ảnh THÂN HOÀNG

 

Các nạn nhân đã được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Nghi phạm dùng súng bắn vào hai lãnh đạo tỉnh Yên Bái là Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái. 

Lúc 11g trưa nay, cả ba người đang nằm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Phía ngoài cổng bệnh viện, tình hình an ninh được thắt chặt, lực lượng công an, cảnh sát cơ động, kiểm soát quân sự thiết lập nhiều vòng bảo vệ. Liên tiếp các xe biển xanh của trung ương và của tỉnh Yên Bái ra vào bệnh viện. Người dân tập trung hai bên đường cũng rất đông…

Trước đó, trong sáng 18-8, ngay sau khi nhận được thông tin, Bộ Y tế đã điều kíp bác sĩ của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức lên Yên Bái, do đánh giá tình hình không thể chuyển bệnh nhân về Hà Nội.

Khoảng 10g sáng, hai kíp bác sĩ này đã trực tiếp tham gia ca mổ cho các bệnh nhân. Nhưng tình hình được đánh giá là rất nguy kịch và không bắt được mạch.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Việt Đức do ông Trịnh Hồng Sơn, PGĐ bệnh viện chủ trì.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai bao gồm ông Nguyễn Đạt Anh, trưởng khoa cấp cứu A9.

Ngoài ra còn có ông Dương Đức Hùng trưởng đơn vị C4, Viện Tim mạch quốc gia.

Trưa cùng ngày, thượng tướng Nguyễn Văn Thành, thứ trưởng Bộ Công an, đã có mặt tại Yên Bái để trực tiếp chỉ đạo xử lý vụ việc.

Xác nhận với Tuổi Trẻ lúc 13g chiều cùng ngày, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết khoảng 12g30, ông Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong vì vết thương quá nặng. Trước đó, ông Phạm Duy Cường cũng đã tử vong.

Theo nguồn tin riêng của Tuổi Trẻ, hai nạn nhân đều bị bắn 2-3 phát đạn. Một bị bắn vào ngực, bụng và đầu. Một bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu.

Riêng nghi phạm Đỗ Cường Minh tự sát bằng cách bắn vào đầu. Ông Cường và ông Tuấn tử vong trước khi đến bệnh viện. Kíp bác sĩ Hà Nội lên tích cực hồi sức nhưng không hiệu quả.

Tin từ cuộc họp báo chiều 18-8 tại Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh cũng đã tử vong sau đó.

Khu vực phòng làm việc của bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái đã được Công an phong toả, khám nghiệm điều tra nguyên nhân vụ việc - Ảnh: Thân Hoàng
Khu vực phòng làm việc của bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái đã được Công an phong tỏa, khám nghiệm điều tra nguyên nhân vụ việc – Ảnh: THÂN HOÀNG

 

 

Hủy kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh Yên Bái 

Theo dự kiến kỳ họp sẽ được khai mạc chính thức vào 8g sáng nay 18-8. Lý do hủy kỳ họp vào phút cuối theo một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết vì lý do trên.

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Phạm Duy Cường

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, vụ việc rúng động này vừa xảy ra vào sáng nay, ông Phạm Duy Cường – bí thư tỉnh ủy và ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh Yên Bái bị chi cục trưởng chi cục kiểm lâm của tỉnh này dùng súng bắn.

Ngô Ngọc Tuấn - Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái 

Sáng nay, ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đến trụ sở tỉnh ủy từ sớm để chuẩn bị dự buổi khai mạc kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên trước khi kỳ họp diễn ra, khoảng ngoài 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đi vào trụ sở tỉnh ủy. Ông Minh vào phòng làm việc của ông Cường và rút súng bắn vào đầu bí thư tỉnh ủy. Sau đó ông Minh đóng cửa phòng của ông Cường lại rồi đi sang phòng ông Tuấn và tiếp tục bắn ông Tuấn.

Ngay sau khi bắn hai lãnh đạo của tỉnh Yên Bái, ông Minh dùng súng tự sát ngay tại phòng ông Tuấn. Xác nhận vụ việc trên vớiTuổi Trẻ, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết hiện cả ba ông đã được đưa vào bệnh viện tỉnh cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Vị lãnh đạo này cũng cho biết không thể di chuyển ba ông xuống Hà Nội cấp cứu được, các bác sĩ từ Hà Nội đang cấp tốc lên Yên Bái.

Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái Đỗ Cường Minh

Được biết, ông Minh được bổ nhiệm làm chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái từ tháng 3-2014. 

Hiện các cơ quan chức năng đã phong tỏa hiện trường để khám nghiệm, điều tra.

Dự kiến 14g30 chiều nay, 18-8, tỉnh Yên Bái sẽ tổ chức họp báo về vụ việc này. TTO sẽ chuyển tải nội dung cuộc họp báo, mong bạn đọc đón xem.

Ông Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVII tái đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Ông Phạm Duy Cường sinh ngày 9-12-1958 tại xã Ninh Sở, Thanh Trì, Hà Nội. 

Ông là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh; Kỹ sư Vật liệu xây dựng. Ông Cường từng giữ các chức vụ Giám đốc Nhà máy xi măng Yên Bái; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Ông Ngô Ngọc Tuấn – Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái sinh ngày 18-8-1964.  Quê quán: xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Trình độ chuyên môn: Đại học Nông nghiệp chuyên ngành Kinh tế, Đại học Luật

Ông hiện là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 – 2021 kiêm Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

THÂN HOÀNG – ĐỨC BÌNH – LAN

___________

Thấy gì khi lãnh đạo đảng bị bắn ngay trong phòng họp UBND?

Nguyễn Tấn Thành

18-8-2016
Thấy áp bức mà ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái – ông Đỗ Cường Minh này nhận chỉ là nhỏ. Còn cả ngàn ông đang bị áp bức hơn thế, kể cả ông X đang bị dồn tới đường cùng …

Trong cả ngàn ông này cũng sẽ có hơn trăm ông làm theo Đỗ Cường Minh rút súng bắn lãnh đạo đảng nữa.

Thấy Mác, Lê, Mao, Hồ cũng có cái đúng là ở đâu có áp bức là ở đó có đấu tranh. Tình trạng áp bức nhau trong nội bộ đảng là thường xuyên, nhưng hôm nay còn cao hơn khi Đất nước giờ khánh kiệt khó còn chỗ vơ vét. Buộc đám mới lên phải áp bức, bóc lột, vơ vét đám cũ tạo ra những mâu thuẫn phải đấu tranh tới cùng.

Thấy thế là chưa thấy, phải thấy:

– Với một Đất nước tiêu điều, với một đội ngũ lãnh đạo dư sự ngu dốt để tìm một con đường ra, thừa lưu manh côn đồ để đàn áp Dân và đồng đảng với nhau như thế này, thì tất yếu sẽ có nhiều Đổ Cường Minh trong tương lai gần. Nhưng chắn chắn trong những Đổ Cường Minh đó không ai cũng chọn tự tử sau khi giết lãnh đạo đảng+. Mà họ còn sống để giết tiếp để giải phóng Dân tộc, để cho con cái của họ được sống trong một Đất nước không còn Cộng sản.

– Hôm nay chỉ một Đổ Cường Minh đơn lẻ, nhưng chắc chắn ngày mai trước khi làm họ ngồi lại với nhau, thành một nhóm Đổ Cường Minh để giết nhiều lãnh đạo đảng+ hơn. Để cuối cùng đảng+ sinh ra từ bạo lực rồi chết vì bạo lực của chính các thành viên của họ, là luôn luôn đúng.

Và như vậy mới thấy thế lực thù địch của đảng+ giờ không chỉ là Formosa, Ngư Dân đói khổ, cán bộ đảng viên ngu dốt tham tàn, bạn vàng Trung+ khốn nạn, nền kinh tế te tua bởi các Doanh nghiệp Nhà nước, Dân oan khắp nơi oán thán, tham nhũng từ CA Phường tới lãnh đạo cao cấp …. mà còn từ cả ngàn Đổ Cường Minh khắp trong đảng+

Và như vậy mới thấy ngoài cơn bão Cách mạng của những người Dân bị bóc lột, bị đàn áp, bị cướp đất cướp nhà kia, còn có một cơn bão khác bạo lực hơn của hàng ngàn Đổ Cường Minh cũng đang lù lù kéo tới.

Số phận của đảng Cộng sản như vậy thì theo quy luật sinh ra trong bạo lực thì sẽ chết trong bạo lực, nhưng chẳng lẽ số phận của Đất nước là phải thay đổi bằng cách như vậy chăng !?

_____

Kênh 13

Rúng động tại Yên Bái: Chi Cục trưởng Kiểm lâm dùng súng bắn Lãnh đạo tỉnh rồi tự sát

Long Nhất

18-8-2016

Tại cuộc họp HĐND tỉnh Yên Bái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm đã bất ngờ rút súng bắn thẳng về phía 2 lãnh đạo tỉnh Yên Bái.

Sự việc vừa xẩy ra vào khoảng hơn 8h sáng nay (18/8) tại một kỳ họp do Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái tổ chức.

Trao đổi với Phapluatplus.vn, một lãnh đạo nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái cho biết, vừa tiếp nhận thông tin một lãnh đạo tỉnh và một đồng chí Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy bị ông Đỗ Cường Minh dùng súng gây sát thương. Hiện cả hai đang được cấp cứu, điều trị tại bệnh viện.

H1

Theo thông tin ban đầu mà PV Phapluatplus.vn cập nhật được, ngay tại cuộc họp HĐND tỉnh Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm đã bất ngờ rút súng bắn thẳng về phía 2 lãnh đạo Tỉnh Yên Bái (xin không đưa tên cụ thể).

Sự việc xẩy ra rất bất ngờ khiến nhiều Lãnh đạo, cán bộ tham dự cuộc họp chứng kiến một phen thất kinh.

Ngay sau khi bắn về phía 2 lãnh đạo tỉnh Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh đã cầm súng tự bắn thẳng vào đầu mình để tự sát.

Hiện chưa thể xác định được hung thủ dùng súng tự sát có bị tử vong hay không. Về diễn tiến sức khỏe của hai vị lãnh đạo tỉnh Yên Bái được xác định có một người đang có dấu hiệu nguy kịch.

Theo thông tin ngoài luồng cho biết 2 người bị bắn được cho là: Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái Phạm Duy Cường và Trưởng ban Tổ chức tỉnh uỷ.

Posted in Thời Sự, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Vài Sự Thật về Cách Mạng tháng 8, 1945 – Gs Nguyễn Đình Cống

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

GS. Nguyễn Đình Cống: VÀI SỰ THẬT VỀ CÁCH MẠNG THÁNG 8 – 1945

 
 


Nguyễn Đình Cống
16.08.2016VÀI ĐÁNH GIÁ NHẦM TRONG CM THÁNG 8Nhân dịp kỷ niệm CM tháng 8, ngoài những điều nhiều người đã biết, đã thuộc lòng, cũng nên nhìn vào vài đánh giá và tuyên truyền nhầm, sai sự thật để hiểu thêm lịch sử. Xin bắt đầu từ tháng 5- 1941, khi Đảng Cộng sản thành lập Mặt trận Việt Minh (VM) với mục tiêu : “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
Tuyên bố công khai là thế, mục tiêu trước mắt là như vậy, rất tốt đẹp, rất rõ ràng, nhưng xét ra việc thực tế đã làm được, mục tiêu chính và lâu dài không hoàn toàn đúng như thế.

Đêm 9 tháng 3- 1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất VN không còn một người Pháp cai trị.
Ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp.
(Ngày 17) Tháng 4- 1945, giải tán Triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng.
Ngày 15 – 8 Nhật đầu hàng Đồng minh.
Ngày 17 – 8 Chính quyền Hà nội tổ chức Mit tinh, treo Cờ Quẻ Ly để chào mừng nước Việt Nam độc lập. Cuộc mit tinh này đã bị người của VM cướp đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương Cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo VM.
Từ trước ngày 17-8 thủ tướng Trần Trọng Kim, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã 5 lần tiếp xúc, hội đàm với đại diiện của VM tại Hà nội ( Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang) với đề nghị mời người của VM tham gia Chính phủ hoặc hợp tác lập Chính phủ liên hiệp để chuẩn bị đón tiếp quân Đồng minh, nhường quyền kiểm soát phần lớn đất nước cho VM một cách hòa bình. Nhưng cả 5 lần đều bị đại diện VM từ chối với tuyên bố là VM đủ lực lượng để cướp toàn bộ chính quyền mà không cần sự hợp tác nào hết, chỉ có đấu tranh một mất một còn.

Để tỏ rõ thiện chí không dùng bạo lực, chính phủ ông Kim và Bảo Đại không thành lập quân đội, không có Bộ Quốc phòng.

Ngày 19-8-1945 Việt Minh cướp chính quyền ở Hà nội. Sau đó việc cướp chính quyền lan rộng ra toàn quốc. Việc cướp này diễn ra dễ dàng, nhanh chóng vì không gặp phải sự chống đối . Ngày 25-8 vua Bảo Đại thoái vị.

 

Về việc tuyên bố độc lập của Bảo Đại và sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim hiện có 2 luồng nhận định rất khác nhau. Theo tuyên truyền của VM thì bọn ông Kim chỉ là một lũ bù nhìn, tay sai cho Nhật, là bọn Việt gian bán nước. Ngược lại, theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý, Chính phủ bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước, có trình độ cao, có tinh thần dân tộc mạnh và đã làm được nhiều điều có ích lợi cho dân tộc. Nếu như VM không kiên quyết tiêu diệt mà hợp tác với họ thì vận mệnh đất nước có lẽ đã khác nhiều. Việc này như thế nào xin để lịch sử phán xét.

Riêng chuyện CM tháng 8 đã đánh Pháp, đã đuổi Nhậtgiành độc lập mà trên 70 năm qua nhiều người Việt vẫn tin và khẳng định như vậy thì thực tế lịch sử đã chỉ ra rõ ràng là không đúng. Trong thời gian diễn ra CM tháng 8, Việt Minh không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật nào. VM quả thực đã lợi dụng được thời cơ và điều kiện rất thuận lợi để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim khi Pháp đã bị Nhật loại bỏ, Nhật đã đầu hàng, chính quyền hợp pháp không có quân đội, không chống lại.

Hơn nữa khi Cách Mạng sắp nổ ra, tổng chỉ huy quân Nhật tại VN có đề nghị với Bảo Đại và Trần Trọng Kim, rằng nếu phiá Việt Nam yêu cầu, thì quân đội Nhật sẽ giúp bảo vệ chính quyền và đánh tan Việt Minh. Nhưng các ông đã không đồng ý, nghĩ rằng như thế là huynh đệ tương tàn, là làm đổ máu của người Việt một cách không cần thiết. Ông Kim còn đòi Nhật thả nhiều thanh niên Việt Minh bị Nhật bắt giam trước đó. Nhật đã thả họ. Trong tuyên ngôn thoái vị, Bảo Đại nêu cao tình đoàn kết dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. VM cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần một thế kỷ đất nước bị đô hộ. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu lại chỉ ra rằng trước đó mấy tháng nước VN đã độc lập, đã thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Mặc dầu lúc đó trên lãnh thổ còn có quân Nhật, nhưng Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa, VN có chính phủ riêng, Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Nếu cứ khăng khăng cho rằng Bảo Đại và Trần Trọng Kim bị lệ thuộc vào Nhật thì sau khi Nhật đầu hàng họ cũng đã thoát khỏi sự lệ thuộc đó và độc lập của VN được bảo đảm. Như vậy thì CM tháng 8 đã không đánh Pháp, không đuổi Nhật, càng không giành độc lập cho đất nước. Từ tháng 4- 1945, và đặc biệt từ sau 15- 8 nước VN đã hoàn toàn độc lập. CM tháng 8 chỉ làm một việc duy nhất là cướp chính quyền để thay đổi chế độ và bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là tuyên ngôn lần thứ hai, sau tuyên ngôn của Bảo Đại.

Đảng Cộng sản đang trên đà thắng lợi thì ngày 01 tháng 11- 1945 tuyên bố tự giải tán. Một số người cho rằng đây là một nước cờ khá cao của Đảng, nhằm bảo toàn lực lượng trước sự phá hoại, khủng bố của các thế lực thù địch. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu không chấp nhận lời giải thích ấy, cho rằng đó là một sự dối trá, một nước cờ quá thấp, định dùng nó để đánh lừa chính phủ Mỹ, nhưng đã không qua mắt được tình báo của họ.

Nguyên do là Hồ Chí Minh biết Mỹ ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp. VM đã từng xem Mỹ là bạn, đã nhận nhiều viện trợ của họ. Hồ Chí Minh cũng rất biết Mỹ không ưa gì cộng sản, vậy muốn nhận được sự ủng hộ chân thành và tận tình của Mỹ thì phải xa rời cộng sản. Nhưng rồi mưu mô dối trá tự giải tán của CSVN đã không lừa được Mỹ, cho nên Tổng thống Mỹ Truman không trả lời những bức thư của Hồ Chí Minh liên tiếp gửi đến. Và Mỹ ủng hộ Pháp trở lại VN với mong muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng cộng sản. Thế rồi CS VN mắc mưu Mao Trạch Đông biến Mỹ từ bạn thành thù.

Khi vận động thành lập VM, Đảng CS kêu gọi liên hiệp các tầng lớp nhân dân yêu nước, các đảng phái cùng đánh đuổi Nhật Pháp, giành độc lập. Tham gia vào VM có các đảng như : VN Quốc dân đảng, đảng Cách mệnh VN, đảng Đại Việt, đảng Hưng Việt, đảng Việt cách. Khi VM cướp được chính quyền thì ban đầu cũng có nhường cho các đảng một số ghế trong Quốc hội, nhưng về sau các đảng khác đều bị cộng sản gắn nhãn việt gian, phản động, bị tiêu diệt công khai hoặc ngấm ngầm. Ngay Đảng Dân chủ, đại diện cho doanh nhân và Đảng Xã hội, đại diện cho trí thức được hoạt động một thời gian rồi cũng bị giải tán. Không những thế, sau này trong kháng chiến chống Pháp, trong cải cách ruộng đất, trong nhiều phong trào khác nhiều người yêu nước đã bị hãm hại chỉ vì họ là địa chủ, tư sản hoặc có vài ý kiến bất đồng. Làm như vậy phải chăng để CS thực hiện mục đích chính là độc chiếm vai trò thống trị.

Một số người lập luận rằng nếu không có đảng CS lãnh đạo làm CM tháng 8 thì đất nước VN không có được như ngày nay. Đó là một kiểu ngụy biện. Và ngày nay của VN như thế nào, có đáng mơ ước và tự hào không.

Nếu năm 1945 những người theo Đảng làm CM tháng 8 biết được tương lai của VN sau 70 năm sẽ như bây giờ, rất nhiều giá trị bị đảo ngược, nếu họ biết Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Văn Linh nói : “ Biết đi với Trung quốc thì mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng” thì liệu có bao nhiêu người hăng hái theo Đảng, hy sinh cho Đảng. Hà Sĩ Phu bình luận câu nói của ông Linh là rất dại, rất ngu, rất phản động. Thực ra rất đau xót và nhục nhã cho dân tộc vì con đường đi với Trung quốc đó đang được một số người có chức quyền ra sức thực hiện chỉ vì lợi ích nhóm của Đảng Cộng Sản, còn một số khá đông khác thuộc nhân dân thì vì sợ đủ mọi thứ mà chịu yên lặng, chịu hèn yếu chấp nhận sự hủy hoại, sự diệt chủng do Trung cộng gây ra cho dân Việt một cách từ thâm trầm đến ào ạt.

Nhân kỷ niệm lần thứ 71 của “Cách Mạng tháng 8”, viết ra vài sự thật đã từng ít được quan tâm để đóng góp vào việc hiểu thêm lịch sử.


Theo NT

Về Việt Minh. Đa số người đi theo VM không phải là cộng sản. Việt Nam Độc lập đồng Minh hội là cộng sản. Còn Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, thành lập 1942, là của 2 đảng phái quốc gia và của những người ái quốc không theo đảng phái nào cả. Lý Thụy bị Trung Hoa bắt, được VNCMĐMH bảo lãnh ra tù, thề nguyền phục vụ, nhưng khi được phái về VN cuối 1944, thì HCM phản bội, phục hoạt VNĐLĐMH … Một Cơn Gió Bụi, của Trần Trọng Kim, (Chương 4)  http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx… 

_____

đây là link trích lại lời nói của ông Hồ Chí Minh rỉ tai cho báo Nhân Dân biết rằng lực lượng cộng sản thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.

Nhận định quân đội Nhật tại Việt nam thời điểm đó rệu rã, hoảng loạn là thiếu chính xác. Ngay ngày 22/08/1945, kiều dân và binh lính Pháp ở khách sạn Metropol Hà Nội, đối diện Bắc Bộ Phủ nổ súng gây hấn, quân Nhật đã bao vây trọn khu vực, đảm bảo an ninh nhanh chóng.
Trong lần thăm Thái Nguyên năm 13/13/1960, ông Hồ Chí Minh rỉ tai phóng viên báo Nhân Dân đi cùng, rằng, thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.
Thật sự Hà Nội khởi nghĩa thành công đã ba ngày mà Trung ương Đảng CSVN không hề biết, thậm chí còn cho đó là sự manh động, sẽ bị đàn áp như cuộc nổi dậy tại Warsaw (Ba Lan) thời điếm cuối Thế Chiến 2.
Ông Lê Trọng Nghĩa viết:
“Tinh thần dân chúng bốc cao, nhưng Hà Nội mới chỉ có các tổ tự vệ, tự vệ chiến đấu chưa tập trung và số vũ khí ít ỏi của quần chúng. Lực lượng bảo an, cảnh sát của chế độ cũ đã bị giải thể. Hà Nội chưa liên lạc được với Trung ương, còn phải đối mặt với hơn mội vạn quân các sư đoàn Nhật chưa hạ vũ khí, chờ quân Đồng Minh tới. Ủy ban nhân dân Bắc Bộ đã báo động ngầm dự phòng lúc nguy cấp sẽ có lệnh cho rút bớt cán bộ về an toàn khu ở ngoại thành, đánh du kích chờ lực lượng Trung ương về tiếp cứu.”
Thậm chí, đơn vị Giải Phóng quân từ Tân Trào về không được Nhật cho phép vào Thủ đô.”

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/02/160216_colonel_le_trong_nghia_life

_____

Hóa ra, đám đông trước Ba Đình ngày 2-9-1945 là giáo dân công giáo sau khi tan lễ đã tụ tập nhau ở đó. Cộng sản đã khéo lợi dụng nhà thờ trong ngày 2-9-1945.

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=500479790149436&id=100005622587091

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8, 1945 và ngày 2/9

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

FB Hoang Bui

31-08-2015

Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân”, và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 được ghi nhận:

– Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
– Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
– Đập tan ách phát-xít Nhật
– Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.

Để hiểu rõ cái sự giành này, và thử xem những gì viết trong sách giáo khoa lịch sử cho học sinh hiện nay có chính xác không,  hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày tháng tám của năm 1945.

Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại.

Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước.

Như vậy vào thời điểm này, chế độ phong kiến quân chủ đã bị xóa bỏ trên đất nước Việt Nam, và sự đô hộ của Pháp cũng không còn, vì thế việc xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ không có công của Việt Minh, đồng thời, việc lật đổ sự đô hộ của Pháp cũng không có công của Việt Minh.

Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: “cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền”. Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động chiếm lấy một cách bạo lực thứ vốn không phải của mình.

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Việc từ chối giúp đỡ từ lực lượng ngoại quốc bảo vệ quyền lực của mình, tránh gây đổ máu cho người Việt cho thấy vua Bảo Đại đã rất coi trọng tinh thần dân tộc, đồng bào, truyền thống “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Vì vậy, không thể nói Việt Minh đập tan ách phát xít Nhật, mà phải nói rằng vua Bảo Đại và chính phủ của ông đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình. Quả là “gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau khi cướp chính quyền, để củng cố tính chính danh của mình, Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao, và sau đó thì lựa thời cơ tống vua ra nước ngoài. Trong hồi ký của vua Bảo Đại, ông cũng kể về những điểm này.

Vậy sau khi giành được chính quyền, và chính quyền đó có về tay nhân dân không?


Có lẽ câu trả lời đã rõ sau 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam vẫn chẳng có một chút quyền gì, nhân dân Việt Nam không được bầu cử một cách thực sự, không được sở hữu đất đai, không được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó không có, những điều khác chỉ là hão huyền.

Và vì vậy, cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân đó, 70 năm qua vẫn chưa xong.

———————-
Một số link tham khảo để kiếm chứng sự kiện được viết bên trên, được lấy từ báo lề phải và từ chính người trong cuộc nói, kẻo lại bảo xuyên tạc và bôi nhọ.

Lời người trong cuộc kể về diễn biến ngày 17 và 19 tháng 8.

Ký ức cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội(VNE).

Cách mạng tháng Tám (Wiki).

Vua Bảo Đại (Wiki).

anhbasàm.wordpress.com

________

Năm 2015, Tểu blog có nhiều nhận xét của bạn đọc rất thú vị, nay xin post lại ở đây.

13 nhận xét :

  1. Rất mong các nhà lý luận CS được trả lương ( thuế của dân ) hãy lịch sự, nhã nhặn, tương kính… trả lời bài viét này. Nếu không phản biện được một cách ” văn minh ” thì xin cúí mặt và trả lại thẻ đảng.

    Trả lời

  2. 70 năm vẫn chưa xong, thêm 100 năm nữa cũng chưa xong.

    Trả lời

  3. Với những người có tri thức, có trí tuệ, không thể hiểu khác đi được. Có muốn hiểu lệch đi, khác đi cũng không thể được. Lịch sử là lịch sử, sự thật vẫn là sự thật. Không thể tô đen thành trắng, tô trắng thành đen được. Không thể ăn cướp lại bắt phải hiểu đấy là chính danh được. Vậy mà … quá nhiều người tin (là nói thời bây giờ, giữa TK 21, chứ không kể cái thời mông muội vô minh). 😥

    Trả lời

  4. Bài viết với những sử liệu chính xác và rõ như ban ngày. Với thời đại internet, nếu còn tin vào những gì mà đảng gọi là “cách mạng tháng 8” thì rõ ràng chỉ là loài nhai lại!

    Trả lời

  5. Những điều “Bác” nói ngày 02/09/1945:

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Thì ra “Bác” còn là nhà tiên tri vĩ đại.

    Trả lời

  6. Bây giờ cứ trích nguyên văn những lời tố cáo của ông Hồ đối với bọn cướp nước và bán nước, thấy trúng 100% về bọn cướp chính quyền đang tồn tại hiện nay.

    Trả lời

  7. Nếu dân ta mà biết được việc CS “đuổi Phap đi” để “rước Tàu về” thì ai ủng hộ?

    Trả lời

  8. Chương trình của VM năm 1945. Sau khi lập chính quyền.

    A. Chính trị
    1. Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, ứng cử.
    2. Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương.
    3. Tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng để thẳng tay trừng trị bọn Việt gian phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng.
    4. Tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, Nhật và bọn Việt gian phản quốc.
    5. Toàn xá chính trị phạm và thường phạm.
    6. Nam nữ bình quyền.
    7. Tuyên bố các dân tộc được quyền tự quyết.
    8. Liên lạc mật thiết với các dân tộc thiểu số và nhất là Tàu, Ấn Độ, Cao Ly.
    B. Kinh tế
    1. Bỏ thuế thân và các thuế do Pháp, Nhật đặt ra, lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng.
    2. Quốc hữu hoá ngân hàng của đế quốc Pháp, Nhật, lập nên quốc gia ngân hàng thống nhất.
    3. Mở mang kỹ nghệ, giúp đỡ thủ công nghiệp làm cho nền kinh tế quốc gia được phát triển.
    4. Dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều làm cho nền nông nghiệp được phồn thịnh.
    5. Cho dân chúng tự do khai khẩn đất hoang có chính phủ giúp đỡ.
    6. Quan thuế độc lập.
    7. Mở các đường giao thông như đường sá, cầu cống, v.v..
    C. Vǎn hoá
    1. Huỷ bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bực sơ đẳng, cho các dân tộc được quyền dùng tiếng mẹ đẻ mình, phổ thông trong việc giáo dục mình.
    2. Lập các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài.
    3. Giúp đỡ và khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài nǎng của họ.
    D. Xã hội
    1. Thi hành ngày làm tám giờ.
    2. Giúp đỡ cho gia đình đông con.
    3. Lập ấu trĩ viện để chǎm nom trẻ con.
    4. Lập nhà diễn kịch, chớp bóng, câu lạc bộ để nâng cao trình độ tri thức của nhân dân.
    5. Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân.
    E. Ngoại giao
    1. Huỷ bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký bất kỳ với nước nào.
    2. Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hoà bình.
    3. Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam.
    4. Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới.
    F. Đối với các lớp nhân dân
    1. Công nhân: Ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, công việc như nhau thì tiền lương ngang nhau. Cứu tế thất nghiệp xã hội, bảo hiểm, cấm đánh dập, chửi mắng thợ, thủ tiêu giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí.
    2. Nông dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa.
    3. Binh nhân: Hậu đãi những người có công giữ gìn Tổ quốc phụ cấp cho gia đình họ được đầy đủ.
    4. Học sinh: Bỏ học phí, bỏ giấy khai sinh, hạn tuổi, giúp đỡ học sinh nghèo.
    5. Phụ nữ: Đàn bà được bình đẳng với đàn ông về mọi phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, vǎn hoá.
    6. Thương nhân: Bỏ ba tǎng môn bài và các thứ thuế khác do Pháp đặt ra.
    7. Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập.
    8. Những người già và tàn tật được chính phủ chǎm nom cấp dưỡng.
    9. Nhi đồng được chính phủ chǎm nom về trí dục và thể dục.
    10. Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Ghi chú:
    A5: Toàn xá thường phạm (tai sao toàn xá thường phạm, để làm gì);
    A8: Liên lạc mật thiết với Tàu, Cao ly.
    B1: Bỏ thuế thân của Pháp, Nhật. Lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng (thuế gì)
    C2: Lập trường quân sự chinh trị để đào tạo nhân tài( nhân tài gì)
    C3: Khuyến khích giúp đỡ các “hạng” trí thức!?
    D5: Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân (từ bệnh viện, bào sanh viên đã có dùng từ đầu thế kỷ 20)
    E4: Liên lạc mật thiết với các giai cấp vô sản trên thế giới
    F2: dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa. (có ruộng đất cấy cấy hay không, sau 1954)
    F7: Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập (Sau 1954 tất cả các viên chức làm viẹc cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam bị di “cải tạo” trong các trại “cải tạo” khắp miến Bắc. Ước lượng không dưới 300.000 của các Uỷ Ban Nhân Quyền. Ước lượng 80-100,000 chết trong các trại giam).
    F10: Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Trả lời

  9. Cứ theo suy ngẫm thì CMT8 và Chiến dịch HCM là hư ảo.
    Năm 1975, bộ đội miền Bắc thoải mái tràn xuống vì quân VNCH chỉ chạy, không chống trả. Duy nhất ở Xuân Lộc có đụng độ thì bộ đội miền Bắc thua, phải đi vòng qua.

    Trả lời

  10. Thực ra dùng cụm từ “cướp chính quyền” mới lột tả được đúng bản chất của sự việc và mới có vẻ công nông chứ không có vẻ tiểu tư sản hơn là “giành chính quyền”.

    Trả lời

  11. “Giành/cướp chính quyền về tay nhân dân” là một cái bánh vẽ không thể to hơn.
    Đúng bản chất phải là “giành quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối về tay Việt Minh”
    Với bản chất của một toán cướp,lại thêm nắm đủ loại súng đạn trong tay,mấy “ông chủ” nhân dân chỉ còn biết è cổ ra đóng mấy trăm loại thuế,phí để bọn cướp cùng đám con cháu tha hồ phè phỡn,ăn chơi.

    Trả lời

  12. Năm 1945 Vua Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim không thể ngờ được rằng hai vị đã phạm phải một sai lầm rất lớn xuất phát từ lòng nhân đạo của mình. Nếu hai vị nhờ quân Nhật ra tay thì nước ta đã tránh được 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, bây giờ VN đã là nước phát triển huy hoàng bậc nhất châu Á.

    Trả lời

  13. Hồi ký Con Rồng Việt Nam:
    “Ngày 27-2-46, mới 7 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. ông H (HCM) gọi tôi:
    – Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ không?
    Nghe tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
    – Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ. Tình hình rất khó khăn, tôi biết chắc người Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
    – Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ cộng hòa…
    Ông ta nài nỉ:
    – Ngài thay chỗ cho tôi và tôi trở lại thành cố vấn thay Ngài …
    – Thế nhưng ai trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được quốc hội tấn phong, y như kiểu mọi chính phủ dân chủ thường làm.
    – Nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn lấy ai tùy Ngài.
    Ông ta trấn an tôi như vậy.”
    Cựu hoàng hỏi ý hai nhân vật là Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim. Cho rằng VM bị khó khăn và họ thành thực, Trần Trọng Kim khuyên cựu hoàng nên nhận lời. Bảo Đại bèn trả lời “đồng ý”.
    10 giờ, ông H gọi điện thoại thúc đưa danh sách chính phủ gấp để chuyển qua Quốc Hội.
    12 giờ, Bảo Đại trả lời đã sẵn sàng. Nhưng “đến 13 giờ thì chuông điện thoại reo. Ông H mời tôi đến gặp ông ta.
    – Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài trong lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng…” (12)

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Chinh Tri Viet Nam, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào ngày 17-4-1945 (Ảnh: Internet.)

 

Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Trần Văn Chánh
Đông tác giao lưu

“Một cơn gió bụi”* nổi lên bao trùm hoàn hải trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đến hồi quyết liệt đã làm cho cuộc đời nhà giáo-nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim không còn được êm ả cách tương đối như trước. Người Nhật, kéo vào Đông Dương từ những năm 1940, với nhiều ý đồ có sẵn trong mối quan hệ tranh quyền với Pháp, đã bắt đầu cho người ve vãn, tìm cách lui tới làm quen, lấy cớ để hỏi han ông những kiến thức liên quan các vấn đề văn hóa, lịch sử. Việc này Trần Trọng Kim đã thuật lại khá rõ trong tập hồi ký cuối đời, mà gần đây đã được đưa lên mạng Internet nên rất dễ tìm đọc. Ngay từ chương đầu, thái độ sống và lập trường chính trị của ông đã được bộc lộ khá rõ:

“Sau 31 năm làm việc trong giáo giới…, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển…

“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.

“Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị…

“Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình…

“Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ… Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.

“Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả” (Một cơn gió bụi, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr. 9-12).

Về lập trường chính trị như vừa nêu trên, nhất là đối với sự can thiệp ngày càng thô bạo của Nhật ở Đông Dương, chúng ta còn được biết rõ thêm qua vài đoạn nêu trong tập hồi ký của Bùi Diễm (sinh năm 1923, con trai Bùi Kỷ), một người cháu gọi vợ ông bằng cô ruột (gọi ông bằng chú, nói theo miền Nam là dượng rể): “Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi (tức Trần Trọng Kim-TVC), nơi ông cụ tôi (tức cụ Bùi Kỷ- TVC) và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật (tức hiến binh Nhật-TVC) đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá” (Gọng kềm lịch sử, Cơ sở Phạm Quang Khai, Paris, 2000).

Việc dàn cảnh bắt Trần Trọng Kim đưa đi giấu sẵn ở Chiêu Nam Đảo (tức Singapour do Nhật chiếm đóng) để chuẩn bị cho một mưu đồ tương lai, lấy cớ là để bảo vệ ông thoát khỏi sự rình rập bắt bớ của mật thám Pháp, cũng đã được kể rõ trong chương tiếp theo của tập hồi ký Một cơn gió bụi, nhưng để tóm tắt hơn và có phần khách quan hơn, xin trích dẫn thêm vài đoạn kể tiếp sau của Bùi Diễm:

“Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.

“Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới (…). Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác (…), chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác….Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào “Người Á, đất Á” và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt.

(…)

“Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.

“Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. “Chú phải lên đường đi xa,” mợ tôi tiếp tục cho thêm tin “vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi” (Gọng kềm lịch sử, sđd.).

Chuyến đi đó, khởi đầu từ ngày 27.10. 1943 và chính thức xuống tàu thủy ngày 1.1.1944, cùng với một người bạn nữa cũng cảnh ngộ bị “bắt cóc” vào chung chỗ hiến binh Nhật như ông là cụ Dương Bá Trạc (1884-1944), nằm trong dự mưu do người Nhật khéo tác động và dẫn dắt, đối với Trần Trọng Kim được coi là một chuyến đi định mệnh, hướng cuộc đời ông vào một ngả rẽ hoàn toàn không chủ động, nếu không muốn nói gần như trái hẳn với lập trường chính trị ban đầu của ông. Tuy nhiên, có nhiều khả năng trong quá trình tiếp xúc sau này với các đại diện Nhật Bản ở Chiêu Nam Đảo và những nơi khác, Trần Trọng Kim đã được người Nhật tìm cách rỉ tai vận động để gieo cho ông mầm mống hi vọng về tương lai độc lập-canh tân xứ sở dưới sự bảo trợ của họ, nhưng điều này thì Trần Trọng Kim vẫn kín miệng không thấy kể ra trong hồi ký. Dù sao, mưu đồ của Nhật cũng đã quá rõ, không mấy cần phải có thêm tài liệu để chứng minh.

Sau khoảng một năm trải qua cuộc sống chờ đợi buồn tẻ ở Chiêu Nam Đảo, Dương Bá Trạc đã mất tại đây vào ngày 11 tháng 12 năm 1944 (nhằm 26 tháng 10 năm Giáp Thân) vì bệnh ung thư phổi, thi hài được Nhật tổ chức hỏa táng đem về nước. Lúc này chỉ còn một mình Trần Trọng Kim ở lại với vài người khác do Nhật đã đưa qua sẵn trước đó, để đến ngày 16.1.1945 thì được bố trí đi Băng Cốc (Thái Lan) cùng với Đặng Văn Ký, một thành viên chủ chốt của đảng Phục Quốc thân Nhật.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, vào lúc 21 giờ, sau khi bị Toàn quyền Pháp Decoux tìm cách trì hoãn yêu sách do đại sứ Nhật tại Đông Dương Shunichi Matsumoto đưa ra trong một tối hậu thư đã trao chỉ trước đó 2 giờ, đòi Pháp phải đặt toàn bộ quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa dưới quyền điều khiển của mình, Tổng tư lịnh Nhật Yuichi Tsuchihashi đã ra lệnh mở màn cuộc đảo chánh lật đổ chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Bị tấn công bất ngờ vì chưa hề hay biết trước, quân pháp thất thế trên khắp cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc và chỉ chống trả một cách yếu ớt rồi đầu hàng ngay trong ngày hôm sau. Toàn thể quan chức đầu não của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux, một số khác cùng quân lính phải bỏ chạy thoát thân sang Lào hoặc Trung Quốc.

Việc đảo chánh, Nhật đã chuẩn bị kỹ sẵn trước, nên chỉ từ 9 giờ tối hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau, toàn cõi Việt Nam rơi vào tay Nhật, cả thực dân Pháp và thường dân, công chức đều bất ngờ. Tình cảnh của họ lúc đó lao đao, nhưng nhờ tính rộng lượng cố hữu của người dân Việt, nên cũng không đến đỗi quá bi thảm: “… Các nhà chuyên môn Pháp được tiếp tục làm việc… Một vài kĩ sư Pháp mon men tới sở, bị đánh… Sau tôi nghe nói một số người Pháp ở miền Tây trốn vào bưng, không bị dân chúng đánh đập, giam giữ, tố cáo; có người còn giúp đỡ lương thực, che chở cho họ nữa. Ở Nam này như vậy, mà có lẽ ở Bắc, Trung cũng không khác mấy…. Có người bảo người Việt nào cũng có một ông Phật ở trong lòng, câu ấy đúng” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 233-234).

Ngày 10.3.1945, lúc 11 giờ, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật.

Ngay hôm sau, ngày 11. 3.1945, triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập (dưới bản tuyên bố ký tên vua Bảo Đại cùng toàn thể Cơ mật viện, đứng đầu là Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh).

Tờ chiếu tuyên bố độc lập có đoạn viết: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!”

Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một vài thành phố lớn, do sự sách động của các nhóm thân Nhật, một số người xuống đường rầm rộ để tri ân quân đội Nhật hoàng, nhưng quảng đại quần chúng thì đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào “độc lập” do Kempeitai (Hiến binh) và quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17.3.1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập tại các đình làng: “Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp” (Nguyễn Vỹ, Tuấn – chàng trai nước Việt, Quyển II, Sài Gòn, 1970, tr. 513).

Cũng trong ngày 17.3.1945, Bảo Đại ban bố Đạo dụ số 1 theo đó nhà vua sẽ đích thân cầm quyền và chế độ chính trị mới sẽ quản lý đất nước theo khẩu hiệu “Dân vi quý” (dân trên hết), chỉnh đốn lại quốc gia, đồng thời kêu gọi các bậc hiền tài ra giúp nước.

Ngày 18.3.1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng độc lập, cảm ơn Nhật, và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc đưa từ Chiêu Nam (Singapore) về (theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964-Việc từng ngày, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966, tr. 5).

Một ngày sau, giải tán Cơ mật viện gồm 6 quan chức tối cao của triều đình nhà Nguyễn do Phạm Quỳnh đứng đầu.

Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gởi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật cố ý ngăn chặn, nêu giả lý do Ngô Đình Diệm cáo bệnh không ra Huế được, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm (1901-1963) giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại-Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.

Ngày 30.3.1945, Nhật cho người bố trí đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc về Sài Gòn, lấy cớ Tư lệnh bộ ở Sài Gòn mời về để “hỏi việc gì về lịch sử” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 42). Đến nơi viên trung tướng tham mưu trưởng thuộc Bộ tư lệnh Nhật mới cho hay Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã từ chức, vua Bảo Đại mời ông cùng với các ông Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Cẩm về Huế hỏi ý kiến.

Thấy tên mình mà không có tên Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim hỏi viên trung tướng: “Tôi không có hoạt động gì, và không có phe đảng nào cả. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc”. Viên trung tướng trả lời: “Đó là ý của vua Bảo Đại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới, ông cứ ra Huế rồi sẽ biết” (sđd., tr. 43).

Ngày 2.4.1945, Nhật bố trí cho Trần Trọng Kim đáp xe lửa ra Huế. 19 giờ rưỡi ngày 5.4 xe lửa đến Huế, lát sau ông đã được gặp lại vợ con có sẵn ở đó, nói là đang trên đường ra Hà Nội định xin phép qua Xiêm tìm ông, nhưng sự tình cờ kỳ lạ này đã khiến có người suy diễn nhiều khả năng chính người Nhật đã sắp đặt sẵn sao đó.

Những thay đổi giai đoạn cuối trong sự sắp xếp nhân sự cho bộ máy cai trị mới này, cả Bảo Đại, Cường Để, Ngô Đình Diệm đều không hay biết. Duy Trần Trọng Kim có được người Nhật rỉ tai riêng cho biết hay không thì đây vẫn còn là một điểm nghi vấn, vì không thấy ông hé môi kể ra trong tập hồi ký, nhưng khả năng này là rất lớn, vì từ hôm ở Băng Cốc về Sài Gòn, chiều nào viên đại úy ở Bộ tư lệnh Nhật cũng mời ông đến ăn cơm và nói chuyện, có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. “Mấy ngày như thế, đến chiều hôm mùng hai tháng tư, đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 46).

Ngày 7.4.1945, Trần Trọng Kim vào yết kiến Bảo Đại. Theo như lời kể của ông trong tập hồi ký thì ông tìm cớ thoái thác việc đứng ra lập chính phủ, lấy lý do già yếu, không có đảng phái và không hoạt động chính trị, rồi đề nghị dùng “người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn” (sđd., tr. 49) nhưng Bảo Đại cho hay đã gọi mà không thấy Ngô Đình Diệm về. Nhà vua không ép, chỉ yêu cầu ông ở lại Huế nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Có lẽ lúc này vua vẫn còn tiếp tục ngóng tin Ngô Đình Diệm, đâu có dè rằng kịch bản Cường Để-Diệm đã bị cánh tướng lãnh Nhật bác bỏ, nên tìm cách ngăn chặn hai bức điện liên lạc của Bảo Đại, giữa lúc ông Diệm đang ở Sài Gòn trong một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm!

Đợi tin Ngô Đình Diệm lâu không được, Bảo Đại sốt ruột quyết định mời Trần Trọng Kim vào làm việc lần thứ hai, thuyết phục thành lập nội các. Xin trích tiếp đoạn hồi ký, qua đó vừa thấy được nội dung cuộc trao đổi giữa hai người, vừa luôn thể biết qua thành phần nội các do ông Trần đề nghị và được Bảo Đại chuẩn y ngay:

“Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.

“Ngài nói:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.

Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:

“Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.

Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục…

“Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.

Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau: 

  • Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội các Tổng trưởng
  • Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội vụ Bộ trưởng
  • Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại giao Bộ trưởng
  • Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư pháp Bộ trưởng
  • Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng
  • Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài chánh Bộ trưởng
  • Phan Anh, luật sư, Thanh niên Bộ trưởng
  • Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công chính Bộ trưởng
  • Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y tế Bộ trưởng
  • Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh tế Bộ trưởng
  • Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ, Tiếp tế Bộ trưởng.

“Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.

“Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước” (sđd., tr. 50-53).

Ngoài các bộ trưởng đã nêu trong danh sách, bộ máy chính phủ Trần Trọng Kim còn lần lần được bổ sung, gồm có:

  • Phan Kế Toại (1892-1992), Tổng đốc, Khâm sai Bắc Bộ (sau giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Nguyễn Văn Sâm, Nhà báo, Khâm sai Nam Bộ (được cử theo Đạo dụ 108 ngày 14.8.1945, sau bị ám sát ngày 10.10. 1947)
  • Trần Văn Lai, Bác sĩ, Đốc lý Hà Nội (sau giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính TP Hà Nội)
  • Đặng Văn Hướng (1887-1954), Phó bảng, Tổng đốc Nghệ An (sau giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh-Tĩnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Luật sư, Đốc lý Hải Phòng (sau giữ chức Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời)
  • Kha Vạng Cân (1908-1982), Kỹ sư, Đô trưởng Sài Gòn (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Được cái, cả họ và vua Bảo Đại đều không can thiệp sâu theo kiểu cơ cấu sẵn các thành phần nhân sự cấp bộ trưởng, như lối quy hoạch, cơ cấu nhân sự chặt chẽ bây giờ. Nhờ vậy Trần Trọng Kim đã có được sự chủ động trong việc tìm chọn nhân tài thích hợp theo quan niệm của mình.

Tuy nhiên, theo luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), một thành viên chủ chốt của Nội các, Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai xứ sở”, nhưng ông Trịnh đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ…, tuyên cáo Việt Nam độc lập và thống nhất”. Ngoài ra ông Thảo còn cho biết Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pridi Banomyong chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại như Thái Lan, đại khái bằng cách song song với phe thân Nhật, Thái Lan cần dự bị sẵn một lực lượng chính trị khác hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi Thế chiến II kết thúc. Vị chính khách này còn khuyên Trần Trọng Kim “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” (Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne, Paris, 1994, tr.62, dẫn lại theo Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, Tiên Rồng, USA, 2004, tr. 52-53).

Nói gì thì nói, về mặt lịch sử, vẫn phải công nhận Nội các vừa thành lập ngày 17.4.1945 là chính phủ đầu tiên của Việt Nam theo nghĩa hiện đại, và Trần Trọng Kim đã trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dù chỉ mới độc lập trên danh nghĩa. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức tên tuổi, có trình độ học vấn cao, nhiệt tâm, trong sạch và yêu nước, nhưng tất cả đều thiếu hẳn kinh nghiệm quản lý và nhất là sự lọc lõi chính trị trong thời loạn.

“Trừ Thủ tướng Trần Trọng Kim, chỉ có bằng cấp Trung học, chư quý vị bộ trưởng toàn có những bằng cấp to lớn: nào thạc sĩ bác sĩ, tiến sĩ luật khoa v.v. cả. Người dân Việt mừng thầm khi đọc danh sách nội các… Nhưng…” (Bùi Nhung, Thối nát, Sài Gòn, 1965, tr. 50).

Về thái độ của quần chúng trước việc thành lập nội các mới, nhìn chung các thành phần trí thức (gồm cả sinh viên học sinh) đều nao nức phấn khởi đón luồng gió mới, một số khác dè dặt chờ đợi, vì thấy vẫn còn lệ thuộc Nhật. Nhóm Thanh Nghị đứng đầu là Vũ Đình Hòe thậm chí từ ngày 20.4.1945 còn có hẳn một chương trình riêng gọi là TÂN VIỆT NAM HỘI để ủng hộ Chính phủ (xem Hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội Nhà Văn, 2004, tr. 166-167).

Phấn khởi tiếp đón luồng gió mới độc lập vừa vớ được, ông Nguyễn Duy Phương còn cho ra hẳn một tập sách mỏng chuyên đề lấy tên Lịch sử độc lập và Nội các đầu tiên Việt Nam, do Việt Đông Xuất Bản Cục xuất bản tại Hà Nội khoảng nửa tháng sau khi Nội các thành lập, để bày tỏ sự ủng hộ tích cực, bằng cách trích đăng khá đầy đủ và hệ thống những tin tức, bài phỏng vấn các vị bộ trưởng liên quan các mặt hoạt động cùng chủ trương mới của Nội các, với lời hô hào nêu rõ: “Chỉ hợp quần mới gây nên sức mạnh… Chúng ta hãy đem hết tài năng sĩ, nông, công, thương ra thực dụng. Để giải quyết những vấn đề quan trọng, để tiếp tế, cứu tế cho đỡ nỗi thống khổ đồng bào nghèo đói! Và để giữ vững đất đai thế nào là độc lập của Việt Nam một cách bất diệt”*.

Một số đảng phái quốc gia như Đại Việt (ở Hà Nội), Phục Quốc, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập (ở Sài Gòn), Tân Việt Nam (ở Huế) đều ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim và được Nhật khuyến khích.

Riêng dân chúng ở các vùng nông thôn thì vẫn thờ ơ với chính trị.

Thế rồi đến ngày 8.5.1945, Nội các Trần Trọng Kim mới chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân tại Dinh Tổng trưởng (tòa Khâm sứ Trung Kỳ cũ). Đầu tiên đọc bản Tuyên chiếu của Hoàng đế Bảo Đại về việc thành lập Nội các: “Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh nghiệm để đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt chẽ các giai từng xã hội và luôn luôn giữ một mối liên lạc giữa chính phủ và nhân dân (…)” (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr. 24).

Sau đó, Nội các đưa ra bản tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế, cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi quốc dân ra sức đoàn kết, gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, “tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia”; chăm lo việc cứu đói, định lại thuế khóa cho công bằng; đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết giữa chánh phủ với dân chúng; thống nhất pháp luật trong toàn quốc và tránh sự lạm quyền, tiệt trừ nạn tham nhũng; rèn luyện lớp thanh niên mới có khí khái có nghề nghiệp; chú trọng nâng cao trình độ sinh hoạt của dân chúng. “Chúng tôi xin tuyên thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cũng một lòng vì nước, giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật, để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt Nam ta muôn đời trường cửu” (nguyên văn bản tuyên cáo này có in trong phần phụ lục Một cơn gió bụi, sđd., tr. 192-195).

Kế hoạch đặt ra đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp quản bộ máy cai trị của Pháp, thông qua sự thu xếp bàn giao lại của Nhật, đã hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Theo nhà sử học Pháp Philippe Devillers, có hai điểm trở lực căn bản nhất, đó là sự thiếu chín muồi về chính trị của dân chúng và quyền ngăn cấm của người Nhật: “Quyền cấm cố của Nhật là rất nặng nề, cả về kế hoạch chính trị lẫn kế hoạch kinh tế và quân sự” (Histoire du Viêt Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil,1952, tr. 128). Ngoài ra, còn nhiều nỗi khó khăn cụ thể và trực tiếp khác: bộ máy quan lại thực dân nửa phong kiến đã thối nát quá lâu; nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc từ tháng 3.1945 vì mất mùa và một phần quan trọng vì chính sách nông nghiệp thời chiến do Pháp-Nhật gây ra làm cả triệu người chết, thây phơi đầy đường; bom đạn do quân Đồng minh Anh, Mỹ đổ xuống phá nát các cơ sở hạ tầng làm cho công tác cứu đói của Bộ Tiếp tế càng trở nên khó khăn trầy trật; Nhật ngày càng thua đậm trong trận Thế chiến (nhất là sau hai lần bị ném bom nguyên tử trong các ngày 6 và 8.8.1945); Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương bằng mọi giá; thiếu sự hậu thuẫn tinh thần của quảng đại quần chúng, trong khi đó, hoạt động của Việt Minh, được chuẩn bị từ lâu và một cách khéo léo, có sách lược hẳn hoi, đang ngày càng tăng mạnh với chủ trương đánh đổ cả Pháp-Nhật lẫn chính quyền phong kiến giành độc lập, được nhân dân nhiều nơi trên khắp cả ba miền đất nước hưởng ứng. Nội các Trần Trọng Kim lâm vào thế bị động và ngày càng lúng túng, phải chấp nhận từ chức, tiếp theo là việc thoái vị của cả vua Bảo Đại vì áp lực của cao trào cách mạng.

Liên quan việc Nội các Trần Trọng Kim từ chức, cả hai tài liệu Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim và Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe (NXB Hà Nội, 1983) đều phản ảnh những thông tin cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau về một số chi tiết và ngày tháng. Đại khái, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và xu hướng quần chúng-trí thức ngã theo Việt Minh, nội bộ Chính phủ Trần Trọng Kim đã bắt đầu có những dấu hiệu phân hóa về sự lựa chọn chủ trương, đường lối.

Được biết, trong khoảng thời gian này, Vũ Đình Hòe (1912-2011), người đứng đầu nhóm Thanh Nghị, cùng chí hướng với hai bộ trưởng Vũ Văn Hiền và Phan Anh (1912-1990), ban đầu rất tích cực ủng hộ Chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim, nay thấy không ổn, bắt đầu có những cuộc tiếp xúc với người của Việt Minh, thậm chí còn được đại diện của Việt Minh là Dương Đức Hiền (1916-1963) kết nạp vào Đảng Dân chủ. Trong tập Hồi ký Vũ Đình Hòe (NXB Hội Nhà Văn, 2004), ông cho biết: “Trước ngày 17 [tháng 6.1945] tôi đã gặp hai anh Phan Anh và Vũ Văn Hiền, trao đổi nhận định về tình hình. Tôi cho hai anh biết tâm trạng của anh em trí thức ngoài Bắc giảm sút lòng tin đối với Chính phủ [Trần Trọng Kim], một số coi như Chính phủ bất lực rồi, còn dân chúng thì số đông ở thành phố trước sau vẫn thờ ơ, một số dân quê ngày càng đông ngưỡng mộ Việt Minh. Tôi thành thực thổ lộ với hai anh có lẽ nên dự bị ‘một hướng suy nghĩ khác’ cho kịp thời chuyển” (tr. 183).

Trong một cuộc họp Nội các (Phạm Khắc Hòe nói ngày 3.8.1945) ở Dinh Tổng trưởng, cả ba bộ trưởng Hồ Tá Khanh (1908-1996), Trần Đình Nam (1896-1974), Nguyễn Hữu Thí đều đề nghị Nội các nên rút lui để nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh càng sớm càng tốt, may ra mới cứu được đất nước. Nội dung đề nghị này, cả ông Hòe lẫn ông Kim đều trình bày giống nhau trong tập hồi ký của mỗi người. Nhưng về phản ứng của Nội các Tổng trưởng trước đề nghị rút lui, mỗi người lại kể khác nhau.

Theo sự mô tả của Phạm Khắc Hòe thì ông Kim tỏ vẻ gay gắt, trách các bộ trưởng thiếu trách nhiệm, không khí buổi họp trở nên căng thẳng (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 45), còn Trần Trọng Kim trong tập hồi ký của mình chỉ nói: “Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay” (sđd., tr. 89).

Cuộc họp phải tạm dừng. Hai ngày sau, 5.8.1945, toàn thể Nội các dâng lên vua tờ phiến xin từ chức. Ngày 6.8.1945, Bảo Đại chấp nhận đơn từ chức, nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trần Trọng Kim tìm cách liên lạc với những người có đảng phái như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đặng Thai Mai… mời ra Huế lập nội các mới nhưng sau một tuần lễ không thấy ai hưởng ứng, mà theo ông Kim tâu lại với Bảo Đại là do những người ông mời đều rất cách mạng, rất tả, và vì điều này không làm vừa lòng người Nhật nên họ đã chặn điện lại. Trong khi chờ đợi, ngày 12.8.1945, Bảo Đại ra đạo dụ đổi nội các từ chức thành nội các lâm thời, làm việc chỉ được mấy ngày thì Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945). Tình thế bức bách, thế lực của Nhật coi như tan rã, Đồng minh mạnh lên, chủ trương vận động vua Bảo Đại thoái vị của Việt Minh thông qua đầu mối liên lạc của Tôn Quang Phiệt (1900-1973) được Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tích cực ủng hộ, và theo đề xuất của Trần Đình Nam, một cuộc họp khẩn cấp nội các đã được triệu tập sáng ngày 17.8.1945 do vua đích thân chủ tọa.

Nhóm Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh đề nghị Nội các rút lui, vua Bảo Đại thoái vị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ chung quanh tổ chức mạnh nhất, hăng hái nhất là Việt Minh để bảo vệ nền độc lập. Theo Phạm Khắc Hòe kể trong hồi ký thì Trần Trọng Kim phản ứng, một cuộc tranh luận sôi nổi dấy lên, cuối cùng thống nhất ý kiến với bộ trưởng Vũ Văn Hiền (1911-1963), đề nghị tạm thời vẫn giữ chính thể quân chủ với vua Bảo Đại nhưng giao cho Việt Minh tổ chức nội các, thể hiện trong Đạo dụ số 105 được Phạm Khắc Hòe soạn thảo ngay sau đó, trong giờ giải lao 15 phút.

Trước cuộc họp, Phạm Khắc Hòe được sự ủng hộ của Trần Đình Nam đã chuẩn bị sẵn một bản dự thảo theo đó khẳng định tư cách và ý chí độc lập của dân tộc, kêu gọi mọi người ái quốc ra phò vua giúp nước, và động viên tinh thần hi sinh của Hoàng đế. Khi bản dự thảo được vua Bảo Đại cho phép đọc lên, Trần Trọng Kim phản ứng về việc hi sinh của Hoàng đế, cho là ép vua quá, trong khi đó Phan Anh phát biểu dung hòa, nói để cho vua tự suy nghĩ quyết định. Bảo Đại yêu cầu đọc lại đoạn “hi sinh của Hoàng đế” nêu trong bản dự thảo để nghe cho rõ hơn, nghe xong vua đồng ý, giao cho Văn phòng (tức cho Phạm Khắc Hòe) làm văn bản để chiều ký. Văn bản này tạm gọi là “Chiếu động viên quốc dân” mà Bảo Đại đã ký ngay vào 4 giờ chiều hôm đó (17.8.1945) sau vài phút do dự và “một cái nhún vai nhè nhẹ”, trong có đoạn: “Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu… Trước tình thế quốc tế hiện thời, trẫm muốn mau có nội các mới… Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, trẫm sẵn sàn hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như trẫm” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 195-196; Phạm Khắc Hòe có dẫn lại trong Từ triều đình Huế…, tr. 58-59).

Trong một diễn biến khác, ngày 19.8.1945 khi thấy tình thế đã nguy ngập đến nơi, “chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả”, đến lượt Trần Trọng Kim cũng vào gặp vua, dẫn gương của vua Louis bên Pháp và vua Nicolas II bên Nga, đốc thúc Bảo Đại phải thoái vị ngay không nên chần chừ (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 92).

Đến giờ phút này, cả Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và phần lớn thành viên trong Nội các vẫn còn mơ hồ, chưa biết rõ lãnh tụ Việt Minh là ai.

Với vai trò đã bí mật nhận với Việt Minh (thông qua Tôn Quang Phiệt), Phạm Khắc Hòe tiếp tục tìm mọi phương tiện khéo léo vận động Bảo Đại thoái vị, bằng cách luôn báo cáo với vua về những cuộc biểu tình của quần chúng đả đảo phát-xít, ủng hộ Việt Minh, về huyền thoại dân gian “thánh Nguyễn Ái Quốc” ra đời ở đất Nam Đàn… để khuyên nhà vua nên rút lui. Cuối cùng Hoàng đế đồng ý nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là ‘Thánh Nguyễn Ái Quốc’ thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay” (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 62). Nghe xong Phạm Khắc Hòe khấp khởi vội vã lo soạn chiếu thoái vị, và hoàn tất ngay trong đêm 20.8.1945.

Gần trưa ngày 23.8.1945, Bảo Đại nhận được tối hậu thư của Việt Minh, dưới đóng dấu “Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương” nhưng không có ai ký tên, đòi nhà vua phải trả chính quyền cho nhân dân và hứa sẽ bảo đảm tính mạng, tài sản cho hoàng gia, hạn cho nhà vua phải trả lời trước 13 giờ 30 phút ngày 23.8.1945 và cử ông Phạm Khắc Hòe làm người liên lạc giữa nhà vua và Chính quyền cách mạng.

Theo đề nghị của Phạm Khắc Hòe, một cuộc họp nội các đã được triệu tập ngay lập tức vào đúng 12 giờ 25 phút cùng ngày để kịp trả lời Việt Minh đồng thời góp ý kiến cho dự thảo Chiếu thoái vị do chính ông Hòe khởi thảo. Cuộc họp do vua chủ tọa, có mặt Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương (1898-1986), Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Hữu Thí, Phạm Khắc Hòe. Mọi người đồng ý chấp nhận các điều kiện do Việt Minh đưa ra trong tối hậu thư, còn Chiếu thoái vị thì chỉ sửa có mấy chữ “nồi da xáo thịt” thành “Nam Bắc phân tranh”.

Tờ chiếu lịch sử đó của Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng triều Nguyễn sau 143 năm trị vì đất nước phong kiến mà hơn một nửa thời gian bị lệ thuộc Pháp, chính thức đề ngày 25.8.1945. Ông chấp nhận từ bỏ ngôi báu một cách khá mau lẹ một phần vì muốn đặt lợi ích của quốc dân lên trên, phần khác cũng do bị áp lực từ nhiều phía và cũng chẳng còn cách nào khác.

Chiều ngày 26.8.1945, trong không khí buồn tẻ chỉ hiện diện vài người thân cận, vua làm lễ cáo yết Liệt thánh về việc thoái vị ở Thế miếu là nơi thờ Gia Long và các vua nối tiếp. Các quan văn võ được thông báo trước nhưng đều không đến dự.

Chiều 30.8.1945, tại cuộc lễ thoái vị được cử hành long trọng trước Ngọ Môn, Bảo Đại mặc triều phục tuyên độc chính thức Chiếu thoái vị, lời lẽ chân thực cảm động, với sự có mặt của đại diện Việt Minh gồm các ông Trần Huy Liệu (Trưởng đoàn), Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận cùng sự chứng kiến của đám đông hàng vạn dân chúng:

“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh tất cả, và ước mong rằng sự hi sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.

Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.

Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta… (chép theo Con rồng Việt Nam của Bảo Đại, tr. 187-188, có một số câu chữ khác hơn so với văn bản chép trong Phụ lục hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim).

Đọc xong, vua Bảo Đại trao kiếm vàng và ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, biểu thị chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim, mà ba tuần lễ sau cùng đổi gọi Nội các Lâm thời, coi như cũng chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.

Trong hồi ký Con rồng Việt Nam (Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990), cựu hoàng Bảo Đại sau này nhớ lại: “Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi. Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu” (tr. 188).

Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Về phần Nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy 4 tháng (từ 17.4 đến 7.8.1945, nếu tính đến 23.8.1945 khi quyết định xong Chiếu thoái vị thì được 4 tháng 6 ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, Nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng đã làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận: 

Tháng 6 năm 1945, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, Annam); tạm duy trì bài quốc thiều “Đăng đàn cung”; đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long tinh bằng cờ quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm.Bộ Tiếp tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt.

Thanh trừng quan tham lại nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.

Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.

Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.

Can thiệp với Nhật để từ ngày 9.8.1945 tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản đã bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương trừng thanh quan lại và bài trừ tệ hối lộ.

Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20.7.1945.

Ngày 1.8.1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm Lính Khố xanh, Khố đỏ.

Ngày 14.8.1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.

Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

Về tư pháp, thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5.7.1945.

Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc Tiểu học và Trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.

Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa.Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên Tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.

Trong giai đoạn tồn tại cuối, nhận thức được trào lưu, tham gia dàn xếp êm và nhanh chóng việc thoái vị của Bảo Đại để trao quyền lãnh đạo cho chính quyền cách mạng, tránh một cuộc xung đột đổ máu rất có thể xảy ra nếu có sự kháng cự.

Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.

Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Nam vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!

Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.

“Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).

Nội các Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, “xây dựng khu vực thịnh vượng chung” của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trị mới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.

Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẫm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu âu tiêu cực, được chăng hay chớ.

Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.

Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạm nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.

Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!…” (sđd., tr. 99-100).

Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết…” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).

Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc, lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ hay dở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.

Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân). Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).

Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67).

Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.

Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng, .

Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).

Trần Văn Chánh, TS

____

* Một Cơn Gió Bụi, xuất bản 1949, tác giả Trần Trọng Kim là một học giả, Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam năm 1945. 

GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Một cơn gió bụi là cuốn Hồi ký do Trần Trọng Kim (1883–1953) xuất bản năm 1949, mang nội dung tóm lược quãng đời làm chính trị của ông (từ năm 1942 đến năm 1948). Trong cuốn hồi ký, ông có đề cập và nói lên suy nghĩ của mình về các sự kiện lớn xảy ra trong nước thời bấy giờ như sự thành lập chính phủ của Đế quốc Việt Nam do ông làm thủ tướng, sau đó là Cách mạng tháng Tám, sự cầm quyền của Việt Minh, cùng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất do Việt Minh phát động.

 

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn, bị đầu độc?

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2016

Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn … Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam”.

_____

Hồi ký của Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viktor Maslov, con rể cố TBT Lê Duẩn.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga

Đông tác Giao lưu

Tác giả: Viktor Maslov

Dịch giả: Phan Độc Lập

17-5-2016

I.

H1

Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn. Ảnh: RIA Novosti/ tư liệu gia đình của V. Maslov

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có lẻ  mọi chuyện đã không trở nên quá phức tạp, nếu như tôi biết được ngay từ đầu Lê Vũ Anh là con gái của ai. Khi sự thật được làm sáng tỏ thì đã muộn quá rồi. Tôi đã yêu, yêu đến phát điên đến nỗi không còn biết mình là ai nữa và không thể từ chối được mối tình đó nữa rồi.

Chúng tôi gặp nhau ở khoa Vật lý của Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU), nơi Lê Vũ Anh đang theo học. Tại thời điểm làm quen với nhau tôi đã là giáo sư tiến sỹ toán-lý và là tác giả của một lý thuyết, mà ở nước ngoài người ta gọi là lý thuyết chỉ số nhóm Maslov (Maslov-type index theory). Lý thuyết này được sử dụng rộng rãi trong toán học trừu tượng, cũng như trong cơ học lượng tử, hóa học lượng tử và quang học. Chỗ làm việc chính của tôi là ở Trường đại học chế tạo máy điện tử Moskva (МИЭМ), nhưng khoa Vật lý của MGU lại từng là ngôi nhà thân yêu, nơi tôi đã từng học tập và giảng dạy ở đó.

Bao nhiêu năm đã trôi qua, cả một cuộc đời. Rất nhiểu sự kiện và ấn tượng đã mờ dần trong trí nhớ, nhưng hình ảnh cố công chúa xinh đẹp, chói sáng vào một ngày đang đứng nơi cuối hành lang cho đến tận bây giờ vẫn luôn hiện về trước mắt tôi. Cô gái không quen biết đang di chuyển bằng các động tác với vẻ duyên dáng và kiều diễm không thể tả, tôi bước theo nàng như một kẻ si mê. Đến gần cửa phòng thí nghiệm nàng dừng lại và quay mặt lại. Nàng thoáng nhìn tôi một giây từ đôi mắt đen huyền, mỉm cười và ẩn mình vào trong phòng thí nghiệm. Cô gái ngoại quốc, tôi chợt nhận ra và nghĩ rằng, nàng đến từ Ấn Độ.

Thành thật mà nói, tôi thường thích phụ nữ phương đông. Một trong những nhà vật lý học bạn tôi nói đùa” Maslov của chúng ta là nhà đông phương học lớn”. Trong MGU có rất nhiều sinh viên từ các nước châu Á theo học, trong đó có sinh viên từ Việt Nam, đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Tất cả họ đều luôn nhận được thiện cảm và sự cảm thông từ mọi người. Ở khoa Vật lý cũng có nhiều sinh viên Việt Nam, tôi nhanh chóng kết bạn với họ, đặc biệt là với hai cô gái Phúc và Tình. Phúc là con gái của nhà quân sự-chính trị nổi tiếng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, còn Tình là con gái của Chủ tịch thành phố Hà Nội. Cả hai cô gái đều giấu giếm bố mình là ai, cũng như các sinh viên Việt Nam khác xuất thân từ giới quý tộc Việt Nam, họ đề phòng lộ diện để tránh các mưu đồ và hành động khiêu khích chính trị từ chính quyền Xô viết. Thực tế là như thế này, quan hệ giữa hai nước chúng ta, bất chấp việc đảm bảo tình hữu nghị mãi mãi bền vững, nhưng vẫn có thể xảy ra bất đồng, xuất phát từ phía này hoặc phía kia. Liên Xô vốn quan tâm đến việc mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Á, trong hoàn cảnh đang gia tăng bất đồng với Trung Quốc, buộc phải hào phóng viện trợ giúp đỡ “người em” Việt Nam. Việt Nam hài lòng làm bạn với người anh lớn nhưng không sẵn sàng hy sinh những lợi ích chính đáng của mình mà trở thành nước lệ thuộc. Các nhà lãnh đạo tận dụng cơ hội để con cái của họ có được sự giáo dục có chất lượng ở Liên Xô nhưng họ sợ con cái họ có thể bị bắt cóc để tống tiền hoặc tạo áp lực chính trị lên bố, mẹ chúng nên yêu cầu giữ bí mật. Có lẽ, đây là những nguyên nhân chính, nhưng theo cảm nhận của tôi thì các nhà lãnh đạo Việt Nam đã quá lo xa một cách vô ích. Thật ra thì KGB, với khả năng của mình, họ thừa biết được hết con cái của những lãnh đạo nào.

Tôi thích Phúc, tôi giúp đỡ cô ấy học tốt môn Toán, tôi không chỉ một lần mời cô ấy đến nhà chơi, lúc thì một mình, lúc thì với các bạn, nhưng giữa chúng tôi không có chuyện gì cả, dù chỉ là một chút lãng mạn. Cô gái Việt Nam dễ thương tránh tôi chỗ đông người như tránh lửa vậy.

Có một lần tôi dẫn Phúc đến gặp và làm quen với nhân viên đánh máy để giúp cô nhân bản báo cáo khoa học, sau đó cả hai cùng nhau ra về. Đi cùng tôi trên đường phố Moskva nhộn nhịp, cô thể hiện mình như một nữ du kích trong hậu phương của địch: tỏ vẻ sợ sệt và suốt thời gian luôn cảnh giác quan sát tứ phía. Đặc biệt giao thông công cộng làm cô mất bình tĩnh. Chẳng hạn tại bến đỗ, xe buýt hoặc xe buýt điện vừa đến, cô đã nhanh chóng ẩn mình vào trong xe ngay.

- Chuyện gì xảy ra vậy- tôi hỏi –em sợ gì chứ?
- Anh nhìn xem, đằng kia hình như có người Việt Nam.
- Có gì đáng sợ ở đây?
- Nếu họ nhìn thấy em đi với người Nga, em sẽ gặp rắc rối lớn.

Tôi bèn bắt đầu đặt câu hỏi với Phúc. Thì ra là người Việt Nam bị cấm giao tiếp với người châu Âu, hay nói chung là với “ Tây mũi lõ” như trong dân gian vẫn gọi. Từ thời xa xưa, mối quan hệ với họ sẽ bị lên án và được xem là sự phản bội. Một cô gái đi trên phố cùng với một ông “Tây mũi lõ” sẽ bị kỳ thị hoặc thậm chí bị ném đá. Những người cộng sản, sau khi dành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thật không may, vẫn giữ lại truyền thống phong kiến đó. Vi phạm điều cấm giao tiếp với người nước ngoài có thể bị lên án, đấu tố trong các cuộc họp đảng, đoàn thể hoặc có thể bị đưa vào trại cải tạo. Ở nước ngoài, các công dân Việt Nam cũng phải tuân thủ các chuẩn mực đã được chấp nhận trong nước. Thậm chí múa bale cổ điển cũng bị xem là hình thức khiêu dâm. Sau này có một lần Vũ Anh nói với tôi, các nhà ngoại giao Việt Nam khi xem kịch múa bale trong nhà hát lớn ở Moskva đã phải nhắm mắt vì sợ bị “khiêu dâm” bởi các vũ công mặc đồ bó sát người như không mặc gì.

Các bạn Việt Nam đã giúp tôi gặp lại và làm quen với cô gái xinh đẹp nhất đã làm rung động trái tim tôi, nàng là đồng hương của họ. Lê Vũ Anh quan tâm đến toán học và muốn được nghiên cứu sâu thêm về môn học này. Tất nhiên, tôi đồng ý giúp đỡ nàng. Nàng đã cuốn hút tôi ngay lập tức từ cái nhìn đầu tiên, nàng thực sự trẻ trung và hấp dẫn, không giống như những người phụ nữ Việt Nam điển hình khác: nàng đủ cao, da trắng, với đôi mắt luôn nhìn thẳng. Nàng giữ mình như một phụ nữ hoàng gia – đơn giản, nhưng với những phẩm giá không bình thường. Ở Việt Nam, tôi nghĩ nàng phải được xem như là một trong những người con gái đầu tiên đẹp nhất. Ở trường tôi, những người trẻ tuổi luôn để ý quan tâm đến nàng.

Sau này tôi được biết, dòng máu đang chảy trong cơ thể nàng không chỉ có dòng máu Việt Nam, mà một phần trong đó có dòng máu Trung Hoa. Mẹ nàng, bà Bảy Vân mang trong người một phần tư dòng máu Trung Hoa. Ở Việt Nam, không ai biết về điều này, gia đình đã giấu kín “mối quan hệ huyết thống” với người Trung Hoa của mẹ nàng. Sự thật là nàng khi còn nhỏ đã sống nhiều năm ở Trung quốc. Bạn thân của nàng là con gái của Đặng Tiểu Bình, người đã từng là bạn của bố nàng và là người số 2 dưới bầu trời Trung Quốc sau Mao. Với người cầm lái vĩ đại, nàng cũng quá quen thuộc. Nàng đã cho tôi xem một bức ảnh nàng đang ngồi trên đùi của Mao Trạch Đông.

Thời tuổi trẻ của mình, mẹ nàng, bà Bảy Vân cũng khá đẹp. Lê Duẩn vì bà mà ly hôn với người vợ đầu tiên, người vợ mà bố, mẹ ông đã cưới hỏi cho ông khi còn nhỏ. Người vợ thứ hai của ông xuất thân từ một gia đình có học, nhưng, như tôi đã đề cập, ông không thể tự hào về một nguồn gốc “tinh khiết”. Vũ Anh là con gái đầu tiên của họ. Ngoài nàng ra, Lê Duẩn còn có hai con gái từ cuộc hôn nhân đầu tiên của mình và hai con trai cùng với bà Bảy Vân. Hai người con của ông, con trai tên Thành và con gái đầu tên Muội, tại thời điểm đó, sống và học tập ở Moskva. Muội lớn tuổi hơn nàng nhiều và chịu trách nhiệm chăm sóc em gái của mình. Chị tốt nghiệp trường đại học ở Liên Xô và là một nhà sinh vật học. Chị đã sống một số năm tại Moskva cùng với chồng và con gái. Nhưng tất cả điều này mãi sau tôi mới được biết …

Vì nàng, tôi đã nhận tiến hành các buổi dạy thêm không bắt buộc về toán học tại khoa Vật lý. Ban đầu nhiều sinh viên đến nghe tôi giảng. Được một thời gian, sinh viên bỏ học dần dần, cuối cùng chỉ còn mỗi một mình nàng. Nàng đã rất cố gằng, nàng có năng lực và chăm chỉ học tập. Cuối cùng chúng tôi không cưỡng lại được tình cảm của mình. Chúng tôi bắt đầu hò hẹn, lúc thì ở căn hộ riêng, lúc thì ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi. Chúng tôi nghiên cứu, cùng nghe nhạc và nói chuyện với nhau về các chủ đề khác nhau. Nàng giữ cho mình được tự do hơn hẳn các bạn gái của mình và không còn sợ bất cứ điều gì nữa.

II.

Mẹ tôi nhanh chóng thích nàng. Nhìn chung, bà tôn trọng mọi đam mê của con trai. Đã từ lâu bà mong ước cưới được vợ cho người con trai duy nhất của mình.

Cuộc sống riêng tư của tôi đầy bão tố và thậm chí của cả những bạn trẻ liên quan đến tôi. Một trong số đó là Sergay Mazarop, đã xảy ra thảm kịch, mà tôi được chứng kiến. Về cái chết của cậu ấy, theo tôi, báo chí đã viết nhiều. Sergay di cư cùng với bố mẹ mình sang phương Tây từ đầu những năm 1980. Định cư ở Pari, học đại học, mở công ty và hoạt động trong lĩnh vực tin học. Ban đầu việc kinh doanh của Sergay không được tốt lắm, nhưng sau khi ở Liên Xô tiến hành cải cách đổi mới (perestroika), do Sergay hiểu rõ được những vấn đề về kinh tế ở đó nên Sergay đã trở thành một giám đốc tài giỏi. Sau một số phi vụ lớn thành công, Sergay trở thành triệu phú. Sergay sở hữu các bất động sản có giá trị, thậm chí có hẳn một tiệm thời trang riêng. Sergay sống với một phong cách phóng khoáng rộng rãi riêng biệt với người vợ – con gái nhà văn Anatoly Gladilin, người đã sinh cho Sergay hai đứa con. Sergay đối xử rất dịu dàng với các con tôi. Một thời gian ngắn trước khi chết, Sergei đã trở thành nhà sản xuất của bộ phim “The Limit” (giới hạn) của Denis Evstigneev. Ngày 22 tháng 11 năm 1994, Sergei bị bắn chết từ một khẩu súng máy qua cánh cửa ra vào bọc thép tại căn hộ của mình ở trung tâm thành phố Paris. Cảnh sát Pháp coi đó là vấn đề có bàn tay của mafia Nga. Theo như tôi biết, cho đến nay tội phạm chưa tìm ra được và vẫn còn nhởn nhơ ngoài pháp luật …

Trước khi gặp Vũ Anh, tôi không có ý định tiến tới một mối quan hệ nghiêm túc nào cả, dường như đang cố gắng chờ đợi một điều gì đó. Và rồi tôi đã chờ đợi được. Những người phụ nữ tôi đã từng gặp và quen biết không thể nào làm cho tôi có được một cảm xúc mãnh liệt, lạ lùng như khi tôi gặp và tiếp xúc với nàng. Nàng ở độ tuổi đáng ra phải là con gái tôi – nàng kém tôi chẵn đúng 20 tuổi – nhưng giữa chúng tôi thật sự có cảm giác như không hề tồn tại khoảng cách chênh lệch về tuổi tác. Nàng giới thiệu rất ít về tiểu sử của mình: nàng đến từ miền Nam Việt Nam (Nàng thuộc danh sách lưu học sinh bí mật không thuộc sự quản lý của đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lúc này Việt Nam chưa thống nhất thành một quốc gia riêng). Nàng đã sống trong vùng nông thôn có các hoạt động du kích. 17 tuổi nàng gia nhập Đảng Cộng sản. Tôi sau này có nói đùa “Vợ của tôi là đảng viên cộng sản từ năm 17 tuổi đấy”. Nói thật, điều này làm tôi rất ngạc nhiên. Theo tôi biết, ở Việt Nam vào Đảng ở độ tuổi quá trẻ như vậy rất hiếm, chỉ dành cho những thanh niên có những cống hiến đặc biệt mà thôi.

Nhưng không chừng, nàng đã giúp đỡ du kích và lập được chiến công hiển hách nào đó. Khi tôi hỏi về vấn đề này, nàng im lặng. Cũng tương tự như vậy khi tôi hỏi về các thành viên gia đình của nàng. Chỉ có một lần khi đã sống cùng nhau, nàng cởi mở một chút khi thổ lộ với tôi: “Ông nội em làm thợ mộc”. Nàng nói tiếng Nga tồi tệ khá buồn cười. Khi tôi chê, nàng cười lớn “Ở Liên Xô, em càng nói tiếng Nga tồi bao nhiêu thì em càng được đối xử tốt bấy nhiêu”. Khó khăn lớn nhất ở nàng là khi phải nói họ và tên của người Nga. Tôi nhớ, có lần y tá chăm sóc sức khỏe hỏi nàng về họ, tên và tên lót của con gái, nàng thản nhiên một cách tuyệt đối, nghiêm túc trả lời: “Tôi còn chưa học thuộc được tên cháu”. Nhưng tôi một lần nữa dự đoán trước được điều này…

Khi nàng ở lại một mình với tôi, nàng luôn khiêm tốn, giữ khoảng cách và giữ mình rất đúng mực, nhưng tôi có cảm giác nàng đang phải đấu tranh dữ lắm với những cảm xúc của mình. Có một lần trong buổi hẹn hò định kỳ ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi, suýt chút nữa thì nàng đã không thể làm chủ được mình. Tôi không thể biết được, kết quả sau đó sẽ ra sao khi chúng tôi quấn chặt lấy nhau với những nụ hôn sâu đắm nồng nàn nếu như không có tiếng chuông gọi cửa bất ngờ vang lên của người hàng xóm. Tôi ra và nói chuyện ngoài cổng với người hàng xóm chỉ khoảng 5 phút không hơn, lúc quay lại thì phòng trống không. Nàng đã vọt ra ngoài qua cửa sổ, thức tỉnh từ sự quyến rũ của tình yêu và bỏ chạy về nhà.

Tôi hiểu, nàng đã phải trải qua thử thách quá lớn như thế nào khi tìm và đạt bằng được tình yêu của mình với một người đàn ông châu Âu. Nhưng tôi không thể nhận thức được phạm vi và mức độ các vấn đề đặt ra trước mặt nàng, trong đó có các tiêu chuẩn đạo đức truyền thống kéo dài hàng thế kỷ, kỷ luật nội bộ trong Đảng và còn liên quan đến các quan hệ quốc tế khó hiểu. Lúc bấy giờ, tôi thậm chí còn không thể ngờ rằng mình lại đang yêu con gái của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn. Xác định theo họ và tên của nàng là điều không thể, họ Lê của người Việt quá nhiều. Sau này tôi mới phát hiện ra khi sự việc của chúng tôi vỡ lở, ở khoa Vật lý, ngoài một số sinh viên đồng hương thân thiết của nàng, biết nàng là con của lãnh tụ Việt Nam có một người duy nhất là Trưởng khoa công tác sinh viên nước ngoài.

Tình yêu của chúng tôi có thể làm tổn thương đến ba của nàng, trở thành con át chủ bài của các đối thủ trong cuộc đấu đá quyền lực. Phía sau lưng ông là Trường Chinh, đối thủ chính trị cạnh tranh đã từng là Tổng bí thư trước ông. Lê Duẩn định hướng phát triển kinh tế của đất nước theo mô hình Liên Xô, còn Trường Chinh muốn theo mô hình của Trung Quốc. Nàng tính toán rằng, Việt Nam sẽ sụp đổ nếu đối thủ của ba nàng giành được quyền lực. Và Liên Xô cũng đặc biệt không mong muốn điều đó xảy ra. Tuy nhiên thực tế, sau cái chết của ba nàng, Trường Chinh lên làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, những điều tồi tệ nàng nghĩ tới đã không xảy ra.

Cô gái khốn khổ đã không thể tự nghĩ ra, mình cần phải làm gì. Để cố quên tôi, nàng bắt đầu hẹn hò với một chàng trai đồng hương học ở khoa cơ học (tôi sẽ gọi tên cậu ấy là Văn), nàng không hiểu rằng điều đó không những không ngăn cản được tình cảm mà chỉ làm tăng thêm những cảm xúc trong lòng nàng đối với tôi.

Cuối cùng thì điều gì đến cũng phải đến, trong một lần gặp gỡ, chúng tôi đã gần gũi nhau. Ngay lập tức, tôi đề nghị nàng cưới tôi làm chồng:

- Điều này là không thể được – Nàng buồn rầu trả trả lời – Giữa hai nước chúng ta đã có thỏa thuận ngầm không chính thức là cấm công dân Xô Viết và Việt Nam kết hôn với nhau.
- Anh nghĩ rằng, chúng ta sẽ vượt qua được sự ngăn cấm này.
- Không, không thể được.
- Tại sao?
- Tại vì em không yêu anh!

Nhưng qua ánh mắt của nàng, tôi hiểu nàng đang nói dối, nàng nói vậy nhưng không phải là vậy. Tôi quyết định không vội vã ép nàng đẩy nhanh sự việc, cho nàng thời gian để nàng suy nghĩ, để nàng tự giải quyết những cảm xúc, tình cảm của mình. Và rồi nàng biến mất. Trước đây điều này cũng đã xảy ra khi nàng tự cho phép mình làm một cái gì đó “thêm” vượt quá giới hạn như nàng thường nghĩ khi ở bên tôi và nàng cảm thấy ăn năn về hành động này. Sau đó tất cả mọi thứ trở lại bình thường. Nhưng lần này khác hẳn, tôi không thể tìm thấy nàng. Kỳ nghỉ hè bắt đầu. Các sinh viên phân tán khắp nơi, nên tôi không biết có thể hỏi ai về nàng. Tôi thật khó khăn khi nóng lòng chờ đợi năm học mới, nhưng nàng đã không xuất hiện ở MGU, ngay cả sau ngày 1 tháng Chín.

Tôi không thể chịu đựng được nữa và quyết định gọi điện thoại tới bà Trưởng khoa quản lý sinh viên nước ngoài:

- Bà có thể cho tôi biết sinh viên Lê Vũ Anh hiện đang ở đâu không ạ? Cô ấy học ở Khoa chúng tôi và cô ấy đã đạt được nhiều kết quả tốt.

- Vũ Anh đã lấy chồng là đồng hương, cậu ấy cũng là sinh viên của trường ta, cô ấy đã về nước. Tên cậu sinh viên ấy là Văn. Họ sẽ trở lại vào cuối tháng này cùng với ba của cô ấy. Ông ấy sẽ gặp Breznhep – Bà trưởng khoa khẽ nói trả lời.

Tôi gần như ngã quy khi nghe điều này. Gặp gỡ với Breznhep cuối tháng này ư, chắc chắn phải là Lê Duẩn. Thời khắc đột nhiên trở nên phức tạp, nhưng dễ dàng để lý giải rõ ràng những điểm kỳ quặc trong các câu chuyện và hành vi của người tôi yêu khi chúng tôi ở bên nhau. Vũ Anh của tôi – con gái của lãnh đạo cao nhất của những người cộng sản Việt Nam! Nhưng làm thế nào nàng có thể phản bội lại tình yêu của chúng tôi cơ chứ.

Sau này Vũ Anh đã giải thích tất cả mọi thứ với tôi. Khi chúng tôi trở nên thân thiết và gần gũi với nhau, tôi đã giang tay và nguyện hiến trái tim của mình cầu hôn nàng, điều này làm cho nàng phải trải qua những giây phút căng thẳng lớn, nàng cảm thấy hoang mang. Nàng thú nhận với người bạn trai là Văn. Nàng nói rằng nàng chỉ muốn quan hệ với tôi trên tinh thần bạn bè: nhưng rồi, vâng – chuyện đó đã xảy ra ngược với ý chí của mình và nàng cảm thấy hối tiếc về điều này. Văn yêu nàng, bỏ qua chuyện nàng đã gần gũi với tôi và đề nghị kết hôn ngay lập tức. Dẫu sao thì nàng đã từng có hẹn hò gần đây với Văn khi nàng muốn quên tôi nên nàng đồng ý, nàng nói rằng nàng sẽ cố gắng để yêu Văn nhiều hơn. (Nàng nói như thế này: “Em sẽ cố gắng để yêu anh nhiều hơn.”)

III.

Cuộc hôn nhân này là một đòn giáng mạnh vào Lê Duẩn, có khả năng, ông đã nghĩ đến việc có được một chàng rể vừa có lợi cho Đảng nhưng lại phù hợp hơn cho con gái yêu quý của mình. Vũ Anh đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của một số “hoàng tử” từ các nước láng giềng. Văn là một chàng trai thông minh, một nhà toán học tài năng, nhưng không đáp ứng yêu cầu môn đăng hộ đối với nàng và gia đình. Về phía nàng, nàng muốn quên hẳn tôi nên muốn ở lại Việt Nam và cố gắng yêu Văn để có thể tiếp tục sống tốt cùng với Văn. Lê Duẩn đã tha thứ cho con gái về hôn nhân không tương xứng, nhưng phản đối mạnh mẽ mong muốn của nàng ở lại Việt Nam. Nàng cần phải học tiếp để có được bằng tốt nghiệp của trường Đại học Tổng hợp Moskva. Kết thúc năm học vừa rồi ở Khoa Vật lý, nàng chỉ cần ở lại thêm một năm là tốt nghiệp. Trong khi đó, Văn cũng muốn đi học sau đại học ở Moskva ngay tại MGU. Nàng đã buộc phải tuân theo lời ba mình, trong lòng hy vọng cuộc hôn nhân của mình sẽ có thể thay đổi tất cả mọi thứ và giúp cho nàng không thể tiếp tục mối tình lãng mạn của mình với tôi.

Sau một số ngày khi nàng quay trở lại Moskva, tôi đã thuyết phục được nàng đến nhà nghỉ ngoại ô của tôi cùng với Phúc. Nàng không thể từ chối, nhưng vẫn giữ thái độ ngại ngùng và cư xử kiềm chế miễn cưỡng. Tôi đã cố gắng để xoa dịu tình hình. Tôi bông đùa bằng các câu chuyện tiếu lâm, nói cười thật thoải mái, và sau đó mời các cô gái dạo hồ trên một chiếc thuyền, mặc dù thời tiết không phải là thật tốt – lúc này đang là cuối thu. Khi chúng tôi đang tiến gần đến bờ, Phúc không chèo thuyền thành công để quay trở lại và rơi tõm xuống nước. Tôi vội nhảy xuống hồ kéo cô ấy lên và bế chạy đến ngôi nhà gần nhất để thay quần áo ấm. Chủ nhà đưa cho chúng tôi một cặp áo khoác, chúng tôi thay quần áo đã ướt và khoác áo khô vào người Phúc. Tôi và nàng đưa Phúc về nhà nghỉ của tôi, xức cồn và xoa bóp bằng rượu cho ấm người. Được một lát thì Phúc cảm thấy buồn ngủ và cô ấy vào giường nằm nghỉ.

Lúc này trong phòng khách chỉ còn lại tôi và nàng tâm sự với nhau. Nàng thú nhận rằng trong mấy tháng qua, nàng đã sai lầm khi nghĩ rằng cứ lấy chồng thì nàng có thể quên được tôi. Nhưng đời thật trớ trêu, trái tim nàng đã không hề muốn tuân thủ lý trí của nàng. Hàng đêm nằm bên chồng mà nàng luôn nghĩ về tôi. Nàng thổn thức, vừa muốn ở lại Việt Nam để lẩn tránh tôi, lại muốn bay sang ngay Moskva để được gặp tôi, được nằm gọn trong vòng tay vững chắc và thưởng thức nụ hôn cháy bỏng của tôi. Trong đầu nàng luôn tái hiện lại hình ảnh và những cảm giác lần đầu tiên gần gũi với tôi, đã trao trinh tiết quý giá của người con gái cho người mà nàng yêu quý nhất. Nàng bảo với tôi, con gái Việt Nam coi trọng điều này lắm, bởi họ quan niệm trong truyền thống từ cả ngàn năm là nó rất thiêng liêng trong tình yêu, nó thể hiện lòng chung thủy. Nàng cảm thấy có lỗi với Văn, dù thật ra nàng đã không lừa dối anh ấy, nàng đã tâm sự, thổ lộ hết với Văn và Văn đã chấp nhận vì hiểu được hoàn cảnh éo le từ mối tình lãng mạn không có hồi kết của nàng và tôi. Đặt chân xuống sân bay ở Moskva, những kỷ niệm với tôi lại ùa đến khiến nàng không thể cưỡng lại được tình cảm của mình và ngọn lửa tình yêu trong tim nàng với tôi lại được dịp bùng lên dữ dội. Bây giờ gặp lại tôi, nàng thừa nhận rằng nàng muốn được chung sống mãi mãi với tôi, làm một người vợ hiền chăm sóc cho tôi, nhưng nàng lại không dám tin vào một khả năng có thể dẫn đến hiện thực như vậy, nàng nói:

- Vài năm trước, chính quyền không cho phép con gái của một bộ trưởng nước em kết hôn với con trai của thủ tướng một nước châu Âu. Đôi trai gái yêu nhau này đã chấm dứt cuộc sống và mối tình lãng mạn của mình bằng cách cùng nhau tự tử. Trường hợp như vậy ở Việt Nam nhiều lắm khi các đôi trai gái vì quá yêu nhau nhưng bị ngăn cản bởi gia đình mà tìm đến cái chết. Anh không thể tưởng tượng được đâu, rằng đã có bao nhiêu người chết vì truyền thống này!

- Thôi mà em, rồi tất cả sẽ tốt đẹp với chúng ta! Em hãy ly dị chồng và chúng ta sẽ cố gắng đấu tranh để được kết hôn! Anh có niềm tin vững chắc vào điều đó.

Tôi an ủi xoa dịu nàng, rồi nhẹ nhàng ôm nàng vào người thật chặt, đặt lên đôi môi hé mở của nàng một nụ hôn ngọt ngào, say đắm. Nàng nhắm mắt, người nàng mềm nhũn và run nhẹ. Bỗng nàng chợt bất ngờ xô tôi ra, thảng thốt:

- Ôi, anh và em đã làm gì thế này, em là gái có chồng rồi mà. Thôi anh, nhỡ Phúc tỉnh dậy nhìn thấy thì không hay.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình của V. Maslov

Thời gian tiếp sau, do không kiềm chế được, tôi và nàng vẫn tìm cách bí mật để gặp được nhau. Nàng quyết định ly thân với Văn, nói thẳng với Văn là nàng đã cố gắng nhiều nhưng không thể nào yêu được Văn. Nàng có nằm bên cạnh Văn thì cũng chỉ hờ hững mà không thể, không một chút cảm xúc. Cuối cùng thì Văn cũng phải chịu, vì dù sao nàng là con gái Lê Duẩn nên không thể ép gì được nàng, để kệ cho nàng được tự do, muốn làm gì thì làm. Văn tập trung vùi đầu hết thời gian vào việc làm luận án tiến sỹ cho quên đi mọi chuyện. Tất nhiên, chúng tôi không quảng bá mối quan hệ của chúng tôi cho bất cứ ai, bởi nó không phù hợp với truyền thống đạo đức vì dù sao thì nàng cũng là người đã có chồng, chưa kể đến việc đây mối quan hệ với người nước ngoài. Để có được mỗi lần gặp nhau, chúng tôi phải dàn dựng công phu, giấu kín không bị lộ. Chúng tôi phải rất thận trọng để không dẫn đến hậu quả tệ hại là buộc nàng bị trục xuất về nước. Thông thường, các mối tình lãng mạn Xô-Việt nếu có sẽ khá nhanh chóng được đại sứ quán biết đến. Những người đang yêu nhau đó sẽ được “chấn chỉnh” bởi sự cảnh báo của những công dân ưu tú luôn cảnh giác với tình yêu. Cứ thế chúng tôi vụng trộm trong bí mật như vậy được gần một năm. Điều gì có thể chứng minh chúng tôi ngoại tình: Nàng chỉ nhìn như một đứa trẻ, mà việc giám sát “trẻ em” Việt Nam không hề tồn tại, ít nhất mọi thứ đều nguyên trạng. Sau đó, nàng đã mang thai và không hiểu vì sao đó mà nàng đã giấu điều đó với tôi. Do không giữ gìn cẩn thận và tự thương lấy mình nên nàng đã bị sẩy thai. Tôi đã vào thăm nàng trong bệnh viện và đã rất lo sợ rằng tất cả mọi thứ bị phát hiện và người ta sẽ mang nàng đi mất. Nhưng tôi còn sợ hãi hơn cho sức khỏe của nàng. Bởi vậy nên tôi nghĩ, người ta có thể mang nàng đi, miễn là tất cả đều phải tốt đẹp cho nàng. Và rồi thời điểm đó đã đến.

Sau khi điều trị ở bệnh viện, người ta gửi nàng đến thành phố Pushkino, vào Viện an dưỡng chính trị cao cấp. Tại đây nàng được xem như một yếu nhân có một vị trí đặc biệt, tất nhiên, nàng được đăng ký ăn ở phòng ăn dành cho những người có đặc quyền. Những người khách nghỉ bình thường ở đây thường muốn ngó xem trong khay đựng thức ăn gồm những gì được mang đến cho cô công chúa Việt Nam khi các cô phục vụ bê mang ngang qua phòng sinh hoạt chung. Nàng khó chịu với đặc ân này của chế độ Xô viết, nhưng nàng bắt buộc phải chung sống hòa bình với điều này.

Ở Pushkino vài ngày nàng đã thấy buồn chán, nàng gọi điện đề nghị tôi đến thăm nàng. Một hồi lâu tôi từ chối, nói rằng chúng tôi có thể bị bắt, nhưng cuối cùng tôi đầu hàng và chấp nhận lời thỉnh cầu của nàng. Tôi đến với một con chó – chó săn chồn, và tìm nhà nghỉ trong khu nghỉ mát gần Viện an dưỡng của nàng. Khỏi phải nói, chúng tôi mừng rỡ khi gặp được nhau, ôm hôn nhau nồng thắm như thể chưa bao giờ đã từng như vậy. Rồi một lần chúng tôi gặp nhau trong rừng đã bị một nhân viên an ninh bắt gặp! Ông ấy đang ngồi nấp trong bụi cây theo dõi chúng tôi thì bất ngờ bị con chó của tôi phát hiện ông ta ở đó.

- Này anh, anh theo dõi tất cả mọi người hay là chỉ riêng chúng tôi?
- Theo dõi tất cả- Tay nhân viên an ninh trấn an chúng tôi- Chúng tôi ở đây là Gestapo.

Tất cả bí mật giữa chúng tôi nhanh chóng bị bại lộ, một cách hoàn toàn tình cờ. Cơ quan an ninh xác định rõ được ngay tôi là ai và nhanh chóng thông báo cho Lê Duẩn, rằng có mối tình lãng mạn giữa con gái ông với một nhà vật lý Xô Viết. Vậy là có một cuộc họp gia đình, trong đó mọi người cùng thảo luận về hành vi ngoại tình của nàng. Nhưng những người thân trong gia đình sợ nàng bởi cá tính quá táo bạo và độc lập. Nàng có thể phê bình, chỉ trích mạnh mẽ ngay cả ba mình. Trong tim tôi, nàng là một người cộng sản lớn hơn cả Lê Duẩn.

Để ngăn chặn hành động ngoại tình của con gái mình, Lê Duẩn cử một đặc phái viên – một người bạn của gia đình, người đang làm việc ở Moskva giúp đỡ giải quyết vấn đề này. Ông này mời nàng đi xem vở kịch ballet “Anna Karenina” ở Nhà hát lớn Moskva. Buổi đi xem thưởng thức biểu diễn nghệ thuật này rõ ràng không phải là tình cờ. Khi xem xong quay ra, ông ấy nhắc nhở nàng về trách nhiệm của gia đình, “Đại sứ thiện chí” gợi nàng nhớ đến số phận bi thảm của nhân vật nữ chính Anna của Tolstoy: “Cháu thấy không, cuộc sống của người phụ nữ trong tác phẩm kịch đã kết thúc với bi kịch ra sao nếu phản bội, thay đổi chồng mình?”. Nàng đã phải khó khăn lắm mới nhịn được cười.

Trên cương vị của mình, để giữ uy tín Lê Duẩn đã không thể sử dụng bạo lực và trục xuất cô con gái yêu. Giải pháp cuối cùng là phải để nàng ly hôn, cô sẽ kết hôn với tôi và ở lại cùng chồng ở Moskva. Qua một thời gian, tất cả mọi việc đã lắng dịu xuống, nhưng không thể trì hoãn thêm, chúng tôi cần thiết phải tiến hành đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ càng sớm càng tốt để cuộc sống chúng tôi sớm ổn định.

Mặc dù đã ly thân, nhưng Văn không muốn ly hôn với nàng. Tôi nghĩ đó không chỉ do cảm xúc của Văn, mà còn vì lợi ích riêng của người cha, sự nghiệp của ông ta đã đi lên cao sau khi con trai ông kết hôn với nàng. Tôi đề nghị nàng thể hiện sự thông minh và tài ngoại giao của mình để cố gắng đạt được một thỏa thuận với chồng, nhưng nàng không muốn tỏ ra nhẫn tâm như vậy. Nàng không muốn có thêm lỗi với Văn, mà muốn để Văn tự quyết định trước thực tế tình cảm của vợ mình. Lỗi là tại nàng, vì nàng đã lợi dụng Văn để làm cớ quên được tôi trong cuộc đấu tranh với chính bản thân mình, từ đó mới xuất hiện mối quan hệ không đáng có của nàng với Văn. Nhưng khi nàng đã có thai lần nữa, câu hỏi nảy sinh về nhiều khía cạnh. Nàng phải hành động để không phải rơi vào tình trạng không rõ ràng: nếu nàng trên danh nghĩa vẫn là vợ Văn tại thời điểm ra đời đứa con của chúng tôi, phía Việt Nam về mặt luật pháp có thể xem Văn là cha của đứa bé.

Nàng hứa với Văn rằng, sẽ không để ai biết việc ly hôn của họ ở Việt Nam: “Em sẽ giữ bí mật, và chúng ta sẽ vẫn là bạn bè thân thiết của nhau như trước. Anh biết rồi đó, ngay từ đầu em đã không có tình cảm với anh. Anh nói rằng anh yêu thương em, vậy thì anh nên chấp nhận thỉnh cầu của em. Anh có muốn em ghét bỏ anh không?”. Cuối cùng thì anh chàng đã phải chấp nhận từ bỏ nàng. Văn vẫn còn yêu đơn phương nàng. Họ đã cùng đến một văn phòng đăng ký ly hôn tại Moskva dành cho người nước ngoài, vậy là họ đã ly dị mà tất cả người Việt Nam và Lê Duẩn đã không được biết bất cứ điều gì. Cũng không có ai thông báo điều này cho Đại sứ quán Việt Nam. Văn tỏ ra rất khó chịu, buồn bực bởi việc này, bị khủng hoảng tinh thần đến mức phải nhờ phòng khám thần kinh chữa trị.

Chúng tôi giấu việc nàng mang thai con đầu lòng, vì chúng tôi không muốn ai đó quấy rầy nàng sinh con và đăng ký khai sinh cho con ở Liên Xô. Tại trường đại học, tôi đã bố trí cho nàng một “chuyến công tác” trong vài tháng ở một trường đại học ở Kiev và giúp đỡ cho nàng thỉnh thoảng gọi “từ Kiev” cho chị Muội (nàng vẫn giữ liên lạc với gia đình thông qua chị), đồng thời nàng gửi thư cho người thân với tem đóng dấu từ Kiev để họ yên tâm đúng là nàng đang ở đó. Trong toàn bộ thời gian mang thai, nàng đã sống ở trong nhà nghỉ ngoại ô của tôi và trốn kín, nếu một người nào đó bất chợt đến thăm tôi.

Trong thời kỳ trì trệ của Liên Xô, những cuộc hôn nhân của cư dân Vùng Moskva (bao gồm thành phố Moscow) với công dân nước ngoài chỉ được tiến hành đăng ký tại hai văn phòng – một ở Moscow và một ở Zagorsk – Việc này cho phép Ủy ban an ninh quốc gia (KGB ) kiểm tra, kiểm soát dễ dàng hơn. Tại hai Văn phòng này, chúng tôi không thể đăng ký được vì nếu an ninh biết thì Lê Duẩn chắc chắn cũng sẽ được thông báo ngay. Nhưng thời kỳ đó pháp luật cũng quy định, ở những nơi nào không có văn phòng đăng ký kết hôn cho người nước ngoài, các cuộc hôn nhân với người nước ngoài có thể đăng ký và được thành viên của Hội đồng đại biểu nhân dân địa phương chứng nhận. Tôi quyết định phải tận dụng lợi thế này và đăng ký kết hôn của nàng với tôi tại thành phố Troitsk. Ở thị trấn Akademgorodok ngoại ô Moskva, tôi có rất nhiều bạn bè ở tất cả các Viện nghiên cứu, họ sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tất nhiên, nếu họ biết cô dâu của tôi là ai, thì chắc chắn không ai mạo hiểm dám giúp tôi để có đăng ký kết hôn với nàng được. Tôi đã phải né tránh, lừa dối và thậm chí tạo ra một giấy phép giả cho nàng từ Đại sứ quán Việt Nam. Và quan trọng nhất – tôi phải có đăng ký cư trú chính thức ở thành phố Troitsk. Mặc dù pháp luật quy định về hôn nhân yêu cầu không nhất thiết phải như vậy.

____

Phần 2

16-8-2016

IV.

H1Thời gian đó tôi đã xây một nhà để xe tại nhà nghỉ ngoại ô – gọi là nhà chứa xe nhưng trông khá “hoành tráng” với việc mở rộng thêm một phòng ngủ lớn. Một trong những bức tường của nó được xây hình bán nguyệt. Các cửa sổ được xây dài và hẹp như kẽ hở lớn, tôi củng cố chúng bằng các song sắt. Trong căn phòng với những “kẽ hở” như vậy còn có thêm một cánh cửa bằng thép. Kết quả xây dựng giống như một pháo đài thật sự mà sau này sẽ đáp ứng đúng vai trò của nó cho việc giải tỏa nỗi sợ hãi của nàng về mối đe dọa bị bắt đưa về nước.

Nhà để xe theo pháp luật của Liên Xô chỉ có thể được hợp pháp hóa tại nơi cư trú của mình. Tôi đã đến gặp cảnh sát trưởng thành phố Troitsk:

- Tôi muốn được đăng ký tạm trú tại nhà nghỉ ngoại ô để chính thức hóa nhà để xe. Liệu có thể được không đồng chí?

- Không có vấn đề! Đồng chí hãy đến Sở Cư trú Moskva xác nhận và sau đó đến văn phòng hộ chiếu của chúng tôi.

Tôi đã đăng ký xác nhận ở Sở Cư trú Moskva, nhưng người đứng đầu văn phòng hộ chiếu lại yêu cầu cần sự cho phép đăng ký tạm trú của chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Troitsk, người mà tôi đã có mối quan hệ thân mật nhất. Tôi đến gặp đúng thời điểm bà chủ tịch sắp đi nghỉ phép, vì vậy bà ấy dễ dàng ký ngay quyết định theo đơn trình của tôi. Tôi bày tỏ ngay nguyện vọng xin phép kết hôn khẩn cấp tại nơi cư trú mới, “chúng tôi không thể chờ đợi lâu được. Cô dâu sắp sinh con. Có giấy chứng nhận của phòng khám thai đây ạ”. Bà chủ tịch đã viết tay và ký tên vào một mảnh giấy: “Tôi yêu cầu khẩn trương cấp giấy đăng ký kết hôn cho GSTS Maslov ngay sau khi có quyết định của Ủy ban Hành chính thành phố về việc cấp giấy phép cư trú”. Và bà ấy lên đường đi nghỉ phép.

Với mảnh giấy này tôi đã đi đến gặp ông ủy viên Ủy ban hành chính, người có trách nhiệm xử lý việc đăng ký kết hôn (ông là một người quen của tôi), và thú nhận rằng, muốn kết hôn với một cô gái nước ngoài, nhưng tôi phải giấu kín, không để chuyện này bay ra ngoài khỏi Viện nghiên cứu khoa học của tôi. Ông hứa rằng mọi việc sẽ được giải quyết kín đáo, ông sẽ giữ bí mật tuyệt đối và sẽ trực tiếp trao đổi với thư ký của Ủy ban hành chính – một người phụ nữ trung niên dễ thương. Tôi đã rất vui mừng, nhưng chưa kịp thực hiện thì có chuyện thay đổi nhân sự xảy ra bất ngờ. Vài ngày trước khi đăng ký, người phụ nữ trung niên đã được chuyển công tác và thay vào vị trí đó một nhân viên đã từng là cán bộ Đoàn thanh niên từ thành phố Podolsk mới chuyển đến. Nghe nói cô gái này là một công chức mẫn cán, tích cực và rất nguyên tắc. Tôi sợ rằng cô ta sẽ phá vỡ “âm mưu” đăng ký kết hôn với nàng của mình.

Tôi quay sang nhờ một người bạn tìm cách vô hiệu hóa cô gái này. Bạn tôi sẽ tìm một thanh niên đẹp trai nào đó có khả năng tán giỏi, quyến rũ mời bằng được cô gái đến gặp, đi dạo chơi suốt trong ngày nào đó, làm sao để cô gái chuyển trách nhiệm giải quyết vụ việc của tôi cho ông ủy viên mà tôi quen biết. Tại sao ư, tất nhiên, tôi đã không nói. Một trong những nhà khoa học trẻ – một người đàn ông đẹp trai và đầy hấp dẫn, hợp gu yêu thích của phụ nữ – đã giúp đỡ. Ngày hôm sau cậu ấy gọi cho tôi: “Ngày thứ bảy cô ấy sẽ không có mặt tại cơ quan, cô ấy đã xin nghỉ phép. Chỉ cố gắng kiếm cho chúng tôi một cặp vé xem bất kỳ buổi biểu diễn nghệ thuật tuyệt vời nào đó”. Tôi gửi cho cậu ta cặp vé đi nghe nhạc jazz Đức.

Vị ủy viên đáng kính đã không làm tôi thất vọng, ông đã giúp chúng tôi kết hôn như đã hứa một cách hoàn hảo – “Không một tiếng ồn và dính tý bụi nào”. Cho đến những giây phút cuối cùng tôi vẫn còn lo sợ những bất lợi không mong muốn bất ngờ ập đến có thể ngăn cản mối tình của chúng tôi. Bạn thân của tôi, Bulat Okudzhava đề nghị: “Nếu có bất kỳ trở ngại nào, hãy gọi cho tôi. Tôi sẽ đưa các nhà báo nước ngoài đến, chúng tôi sẽ làm um lên để họ không thể ngờ hậu quả lại như vậy!”.

Tôi biết Okudzhava từ khi còn nhỏ. Các bà mẹ của chúng tôi thân nhau như là chị em ruột. Hồi bé tôi đã sống trong gia đình Bulat sáu tháng tại căn hộ của họ ở phố Arbat. Tại sao ư? Tôi không hề biết được. Trong thời kỳ ảm đạm của năm 1937, nhiều người dân khi đó vì nhiều lý do, buộc phải thay đổi chuyển nơi ở, họ đã cố gắng trốn tránh để thoát khỏi bị bắt. Người ta đã bắt giam cha của Bulat – ông Shaliko. Mẹ tôi ly dị với cha tôi và sau đó kết hôn với Boris Fedorovich Piston, một nhà sử học và triết học nổi tiếng. Cha dượng đã đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống của tôi. Tôi yêu ông rất nhiều. Mẹ của Bulat là bà Ashkhen Stepanovna và bà nội Maria Vartanovna đã nuôi nấng, chăm sóc tôi một thời gian. Bà Ashkhen sau đó vẫn luôn luôn giúp đỡ tôi. Bà cũng đã đến dự góp vui trong ngày cưới của tôi với Vũ Anh.

H1

Chúng tôi tổ chức đám cưới ở nhà nghỉ ngoại ô. Chúng tôi chỉ mời bạn bè thân thiết gần gũi nhất và những người thân trong họ hàng. Mẹ tôi đã cho con dâu của mình một chiếc vòng cổ bằng vàng nạm kim cương. Một chiếc vòng cổ rất thanh lịch, “sang trọng”, nhưng nàng xấu hổ khi đeo nó. Nàng là một cô gái khiêm tốn. Mẹ tôi còn tặng thêm cho nàng một chuỗi vòng cổ với các hạt ngọc trai lớn hình dạng không đồng đều – nàng luôn đeo nó ẩn dưới lớp dưới áo ngoài.

Hôn nhân của chúng tôi được tiến hành nhanh chóng một cách kỳ lạ nhưng đầy trắc trở, đặc biệt là tờ giấy phép cư trú gắn liền với toàn bộ một câu chuyện ly kỳ, mạo hiểm. Đầu tiên là sự ngại ngần, lưỡng lự của bà trưởng văn phòng hộ chiếu thành phố Troitsk. Bà nói rằng việc đăng ký tạm trú không cho quyền cư trú, cũng như việc cho phép của chủ tịch Ủy ban hành chính Troitsk là không đủ thẩm quyền, và gửi hồ sơ xin cư trú của tôi đến Cục Nội vụ Vùng Moskva. Ở đó, tôi bắt buộc phải chạy khắp nơi đúng một vòng tròn. Phải công nhận tôi là một người đã rất kiên trì khi đến quấy rầy một loạt các bộ phận chức năng liên quan, và rồi cũng đạt được kết quả như ý. Người em họ của bạn tôi là Okudzhava đã giúp đỡ. Người phụ nữ tuyệt vời này, tôi đã thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy, là bạn học với phó cục trưởng cục Nội vụ Vùng Moskva. Cuối cùng nhờ anh ấy mà chúng tôi cũng đã nhận được giấy phép cư trú tại vùng ngoại ô Moskva.

Trong thời kỳ Xô Viết, tất cả mọi thứ có thể đạt được bởi sự quen biết. Tôi đưa nàng vào nằm ở một bệnh viện phụ sản vừa mới được khai trương ở Moskva nhờ sự giới thiệu của bạn bè mà không cần có giấy tờ. Bác sĩ, người trực tiếp chăm sóc nàng, một bác sĩ phẫu thuật tuyệt vời, không biết cô ấy là ai. Tôi nói với bác sỹ rằng, nàng là tình nhân của tôi, chúng tôi yêu nhau và có thai, chúng tôi muốn lừa dối người chồng rất hay ghen, nàng đã phản bội chồng, bây giờ anh ta đang bận công tác trong một chuyến đi dài ngày. Bảy tháng trước, chồng nàng đã về Moskva vào dịp nghỉ phép, sau đó lại đi tiếp. Do đó, chúng tôi cần một giấy chứng nhận rằng đứa trẻ được sinh non bảy tháng. Trong thực tế, tờ giấy chứng nhận này chỉ nhằm mục đích để phòng chống lại tuyên bố có thể có của phía Việt Nam. Nàng ly hôn vào tháng thứ hai của thai kỳ, và nếu muốn người ta có thể nói Văn là cha đứa bé. Thời đó khoa học chưa có phân tích ADN. Bác sĩ phụ khoa cấp ngay chứng chỉ cần thiết mà không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Ông đã bị cuốn hút bởi nàng. Và, tất nhiên, tôi rất biết ơn ông.

Ngày 31 tháng 10 năm 1977, nàng đã sinh hạ một bé gái, chúng tôi đặt tên bé là Elena, dựa vào tên của người bạn gái thân của nàng là Liên, con gái của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người đã giúp chúng tôi bằng nhiều cách, đặc biệt là một giấy phép kết hôn giả của Đại sứ quán Việt Nam mà tôi đã đề cập. Tôi ngay lập tức đăng ký khai sinh cho đứa trẻ ở Troitsk, và đến giây phút này có thể nói rằng “chương trình tối thiểu” đã được thực thi.

H1

Một thời gian ngắn trước khi nàng sinh, Lê Duẩn đã đến Moskva. Ông đã không thể gặp được nàng ngay. Điều này làm cho ông tức tối lên cơn giận dữ. Con gái tôi đâu? Ông hỏi đại diện phía Liên Xô. Thông thường, các chuyên viên của Ban đối ngoại của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô sẽ đón và đưa nàng đến gặp ông ngay trong ngày khi ông vừa bay đến Moskva. Nhưng lần này họ không thể tìm thấy nàng – không ở Kiev, nơi nàng chính thức được cử đi công tác, cũng như không tìm thấy bất cứ chỗ nào ở Moskva. Những người phụ trách an ninh giải thích rằng, có thể nàng đang ở nơi nào đó với Maslov. Sau một tuần, nàng và con gái đã được xuất viện, nàng ngay lập tức tự mình đến gặp Lê Duẩn, nàng sẽ kể hết toàn bộ câu chuyện. Tôi đã cố gắng để ngăn cản nàng, nhưng nàng không chịu nghe.

Nàng gặp cha mình tại nhà khách chính phủ trên đồi Lenin. Lê Duẩn đã cố gắng thuyết phục con gái về Việt nam để làm thủ tục ly hôn với Văn, điều mà nàng đã từng yêu cầu trước đây. Nàng cho biết nàng đã chính thức ly hôn Văn và kết hôn với tôi. Lê Duẩn tím mặt với cơn giận dữ và bắt đầu la hét, mắng nàng thậm tệ, đổ lỗi nàng hư hỏng vì mang một phần dòng máu xấu Trung Hoa, mà nàng được thừa hưởng từ mẹ nàng. Nàng cảm thấy phẫn nộ kinh khủng, nàng không thể chấp nhận chủ nghĩa dân tộc của ba mình. Nhưng nàng không muốn tranh luận với Lê Duẩn nữa. Nàng xin phép ba quay về và bỏ đi thật nhanh.

V.

Khi nàng đi ra ngoài để đến điểm dừng xe buýt, một chiếc xe “Volga” màu đen chầm chậm chạy theo nàng, rồi dừng lại cách nàng một khoảng không xa. Nàng bước thêm vài bước, người lái xe ngay lập tức nhấn ga. Cô vội chạy nhanh thì chiếc “Volga” cũng tăng tốc thêm. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu nàng không kịp chạy đến bến và lên kịp chiếc xe buýt chạy điện vừa dừng. Về đến nhà, nàng xuất hiện trước mặt tôi với nước mắt lưng tròng. Nàng kể lại với tôi nàng đã sợ hãi như thế nào khi bắt đầu thấy chiếc xe đuổi theo nàng:

- Bây giờ em đã tin chắc rằng, họ muốn bắt và đưa em về Việt Nam!
- Sao em bảo rằng ba mình sẽ không làm điều đó.
- Như sự việc xảy ra hôm nay, em đã nhận ra rằng ba em đã sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Điều này có nghĩa, em sẽ phải cam chịu số phận thôi.

Tôi an ủi, vỗ về động viên nàng, còn nàng vừa khóc, vừa liên tục lắp bắp nói: “Em đã chết! em đã chết!”

Ngày hôm sau, nàng gọi điện thoại cho chị Muội. Chị nàng nói rằng ba đã bị sốc và rất lo lắng vì chuyện của nàng đã xảy ra như vậy. Cả đêm ông đã không thể ngủ được và muốn làm lành, tha thứ cho nàng. Nàng kiên quyết trả lời chị: “Tốt hơn hết là ba, má và chị nên chúc mừng chúng em. Chúng em đã có một cô con gái mới sinh”. Chị gái nàng không tin thực tế đó, cho rằng nàng bịa ra chuyện để gây sức ép cho ba phải thừa nhận hôn nhân của nàng với tôi. Nàng và chị Muội đã thỏa thuận gặp nhau tại nhà nghỉ ngoại ô của chúng tôi và cả hai sẽ cùng đi đến gặp Lê Duẩn. Khi đến nhà tôi, trông thấy Lena, Muội đã bật khóc và đề nghị nàng nên ở nhà, chị sẽ đến gặp ba một mình. Chị sẽ kể tất cả mọi chuyện cho Lê Duẩn. Lê Duẩn một lần nữa lại bị sốc khi biết về sự ra đời cháu gái ngoại của ông.

Trong một thời gian dài sau này, Lê Duẩn không thể chấp nhận sự thật, rằng con gái mình đã không vâng lời, vi phạm luật pháp và kết hôn với người nước ngoài. Ông thỉnh cầu Suslov, người gần gũi quen biết nhất của ông trong Đảng Cộng sản Liên Xô với một yêu cầu giúp tìm ra quan hệ thực chất của nàng với tôi – mối tình thoảng qua theo cảm xúc nhất thời hay tình yêu thực sự. Sau đó, KGB đã cử một “chuyên gia về tình yêu” tiếp cận chúng tôi. Ông đã bí mật đi lang thang xung quanh nhà, nơi chúng tôi sống, quan sát, nghe trộm, thu thập thông tin, và đã buộc phải thừa nhận: đó là tình yêu thực sự.

Mặc dù biết chúng tôi yêu nhau thật sự, nhưng Lê Duẩn vẫn không tha thứ cho con gái mình. Tôi đã nghe nói rằng, trong gia đình, Lê Duẩn đã cấm không cho ai được nói chuyện về nàng, thậm chí chỉ là nhắc đến tên nàng. Nhưng tất cả quà tặng thủa bé của nàng đều được ông sắp xếp, giữ gìn cẩn thận trên bàn làm việc của mình. Khi một trong số những món quà đó bị ai đó lấy mất, Lê Duẩn đã làm ầm ỹ cả nhà, tạo nên một scandal nho nhỏ. Điều này có nghĩa là trong sâu thẳm lòng mình, ông vẫn rất yêu quý nàng, thương nàng như xưa mà không hề chối bỏ nàng…

Nàng đã thay đổi rất nhiều sau sự ra đời của bé Lena (năm 1977). Trước đó nàng luôn tỏ ra can đảm, độc lập, còn bây giờ nàng không ngừng run lên vì sợ hãi. Lúc nào nàng cũng có cảm giác như đang trong tình trạng chờ đợi các cuộc tấn công, bắt cóc, nàng sợ những chiếc xe màu đen và thậm chí nàng sợ cả các đồng hương của mình. Nàng cho biết, với họ tốt hơn hết là không nên gặp mặt, không để bị lôi kéo vào cuộc tụ họp, để dành thời gian tập trung vào làm việc, nghiên cứu. Một thời gian ngắn, người thân của nàng xa lánh, tẩy chay nàng, gọi nàng là kẻ phản bội. Họ thường xuyên gọi điện thoại và gửi thư với thái độ giận dữ. Nàng đã phải chịu áp lực lớn, nàng tin rằng, nàng đã gây ra một tội lỗi khủng khiếp, và nàng sẽ bị trừng phạt.

Trước đây nàng không thực sự muốn ở trong căn phòng với những khe hở lớn như pháo đài tôi đã xây, còn bây giờ nàng lại luôn yêu cầu tôi khóa chặt cửa và nàng ở trong phòng cùng với Lena suốt cả thời gian khi tôi đi vắng vì công việc ở Moscova. Nàng luôn giữ bên mình khẩu súng săn của tôi. Nàng nói rằng căn phòng này là nơi an toàn nhất trong cả nước. Nàng không còn sợ bị đuổi bắt từ các đường phố, từ bên trong phòng này nàng có thể thoải mái để bắn ra ngoài. Rõ ràng, nàng có thể đang hồi tưởng về tuổi trẻ du kích của mình.

Có một lần nàng làm tôi hoảng sợ suýt chết. Nàng biến mất cùng với Lena. Tôi lái xe về đến nhà nghỉ, thấy vắng tanh không có ai ở đó cả. Tôi thiếu chút nữa thì lên một cơn đau tim, nghĩ rằng họ đã bị bắt cóc. Rồi nàng bất chợt hiện ra và nở một nụ cười rõ tươi.

Tôi đã có cuộc trò chuyện với một người lính từ một tiểu đoàn xây dựng. Cậu ấy muốn bán cho tôi một khẩu súng lục bắn bê tông, từ đó có thể chụp chốt vào tường bê tông. Tôi hỏi khoảng cách bắn được bao xa. Người lính nghe tôi nói vậy thì tỏ ra sốt sắng: “Bác cần súng bắn được với khoảng cách xa à? Tôi có thể bán cho bác súng trường tự động kèm với đạn”. Tất nhiên, tôi từ chối cậu lính. Khi tôi vừa cười vừa nói với nàng về cuộc trò chuyện đó với người lính, nàng đột nhiên nhận thấy tiếc rẻ về cơ hội hiếm có đó:

- Sao vậy, anh phải mua chứ.
- Có mà điên? Để cho người ta bắt vào tù à.

- Nhưng có nó em sẽ bình tĩnh hơn. Anh không hiểu à, Ba em sẽ làm mọi chuyện có thể. Cuộc hôn nhân của chúng ta làm suy yếu quyền lực của ông ấy trong Đảng, tiếp tay cho các đối thủ chính trị của ông. Nếu họ hạ bệ ba em, đất nước sẽ bị sụp đổ.

- Ba em yêu thương em và sẽ không bao giờ phá hoại hạnh phúc của em đâu.

- Ba yêu thương em, em cũng yêu ba em nhiều. Nhưng điều quan trọng nhất đối với ba em là lợi ích của đất nước. Em luôn biết em phải đi đến điểm dừng nào. Trước đây khi chưa có Lena, em không sợ gì cả, nhưng bây giờ em luôn sợ hãi. Nếu người ta bắt em đi, một mình anh sẽ không thể chăm sóc tốt cho con.

Ngay sau đó bé Lêna đã bị ốm, phải nhập viện. Trước khi vào bệnh viện cùng nằm để chăm sóc bé, nàng đã viết cho tôi một bản tuyên bố chính thức: “Nếu tôi bị bắt mang đi một mình hoặc cùng con gái và đưa đến Đại sứ quán Việt Nam, mọi người cần phải biết, điều này được thực hiện bằng vũ lực, trái với ý muốn của tôi, bất cứ điều gì do người thân trong gia đình tôi hoặc đại sứ quán phát ngôn đều không có giá trị. Tôi muốn sống với chồng Viktor Maslov ở Liên Xô, và tôi muốn chồng tôi nuôi dưỡng con gái của chúng tôi trưởng thành và thấm nhuần nền văn hóa Nga “. Tôi cho cất giữ tờ giấy này vào một nơi an toàn.

Phần lớn thời gian chúng tôi sống trong nhà nghỉ ngoại ô và hầu như lúc nào cũng ở bên nhau. Tôi bắt đầu tham gia giảng dạy ít hơn, cố gắng dành thời gian nghiên cứu, làm việc tại nhà. Vào ban đêm, đôi khi tôi ngắm nhìn nàng ngủ và tôi tự nhủ, “Lạy Chúa, tại sao tôi hạnh phúc thế này? Tôi thật không xứng đáng”. Cũng giống như tôi luôn cảm thấy có quá ít thời gian được ở bên nàng…

Ban đầu, tôi sợ rằng nàng buồn vì nhớ gia đình và quê hương. Một lần bạn tôi là Viện sĩ Mishchenko đã hỏi cô về điều đó. “Em chỉ nhớ khi có khách đến nhà chơi” – với sự thẳng tính của mình nàng trả lời. Nàng không thích các nhóm bạn ồn ào, những cuộc tranh luận vô bổ. Tôi cảm nhận được nàng khó chịu khi nhìn thấy cảnh bạn bè tôi say rượu vui vẻ, mặc dù nàng không thể hiện ra ngoài sự không hài lòng, nếu có ai mời uống rượu thì nàng nhẹ nhàng từ chối. Nói chung là nàng không thích uống rượu.

Cùng sống với nàng tôi đã tự nhận thấy mình thay đổi nhiều, trẻ hơn, dễ chừng phải đến 15 tuổi. Chưa bao giờ tôi lại làm việc đạt hiệu quả lớn như lúc này. Chúng tôi hầu như không bao giờ đi đến nơi nào khác (Các nhân viên Ban quốc tế của Ủy ban Trung ương Cộng sản Liên Xô đã khuyến cáo chúng tôi không nên xuất hiện ở những nơi công cộng), nhưng không cảm thấy mình có gì đó sai trái. Các bạn gái và em trai thường vẫn đến thăm nàng. Nàng vẫn đến trường Đại học Tổng hợp Moscova, cố gắng hoàn thành chương trình nghiên cứu sau đại học. Nàng có khả năng làm việc tốt hơn nhiều so với tôi, và nếu nàng tham gia vào nghiên cứu khoa học, tất cả mọi thứ hóa ra không đến nỗi quá phức tạp như tôi tưởng. Nàng đã bảo vệ luận án thành công và trở thành phó tiến sỹ khoa học vật lý và toán học.

Một lần, tôi nhớ, chúng tôi đã đến dự xem buổi hòa nhạc của Vladimir Vysotsky, được tổ chức trong trường Đại học chế tạo máy điện tử Moscova (МИЭМ). Chúng tôi ở xa, không ngồi ở hàng ghế đầu, nhưng sau khi biểu diễn xong ca sỹ ngay lập tức đã đi tới gần nàng. Vysotsky thấy nàng khi anh hát và suốt thời gian biểu diễn chỉ nhìn nàng. Nàng ngạc nhiên và nghĩ rằng, có lẽ ca sĩ nhầm lẫn với ai đó. Và Vysotsky giãi bày tâm sự khi khen nàng dễ thương, dạt dào tình cảm, và muốn được liên lạc sau buổi biểu diễn này, nói ngắn gọn, ca sỹ cư xử như thể không có tôi ngồi bên cạnh nàng. Tôi đã cố gắng để giải vây cho nàng. Khi ca sỹ hỏi nàng có hiểu hết tất cả nội dung trong bài hát của mình không, tôi trả lời thay cho nàng:

- Vâng, tôi là chồng đang ngồi cùng với cô ấy. Tôi có thể giải thích cho vợ tôi hiểu. Một cách ngẫu nhiên, chúng tôi với gia đình anh thực tế là láng giềng của nhau tại khu nhà nghỉ ngoại ô đấy. Hãy đến thăm vợ chồng tôi, chúng tôi sẽ rất vui mừng được chào đón.

- Tôi đến đó rất thường xuyên, – Vysotsky ngượng ngùng – đó là Marina thích nhà nghỉ ngoại ô, còn tôi không thực sự thích lắm. Vâng và không bao giờ.

(Người dịch bỏ  một trang)

Ở tuổi 30, là mẹ của hai đứa con, Le Anh trông trẻ như cô gái 18 tuổi…

Đứa con gái thứ hai của chúng tôi, Tania, ra đời tháng 4, 1979.

VI.

Sau khi hòa giải với gia đình, Vũ Anh quyết định giới thiệu cháu gái lớn Lena với cha.

Khi Lê Duẩn đến Moskva lần sau đó, nàng đem theo Lena đến gặp ông. Ông ngay lập tức yêu mến cháu. Ông đề nghị để Vũ Anh và cháu ở lại cùng ông cho đến khi ông về nước. Lúc đầu cháu bé còn lạ, nhưng dần dần quyến luyến với ông ngoại. Ông chủ ý giấu tất cả chuối trong nhà để tự mình đãi Lena – mong chiếm được cảm tình của đứa cháu.

Lê Duẩn luôn yêu cầu đưa Lena đến gặp ông mỗi lần đến Moskva. Còn gặp tôi thì dứt khoát không muốn. Còn nhớ tôi đưa Vũ Anh và con gái đến thăm mẹ vợ ở cái đatra cũ của Khrusov ở Rublebka và phải đợi trong xe, trong khi các cháu đang ở bên ông. Lê Duẩn đưa Lena và Vũ Anh đi xem xiếc rồi đưa họ đi theo dự lễ khai mạc Olympic Moskva. Con bé lên cơn đỏng đảnh đúng lúc long trọng nhất, kêu to: “Mẹ ơi, con muốn đi đái!”

H1

Lần khác trong lúc ăn trưa ngồi cạnh Lê Duẩn, đúng lúc đang nói chuyện về bắt đầu chiến tranh chống chế độ Khmer đỏ ở Campuchia, Lena bỗng nhiên hỏi: “Ông ơi, thế ông không bị gãy răng chứ?” Không biết có sự liên tưởng nào xuất hiện trong đầu con bé, để đúng lúc nói chuyện gay cấn nhất lại hỏi như vậy? Ở nhà chúng tôi cũng trao đổi về cuộc chiến tranh với chế độ Polpot – Ieng Sari. Có thể Lena nhớ lại câu mà tôi đã nói khi nào đó? Vũ Anh có suy nghĩ khá tốt về Ieng Sary, nhân vật thứ hai của chế độ ở Campuchia. Có thể trong cuộc nói chuyện ở buổi tiếp khách Việt Nam đó đã vang lên cái tên này, và gợi lại sự liên tưởng nơi con bé?

Người phiên dịch hiểu câu hỏi theo nghĩa bóng, nín lặng, nhưng cố gắng truyền đạt tối đa ý nghĩa của câu hỏi. Lê Duẩn không hề bối rối. Ông cắn chặt hàm răng chắc khỏe của mình và nhe ra với Lena. Tình huống được giải tỏa.

Vũ Anh cũng rất trực tính và tiết lộ các “bí mật” xô-viết cho cha một cách đơn giản. Hơn nữa, ông ấy cũng biết cách để hỏi. Một hôm người cha nói rằng theo lời Brejnev đất nước vừa thu hoạch một vụ bông kỷ lục. “Vậy mà vải trải giường nhà con thủng hết rồi”, Vũ Anh nhận xét.

Ngay ngày hôm sau cán bộ phân ban Việt Nam trong Ban quốc tế của BCH TW ĐCSLX dẫn Vũ Anh đến gian hàng số 200 nổi tiếng của GUM, nơi chỉ bán cho các khách hàng chọn lọc. Thế là chúng tôi có đồ trải giường mới.

Vũ Anh không muốn lợi dụng sự ưu đãi, nhưng dù sao vẫn mua đồ ở gian hàng cấm này của GUM, và tôi thường nhận được các đơn hàng mà nàng đặt. Nàng không nhận của cha dù một xu nhỏ, ngay cả khi học ở MGU. Chính quyền chúng ta đề nghị cấp cho nàng một căn hộ rộng rãi ngay trung tâm Moskva, nhưng nàng từ chối. Chỉ nhận một căn hộ ba phòng bình thường trong một tòa nhà lắp ghép ở Beliaevo. Để phòng khi nhỡ có việc chúng tôi đột ngột phải chia tay, thì vẫn có chỗ ở và làm việc.

Nhưng chúng tôi sống hòa thuận cùng nhau. Trong suốt thời gian chung sống chỉ cãi nhau vài lần, đấy là Vũ Anh cho rằng thế. Lần đầu tiên là khi Vũ Anh giận dữ vì tôi chở trên xe hai cô gái, cho dù trong xóm chúng tôi ở việc cho đi nhờ vẫn hay xảy ra. Nhưng Vũ Anh lại tức giận.

Lần thứ hai thì xảy ra một chuyện nói chung là ngớ ngẩn. Buổi chiều tôi nghe “đài địch”. Vũ Anh ngồi cùng tôi, nhưng nàng không hiểu tiếng Anh, do vậy nhanh chóng đứng dậy và đi vào phòng trẻ con. Tôi nghĩ lũ trẻ đã đi ngủ, và khép cửa thật chặt để khỏi đánh thức chúng. Sau đó tôi cũng thiếp đi. Vũ Anh ra khỏi phòng trẻ, kéo cửa, nhưng không mở được. Nàng cho rằng tôi không muốn gặp nàng, lấy làm khó chịu và sáng hôm sau bỏ đi đến nhà chị Muội. Đến chiều Vũ Anh trở về, và chúng tôi làm lành. Nàng không thể sống trong tình trạng xung đột với tôi.

H1

Mẹ nàng, bà Bảy Vân, cố gắng làm cho con gái chống lại tôi, có lần nói ra sự không hài lòng với việc chúng tôi sống tằn tiện. Vũ Anh giải thích cho mẹ: “Bao nhiêu tiền anh ấy gần như dành cho đatra. Luôn cứ phải mua hay sửa cái gì đó. Con không thể từ chối anh ấy trong chuyện này. Những người đàn ông khác họ uống rượu hết tiền, còn anh ấy thì xây dựng”.

Vũ Anh giành lấy việc chăm sóc cho mẹ tôi khi bà bị đột quỵ, và nàng rất biết cách chăm sóc. Có lẽ nàng đã từng làm y tá trong thời gian chiến tranh.

Mùa thu năm 1980 Vũ Anh lại mang thai, tôi vốn mong có một gia đình lớn. Vào tháng năm năm 1981 mẹ tôi khá hơn, người ta cho bà ra viện. Chúng tôi chuyển ra đatra. Tôi thuê một cô y tá, cô ấy ngủ bên cạnh người ốm và giúp bà đi lại và nói năng. Trẻ con thì có bảo mẫu, được đưa từ Việt Nam sang theo yêu cầu của Vũ Anh, để lũ trẻ có thể nói chuyện với chị bằng tiếng mẹ đẻ.

Lê Duẩn chuyển cho nàng một món quà – một con đồi mồi. Vũ Anh rất hoảng hốt khi nhìn thấy món quà cha tặng:

- Đồi mồi này người ta tặng cả đôi. Đây là biểu tượng của tình yêu và cuộc sống gia đình hạnh phúc. Một con đồi mồi – đây là dấu hiệu xấu. Làm sao mà cha lại không nghĩ đến điều ấy.

- Ông ấy không cần nghĩ đến những thứ ngu ngốc ấy. Cha em là người cộng sản.

- Vâng nhưng ông tôn trọng truyền thống và biết rằng đây là dấu hiệu của cái chết. Đã xảy ra chuyện gì rồi …

Kết quả siêu âm cho biết lần này chúng tôi sẽ có con trai. Vũ Anh cảm thấy người không khỏe, tôi đặt trước chỗ cho nàng ở nhà hộ sinh “kremlin” của Cục 4 trên phố Vesnina. Vũ Anh đã sinh Tania (1977) ở đó và nói chung thấy hài lòng chỗ này. Hồi ấy Vũ Anh có phòng riêng, có TV và điện thoại, nàng có thể bình tĩnh viết báo khoa học. Bác sĩ hồi ấy đã sửng sốt: “Một phụ nữ tuyệt làm sao! Nằm nhà hộ sinh còn làm khoa học!”

Nhưng nàng không muốn nằm tại bênh viện này, sợ hãi điều gì đó. Một lần nàng nói sẽ chết khi sinh nở:

- Ở Việt Nam sắp có bầu cử. Để bầu cha em, họ sẽ làm tất cả.

- “Họ” là ai?

- Là những người luôn can thiệp vào tình yêu của chúng ta.

Tôi không tin vào linh cảm, cho rằng đó là những lo lắng của các phụ nữ mang thai.

Đêm mùng sáu sang ngày mùng bảy tháng sáu Vũ Anh bắt đầu đau. Để an tâm tôi gọi liền hai xe cấp cứu, từ Troitsk và từ Moskva – phòng khi bỗng nhiên có việc gì trục trặc. Xe từ Troitsk lao đến trước, nhưng nó chỉ chở được Vũ Anh đến Podolsk. Tôi đề nghị họ chở nàng vào Moskva, đến nhà hộ sinh số 25, gần nhà chúng tôi trên phố Dmitri Ulianov. Khi đến nơi mới rõ ra một nửa tòa nhà đang phải sửa chữa.

Người trực nhận giấy tờ của Vũ Anh, nhìn thấy nàng đăng ký ở Cục 4, liền gọi ngay xe cấp cứu từ đó. Vậy là người ta vẫn chở Vũ Anh đến phố Vesnina. Ở đấy, các bác sĩ lập tức khám và nói, tất cả đều ổn, quá trình sinh nở bình thường. Tôi chuẩn bị ngồi chờ ở phòng tiếp nhận thì sực nhớ mẹ tôi hầu như đang ở ngoài đatra có một mình. Cô y tá chúng tôi đã cho nghỉ hè, còn chị bảo mẫu người Việt không nói được tiếng Nga. Tôi liền lao về đó. Tại đatra mọi việc đều bình thường, nhưng mẹ nói rằng xe cấp cứu từ Moskva không tới. Thật lạ lùng.

Vào 7 giờ sáng (1981) Vũ Anh sinh bé trai, Anton. Người ta gọi điện cho tôi từ nhà hộ sinh thông báo điều đó, tôi hỏi tình trạng của người mẹ ra sao, đầu dây bên kia im lặng. Sau một khoảng im lặng dài, họ đề nghị tôi tới và nói chuyện với bác sĩ. Ở Moskva tôi được biết rằng Vũ Anh bị chảy máu rất nhiều, chưa cầm được. “Chúng tôi làm tất cả những gì có thể – Bác sĩ nói – Sắp tới họ sẽ chuyển máu tới. Ông tốt nhất nên quay về nhà. Đợi ở đây là vô nghĩa”.

Tôi chạy đến các bác sĩ quen để hỏi ý kiến. Ông ta không vui, nói rằng trong những trường hợp như vậy phải lập tức cắt bỏ tử cung. Nhưng các bác sĩ Kremlin có lẽ sợ lãnh về mình trách nhiệm đó, bệnh nhân không phải nhân vật bình thường.

Tôi quay trở về nhà hộ sinh. Lúc ấy người ta đã phẫu thuật cho Vũ Anh. Bác sĩ phẫu thuật chính của Cục 4 được mời đến xử lý cho nàng. Khi ông vừa ra khỏi phòng mổ, tôi lao đến:

- Cô ấy sẽ không chết?

- Cơ thể trẻ trung. Chúng ta hi vọng vào điều tốt nhất …

Vài tiếng sau đó Vũ Anh qua đời. Người ta cho phép tôi vào phòng bệnh. Vũ Anh nằm trên giường, phủ tấm ra – trông nàng xinh đẹp làm sao, như đang ngủ. Một cục gì chẹn lấy cuống họng tôi, tôi quỳ xuống hôn tay người tôi yêu dấu. Tấm ra phủ di chuyển, hé lộ thân thể vợ tôi, phủ đầy các vết xanh – đỏ. Tôi kêu lên vì sợ hãi. Mọi người chạy đến bên, đỡ lấy tôi và đưa ra hành lang …

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Vũ Anh là ở chỗ hỏa táng – mười ngày sau đó. Quyết định hỏa táng không phải do tôi đưa ra. Nói chung không ai hỏi ý kiến tôi muốn an táng vợ mình ra sao. Tại sao phải đợi lâu thế vẫn mãi là câu hỏi. Có thể Lê Duẩn đã bí mật đến Moskva. Tôi không gặp ông, còn bà mẹ thì bay sang ngay. Tro cốt của Vũ Anh được đưa về Việt Nam, bình tro được giữ ở nhà bà Bảy Vân, trong một căn phòng riêng.

Sau cái chết của Vũ Anh các cháu được bà cụ mẹ của Bulat, bà Askhen Stepanova yêu quý, đã rất già yếu chăm sóc. Bà cụ ở lại cùng chúng tôi ba tuần. Còn tôi trong thời gian đầu rơi vào một trạng thái quên lãng, mù mờ sao đó. Trí nhớ của tôi từ chối tin vào những gì vừa xẩy ra. Một lần tôi tỉnh dậy giữa đêm trong hoảng hốt. Trái tim bóp nghẹt trong lồng ngực. Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn …

Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam. “Không đời nào!” – tôi trả lời. Tôi biếu bà chuỗi hạt đã từng giữ hơi ấm cơ thể của Vũ Anh. Bà ấy nhận nó, là để sau này sẽ trao cho vợ của cháu trai, khi nó lớn lên và cưới vợ.

Tôi che giấu cái chết của Vũ Anh không nói cho những người thân biết. Mẹ tôi rất đau ốm, còn các cháu gái thì quá bé. Mẹ tôi có lẽ cảm thấy điều gì đó, bà bị đột quỵ lần hai, và lần này thì điều trị không lại được. Tôi nói với Lena là Vũ Anh ở trong bệnh viện, và sau đó – rằng mẹ đã đi có việc, nhưng con bé cũng hiểu hết. Một lần nó kéo tôi ra bên và thì thầm hỏi tôi: “Bố ơi, người ta chôn mẹ rồi phải không?”. Lena luôn than thở về nỗi buồn vắng mẹ, nó khóc: “Bố, hãy đi Việt Nam, mua mẹ cho con!”

Bảy Vân quyết định ở lại Moskva ít lâu. Bà ấy yêu cầu dẫn Tania đến thăm, nói rằng sẽ đưa trả con bé và cô bảo mẫu về nhà vào hôm sau. Nhưng đã không cho về. Hai ngày liền tôi gọi cho mẹ vợ, nhưng người ta không gọi bà ấy nghe điện, viện cớ có công việc quốc gia quan trọng nào đó. Ban đầu tôi không cảm thấy lo lắng đặc biệt, nhưng sau đó hiểu ra rằng bà đang cố thực hiện ý định của mình – lấy lũ trẻ khỏi tay tôi. Tôi tìm được địa chỉ của bà với không ít khó khăn, đem theo một đồng nghiệp biết tiếng Pháp để hỗ trợ và làm phiên dịch, lên đường đòi lại con gái. Bảy Vân không muốn trả lại Tania, ngay cả khi tôi nói rằng mẹ tôi sắp mất và bà cụ muốn vĩnh biệt cháu gái. Tôi buộc phải hứa rằng họ sẽ gặp lại nhau trong lúc chuẩn bị cho tang lễ.

Mẹ tôi mất ngay ngày hôm sau. Mẹ vợ chạy đến ngay: “Các cháu sẽ ở với tôi!”. Tôi phải giải thích rằng các cháu còn đang ốm. Tania thực sự đang bị sốt. Bảy Vân đề nghị thu xếp chữa cho cháu tại căn hộ của mình, nhưng tôi không đồng ý.

Tôi biết rằng bà ta sẽ lại xuất hiện ở đatra vào ngày cử hành tang lễ, lúc tôi không ở nhà, do vậy đã gửi Lena đến chỗ người quen, còn Tania tôi khóa cùng với người cháu của tôi trong căn phòng có các lỗ châu mai, và dặn không được mở cửa cho bất cứ ai, đặc biệt cho bà ngoại nó. Bà bảo mẫu được dặn phải nói là cả hai cháu đang ở nhà các bạn của tôi. Ngay khi tôi vừa rời đến chỗ hỏa táng, Bảy Vân đã xuất hiện ở đatra. Không tìm thấy lũ trẻ, bà ta ra về trong sự tức giận khủng khiếp.

Với đứa con trai, tôi đặt tên nó là Anton, tình hình phức tạp hơn nhiều. Ở nhà hộ sinh họ không trao cháu cho tôi. Họ thông báo rằng do tình trạng sức khỏe của cháu bé, cháu cần ở lại bệnh viện để các bác sĩ chăm sóc. Tôi chỉ làm được giấy chứng sinh cho cháu, và lập tức tiến hành các biện pháp. Tại bệnh viên của BCH trung ương, nơi cháu được chuyển đến từ nhà hộ sinh, cháu đã nhập viện với tên là Anton Maslov: các bạn của tôi đã giám sát tại lối vào bệnh viện để cháu được đăng ký đúng như đã định. Đây là một thắng lợi, không lớn nhưng dầu sao cũng là thắng lợi. Bây giờ đưa con trai tôi ra khỏi biên giới sẽ khó khăn hơn nhiều.

Họ cho phép tôi vào bệnh viện, đi dạo cùng con trai, nhưng bên cạnh luôn có người của BCH TW. Một thời gian tôi đã muốn ăn cắp Anton và giấu cháu trong gia đình chị bạn người Triều Tiên và giả như đó là con của chị. Còn tôi sẽ đưa về nhà một cháu bé có bề ngoài đông phương khác trong trường hợp Lê Duẩn quyết định đưa cháu trai ra mà không có sự đồng ý của tôi. Nghĩ ra đủ phương án, nhưng không thực hiện được. Và lạy Chúa – tôi sợ trò phiêu lưu này sẽ làm tôi nguy đến tính mạng.

Vị cán bộ từ BCH TW, người đảm nhận liên lạc giữa tôi và gia đình Vũ Anh, đề xuất một giải pháp thỏa hiệp – tôi giữ các cháu gái cho mình, còn trao đứa cháu trai cho ông nó: “Cứ để nó sống ở Việt Nam vài năm, khi cháu lớn lên, họ sẽ trả cháu về. Ông lúc nào cũng có thể đến thăm người thân của vợ và gặp Anton”.

Cuộc bầu cử mà Vũ Anh lo sợ đang sắp diễn ra. Xem ra nhóm thân Trung Quốc loan tin rằng không nên tin tưởng vào Lê Duẩn. Ông ấy không thể theo đường lối độc lập nếu cháu trai ông ấy đang bị Kremli giữ làm con tin. Trong cơn sóng gió trước bầu cử người của ta có thể bắt đi tất cả các đứa con của tôi, chỉ để giúp Lê Duẩn còn giữ được quyền lực. Tôi hứa sẽ suy nghĩ, cố kéo dài thời gian. Nhưng áp lực ngày một gia tăng. Họ đe dọa tôi bằng những điều bất tiện trong công tác. Người cán bộ nói anh ta đã biết “phương án Triều Tiên” – tức phương án bắt cóc con trai tôi với sự giúp đỡ của chị bạn người Triều Tiên. Tình thế trở nên nghiêm trọng. Bà ngoại Bảy Vân một lần đã nói thẳng: “Không muốn tốt – cũng chẳng cần”.

Chống đối tiếp tục đã thành vô nghĩa, và tôi quyết định phải có sự đảm bảo – soạn một tuyên bố chính thức về việc cho phép đưa con đi trong hai năm. Ở sân bay tôi đã khôn khéo lấy hộ chiếu của Anton từ nhân viên an ninh cửa khẩu, chụp ảnh tất cả các trang và đút trả lại. Bạn của tôi chụp ảnh ghi lại cuộc ra đi của thằng bé. Vào đúng ngày hôm ấy Lê Duẩn đến Moskva. Ông đã gặp Brejnev. Vì cuộc hội kiến này (có vẻ rất quan trọng) nên mới có sự vội vã như vậy.

Chẳng bao lâu tôi lăn ra ốm. Ban đầu là viêm phổi, sau đó phát hiện có một khối u. Nghi ngờ đến khả năng xấu nhất, nhưng rồi mọi việc cũng qua – khối u hóa ra lành tính. Tôi nằm viện khá lâu, Muội có đến thăm tôi. Chị chắc có nói chuyện với bác sĩ, biết về các chẩn đoán của tôi và kể cho những người thân biết. Những người này lập tức chạy vạy – nhờ cậy những người bạn xô viết nhờ nhận lại các cháu gái từ người cha “đang sắp chết”.

Nghĩ lại thấy thật đáng sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không xuất viện đúng một ngày trước khi các thanh tra về công việc với vị thành niên đến nhà tôi. Một bà mặc sắc phục đại úy cảnh sát đến nhà với yêu cầu chính thức từ Ủy ban vùng – xem xét khả năng xác nhận đưa Elena và Tatiana Maslovye vào cơ sở nuôi dạy trẻ. Tôi không thể nói với bà ta toàn bộ sự thật, nhưng cho bà ta hiểu rằng trong câu chuyện này mọi việc không đơn giản, khuyên ta bà đừng vội vã.

Sau hai năm người ta vẫn không đưa Anton trở lại. Tối đấu tranh thêm hai năm nữa để họ cuối cùng đưa cháu trở lại Moskva. Tôi yêu cầu việc này với tất cả người thân của Vũ Anh. Cuối cùng Thành, em trai nàng bay sang Moskva. Chúng tôi gặp nhau và đã tìm được tiếng nói chung. Thành nói chuyện với Lê Duẩn, và ông ta quyết định đưa cháu trai về với cha nó và các chị. Nhưng con trai tôi trở về đã không phải với tên là Anton Maslov, mà là công dân Việt Nam Nguyễn An Hoàn và hộ chiếu Việt Nam. Lê Duẩn không có ý định trao cháu cho tôi. Ngược lại – ông hy vọng sẽ mang luôn cả các cháu gái về.

Con trai không nói được tiếng Nga, nó lạ tôi và không rời bà bảo mẫu người Việt đã nuôi cháu từ trứng nước. Ở Việt Nam Anton thực sự là hoàng tử: nó được ở cả một tầng nhà.

Tôi hi vọng sẽ thu xếp được với con trai, nhưng người bà Việt Nam bay sang, sau khi quyết định đi nghỉ lại Krưm tuyên bố rằng ở Moskva không tốt cho thằng bé. Sau kỳ nghỉ bà ta sẽ đưa cháu trở lại Việt Nam, còn tạm thời cần đưa cháu vào một nhà trẻ tốt trong suốt mùa hè. Bà ta sẽ cho phép tôi và các cháu gái tới đó. Trong cuộc nói chuyện của chúng tôi có mặt một cán bộ khá cao cấp của Ban quốc tế BCH TƯ, làm nhiệm vụ phiên dịch. Ông đã thấy tôi giận dữ như thế nào, và khuyên tôi đừng nổi cáu, cố gắng đạt được thỏa thuận với người bà quyền lực. Bắt cóc Anton thật vô nghĩa: cháu là công dân Việt Nam và họ sẽ ngay lập tức đưa cháu đi khỏi nhà tôi.

Nhưng tôi không có ý định đầu hàng. Bây giờ đã là thời khác, lãnh đạo đất nước Liên Xô không còn là Brejnev, mà là Gorbachev. Hơn nữa sau những năm tháng ấy tôi đã kịp trở thành Viện sỹ hàn lâm và được trao Giải thưởng Lenin. Tôi viết đơn yêu cầu trả lại con trai và đi khắp các cửa, còn thiếu đâu nữa: Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, BCH TƯ ĐCS LX. Khắp nơi người ta thông cảm với tôi, nhưng giúp đỡ thì đều từ chối. Họ nói rằng việc đó ngoài khả năng của mình. Một lần tôi chia sẻ với một chị bạn tốt – thư ký của Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học. Chị ấy khuyên tôi nên cầu cứu Anatolia Gromưco – con trai Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Andrei Andreievich Gromưco, một người thân cận với Gorbachev, và chị ấy sẽ giúp thu xếp cuộc gặp này.

H1

Gromưco-con là giám đốc Viện Phi châu thuộc Viện HL KH LX. Tôi kể cho anh nghe về câu chuyện của tôi và Anh, đưa cho anh xem các bức ảnh chụp cùng vợ con. Anatolia Andreevich tỏ ra cảm động. Anh nói: “Anh hãy viết đơn gửi cho chính Gorbachev. Tôi hứa rằng ông ấy sẽ nhận được và sẽ đọc. Nhớ kèm theo cả những bức ảnh, đặc biệt bức chụp cùng bọn trẻ này. Nó mạnh hơn bất kỳ bức thư nào”. Tôi làm theo những gì anh chỉ dẫn, và cùng với các bức ảnh tôi còn để cả bản tuyên bố của Vũ Anh viết năm 1978. Vài hôm sau không chờ được, tôi gọi điện cho Gromưco. Anh nói: “Họ đã biết quan điểm của anh”. Tất cả chỉ có thế. Tôi không biết sẽ phải nghĩ gì và hành động ra sao.

H1

 

 

 

Để  bà ngoại yên tâm, tôi thu xếp gửi Anton vào nhà trẻ của Cục bốn, khá xa đatra của tôi.

Tôi thỏa thuận với bà giám đốc rằng bà không được giao đứa bé cho ai, trừ tôi. Những người bảo vệ hứa sẽ gọi điện nếu thấy xuất hiện những “kẻ đột nhập” vào khu vực nhà trẻ. Tôi dúi cho họ 4 chai vodka Smirnov, hồi đó chỉ bán theo chỉ thị của nhà thờ, và họ nóng lòng chờ sự xuất hiện của “kẻ đột nhập Việt Nam”.

Chẳng bao lâu sau kẻ đột nhập xuất hiện thật. Bà Bảy Vân nhận được sự từ chối thẳng thừng và buộc phải rút lui. Nhưng giám đốc nhà trẻ nài nỉ tôi phải đưa Anton đi: “Tôi sẽ không chịu đựng được cuộc tấn công sau đâu. Anh không tưởng tượng được là chúng tôi đã căng thẳng ra sao đâu”.

Tôi nói chuyện với bạn bè, và họ tìm được cho chúng tôi một ngôi nhà ở Belorussia – ở tít tận xó rừng sâu Belovejskaia Pusia. Tròng vòng bán kính 5 km quanh đó không có ai cả. Chúng tôi ở đó chừng vài tháng – Lena, Tania, Anton, bà bảo mẫu của chúng, và tôi. Pusia quả thật là một chốn thiên đường. Lũ trẻ đến giờ còn nhớ khu rừng nguyên thủy, những bãi cỏ đầy nấm và quả rừng, có thể sờ tay vào lũ thú rừng và chim chóc. Lũ hươu kéo đến tận nhà, làm bà bảo mẫu sợ chết khiếp. Lũ bò rừng nhởn nhơ đi lại đằng xa. Anton trở thành một đứa trẻ khác hẳn khi ở Belorussia, chơi với các chị và bắt đầu nói một ít tiếng Nga.

Tôi không nhận được tin tức gì từ Moskva, nhưng hi vọng vào những điều tốt. Tôi nghĩ rằng Gorbachev không muốn có một Sakharov – viện sĩ – nhà bất đồng chính kiến thứ hai. Để giành lại các con, tôi sẵn sàng làm tất cả, kể cả một scandal quốc tế.

Mấy tháng trôi qua tôi biết được từ một người bạn Việt Nam, gần gũi với gia đình của Vũ Anh, rằng Lê Duẩn đã từ bỏ ý định bắt cháu về. Ông nói: “Nếu cha chúng nó yêu chúng như vậy, thì cứ để chúng sống với anh ta”. Có vẻ hai nước đã đi đến một nhận thức chung về chuyện này, Gorbachev và Lê Duẩn đã thỏa thuận để gia đình chúng tôi được yên. Sự đau khổ của tôi kết thúc. Mấy năm sau Lê Duẩn từ trần. (Tháng 7/1986)

Vào cuối những năm 80 – 90 tôi có dịp đi khắp thế giới. Với tư cách là giáo sư thỉnh giảng, tôi đã giảng bài ở Mỹ, Anh, Pháp. Đất nước tôi hồi đó ở trong giai đoạn không dễ dàng gì. Khoa học thoi thóp, các nhà bác học được trả bằng xu, mà trong tay tôi – ba đứa trẻ. Cần phải kiếm tiền bằng cách nào đó. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ ở lại sống ở nước ngoài. Bọn trẻ luôn đi cùng với tôi, cũng như người vợ sau Irina. Chúng tôi cưới nhau năm 1991.



Tôi quen Ira đã lâu, từ khi Vũ Anh còn sống. Cô ấy cùng tuổi với Vũ Anh. Ira là nhà ngôn ngữ, phó tiến sỹ khoa học. Sau khi Vũ Anh mất, giống như nhiều bạn bè và người thân của tôi, cô ấy đã giúp tôi trông nom bọn trẻ. Đối với tôi mối quan hệ của cô với chúng cũng quan trọng không kém tình cảm giữa chúng tôi. Ira là một phụ nữ đáng kinh ngạc. Sau khi cưới, cô ấy quyết định không sinh thêm một đứa con nữa, đứa con chung của chúng tôi, để không phải làm dì ghẻ, mà hoàn toàn thay Vũ Anh làm mẹ của Lena, Tania và Anton.

Các con tôi hiện sống ở nước ngoài, dù khi còn trẻ không dự định việc này và chúng đều vào học tại MGU mà không phải một trường đại học tây phương nào đó. Nhưng về sau những dòng người có vẻ ngoài châu Á tràn vào Moskva. Và bắt đầu nảy sinh các vấn đề. Thí dụ đã xảy ra một chuyện không dễ chịu với Tania ở đatra. Một nhân viên cảnh sát đến vì một chuyện hoàn toàn khác, tình cờ nhìn thấy cháu và cho rằng đấy là một người di cư bất hợp pháp từ Trung Á, và suýt nữa tôi bị cáo buộc vào tội “che dấu”.

Những tình huống như vậy khá nhiều, và không hề dễ chịu. Chúng tôi họp gia đình và quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu đưa lũ trẻ sang châu Âu, ở đó đã quen với việc có nhiều sắc tộc.

Kết quả là Tania và Anton sang sống ở Anh, còn chị cả Lena – ở Hà Lan. Cháu lấy chồng là người Hà Lan xuất thân từ một gia đình quý tộc tỉnh lẻ lâu đời. Chồng cháu là một người làm phân tích nghiệp vụ và có thời gian là khách hàng của một hãng máy tính của Anh, nơi Lena làm việc. Mối tình bắt đầu ở nước Anh.

Sau khi cưới, đôi trẻ chuyển sang sống ở Hà Lan, trong một thị trấn nhỏ cách Amsterdam chừng một giờ đi xe. Lena là kiến trúc sư – lập trình, đã đạt được đỉnh cao nhất trong nghề. Cháu là một chuyên gia độc nhất, được đánh giá cao ở hãng, được tạo các điều kiện làm việc thuận lợi nhất. Lena có một con nhỏ – cháu sinh con gái Anna năm ngoái.

Còn Tania năm nay sinh được cậu con trai Oskar. Tania tốt nghiệp MGU ở Moskva chuyên ngành “ngôn ngữ”, khi sang Anh thì chuyển nghề và, giống như Lena, làm về lập trình. Sống với chồng là người Anh ở thị trấn ngoại ô Bristol. Tania từ bé đã yêu súc vật và đem theo cùng mình đến Anh hai con chó và một con mèo.

Anton tốt nghiệp MVK – khoa toán học tính toán và điều khiển học MGU. Cháu cũng làm việc liên quan đến máy tính và ở không xa chị gái. Cậu chàng chưa cưới vợ, và tôi sợ sẽ còn lâu. Có vẻ cháu giống tính tôi.

Tất nhiên tôi sẽ vui mừng nếu có các con ở bên, chứ không phải cách xa hàng ngàn cây số. Nhưng cuộc sống là như vậy. Tôi vẫn trò chuyên với các con hàng tuần, qua Skype. Mùa hè nào chúng cũng trở về Nga và về ở Selinger, nơi chúng tôi có một căn nhà ngoại ô. Tôi và Ira sống phần lớn thời gian ở Đatra. Ở đấy nghỉ ngơi và làm việc đều tốt. Tôi tiếp tục làm khoa học, điều đem lại cho tôi niềm vui lớn, tôi còn có nhiều công trình dở dang.

Tôi vẫn là nhân viên toàn thời gian của MIEM. Học viện đã được củng cố đáng kể, trở thành một phần của Trường đại học – nghiên cứu “Trường kinh tế cao cấp”. Điều này hoàn toàn trùng hợp với các kế hoạch khoa học của tôi và cổ vũ trong tôi niềm say mê sáng tạo. Ngoài ra tôi còn là cộng tác viên khoa học của Viện các vấn đề cơ học – RAN và chủ nhiệm bộ môn thống kê lượng tử và lý thuyết trường tại khoa lý của trường MGU ruột thịt. Năm 2013 tôi nhận giải thưởng nhà nước lần thứ 3 do những đóng góp vào việc xây dựng cơ sở toán học cho ngành nhiệt động học hiện đại.

Khi làm việc, tôi luôn cảm thấy Vũ Anh đang nhìn mình. Trong phòng làm việc đã nhiều năm vẫn treo bức ảnh chân dung lớn của nàng. Tôi cảm thấy Vũ Anh hài lòng về cuộc sống của các con chúng tôi. Tuy rằng cái nhìn của nàng nghiêm nghị, nhưng theo tôi, có nét tán đồng. Tôi thường mơ thấy nàng, trẻ trung và hạnh phúc.

Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng Vũ Anh không chết, nàng chỉ đang đi đâu đó. Có thời gian tôi đã nghĩ đến việc làm gì đó để vinh danh vợ: đến “với nàng” tại Việt Nam.

Vào cuối những năm 90 tôi được mời dạy ở Hong Kong. Khoảng cách từ đó đến TP Hồ Chí Minh, nơi bà Bảy Vân sống, không quá xa. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã từ chối. Đối với bọn trẻ, việc di chuyển đến Hong Kong có thể tạo nên stress lớn, cần phải thích nghi với khí hậu, nước uống, đồ ăn hoàn toàn khác biệt. Tôi sợ chúng sẽ bị ốm.

Về sau, khi đã trưởng thành, Lena, Tania và Anton đã hai lần về Việt Nam để gặp những người ruột thịt. Chúng được đón tiếp như các vương tôn công tử. Ở đất nước này người ta vẫn còn lưu giữ ký ức thiêng liêng về Lê Duẩn, giống như trong thời xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhớ về Lenin. Trong mỗi thành phố đều có các con phố hay quảng trường mang tên ông. Và các cháu của lãnh tụ được đối xử một cách trọng thị. Bảy Vân, bà vợ góa của ông vẫn còn sống. Bà nay đã gần chín mươi tuổi.

H1

Anh giao phó cho tôi các con của chúng tôi.

Nàng mong muốn các cháu sống ở Liên Xô và được giáo dục theo các truyền thống văn hóa Nga. Không có Ira tôi không thể thực hiện được sự ủy thác của nàng. Cái chính là bọn trẻ không lúc nào cảm thấy chúng là trẻ mồ côi. Và nếu không có Ira chúng không thể thấm nhuần văn hóa và tâm hồn của chúng ta. Do vậy chúng vẫn là những người Nga, cho dù sống ở đâu.

anhbasàm

Ghi chú:

Một bác ngoài Hà Nội cho biết, Văn (trong bài) chính là Đinh Dũng, con của cựu Đại sứ VN tại Liên Xô Đinh Nho Liêm. Gs Tiến sĩ Khoa học Đinh Dũng hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học QG Hà Nội, vừa đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu 2015.  (Đinh Ngọc Thu)

Hai con trai của Lê Duẫn.

* Lê Kiên Thành

*Lê Kiên Trung, Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh II, Bộ Công An, từng là cục phó, rồi cục trưởng cục Hải Quan tp hcm 2000-2011. Vợ Trung, là bà Nguyễn Thị Thu Hương hiện là Cục trưởng Hải Quan TP. HCM.

>>>►Bắt cán bộ Hải quan với hơn 60 phong bì chứa đựng gần 1 tỷ đồng

>>>BBC phỏng vấn bà Bảy Vân, vợ nhỏ của Lê Duẩn, 1:10:40…

_____

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »

► Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan (năm 1813): “hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy”- Năm 2000, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên ký giấy dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2016

>>>Năm 1813, phụng lệnh Vua Gia Long (trị vì 1802-1819), cụ Nguyễn Du (1765-1820) đi sứ qua Trung Hoa. Dịp nầy, cụ đã sáng tác 120 bài thơ, trong đó có hai bài thơ cụ viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.” …từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ (năm 1813), có hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Nhưng dưới thời cộng sản, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Trích: “Theo lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” đăng trên Tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001, “Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó,…Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000″

Kết quả của hành động bán nước của đảng CSVN, Ải Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc! Cửa Hữu Nghị Quan hiện nay lấn sâu vào nội địa Việt Nam, và cách Ải Nam Quan 300 mét!

Đảng CSVN đã tự ý ký kết và bán Ải Nam Quan cho Trung Cộng (để đổi lấy cái gì đó), và sự mất đất đai này là bằng chứng bán nước mà đảng CSVN cố tình giấu diếm cả nước. Thậm chí, chúng không dám trưng bày bản đồ VN với chi tiết các cột mốc biên giới cho dân chúng VN biết rõ tình trạng vùng đất biên giới hiện nay ra sao.

Về biển đảo và lãnh hải, ngày 8/6/2014, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng cho thấy đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! (Xem link cuối bài).

 

Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan

Trần Gia Phụng

16-4-2002
Năm 1813 (quý dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần chánh điện học sĩ, (1) vâng lệnh vua Gia Long (trị vì 1802-1819), làm chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa).  Trên đường đi sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc hành tạp lục.

Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ  Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.”     

NAM QUAN ĐẠO TRUNG
“Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,
Vạn lý đan xa độ Hán quan.
Nhất lộ giai lai duy bạch phát,
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.
Quân ân tự hải hào vô báo,
Xuân vũ như cao cốt tự hàn.
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.”
(2) 

Dịch nghĩa:

GIỮA ĐƯỜNG NAM QUAN
“Thư ngọc [cuả vua] giao xuống từ năm sắc mây,

Muôn dặm xe đơn côi đi ngang qua cửa người Hán.

Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,

Trong 20 ngày [3] cái nhìn thấy chỉ núi xanh.

Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,

Mưa xuân bám chặt buốt vào xương.

Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc, [4]

Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.” [5]

           

TRẤN NAM QUAN

“Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.

Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”(6)

Dịch nghĩa:

TRẤN NAM QUAN

“Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,

Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ.

Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi,

Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.

Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,

Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày.

Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,

Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”  

Cả hai bài thơ trên cho thấy lúc đó Nam Quan rất hoang vắng, “Nhất lộ giai lai duy bạch phát,/ Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.”  (Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,/ Trong 20 ngày cái nhìn thấy chỉ núi xanh.)  Chính nơi chốn hoang vắng đó “Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm” (Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi); và từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ, trong hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Hai bài thơ nầy mô tả tâm trạng cuả Nguyễn Du trên bước đường đi sứ, nói lên nỗi lòng trung quân ái quốc cuả ông, “Quân ân tự hải hào vô báo,/ Xuân vũ như cao cốt tự hàn./ Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,/ Minh Giang bắc thướng thị Trường An.” (Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,/ Mưa xuân bám chặt buốt vào xương./ Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc,/ Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.”  Hoặc “Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,/Thiên cận tài tri giáng trạch thâm../Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.” (Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,/ Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày./ Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,/ Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”

Đặc biệt, trong lúc cảm tác, thi sĩ Nguyễn Du nắm rất vững hoàn cảnh lịch sử nước nhà và cả lịch sử chiếc ải bằng hai câu thơ mở đầu bài “Ải Nam Quan”: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ). 

Thực vậy, ải Nam Quan nguyên có tên là ải Pha Lũy, được sử sách nói đến nhiều khi xảy ra cuộc chia tay bi hùng giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.  Nguyên khi nhà Minh đem quân đánh nước ta và bắt gia đình Hồ Quý Ly về Trung Hoa vào năm 1407, có một đại thần của Hồ Quý Ly cũng bị bắt đem theo là Nguyễn Phi Khanh, phụ thân của Nguyễn Trãi.  Nguyễn Trãi đã theo tiễn thân sinh của mình lên tận ải Nam Quan.  Chính tại đây, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn Trãi: “Con yêu quý! chớ xuôi lòng mềm yếu/ Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!/ Con về đi!  Tận trung là tận hiếu/ Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang.” (Thơ Hoàng Cầm).  Thế là Nguyễn Trãi lên đường trở về nam, thực hiện những điều mà ông đã hứa với cha: “Gạt nước mắt, con nguyện cùng thiên địa/  Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.”(Thơ Hoàng Cầm).

Trở lại với thi sĩ Nguyễn Du, có thể trên đường đi sứ, khi ngang qua ải Nam Quan, nhà thơ đã đọc kỹ và nắm vững nội dung bài văn bia của quan đốc trấn (đầu tỉnh) Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang đã lập vào năm 1785 (ất tỵ).  Tấm  văn bia nầy được đặt ngay tại cửa ải Nam Quan, có thể ngày nay không còn, nhưng may mắn được một nhà văn và là một học giả nổi tiếng dưới thời vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) ghi lại.

Nguyên sau khi Nguyễn Du đi sứ 36 năm, vua Tự Đức đã cử ông Nguyễn Văn Siêu,(7) sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849

Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng rãi.  Tương truyền rằng vua Tự Đức đã sắp ông là người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại mình: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,/ Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn chương mà như cuả các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không còn [làm khuông mẫu nữa],/ Thơ mà đến mức cuả các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương làm cho thơ đời thịnh Đường mất luôn giá trị.) (8)

Trên đường đi sứ, ngang qua ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia của  Đốc trấn Nguyễn Trọng Đang  lưu lại đời sau trong quyển sách về điạ lý nổi tiếng cuả ông là Phương Đình dư điạ chí (có sách viết là Phương Đình địa loại chí). 

Phương Đình dư địa chí được đề tựa vào năm 1865, gồm 5 quyển.  Trong quyển thứ 5, mục viết về tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) đề cập đến ải Nam Quan như sau:

“… ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp điạ giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan.  Sử ký chép: năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê [1540], (9) Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cửa lò Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây.)  Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại có văn bia như sau đây:

Khi nước ta có cả đất Ngũ lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau nầy thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh [9] nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta) [10] đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy.  Nhà Lê ta trung hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 [1780], là năm canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nhà Thanh, Đang tôi làm giữ chức Đốc trấn qua 5 năm là năm giáp thìn [1784], sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng.  Trước kia Đang tôi đi sứ về, được lĩnh trấn nầy, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp.  Từ nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay đức Đại hoàng đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc tuế cống sứ thần thời thường phụng mạng đi lại, nên sửa sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới ủy cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có bốn dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa hạ năm giáp thìn[1784], đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo với thời thế, không dám làm hơn người trước.  Mùa đông năm ấy, Đang tôi được triệu về kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa xuân năm ất tỵ [1785], vâng mệnh đón tiếp, phó sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đã may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu.  Kịp đến cửa quan, thì đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạnh khái như trên.  Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.

Chức Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du ký tên.

Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785là năm ất tỵ, mùa xuân, trước ngày vọng [ngày 15]  ba ngày.” (11)

Tuy không phải là nhà phân định biên giới, nhưng do kinh nghiệm thực tế trong khi đi sứ, Nguyễn Du đã viết rõ, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi), tức mặt Ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa

Quan đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, sau khi mô tả cửa ải và các công trình kiến trúc do chính ông đã đứng ra trông coi xây dựng tại đây, đã ghi lại một câu vàng đá trong tấm bia lưu lại cho hậu thế đặt ở Nam Quan năm 1785: “Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.” 

Dùng bia nầy để xem xét, có nghĩa là bia nầy là chứng tích cho đời sau biết rằng cửa ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Hoa, và biên giới nầy đã đi vào lịch sử dân tộc trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm:

“…Gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta  [1533-1548]. 

Trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm còn có nghĩa là từ khi ải được chính thức biết đến trong lịch sử cho đến nay (2002) đã gần 500 năm nay.

Tiếc thay, tiếc thay, mới chỉ hơn 200 năm sau Nguyễn Trọng Đang, những kẻ giữ đất và những kẻ đi sứ Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, (12) đã bỏ qua không cần xem xét tấm bia đó nữa, và đang tâm nhượng đứt vùng đất ải Nam Quan và các công trình kiến trúc Việt Nam tại ải Nam Quan cho quân Tàu phương Bắc. 

 

Chẳng những quên đi những lời vàng đá ghi khắc trên bia, chắc chắn những kẻ vô tâm nầy cũng đã thủ tiêu luôn tấm bia Nguyễn Trọng Đang, như chính họ đã thủ tiêu lịch sử tranh đấu gian lao để bảo vệ vùng đất thiêng liêng đó của tổ tiên dân tộc Việt.  Một câu ca dao phổ thông của người Việt đã nhắc nhở rằng dù bia đá bị mòn đi hay bị mất đi, nhưng ngàn năm bia miệng, vâng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”….

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 16-4-2002)

 

CHÚ THÍCH:

Cần chánh điện học sĩ không phải là một chức quan, mà là một hàm tước, phong cho những người có công với triều đình. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 71.)

Bài thơ nầy trích từ mục “Bắc hành tạp lục (1813-1814)”, đăng trong Nguyễn Du toàn tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến hợp soạn, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1996, tr. 293.

Ngày xưa chia 1 tháng thành 3 tuần: thượng tuần, trung và hạ tuần.  Vì vậy nhị tuần là 20 ngày.

Vương đạo: nghĩa đen là đường cuả vua, nghĩa bóng là đạo trị nước cuả vua hoặc đạo trị nước dựa trên nhân nghĩa.

Trường An: chỉ kinh đô nhà Thanh ở Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay.

Nguyễn Du toàn tập, sđd. tr. 295.

Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.  Ông được vua Tự Đức cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1849.  (Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 341, 354.)

Cao Bá Quát (? – 1854), hiệu là Chu Thần, người xã Phù Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ cử nhân năm 1831, làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây).  Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học cuả mình nên thường bị các quan trên đè nén.  Ông không bằng lòng và cáo quan về hưu trí.  Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết.  Cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự thường được gọi là “giặc châu chấu”, nhân vì trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại muà màng, nên người ta gọi như thế. 

Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 cuả vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840), em cuả vua Thiệu Trị (trị vì 1840-1847), và là chú cuả vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Tuy Lý Vương (1820-1897) tên thật là nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 cuả vua Minh Mạng, em cuả vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú cuả vua Tự Đức.

Gia Tĩnh:  niên hiệu duy nhất của vua Trung Hoa là Minh Thế Tông (trị vì 1522-1566). 

Nguyên Hoà:  Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ nhà Lê, giết vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra nhà Mạc, thì một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào.  Nguyễn Kim tìm được người con út cuả Lê Chiêu Tông tên là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua tức Lê Trang Tông (trị vì 1533-1548), trung hưng nhà Lê.  Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Hoà.  Vì các nhà viết sử ngày trước xem nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu cuả nhà Mạc mà chỉ dùng niên hiệu cuả nhà Lê.

Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Phương Đình dư điạ chí đề tưạ năm 1862, gồm 5 quyển: quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, quyển 2 viết về điạ lý chí nước ta thời Hậu Lê, quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Địch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.]

Sau đây là lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” trên tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001 và đã được CSVN đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế: “Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa hiệp cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh… Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định… Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên… Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000

Về biển đảo và lãnh hải, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! >>> ►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

1-11-2010

Diễn Đàn Thế Kỷ 
Tác giả Trần Ðông Phong
(Tiếp theo)

Bộ Trưởng Kiến Thiết Hoàng Hùng trùng tu ngôi mộ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
Trước năm 1975, trừ một số người sống trong vùng Sa Ðéc và Cao Lãnh, đa số người ở miền Nam đều gần như không biết gì về việc thân phụ của ông Hồ Chí Minh, Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, đã được an táng tại vùng Cái Tôm thuộc Cao Lãnh, được cải danh thành tỉnh Kiến Phong dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ có ít người biết là vì thân phụ của ông Hồ đã từ trần và được chôn cất tại vùng đất này từ năm 1929, dưới thời Pháp thuộc.

Ông Phó Bảng được an táng tại một nơi đất khách quê người, không bà con thân thích, rồi sau đó những người có quen biết ông tại vùng Cao Lãnh cũng lần lượt qua đời và ngôi mộ của ông trở thành vô chủ. Khoảng hơn một phần tư thế kỷ sau, ngôi mộ này được trùng tu lại mà người ra lệnh làm việc này cũng không hề có bà con thân thích gì với ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy.

Một vị cựu giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, không muốn tiết lộ danh tánh, có tiết lộ với người viết về một chuyện mà thân phụ của ông có kể lại cho ông hồi năm 1956. Thân phụ của ông là một vị kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội và là bạn của kiến trúc sư Hoàng Hùng, lúc đó đang giữ chức vụ Bộ Trưởng Kiến Thiết. Thân phụ của ông hồi đó giữ chức vụ Giám Ðốc Nha Thiết Kế Thị Thôn thuộc Bộ Kiến Thiết nên vẫn thường xuyên đi công tác nhiều nơi trên toàn quốc.

Thân phụ của ông kể lại rằng vào năm 1956, TT Ngô Ðình Diệm đã ra lệnh cho Kiến trúc sư Hoàng Hùng, Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết hướng dẫn một phái đoàn gồm nhiều chuyên viên của Bộ Kiến Thiết xuống vùng Cao Lãnh để giám sát và đôn đốc việc chỉnh trang hai tỉnh mới là Kiến Phong và Kiến Tường. Ngoài mục đích này, một nhiệm vụ khác nữa của phái đoàn là trùng tu lại Tháp Mười, một di tích lịch sử đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ từ thời Cần Vương chống giặc Pháp hồi thế kỷ thứ 19. Việc chính phủ cử một phái đoàn do một ông bộ trưởng cầm đầu xuống công tác tại hai tỉnh tân lập trong vùng Ðồng Tháp Mười hồi đó đã được dân chúng hai tỉnh này hoan nghênh nhiệt liệt vì điều đó chứng tỏ sự quan tâm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đối với việc phát triển hai tỉnh này.

Vị giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ này nói rằng thân phụ của ông là một nhân viên trong phái đoàn đó và ông đã tiết lộ với người con trai rằng trong thời gian công tác ở vùng Ðồng Tháp, ông còn được Bộ Trưởng Hoàng Hùng chỉ thị phải làm thêm một nhiệm vụ nữa, đó là hướng dẫn một số nhân công, dường như là quân nhân chứ không phải là người địa phương vì họ nói giọng miền Trung và miền Bắc, lo việc trùng tu lại một ngôi mộ không được ai săn sóc trong một thời gian rất lâu, có thể nói đó là một nấm mồ vô chủ ở Cái Tôm, Cao Lãnh. Thân phụ của ông nói rằng khi trùng tu lại ngôi mộ này, ông được chỉ thị là chỉ sửa sang lại cho “đàng hoàng tươm tất” nhưng không được dùng vật liệu nặng như xây tường, dựng bia v.v. Ngôi mộ này không có mộ chí, tuy nhiên về sau, khi nói chuyện với một vài vị thân hào và bô lão địa phương thì ông mới biết đó là mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy. Vị kiến trúc sư này nói rằng lúc đó ông không hiểu lý do tại sao ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng lại chỉ thị cho trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, nhưng sau này khi ông về công tác ở Huế và nghe việc gia đình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cải táng mộ của ông Ngô Ðình Khôi thì ông mới hiểu đó là sự trả ơn của ông Diệm.

Việc Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra chỉ thị cho ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy sau đó không hề được tiết lộ vì có lẽ Tổng Thống Diệm không muốn để cho những người khác biết về mối liên hệ cũng như là mối “ân tình” giữa gia đình của ông với người lãnh đạo chế độ Cộng sản Hà Nội, một điều rất bất lợi cho tư thế chính trị của ông tại miền Nam. Kiến trúc sư Hoàng Hùng là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong những ngày đầu kháng chiến chống lại quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1945. Người Pháp hồi đó đã thù hận ông cho nên đã tịch thu ngôi nhà của ông (gần Tổng Nha Cảnh sát sau này) để làm một đồn cảnh sát, hồi đó được dân Sài Gòn gọi là “bót Hoàng Hùng.” Ông Hoàng Hùng là bạn thân của Kiến Trúc sư Huỳnh Tấn Phát, ông này là một trong những nhân vật đầu não của giới trí thức Miền Nam thân Cộng sản ngay từ sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết và dĩ nhiên là việc này đã được báo cáo về Hà Nội. Trước năm 1975, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là thủ tướng cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

Người viết có nghe được một câu chuyện lý thú về các nhân vật này sau năm 1975. Sau khi đất nước đã được “thống nhất,” nhóm bạn cũ như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, thân phụ của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh v.v. và Kiến trúc sư Hoàng Hùng có họp mặt với nhau. Những người theo Cộng sản có hỏi ông Hoàng Hùng, cựu anh hùng kháng chiến Nam Bộ, cựu Bộ Trưởng Kiến Thiết thời Ðệ Nhất Cộng Hòa rằng nếu được trở lại thời trước năm 1954 thì ông có thay đổi lập trường và có theo Cộng sản hay không? Kiến Trúc sư Hoàng Hùng đã bình thản trả lời rằng “bây giờ dù rằng Cộng sản đã thắng, nhưng nếu có trở lại hồi đó thì ông cũng vẫn không theo Cộng sản và ông không hề hối tiếc đã phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng như là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm…”

Con trai của ông Hoàng Hùng, hình như tên là Hoàng Hy, được đi du học tại Pháp nhưng đã tự ý trở về Việt Nam và tình nguyện gia nhập vào quân đội, rồi anh tình nguyện về phục vụ trong Tiểu Ðoàn Cọp Ba Ðầu Rằn thuộc binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã tử trận hồi 1965-1966. Kiến trúc sư Hoàng Hùng sau đó vẫn được Cộng sản cho phép sang sinh sống tại Pháp và ông mới qua đời cách đây vài năm.

Ông Ngô Ðình Diệm bị cầm giữ ngay tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945
Gần đây, trong một cuốn “hồi ký chính trị” xuất bản vào năm 1997, ông Vũ Thư Hiên có tiết lộ một chuyện mà ông nói rằng đó là “một mẩu lịch sử ít người biết.” Thực ra, đối với người dân miền Nam thì sự tiết lộ của ông Vũ Thư Hiên không phải chỉ là “một mẩu lịch sử ít người biết” như ông nói mà đó là một sự tiết lộ “động trời.”

Vũ Thư Hiên là con trai của ông Vũ Ðình Huỳnh, một người trí thức thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, đã tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội từ năm 1925, gia nhập đảng Cộng sản Ðông Dương từ năm 1930 và đã giữ chức vụ bí thư cho Hồ Chí Minh khi còn ở chiến khu Tân Trào từ năm 1945 cho đến sau năm 1954, người được xem như là một trong những người rất gần gũi Hồ Chí Minh và được ông Hồ rất tin cậy. Tuy nhiên sau khi về hưu, ông Vũ Ðình Huỳnh đã bị phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ còng tay đưa về tống giam vào nhà tù Hỏa Lò ngày 18 tháng 10 năm 1967, hai năm trước khi ông Hồ Chí Minh từ trần, vì có tội trong cái mà phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ gọi là “Vụ Án Tổ Chức Chống Ðảng, Chống Nhà Nước Ta, Ði theo Chủ Nghĩa Xét Lại Hiện Ðại và Làm Tình Báo Cho Nước Ngoài.”

Theo tác giả Vũ Thư Hiên thì thân phụ của ông là Vũ Ðình Huỳnh đã cho ông biết về chuyện ông Ngô Ðình Diệm bị Hồ Chí Minh giam giữ ở Hà Nội như sau:
“Nhân chuyện thống nhất đất nước, tôi xin nói tới một mẩu chuyện lịch sử ít người biết. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Ngô Ðình Diệm bị bắt. Tại Hà Nội, ông Diệm bị giam không phải ở (nhà tù) Hoả Lò mà ngay trong Bắc Bộ Phủ. Theo ông Chu Ðình Xương, nguyên Giám đốc Sở Liêm Phóng (Công an) Hà Nội, thì việc ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ là do ông chính Hồ Chí Minh quyết định.

“Tại sao ông Hồ lại có quyết định đó thì ông Chu Ðình Xương không hiểu. Rất có thể do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ mà ông Hồ Chí Minh lo cho số phận của Ngô Ðình Diệm, không muốn để mặc tính mạng con người nổi tiếng chống Cộng này nằm trong tay những đồng chí nóng tính. Cha tôi là người giữ chìa khóa phòng giam. Ðến bữa, cảnh vệ lên lấy chìa khóa cho Ngô Ðình Diệm ăn xong thì nộp lại.

“Một hôm, ông Hồ bảo cha tôi: ‘Chú Huỳnh ạ, tôi tính nên thả ông Diệm. Mình làm ân cho người ta tốt hơn là làm oán.’ Cha tôi bàn với Lê Giản (lúc bấy giờ được Hồ Chí Minh cử làm Tổng Giám Ðốc Nha Công an Việt Nam) thì hai ông cho rằng để ngăn ngừa những hành động chống cách mạng của ông Diệm, cách tốt nhất là để cho ông ta được hưởng chế độ câu lưu tại Việt Bắc (tức là vùng thượng du mạn ngược, nơi thực dân Pháp đã từng đày ải những nhà cách mạng dưới thời Pháp thuộc,) ông ta sẽ sống như dân thường, chỉ bị hạn chế tự do đi lại mà thôi.

“Ông Hồ Chí Minh bỏ ngoài tai ý kiến phản bác, ông đã định thả là ông thả. Ông nói: “Các chú không ở Huế các chú không biết, chớ dân Huế có câu: ‘Ðày vua không Khả, đào mả không Bài’ là nói về cụ thân sinh ông Diệm đấy. Vị người cha thả người con là điều nên làm lắm chứ. Các chú không nên hẹp hòi!”

“Nhiều người nhận xét khi ở cương vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Ðình Diệm không bao giờ có những lời khiếm nhã với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những nguyên nhân, theo tôi nghĩ, có thể là do ông Diệm không quên ơn ông Hồ đã tha mạng mình, là điều không phải khó hiểu.” (1)
Như vậy, qua sự tiết lộ của ông Vũ Ðình Huỳnh thì Hồ Chí Minh đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt: tất cả những người làm cách mạng nhưng theo những đảng chính trị không phải là Cộng sản như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, Dân Xã Ðảng và nhóm Ðệ Tứ v.v. khi bị Việt Minh bắt vào năm 1945 đều bị giết một cách dã man vô nhân đạo như chôn sống, chặt đầu, thả trôi sông, cho đi mò tôm v.v. thế mà ông Ngô Ðình Diệm thì không bị giết.

Ngay sau ngày Cách Mạng Tháng Tám tức là ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhà cách mạng Tạ Thu Thâu bị bắt và bị xử tử ngay trong tháng 9 tại Mỹ Khê ở tỉnh Quảng Ngãi, ông Phan Văn Hùm bị chôn sống tại Bình Thuận vào ngày 8 tháng 10 , ông Trần Văn Thạch cũng bị bắt cùng ngày và bị chôn sống cùng với 62 người khác, ông Bùi Quang Chiêu lúc đó đã trên 70 tuổi mà cũng bị thủ tiêu cùng với bốn người con vào tháng 9, Phan Văn Chánh bị giết chết ở Sông Mao tỉnh Phan Thiết, ông Hồ Văn Ngà bị đâm chết rồi thả trôi sông ở Rạch Giá, hai vợ chồng ông Hồ Vĩnh Ký và Bác sĩ Nguyễn Thị Sương bị giết ở Dĩ An tỉnh Biên Hòa, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học trò của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ Chí Minh, cũng bị thủ tiêu ở Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một v.v.

Ông Ngô Ðình Diệm cũng bị Việt Minh bắt trong khoảng thời gian đó tại Quảng Ngãi nhưng dường như Tỉnh Bộ Việt Minh Quảng Ngãi đã được Hồ Chí Minh ra lệnh phải đưa ông Diệm ra Hà Nội, nhờ đó mà ông Ngô Ðình Diệm may mắn được sống sót.

Ngoài chuyện đó, Hồ Chí Minh còn dành cho ông Diệm một sự đối xử đặc biệt khác, đó là đã không cho giam giữ ông Diệm như một người tù trong nhà ngục Hỏa Lò như những người chống lại Việt Minh khác mà chỉ giữ tại Bắc Bộ Phủ tức là Dinh Chủ Tịch của Hồ Chí Minh. Ông Hồ cũng không nghe lời của bí thư của ông là Vũ Ðình Huỳnh cũng như là Tổng Giám Ðốc Công an Lê Giản đề nghị đưa đi câu lưu trên vùng mạn ngược mà lại trả tự do cho ông Diệm, một việc mà sau này nhiều người trong phía Cộng sản Hà Nội đã gọi là “thả hổ về rừng” vì chỉ mười năm sau thì người lãnh đạo Miền Nam chống lại Hồ Chí Minh và Cộng sản Bắc Việt lại chính là ông Ngô Ðình Diệm.

Việc Hồ Chí Minh trả tự do cho ông Ngô Ðình Diệm vào năm 1945 hay 1946 có lẽ có nhiều nguyên do mà may ra chỉ có ông Hồ mới biết rõ, cũng có thể một trong những nguyên do đó là “do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ” như lời của ôngỳ Vũ Ðình Huỳnh, cũng có thể là ông Nguyễn Sinh Huy sau khi ông thi đậu phó bảng dưới thời Vua Thành Thái có được quen biết hay liên hệ gì đó với Thượng Thư Ngô Ðình Khả hay là một vài bạn đồng liêu của ông vì vào thời đó ông Khả còn làm quan tại triều, cũng có thể là vì Hồ Chí Minh có theo học ở trường Quốc Học Huế, ngôi trường mà Thượng Thư Ngô Ðình Khả sáng lập và cũng là nơi mà nghe nói ông Ngô Ðình Diệm cũng có theo học thời niên thiếu, như vậy thì giữa Hồ Chí Minh với Ngô Ðình Diệm còn có tình đồng môn. Ðối với người xưa, kể cả thời thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20, người ta còn coi trọng “tình đồng môn hay nghĩa đồng môn” hơn sau này, do đó yếu tố này cũng có thể giải thích được nguyên nhân mà ông Hồ đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt nào đó, nếu có.

Người viết có liên lạc với nhà văn Vũ Thư Hiên vào tháng 11 năm 2003 để tìm hiểu thêm về điều ông tiết lộ là Hồ Chí Minh đã giam giữ Ngô Ðình Diệm tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945. Ông Vũ Thư Hiên đã trả lời như sau:
“Tôi không biết gì nhiều về thời gian ông Ngô Ðình Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ. Tuy có ra vào Bắc Bộ Phủ, nhưng tôi chưa từng gặp mặt ông ấy. Những gì tôi được nghe cha tôi kể lại, tôi đã ghi trong “Ðêm Giữa Ban Ngày.” Người có thể nói thêm là Cụ Lê Giản (giám đốc Nha Công An Việt Nam thời kỳ đó) thì lại vừa mới mất. Trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ Chí Minh thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ, theo các cụ suy luận, trên cơ sở những dữ kiện mà chỉ các cụ biết.” (2)

Giòng họ Hồ Sĩ mà ông Vũ Thư Hiên nói đến ở đây là giòng họ ông Hồ Sĩ Tạo.

Một học giả miền Bắc là Giáo Sư Trần Quốc Vượng có viết một bài báo nhan đề “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật” vào đầu thập niên 1990 tại Hà Nội trong đó ông nói rằng sau nhiều ngày đi du khảo trong vùng Nghệ-Tĩnh thì ông được nghe dân chúng trong vùng quê quán của Hồ Chí Minh truyền kể lại rằng ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy) là con ngoại hôn của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo với cô Ðèn (Hà Thị Hy.) Người viết không đi sâu vào vấn đề này, tuy nhiên nếu quả thật Hồ Chí Minh là cháu nội của Tiến Sĩ Hồ Sĩ Tạo hay Hồ Sĩ Tảo thì rất có thể ông Tiến sĩ này có một vài liên hệ nào đó với ông Ngô Ðình Khả, thân phụ của ông Ngô Ðình Diệm vào thời thế kỷ thứ 19, do đó ông Vũ Thư Hiên đã nói rằng “trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ.” Ðây cũng có thể là một nguyên nhân để giải thích cho việc tại sao ông Hồ Chí Minh đã trả tự do cho ông Diệm hồi năm 1945, nhất là khi ông Hồ nói rằng “vị người cha mà thả người con.”

Một điều thật đáng tiếc là hai người biết rõ về việc ông Hồ giam giữ ông Diệm tại Bắc Bộ Phủ và những chuyện có liên quan đến mối liên hệ giữa hai người này là ông Vũ Ðình Huỳnh đã từ trần cách đây đã lâu, nhưng ông Lê Giản thì còn sống cho đến tháng 10 năm 2003, nếu khi ông còn sống mà có cơ hội hỏi ông về việc này thì có lẽ ông có thể đã cho biết thêm nhiều chi tiết mà rất ít người biết đến. Tuy nhiên sự tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên đã làm sáng tỏ thêm một vấn đề, đó là việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ đề nghị của hai ông Vũ Ðình Huỳnh và Lê Giản cho ông Ngô Ðình Diệm được “hưởng chế độ câu lưu” tại Việt Bắc, điều đó có nghĩa là những tin đồn nói rằng ông Diệm bị đưa đi an trí ở Thái Nguyên có thể là không đúng lắm.

Như vậy thì từ cảm tình đặc biệt và sự đối xử đặc biệt này đến việc hơn một thập niên sau Hồ Chí Minh lại cung cấp cho gia đình ông Ngô Ðình Diệm những tin tức để đi tìm ngôi mộ nơi hai người thân nhân ruột thịt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị đàn em của Hồ Chí Minh thủ tiêu, người ta thấy rằng đó là những sự kiện có thể tin được. Khi thả ông Diệm vào năm 1945, Hồ Chí Minh nói rằng “vị người cha” là Cụ Thượng Thư Ngô Ðình Khả, thì khi cho ông Diệm biết về nơi chôn vùi ông Tổng Ðốc Ngô Ðình Khôi, đối với ông Hồ, đó cũng là một việc đáng làm đối với một người đồng môn, hơn nữa ông Ngô Ðình Khôi cũng là con của vị “đày vua không Khả,” cũng là một nhân vật yêu nước, có tinh thần chống Pháp cho nên đã bị thực dân Pháp bắt phải về hưu trí vào năm 1943, có lẽ đối với ông Hồ thì đó là một việc phải làm, nhất là người đồng môn của ông lúc đó cũng đang giữ địa vị quốc trưởng tại miền Nam thì về phương diện chính trị lại rất có lợi cho ông.

(Còn tiếp)

*Các bạn có thể xem thêm chi tiết về việc này tại :
http://www.diendantheky.net/2010/11/vai-moi-lien-he-giua-hai-ong-ho-chi_01.html
Theo đó thì ông Hồ đã cho ông Diệm biết chỗ chôn ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh.
Ngược lại ông Diệm cho tu bổ mộ phần cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Người viết bài này là anh họ tôi, Trần Đông Phong (Trần Đức Thắng).
Còn người tu bổ phần mộ cụ Sắc chính là thân phụ tôi. Cụ không bao giờ nói việc này ra, chỉ có anh tôi là vị giáo sư kể trong bài được nghe cụ kể
________

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

Phạm Tuân

Phạm Tôn’blog 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, hiện định cư tại Mỹ.

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.
__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 vàViệt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).
__________
Ghi chú: Ở Huế có đường Phạm Quỳnh từ thời ông Diệm. Trần Hoàng đã từng đọc tên đường này trong tác phẩm…(quên tên, sẽ bổ sung sau)
Ý kiến

Vậy các bác có biết tại sao cụ Phạm Quỳnh mất sớm thế không?

Trả lời

  1. Tác giả P.T không có gì phải tủi hổ về sự khác biệt và về thế thái nhân tình.Như tác giả đã nói,cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi là 2 người thù địch không đội trời chung,vậy mà chính quyền cụ Diệm vẫn cử 1 viên chức đến phân ưu và cử 2 quân nhân mặc lễ phục uy nghiêm đứng bên quan tài.

    Trả lời

     
     
  2. Cũng còn một chút may mắn cho gia tộc cụ Pham Quỳnh, rằng cụ bị giết ở Huế, chứ nếu bị giết ở bắc vĩ tuyến 17 thì có lẽ xương không còn. Cứ xem con cháu cụ Nguyễn Thị Năm bị giết ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên đã phải vất vả như thế nào khi tìm mộ cụ sau khi đã xin được đủ các giấy tờ xác nhận cụ là “địa chủ yêu nước”, thì biết.

    Trả lời

     
     
  3. Trích: ” Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.”….
    Và: “… Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.”. Trích tiếp: “…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?”. Rồi kết: “Ôi, thế thái nhân tình…”.
    Cụ Phạm Quỳnh bị Việt Minh Cộng Sản giết (có người nói là bị chôn sống), thế mà trong bài viết không nghe tác giả con trai cụ Phạm Quỳnh có một lời than trách hay kết án nào. Trái lại, tác giả đã phê phán cách ứng sử không “công bằng” trong việc cải táng cụ Phạm Quỳnh và cụ Huân cùng con trai.
    Tôi thật không thể hiểu nổi. Quả là “sống sao cho vừa lòng người” thực rất khó, trường hợp này thì gần giống như kiểu “làm ơn mắc oán”. Thật ra, chính quyền Ngô Đình Diệm không hề có trách nhiệm gì trong việc giết hại cụ Phạm Quỳnh. Chính quyền này cũng chẳng có “nghĩa vụ” phải cải táng cho cụ Phạm. Đây hoàn toàn là vấn đề nhân nghĩa, đạo lý, tình người và tình đồng bào… huống chi như tác giả đã viết: ” Cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi đã “là kẻ thù không đội trời chung”, thì được như vậy cũng quí lắm rồi. Lẽ ra con trai ông Phạm Quỳnh (tác giả bài viết) không nên so bì như thế nếu không có được một tiếng cám ơn để chứng tỏ là người tử tế.
    Ông Phạm Tuyên có bài “Như có Bác…”, còn ông Phạm Tuân thì có bài này: Anh em họ thật hợp nhau lắm!
    Cụ Phạm Quỳnh không biết vui hay buồn bên kia thế giới đây!?

    Đối với NS Phạm Tuyên, đảng- bác là trên hết. Hơn cả cha mẹ, tổ tiên, ông bà. Có nịnh nọt tốt như vậy, thì từ con của một viên quan Thượng thư của một triều đình bị cho là làm tay sai cho ngoại xâm, mà cách mạng gọi là trùm phản quốc, phản cách mạng, Phạm Tuyên mới “leo” lên được chức vụ Phó Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, khi mà xã hội thời đó coi chủ nghĩa lí lịch là trên hết.Trong sách giáo khoa về Văn và Sử của miền Bắc những năm sáu mươi của thế kỷ trước, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là hai nhân vật được cách mạng dùng những ngôn từ xấu xa nhất để nói về họ, nào là tên bồi bút đê tiện, tên phản động nguy hiểm nhất về lĩnh vực văn hóa, vì họ đã “đầu độc” bao thế hệ trẻ với những tư tưởng xấu xa..vv.
    Với nhà nước CSVN, Phạm Tuyên được cho là “một trong những nhạc sĩ có nhiều sáng tác thành công nhất viết về đảng và Bác”. Trong đó, nổi bật nhất là hai bài: “ Đảng đã cho ta Mùa Xuân” và bài “ Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”. Hãy nghe con vẹt Phạm Tuyên “hót” ca ngợi đảng, bác của ông ta như thế nào nhé.
    Bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” có những câu như sau:
    “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Trước như tuổi thơ tôi nào biết đường
    Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước
    Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông
    Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Đảng ta ơi, cám ơn người dạy dỗ
    Từ đây lòng tôi sướng vui đau khổ
    Và tình yêu căm giận hóa lời ca
    Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà
    Đảng của tôi ơn, người đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

    Bài “ Đảng đã cho ta mùa xuân” có những đoạn như sau:
    “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
    Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
    Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non
    Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời
    Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân
    Cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm
    Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng
    Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang
    Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới”

    Một khi đã tôn thờ đảng-bác trên hết mọi sự, thì phải từ bỏ quá khứ của mình thì mới làm đẹp lòng đảng được. Và để phấn đấu được nhận các giải thưởng, như Giải thưởng Nhà nước năm 2001, và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012, thì Phạm Tuyên phải có một “thành tích chói lọi”. Mà một trong những việc để lập thành tích và để được đảng tin tưởng và ghi công, thì không gì bằng đoạn tuyệt quá khứ, đoạn tuyệt với cha ông mình.
    Chắc không bao giờ Phạm Tuyên muốn nhắc đến tên người cha quá cố của ông- Phạm Quỳnh. Vì như vậy sẽ làm phật lòng đảng.
    Không biết ở dưới suối vàng, Thượng thư Phạm Quỳnh có biết con mình là một đảng viên của cái đảng đã giết và vứt xác mình xuống cái mương và lấp lại vị sợ hôi thối? Và “ đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”, có nghĩa là Phạm Tuyên đã đồng lõa cùng kết tội những “tội ác” của Phạm Quỳnh mà đảng đã tuyên khi giết Phạm Quỳnh?

    Đối với nhân dân Việt Nam, thì đảng CSVN là “ căn bệnh dịch hạch” đã làm ô nhiễm môi trường đạo đức văn hóa và truyền thống tốt đẹp bao đời của cha ông ta. Nhưng đối với Phạm Tuyên, thì đảng “ đã đem về tuổi xuân cho nước non”, và đảng” là ánh dương soi đời mới”. Có lẽ đây là tột đỉnh của sự lố bịch. Và với hai câu này, Phạm Tuyên xứng đáng là VUA của các loài vẹt.

    Nguồn:

xuandienhannom

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Giáo phận Vinh: Hàng chục ngàn giáo dân xuống đường ngày 15-8-2016 yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Giáo phận Vinh: Hàng chục ngàn giáo dân tham dự thánh lễ cầu cho quốc thái dân an

GNsP
Đăng ngày 15.08.2016 – 12:57pm

GNsP (15.08.2016) – Theo lời mời gọi của Đức Giám mục Giáo phận Vinh hơn 30.000 giáo dân đến từ nhiều Giáo hạt như Cầu Rầm, Nhân Hòa, Cửa Lò, Đông Tháp… tham dự thánh lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Trước khi thánh lễ trọng thể diễn ra, hàng ngàn giáo dân thuộc nhiều giáo xứ dưới sự hướng dẫn của các Linh mục Quản xứ như Giáo xứ Nhân Hòa đã tuần hành một cách ôn hòa từ nhà thờ đến Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài với thông điệp: yêu cầu nhà cầm quyền đóng cửa vĩnh viễn Formosa, Chính quyền bao che Formosa là một tội ác, Yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa…

Bà con Giáo hạt Nhân Hòa cùng với linh mục Quản xứ Giuse Nguyễn Xuân Phương và một số vị linh mục khác đã đi bộ hơn 5km để phản đối Formosa đã gây ra vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển Miền Trung.

Hơn 500 bà con giáo dân giáo xứ Phú Yên cùng với linh mục Quản xứ Antôn Đặng Hữu Nam đã vượt hơn 70km quy tụ về Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, hưởng ứng lời kêu gọi của Đức cha Giáo phận cầu nguyện cho quốc thái dân an.

Tại bến đỗ xe, cách Nhà thờ Chính tòa khoảng 600m, linh mục Quản xứ giáo xứ Phú Yên cùng với hơn 500 bà con giáo dân tuần hành, hô vang các khẩu hiệu bảo vệ con dân nước Việt và tiến về phía nhà thờ.

Tại sân Nhà thờ Chính tòa có nhiều băng rôn biểu ngữ thể hiện nỗi lo lắng của bà con giáo dân với thảm họa môi trường như: Dung túng Formosa là một tội ác, Sự thật sẽ giải phóng anh em… 

Bà con Giáo hạt Nhân Hòa cùng với linh mục Quản xứ Giuse Nguyễn Xuân Phương và một số vị linh mục khác đã đi bộ hơn 5km để phản đối Formosa đã gây ra vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển Miền Trung.

Các Linh mục Quản xứ như Giáo xứ Nhân Hòa đã tuần hành một cách ôn hòa từ nhà thờ đến Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài với thông điệp: yêu cầu nhà cầm quyền đóng cửa vĩnh viễn Formosa, Chính quyền bao che Formosa là một tội ác, Yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa…

Tại bến đỗ xe, cách Nhà thờ Chính tòa khoảng 600m, linh mục Quản xứ giáo xứ Phú Yên, Antôn Đặng Hữu Nam cùng với hơn 500 bà con giáo dân tuần hành, hô vang các khẩu hiệu bảo vệ con dân nước Việt và tiến về phía nhà thờ.

Giới trẻ Giáo phận Vinh hưởng ứng bảo vệ môi trường một cách nhiệt tình.

Hơn 30.000 giáo dân đến từ nhiều Giáo hạt như Cầu Rầm, Nhân Hòa, Cửa Lò, Đông Tháp… đáp trả lại lời mời gọi của Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, tham dự thánh lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Tại sân Nhà thờ Chính tòa có nhiều băng rôn biểu ngữ thể hiện nỗi lo lắng của bà con giáo dân với thảm họa môi trường như: Dung túng Formosa là một tội ác, Sự thật sẽ giải phóng anh em… 

Hàng chục ngàn giáo dân giáo phận Vinh tham dự thánh lễ cầu cho quốc thái dân an theo lời kêu gọi của Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong ngày lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Trong bài giảng thánh lễ Đại trào, Đức cha Phaolô kêu gọi cộng đoàn: “Hơn bao giờ hết, chúng ta phải tha thiết xin Đức Maria giúp chúng ta giữ vững căn tính Kitô hữu của mình, có trách nhiệm với quê hương đất nước và với các thế hệ tương lai nhất quyết bảo vệ môi trường, đồng thời hiệp thông với những người đang là nạn nhân của thảm họa môi trường biển, cũng như nạn nhân của rất nhiều thảm họa khác. Xin Đức Maria cho chúng ta can đảm thực hiện quyền công dân được Hiếp pháp VN và các Công ước Quốc tế quy định, thể hiện một cách ôn hòa quyền đòi sự minh bạch trong việc điều khiển đất nước, cũng như xử lý các thảm họa môi trường và buộc những người gây ra thảm họa phải bị xét xử một cách công minh và các nạn nhân được đền bù xứng đáng.”

Pv.GNsP tại Nghệ An 
 
Chùm ảnh tại Giáo phận VInh sáng nay, 15.8.2016:

….

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Nhà thầu Trung Quốc thi công gian dối tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Nhà thầu Trung Quốc thi công gian dối tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi

LĐ – 187 PHÓNG SỰ THANH HẢI 06:52 ngày 12/08/2016
 

Xe tải chở đất bùn khai thác trái phép tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc để đôn nền đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Xe tải chở đất bùn khai thác trái phép tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc để đôn nền đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Chỉ thi công 10,6km (thuộc gói thầu A3) của dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, nhưng nhà thầu Giang Tô (Trung Quốc) đã luôn “làm nóng” hiện trường bởi liên tục có biểu hiện làm ăn gian dối, bị người dân địa phương phản ứng. Thế nhưng, bất chấp tai mắt giám sát, đơn thư tố cáo của người dân, trên công trường cao tốc, đơn vị thi công vẫn ngang nhiên làm ẩu, tiếp tục lấy đất bẩn, bùn lầy từ nguồn khai thác trái phép để đắp nền đường, làm giả, nhưng quyết toán thật…

Dự án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi là một phần của đường bộ cao tốc Bắc – Nam, có chiều dài gần 140km, tổng kinh phí gần 28.000 tỉ đồng, được đánh giá sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội khu vực miền Trung. Tuy việc xây dựng chủ yếu từ nguồn vốn vay, dự án cũng sẽ là “gánh nợ” nặng cho con cháu. Vì ngay từ lúc thi công, nhà thầu đã có biểu hiện làm ăn gian dối, cảnh báo kém chất lượng. Đáng nói, sai phạm được dân tố cáo liên tục, song không được xử lý triệt để. Đơn vị thi công tiếp tục làm trái quy trình một cách công nhiên, như thách thức người dân…

Công khai múc đất bùn, đôn nền đường cao tốc

Sau nhiều lần tố cáo hiện tượng làm ăn gian dối của nhà thầu Giang Tô, Trung Quốc tại gói thầu 3A trên đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi – đoạn qua huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi – không mang lại kết quả, người dân đã cầu cứu đến báo chí.

Mấy ngày qua, liên tiếp phát hiện đơn vị thi công tiếp tục múc bùn đất tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, huyện Bình Sơn để đổ trực tiếp, đôn nền đường cao tốc.

Sáng 9.8, người dân địa phương đã mật báo, chúng tôi lập tức có mặt tại hiện trường. Không quá khó để ghi hình trực tiếp những đoàn xe đào bùn đất tại lòng hồ Hố Dọc, thuộc xã Bình Nguyên, rồi nối đuôi nhau chở đến đổ nền đường cao tốc tại vị trí Bàu Sen – xã Bình Trung, huyện Bình Sơn – Km 101 + 445 – km101 + 800-102+240.

 Hình ảnh đất đá không đúng quy chuẩn được nhà thầu Giang Tô (Trung Quốc) đôn nền đường cao tốc (ảnh do người dân chụp lại).

Từ điểm cuối – nơi các xe tải nặng đang đổ bùn đất xuống công trình đường cao tốc, chúng tôi bám theo đuôi xe trong vai người đi buôn đồng nát. Có lẽ bởi chúng tôi bề ngoài quần áo xộc xệch, xe máy cà tàng, nên đoàn xe cứ vô tư đưa chúng tôi đến tận điểm đầu – nơi lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, xã Bình Nguyên, cách đó chừng 4km. Tại đây, có 3 xe đào đang xả hết công suất để múc bùn, đất ngay lòng hồ, cung ứng cho đoàn xe khoảng chục chiếc vận chuyển đến khu vực Bàu Sen để đôn nền đường.

Công trường hoạt động ầm ào, khẩn trương, tiếng máy vang dội cả một góc núi. Thế nhưng, khi phát hiện có nhóm người lạ ghi hình, lập tức mọi phương tiện dừng đột ngột. Cánh lái xe tứ tán, lảng tránh tiếp xúc với chúng tôi. Ngay đoàn xe tải nặng đang công khai chở đất đôn đường cao tốc cũng bỗng dưng dừng chạy. Một số xe bỏ hẳn công trường để sơ tán đi nơi khác.

Gói thầu A3 do Cty Giang Tô (Trung Quốc) thi công có tổng giá trị khoảng 1.360 tỉ đồng, thực hiện từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB). Một dự án trọng điểm của ngành GTVT Việt Nam, được Chính phủ đặc biệt quan tâm, tại sao lại có hiện tượng lén lút, lo sợ mơ hồ, và dừng hẳn thi công khi có người ghi hình?

Ông Trần – một nhà thầu phụ từng cung ứng vật tư để xây dựng tại dự án đường cao tốc này cho biết:

“Không cần điều tra, chẳng phải mất công để xác minh cũng có thể khẳng định ngay hoạt động múc đất, bùn tại lòng hồ thủy lợi để đổ trên đường cao tốc là hành vi vi phạm pháp luật, trái quy trình xây dựng một công trình lớn như đường cao tốc Bắc – Nam”.

Theo ông Trần, mọi vật tư cung ứng cho công trình đều được giám sát chặt chẽ, thông qua quá trình kiểm soát nghiêm ngặt. Nếu là đất đôn nền, phải có giấy phép khai thác mỏ khoáng sản, chất lượng đất – cát phải được kiểm định, được đơn vị tư vấn, giám sát cấp chứng thư công nhận… mới được phép đưa vào công trình. Đất bùn tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc không nằm trong danh mục mỏ khoáng sản do UBND tỉnh Quảng Ngãi hoặc Bộ TNMT cấp, đang bị khai thác trái phép, nhưng cung ứng để đổ vào công trình đường cao tốc như vậy là hoàn toàn vi phạm quy trình.

Ông Trần giải thích thêm, sở dĩ có việc ăn cắp đất ở lòng hồ thủy lợi để đổ đường cao tốc là vì nguồn cung đất gần công trình, và là đất đào trộm nên trốn được thuế tài nguyên. Vì lợi nhuận, nhà thầu gian dối, làm ẩu. Nhưng vấn đề cốt lõi là nếu không có sự bắt tay, thông đồng của đơn vị tư vấn, giám sát thì sự gian dối này khó trót lọt.

Đắp nền đường trên túi bùn

Theo đuôi những xe tải nặng đào đất trộm tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, chúng tôi đến công trường XD đường cao tốc tại khu vực Bàu Sen, thuộc xã Bình Trung, huyện Bình Sơn – nơi nhà thầu Giang Tô, Trung Quốc đang thi công – lại phát hiện thêm một sự gian dối khác.

Quy trình theo hồ sơ thiết kế, đơn vị thi công phải bóc lớp đất phong hóa, bùn lầy trên mặt hồ, chở đến các bãi thải (đã quy hoạch gần đó) trước khi đôn đất, cát đủ quy chuẩn làm nền đường. Tuy nhiên, thực tế đơn vị thi công chỉ đôn từ cọc cát, trải vải địa rồi đổ đất lên lu lèn khi chưa nạo vét bùn.

 Ông Phám Tấn Lực – người dân địa phương đã viết đơn tố giác hành vi gian dối của nhà thầu Trung Quốc tại dự án xây dựng đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên “Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc”. Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
 
Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam.
Bản tuyên bố được viết bằng tiếng Anh trên trang web Bộ ngoại giao Trung Quốc, sau đó lập tức được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI chuyển sang tiếng Việt.
 
Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.
 
“Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc”, bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.
 
Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:
 
Bằng chứng số 1:
 
Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ:“Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”. Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: “Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống”.
 
Bằng chứng số 2:
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: “Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa”. Ngày 6/9, trên trang nhất của “Báo Nhân Dân”-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: “Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này”.
 
Bằng chứng số 3:
 
Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: “Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đây là đe dọa trực tiếp “đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng”.
 
Bằng chứng số 4:
 
 
Tập “Bản đồ Thế giới” do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.
Bằng chứng số 5:
 
Trong sách giáo khoa “Địa lý” lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” viết: “Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn…, các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức ‘Trường Thành’ bảo vệ Trung Quốc đại lục”.
*
Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam “đã nuốt lời cam kết của mình” khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.

Một sự im lặng nhục nhã đối với tập đoàn Việt gian bán nước.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

…..

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Nghệ An: một luật sư kêu cứu vì đang ở trong tình trạng bị công an đe dọa hành hung!

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

FB Ngọc Minh Châu

15-8-2016

LS Ngọc Minh Châu

Tác giả Ngọc Minh Châu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi đang tham gia phiên toà xét xử công khai vụ án Đặng Thị Thuấn vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Án xử công khai nhưng cổng toà bị khoá, một xe cam nhông CSCĐ đứng chắn cổng toà không cho bất cứ người dân nào vào phòng xử án.

Đến giờ xử án Cảnh sát ngồi chật phòng xử. Tôi có ý kiến đề nghị đứng lên trả chỗ cho dân vào dự phiên toà. Nhưng mấy cậu công an trẻ hơn cả con tôi đã chỉ tay vào mặt tôi quát là “Luật sư nói láo, luật sư không có quyền !”.

Toà chưa khai mạc, tôi đứng lên tuyên bố chụp ảnh những cảnh sát ngồi tranh chỗ dân trong phòng xử để gửi chánh án và bộ trưởng bộ công an.

Một tên côn đồ mặc áo thường dân sừng sộ đe đập máy của tôi. Tôi bỏ về vì toà vi phạm Hiến pháp khoá cổng toà không cho dân dự phiên toà.

Ra khỏi cổng toà có 2 thanh niên theo sát bảo vệ tôi vì cậu này có nói là cậu ta chứng kiến công an bàn nhau định bố trí cho 2 nữ cảnh sát khống chế cướp điện thoại của tôi nhằm phá hủy các bằng chứng mà tôi đã lưu trong máy. Và có rất nhiều lời xúc phạm đe dọa tôi từ phía những kẻ lạ mặt này. Con tôi đang rất lo lắng về sự an toàn của tôi.

Hiện nay tôi đang một mình trên đường về Hà Nội. Tôi đưa sự kiện này lên đây để báo cáo bà con được biết. Để rồi xem họ sẽ làm gì cái bà luật sư già này đây ?

_________

Luật sư Nguyễn Văn Chức và bị cáo Trần Văn Đang (21-6-1965)

Mời các bạn đọc bài viết dưới đây của Luật Sư Nguyễn Văn Chức, người được luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định biện hộ cho ông Trần Văn Đang. Qua bài viết của Ls Nguyễn Văn Chức, chúng ta có thể biết thêm về “Anh hùng Nguyễn Văn Trổi” của việt cộng “anh hùng” như thế nào. Để biết đảng cộng sản Việt Nam đã lợi dụng những người dân quê miền Nam để thi hành chính sách khủng bố ở Miền Nam như thế nào trong thập niên 1960s.

“Phạm Thắng Vũ xin chép lại (trích trong báo Con Ong số 84) để quý bạn đọc thấy trong số các nạn nhân của Việt Cộng, cũng có cả các liệt sĩ của chúng như trường hợp Trần Văn Đang ở trong bài viết này.

Ls Nguyễn Văn Chức viết:

“Tôi về đến nhà, đã thấy chiếc xe mô tô đen của trung sĩ Ân đỗ trong sân. Ân giơ tay chào, đưa cho tôi một phong thư mầu vàng của tòa án Mặt Trận, và yêu cầu tôi đọc ngay. Phong thư đóng dấu ” tối mật “. Tôi xé ra. Bức thư bên trong chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy, nhưng tôi đọc rất lâu. Tôi ký sổ biên nhận, rồi bước vào trong nhà.

Ân có chào tôi hay không, và chiếc mô tô rồ máy bỏ đi lúc nào, tôi cũng không để ý. Tôi đang bận nghĩ đến hắn…

Cách đây khoảng 3 tháng, luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định tôi biện hộ cho hắn trước tòa án Mặt Trận Vùng Ba Chiến Thuật. Hắn là tên đặc công bị bắt trong khi đặt chất nổ trên đường Tự Do. Hắn bị truy tố về hai tội phản nghịch và mưu sát; hắn có thể bị tử hình. Sau khi xem xong hồ sơ, tôi vào nhà lao để gặp hắn. Đây là một thói quen nghề nghiệp, và cũng là một cái thú. Nói chuyện với tử tù, thường phạm hay chính trị, đôi khi hấp dẫn hơn đọc một cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất.

Tôi ngồi trong phòng đợi, nhìn ra vạt sân nắng bên kia chấn song sắt, rồi chợt nhớ đến Nguyễn Văn Trỗi. Trước đây, Trỗi cũng đã ngồi nói chuyện với tôi trong căn phòng này. Trỗi khóc như một đứa con nít, thỉnh thoảng đưa hai tay lên vắt nước mũi rồi quẹt xuống gầm bàn. Trỗi còn trẻ, mới 26 tuổi, nhưng trông già như người 40.

Hắn trẻ hơn Trỗi. Khi nhân viên nhà lao dẫn hắn đến gặp luật sư, miệng hắn đang còn nhai nhóp nhép, hình như là khô mực. Người hắn sặc mùi dầu khuynh diệp. Hắn khép nép ngồi xuống một cái ghế trước mặt, rồi chăm chú nhìn tôi. Lúc đó tôi mới để ý đến cái đầu húi cua và khuôn mặt non nớt của hắn. Khác hẳn với tấm hình đăng trên các báo: tóc dài bù xù, và mặt nhăn nheo như mang đầy thẹo. Tôi mỉm cười hỏi: “Em vừa húi tóc?” Hắn gật. Tôi lại hỏi: ” Em là Trần Văn Đang? “Hắn gật.

– Em có bí danh Sáu Nhỏ, Hai Gà, Năm Lựu Đạn, có phải vậy không? Hắn gật.

– Em bị bắt khi đặt chất nổ trên đường Tự Do, có phải vậy không? Hắn gật.

Tôi nói cho hắn biết: tôi là luật sư sẽ cãi cho hắn trước tòa, hôm nay tôi vào nhà lao gặp hắn để tìm hiểu thêm về tội trạng của hắn. Và tôi yêu cầu hắn kể lại tất cả sự việc từ đầu đến cuối, để giúp tôi phối kiểm lại hồ sơ.

Hắn nhìn tập hồ sơ trên bàn, rồi nhìn ra ngoài sân rất lâu, như đang suy nghĩ lung về một vấn đề. Tôi cũng nhìn hắn và chợt thấy hắn dễ thương. Hắn vẫn ngồi im. Tôi hỏi: ” Khi lấy cung, người ta có tra tấn và hăm dọa em không? “. Hắn mở to mắt nhìn tôi. Tôi lại dục: ” Em nên kể lại tất cả sự việc, từ lúc được móc nối cho đến khi bị bắt, bị hỏi cung. Em kể lại hay không, đó là quyền của em. Em cũng có thể từ chối không nhận tôi là luật sư của em và chọn một luật sư khác. Đó là quyền của em “.

Hình như tôi còn nói nhiều nữa. Tôi muốn đến gần hắn, tôi muốn được ” hân hạnh ” nói chuyện với hắn.

Hắn nhìn tôi, tỏ vẻ dè dặt. Tôi đợi một lúc khá lâu, rồi lại hỏi: ” Tất cả những điều em khai trong hồ sơ đều là sự thật, có phải vậy không? “. Hắn gật đầu một cách thản nhiên.

Bên ngoài vạt nắng đã thu hẹp lại ở góc tường bao quanh cái sân nhỏ. Tiếng người gọi đi thăm nuôi, tiếng quát tháo, tiếng chửi thề… đã bắt đầu thưa thớt. Tôi không đeo đồng hồ, và trong phòng cũng không có đồng hồ, nhưng tôi đoán lúc đó khoảng 4 giờ chiều, nghĩa là gần hết giờ thăm nuôi phạm nhân. Riêng tôi, vì là luật sư, tôi có thể nói chuyện với thân chủ cho đến 5 giờ chiều. Khổ một nỗi, thân chủ lại không muốn nói chuyện với luật sư. Tôi đành phải làm cái công việc bất đắc dĩ của nghề nghiệp, là tóm tắt hồ sơ và đọc những điểm quan trọng cho thân chủ nghe, để thân chủ hoặc xác nhận, hoặc phủ nhận.

Hồ sơ hắn dầy gần trăm trang đánh máy, gồm phúc trình của Công An và An Ninh Quân Đội. Cô thư ký của tôi đã chép độ 20 trang quan trọng nhất. Riêng tôi đã lận đận trọn một ngày ở tòa án Mặt Trận để đọc lại toàn bộ hồ sơ và ghi chú thêm. Lận đận như vậy, vì lương tâm nghề nghiệp, và cũng vì tò mò nghề nghiệp. Trong những vụ án chính trị lớn tại miền Nam, tôi từng tiêu hoang thì giờ tại tòa án, để đọc và suy nghĩ về những lời khai của các bị can. Nhờ đó, tôi đã biết được cái lý do sâu xa đã khiến văn hào Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vận, một ngày trước khi tòa xử.

Tôi giở hồ sơ hắn ra và bắt đầu đọc:

Hắn sinh tại Gò Dầu Hạ, bố vô danh. Mười lăm tuổi, hắn mồ côi mẹ và được người chú mang lên làm công cho một tiệm sửa xe Vespa tại đường Trương Minh Giảng-Sài Gòn. Trong thời gian sống ở Sài Gòn hắn làm quen với một tên Tư. Tên này ” xây dựng ” hắn, và gửi hắn vào bưng học tập. Bốn tháng sau, hắn trở về Sài Gòn hoạt động trong tổ đặc công của tên Tư.

Một ngày trước khi bị bắt, hắn được tên Tư cho đi ăn uống tại một con hẻm đường Nguyễn Huệ. Sau bữa ăn, cả hai thả bộ ra đường Tự Do để quan sát địa điểm hành động. Đó là một cái ” bar ” Mỹ mà hắn đã từng đi ngang qua nhiều lần. Chiều hôm sau, một buổi chiều thứ Bẩy, tên Tư đem về hai cái bọc, mỗi cái đựng 10 kg thuốc nổ và bộ phận nổ chậm.

Tên Tư gài bộ phận nổ chậm, rồi đặt cái bọc thứ nhất trong thùng một chiếc Vespa mầu xanh. Cái bọc thứ hai được đặt trong thùng một chiếc Vespa mầu trắng. Rồi cả hai cùng đi tới địa điểm hành động. Lúc đó, đồng hồ nhà tên Tư chỉ đúng 5 giờ 15 phút. Hắn cưỡi chiếc xe Vespa mầu xanh, tên Tư cưỡi chiếc xe mầu trắng, hai xe cách nhau khoảng 200 thước.

Hắn có nhiệm vụ phá cái bar Mỹ đã quan sát chiều hôm trước. Còn tên Tư có nhiệm vụ phá cái bar khác gần khách sạn Eden Rock ở cuối đường Tự Do. Khoảng 15 phút sau, hắn tới cái bar Mỹ. Hắn ngừng xe lại, còn tên Tư tiếp tục đi về phía cuối đường Tự Do. Hắn xuống xe, nhấc chiếc Vespa lên lề đường, rồi dắt chiếc xe về phía cái bar Mỹ. Theo chỉ thị của tên Tư, hắn có nhiệm vụ đỗ chiếc xe Vespa trước cửa cái bar Mỹ rồi bỏ đi. Tên Tư cũng cho hắn biết: quả mìn sẽ nổ đúng 6 giờ. Hắn không đeo đồng hồ. Hắn biết chắc hắn còn nhiều thì giờ, ít nhất là 15 phút để thi hành phận sự. Hắn lấy chân đạp vào chiếc cần sắt của chiếc Vespa, kéo ngược chiếc Vespa lên và dựng chiếc Vespa ngay trước cửa bar. Hắn chưa kịp bỏ đi, thì người cảnh sát đứng bên kia đường thổi còi và ngoắc tay làm hiệu cho hắn phải dắt chiếc xe đi chỗ khác.

Hắn đâm ra lúng túng, và trong lúc hạ cần xe xuống, hắn làm đổ chiếc Vespa. Hắn hì hục dựng chiếc Vespa lên. Người cảnh sát bên kia đường lại thổi còi. Hắn đâm ra hốt hoảng. Chiếc Vespa trở nên quá nặng đối với hắn. Hắn sẽ phải dựng chiếc xe lên. Hắn sẽ phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Và hắn chợt nhớ tới quả mìn. Quả mìn sẽ nổ banh xác hắn.

Hắn không kịp nghĩ thêm gì nữa. Hắn rầm chạy. Hắn chạy ngược về phía tiệm sơn mài Thành Lễ. Mấy người cảnh sát bên kia đường rút súng, huýt còi đuổi theo. Và hắn đã bị bắt. Khoảng 20 phút sau, nhân viên cảnh sát lục soát chiếc xe Vespa và đã tìm thấy quả mìn. Theo phúc trình của cảnh sát, thì bộ phận nổ chậm bị hư, nếu không, quả mìn đã nổ vào lúc 5 giờ 50 phút, nghĩa là lúc hắn đang lúng túng với chiếc xe Vespa. Theo hồ sơ, hắn nhận hết tội, tại Công An cũng như tại An Ninh Quân Đội, và không một lần nào phản cung. Hắn có vợ và một đứa con trai 10 tháng.

Tôi đọc hồ sơ rất chậm, chờ đợi ở hắn một phản ứng, một cử chỉ, một lời nói. Nhưng tôi đã đọc hết dòng chót, mà hắn vẫn ngồi im, mặt cúi gầm xuống đất. Có lẽ hắn không nghe tôi đọc.

Tôi muốn hỏi hắn về những điểm trong hồ sơ, nhất là về tên Tư nào đó. Nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào cho tôi biết chỉ còn đúng 5 phút với hắn. Tôi nhìn ra ngoài, thở dài. Vạt sân đã hết nắng. Khi xốc hồ sơ bỏ vô cặp, tôi vô ý làm rớt tấm ảnh của thằng con trai tôi mới được 8 tháng. Tôi chợt nhớ ra: hắn cũng có một đứa con trai trạc tuổi đó. Tôi liền hỏi: ” Từ ngày em bị bắt, em đã gặp con chưa? “. Hắn nhìn tôi rất nhanh, đôi mắt vụt trở nên khẩn thiết. Tôi lại hỏi: ” Em có muốn gặp vợ con em không? “.

Hắn túm tím miệng, nuốt nước bọt cái ực, rồi nói một cách vội vàng: ” Ông có giúp tôi được không? “. Tôi gật. Lúc đó hắn mới cho tôi biết: theo lời khuyên của tên Tư, một tuần trước khi đặt chất nổ, hắn đã cho vợ con về sống với quê ngoại ở Mỏ Cày. Hắn hy vọng vợ hắn đọc báo đã biết tin hắn bị bắt và đã đem con lên Sài Gòn ở với người chú. Hắn cho tôi hai địa chỉ ở miệt Cầu Ông Lãnh, và xin tôi làm mọi cách để vợ con hắn vào thăm hắn trong tù. Hình như hắn muốn nói nhiều nữa, nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào đem hắn đi. Hắn bỗng nắm chặt bàn tay tôi, cánh tay run run. Hắn nhìn tôi, và tôi thấy mắt hắn ướt.

Chiều hôm ấy, khi ra khỏi nhà lao, tôi lái xe thẳng đến khuôn viên nhà thờ Đức Bà, gửi xe cho một đứa bé, rồi thuê xích lô đạp về chợ Cầu Ông Lãnh. Tối mịt, tôi mới ra về. Tôi không tìm thấy vợ con hắn.

Trưa hôm sau, tôi viết hai lá thư, một cho người chú, một cho vợ hắn, báo tin ngày tòa xử và nhắn vợ hắn đến văn phòng tôi để làm thủ tục xin giấy đi thăm nuôi chồng. Ký xong bức thư, tôi vào nhà lao báo cho hắn biết về cuộc tìm kiếm của tôi. Nhưng tôi không được gặp hắn: hắn đã bị trả về An Ninh Quân Đội để bổ túc hồ sơ. Từ hôm đó đến ngày xử, tôi không có dịp gặp hắn nữa.

Hôm tòa xử, tôi đi rất sớm. Mới 8 giờ sáng tôi đã có mặt ở bến Bạch Đằng. Khi lái xe vào cổng tòa án Mặt Trận, tôi thấy một thiếu phụ ôm con ngồi nép ở lối đi, bên cạnh một cái lẵng mây. Không hiểu sao tôi nghĩ đó là vợ hắn. Tôi đỗ xe trong sân tòa án, rồi đi bộ ra cổng gặp người thiếu phụ. Tôi hỏi ngay: ” Chị là vợ anh Đang? “. Thiếu phụ gật. Tôi hỏi: ” Chị được tin hôm nào? “.

Thiếu phụ cho biết: khi đọc báo biết tin chồng bị bắt, chị muốn lên Sài Gòn ngay, nhưng vì đứa con đau nặng, nên ông bà già không cho đi. Cách đây bốn hôm, chị nhận được thư của người chú báo tin ngày tòa xử, vả lại đứa con cũng đã gần hết bịnh, nên ông bà già cho đi.

Tôi nhìn đứa bé nằm ngủ trong lòng mẹ. Da nó xanh mét. Thỉnh thoảng nó cựa mình rên khe khẽ, người mẹ lại vỗ nhẹ lên người nó để ru. Chị ta hỏi tôi: ” Thưa ông, liệu ảnh có việc gì không? “. Tôi không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn đứa bé rồi hỏi: ” Cháu được mấy tháng? “. Chị ta trả lời: ” Con sanh cháu được 10 tháng thì ảnh bị bắt “.

Bỗng có tiếng còi hụ và tiếng người nhốn nháo. Tôi nhìn về phía đường Bạch Đằng. Một chiếc xe nhà binh đang trờ tới. Đó là xe chở tội nhân. Những người đứng dưới đường vội vàng dạt ra hai bên để cho xe quẹo vào cổng tòa án. Khi chiếc xe đi ngang qua, tôi nhìn thấy hắn, và người vợ cũng nhìn thấy chồng. Chị ta vội vã đứng lên, một tay xách chiếc lẵng mây, một tay ôm con, lễ mễ chạy vào trong sân tòa.

Đoàn tội nhân đã xuống khỏi xe, đứng xếp hàng giữa sân tòa. Hắn đứng ở hàng chót, ngơ ngác nhìn quanh như tìm kiếm. Vợ hắn gọi lớn: ” Anh hai, em và con đây nè “. Hắn quay mặt về phía tiếng gọi, và khi trông thấy vợ hắn, hắn giơ hai tay bị còng lên như muốn ôm ghì một hình bóng. Vợ hắn đứng cách xa hắn chỉ một khoảng sân nhỏ.

Chị ta bỏ chiếc lẵng mây xuống đất, ôm con xăm xăm chạy về phía hắn. Nhưng người lính đã ngăn chị ta lại, rồi ra lệnh cho đoàn tội nhân đi vào hành lang. Đây là một lối đi lộ thiên, nằm giữa hai bức tường của hai dãy nhà quay lưng vào nhau. Người ta dùng chỗ đó để tạm giữ tội nhân, trong khi chờ tòa gọi tội nhân ra trước vành móng ngựa.

Hắn ngồi hàng chót, nép vào chân tường. Tay hắn đã được mở còng. Vợ hắn lễ mễ ôm con lại gần. Người lính định cản lại, nhưng thấy tội nghiệp, nên đã để cho đi qua.

Tôi chỉ kịp trông thấy người đàn bà ngồi thụp xuống đất bên cạnh người chồng rồi khóc nức nở. Hắn không khóc, mở to mắt nhìn về trước mặt, một tay để lên vai vợ, một tay vuốt tóc con. Lúc sau người vợ lấy vạt áo lau nước mắt, rồi lấy ở trong lẵng ra một xị nước ngọt đựng trong túi nylon đưa cho chồng: ” Anh uống đi cho đã khát, em có mua cho anh ổ bánh mì thịt ở trong lẵng “.

Hắn rời tay khỏi vai vợ, đỡ lấy túi nước ngọt đưa lên môi, nhưng tay kia vẫn sờ trên mình đứa con, đôi mắt dịu hẳn xuống. Trong một lúc tình cờ, hắn ngẩng đầu lên. Hắn nhìn thấy tôi đứng bên kia tường. Tôi giơ tay làm hiệu chào hắn.

Chỉ còn độ một hai giờ nữa, tòa sẽ kêu đến vụ hắn. Tôi muốn nói chuyện với hắn. Nhưng tôi không nỡ làm bận rộn cuộc xum họp mà tôi linh cảm là cuộc xum họp lần chót. Tôi thở dài ái ngại, rồi bỏ đi ra phía sân tòa. Thời gian như chậm lại. Hắn, con hắn, vợ hắn, lởn vởn trong đầu tôi. Làm thế nào để cứu hắn khỏi chết? Làm thế nào để tòa án hiểu rằng: hắn, cũng như Nguyễn Văn Trỗi, cũng như bao thanh thiếu niên khác, chỉ là nạn nhân đáng thương của một hệ thống đểu cáng và vô nhân đạo nhất lịch sử loài người.

Mãi mười một giờ trưa, tòa mới kêu đến tên hắn. Hắn từ hành lang đi ra, bên cạnh hai người lính. Vợ hắn lễ mễ ôm con theo từ đằng xa, rồi ngồi xuống một chiếc ghế cuối phòng xử. Phòng xử hôm đó đông nghẹt dân chúng. Bên ngoài, trời oi ả như sắp có cơn giông.

Trước vành móng ngựa, hắn nhỏ bé và non nớt hơn cái hôm tôi gặp hắn trong nhà lao. Da hắn xanh mướt, và nét mặt thản nhiên. Tôi đến bên hắn, hắn quay lại nhìn tôi một thoáng rồi lại nhìn thẳng đàng trước mặt. Không khí nặng nề. Cả phòng xử im lặng. Ông chánh thẩm hỏi lý lịch, rồi truyền cho hắn trở về ghế bị can để nghe bản cáo trạng.

Tôi cũng từ vành móng ngựa đi theo xuống ngồi bên cạnh hắn. Hắn xích lại gần, như để tỏ lòng biết ơn. Viên lục sự bắt đầu đọc bản cáo trạng, tiếng ông ta vang lên đều đều. Cả tòa, từ ông chánh thẩm, ủy viên chính phủ, đến công chúng ngồi dưới, đều lắng tai nghe. Chỉ có hắn là không. Hắn nhìn đăm đăm đàng trước mặt, như đang suy nghĩ. Có lẽ hắn nghĩ tới vợ con hắn. Một lần, tôi chợt thấy hắn quay đầu lại nhìn xuống cuối phòng xử, như muốn tìm xem vợ con hắn ngồi ở đâu. Bỗng nhiên, mặt hắn biến sắc, tay hắn run run, đầu cúi rầm xuống.

Viên lục sự đã đọc xong bản cáo trạng. Hắn rời ghế bị can, rồi cùng tôi bước lên vành móng ngựa.

Ông chánh thẩm hỏi: ” Anh đã nghe bản cáo trạng. Anh bị cáo về tội phản nghịch và mưu sát. Anh có nhận tội không? “. Hắn gật đầu.

– Anh có thể kể lại cho tòa nghe tất cả sự việc từ đầu đến cuối không?

Hắn nhìn ông chánh thẩm, nhìn bồi thẩm đoàn, nhìn ủy viên chính phủ, nhìn tôi, rồi lắc đầu.

Ông chánh thẩm lại hỏi: ” Có phải anh đã đỗ chiếc Vespa trước cái bar Mỹ? “. Hắn gật.

– Anh có biết chiếc Vespa có chất nổ không?

Hắn gật.

– Anh đỗ chiếc Vespa trước cửa bar, để phá cái bar đó, có phải không?

Hắn gật.

– Tên Tư bao nhiêu tuổi, vóc dáng như thế nào?

Hắn đứng im không trả lời.

Ông chánh thẩm nhìn tôi, tôi nhìn ông ta. Một bên ở vào cái thế khó xử, một bên ở cái thế khó cãi. Đại tá Ủy viên Chính Phủ bỗng quát lớn: ” Tại sao bị can không trả lời? “. Hắn ngước mắt nhìn ủy viên chính phủ, rồi đứng im như pho tượng.

Khi tòa trao lời cho ủy viên chính Phủ chính thức đặt câu hỏi, thì ủy viên chính phủ nhún vai, như muốn nói với tòa rằng ông không có gì để hỏi một bị can chỉ biết gật với lắc đầu. Nhưng chỉ một vài giây sau, ông nói như hét: ” Thằng Tư, tên thật nó là gì. Địa chỉ nó ở đâu? “. Hắn lại nhìn ủy viên chính phủ rồi im lặng. Một lần nữa, ủy viên chính phủ lại nhún vai và làm cái cử chi quen thuộc để tòa hiểu rằng ông ta không còn gì để hỏi nữa.

Đến lượt tôi đặt câu hỏi. Tôi hỏi hắn: ” Khi bị lấy cung tại Công An và An Ninh Quân Đội, em có bị tra tấn hoặc bị hăm dọa không? “. Hắn lắc đầu. Tôi lại hỏi: ” Em có hối hận vì đã trót nghe lời dụ dỗ của tên Tư không? “. Hắn cúi gầm mặt xuống lắc đầu.

Tôi đã đưa ra hai cây sào để cứu hắn. Không ngờ hắn đã từ chối không nắm lấy và hình như còn thích thú để cho nước cuốn trôi đi. Nước mắt người vợ và tình thương con đã không làm hắn thay đổi. Một đời luật sư, tôi từng ngang dọc trong những vụ kiện lớn của chế độ, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bất lực như hôm nay.

Ủy viên Chính Phủ đứng lên buộc tội. Trong 15 phút hùng biện, ông gay gắt lên án bị can. Ông nhấn mạnh đến trường hợp quả tang phạm pháp, đến bản chất của tội trạng (phản nghịch và mưu sát) và sự ngoan cố của bị can. Ông kết luận: ” Trong cuộc đấu tranh chống lại bọn cộng sản ” kẻ thù của dân tộc ” chúng ta cần phải nghiêm trị những bọn phá hoại, những tên cán bộ nằm vùng, những tên đặc công khủng bố giết người không gớm tay.

Nếu hôm đó quả mìn nổ, bao nhiêu dân chúng qua đường đã bị chết thảm, bao nhiêu người dân vô tội đã bị què cụt đui mù… “. Ông yêu cầu tòa lên án tử hình. Tòa trao lời cho tôi. Trách nhiệm của tôi quá lớn, và nhiệm vụ của tôi quá khó khăn. Tôi biện hộ cho một bị can phạm tội phản nghịch và mưu sát với trường hợp gia trọng. Bị can ấy nhận tội tại Công An, tại An Ninh Quân Đội, và trước tòa án.

Bị can ấy từ đầu đến cuối không lúc nào phản cung. Bị can ấy từ chối không trả lời tòa án, không trả lời ủy viên chính phủ, không trả lời luật sư. Bị can ấy im lặng tuyệt đối, như để bảo mật cái tổ đặc công giết người của hắn, theo một mệnh lệnh… Giọng tôi trầm trầm. Tôi nói, hình như không phải cho tòa nghe, mà cho chính tôi nghe. Tôi nói, để cố trả lời cho những câu hỏi mà chính tôi đang thắc mắc.

Tại sao hắn không có một lời để tự bào chữa? Tại sao hắn đã nhận tội một cách thản nhiên, và không một lần nào phản cung, trong hồ sơ cũng như trước tòa án? Hắn là một tên đặc công bị bắt quả tang trong khi đặt chất nổ, chắc chắn hắn đã bị tra tấn của công an trong khi lấy cung. Tại sao hắn không nói điều ấy ra trước tòa? Và tên Tư? Tên Tư là ai? Tại sao hắn lại im lặng không chịu cung khai về tên Tư? Tại sao hắn lại từ chối không trả lời những câu hỏi có lợi cho hắn?

Không ai muốn chết. Không ai muốn bị hành hình. Không ai muốn bị đập chết như một con chó ở góc tường, như những nhân vật trong tiểu thuyết Kafka. Huống chi, hắn mới 21 tuổi, có vợ, có con, và thương vợ thương con. Thế thì tại sao hắn lại im lặng? Chỉ có một câu trả lời. Hắn bị quyến rũ phạm tội ác, và sau khi bị bắt, hắn vẫn bị theo rõi. Hắn sợ vợ con hắn bị trả thù, hắn đã phải im lặng, tuyệt đối im lặng.

Biết đâu trong phòng xử hôm nay, lại không có tên Tư nào đó đang ngồi theo rõi hắn. Hướng về phía ông Ủy viên Chính Phủ, tôi nói như tâm sự: ” Tôi đồng ý với ông là chúng ta, những người quốc gia, phải thẳng tay trừng trị, nếu cần, phải giết những tên đặc công gian manh, những tên cán bộ khát máu, những tên đặc công giết người không gớm tay. Nhưng trong hiện vụ, tôi không nghĩ bị can là một tên cộng sản gian manh, một tên cán bộ khát máu, một tên giết người không gớm tay. Và đây là điểm cực kỳ quan trọng: quả mìn hôm ấy đã không nổ “.

Kết luận, tôi yêu cầu tòa khoan hồng. Bị can mới hai mươi mốt tuổi, chưa hề can án, có vợ còn trẻ và con còn nhỏ, vì vậy đáng được hưởng sự khoan hồng của luật pháp.

Sau lời biện hộ của tôi, tòa hỏi hắn: ” Luật sư đã biện hộ cho anh rồi. Anh có quyền nói lời chót. Anh muốn nói gì không? “. Hắn lắc đầu. Tòa ngưng xử, bước vào phòng để nghị án.

Khoảng một giờ sau, tòa trở lại tuyên án: tử hình. Lập tức, hắn bị còng tay mang đi. Lúc đó, đã quá trưa, những đám mây đen từ đâu kéo về bao kín cả một góc trời đã mất ánh sáng. Dân chúng kéo nhau ra về. Tôi xách cặp đi ra xe như người mất hồn. Khi lái xe qua cổng tòa án, tôi thấy vợ hắn ôm con ngồi khóc. Tôi về văn phòng, viết đơn xin ân xá cho hắn. Đây chỉ là thủ tục tòa án, nhưng tôi đã làm với tất cả sự cẩn trọng của một lễ nghi tôn giáo. Tôi muốn cứu hắn khỏi chết. Vì nhân đạo. Vì nghề nghiệp. Và cũng vì trường hợp cá biệt của hắn.

Hắn khác Nguyễn Văn Trỗi. Nguyễn Văn Trỗi khóc lóc van xin trước tòa, và sau khi bị tòa lên án tử hình, Trỗi đã hô lớn ” Hồ Chí Minh muôn năm “. Hô xong lại khóc, lại van xin. Còn hắn, hắn nín thinh. Không khóc lóc, không van xin, không hô khẩu hiệu.

Hắn khác Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Thọ huênh hoang và cao ngạo trước tòa. Hắn chịu đựng, nhẫn nhục, đến độ gần như khắc kỷ. Tôi nghĩ đến con chó sói trong bài thơ ” La Mort du Loup ” của thi hào Vigny.

Ba tháng đã trôi qua. Bức thư của tòa án Mặt Trận mà trung sĩ Ân đưa cho tôi chiều hôm nay chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy: ” Trân trọng báo để luật sư tường: đơn xin ân xá của Trần Văn Đang đã bị bác. Ngày mai, hồi 5 giờ sáng, bản án tử hình sẽ được thi hành. Nếu luật sư muốn hiện diện nơi hành quyết, thì xin có mặt tại khám Chí Hòa vào lúc 4 giờ sáng. Trân trọng “.

Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ, đầu óc lởn vởn khuôn mặt của hắn, và hình ảnh của hắn ngồi trong hành lang tòa án, một tay để lên vai vợ, một tay sờ lên mình đứa con. Chưa đầy 3 giờ sáng, tôi đã thức dậy, đi vào khám Chí Hòa. Tôi bước vào phòng đợi, đã thấy một nhà sư gầy gò mặc nâu sòng đang ngồi lần chuỗi hạt.

Viên quản đốc nhà lao cho tôi biết: nhà sư đã đến trước tôi cả nửa giờ. Lát sau, một linh mục béo tốt bước vào, trong bộ quân phục thiếu tá tuyên úy. Bốn giờ ba mươi phút, ủy viên chính phủ đến. Rồi đoàn người, gồm viên quản đốc nhà lao, ủy viên chính phủ, luật sư, và hai vị tuyên úy, lặng lẽ đi vào một căn phòng rộng. Thường nhật, đây là chỗ điểm danh tội nhân. Hắn đã ngồi đó từ bao giờ, bên cạnh cái bọc quần áo. Ánh sáng vàng bệch của ngọn đèn cáu bụi trên trần nhà phả xuống bốn bức tường trắng xóa.

Tôi chợt có ý nghĩ kỳ lạ là đang bước vào căn nhà xác của bệnh viện. Đoàn người tiến lại gần hắn. Hắn đứng dậy, đôi mắt như dò hỏi. Một phút im lặng, dài như một ngày. Đại tá ủy viên chính phủ trịnh trọng nói với hắn: ” Anh hãy cam đảm lên, và nghe tôi đọc “.

Rồi ông lớn tiếng đọc bản án tử hình và bản quyết định bác đơn xin ân xá của hắn. Hắn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà, đôi mắt mở to. Người hắn run lên. Nhưng chỉ giây lát, hắn lấy lại bình tĩnh. Hắn hỏi: ” Bao giờ người ta xử tôi? “. Viên quản đốc nhà lao để tay lên vai hắn: ” Ngay sáng hôm nay, trước khi mặt trời mọc “. Rồi ông thân mật nói với hắn: ” Bây giờ em muốn ăn uống gì không, khám đường sẽ chu tất cho em ? “. Hắn lắc đầu.

Lúc đó, không ai bảo ai, mỗi người nói với hắn một vài câu an ủi. Không khí trở nên thân mật và âu yếm như trong một cuộc tiễn đưa. Riêng tôi chỉ nhìn hắn, tôi muốn nói chuyện riêng với hắn; đó là quyền của tôi, quyền của luật sư biện hộ. Ủy viên chính phủ đồng ý, và cho tôi biết: tôi có 5 phút. Rồi đoàn người bước ra khỏi phòng, để một mình tôi với hắn. Người cuối cùng đã bước ra khỏi phòng. Hắn nắm lấy tay tôi, và nhìn tôi rất lâu, đôi mắt ướt sũng. Tôi hỏi: ” Em có muốn nói nhắn với vợ em điều gì không? “.

Hắn suy nghĩ giây lát, rồi nói: ” Em bị chúng nó lừa. Luật sư có gặp vợ em, thì bảo đừng ở dưới vườn nữa, và nuôi lấy con “. Tôi hỏi: ” Em chết, có điều gì oán hận không? “. Hắn không trả lời. Tôi an ủi hắn: ” Người ta, ai cũng phải chết một lần, đời sau mới là quan hệ. Em theo đạo nào? “. Tôi là người Công giáo. Tôi ước ao hắn dành một vài phút để nghĩ đến Thượng Đế và tình thương bao la của Người.

Nhưng ủy viên chính phủ đã bước vào nói nhỏ: ” Luật sư hết giờ rồi “. Rồi ông thân mật hỏi hắn: ” Ở đây có hai vị tuyên úy em muốn nói chuyện với ai? “. Hắn nhìn nhà sư mặc áo tu hành, hắn nhìn vị linh mục mặc quân phục thiếu tá, rồi xin được nói chuyện với nhà sư.

Tôi cúi đầu theo ủy viên chính phủ và vị linh mục đi ra một góc phòng. Nhìn về phía hắn, tôi thấy nhà sư cúi đầu tụng kinh, và hắn cũng cúi đầu như lắng tai nghe kinh. Khoảng khắc, nhà sư ngẩng đầu lên, đặt tay lên vai hắn, trong một cử chỉ vỗ về bao dung. Lúc đó, đồng hồ trên tường chỉ đúng 5 giờ sáng, giờ khởi hành. Người ta xúm lại chung quanh hắn, mỗi người nói với hắn một câu chân tình.

Hắn như chợt nhớ ra, xin phép được thay quần áo. Một cảnh sát viên chạy lại cầm cái bọc quần áo đưa cho hắn. Hắn mở bọc, lấy ra một chiếc sơ mi cụt mầu xám, và một chiếc quần vải dragon đen đã bạc mầu.

Thay xong quần áo, hắn xin một điếu thuốc. Viên quản đốc nhà lao mỉm cười, rút trong túi ra một bao thuốc lá Ách Chuồn. Ông ta trịnh trọng lấy ra một điếu, dộng dộng trên ngón tay cái, rồi đưa cho hắn. Hắn ngậm điếu thuốc, và được viên quản đốc châm lửa. Lúc đó, nhân viên an ninh đến. Hắn ngoan ngoãn đưa hai tay chụm ra đằng trước để người ta còng.

Rồi đoàn người lặng lẽ đi ra. Hắn đi đầu, thản nhiên bước qua từng đợt cửa, thỉnh thoảng dùng hai tay còng đưa điếu thuốc lên môi. Khi đoàn người ra tới sân nhà lao, điếu thuốc gần lụi, và hắn buông rơi xuống đất. Hắn bước lên chiếc xe bít bùng, đầu hơi cúi xuống. Cửa xe đóng sập lại. Tôi lên xe riêng, lái thật nhanh ra khỏi nhà lao.

Chiếc xe của tôi lầm lũi đi trong đêm, ánh đèn pha chiếu dài cả con đường Hòa Hưng, rồi đường Lê Văn Duyệt. Thành phố Sài Gòn đang trở mình thức giấc, một vài gánh hàng đi nép bên lề đường. Và đó đây, có tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc xe Lam dậy sớm.

Tới bùng binh chợ Bến Thành, tôi đã thấy một đám đông bu quanh vùng ánh sáng của pháp trường cát. Những phóng viên ngoại quốc chạy nhốn nháo, với máy ảnh và máy quay phim. Cảnh sát chận xe tôi lại. Khi nhìn thấy chiếc áo đen của tôi, họ dẹp đám đông cho xe tôi tiến vào. Tôi đỗ xe sát chân tường Nha Hỏa Xa, cách pháp trường cát độ 30 thước. Những ngọn đèn pha cực mạnh đã được đặt tại đó chiều hôm trước. Tất cả đều chiếu vào pháp trường cát, tạo nên một vùng ánh sáng rợn người. Một chiếc cọc đen đứng cô đơn, đằng sau là những bao cát chất thành vòng cung. Cách đó 3 thước, là chiếc quan tài đậy nắp, trên nắp có một tấm vải trắng. Xa nữa là chiếc xe chữa lửa.

Tôi đứng trong vòng ánh sáng chưa được 10 phút thì nghe tiếng còi hụ. Người ta chạy nhốn nháo. Tôi háy mắt nhìn về phía tiếng còi hụ, thì thấy đoàn xe chở tội nhân đang tiến tới. Chiếc xe bít bùng đỗ lại bên lề đường. Lát sau hắn bước xuống khỏi xe. Tôi vội choàng lên người chiếc áo đen, chạy ra với hắn. Hắn và tôi đi đầu, theo sau là đoàn áp giải. Hắn bước đều đều, mặt cúi xuống đất. Dân chúng bu nghẹt chung quanh, chỉ chừa một lối đi được ngăn giữ bằng hàng rào an ninh. Bây giờ chúng tôi đã bước vào vùng ánh sáng.

Hắn bỗng ngửng đầu lên, và đứng khựng lại. Người lính đằng sau lấy tay đẩy nhẹ vào lưng hắn, hắn lại tiếp tục bước đi. Tôi đoán chiếc quan tài và chiếc khăn liệm đã làm hắn khựng lại. Hình ảnh trung thực của chiến tranh không được tìm thấy ở chiến trường ” da ngựa bọc thây “, mà được tìm thấy trong các bệnh viện, nơi đó có những hình hài cụt chân cụt tay, những đống thịt bầy nhầy, những hố mắt sâu thẳm, những cuốn băng bê bết máu, và những tiếng rên rỉ đau đớn. Và hình ảnh trung thực của cái chết vẫn là chiếc quan tài, tấm khăn liệm và những người thân yêu tiễn đưa.

Bây giờ, hắn và tôi đã bước vào trong vòng những bao cát. Người ta mở còng, rồi giữ ghì lấy hai cánh tay hắn, đẩy hắn dựa lưng vào chiếc cọc sắt. Hai cổ chân hắn bị cột chặt vào thân cọc, hai cánh tay hắn bị kéo ngược ra đằng sau, cột ngược vào một cái cọc ngang. Chiếc cọc ngang này hơi cao, hắn phải kiễng chân lên. Hắn nhăn mặt kêu đau. Tôi nói với viên sĩ quan: ” Đằng nào tội nhân cũng sắp chết, ông nên cho hạ thấp chiếc cọc ngang xuống, kẻo máu bị ngừng ở nơi nách, tội nghiệp”. Viên sĩ quan gật đầu, hạ thấp chiếc cọc ngang xuống.

Hắn nhìn tôi, và lần đầu tiên hắn nói: “Cám ơn luật sư “. Lúc đó, đội hành quyết đã sắp hàng chỉnh tề, chỉ còn đợi sĩ quan Quân Trấn Trưởng của Quân khu Sài Gòn đến là khởi sự. Một phút, hai phút, rồi ba phút… Cả pháp trường im lặng, trong sự đợi chờ và trong ánh sáng chói chang.

Chỉ còn mình tôi đứng bên cạnh hắn. Hắn bỗng trăn trối: “Em đã bị chúng nó lừa. Luật sư nhớ bảo vợ em đừng ở dưới vườn, đừng nghe theo chúng nó và gắng nuôi con“. Tôi gật đầu. Hắn nấc lên: ” Con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi “. Tiếng nấc của hắn làm tôi mủi lòng.

Tôi để tay lên vai hắn, định an ủi, nhưng cổ họng bị tắc nghẽn. Tôi chợt nghĩ đến linh hồn hắn. Tôi thì thầm bên tai hắn: ” Em hãy ăn năn hối cải, và cầu xin Chúa giúp em chết lành. Em chết, nhớ phù hộ cho vợ con em “. Hắn lại nấc lên: ” Con ơi, con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi “. Lúc đó, có tiếng còi hụ. Quân Trấn Trưởng đến. Đội hành quyết đứng nghiêm.

Người ta bịt mắt hắn. Hắn vẫn nấc, vẫn gọi tên con. Có tiếng lên đạn đàng sau lưng tôi. Ủy viên chính phủ nói lớn: ” Xin ông luật sư đứng tránh xa ra một bên “. Tôi đi giật lùi ngang về phía bên trái, mắt không rời hắn. Miệng hắn vẫn lắp bắp gọi tên con. Một tiếng hô. Một loịat đạn nổ. Đầu hắn ngoẹo xuống, gục về bên trái. Máu từ trong người hắn chảy róc xuống đùi, xuống chân, rồi bò ngoằn ngoèo trên lề đường.

Viên đội trưởng hành quyết tiến lại, nắm tóc kéo ngược đầu hắn về phía sau, dí khẩu súng lục vào màng tang bên trái của hắn, bắn phát súng ân huệ. Một tiếng ” đẹt ” khô khan. Người ta vội vàng liệm xác hắn, và chiếc vòi nước của chiếc xe chữa lửa vội vã phụt sạch những vết máu trên lề đường. Phương Đông, chân trời đã bắt đầu hừng đỏ.

Tối hôm đó, đài phát thanh Hà Nội mặc niệm hắn, hết lời ca tụng cái chết anh hùng của hắn. Đài phát thanh Hà Nội nói rõ ràng: từ lúc bị trói vào cọc cho đến lúc bị hành quyết, hắn đã noi gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, không ngớt đả đảo Mỹ Ngụy và hô to khẩu hiệu ” Hồ Chí Minh muôn năm “.

Nguyễn Văn Chức

Chú thích (của luật sư Nguyễn Văn Chức):

Dưới đây là những chi tiết liên quan đến vụ Trần Văn Đang. Bị can sinh năm 1942 tại Vĩnh Long, bị bắt ngày 30 tháng 3 năm 1965 trong khi đặt chất nổ, bị đem ra tòa án Mặt Trận hai tuần sau, và bị bắn tại pháp trường cát bùng binh chợ Bến Thành sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965.

Chánh thẩm xử án là đại tá Phan Đình Thứ (tức Lam Sơn), linh mục tuyên úy Công giáo tên Thông, nhà sư tuyên úy Phật giáo là đại đức Sĩ. Quân Trấn Trưởng là đại tá Giám.

Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ngày 9 tháng 5 năm 1964, trong lúc đặt bom ở gầm cầu Công Lý, chờ ám sát phái đoàn của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mc Namara. Y bị toà án Vùng 3 Chiến Thuật xử tử hình. Trước toà, y khóc lóc, chửi bọn xúi y đi ôm bom là bọn ” chó đẻ “, và xin toà tha tội. Khi toà tuyên án tử hình, y hô to Hồ Chí Minh muôn năm. Hô xong y lại khóc và xin toà tha.

****Năm 1993, tôi (luật sư Nguyễn Văn Chức) có đọc cuốn ” Chung Một Bóng Cờ ” do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia (Hà Nội) ấn hành, gồm những bài viết của Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng… Cuốn sách đã dành một trang để nói về cái chết của Anh Hùng Trần Văn Đang. Xin trích một vài dòng cuối:

“Sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965 lúc 5 giờ 52 phút, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đem anh ra xử bắn tại pháp trường cát, với hy vọng có thể khủng bố được tinh thần nhân dân Sài Gòn. Nhưng chúng đã lầm. Trước đông đảo đồng bào và phóng viên trong và ngoài nước đang tụ tập dọc đường Hàm Nghi và chợ Bến Thành, vừa bước xuống xe, Trần Văn Đang dõng dạc nói lớn: Hỡi đồng bào chợ Bến Thành, hỡi đồng bào Sài Gòn thân yêu, tôi là Trần Văn Đang đây, chiến sĩ giải phóng, tôi đánh Mỹ để giải phóng dân tộc… Đả đảo đế quốc Mỹ… đả đảo tập đoàn tay sai bán nước. Ngay sau khi súng đã nổ, anh vẫn không ngừng hô to Hồ chủ tịch muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ ” (trích trong Chung Một Bóng Cờ, trang 886-887).

phamthangvu  (
Đăng trên website: khaiphong.org
____.
Tiết lộ của Trần Văn Đang cho thấy sự gia nhập vào hoạt động khủng bố kiểu cộng sản của anh 1960s cũng không khác gì với sự gia nhập vào Bọn khủng bố ISIS thời nay:
__

Sự thật ‘té ngửa’ về các tân binh IS

03:00 | 17/08/2016

Một loạt tài liệu về Nhà nước Hồi giáo (IS) vừa rò rỉ cho thấy, hầu hết các tân binh của tổ chức khủng bố này không hề biết đến đạo Hồi hay luật Sharriah.

Hàng nghìn tài liệu đã hé mở sự thật về hơn 4.000 người tìm đường vào Syria để đầu quân cho IS.

IS, Nhà nước Hồi giáo, Hồi giáo, tân binh, sự thật
Một nghi phạm IS bị đưa ra tòa ở Phần Lan ngày 11/12/2015. (Ảnh: AP)

Những tài liệu này – được hãng tin AP tiến hành phân tích – cho thấy khoảng 70% số tân binh IS hiểu “thấp tận đáy” về luật Shariah, trong khi 24% biết “vừa vừa” và chỉ 5% hiểu “sâu”.

Theo AP, tài liệu rò rỉ cho thấy những người có kiến thức hạn hẹp về đức tin Hồi giáo thường dễ bị tổn thương và nghe theo lời dụ dỗ của kẻ tuyển dụng IS. Họ đông hơn nhiều so với những thành phần hiểu sâu và “rõ ngọn nguồn” về đạo Hồi.

Giả thuyết này được củng cố không chỉ bởi các tài liệu rò rỉ mà AP có được, mà còn trong cả những lời khai của các tân binh IS đào tẩu khỏi tổ chức tàn ác này.

“Tôi nhận ra mình đã đến không đúng nơi khi chúng hỏi tôi các kiểu như “khi bạn chết thì chúng ta sẽ gọi ai?” – một người châu Âu 32 tuổi kể lại. Anh này cho biết, bản thân cứ nghĩ mình đang gia nhập quân nổi dậy Syria chống lại Tổng thống Bashar al-Assad.

Chiến binh IS giấu tên còn kể lại quá trình bị “tẩy não” bởi các video tuyên truyền, các chuyến ghé thăm của các imam (lãnh tụ đạo Hồi) khuyến khích tử vì đạo, bị ép phải cắt đứt quan hệ với gia đình và phải từ bỏ tất cả các thiết bị điện tử của mình.

Trong số các tài liệu bị rò rỉ còn nhắc đến một trong những tân binh, tên là Karim Mohammad-Aggad. Người này được xác định có kiến thức cơ bản về luật Shariah và được một tân binh IS “thủ thỉ rủ rê”.

Sau khi đến Syria, nhận ra mọi thứ không “như mơ” và bị đối xử như một “kẻ bội giáo”, Karim đã đào tẩu khỏi IS và trở về Pháp năm 2013. Người đàn ông này cùng nhiều đồng phạm đã bị bắt giữ.

Tuy nhiên, các nhà chức trách Pháp đã bỏ sót một nghi phạm chính. Đó là anh trai của Karim, một trong 3 kẻ đã tấn công Bataclan ngày 13/11 năm ngoái làm 130 người chết.

Thanh Hảo

http://m.vietnamnet.vn/vn/the-gioi/321441/su-that-te-ngua-ve-cac-tan-binh-is.html

Posted in Công An, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Tịch thu giường ngủ ở Thanh Hóa, cựu ĐBQH: “Đó là trấn lột”

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2016

 

TTT/ Soha

Hoàng Đan

14-8-2016

Ông Lê Như Tiến. Ảnh: T.C

Ông Lê Như Tiến. Ảnh: T.C

“Tôi cho rằng, có lẽ đang hình thành tầng lớp giống như lý trưởng, chánh tổng ngày xưa, đó là cường hào mới ở nông thôn. Chỉ có cường hào mới thì mới o ép dân đến như thế”.

Trấn lột người dân…

Xung quanh thực trạng “mùa đóng góp kinh hãi” ở Thanh Hóa, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Lê Như Tiến, đại biểu Quốc hội khóa 12, 13, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội khóa 13.

PV: Vừa qua, báo điện tử Trí Thức Trẻ liên tục có các phản ánh về thực trạng lạm thu, tận thu ở một số địa phương của huyện Hậu Lộc, Nông Cống (Thanh Hóa).

Trong đó, tại xã Trường Sơn, huyện Nông Cống, ngay kể gia đình liệt sỹ, do khó khăn, không đủ tiền đóng góp nên bị xã cắt hộ nghèo, hay có gia đình nghèo cũng vì không đóng đủ các khoản đóng góp đã bị xã, thôn đến tịch thu chiếc giường cũ.

Khi tiếp nhận các thông tin, ông có suy nghĩ, nhìn nhận gì về thực trạng đau xót này?

Ông Lê Như Tiến: Trước đây, tôi cũng đã từng có thông tin về một số huyện của một vài địa phương ở miền Trung có hiện tượng lạm thu. Trước đây là Hà Tĩnh và giờ là ở Thanh Hóa.

Miền Trung vốn dân đã nghèo rồi lại còn bị như thế. Tôi còn nhớ, trước đây, khi Quốc hội đã có nghị quyết về việc không thu thuế nông nghiệp nhưng họ vẫn thu, rồi bày ra rất nhiều khoản thu khác như thu về an ninh, trật tự trị an…

Nhiều khi khoản thu do chính quyền địa phương tạo ra khiến cho người dân vốn đã khó khăn, nghèo nàn rồi lại càng khó khăn hơn. Ở đây, cần xem lại những khoản thu đó có nằm trong quy định không hay thôn, xã tự nghĩ ra.

Người ta đã nghèo như thế mà vào còn tháo cả giường của dân ra, rồi có cái gì lấy được là lấy đi thì đó không phải vì dân mà hành động đó rất phản cảm, nặng hơn nữa thì đó là trấn lột của dân chứ không phải thu khoản này khoản khác.

Trước hết, phải kiểm tra xem các khoản thu đó có nằm trong quy định không? Có được cấp có thẩm quyền cho phép không? Chứ không phải anh tự nghĩ ra, thu gì tự thu.

Nếu như mà cần vận động người dân đóng góp khoản nào đó như chỉnh trang đường nông thôn, các phong trào… thì đó chỉ là vận động, phải để người dân tự giác.

Còn việc bắt buộc người dân phải nộp, không nộp thì trấn cái nọ, trấn cái kia thì điều đó không thể được.

Tôi đề nghị các cấp có thẩm quyền tức là lãnh đạo cao hơn như huyện, thậm chí cấp tỉnh của Thanh Hóa phải kiểm tra, rà soát lại xem như thế có đúng không và nếu không đúng theo quy định thì chấn chỉnh, sửa ngay.

PV: Thưa ông, có một câu chuyện đáng buồn xảy ra ở xã Trường Sơn khi một gia đình liệt sỹ thuộc diện hộ nghèo vì không đủ tiền đóng góp đã bị xã “cắt” hộ nghèo và cho biết, khi nào trả đủ các khoản sẽ được trả lại.

Ông có bình luận gì về việc này?

Ông Lê Như Tiến: Tôi nghe câu chuyện này mà thấy đau lòng. Gia đình liệt sỹ, thân nhân liệt sỹ đáng lẽ phải được hưởng chế độ ưu đãi người có công cao hơn nhưng vì chúng ta còn khó khăn nên ưu đã thấp, nay thuộc diện hộ nghèo nhưng vì không đóng đủ tiền đóng góp mà lại bị cắt hộ nghèo.

Lại còn đe dọa là phải nộp đủ mới trả lại chế độ hộ nghèo, việc này là trái với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tôi đề nghị thanh tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thanh tra Chính phủ phải vào cuộc uốn nắn ngay. 

Đồng thời, phải có xử lý, kỷ luật đối với các tập thể hoặc cá nhân mà tự ý tạo ra các khó khăn cho người dân như thế và có những hành vi phản cảm như thế.

Đề nghị Chính phủ vào cuộc

PV: Khi trao đổi với chúng tôi, cựu ĐBQH Lê Văn Cuông có nhìn nhận thực trạng lạm thu, tận thu này cho thấy dường như đang có sự xuất hiện trở lại của một bộ phận “cường hào, ác bá” ở nông thôn khi tự ý đặt ra các khoản thu lên đầu người dân.

Từng là ĐBQH, trước thực trạng ở một số nơi như vậy ông có thấy điều này không?

Ông Lê Như Tiến: Tôi cũng thấy thế và vì thế tôi mới dùng từ rất mạnh, đấy không phải là hình thức thu mà là trấn lột. 

Trấn lột của dân, đó là từ rất mạnh đối với những người có lương tri, lương tâm và phải dùng từ như thế mới lột tả được hết hành vi phản cảm của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền như thế ở địa phương.

Tôi cho rằng, có lẽ đang hình thành tầng lớp giống như lý trưởng, chánh tổng ngày xưa, đó là cường hào mới ở nông thôn. Chỉ có cường hào mới thì mới o ép dân đến như thế.

Ở đây, không phải tìm hiện tượng, hành vi mà quan trọng hơn chính là tiếng chuông cảnh báo để cho các quan chức cấp cao ở huyện Nông Cống nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung, thậm chí cả các tỉnh có hiện tượng như thế phải chấn chính ngay.

Các quan chức tỉnh Thanh Hóa cần vào cuộc ngay, ví dụ như việc gia đình liệt sỹ ở trên thì Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương phải lên tiếng và Thanh tra phải vào cuộc.

Ngoài Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thanh tra Chính phủ, tôi cũng đề nghị Thường trực Chính phủ nên có công điện để chấn chỉnh ngay việc này.

Trước đó, sau khi nhận được thông tin cung cấp từ phóng viên Báo điện tử Trí Thức Trẻ, ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa 14 ứng cử tại Thanh Hóa cho hay, ông sẽ có ý kiến với tỉnh về việc này.Còn ông Đỗ Trọng Hưng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa 14 của tỉnh cũng cho biết, ông sẽ yêu cầu lãnh đạo huyện Nông Cống báo cáo về vấn đề này.

_____

TTT/ Soha

Gia đình liệt sỹ bị cắt nghèo ở Thanh Hóa đã được trả sổ hộ nghèo

Tuấn Nam – Đào Tuy

14-8-2016

Gia đình anh Phạm Hữu Hùng (con trai liệt sĩ Phạm Hữu Đường) có sổ hộ nghèo bị thu

Gia đình anh Phạm Hữu Hùng (con trai liệt sĩ Phạm Hữu Đường) có sổ hộ nghèo bị thu. Ảnh: Soha/ TTT

Gia đình liệt sỹ nghèo được trả sổ hộ nghèo, một số hộ dân được trả lại tiền… là thông tin mới sau loạt bài “mùa đóng góp kinh hãi” ở Thanh Hoá của Báo điện tử Trí thức trẻ.

“Nếu Tỉnh về, nhà báo về thì trả lời… lại”

Trao đổi ngày 14/8 với chúng tôi, anh Phạm Hữu Hùng, con trai liệt sĩ Phạm Hữu Đường – nhân vật chính trong bài viết “Gia đình liệt sỹ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ” ở xã Trường Sơn (huyện Nông Cống, Thanh Hoá) cho biết, gia đình anh vừa nhận được sổ hộ nghèo.

Trong buổi làm việc để trao trả sổ hộ nghèo, theo lời anh Hùng, có cả Bí thư huyện uỷ huyện Nông Cống.

Cụ thể, người đàn ông này cho hay:“Chiều qua, 13/8, huyện đã trao sổ hộ nghèo cho gia đình tôi vào lúc 15h.

Họ nói sổ đã có từ lâu, nhờ người chuyển về hộ nhưng bị thất lạc nên giờ mới đưa cho được. Sổ có từ ngày 5/1/2016. Họ cũng bảo là tới đây tỉnh về, nhà báo về thì có gì trả lời lại… Nhưng không, có gì, tôi nói thật”, anh Hùng kể.

H1Vợ chồng anh Hùng tối ngày phải ở ngoài lều vịt giữa đồng làng.

Anh Hùng chưa hết bức xúc cho biết thêm, tại buổi họp anh đã chất vấn các vị lãnh đạo: “Sổ có từ đầu năm mà cho đến khi các anh nhà báo đưa thông tin lên thì mới trả nhà tôi là sao?

Tôi đề nghị các ông phải xác nhận là các ông phát sổ hộ nghèo cho tôi vào hồi 15h ngày 13/8.

Họ nói: “Có gì thông cảm”. Tôi bảo không thông cảm. Có chi sau này các ông lật lại lời tôi, lật lại nhà báo lại bảo tôi nói bậy. Sau này nhà báo hay Thanh tra về thì các ông phải chấp nhận là đưa cho tôi ngày 13/8 chứ không phải trước đó”.

Một trong những bằng chứng anh Hùng đưa ra cho lãnh đạo Huyện về việc chưa nhận được sổ hộ nghèo đó là từ đầu năm 2016 đến nay, khi đi khám bệnh, anh vẫn phải chi trả đầy đủ các khoản. Có lúc thiếu, anh và gia đình vẫn phải đi vay để trả viện phí.

Trao đổi với chúng tôi, Chánh văn phòng UBND huyện Nông Cống Hà Vĩnh Thanh cho biết: “Sau khi bài báo lên, Chủ tịch huyện Trần Văn Tuấn đã có văn bản chỉ đạo thành lập tổ xác minh thông tin báo chí. Trong tuần tới sẽ có thông tin phản hồi tới báo chí”.

“Dứt khoát không để những khoản thu không hợp lý phát sinh”

Cũng liên quan đến “sưu cao thuế nặng”, tình trạng lạm thu của xã Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hoá) cũng được dư luận hết sức quan tâm, sau khi có thông tin báo Trí thức trẻ phản ánh, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Văn Liêm, Phó Bí thư Đảng ủy xã Hưng Lộc về vấn đề này.

Theo lời ông Liêm, xã đã xử lý và ra quyết định: Những khoản thu không hợp sẽ tiến hành trả lại cho bà con hết. Tuy nhiên, việc này phải tiến hành lần lượt.

H1

Nhà có 6 khẩu, anh Nguyễn Văn San – một hộ dân ở xã Hưng Lộc (Hậu Lộc) phải đóng hơn 3,5 triệu đồng cho một “mùa đóng góp”.

Khi chúng tôi hỏi về ý kiến của người dân trong xã, ông Liêm cho biết: “Mình tổ chức họp, bà con cũng dân chủ, cái nào hợp lý thì bà con thống nhất thôi”.

Nói về vai trò giám sát của HĐND xã trong việc thu các loại quỹ của người dân, ông Liêm cho biết: “Xin rút kinh nghiệm. Những cái nào bãi bỏ rồi thì đợt thu tới sẽ xoá bỏ. Sẽ thực hiện tinh thần giám sát chặt chẽ tiếp. Dứt khoát không để những khoản thu không hợp lý phát sinh”.

Khi được hỏi về việc những cán bộ thu sai của dân, sau việc phải trả lại bà con tiền, liệu có xin lỗi nhân dân không thì ông Liêm nói không.

Vị Phó Bí thư này cho biết: “Tất cả những việc làm ấy do tổ chức sẽ tiến hành xử lý từng phần việc một. Bước đầu tiên là phải họp dân để báo cáo với dân xem những khoản nào mà chưa hợp lý về mặt đối tượng thì sẽ xử lý”.

Còn về tổng số tiền do thu bất hợp lý phải trả lại cho người dân là bao nhiêu thì vị Phó Bí thư xã này cho biết, hiện chưa xác minh được, phải tập hợp cụ thể do không đồng bộ giữa các thôn: Mỗi nơi mỗi khác. Có nơi thu 2000 đồng/khẩu nhưng có nơi thu 3000 đồng/khẩu.

Kết thúc cuộc trao đổi, thêm một lần nữa, vị cán bộ này khẳng định: “Qua quá trình rà soát xem khoản nào không hợp lý thì sẽ trả lại hết”.

_____

Mời xem lại: Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ  —Ra văn bản khẩn chỉ đạo sau loạt bài “mùa thuế phí kinh hãi” (TTT/ Soha). – Mùa “đóng góp” hãi hùng ở Thanh Hoá: Xông vào nhà tịch thu cả giường ngủ để ép dân nghèo nộp tiền (TTT/ Soha/ BS). – “Chế độ ta làm gì có sưu cao, thuế nặng như thời phong kiến”   — Lạm thu ở Thanh Hoá: Bí thư huyện nói về việc tạo sức ép với xã   —   Ông Dương Trung Quốc nói về mùa “sưu thuế kinh hãi” ở Hậu Lộc (TTT/ Soha)

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ cho thôn, UBND xã

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2016


Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ

12-8-2016

Vợ chồng anh Hùng tối ngày phải ở ngoài lều vịt giữa đồng làng.
Kiệt quệ, không còn tiền để đóng quỹ làng, một gia đình liệt sĩ bị cắt… hộ nghèo. Chuyện tưởng như đùa này lại có thật ở xã Trường Sơn (huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa).

*Xem toàn bộ tuyến bài “Sưu thuế hãi hùng ở Thanh Hóa” TẠI ĐÂY

LTS: Thu vô tội vạ, cùng kiệt sức đóng góp của người dân, đó là thực tế đã và đang diễn ra ở một số làng thuộc xã Trường Sơn.

Đau xót hơn và phẫn uất hơn, để người dân phải răm rắp hoàn thành các chỉ tiêu đóng góp dưới “cái mũ” là tự nguyện, chính quyền địa phương đã thực hiện những chiêu thức cưỡng ép chỉ thấy ở thời… phong kiến.

Không đủ tiền đóng góp, gia đình liệt sĩ bị bạc đãi bằng việc cắt tiêu chuẩn hộ nghèo, thậm chí có gia đình còn bị tịch thu cả chiếc giường cũ kỹ, tài sản duy nhất trong nhà…

Nỗi niềm của người đàn ông có cha là liệt sĩ

Giữa trưa, làng Thành Liên (xã Trường Sơn) vắng ngắt. Trời như đổ lửa nên chẳng mấy ai muốn ló mặt ra khỏi nhà. Tuy nhiên, giữa cánh đồng làng vẫn có một người đàn ông lụi cụi lùa đàn vịt dưới kênh.

Người đàn ông đó chính là nhân vật mà chúng tôi tìm kiếm, anh Phạm Hữu Hùng, con trai liệt sĩ Phạm Hữu Đường, người đã hi sinh ở chiến trường Quảng Trị năm 1972.

Anh Hùng cất tiếng khóc chào đời trước ngày bố anh nằm xuống đúng một tháng.

“Tôi chỉ nghe mọi người trong làng kể, tả lại về cha mình thôi. Ngày còn bé, hỏi về cha, mẹ tôi cũng cứ ú ớ, chẳng nhớ được gì. Nhận được tin cha tôi không còn nữa, sốc nặng bà ấy đã như người điên dại”, nhắc về người cha liệt sĩ của mình, anh Hùng chia sẻ.

Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 1.

Chí thú làm ăn nhưng vợ chồng anh Hùng vẫn sống trong nghèo khó.

Nhà anh Hùng ở đầu xóm. Ngôi nhà giản đơn như nhiều nhà ở vùng nông thôn. Trong nhà, ngoài chiếc ti vi cổ lỗ và mấy cái ghế nhựa thì không thấy thứ gì đáng gọi là tài sản. 

Thấy nhà có khách lạ, bà Ngô Thị Dậu, người từng chết điếng bởi tin chồng ngã xuống ngoài chiến trường năm nào lật đật tới kéo ghế ngồi cạnh con mình. Bà cứ ngồi thế chăm chú nhìn chúng tôi trò chuyện.

“Mẹ tôi năm nay hơn 70 tuổi rồi, bà vẫn lúc tỉnh lúc mê. Tôi chỉ mong mẹ tôi khỏe, không ốm đau gì nữa để con cháu được yên tâm làm ăn thôi”, anh Hùng thật thà.

Trong nhà không có nhiều đồ vật đáng giá nhưng trên tường lại dán chi chít giấy khen. “Tôi có 3 cháu, các cháu đều học được. Mình không có tiền bạc thì cũng cố gắng cho con cái chữ. Chỉ mong cháu học tốt để sau này thoát ly…”, anh Hùng lấp lửng.

“Đấy, cũng vì sức ăn sức học của ba đứa con mà nhà tôi phải nợ một phần tiền quỹ thôn đấy. Tôi cũng muốn đóng hết cho xong nhưng mà nghèo quá!”, chị Nguyễn Thị Vân, vợ anh Hùng góp chuyện.

Chị Vân bảo, ở đây, không chỉ xã, thôn mà trường học cũng thu nhiều khoản đóng góp. Những ngày chuẩn bị cho năm học mới này vợ chồng chị lại nát óc nghĩ cách xoay tiền để 3 đứa con được đến trường.

“Mỗi đứa đóng đến 4-5 triệu đồng chứ chả ít đâu, trước còn hộ nghèo thì còn đỡ, chứ giờ mất hộ nghèo rồi xoay tiền mệt lắm!”, chị Vân rầu rĩ.

Nhắc đến chuyện hộ nghèo, anh Hùng bỗng dưng bức xúc: “Đấy, các anh xem, chẳng đâu như ở đây! Nhà tôi nghèo, không có tiền đóng góp cho thôn thì họ lại cắt luôn cái hộ nghèo của tôi…”.

Đau đầu với “trát đòi tiền”

Theo như lời anh Hùng, bởi đông con, bởi phải nuôi mẹ già ngẩn ngơ bệnh tật, nên dù đầu tắt mặt tối quanh năm, nghèo khó vẫn cứ bám riết lấy gia đình anh.

Từ năm 2011, gia đình anh được chính quyền địa phương bình xét là hộ nghèo của thôn, được hưởng các chế độ ưu đãi của nhà nước.

Mấy năm sau (từ 2013 đến 2015) kinh tế gia đình anh đã khá hơn, tuy nhiên vẫn nằm ở nhóm cận nghèo. Năm nay, bởi chị Vân vợ anh đau ốm, thuốc thang tốn kém, gia đình anh lại tái nghèo.

“Theo những tiêu chí mà nhà nước đưa ra thì gia đình tôi thừa tiêu chuẩn là hộ nghèo đấy. Xã cũng đã bình xét, chấp thuận rồi nhưng chỉ vì chưa đóng hết tiền quỹ cho thôn nên họ đẩy gia đình tôi ra.

Nói thật, để mọi người công nhận là mình nghèo thì cũng xấu hổ lắm nhưng khó khăn quá nên tôi chẳng biết tính sao!“, anh Hùng thểu não.

Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 2.
 
Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 3.
 
Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 4.

Cứ sau mỗi vụ thu hoạch, giống như nhiều gia đình khác, gia đình anh Hùng đều nhận được 3 tờ “trát đòi tiền” này. Khoản nợ tiền đường được ghi rõ ràng ở cuối tờ thông báo thứ ba.

Cầm tệp thông báo các khoản thu mà gia đình phải đóng hàng năm, anh Hùng bảo, anh chưa thấy nơi nào người dân phải đóng góp nhiều như ở quê anh.

“Đây các anh xem, đóng góp thế này thì nhà nghèo như tôi theo sao nổi!”, anh Hùng bức xúc.

Căn cứ vào những tờ “trát đòi tiền” của gia đình anh Hùng thì giống như xã Hưng Lộc (Hậu Lộc), xã Trường Sơn cũng tiến hành thu các khoản đóng góp hàng năm của người dân vào hai đợt.

Đợt thứ nhất là vào đầu tháng 6, đợt hai vào trung tuần tháng 10.

Tuy giống nhau về kiểu thu nhưng lượng tiền mỗi hộ dân ở Trường Sơn phải đón khủng khiếp hơn rất nhiều và trong đó, có những khoản mà đến giờ nhiều người vẫn không hiểu là… thu để làm gì!

Anh Hùng cho biết, cứ đến “mùa đóng góp” là chính quyền địa phương lại phát cho gia đình 3 tờ thông báo các khoản đóng góp được in kín trên mặt giấy A4.

Tờ thứ nhất là “Thông báo các khoản thu của xã”.

Thông báo này có kèm lời mào đầu theo kiểu rào trước đón sau: “Căn cứ vào nghị quyết HĐND xã kỳ họp thứ… Theo kết quả vận động của UBMTTQ xã về việc vận động cử tri đối với các khoản đóng góp tự nguyện. UBND xã Trường Sơn xin thông báo cho gia đình ông, bà…”

“Lời mào đầu” này, theo tìm hiểu của chúng tôi, xuất hiện đều đặn trên các tờ phiếu thu từ nhiều năm trước ở địa phương này.

Căn cứ vào thông báo trên thì 6 tháng đầu năm 2016, UBND xã Trường Sơn thu của gia đình anh Hùng 4 khoản, ấy là Phí Xây dựng kênh mương nội đồng, Quỹ đầu tư công và phát triển sản xuất, Quỹ an ninh- quốc phòng, Quỹ phòng chống thiên tai.

Tờ thứ hai là phần thu của làng.

Theo đó, làng Thành Liên tiến hành thu các khoản sau: Quỹ văn hóa làng, Quỹ an ninh xã hội, Quỹ đầu sào bảo vệ – thủy lợi, Quỹ thiếu niên nhi đồng, Quỹ khuyến học, Hội phí khuyến học.

Tờ thứ ba là thông báo về các khoản thu của các tổ chức ở trong làng. Tờ này, ngoài các khoản thu để phục vụ sản xuất thì cũng xuất hiện rất nhiều loại quỹ.

Cụ thể là Quỹ theo nghị quyết đại hội đại biểu xã viên, Phí thủy nông nội đồng, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, Quỹ chăm sóc bà mẹ trẻ em và người cao tuổi, quỹ khuyến học, Quỹ tổ an ninh xã hội…

Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 5.

Đông con, lại thêm nuôi mẹ già bệnh tật và phải gồng gánh vô số những khoản đóng góp cho làng, xã, anh Hùng bảo, nhà anh chắc chắn là… nghèo bền vững.

Anh Hùng bảo, dù năm nào cũng hai bận đóng góp nhưng nhìn vào 3 tờ “trát đòi tiền” trên, anh không thể hiểu hết “ý nghĩa” của các khoản thu đó.

Không chỉ anh Hùng mà nhiều người trong làng thừa nhận, nhiều khoản thu của địa phương cứ na ná nhau và có những khoản xã, thôn, các tổ chức đều thu. Thậm chí, có khoản có tên nhưng không biết thu để sử dụng vào việc gì.

 

Nhà anh Hùng có 5 khẩu (chỉ có 2 lao động), tổng các khoản phải đóng 6 tháng đầu năm 2016 là gần 1,7 triệu đồng.

Anh Hùng bảo, tuy vụ nào cũng phải đóng trên dưới 3 tạ thóc nhưng gia đình anh vẫn cố gắng làm tròn nghĩa vụ với làng, xã. Tuy nhiên, trên đây mới chỉ là những khoản… vặt vãnh.

“Sợ nhất là khi xã, làng có công trình. Khi đấy thì mình đóng… kiệt sức luôn”, anh Hùng chia sẻ.

“Nộp tiền sẽ được… hộ nghèo!”

Theo anh Hùng, khi có công trình cần xây dựng thì làng cứ bổ theo đầu khẩu mà thu. Trẻ con vừa mới oe oe cũng phải đóng góp không thiếu một xu như người trưởng thành (người già trên 65 tuổi vẫn phải đóng một nửa).

“Làng làm công trình từ những năm 2007 cơ, cứ công trình này nối công trình kia, chẳng vụ nào ngưng việc đóng góp cả”, anh Hùng cho biết.

Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 6.

Anh Hùng bảo, lo các khoản đóng góp thường xuyên đã mệt nên có thêm khoản “quỹ công trình” thì gia đình anh hụt hơi.

Theo đó, dự toán các công trình trên, anh Hùng nhẩm tính mỗi khẩu nhà anh phải đóng trên dưới 6 triệu đồng. Số tiền ấy được thôn chia ra và thu dần vào mỗi vụ đóng góp.

“Cả tiền quỹ công trình, cả tiền quỹ thôn, có vụ nhà tôi đóng đến vài triệu bạc. Thôn này có gia đình phải đóng đến cả chục triệu đồng mỗi vụ ấy chứ!”, anh Hùng chia sẻ.

Theo như lời con trai liệt sĩ chống Mỹ này thì vụ thu nặng nhất khiến gia đình anh “hụt hơi” là vụ đóng góp đầu năm 2014.

Năm đó, bởi phải quyết toán công trình, nên ngoài những khoản thu chằng chịt định kỳ thì mỗi khẩu ở làng phải đóng thêm gần 1,3 triệu đồng.

Nhà đông khẩu, chạy theo các khoản thu thường xuyên đã bở hơi tai, đóng thêm hơn 6 triệu đồng nữa đã khiến vợ chồng anh kiệt sức. Không biết xoay đâu ra, anh đành nợ lại.

Vậy là cộng thêm khoản nợ trước, gia đình anh Hùng nợ làng hơn 7 triệu đồng. Và, chính khoản nợ này đã khiến gia đình anh Hùng bị “tước” “danh hiệu” hộ nghèo.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, đợt xét duyệt vừa qua, thôn Thành Liên có 8 gia đình đủ tiêu chí hộ nghèo và gia đình anh Hùng cũng nằm trong số đó.

Không chỉ có gia đình anh Hùng, ở làng còn gia đình chị Lê Thị Soi cũng nằm trong diện “không đóng tiền thì mất hộ nghèo”.

Tuy nhiên, khi nhận được “tối hậu thư” của làng, chị Soi đã chạy vạy để hoàn thành một phần khoản nợ mà gia đình mình mấy năm nặng gánh.

Vượt “cửa tử” vào phút chót, gia đình chị Soi đã “rinh” về “phần thưởng” là mảnh giấy chứng nhận… hộ nghèo, còn gia đình anh Hùng bởi không thể xoay nổi tiền nên đành bị cắt.

Gia đình liệt sĩ bị cắt hộ nghèo vì không còn tiền… đóng quỹ - Ảnh 7.

Ông Nguyễn Sỹ Thành, Trưởng làng Thành Liên khẳng định, gia đình anh Hùng hoàn thành các khoản đóng góp thì làng sẽ… trả hộ nghèo.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Sỹ Thành, Trưởng làng Thành Liên thừa nhận, gia đình anh Hùng bị “tước” hộ nghèo chính vì… không chịu đóng số tiền nợ quỹ làng trên. “Bây giờ anh Hùng nộp tiền sẽ được hộ nghèo ngay”, ông Thành khẳng định.

Cũng theo ông Thành, ông đã nhiều lần khuyên vợ chồng anh Hùng cố gắng trả bớt khoản nợ trên nhưng không có kết quả.

“Nhà anh Hùng có 5 khẩu, có nhà 9-10 khẩu vậy mà người ta vẫn đóng được. Chúng tôi đã gửi văn bản họp dân lên xã. Lãnh đạo xã bảo, cứ bao giờ anh Hùng đóng tiền đường thì sẽ bàn giao quyết định (chứng nhận hộ nghèo– PV)”, ông Thành khẳng định.

(Còn tiếp

 

+++++

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Sợ cách mạng Biển Chết bùng nổ, Hà Nội tìm mọi cách hạ nhiệt

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2016

Kông Kông

14-8-2016

anhbasàm

Hai mươi tám năm trước, (1988), một người phải chạy trốn làng quê, từ Thanh Hóa ra Hà Nội, được nhà văn Nguyên Ngọc, lúc đó đang là Tổng Biên tập báo Văn Nghệ, cho tá túc ngay tại tòa soạn, Phùng Gia Lộc: viết lại Cái đêm hôm ấy… đêm gì? một sự kiện xảy ra 5 năm trước đó, 1983.

Nội dung bút ký (không phải truyện) kể việc chính quyền địa phương kéo nhau đến nhà một nông dân nghèo, lúc nửa đêm, để truy thuế, vì gia chủ không có tiền đóng. Chính vì nghèo mạt rệp nên con cái phải lo liệu trước việc tang ma, cũng là để báo hiếu với đấng sinh thành. Vì thế họ giấu 70 cân thóc trong cổ quan tài đóng sẵn của cụ, với dự trù khi cụ qua đời thì có chút của cúng kiến tiễn đưa và cũng để đền ơn lối xóm giúp tổ chức tang ma theo truyền thống. Số lúa giấu đó bị phát hiện và chính quyền địa phương thẳng tay tịch thu! 

Toàn bộ hình ảnh ghê tởm thời bao cấp đó khó có thể gói gọn trong một tựa đề ngắn, nên tác giả hỏi người đọc “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”

Sau 41 năm đảng cộng sản thống trị toàn cõi Việt Nam, việc truy thuế ở làng quê Thanh Hóa, chẳng những không khá, mà rõ ràng còn tệ hại hơn Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì! Vì ngày trước chế độ có thể viện dẫn lý do (cứu đói miền Nam, chống Mỹ Ngụy ác ôn) nhưng hiện tại thì quan chức đang sống phè phởn, sa đọa, xa hoa lộng lẫy nhờ tiền thuế của dân, tiền tham nhũng. Họ giàu đến độ không thể giấu của cải ở đâu cho hết. Còn con cái thì cho đi học ở các nước tư bản, vừa để tẩu tán tài sản, vừa tìm mọi cách xin được định cư.

Loạt bài điều tra về tình trạng cưỡng bức dân nghèo để thu thuế ở Thanh Hóa đang được trang Soha tiếp tục đưa tin. Bài ngày 14/8/2016, là: Tịch thu giường ngủ ở Thanh Hóa, cựu ĐBQH: “Đó là trấn lột”. Bài ngày trước, 13/8, Mùa đóng góp hãi hùng ở Thanh Hóa: Xông vào nhà tịch thu cả giường ngủ ép dân nghèo nộp tiền. Trong đó có câu được tô đậm “chuyện chỉ thấy ở thời… phong kiến! Đây là sự chỉ trích có tính cách lên án nhưng thực ra là lên án một cách nhẹ nhàng! Lên án với mục đích xoa dịu sự căm phẫn đang âm ĩ trong xã hội chứ không phải đòi hỏi phải thay đổi thể chế!

Vì xã hội phong kiến có từ cả hàng trăm năm trước và trật tự xã hội, tự nó, đã diễn tiến theo văn minh nhân loại chứ không đứng nguyên một chỗ! Điển hình như phong kiến Anh Quốc, phong kiến Nhật, phong kiến Thái Lan… Nhưng với chế độ CSVN thì khởi đầu là chống phong kiến, thực dân để trở thành một guồng máy còn ác ôn hơn cả thực dân, phong kiến. Họ đi ngược chiều với tiến trình văn minh nhân loại. Phong kiến đâu có giết người vô tội, hàng loạt và rùng rợn như Cải cách Ruộng đất? Phong kiến đâu có “đất đai là sở hữu của toàn dân do nhà nước quản lý”? Nhà nước ở đây là đảng! Phong kiến chỉ bóc lột giữa địa chủ với nông dân cấp làng xã, còn đảng thì bóc lột cả nước với văn bản gọi là Hiến Pháp! Từ đó tài nguyên đất nước là của đảng. Đảng mặc tình ban phát cho phe nhóm, mặc tình toa rập với Tư bản để bóc lột.

Nông dân thời phong kiến còn có của ăn của để, một trật tự hài hòa sau lũy tre làng! Nhưng nông dân bây giờ thì mất đất mất nhà lê lết khiếu kiện khắp cả nước. Thời phong kiến đâu có chuyện tuyển chọn công nhân xuất khẩu, thực tế là để làm lao nô xứ người? Phụ nữ thời đó dẫu có khắt khe với “Tam tòng, Tứ đức” nhưng không bao giờ rơi vào cảnh phải bán thân xác mình qua môi giới hôn nhân người nước ngoài, để vừa tự cứu bản thân, vừa hy vọng sẽ giúp đỡ được gia đình?…

Vì thế, lên án việc truy bức đóng thuế đang xảy ra ở Thanh Hóa, phải gọi chính xác là “cường hào ác bá như thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Cũng phải nói thêm, Thanh Hóa là quê hương cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (người nổi bật với tư dinh có trống đồng – ngà voi – vườn rau sạch) cũng là người được cho là bị mỹ nhân kế khi sang Bắc Kinh (!) để rước về “4 tốt, 16 chữ vàng” mà chế độ hiện vẫn đang chấp hành nghiêm chỉnh!

Câu hỏi là tại sao đảng cho phép báo nhà nước viết về việc truy bức thuế tại Thanh Hóa? Vì qua đó bộ mặt của đảng cũng bị lem luốc?

Xin thưa, đây là bước đường cùng! Đảng phải chấp nhận một số sự thật có thể, là cách ‘tự đánh’, là “tự kiểm” giống như Chủ tịch Hà Tĩnh gợi ý nhân viên tự nhận hình thức kỷ luật. Dùng “tự kiểm” để mong được cảm thông, coi như đảng đang sửa sai! Thực tế là đánh trống lãng, mua thời gian để dư luận lãng quên dần thảm họa Vũng Áng – Formosa!

Với hy vọng việc ru ngủ công luận có kết quả hơn, đảng đang quảng cáo thêm “đả cẩu, diệt trùng” theo cách Tập Cận Bình! Vì thế truyền thông cho biết nhà nước đang trực tiếp điều tra một số vụ, thí dụ như Núi Pháo, liên quan đến bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cha con cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh đầy tai tiếng nhưng vẫn được cất nhắc,… trong lúc đó thì sự kiện quan trọng nhất, là thảm họa môi trường do Formosa gây ra tại Vũng Áng, lại lấp lửng kiểu “nếu Formosa tiếp tục sai phạm sẽ bị đóng cửa”!

Tin mới nhất cho biết Cục thuế đang có đề nghị giảm thuế đặc biệt cho Formosa, số tiền tương đương với 500 triệu USD mà Formosa hứa “bồi thường” khi “cúi đầu xin lỗi”! Như vậy thì tiền Formosa bồi thường chính là tiền thuế của dân! Formosa gây thảm họa, dân còng lưng chịu đựng tất cả. Còn nhà nước? Chỉ ảo thuật số tiền!

Báo Công An Nhân Dân, ngày 12/8/2016, đăng bài phỏng vấn có tựa đề “Không phải là vua thì muốn gì cũng được”. Người phỏng vấn giành cả việc khen ngợi không tiếc lời người được phỏng vấn, ông Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, mà lẽ ra phải dành cho người đọc, nếu đúng!

Ông Tiến sĩ đã nói gì? Ông nói vai trò Quốc Hội là phản biện với chính phủ, cứ như Quốc Hội đang có là Quốc Hội của các nước Dân chủ Tự do! Ông lú lẫn nên quên mất Quốc Hội Việt Nam là “đảng cử dân bầu”! Thử hỏi 90% đảng viên Đại biểu liệu có dám “phản biện” với đề xuất của đảng?

Việc khác, ông nói “dân trí còn thấp” nên chưa thể tổ chức Trưng cầu Dân ý cả nước, vì tổ chức như thế “sẽ bị thao túng”! “Dân trí thấp” mà chương trình giáo dục từ hơn nửa thế kỷ qua vẫn chủ trương nhồi sọ thì đợi đến bao giờ mới cao? Nhận xét nầy không lạ với quân cán chính miền Nam bị tù cải tạo. Lúc đó họ hứa: Bao giờ cải tạo tốt thì cho về nhưng không hề xác định như thế nào là tốt!

Vì thế có thể so sánh giữa Dân trí và Quan trí! Khi biến cố cá chết vừa xảy ra Dân trí biết ngay là do Formosa xả thải, còn Quan trí cho là do thủy triều đỏ. Dân trí biểu tình phản đối, đòi đóng cửa Formosa thì Quan trí cho đàn áp thẳng tay. Dân trí minh bạch quan điểm, còn Quan trí cứ loay hoay như gà mắc tóc! Dân trí được thế giới ủng hộ, ngay cả Dân biểu Đài Loan, bà Su Chih-feng, chẳng những đã tổ chức họp báo lên án Formosa ngay tại Đài Loan và còn thân hành qua Việt Nam điều tra, còn Quan trí thì giữ bà lại tại phi trường Nội Bài 9 tiếng vì “thăm viếng sai mục đích”!

Thực tế có Đại biểu Quốc Hội nào dám lên tiếng về Formosa trong suốt 3 tháng trước khi nhà nước tổ chức họp báo (?) chứ chưa nói đến việc thăm viếng hay điều tra tại chỗ, trong lúc đó thì người nước ngoài, nhờ sự giúp đỡ của Dân trí, giả dạng thường dân đến được Vũng Áng quay videos, làm phóng sự phổ biến khắp thế giới! Quốc Hội như thế mà không biết nhục thì nói gì đến “phản biện”?

Vì thế truyền thông nhà nước dù có đang ồn ào hơn nữa về chuyện bất công trong xã hội, chuyện đánh tham nhũng hoặc nhận lỗi hay sửa sai gì đó… thì cũng chỉ là một vở kịch!

Một vở hài kịch mua thời gian với mục đích để chế độ tìm ra được cách đối phó với cuộc Cách Mạng Biển Chết đang cận kề!

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm | Leave a Comment »

►Sưu Thuế Hãi Hùng Ở Thanh Hóa-

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2016

Hóa ra, người dân nghèo phải nuôi bọn chúng từ ngày có đảng lãnh đạo, 1955 cho đến nay, 2016. Ôi! Đã 61 năm trôi qua, cán bộ đảng viên, công an chỉ biết ăn bám vào người nông dân nghèo; ngay cả các cụ già, em bé, phụ nữ cũng không thoát, họ phải đóng tiền sưu thuế hàng năm hai đợt để nuôi bọn ăn hại. 

1. Sưu Thuế Hãi Hùng Ở Thanh Hóa

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►”Formosa đã đóng góp được gì?” Mà được giảm thuế hơn 13.000 tỷ đồng trong năm 2014 và 2015?

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2016

 “Lúc đầu, Formosa được miễn và hoàn thuế hơn 13.000 tỷ đồng. Sau đó Tổng cục Thuế đã trừ đi những cái Formosa bị phạt và còn hơn 10. 000 tỷ đồng hoàn thuế VAT. Hơn 10.000 tỷ đồng nếu tính vào thời giá cuối năm 2014, đầu năm 2015 thì nó tương đương với 500 triệu USD. Có nghĩa là chúng ta đã cho họ 500 triệu USD từ trước.
Ngày 30-6-2016, Formosa tuyên bố bồi thường vì gây ra ô nhiễm môi trường ở Hà Tỉnh 500 triệu USD.( ở đây và ở đây)
Câu chuyện giống như đùa, “bánh ít trao đi, bánh qui trao lại.”, giữa hai bên không ai mắc nợ ai!?

 

Chuyên gia Phạm Chi Lan:  “Formosa đã đóng góp được gì?”

Đất Việt

Thứ Bảy, 13/08/2016 08:12

“Rốt cuộc Formosa đã đóng góp được gì cho Việt Nam mà được hưởng ưu đãi và hoàn thuế số tiền lớn đến mức như vậy”. 

 
Đó là câu hỏi được chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đặt ra với Đất Việt khi nói về việc Cục thuế Hà Tĩnh giải quyết hoàn thuế VAT cho Formosa Hà Tĩnh số tiền lên tới 13.483,4 tỷ đồng.
 

PV: Trong  báo cáo vừa trình Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế cho biết, từ năm 2014 đến tháng 5/2016, Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh đã giải quyết hoàn thuế GTGT cho Formosa Hà Tĩnh 13.483,4 tỷ đồng (trong đó có 1.459,4 tỷ đồng ghi thu ngân sách, ghi chi hoàn thuế).
Đáng chú ý, trong các giải pháp hỗ trợ về thuế GTGT đối với các doanh nghiệp bị thiệt hại trong sự kiện trên, riêng Formosa được hoàn thuế GTGT nhập khẩu theo hình thức ghi thu-ghi chi trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan xác nhận thông quan và xác định số thuế GTGT nhập khẩu phải nộp phát sinh.
Bà có bất ngờ trước việc Formosa Hà Tĩnh được hoàn thuế một số tiền lớn như vậy không? Theo bà, đây có phải là minh chứng cho việc các doanh nghiệp FDI đang được hưởng quá nhiều ưu đãi? 
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Tôi thật sự rất ngạc nhiên khi biết thông tin này. Lúc đầu, Formosa được miễn và hoàn thuế hơn 13.000 tỷ đồng. Sau đó Tổng cục Thuế đã trừ đi những cái Formosa bị phạt và còn hơn 10. 000 tỷ đồng hoàn thuế VAT. 
Hơn 10.000 tỷ đồng nếu tính vào thời giá cuối năm 2014, đầu năm 2015 thì nó tương đương với 500 triệu USD. Có nghĩa là chúng ta đã cho họ 500 triệu USD từ trước.
Người ta không thể không so sánh, việc vi phạm của Formosa, cả một tội tày đình như thế, cam kết bồi thường 500 triệu USD nhưng đến nay họ mới chỉ bồi thường có 1 nửa số tiền. Thế mà tiền miễn hoàn thuế nhà nước trả cho Formosa lại đúng bằng số tiền doanh nghiệp này phải bồi thường cho ngư dân 4 tỉnh miền Trung sau sự cố môi trường.
________

Cận cảnh biệt thự khủng của nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Võ Kim Cự – Báo điện tử VnMedia … Jul 26, 2016 – Căn biệt thựkhủngcủa ông Võ Kim Cự, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Mùa “đóng góp” hãi hùng ở Thanh Hoá: Công an, cán bộ làng xã xông vào nhà tịch thu cả giường ngủ để ép dân nghèo nộp tiền

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2016

Sống với cộng sản quá khổ. Dân đã nghèo mà còn bị ép buộc phải đóng tiền nuôi bọn cán bộ, công an. Chính quyền xã và công an vô liêm sĩ đến độ ép buộc gia đình phụ nữ góa chồng phải nộp tiền quỷ và phí 2 triệu mỗi năm để trả lương nuôi bọn chúng, dù người mẹ này phải đi bán nón và làm 2 sào ruộng để nuôi con. Dân quê phải đóng tiền hàng năm để trả lương cho bọn nay Nghệ An thừa gần 200 phó chủ tịch xã

Mùa “đóng góp” hãi hùng ở Thanh Hoá: Xông vào nhà tịch thu cả giường ngủ để ép dân nghèo nộp tiền

 

Soha

Đào Tuy- Tuấn Nam

13-8-2016

H1Chiếc giường của mẹ con chị Toàn từng bị cán bộ làng, xã cưỡng chế khuân đi.

Ở làng Thành Liên nhà chị Toàn nghèo rớt mùng tơi. Túng bấn, không xoay nổi tiền đóng góp, gia đình chị Toàn đã bị cán bộ làng, xã tịch thu mất chiếc giường.

Phản xạ của những người… bé họng

Dù nỗi lo cơm ăn, áo mặc vẫn hiển hiện ngay cả trong giấc ngủ chập chờn nhưng cứ đến mùa đóng góp, nhiều gia đình ở những địa phương chúng tôi thực tế vẫn cố xoay để đủ để đóng quỹ, phí cho thôn, xã.

Họ bảo, đến giờ, việc đóng góp như một phản xạ tự nhiên, như một trách nhiệm không thể nào rũ bỏ.

Đương nhiên, để những người dân thấp cổ bé họng có được “thói quen” này, chính quyền sở tại đã dùng đủ mọi chiêu thức để ép dân đóng cho kỳ được. Ban đầu là vận động, sau thì dọa nạt, bắt chẹt, thậm chí còn… tịch thu cả tài sản.

Ở làng Thành Liên (xã Trường Sơn, Nông Cống, Thanh Hóa), chính quyền làng, xã cũng áp dụng chiêu thức chỉ thấy trong thời phong kiến này.

Và, đến giờ, hình ảnh cả đám công bộc túm vào tháo dỡ rồi mang đi chiếc giường cũ kỹ, tài sản đáng giá duy nhất của một hộ nghèo vẫn còn ám ảnh những người dân trong làng.

Chính vì nỗi sợ hãi ấy mà làng xã muốn thu khoản đóng góp gì, bao nhiêu tiền, người dân đều răm rắp… vâng lời.

H1Làm ruộng chỉ đủ tiền đóng góp cho làng, xã, chị Toàn phải làm thêm nghề phụ để có tiền trang trảng cuộc sống.

Nhà chị Nguyễn Thị Toàn nằm ở giữa làng Thành Liên, cách nhà trưởng làng Nguyễn Sỹ Thành không xa. Khi chúng tôi đến, dù đã quá trưa nhưng chị Toàn cùng hai con mới bắt đầu dùng bữa.

Sai con gái cất vội mâm cơm chỉ có bát canh và con cá bé xíu, chị Toàn bảo, nhà chị ngày nào cũng ăn bữa trưa khi trời đã về chiều. “Tôi phải xuống mãi Tĩnh Gia bán nón nên ngày nào cũng về muộn”, chị Toàn thật thà.

Chị Toàn có nghề làm nón lá. Khi nông nhàn, làm được đến đâu là chị tự tay đi bán. “Mình tự bán thì còn kiếm được đồng vào đồng ra chứ giao cho người ta thì chẳng được bao nhiêu”, chị Toàn chia sẻ.

Như nhiều gia đình ở làng, nhà chị Toàn cũng chẳng có mấy vật dụng đáng giá. Nhà có một chiếc quạt cây lọc cọc, khách đến đông nên chẳng biết xoay chiều nào để đuổi đi cái nóng.

“Chồng tôi mất được hơn 3 năm rồi, mình tôi nuôi hai đứa nhỏ ăn học cũng cực lắm các anh ạ!”, chị Toàn tâm sự.

Tuy đổ mồ hôi sôi nước mắt để lo cái ăn cái mặc cho các con nhưng vài năm nay nhưng các khoản đóng góp cho làng, xã chị Toàn đều cố gắng xoay cho đủ và nếu cạn sức khất lại thì cũng chỉ là phần nhỏ trên tổng các khoản thu.

Sở dĩ chỉ Toàn luôn tự giác hoàn thành trách nhiệm đóng góp của gia đình là bởi chỉ cách đây vài mùa đóng góp, gia đình chị đã phải trải qua một sự việc mà nói ra người ở nơi khác chẳng bao giờ tin là có thật.

Chuyện chỉ thấy ở thời… phong kiến

“Cả đời này tôi cũng chẳng thể nào quên được cái buổi chiều kinh hoàng ấy“, chị Toàn chia sẻ.

“Ấy là buổi chiều giữa tháng 10 năm 2010, làng, xã tiến hành thu đợt đóng góp thứ hai trong năm”, chị Toàn nhớ lại.

H1Nét mặt thất thần, chị Toàn kể lại chuyện kinh hãi mà gia đình mình từng hứng chịu.

Vụ ấy, gia đình chị phải đóng tất cả các khoản là 800 nghìn đồng. Chừng ấy tiền với gia đình chị khi đó quá lớn. Thêm nữa, đứa con gái đầu cũng vừa vào năm học mới, dành dụm được bao nhiêu thì chị cũng đã dồn hết cho việc đèn sách của con.

Nhà sạch bách tiền, chị Toàn tính bán nốt chỗ thóc còn lại để đóng cho làng nhưng chồng chị, anh Đậu Văn Tám không nghe. Anh bảo, bán hết thóc thì hai vợ chồng và các con không còn gì để bỏ vào mồm.

“Bao nhiêu vụ mình đều hoàn thành rồi, vụ này chậm một tí chắc họ cũng cảm thông thôi”, anh Tám đã nói với vợ mình như vậy.

Nghe chồng nói vậy nhưng chị Toàn vẫn thấy chưa yên. Ở làng chị biết, cái gì người ta có thể sẻ chia chứ tiền đóng góp thì… hơi bị khó!

Chính bởi nỗi hoang mang ấy mà đã có lần nhân lúc chồng vắng nhà, chị Toàn đã chực xúc thóc đem bán để lấy tiền đóng góp. Tuy nhiên, thóc chưa kịp qua cửa thì anh Tám về. Hai vợ chồng giằng co, đánh nhau chí chóe.

Theo chính lời của trưởng làng Thành Liên, ông Nguyễn Sỹ Thành, lần ấy, giận vợ, anh Tám đã hất cả thúng thóc xuống giếng.

Không thể vay mượn được ở đâu, chồng lại không cho vét nốt chỗ thóc trong nhà đem bán, chị Toàn đành buông xuôi. “Tôi không biết làm sao cả, chỉ mong các bác ấy thương cho”, chị Toàn nhớ lại.

Và rồi, niềm hi vọng nhỏ nhoi của người đàn bà có khuôn mặt khắc khổ ấy đã vỡ tan như bong bóng xà phòng. Hết hạn đóng góp mà chưa thấy vợ chồng chị Toàn đem tiền ra nộp, cán bộ xã, làng đã kéo nhau tìm đến tận nhà.

“Họ đến đông lắm, cả trưởng làng, phó làng cùng các cán bộ ở làng. Có cả các anh công an xã nữa”, chị Toàn kể lại.

Thấy đoàn cán bộ ai nấy mặt lạnh như băng bất ngờ xuất hiện ở nhà mình, chị Toàn run như cầy sấy.

“Hai vợ chồng tôi đã khóc lóc van xin mong họ thư thư cho ít bữa nhưng không được”, chị Toàn kể lại với ánh mắt thất thần như thể mọi việc vừa diễn ra mới ngày hôm qua.

Ngày ấy, nhà chị Toàn chẳng có gì. Ngôi nhà cấp bốn xây đã lâu nhưng vẫn để gạch thô, chưa có tiền vào cát.“Đến đôi cánh cửa vợ chồng tôi cũng còn chả có tiền lắp nữa là”, chị Toàn sụt sùi nói.

Hết động viên rồi dọa nạt mà vẫn thấy đôi vợ chồng “cứng đầu” chẳng chịu… xùy tiền, đoàn công tác đã quyết định “xuống tay”.

Mấy người chạy bổ vào nhà xục xạo, tuy nhiên, chẳng có vật dụng gì đáng tịch thu.

“Không tìm được cái gì đáng giá, mấy người ấy chực quay ra thì ông trưởng thôn lại lao vào. Ông ấy tháo chiếc giường mà vợ chồng cùng hai con của tôi đang nằm“, chị Toàn nói giọng như chực khóc.

Chiếc giường ấy, theo lời chị Toàn là tài sản duy nhất mà vợ chồng chị sắm khi nên duyên chồng vợ.

“Thấy trưởng làng vào tháo giường, mấy anh đội mạnh (công an viên- PV)cũng lao vào. Tất cả xúm vào tháo tung chiếc giường nhà tôi ra rồi bó lại khiêng ra nhà văn hóa của làng.

Khi ấy tôi chỉ biết khóc nhưng van xin thế nào họ cũng chẳng động lòng”, chị Toàn nhớ lại.

Cuối năm, trời trở lạnh. Không còn giường nằm, đêm ấy, vợ chồng con cái chị Toàn ôm nhau co quắp nằm dưới đất.

H1Sau một thời gian “lưu lạc” ở nhà văn hóa của làng, chiếc giường lại trở về với mẹ con chị Toàn.

Nhà chưa có cửa, gió lùa đến tím thịt tím da. Thương nhất là đứa con thứ hai, khi ấy cháu mới vừa 5 tuổi. Trời lạnh, cháu cứ ngu ngơ hỏi, giường nhà mình đâu, sao không nằm trên giường mà lại nằm dưới đất.

Anh Tám, chồng chị Toàn hay rượu. Từ bữa bị “phi đội mạnh” tịch thu mất chiếc giường, phẫn chí, anh uống nhiều hơn. Cứ say là anh buông lời chửi đổng.

Thương các con nằm đất rét mướt, giận cán bộ làng, xã vô tình, hơn tháng sau, nhờ mấy người mách nước, chị Toàn lên huyện để phản ánh chuyện khó tin nhưng có thật xảy đến với gia đình mình.

Một tuần sau ngày chị lên huyện, trưởng làng đã đến thông báo với gia đình chị là lên xã để nhận lại chiếc giường. Tuy nhiên lúc này được thể anh Tám đã làm căng.

“Giường nhà tôi có chân nhưng nó không biết đi. Các ông bê đi thì các ông phải bê về trả”, anh Tám quả quyết.

Thấy thái độ của anh Tám vậy, biết là có thuyết phục cũng chẳng ăn thua, trưởng làng đành lủi thủi ra về.

Ít ngày sau, khi tết đã cận kề, trưởng làng lại đến vận động gia đình chị Toàn ra nhận lại chiếc giường. Lần này trưởng làng bảo, vợ chồng chị cứ ra, đích thân trưởng làng sẽ phụ giúp chuyển về.

Nghĩ nếu cứ để người ta vứt lay lắt ở nhà văn hóa thì chiếc giường hỏng mất, lại thêm việc năm hết tết đến không thể để nhà trống hoác trống huơ, chị Toàn đã động viên chồng nghe lời trưởng làng đi nhận lại.

Chiếc giường ấy bây giờ chị Toàn vẫn kê ở góc nhà và được sơn lại màu cánh gián bóng bẩy. Chiếc giường ấy vẫn là tài sản đáng kể nhất trong nhà.

Cán bộ tịch thu giường là do dân… tự nguyện!

Sau mấy chục ngày “lưu lạc”, chiếc giường cưới của vợ chồng chị Toàn lại tìm về với chủ. Tuy nhiên, hạnh phúc của chị thì đã không còn vẹn nguyên bởi vợ chồng âm dương cách biệt.

Sau chuyện kinh hãi trên, bởi thấy ở quê không ngóc đầu lên được, năm 2012, anh Tám quyết tâm vào Nam làm thuê những mong kiếm chút tiền để vợ con được mở mày mở mặt.

Anh Tám muốn vào Bình Dương để làm thuê cho người ta. Thế nhưng, đến Bình Định thì hành trình tìm kiếm vận may của anh vụt tắt. Bỏ lại vợ con, anh Tám lìa đời sau cơn đau lạ.

Mất chồng, gánh nặng gia đình buộc lên vai chị Toàn. Biết mình phận mẹ góa con côi, chị Toàn chỉ biết cun cút làm ăn, chăm lo cho hai đứa nhỏ và đến vụ thì gắng sức hoàn thành bổn phận đóng góp của mình.

“Vụ vừa rồi, ba mẹ con tôi phải đóng hơn 2 triệu đồng. Làng, xã thu là tôi bán lúa đóng ngay, không chậm đâu”, chị Toàn nói.

Chị Toàn bảo, nhà chị có 2 sào ruộng. Mỗi vụ thu về chừng 5 tạ lúa. Nếu tính theo thời giá bây giờ (thóc 6000 đồng/kg) thì có bán sạch sẽ thóc cũng chỉ được 3 triệu đồng.

“Đóng cho làng xã hơn 2 triệu rồi, số còn lại mua giống má, phân gio còn chẳng đủ”, nhẩm tính xong chị Toàn ngồi thừ mặt chán nản.

H1Trưởng làng Thành Liên, ông Nguyễn Sỹ Thành bảo, cán bộ đến thu chiếc giường là do chị Toàn… tự nguyện!

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Sỹ Thành có chuyện cán bộ làng, xã đến cưỡng chế chiếc giường của gia đình chị Toàn nhằm gây sức ép để gia đình chị Toàn nộp tiền đóng góp.

Tuy nhiên, ông Thành bảo, việc cưỡng chế chiếc giường ấy là do chị Toàn… tự nguyện! Theo ông Thành, vụ ấy bởi muốn đóng nhưng anh Tám không cho nên chị Toàn đã đề xuất với cán bộ làng thu chiếc giường trên để… răn đe chồng!

(Còn nữa)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Ninh Hoà (Khánh Hoà): Công an đàn áp đánh người dân bảo vệ môi trường

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2016

Công an đàn áp, đánh dân kinh hoàng tại Khánh Hoà

 

12-8-2016

Bạn đọc Danlambao – Nhiều người dân tại thôn Ninh Ích (xã Ninh An, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà) đã bị CA đàn áp, đánh đập tàn bạo vào sáng ngày 12/8/2016 khi biểu tình phản đối hành vi xả chất thải độc hại của của công ty Cổ phần Môi trường Khánh Hoà.
Video phổ biến trên mạng xã hội cho thấy cảnh đàn áp kinh hoàng khi công an dùng dùi cui và bình xịt hơi cay trấn áp một người đàn ông địa phương. Nhiều phụ nữ cũng bị đánh đập gây thương tích và phải nhập viện. Thậm chí, cả trẻ em cũng bị xịt hơi cay…
Thông tin chi tiết về vụ việc đãin được cập nhật trên Dân Làm Báo tại link:
________

Ninh Hoà (Khánh Hoà): Công an đàn áp người dân bảo vệ môi trường
 
 

CTV Danlambao – Sáng 12/8/2016, tại thôn Ninh Ích, xã Ninh An, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, lực lượng công an, cảnh sát cơ động, các cơ quan chức năng đã đàn áp người dân địa phương nhằm chấm dứt cuộc biểu tình yêu cầu trả lại môi trường trong lành.Trong suốt 1 năm qua, Nhà máy xử lý chất thải nguy hại của Công ty cổ phần Môi trường Khánh Hòa là chủ đầu tư được xây dựng gần khu dân cư gây ô nhiễm khiến người đân địa phương hết sức bức xúc.

Ngày 1/3/2016, người dân thôn Ninh Ích đã chặn chiếc xe ben biển số 79C 067.97 chở rác vào Nhà máy xử lý chất thải nguy hại (CTNH) của Công ty CP Môi trường Khánh Hòa để xử lý thử nghiệm rồi “giam lỏng”. Hằng ngày, người dân cử người “canh gác” không cho công ty đưa xe đi, đồng thời yêu cầu nhà máy cam kết đóng cửa dời đi nơi khác thì mới chịu thả xe cho Công ty.

Sau 5 tháng bị giam lỏng, sáng 12/8/2016, đại diện chính quyền địa phương và doanh nghiệp đến “giải cứu” xe rác này thì hàng trăm người dân đã đổ ra quốc lộ 1 ngăn cản, Người dân còn treo băng rôn, yêu cầu doanh nghiệp, UBND thị xã phải viết “giấy cam kết” không để xe chở rác chạy vào thôn, buộc nhà máy xử lý chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại (đóng tại thôn Ninh Ích) ngưng hoạt động.

Tuy nhiên, đòi hỏi này không được đáp ứng. Ngay sau đó, hàng chục cảnh sát cơ động, trật tự, CSGT Công an thị xã Ninh Hòa đã được điều động đến để đánh đập phụ nữ, trẻ em và thanh niên. Quang cảnh rất hỗn loạn.

Chị Chế Thị Mỹ Hiền bị đánh thâm tín mắt.
Một bé gái cũng bị xịt trúng hơi cay. Video Chút Nguyễn

Một người dân có mặt tại hiện trường cho CTV Dân Làm Báo biết, hiện tại Sức khoẻ của chị Chế Thị Mỹ Hiền đang dần ổn tuy nhiên vẫn còn rất đau, chị chưa hết bàng hoàng trước sự đàn áp đánh đập những người dân vô tội của chính quyền. Hiện chị đang nằm ở Bệnh Viện đa khoa Ninh Diêm thị xã Ninh Hoà.

Nhà máy xử lý chất thải nguy hại được xây dựng chỉ cách khu vực dân cư đang sinh sống hơn 1km, với tổng vốn đầu tư gần 137 tỉ đồng. Đây là nhà máy có công suất xử lý 100 tấn rác thải rắn/ngày đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm để Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên – môi trường) kiểm tra, đánh giá các thông số về khí thải, nước thải.

Theo phản ánh của người dân địa phương: Mỗi lần nhà máy đốt rác là khói, bụi trắng bám đầy mái tôn, nền nhà người dân. Không chỉ vậy, khi hít phải khói, bụi từ nhà máy thải ra người dân thấy khó chịu, nhấc đầu, gân mẩn ngứa. Xe chở rác qua khu dân cư thì bốc mùi hôi thôi không chịu nổi.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Hình vệ tinh chụp tháng 6 và 7/2016 cho thấy Trung Quốc đang gấp rút hoàn thành xây nhà chứa máy bay cho 24 phản lực và 3 máy bay khác có kích thước lớn hơn

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2016

Đá Vành Khăn, Trường Sa, một trong những đá mà Trung Quốc bồi đắp thành đảo nhân tạo. Ảnh chụp từ máy bay P-8A Poseidon của Mỹ. ReutersĐá Vành Khăn, Trường Sa, một trong những đảo đá ngầm trước đây, nay đã được Trung Quốc bồi đắp thành đảo nổi nhân tạo.Ảnh chụp từ máy bay P-8A Poseidon của Mỹ. Reuters

(NGUỒN RFI) – Hình ảnh vệ tinh mới nhất vừa cho thấy là Trung Quốc đã xây một số công trình được cho là nhà chứa máy bay trên ba hòn đảo nhân tạo mà họ đã bồi đắp tại vùng quần đảo Trường Sa.

Theo các bức ảnh do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS ở Washington tiết lộ hôm qua, 8/8/2016, các cơ sở này đủ lớn để chứa bất kỳ loại chiến đấu cơ Trung Quốc nào hiện nay. Hình>>> report by the Center for Strategic and International Studies

Các bức ảnh vệ tinh chụp hồi cuối tháng Bẩy vừa qua cho thấy là các nhà chứa phi cơ đã được xây trên Đá Chữ Thập (Fiery Cross), Đá Subi (Subi) và Đá Vành Khăn (Mischief), là ba hòn đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa, có phi đạo đủ dài cho chiến đấu cơ sử dụng.

Trong phần phân tích kèm theo các bức ảnh vệ tinh, trung tâm CSIS ghi nhận : « Ngoài sự kiện một chiếc máy bay vận tải quân sự ghé Đá Chữ Thập một cách chớp nhoáng vào đầu năm nay (2016), không có bằng chứng cho thấy là Bắc Kinh đã triển khai phi cơ quân sự trên các tiền đồn của họ. Thế nhưng, tốc độ xây dựng nhanh chóng các nhà chứa máy bay trên ba thực thể này chứng tỏ rằng tình hình có thể thay đổi ».

Theo CSIS, các nhà chứa máy bay được thấy trên ảnh vệ tinh đều có kết cấu được gia cố và bọc thép, với « độ dày lớn hơn bất kỳ công trình nào dùng cho mục tiêu dân sự ». Theo hãng tin Anh Reuters, cả bộ Ngoại Giao lẫn bộ Quốc Phòng Trung Quốc trước mắt chưa thấy trả lời yêu cầu bình luận về những bức ảnh vệ tinh.

Mỹ cùng nhiều nước khác thường xuyên khuyến cáo Trung Quốc là không nên quân sự hóa các thực thể mà Bắc Kinh chiếm đóng ở Biển Đông. Trung Quốc luôn luôn lớn tiếng cho rằng họ không quân sự hóa Biển Đông, và các công trình xây dựng trên các đảo nhân tạo chủ yếu nhằm mục tiêu dân sự.

Chính chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 9/2015 cũng từng cam kết với tổng thống Mỹ Barack Obama là không quân sự hóa Biển Đông. Thực tế cho thấy đó chỉ là một lời hứa suông.

________

Satellite images show China has built aircraft hangars in South China Sea

8-9-2016

The latest satellite images of the disputed South China Sea show China has build reinforced aircraft hangars on three specific islands.

According to a report by the Center for Strategic and International Studies, the existence of the hangars in the South China Sea on Fiery Cross, Subi and Mischief Reefs in the Spratly Islands

… Each of the three islets will soon have hangar space for 24 fighter-jets plus 3-4 larger planes,” CSIS said in its report.

___________

28 hình vệ tinh được chụp vào tháng 6 và tháng 7, 2016 cho thấy chẳng bao lâu nữa 3 hòn đảo Chữ Thập, Subi, và Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa sẽ có nhà chứa máy bay dành cho 24 chiến đấu cơ phản lực và 3 phản lực cơ kích thước lớn hơn. 

Kích thước của nhà chứa máy bay có thể dành cho 24 chiến đấu cơ phản lực sẽ có thể là Su-30, hoặc J-11.

3 phản lực cơ kích thước lớn hơn có thể là phản lực cơ ném bom H-6, hoặc máy bay tiếp tế nhiên liệu H-6U, hoặc máy bay vận tải Y-8.

Nhà chứa máy bay cũng đủ lớn dàng cho các máy bay lớn khác như Y-20, vận tải cơ IL-76 hoặc tiếp tế nhiên liệu  IL-78, hoặc máy bay thám sát KJ-2000.

Ngoài 3 phi đạo được xây dựng trên 3 hòn đảo này, 24 nhà chứa chiến đấu cơ, và 3 nhà chứa máy bay cở lớn, còn có thêm 4 tòa nhà có kiến trúc hình lục giác, mặt tòa nhà luôn hướng về biển, và  9 pháo tháp được xây cất trên 3 đảo Chữ Thập, Subi, và Vành Khăn.

 

Built It and They Will Come

 

______

 

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Leave a Comment »

►Chính sách hợp tác xã nông nghiệp và nạn đói dưới thời Stalin và Mao Trạch Đông

Posted by hoangtran204 trên 12/08/2016

Hợp tác xã nông nghiệp là chính sách của đảng cộng sản, tịch thu ruộng đất của nông dân để thành lập nông trại lớn, và đẩy nông dân vào làm trong hợp tác xã nông nghiệp. Người nông dân được chia sản phẩm đủ ăn, còn hợp tác xã lấy hết phần còn lại (để nộp cho huyện, huyện chuyển lên tỉnh, và giao cho trung ương) sau khi chia lúa gạo cho nông dân và gia đình theo chế độ khẩu phần, 13-15 kg/ 1 người/ một tháng. Tất cả nông dân trở thành người làm thuê cho đảng (đểu).

Sau khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, từ 1953-1956, nhà nước  (giả vờ) chia ruộng đất vừa mới tịch thu của nông dân giàu (hay địa chủ) chia cho các nông dân VN nghèo. Nhưng sau khi cho họ làm ruộng được 3 năm, thì nhà nước phát động phong trào thi đua vào hợp tác xã, lấy đất lại, và bắt buộc tất cả nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp kể từ 1959. Vậy là quyền làm chủ đất đai lọt vào tay đảng CSVN (đểu). Nhưng bọn chúng tìm cách lừa đảo người dân bằng cách các thuật ngữ: đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hầu hết, mọi người sẽ nghĩ là: ôi, cộng sản tốt quá, đất đai thuộc về toàn dân, mọi người đều sẽ có đất đai, để làm ruộng, để xây nhà… nên người dân từ trí thức như luật sư, kỹ sư, thầy giáo, nông dân nghèo, học sinh… đều muốn đi theo “bác Hồ”.  Về sau, khi chiếm được miền Bắc 1954, chúng mới giải thích rõ ràng như sau: sở hữu toàn dân tức là sở hữu tập thể, tức thuộc sở hữu nhà nước, và đất đai là do đảng quản lý! Cán bộ cao cấp của đảng cộng sản VN được cấp hơn 600 biệt thự do Pháp để lại, và các biệt thự của những gia đình di cư vào miền Nam năm 1954 trốn tránh cộng sản. Những cán bộ nhỏ, công chức, nhà văn theo đảng, nhà báo, thầy cô giáo với gia đinh được ở tập thể, họ chia nhau 4-5 gia đình ở chung 1 nhà; rất là chật chội.

Dân chúng miền Bắc VN bị đói triền miên kể từ khi có hợp tác xã nông nghiệp 1960 cho đến 1987. Kiểm soát lúa gạo là kiểm soát được người dân.

Ông HCM và Lê Duẩn biết rõ miền Bắc không thể tự túc lương thực, và cũng không đủ khả năng để xây dựng nền công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp vì theo tiểu sử, ông Hồ chưa học xong lớp 7, và Lê Duẩn chỉ học tới lớp 4. Họ chiếm được miền Bắc nhờ Trung Cộng và Liên Xô giúp đỡ, nên phải nghe lệnh Liên Xô và Trung Cộng gây chiến tranh giải phóng miền Nam đổi lấy cái ăn. Cả hai ông xin TQ và Liên Xô viện trợ vũ khí và chính thức phát động chiến tranh giải phóng miền năm 1960 để có cái ăn do hai nước đàn anh cung cấp, và cả hai dự định rằng sau khi cướp được miền Nam, thì các hợp tác xã ở miền Nam sẽ cung cấp lúa gạo nuôi miền Bắc, và không còn lo đói nữa.

Nhưng sau khi cộng sản chiếm được miền nam 1975, người nông dân miền Nam không chịu vào hợp tác xã, ở nhiều vùng, họ giao đất đai cho chính quyền xã muốn làm gì thì làm. Thế là cả nước đói từ 1975-1987 cho đến khi Lê Duẩn chết. Vì lo sợ nông dân đang đói sẽ nổi loạn, nên đảng CSVN không còn nhắc nhở gì đến hợp tác xã nông nghiệp, và nông dân tự do làm ruộng, nạn đói ở VN biến mất kể từ sau 1990.

Sau khi Lê Duẩn chết 7/1986, bọn cộng sản cao cấp ở Hà Nội và các tỉnh thành phố đã nhanh tay chiếm làm của riêng tất cả đất đai đắc địa trong các thành phố, các tỉnh, và vùng bờ biển, chiếm rừng cao su, chiếm các đất hoang chưa có ai làm chủ… Vì trong tay có quá nhiều đất đai và nhà cửa, chúng muốn hợp pháp hóa tài sản của chúng nên đặt ra việc cấp sổ đỏ vào năm 1993. Nhà đất phải có sổ đỏ để xác nhận mình là chủ nhà hay chủ đất. (Trần Hoàng ghi chú)

Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

Nghiên cứu Quốc tế

Biên dịch: Ngô Việt

Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

16-11-2010

Bài báo

Bài báo viết về 6 triệu người chết trong nạn đói ở Liên Xô. Ảnh: Project Syndicate

 

 

 

 

 

Nông dân của hợp tác xã nông nghiệp đang làm việc trên nông trường (Trần Hoàng chú thích) – Ảnh nepalitimes.com

Tám mươi năm trước, vào mùa thu năm 1930, Joseph Stalin đã áp đặt một chính sách làm thay đổi tiến trình lịch sử và đã gây nên cái chết của hàng chục triệu người trong nhiều thập niên và ở khắp thế giới.

Trong chiến dịch “Hợp tác hóa” nông nghiệp đại quy mô và đầy bạo lực, Stalin đã đặt quyền kiểm soát nền nông nghiệp Liên Xô vào tay nhà nước.

Stalin theo đuổi chính sách hợp tác hóa nông nghiệp mặc cho những đợt chống đối quy mô lớn sau nỗ lực áp dụng chính sách lần đầu tiên của nhà chức trách Liên Xô vào mùa xuân trước đó (1929). Giới lãnh đạo Liên Xô đã dựa vào việc bắn giết và trục xuất tới các trại gulag (lao động khổ sai) nhằm ngăn chặn những sự chống đối. Nhưng người dân Liên Xô vẫn chống cự với số lượng lớn; những người du mục Kazakh trốn qua Trung Quốc, còn những người nông dân Ukraine thì trốn qua Ba Lan.

Vào mùa thu, những vụ bắn giết và trục xuất vẫn tiếp diễn, cùng với những cưỡng bức về kinh tế. Nông dân bị đánh thuế cho đến khi họ tham gia hợp tác xã, và các nông trường hợp tác được quyền tịch thu hạt giống của các nông dân làm ăn cá thể, được dùng để trồng cho mùa vụ năm tới.

Khi nền nông nghiệp Liên Xô đã hoàn toàn bị hợp tác hóa thì nạn đói cũng bắt đầu. Bằng cách tước đoạt ruộng đất của nông dân và biến họ trên thực tế trở thành nhân viên nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp cho phép Moskva quản lý cả con người lẫn những sản phẩm của họ.

Nhưng sự kiểm soát không phải là sự sản suất ra vật chất. Nó chứng tỏ sự bất khả thi trong việc biến những người du mục Trung Á thành những người nông dân làm việc hiệu quả chỉ trong thời gian một mùa vụ. Bắt đầu từ năm 1930, khoảng 1,3 triệu người ở Kazakhstan đã chết đói khi lượng thu hoạch ít ỏi của họ bị trưng thu theo lệnh của trung ương.

Ở Ukraine, mất mùa vào năm 1931. Có nhiều lý do dẫn đến mất mùa: thời tiết xấu, côn trùng gây hại, những thiếu hụt về sức kéo cày của động vật sau khi những người nông dân giết hết gia súc để tránh bị mất vào tay hợp tác xã, thiếu máy cày, những đợt bắn giết và trục xuất những nông dân giỏi nhất, và những gián đoạn về gieo hạt và thu hoạch bởi quá trình hợp tác hóa nông nghiệp.

“Làm sao mà người ta trông cậy vào chúng ta để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,” một người nông dân Ukraine hỏi, “khi mà tất cả chúng ta đều bị  đói?”

Bây giờ chúng ta biết, sau 20 năm tìm hiểu các tài liệu của Liên Xô, rằng vào năm 1932 Stalin đã cố tình chuyển đổi (đổ thừa nguyên nhân) nạn đói do vào hợp tác xã ở Ukrane là do động cơ chính trị. Stalin đọc diễn văn nói rằng sự mất mùa là dấu hiệu phản kháng của người Ukraine, và đòi hỏi phải cứng rắn chứ không được nhân nhượng.

Khi nạn đói bắt đầu lan rộng vào mùa hè năm đó, Stalin giải thích một cách rõ ràng hơn, rằng nạn đói là do phá hoại, các nhà hoạt động cộng sản địa phương là những kẻ phá hoại, được bảo vệ bởi giới chức cấp cao hơn ở khu vực, và tất cả đều ăn tiền của những điệp viên nước ngoài. Vào mùa thu năm 1932, điện Kremlin ra một loạt những nghị định với hậu quả đảm bảo khiến nhiều người chết. Một trong những nghị định trên là cắt đứt toàn bộ hàng tiếp tế cho những cộng đồng không đạt được mức thu hoạch ngũ cốc tối thiểu.

Cùng lúc đó, những người cộng sản chiếm đoạt tất cả những thực phẩm họ có thể tìm được, “đến từng hạt lúa nhỏ bé cuối cùng,” và vào đầu năm 1933 biên giới Ukraine bị đóng lại, để ngăn cản những người đang dần chết đói tìm kiếm sự trợ giúp. Những nông dân chết dần chết mòn phải thu hoạch vụ xuân dưới họng súng của các tháp canh.

Hơn 5 triệu người chết đói hoặc chết vì những căn bệnh có liên quan đến đói khát ở Liên Xô vào đầu thập niên 1930, trong đó 3,3 triệu người chết ở Ukraine, và trong con số đó 3 triệu người có thể đã sống sót nếu Stalin đơn thuần chỉ tạm ngưng thu mua và xuất khẩu trong vài tháng và cho phép người dân được tiếp cận các nguồn cung cấp lúa mì.

Những sự kiện này vẫn là trọng tâm của chính trị Đông Âu cho đến ngày hôm nay. Mỗi tháng 11, người Ukraine tưởng niệm những nạn nhân của năm 1933. Nhưng Viktor Yanukovych, tổng thống đương nhiệm (vào thời điểm của bài viết – ND), không công nhận sự thống khổ đặc biệt của người Ukraine, như một cách đồng ý theo quan điểm lịch sử của Nga, vốn tìm cách để làm lu mờ những tác hại cụ thể của chính sách hợp tác xã nông nghiệp thành một thảm kịch mơ hồ đến mức không có nạn nhân và những thủ phạm rõ rệt.

Rafal Lemkin, luật sư người Ba Lan gốc Do Thái, người đã lập nên khái niệm “genocide” (diệt chủng) và nghĩ ra thuật ngữ này, sẽ phản đối điều đó: ông gọi nạn đói ở Ukraine là một ví dụ điển hình về diệt chủng dưới ở Liên Xô. Như Lemkin nhận định, khủng bố diễn ra sau nạn đói: những người sống sót qua nạn đói và trại cải tạo trở thành những nạn nhân tiếp theo của Stalin. Cuộc đại thanh trừng vào thời kỳ 1937-1938 bắt đầu bằng một chiến dịch bắn giết nhắm phần lớn vào nông dân, cướp đi mạng sống của 386.798 người khắp Liên Xô, đa số nạn nhân ở Ukraine.

Hợp tác xã nông nghiệp có tác động lâu dài. Khi Đức Quốc xã xâm lược phía Tây Liên Xô, người Đức giữ nguyên những nông trường hợp tác xã, vì họ coi nó như là một công cụ cho phép họ điều động thực phẩm Ukraine cho những mục đích riêng của họ, và bỏ đói những ai mà họ muốn.

Sau khi Mao khởi động cuộc cách mạng năm 1949, những người cộng sản Trung Quốc bắt chước kiểu mẫu phát triển hợp tác xã theo kiểu Stalin. Sự kiện này làm cho 30 triệu người Trung Quốc đã chết đói trong giai đoạn 1958-1961, trong một nạn đói rất giống như ở Liên Xô. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu Mao cũng được thi hành bằng những chiến dịch bắn giết trên quy mô lớn.

Thậm chí bây giờ, hợp tác xã nông nghiệp là nền tảng của bạo quyền ở Triều Tiên, nơi mà hàng trăm ngàn người chết đói vào thập niên 1990.

Và ở Belarus, nền độc tài duy nhất còn sót lại ở châu Âu, hợp tác xã nông nghiệp không bao giờ chấm dứt, và một cựu giám đốc hợp tác xã nông nghiệp, Aleksandr Lukashenko, đang đứng đầu đất nước.

Lukashenko đang tranh cử tổng thống tiếp tục nhiệm kỳ lần thứ tư vào tháng 12/2010. Bằng cách kiểm soát đất đai, ông ta cũng kiểm soát phiếu bầu. Tám mươi năm sau phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, thế giới của Stalin hiện nay vẫn còn tồn tại với  chúng ta.

Timothy Snyder là giáo sư lịch sử tại Đại học Yale. Cuốn sách mới nhất của ông là Bloodlands: Europe Between Hitler and Stalin.

Nguồn: Timothy Snyder, “Stalin, our contemporary”, Project Syndicate, 16/11/2010

Các bạn có thể xem bài báo “Stalin, Our Contemporary” ở đây, nepalitimes.com 

_______

Phim 8 tâp

_______

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chinh Tri Nga, Chinh tri Trung Quoc, Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Nghị sĩ Đức muốn vào tù thăm Anh Ba Sàm trong thời gian sớm nhất

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2016

Ok10-8-2016

Đặng Hà chuyển ngữ

Từ ngày 03.08.2016 trên trang web chính thức của Quốc hội CHLB Đức có đăng bài thông tin mang tựa đề “Ông Patzelt tranh đấu cho Blogger Việt Nam“. Bài được giới thiệu ngay đầu trang nhất (trang chủ – home):

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:sZnBGdyRucYJ:www.bundestag.de/+&cd=2&hl=de&ct=clnk&gl=de

Sau đây là bản chuyển ngữ bài thông tin trên trang web chính thức của Quốc hội CHLB Đức :

Nghị sĩ Patzelt tranh đấu cho Blogger Việt Nam

Hồi đầu năm nay ông Nguyễn Hữu Vinh đã bị kết án 5 năm tù. Khi phiên tòa diễn ra, nghị sĩ Quốc hội Liên bang Đức ông Martin Patzelt (đảng CDU/CSU) đã có mặt tại chỗ ở Việt Nam. Trong khuôn khổ chương trình “Nghị sĩ quốc hội bảo vệ nghị sĩ quốc hội“ của Quốc hội Liên bang Đức (chú thích của người dịch: chương trình này đã được mở rộng để bảo vệ cho cả cho những Người Bảo vệ Nhân quyền trên thế giới chứ không riêng gì cho các vị dân cử) ông Patzelt tiếp tục tranh đấu cho nhà hoạt động nhân quyền này.”Vì thật ra ông Nguyễn Hữu Vinh chỉ làm những gì mà thuộc về quyền cơ bản của công dân trong một nước dân chủ“, ông Patzelt nói. “Ông Vinh làm cho dư luận chú ý trong dư luận về những sự việc mà theo quan điểm của ông là sai trái“.

Dùng Blog để phê bình nhà nước

Với bút danh Anh Ba Sàm ông phê bình nhà nước trên trang Blog của ông. Trước đó ông là một sĩ quan công an. Từ trải nghiệm của một người trong lòng chế độ ông có cách nhìn riêng về những sự việc. Vì quá khứ đó mà ông cũng bị thù địch với nghi ngờ ông là an ninh đội lốt hoạt động đấu tranh, nhưng nhiều nhà hoạt động dân chủ đã đứng ra bênh vực ông làm cho ông trở nên đáng tin cậy hơn.

Nhưng trong mắt của bộ máy nhà nước, nói chung ông chỉ trích phê phán quá nhiều. Năm 2014 ông đã bị bắt cùng với một nữ cộng sự vì 24 bài viết trên 2 Blog bị gán là bất hợp pháp.

Blogger nổi danh này đã nhanh chóng nhận được sự hỗ trợ của quốc tế, riêng nước Đức ông Vinh được bảo trợ trong chương trình “Nghị sĩ quốc hội bảo vệ nghị sĩ quốc hội” của Quốc hội liên bang Đức. Khi đó ông Patzelt được thỉnh cầu đứng ra nhận lời bảo trợ cho ông Vinh. “Tôi đảm nhiệm công việc làm báo cáo viên của vùng Đông nam á cho đảng của tôi trong Ủy ban nhân quyền của Quốc hội Liên bang Đức. Tôi nghĩ là phù hợp“, ông Patzelt kể lại.

“Vui mừng, nếu tôi có thể làm được việc gì cụ thể“

“Trong Ủy ban nhân quyền tôi nhận được tin về những nỗi bất hạnh thường xuyên xảy ra trên thế giới, đó là một sự thúc đẩy lớn đối với tôi“. Nó sẽ là gánh nặng gấp đôi, nếu ông Patzelt có cảm giác bất lực không thể làm gì giúp ích được. “Tôi vui mừng, nếu có thể làm được việc gì cụ thể ở chỗ này hay ở chỗ kia“.

Thí dụ ông đã nhận 2 người Eritrea tỵ nạn, đem họ về ở chung trong nhà riêng của ông, và giới thiệu họ cũng như những người tỵ nạn khác đi làm thực tập ở những doanh nghiệp trong vùng của ông. Còn trên phương diện nghề nghiệp ông hiện đang dấn thân cho Nguyễn Hữu Vinh.

Khi nghe được trường hợp Anh Ba Sàm, trước tiên ông đã hẹn gặp nói chuyện với bà Hà vợ ông Vinh. “Đầu tiên bà Hà đã rất xúc động, vì có người lắng nghe và có người nước ngoài ở một địa vị cao mà quan tâm đến chuyện của mình“, ông Patzelt nói. Trong thời điểm đó thời gian tối đa luật pháp cho phép giam giữ điều tra đã bị vượt quá hạn. Có 6 luật sư lo cho vụ án này, gia đình phải đi vay tiền để trả tiền thù lao cho luật sư.”Những nhà độc tài luôn luôn tìm cách để vụ việc này trông không giống như là một vụ xét xử chính trị“, ông Patzelt giải thích.

Chính ông Patzelt là người sống và lớn lên trong chế độ cộng sản Đông Đức. Blogger Anh Ba Sàm cần được tư vấn nhiều về những điểm như luật hình sự, luật tố tụng và trong những vấn đề chính trị cũng như những việc khác.

Lê Thị Minh Hà (bên trái) vợ của Blogger Nguyễn Hữu Vinh đang bị cầm tù ở Việt Nam, ông Nguyễn Quang A,  và ông Martin Patzelt (bên phải) trước cổng tòa án nhân dân Hà Nội

Biểu tình ở Hà Nội

Tháng ba năm 2106 ông Patzelt bay đến Hà Nội, thủ đô Việt Nam. Trong thời điểm lúc đó, ông không được trả lời câu hỏi, ông có được tham dự phiên tòa với tư cách quan sát viên hay không, mặc dù mấy tháng trước ông đã viết thư hỏi chính phủ Việt Nam. Lời từ chối ông chỉ nhận được, khi ông đã đặt chân đến Hà Nội rồi. Ông Patzelt quyết định, sẽ làm những gì tốt nhất trong tình huống đó. “Tôi ở lại, đứng trước cổng tòa án. Tôi muốn thể hiện -mặc dù bằng một cách thức rất bất lực- rõ ràng rằng, tôi theo dõi phiên tòa.

Hai tiếng đồng hồ tôi đứng trước cổng tòa án cùng với những nhà tranh đấu dân chủ, biểu tình và trả lời phỏng vấn của truyền thông quốc tế. “Cái đó đã cho thấy có tác dụng, công an đã để yên cho những nhà tranh đấu cho dân chủ biểu tình“, ông Patzelt cho biết. Khi ông Patzelt đi nghĩ trưa, thì lực lượng an ninh can thiệp vào.

Ông Patzelt phê bình phiên tòa xét xử không công bằng

Phiên tòa xét xử mà ông được nghe kể lại là diễn tiến không công bằng. “Những luật sư không thể trình bày tất cả những bằng chứng, tòa án không đề cập đến những bằng chứng được đưa ra“, ông Patzelt nói. Một nữ nhân chứng gỡ tội không được mời ra cung khai trước tòa. Ông Patzelt tìm cách nói chuyện với những đại diện của viện kiểm sát nhân dân, nhưng họ không quan tâm đến một cuộc gặp nói chuyện với nhau. Ông Patzelt đã trao đổi ý kiến cặn kẽ với những nhà hoạt động cho dân chủ về việc này.

Ông Patzelt muốn tiếp tục theo đuổi vụ này. “Công việc của tôi hiện nay là giữ liên lạc với với vợ ông Vinh và những luật sư và hỏi, tôi có thể giúp đỡ như thế nào“. Về việc này ông Patzelt gợi ý không những có thể hỗ trợ về tinh thần mà cả vật chất nữa. “Có lẽ ông Vinh cần thuốc men“, ông Patzelt nêu ra một thí dụ. Ngoài ra ông Patzelt muốn vào tù thăm Nguyễn Hữu Vinh trong thời gian sớm nhất như có thể.

Bản gốc tiếng Đức:http://www.bundestag.de/dokumente/textarchiv/2016/kw31-psp–martin-patzelt/427980

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Formosa đền bù 500 triệu đô la cho VN, ngay sau đó, VN đã tuyên bố: Miễn thuế 10 ngàn tỷ đồng cho Formosa!

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2016

Chủ nghĩa cộng sản là giấc mơ của vài người, nhưng là ác mộng của cả nhân loại”

 

BÀI HỌC

FB Luân Lê

10-8-2016

Mỡ nó rán nó. Hiện Formosa đã có 450 triệu Mỹ kim để trả cho ngư dân miền trung thông qua Chính phủ nhờ tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước bằng 10.500 tỷ đồng.

Ông Đinh Thế Huynh thì nói: thảm hoạ Formosa là bài học lớn. Còn ông Thứ trưởng Bộ công thương nhấn nhá: sự cố vỡ đường ống nhà máy Alumin Nhân Cơ là một bài học sâu sắc.

Toàn những sự cố kinh hoàng ảnh hưởng đến sinh kế và tính mạng hàng vạn, triệu người dân nhưng cũng chỉ là bài học của những nhà chức trách.

Quan thì có thể học, học nữa học mãi, nhưng dân lãnh hậu quả, một lần cũng có thể lãnh đủ hiểm hoạ, vậy học đến khi nào? Hay học đến người dân cuối cùng?

Đất nước mình, không khí ô nhiễm vào dạng cao nhất thế giới, hơn cả Trung Quốc rồi, người Việt cũng được liệt vào danh sách là quốc gia mắc ung thư cao nhất toàn cầu. Ma trận thuế, phí lệ phí làm cả thế giới kinh ngạc. Mức độ tử tế và trung thực thấp nhất trái đất.

Có gì đáng sợ hơn nữa không?

____

FB Hữu Nguyên

10-8-2016

Bộ Tài Chính VN đang xem xét dự kiến bồi thường cho Formosa vụ 2014 là 10.450 tỷ đồng (bằng nguồn miễn thu thuế).

500 triệu USD Formosa hứa bồi thường vụ xả thải làm ô nhiễm biển miền Trung cũng vào khoảng 11.000 tỷ đồng.

Bài toán này sao giống trò lừa con nít. Họ lấy tiền từ túi này ra rồi bỏ gọn vào túi kia. Tóm lại, kết quả là Formosa chẳng mất đi đồng xu nào.

Vậy, chỉ có hàng chục triệu người Việt Nam mà đời sống gắn liền với biển là thiệt hại khôn lường. Đất nước VN tự dưng ôm lấy cái cục thải bẩn Formosa to đùng đầy nguy cơ, đầy hiểm họa lâu dài mà chẳng được chút lợi ích nhỏ nhoi nào, toàn ngược lại.

Người VN đang phải đối mặt với nguy cơ biển chết, và các ngành dịch vụ, thương mại gắn liền với biển bị tẩy chay.

Hàng triệu người cùng gia đình của họ mất kế sinh nhai! Con cháu họ, các thế hệ mai sau phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm, tàn hại sinh thái và môi trường sống nhiễm độc.

Ai hiểu tại sao giải thích dùm tui, cảm ơn!

____

Dân Trí

Miễn và hoàn thuế cho Formosa hơn 10.450 tỷ đồng

10-8-2016

Theo nguồn của Dân trí, Tổng cục Thuế đã có dự kiến một số biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) bị thiệt hại do sự kiện ngày 13/5/2014 gửi Bộ Tài Chính, trong đó đáng chú ý, Công ty Formosa Hà Tĩnh (FHS) là DN dự kiến được miễn thuế và không truy thu thuế số tiền hơn 10.450 tỷ đồng. Trong số này, có khoản khá lớn là tiền hoàn thuế VAT.

Sự kiện ngày 13/5/2014 là những vụ biểu tình, xô xát của người dân, công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn 1 số tỉnh như TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Hà Tĩnh sau việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam vào tháng 5/2014.

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, sau sự cố nói trên, cả nước ghi nhận có 778 DN được đánh giá bị ảnh hưởng, trong đó Bình Dương thiệt hại nặng nhất với 537 DN, Đồng Nai có 171 DN, Tp HCM có 33 DN và Hà Tĩnh có 1 DN.

H1Formosa được đền bù nhiều tỷ đồng sau sự kiện ngày 13/5/2014

Về tổng thiệt hại theo như khai báo của các DN báo về là 9.900 tỷ đồng và 4,23 triệu USD, trong đó Formosa khai báo bị chịu thiệt hại cao nhất với số tiền lên đến 5.533 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua rà soát của các cơ quan như bảo hiểm và cơ quan chức năng địa phương tổng số thiệt hại của các DN trên cả nước là 4.523 tỷ đồng và 4,23 triệu USD, trong đó thiệt hại của Formosa là 4,77 tỷ đồng, các nhà thầu làm cho Formosa là 68,32 tỷ đồng).

Trong số DN chịu ảnh hưởng, đáng chú ý có tên của Formosa DN đang gây bất bình lớn với người dân Việt Nam xung quanh sự cố gây thảm họa môi trường nghiêm trọng tại nhiều tỉnh Bắc miền Trung. Tổng cục Thuế cho biết: Đối với dự án Formosa, ngoài nhà máy của Formosa chịu ảnh hưởng trực tiếp và 16 nhà thầu chính đang thi công các hạng mục cho dự án Formosa cũng bị ảnh hưởng, trong số các nhà thầu này đều là DN đến từ Trung Quốc.

Theo Tổng cục Thuế, để hỗ trợ các DN bị ảnh hưởng nói trên, cơ quan thuế đã thực hiện gia hạn hồ sơ khai thuế và gia hạn nộp thuế cho nhiều DN. Ngoài ra, còn thực hiện cơ chế giải quyết hồ sơ hoàn thuế nhanh (hoàn trước kiểm sau cho 408 hồ sơ đề nghị, với tổng số tiền hơn 15.200 tỷ đồng).

Trong đó, riêng Hà Tĩnh đã hoàn cho Formosa kể từ kỳ hoàn thuế tháng 4/2014 cho đến nay số tiền 10.173 tỷ đồng, trong đó 1.185 tỷ đồng là thuế giá trị gia tăng đã nộp khâu nhập khẩu thực hiện cơ chế ghi thu ghi chi.

Ngoài ra, Formosa còn được Bộ Tài Chính miễn giảm, miễn phạt và hoàn lại số tiền thuế đã truy thu, phạt cho Formosa trước khi xảy ra sự kiện 13/5/2014, số tiền trị giá 71,6 tỷ đồng. Đây là số tiền miễn giảm và hoàn lại khoản thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đã nộp đối với hoạt động hút cát san nền số tiền 71,6 tỷ đồng (trong đó thuế tài nguyên là 49,2 tỷ đồng, phí bảo vệ môi trường là 22,75 tỷ đồng).

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã không truy thu thuế nhà thầu đối với hàng hóa, thiết bị nhập khẩu kèm theo bảo hành số tiền 176,3 tỷ đồng, đồng thời không truy thu số tiền phạt vi phạm hành chính về thuế 32,88 tỷ đồng, cùng miễn phạt vi phạm chính về thuế số tiền 1,26 tỷ đồng.

Trao đổi với Dân trí, một số chuyên gia tài chính cho biết, việc hoàn thuế cho Formosa Hà Tĩnh như trên cũng không có gì khó hiểu. Theo quy định hiện hành, cơ quan thuế sẽ thực hiện hoàn thuế cho các hoá đơn đầu vào thuộc diện ưu đãi đầu tư cho quá trình nhập khẩu thiết bị tạo tài sản cố định và các hồ sơ nhập khẩu thuộc diện ưu đãi có liên quan khác. Theo quy định của ngành thuế, doanh nghiệp thuộc diện này sẽ phải nộp đủ thuế nhập khẩu trước rồi làm hồ sơ xin hoàn thuế sau.

Đặc biệt, ngoài các đề xuất miễn thuế, hoàn thuế và không truy thu thuế đối với Formosa, qua quá trình kiểm tra, cơ quan thuế, hải quan đã phát hiện nhiều sai phạm của Formosa và đề nghị Bộ Tài chính truy thu và thu nhiều số tiền vi phạm.

Tờ trình của Tổng cục Thuế chỉ rõ: “Qua rà soát, kiểm tra, cơ quan thuế và hải quan đã phát hiện nhiều sai phạm của Công ty Formosa như: Cơ quan Hải quan đã truy thu 5,5 tỷ đồng của Formosa vì Công ty này đã kê khai, áp mã HS chưa đúng với quy định hiện hành, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp đối với mặt hàng kết cấu thép tiền chế dạng tháp và các bộ phận rời kèm theo dùng để lắp ghép nhà xưởng”.

Ngoài vi phạm trong lĩnh vực hải quan, Formosa còn bị cơ quan thuế phạt vi phạm hành chính 225 tỷ đồng do kê khai, hồ sơ hoàn thuế sai quy định. Cụ thể, trước đó, Formosa đã gửi hồ sơ yêu cầu Chi cục thuế tỉnh Hà Tĩnh hoàn cho họ 1.554 tỷ đồng từ gần 20.000 bộ hồ sơ hoàn thuế. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra hồ sơ hoàn thuế của doanh nghiệp, cơ quan thuế đã phát hiện doanh nghiệp sử dụng hóa đơn hoàn thuế không đúng quy định, và do vậy không thể hoàn thuế cho doanh nghiệp.

____

anhbasam mời các bạn xem thêm: Tổng cục Thuế đề nghị miễn và hoàn thuế hơn 10.000 tỷ đồng cho Formosa (Zing/ TGTT). –Formosa được miễn, hoàn thuế hơn 10.000 tỉ đồng? (NLĐ). – Có hay không Hà Tĩnh dâng “bảo bối” cho Formosa? (TP). – Ông Võ Kim Cự: Sẽ buộc Formosa dừng hoạt động nếu sai cam kết (VTC). – Ông Võ Kim Cự thừa nhận bài học Formosa trước dân(ĐV).

BBC

10-8-2016

Việc Formosa Hà Tĩnh được miễn và hoàn thuế hơn 10 ngàn tỷ đồng, (500 triệu đô la), theo đề xuất của Tổng cục Thuế, là con số gây “giật mình” và có thể “gây phản ứng không tốt trong xã hội”, theo một kinh tế gia từ Hà Nội.

Đây là một phần nội dung dự thảo về Một số biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp bị thiệt hại trong đợt bạo động hồi tháng

Năm 2014 liên quan tới vụ Trung Quốc hạ đặt Giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông, các báo Việt Nam đồng loạt đưa tin hôm 10/8.

“Đọc con số đó, tôi thấy giật mình, bởi nó tương đương với gần 500 triệu đôla, gần như bằng với số tiền mà Formosa chấp nhận bồi thường ban đầu cho sự cố môi trường mà họ gây ra,” kinh tế gia Phạm Chi Lan nói với BBC Tiếng Việt.

“Điều này có thể gây ra phản ứng ngay lập tức, khiến người ta sẽ đặt câu hỏi ‘không lẽ Formosa đặt vấn đề bồi thường ngần này về môi trường, và Việt Nam nay lại chấp nhận bồi thường thuế cho họ bằng một con số tương đương?’ Điều này sẽ gây ra phản ứng không tốt trong xã hội,” bà Chi Lan nói thêm.

Hoàn thuế

Theo trang Zing, sau vụ bạo động tháng Năm 2014, Formosa Hà Tĩnh khai báo chịu thiệt hại lên đến 5.533 tỷ đồng.

Nhưng kết luận của phía Việt Nam là thiệt hại của Formosa là 4,77 tỷ đồng, các nhà thầu làm cho Formosa là 68,32 tỷ đồng.

Thời báo Kinh tế Việt Nam cho biết để hỗ trợ, Formosa được Bộ Tài chính miễn giảm, miễn phạt và hoàn lại số tiền thuế mà Formosa đã bị truy thu và phạt trước khi xảy ra sự kiện 13/5/2014, trị giá 71,6 tỷ đồng.

Ngoài ra, Bộ Tài chính “không truy thu thuế nhà thầu đối với hàng hóa, thiết bị nhập khẩu kèm theo bảo hành số tiền 176,3 tỷ đồng, đồng thời không truy thu số tiền phạt vi phạm hành chính về thuế 32,88 tỷ đồng, cùng miễn phạt vi phạm chính về thuế số tiền 1,26 tỷ đồng,” theo tờ báo.

Đặc biệt, theo báo Dân Trí, “Hà Tĩnh đã hoàn cho Formosa kể từ kỳ hoàn thuế tháng 4/2014 cho đến nay số tiền 10.173 tỷ đồng, trong đó 1.185 tỷ đồng là thuế giá trị gia tăng đã nộp khâu nhập khẩu thực hiện cơ chế ghi thu ghi chi.”

Đây là lần đầu tiên số liệu về các khoản hoàn thuế cho Formosa được công khai trên truyền thông nhà nước.

“Nếu tôi là Tổng cục Thuế, tôi sẽ ngay lập tức đưa ra bài viết nói rõ cách tính toán của họ như thế nào, trong những trường hợp như thế nào, và lập luận của họ tại sao Formosa lại có thể được bồi thường, hỗ trợ như vậy,” bà Phạm Chi Lan bình luận với BBC Tiếng Việt

“Cần phải làm rõ ngay thông tin, phải minh bạch hóa việc đó. Cần phải có giải trình cho dân biết chứ không thể để người dân chỉ dựa vào những thông tin chỉ do báo chí đưa,” bà nói thêm.

‘Thời điểm không hợp lý’

Nhận xét về việc đưa đề xuất bồi thường cho Formosa, bà Phạm Chi Lan cho rằng lúc này là thời điểm không thích hợp.

“Tôi thấy thời điểm đưa ra [đề xuất của Tổng cục Thuế] vào lúc này là không hợp lý, không phù hợp,” bà nói, bởi việc hỗ trợ các doanh nghiệp bị thiệt hại “phải được tách ra khỏi việc Formosa đã có một loạt các vi phạm về thuế mà các cơ quan thuế đã nêu ra trước đó”.

“Nếu là thiệt hại phát sinh từ thời điểm do xô xát, bạo loạn liên quan tới vụ giàn khoan hồi năm 2014, thì việc đó lẽ ra phải giải quyết từ thời gian đó rồi, khi Chính phủ có quyết định về việc sẽ có bồi thường cho các công ty bị thiệt hại trong thời gian đó. Vậy tại sao lúc đó không thực hiện ngay mà lại để đến bây giờ?”

“Việc bồi thường có thể được thực hiện như chính phủ đã thực hiện đối với một số doanh nghiệp ở Bình Dương hoặc ở những nơi khác. Nhưng việc đó phải được tách riêng chứ không thể đem gắn chung vào việc miễn hoàn thuế.”

“Formosa có rất nhiều vấn đề về thuế. Việc ghi chung như thế này sẽ gây nhiễu về các con số. Bản thân cơ quan thuế đã có lần đưa lên báo chí là qua kiểm tra giám sát đã phát hiện Formosa có những trường hợp khai không đúng, phải bị phạt về thuế. Thông tin đó xảy ra gần như đồng thời với lúc Formosa gây ra thảm họa môi trường.”

“Tại sao nay chưa thấy nói về việc trừng phạt đối với hành vi gian lận thuế mà đã nói tới việc bồi hoàn thuế cho Formosa? Điều này gây nhiễu thông tin và khiến người dân thấy khó hiểu về cách hành xử của các cơ quan nhà nước.”

“Các khoản miễn, không truy thu khác, được đưa ra vào lúc này, phải được gắn với việc Formosa vẫn còn đang nợ trong khoản tiền 500 triệu đôla họ cam kết bồi thường sau sự cố môi trường.”

“Theo thông tin báo chí nêu ra, họ mới bồi thường 250 triệu đôla, tức là họ vẫn đang còn nợ 250 triệu đôla nữa.”

“Khi họ còn nợ tiền đền bù mà phía Việt Nam lại đem đền bù ngay cho họ hoặc miễn trừ thuế ngay cho họ là điều theo tôi là không hợp lý.”

Cuối tháng Sáu, Việt Nam loan báo vi phạm và sự cố trong quá trình thi công, vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy Formosa Hà Tĩnh đã làm hải sản chết bất thường tại 4 tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên-Huế trong tháng Tư.

Formosa cam kết sẽ bồi thường tổng số tiền trên 11.500 tỷ đồng (tương đương 500 triệu USD).

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm | Leave a Comment »

►Tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck, người đã cứu 11.300 thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông hồi thập niên 1980

Posted by hoangtran204 trên 10/08/2016

“Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời… Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới”.

anhbasàm

_____

 

Dr. Rupert Neudeck: Sống thanh đạm, hoạt động cao cả

Nguyễn Hữu Huấn

9-8-2016

Rất nhiều người đã cho rằng: Chúa Giêsu và triết gia người Pháp Albert Camus (1913-1960) là hai thần tượng của Dr. Rupert Neudeck, xuyên qua dụ ngôn “Người Samirita nhân hậu” trong Kinh Thánh và “huyền thoại Sisyphos” của Albert Camus, người đoạt giải Nobel văn học qua các sáng tác của ông đã đưa ra ánh sáng những vấn đề phải đặt ra cho lương tâm loài người trong thời đại này. 77 năm trên dương thế của Dr. Neudeck đều được tóm gọn trong niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa với lòng nhân hậu cứu độ tha nhân, bất chấp bất cứ chống đối nghịch cảnh nào, không khác gì một Sisyphos nhỏ bé phải lăn một tảng đá tròn khổng lồ lên đỉnh một ngọn núi dốc cao chót vót. Suốt cuộc đời hành sự nhân đạo cứu người của ông đều được phát xuất từ tinh thần bác ái Thiên Chúa Giáo, cộng với ý tưởng nhân bản qua lời của Albert Camus: “Con người không phải xấu hổ khi mình đang được hưởng hạnh phúc, nhưng họ sẽ phải xấu hổ khi chỉ biết giữ lấy hạnh phúc đó cho riêng mình.

H1

Tôi may mắn – có thể nói là một diễm phúc – lần đầu tiên được hội ngộ với Dr. Rupert Neudeck vào tháng 4 năm 1980, khi ông dẫn đầu phái đoàn của Ủy Ban Cap Anamur có ông Hans Voss (chủ tàu Cap Anamur – người đã hiến tặng tàu này để vớt thuyền nhân VN trong 3 năm mà không nhận tiền thuê mướn) và bà bác sĩ Bärbel Krumme, đến trại tỵ nạn Singapore thăm các thuyền nhân tỵ nạn VN được tàu Cap Anamur cứu vớt. Ông linh hoạt, nhanh nhẹn, áo chemise trắng, quần jean, vai đeo lủng lẳng túi xách màu xám lòng thòng dây nhợ từ cái máy thu băng và tươi cười hỏi thăm từng thuyền nhân ông gặp.

Cái tên “Rupert Neudeck” thật rất lạ và chẳng có ý nghĩa gì cho lắm đối với một thuyền nhân tỵ nạn vô danh vừa được tàu Cap Anamur cứu sống trước đó chì một tháng. Không thể ngờ rằng, từ hôm đó cho đến ngày ông lìa đời, tôi được theo chân ông và cùng với ủy ban Cap Anamur và Hội Mũ Xanh (cả hai đều do ông sáng lập), đã có những liên hệ mật thiết, từ các công tác thiện nguyện cứu người đến những sinh hoạt bình thường cá nhân, từ những chuyến công tác xa xôi đến những sợi dây vô hình gắn bó giữa hai gia đình thành một đại gia đình. 34 năm làm việc với gia đình ông, tôi đã học được rất nhiều điều cần phải học; 34 năm cùng chung niềm vui mỗi khi công tác hoàn thành như ý; 34 năm được ông hướng dẫn để vượt qua những khó khăn trong nhiều dự án… và 34 năm cũng là thời gian đủ để hiểu rõ con người ông, cá tính của ông và cả những ước vọng của ông.

Sống nhân đức, khổ hạnh, tự nghiêm khắc với mình, rất giản dị, hiền hoà và có đầu óc  khôi hài dí dỏm, nhưng lại có những suy nghĩ táo bạo khác người, bướng bỉnh, nhiều khi độc đoán, thẳng thắn chỉ trích chống đối, lì lợm và liều mạng, dám nói dám làm những gì mà người khác chưa nghĩ đến hoặc không dám nghĩ đến: đó là 2 con người đối nghịch trong cùng một con người mang tên Rupert Neudeck, nhưng ông lại thành công trong hầu hết những công việc nhân đạo mà ông muốn thực hiện, khiến những kẻ chống đối đả kích ông trước đây, sau này đều phải cảm phục kính trọng ông.

Trong suốt quá trình cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn VN từ năm 1979 đến năm 1988, Dr. Rupert Neudeck là người đứng mũi chịu sào trước những chống đối mãnh liệt của hầu hết các chính trị gia trong chính quyền Đức thời đó. Bây giờ, 37 năm đã trôi qua và Dr. Rupert Neudeck cũng không còn nữa, tôi xin kể vài câu chuyện rất ít người biết sau hơn 34 năm học hỏi theo gót chân ông, để tưởng nhớ đến ông và cũng để chúng ta thấy được con người của ông với những táo bạo liều lĩnh và tấm lòng nhân hậu của ông đối với các thuyền nhân tỵ nạn VN cũng như người tỵ nạn trên thế giới nói chung.

H2Dr. Neudeck và tác giả trên Cap Anamur II năm 1986

Thuở ban đầu, ít ai biết chuyện có nhiều phần tử cực đoan quá khích người Đức đã ném từng gói phân vào nhà ông như một hành động chống đối việc ông đang kêu gọi cứu vớt thuyền nhân VN. Ông không nản lòng và bà thì chỉ thấy tội nghệp cho họ, vì khi họ phải tự gói đóng  những thứ này thì chính họ đã phải ngửi trước mùi vị của nó. Nhiều người gọi ông là “tên quái gở” hay là “kẻ buôn người”.

Ông chỉ trích thẳng thừng chế độ quan liêu cứng ngắc của chính quyền Đức và sự thờ ơ của các chính trị gia Đức thời đó. Mặc dù là người tu xuất theo Dòng Tên (Jesuits), một tín đồ Công Giáo thuần thành, sau này ông vẫn phê bình cả Giáo Hội Công Giáo Đức là quá hoang phí tiền của để sửa sang nhà thờ, trưng bày hoa nến một cách xa hoa, hay chỉ biết ngày đêm cầu nguyện trong phòng kin mà không thực sự bằng hành động cứu giúp tha nhân đang khốn cùng chết chóc, nghèo đói vì chiến tranh hay thiên tai. Ông kêu gọi phải chấm dứt việc này vì theo ý ông, đó chính là Giáo Hội Công Giáo của ngày mai. Ông cũng không tán thành việc thu thuế nhà thờ từ các tín đồ Thiên Chúa Giáo mà ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân giới trẻ Đức bỏ đạo. Bù lại, ông vui mừng và hãnh diện là thuyền nhân tỵ nạn VN đã đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Đức hơn 10 vị Linh Mục và nhiều tu sĩ nam nữ, thí dụ chỉ trong một ghe tỵ nạn được cứu vớt vào đầu năm 1982 đã có đến 3 vị Linh Mục, 2 hiện ở Đức và 1 ở Úc. Ông còn can đảm công khai chỉ trích và lên án chính sách chà đạp nhân quyền của chính phủ Do Thái đối với người Palestine, một việc mà giới truyền thông Đức không bao giờ dám làm mà chỉ đưa tin và không bao giờ dám phê bình chỉ trích.

Hai lần con tàu Cap Anamur bắt buộc phải chấm dứt trở về cảng Hamburg là hai lần đã cứu vớt đủ số lượng thuyền nhân tỵ nạn VN đã được chính quyền Đức phê chuẩn chấp nhận vào định cư tại Đức. Ông đã liều mạng bất chấp luật lệ và hậu quả, ra lệnh cho chúng tôi mỗi lần trước khi trở về phải kéo dài thêm thời gian tìm cứu người vượt biển và cố gắng vớt thêm được càng nhiều càng tốt. Chính vì thế mà lần thứ nhất, tháng 5 năm 1982, chuyến cuối cùng của tàu Cap Anamur I đã mang theo 178 thuyền nhân tỵ nạn cập cảng Hamburg, trong khi con số được chấp thuận chỉ còn vỏn vẹn vài chục. Rồi đến tàu Cap Anamur II sau hơn 3 tháng hoạt động đã phải trở về Hamburg vào tháng 6 năm 1986 với 357 thuyền nhân, trong khi chỉ còn hơn 100 được chấp thuận trước đó. Ông đã mạo hiểm cố tình đẩy chính quyền Đức lúc bấy giờ vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải nhận thêm số người thặng dư này vì cả hai con tàu đều mang quốc tịch Đức và cảng mẹ cũng tại Đức (theo luật tỵ nạn LHQ lúc bấy giờ). Cũng trong thời gian này, chính quyền Đức đã hai lần trao tặng ông Huân Chương Danh Dự (Bundesverdienstkreuz), loại huân chương cao quý nhất của Đức; Hai lần ông đều từ chối và sẵn sàng đổi 2 huy chương đó lấy 2 chuyến tàu tiếp tục đi vớt thuyền nhân tỵ nạn VN.

H3Dr. Neudeck sinh hoạt văn nghệ với thuyền nhân trên tàu

Năm 1987, nước Đức cương quyết không nhận thêm thuyền nhân VN nữa, ông hợp tác ngay với hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp (Médecins du Monde) cho ra con tàu Cap Anamur III, mang quốc tịch Pháp, nước Pháp nhận hết thuyền nhân (905 người) và ủy ban Cap Anamur chịu tất cả mọi phí tổn. Khi các trại tỵ nạn đóng cửa không tiếp nhận thuyền nhân

Cùng với chương trình thanh lọc và cưỡng bức hồi hương, thì năm 1989 ông lại âm thầm cho ra khơi liên tiếp 2 con tàu (tháng 6 Cap Anamur IV và tháng 10 Cap Anamur V) với hai mục đích là đánh đuổi bọn hải tặc Thái Lan và giúp đỡ hướng dẫn thuyền nhân VN cập đảo. Đây là một hành động đi ngược lại luật lệ, ngược lại chính sách của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và các chính quyền đang có trại tỵ nạn tại Đông Nam Á thời bấy giờ.

Mỗi khi phát hiện được ghe vượt biển, chúng tôi đưa họ lên tàu, câu luôn cả chiếc ghe. Các thủy thủ có nhiệm vụ kiểm soát an toàn cho chiếc ghe hoặc sửa chữa máy nếu bị hư hại. Các nhân viên y tế khám sức khỏe, phát thuốc và chúng tôi phân phát lương thực cho mọi người. Tất cả đều được đựng trong những túi nylon hoặc chai bằng nhựa, không nhãn hiệu, không xuất xứ để tránh có thể bị phát hiện sau này. Thuyền trưởng có nhiệm vụ chọn ngày giờ tối đen nhất, không trăng sao, tắt tất cả đèn tàu trên boong, lái tàu tiến vào chỗ gần bờ nhất, rồi câu ghe xuống. Chúng tôi dùng đèn pin đưa từng người xuống ghe, giao tận tay anh tài công 1 búa tạ lớn và 1 súng bắn hỏa pháo, dặn dò khi vào đến bờ phải đập tan nát ghe và máy ghe, rồi bắn hỏa pháo để chúng tôi biết được họ đã an toàn cập bờ. Vừa nhìn thấy hỏa pháo, thuyền trưởng tức khắc cho tàu chạy ra xa, chờ khi trời vừa sáng lại tiến vào chạy ngay bờ quan sát. Không cần ống nhòm chúng tôi cũng thấy được chiếc ghe đen đậm màu vỡ nát trên bờ cát trắng với tiếng reo hò của những thuyền nhân trong trại thức sớm. Cứ thế, hơn một chục chiếc ghe cập bờ với hàng trăm thuyền nhân được bình an do quyết định âm thầm đầy táo bạo và liều lĩnh của Dr.Rupert Neudeck! Chúng tôi âm thầm ra đi và yên lặng trở về, giới báo chí truyền thông cũng chẳng hay biết gì.

Phải nói rằng, nơi nào trên thế giới chiến tranh khốc liệt nhất, người dân bị đầy đọa khốn cùng nhất, nơi nào không ai dám đến nhưng cần phải được cứu giúp thì đều có mặt Dr. Rupert Neudeck, bất chấp hiểm nguy, bất chấp luật lệ. Vào cuối thập niên 80, Nga Sô xua quân xâm chiếm Afghanistan và tàn sát dã man, khiến hàng trăm ngàn người dân vô tội tỵ nạn phải trốn chạy vào các hang hóc trong những dẫy núi hiểm trở tránh bom đạn, không nước uống, không thực phẩm, không thuốc men….

Năm 1986, ông đơn thân độc mã với bộ râu hàm, quấn khăn phủ đầu, cưỡi con lừa tả tơi không khác một tín đồ Hồi Giáo đi vào vùng kháng chiến quân Afghanistan (Mudschaheddin) chống quân xâm lăng Nga Sô gần biên giới Pakistan để quan sát và giúp đỡ thực phẩm thuốc men cho họ. Lần đó, đoàn của ông bị trực thăng Nga Sô phát hiện và bắn đuổi bằng súng máy và hỏa tiễn Ông phải trốn chạy hơn 30 tiếng đồng hồ mới thoát qua được biên giới Pakistan. Hai người trúng đạn và 1 con lừa bị đạn. Sau này ông kể lúc đó ông nghĩ mình sẽ không thoát khỏi cái chết nát thây, nhưng ông vững tin vào Thiên Chúa, nhớ về ba người con còn nhỏ dại và như một phép lạ, ông đã thoát chết trở về bình an.

H4Dr. Neudeck với kháng chiến quân Afghanistan năm 1986

Năm 1987 tại Uganda, nhà độc tài quân phiệt Milton Obote tàn sát tập thể dân chúng khiến họ phải chạy trốn đến biên giới Süd-Sudan, ông cũng có mặt tại đây và bị bọn lính chĩa súng bắt phải uống rượu trước khi chúng thả ông.

H5Dr.Neudeck in Syrien năm 2011

Năm 1988 khi đang cứu trợ dân tỵ nạn Eritrea thì hàng loạt máy bay Migs của quân đội Äthiopie thả bom xối xả. Ông theo đoàn tỵ nạn phải trốn lánh trong hầm sâu hàng giờ và ông thoát chết.

Năm 2001, khi nước Đức và nhiều quốc gia Âu Châu đang khủng hoảng vì bệnh dịch thịt bò (BSE), dân chúng sợ hãi căn bệnh chết người không dám ăn và hàng trăm ngàn con bò bị thiêu hủy không cần biết chúng có bị nhiễm hay không, trong khi người dân CS Bắc Hàn đang chết đói hàng loạt vì thiếu lương thực. Ông mướn ngay tàu chở theo hàng trăm con bò

chưa/ không nhiễm bệnh từ Âu Châu cứu đói người dân CS Bắc Hàn. Cho đến nay, tôi cũng không biết làm cách nào ông được phép mua lại những con bò ấy, tại sao chính quyền Đức cấp giấy phép cho ông và lý do gì một quốc gia CS khắc nghiệt Bắc Hàn lại đồng ý cho một con tàu viện trợ từ một quốc gia Âu Châu cập cảng. Ông chỉ cười và nói rằng, đây là căn bệnh cố hữu của tư bản nhà giàu, họ luôn… sợ chết, mà dân Bắc Hàn có ai chết vì thịt bò ông cứu trợ đâu?

Tháng 5 năm 2013 trong khi cứu trợ người tỵ nạn tại Syrien, 3 thành viên người Đức của ông trong tổ chức “Hội Mũ Xanh” bị phiến quân bắt cóc. Ông không sợ hãi hay nản lòng, không yêu cầu chính phủ can thiệp, không thông tin với báo chí mà tự giải quyết với năng lực và sự khôn khéo của mình. Cuối cùng cả 3 thành viên đã tự giải thoát trở về sau gần 3 tháng bị cầm tù.

Những câu chuyện trên cho người ta thấy rõ được con người nhân đạo quyết liệt của Dr. Rupert Neudeck: cứu sống sinh mạng con người phải cấp tốc tức khắc, không chần chừ do dự, không sợ hãi, không ràng buộc luât lệ, không tính toán hơn thiệt, không câu nệ phương thức, không phân biệt màu da, không phân biệt chính kiến… vì theo ông, tất cả đều là con người, và mỗi người đều có trách nhiệm hỗ trợ và cứu giúp lẫn nhau để cùng chung sống an bình.

Người ta vẫn không giải thích được, từ đâu và tại sao, một con người mang tên Dr. Rupert Neudeck, với đôi mắt luôn luôn suy tư, mũi to sần sùi với bộ râu trắng phau quanh hàm, một con người làm việc không ngừng nghỉ bất chấp thời gian và không gian, một con người lặn lội khắp nơi, bất chấp khó khăn hiểm nghèo… lại là một con người có một cuộc sống khổ hạnh, gầy còm, da bọc xương nặng chưa đầy 50 ký, ăn mặc giản dị, luôn luôn với cái túi xách lòng thòng trên vai, nhưng lại làm được những việc mà ít ai có thể làm được. Nhiều người phỏng vấn ông, ông trả lời: “Nói thật lòng, đây là một câu hỏi duy nhất mà tôi không có câu trả lời”. Nhiều nhà báo đã mô tả ông là “một cụ già trên 70 nhưng mang một thân xác của chàng thanh niên 18… gầy còm ốm đói”.

H6Dr. Neudeck thăm bệnh xá Tân Mỹ do Hội Mũ Xanh xây dựng

Tôi không tài nào quên được lần tháp tùng ông về Việt Nam sửa soạn cho hai dự án xây dựng nhân đạo tại Đồng Tháp Mười và U Minh (2006 và 2007) qua đóng góp tài chánh của cựu thuyền nhân VN tại Đức. Ông chọn hãng máy bay thật rẻ, giờ giấc bất tiện và phải chờ đổi chuyến bay rất lâu. Hành trình Frankfurt-Saigon kéo dài đến hai ngày trời vì phải chờ đổi chuyến bay tại xứ CS Bắc Hàn (Pjöngjang-Bình nhưỡng) 10 tiếng đồng hồ, cộng thêm 3 tiếng vì thời tiết xấu. Ông an ủi tôi rằng ít nhất ông có thì giờ yên tĩnh để đọc và viết sách. Ông với tôi gật gù trên hàng ghế vắng tanh, thay phiên nhau canh chừng mấy túi xách tay trước những cặp mắt cú vọ của bọn an ninh Bắc Hàn làm tôi lo sợ không ít.

Tôi mua cho ông 1 miếng bánh mì kẹp nhỏ hơn bàn tay và 1 ly cola khoảng 20 ml. Họ đòi 12 US cho miếng bánh mì kẹp và 8 US cho ly coca. Tôi hết hồn! Ông vứt trả lại hết, miệng lẩm bẩm “Die Kommunisten! Unglaublich!” (Bọn Cộng Sản! Không thể tưởng tượng nổi!). Ông bỏ đi trước tiếng la hét chửi bới đòi tiền của tên đàn ông bán hàng. Ông mở túi khoe hai ổ bánh mì kẹp của vợ ông gói cho ông đi đường rồi ăn ngon lành. Chúng tôi đến Saigon khoảng 2 giờ sáng, phi trường vắng tanh.

Chúng tôi về nhà của một cựu thuyền nhân Cap Anamur tên M., hiện đang làm thương mại tại đây và cũng là đại diện Hội Mũ Xanh tại VN. Bảy giờ sáng ông đã thức giấc đòi chở lên vùng cao nguyên lúc bấy giờ rất sôi động vì giáo dân Tin Lành nổi dậy chống đối sự đàn áp tôn giáo của chính quyền CS. Anh M. sửa soạn ăn sáng, nhưng ông nhất định lôi chiếc bánh mì kẹp còn lại trong túi xách ra ăn. Khi vừa mở bánh mì ra, tôi thấy có mấy … con gì đó lúc nhúc bên trong vì ông quên vẫn để trong túi xách hầm hơi nóng đã hơn 2 ngày. Ông bình thản nhặt từng con ra, rồi nói với chúng tôi rằng, nhiều người trên thế giới đang đói khát không có mà ăn, mình vứt ra rồi ăn có sao đâu, đừng hoang phí; hơn nữa đây là bánh mì mà bà Christel (vợ ông) đã làm cho ông. (Tác giả Nguyễn Hữu Huấn viết hơi quá lời.)

Suốt quãng đường Saigon-Kontum-Gia Lai-Saigon ông không ăn, không uống, mà chỉ xem xét, hỏi han và ghi chép, đến nỗi anh tài xế vừa mệt vừa đói không muốn lái xe nữa. Tôi năn nỉ ông cho dừng lại một quán bên đường, ông vẫn ghi chép rồi chau mày hỏi tôi “Cậu cũng phải ăn hay sao?”. Tất cả chúng tôi mệt lả người và đói khát trong khi ông vẫn… tỉnh bơ, âm thầm ghi chép làm việc. Chỉ 5 ngày ở VN, ông đi từ vùng cao nguyên xuống tận U Minh qua Rạch Giá, Vũng Tàu và đến cả Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh. Ông muốn nhìn tật mắt những nơi thuyền nhân VN đóng ghe vượt biển năm xưa như Bến Đá, Rạch Dừa, bến Ninh Kiều Cần Thơ, Rạch Giá… Tiếc thay những nơi này không còn như xưa. Tôi chở ông bằng xe gắn máy đi thăm nhà thờ Đức Bà, Chùa Vĩnh Nghiêm… rồi  ngồi ghế đẩu uống nước quán vỉa hè rất thoải mái. Đêm cuối cùng trước khi về lại Đức, anh M. có nhã ý mời ông dùng cơm tối trên một chuyến tàu lớn chạy vòng quanh trên sông Saigon. Ông đi với vẻ miễn cưỡng. Sau chuyến đi anh M. hỏi ông nghĩ sao, ông trả lời không nhân nhượng: “Uổng phí 3 tiếng đồng hồ làm việc, dùng số tiền ấy đi giúp người nghèo đói có phải tốt hơn không!”.

Năm 1986, gia đình ông nhận một chú bé thuyền nhân VN không cha mẹ thân nhân làm con nuôi. Ba năm sau thì được tin người cha ruột của chú bé này vừa được định cư tại Hoa Kỳ và có ý muốn nhận lại con. Ông muốn chính mình đưa chú bé giao tận tay cho gia đình (cha nuôi gặp cha ruột – như ông nói). Tôi liên lạc và thu xếp để ông đi. Người Việt tỵ nạn bên Hoa Kỳ muốn tiếp đón ông như một đại ân nhân thật trang trọng. Cả một phái đoàn người Việt áo quần chỉnh tề với bó hoa thật đẹp. Máy bay đáp xuống, hành khách lần lượt bước ra gần hết nhưng vẫn không ai thấy ông đâu và ai cũng lo sợ nhầm chuyến bay hoặc khả dĩ liệu ông đổi ý vào giờ chót chăng. Bỗng có người thấy một ông già với bộ râu xồm xoàm, gầy đét, quần jean áo bỏ ngoài đang ngồi trong một góc vắng cười đùa nói chuyện với một chú bé VN. Có người đến hỏi ông, ông mỉm cười tự giới thiệu. Lúc đó cả phái đoàn giật mình, đồng loạt cởi bỏ áo vét và cravattes, ngượng ngùng trao ông bó hoa. Ông từ chối mọi phỏng vấn, từ chối mọi tiếp đón để trao tận tay cậu bé cho người cha ruột. Ông từ chối đến khách sạn đòi nghỉ đêm tại nhà cha ruột của cậu bé và trở về lại Đức ngay sáng hôm sau.

H7Dr.Neudeck in Somalia/Phi Châu

Năm 1987 sau khi con tàu Cap Anamur III về Pháp, nhiều đoàn thể tổ chức người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ (sau này là Úc và Canada), đã nhiều lần mời Dr. Rupert Neudeck và một số vị ân nhân khác của thuyền nhân tỵ nạn VN sang Hoa Kỳ để vinh danh, đồng thời quyên góp cho những công tác cứu người vượt biển của ủy ban Cap Anamur và tổ chức Medicins du Monde của Pháp do ông Bernard Kouchner và Alain Deloche lãnh đạo. Dr. Rupert Neudeck luôn luôn từ chối không tham dự mặc dù tôi cố gắng đốc thúc. Ông suy nghĩ khác, vì theo ông, vinh danh là thừa thãi vô ích, ông không thích được vinh danh và ông muốn tôi nói với người Việt bên Hoa Kỳ rằng, nước Mỹ phải có trách nhiệm với thuyền nhân VN và người Mỹ gốc Việt có dư thừa điều kiện và khả năng sao không vận động cho ra một con tàu như ông để tự cứu chính dân tộc mình !!!

H8Dr. Neudeck tại khu vực người tỵ nạn Kurden

Dr. Rupert Neudeck được rất nhiều đài truyền hình, đài phát thanh hay các tổ chức người Đức mời phỏng vấn hoặc diễn thuyết. Ông yêu cầu chuyển tất cả mọi thù lao vào trương mục của Cap Anamur hay Hội Mũ Xanh. Ông từ chối không nghỉ trong khách sạn 5 sao và cũng yêu cầu chuyển chi phí khách sạn cho hai tổ chức của ông. Bất cứ đi đâu trong nước Đức ông đều đi xe lửa và có vẻ thích thú khoe với tôi rằng ông có vé xe lửa bớt 50% nên rẻ lắm. Mỗi lần có việc lên Hamburg hay vùng Bắc Đức ông đều nghỉ đêm trong nhà tôi. Ngại ông không hợp thức ăn VN, tôi mời ông đến nhà hàng. Không những ông từ chối mà còn không cho vợ tôi nấu nướng gì rồi tự xuống bếp, khi thì chọn hộp xúp gà với nui, khi thì ăn miếng bánh mì lát chấm với súp thịt hộp Gulasch và một ly nước suối, nói chuyện dăm câu rồi đi ngủ. Lần nào ông cũng thức giấc rất sớm, uống vội tách cà phê không đường, đem theo một chai nước suối nhỏ, ít lát bánh mì và một trái táo, đủ làm hành trang cho một ngày của ông.

Tôi chở ông đến trạm xe lửa, khi thì đi Bá Linh, khi thì Stuttgart, München hoặc nơi nào đó vì ông liên tiếp có những cuộc hẹn quan trọng. Nhiều lần vào mùa đông, buổi sáng giá rét, ông mượn tôi chiếc áo len để mặc vì vội đi nên quên. Có lần trước khi chở ông đến đài truyền hình ARD, tôi chợt thấy ông choàng chiếc khăn quấn cổ màu xanh của hội đá banh FC Schalke 04. Ông giật mình cởi ra ngay rồi hỏi mượn tôi chiếc khăn khác. Ông bảo có một thanh niên Đức gần nhà ông biết ông là Fan của hội này nên mang đến tặng ông và khi đi ông vơ đại chiếc khăn đó choàng vào cổ. Tôi nghĩ đá banh là sở thích của ông, nhưng ông lại bảo, ông chưa từng đi xem đá banh, kể cả trên truyền hình. Tôi nghĩ sở thích của ông là… “làm việc nhân đạo, cứu giúp người tỵ nạn”.

Một lần khi sửa soạn tổ chức đại hội Cap Anamur tại Troisdorf, ông bảo tôi và một số anh em trong ban tổ chức ghé nhà ông nghỉ đêm. Vì mang sẵn túi ngủ nên chúng tôi xin ngủ trên sàn nhà trong phòng khách. Ông bà và con cái ngủ hết trên lầu. Đang đêm khuya có ai bật đèn, chúng tôi choàng dậy thấy ông mặc quần áo lót trắng cụt ngủn, tay ôm chiếc gối vuông, lum kum lần mò trong ánh sáng ngọn đèn mờ. Ông bảo ông đang tìm chỗ ngủ và nói chúng tôi xích gọn lại cho ông nằm chung, vì tối hôm ấy bà Neudeck cũng rủ một người bạn gái bác sĩ trong Cap Anamur về nhà. Ông bảo ông không thể nằm chung một phòng với cả hai người đàn bà. Trong khi chúng tôi thì thầm với nhau vừa buồn cười vừa thấy kính mến vô vàn một con người nổi tiếng được cả thế giới biết đến, lại bình thường giản dị đến thế… thì ông đã ngáy khò khò ngủ say bên cạnh từ lúc nào. Chắc các anh em này vẫn không thể quên được đêm hôm ấy.

Cũng có lần tôi hướng dẫn một số anh chị em đến nhà ông để bàn họp. Vợ tôi vì đã quen nhà ông nên rủ vài chị đi pha cà phê và nước trà. Gia đình ông vẫn sử dụng bình pha cà phê thời thập niên 80, cái máy cũ rích kêu rồn rột như vòi nước bị nghẹt. Cả một ngăn tủ ly tách hiệu Ikea thì đủ màu, đủ kiểu, đủ cỡ không có cái nào giống cái nào, cứ như ngoài chợ trời. Một chị khệ nệ bưng khay cà phê vừa đi vừa nói tiếng Việt: “Quý vị coi chừng nhé, uống cà phê phải để ý coi chừng bị rách môi đó” vì chị thấy nhiều ly tách bị mẻ miệng.

Tuy thế, ông rất vui tính và dí dỏm.

Một nhà báo Đức hỏi ông tại sao mỗi lần ông xuất hiện thì có hàng trăm người VN xếp hàng nối đuôi nhau muốn chụp ảnh với ông, ông trả lời: “Bạn không biết sao? Tôi là người được chụp ảnh nhiều nhất nước Đức đến nỗi các ông bà chính trị gia phải phát ghen lên đấy!”

Ông kể cho tôi rằng thuở ban đầu, ông có 2 người bạn chính trị gia kiên quyết ủng hộ ông, đó là ông Dr. Ernst Albrecht (thủ hiến tiểu bang Niedersachsen) và ông Johannes Rau (thủ hiến tiểu bang Nordrhein-Westfalen, sau này là tổng thống Đức) và hai chính trị gia chống đối ông mãnh liệt nhất là ông Franz Josef Strauß (thủ hiến tiểu bang Bayern) và ông Holger Börner (thủ hiến tiểu bang Hessen). Ông dí dỏm đại ý rằng, cứ để 2 phe cấu xé nhau đi, mình ở giữa, làm… ngư ông hưởng lợi. Và “cái lợi” đó chính là 11.300 thuyền nhân VN tỵ nạn đã được cứu sống – ông nói.

Khoảng 15 năm trước, trong một lần ghé thăm gia đình ông, bà Christel Neudeck bới trong đống cây cỏ héo ngoài góc vườn nhỏ chỉ cho chúng tôi một đầu người được đúc bằng đồng rất nặng. Một điêu khắc gia nổi tiếng tại Đức vì cảm phục và quý mến ông nên đã khắc và đúc tượng đầu của Dr. Rupert Neudeck và chính tay mang đến tặng gia đình ông bà và bà miễn cưỡng phải nhận. Bức tượng rất đẹp và rất giống ông. Bà Neudeck cũng… dị đoan, thắc mắc nói với chúng tôi rằng, chồng bà vẫn còn sống, sao lại có người mang đến tặng như thế, nên bà đem ra giấu ở góc vườn dưới đám lá khô. Bà bảo chúng tôi mang về nhà và phải hứa khi hữu sự thì phải mang trả lại cho ông… Nhưng thật lòng chúng tôi không bao giờ muốn trả lại cho ông!

H9Dr.Neudeck với chim hòa bình tại Afghanistan

Cách đây vài năm ông bị mổ tim lần thứ nhất. Khi tỉnh dậy ông mới biết vị bác sĩ mổ tim cứu sống ông lại là một thuyền nhân VN được tàu Cap Anamur cứu sống gia đình anh, khi anh mới được 3 tuổi. Ông nắm tay vị bác sĩ này và nói: “Năm xưa tôi cứu sống anh và người VN, năm nay anh cứu sống tôi, như thế người Việt tỵ nạn và  tôi huề với nhau, chúng ta không ai còn nợ nần ai nữa!”.

Ông nhiều lần kể cho tôi những chuyện thật hy hữu với khuôn mặt rạng rỡ thích thú rằng, một lần sau khi dự hội nghị về người tỵ nạn thế giới của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Hoa Thịnh Đốn, ông gọi một chiếc  taxi. Anh tài xế vừa lái vừa ngoảnh cổ nhìn ông hỏi: “Ông có biết ông Neudeck ở bên Đức không?” Ông cười và trả lời “Ông ta là ai? Tôi không biết”. Anh taxi hơi ngượng nói lại: “Tôi nhìn ông sao giống ông Neudeck quá, ông ấy cứu vớt tôi từ ngoài biển đấy!”.  Cả hai cùng cười… để rồi anh taxi nhất định không nhận tiền ông. Ông nói với tôi: “Thì ra cuốc xe này đáng giá cả một mạng người”.

Một lần khác trên phố Manhattan/New York khi ông đang lững thững đi bộ qua toà nhà World Trade Center (cũ), chợt có một chị từ trong tòa nhà bước ra ôm chầm lấy ông la lớn: “Ông là ông Neudeck-Cap Anamur  phải không? Tôi là Cap Anamur 6 đây, ông nhớ không?”. Lại một anh khác chạy đến nắm tay ông nói: “Kính chào ông Neudeck, tôi Cap Anamur 12 đây”… Ông chẳng hiểu Cap Anamur 6 hay Cap Anamur 12 là gì nhưng vẫn tươi cười trả lời: “Tôi nhớ chứ! Tôi nhớ chứ!”… Ông kể cho tôi rồi hỏi: “Không nhẽ tôi nổi tiếng đến thế sao?”.

Tháng giêng năm 2014, một phụ nữ VN được chọn tham dự chương trình “Wer wird Millionär ?” của Günther Jauch và thắng  được 125.000 Euro. Cô tên là Đinh Quỳnh Anh Rohm, cô và gia đình được tàu Cap Anamur cứu sống năm 1982 khi cô mới 5 tuổi. Dr. Rupert Neudeck vui và hãnh diện lắm. Ông đến thăm vợ chồng cô và đích thân mời gia đình cô đến tham dự lễ kỷ niệm 35 năm con tàu Cap Anamur ngày 09 tháng 8 năm 2014 tại cảng Hamburg. Ông bảo đó chính là nguồn an ủi nhất của ông và gia đình khi ông đã khổ công tranh đấu đem những người tỵ nạn VN này vào nước Đức và ngày nay, họ là những “nhà vô địch thế giới về sự hội nhập”, thành công trên tất cả mọi lãnh vực trong xã hội Đức này.

Có lẽ trong thời gian cuối đời, niềm an ủi thảnh thơi nhất của ông là quây quần đùa nghịch với 5 đứa cháu nội ngoại. Ông không muốn bất cứ ai quấy rầy ông trong thời gian đàn cháu nội ngoại đến thăm  ông. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng một ông già gầy tong teo gập chân quỳ xuống bò rạp trên sàn làm con ngựa già để đứa cháu 3 tuổi cưỡi quanh nhà. Chính đứa cháu này đã muốn hóa phép cho ông sống lại nhưng không tìm được cây đũa thần – như bà Neudeck rưng rưng kể lại.

Ít người biết được là ông bà Dr.Rupert Neudeck có những liên hệ mật thiết với rất nhiều nhân vật quan trọng và chính trị gia nhiều quyền lực khi xưa và đương thời. Có ai biết rằng sau hai lần tái nhiệm chức vụ thủ tướng nước Đức (2009-2013 và 2013-2017), bà Angela Merkel đều mời ông bà Dr.Rupert Neudeck đến tư gia trò chuyện. Các vị cựu chủ tịch quốc hội Đức như bà Rita Süssmuth và ông Wolfgang Thierse, cựu Tổng Thống Đức ông Johannes Rau (75), đương kim bộ trưởng tài chánh Đức ông Dr. Wolfgang Schäuble, cựu chủ tịch đảng SPD cũng là cựu phó thủ tướng Đức ông Franz Müntefering, cựu phó chủ tịch liên đảng CDU/CSU tại quốc hội Đức ông Arnold Vaatz, cựu giám đốc cơ quan tình báo và bộ trưởng ngoại giao Đức ông Klaus Kinkel… nhiều thống đốc tiểu bang hay cựu bộ trưởng liên bang Đức như ông Dr.Ernst Albrecht (84), bà Sabine Leutheusse-Schnarrenberger, ông Gerhard Rudolf Baum, ông Dr.Norbert Blüm…. và rất nhiều vị khác kể không hết, trong đó phải nhắc đến bà Marion Gräfin Dönhoff (93 sáng lập tuần báo Die Zeit) và ông Karl-Heinz Böhm (86 tài tử điện ảnh Áo, với nhiều hoạt động nhân đạo tại Phi Châu).

H10Ông bà Neudeck và thủ tướng Đức Angela Merkel (2006)

Tất cả đều là bạn bè thân hữu sát cánh bên ông. Ông coi cựu phó tổng thống Đức gốc Việt Philipp Rösler như một người con và rất thích thú khi ông này biết và hiểu rất rành mạch về thuyền nhân tỵ nạn VN. Ông Peter Scholl-Latour (90, nhà báo nổi tiếng, trước đây ủng hộ việc gởi con tàu “Cap Anamur” cứu vớt thuyền nhân VN của Dr. Rupert Neudeck, sau này lại hỗ trợ ông qua mục đích nhân đạo của “Hội Mũ Xanh”), hay ông Günter Grass (88, văn hào với giải Nobel văn chương) cho đến khi qua đời vào tháng 4 năm 2015 cũng đều là bạn đồng hành với ông. Ngay đến ông Aiman A. Mazyek (chủ tịch hội đồng trung ương Muslime tại CHLB Đức) và ông Musa Ataman (chủ tịch cộng đồng Kurden tại Bonn) cũng đã từng cộng tác và ủng hộ ông.

Tôi hẹn gặp lại ông nhân dịp lễ trao giải “Erich Fromm Preis 2016” ngày 6 tháng 4 năm 2016 tại Stuttgart. Đây là lần đầu tiên giải này được trao tặng cho một đôi vợ chồng là ông Rupert Neudeck và bà Christel Neudeck. Ai có ngờ đâu, đây là lần cuối cùng tôi gặp ông. Sức khỏe ông suy sụp thấy rõ. Trong phần diễn thuyết ngày hôm đó, tôi thấy ông ngập ngừng qua dấu hiệu quên trước quên sau. Ông mệt mỏi đi xuống và nói tôi lấy cho ông một ly nước suối. Bà Christel Neudeck thay ông trả lời phỏng vấn của giới truyền thông hoặc cám ơn quan khách đến chia vui cùng ông bà. Trước đó, ngày 30 tháng 1 năm 2016, ông tham dự ngày hội Tết Nguyên Đán Bính Thân của người Việt tỵ nạn tại Bielefeld. Ông cảm thấy mỏi mệt, tức ngực và khó thở nên đi ra khỏi phòng và yêu cầu tôi chở ông về, trong khi chương trình vẫn còn đang tiếp tục. Chính bà Christel Neudeck đã nhiều lần lo lắng và cảnh cáo ông, nhưng ông vẫn nói mình còn rất nhiều việc phải làm.

H11Nụ hôn khi nhận giải “Erich Fromm Preis” tháng 4 năm 2016

Dr.Rupert Neudeck lần đầu tiên bị mổ tuyến tiền liệt (Prostata) khoảng 2 tuần trước lễ khánh thành bia ty nạn thuyền nhân VN ngày 28 tháng 4 năm 2007 tại Troisdorf, nơi gia đình ông cư trú. Ông gắng gượng lững thững một mình lái xe đạp đến tham dự và tuyên bố rằng: “Troisdorf chính là thủ đô của người Việt tỵ nạn tại Đức”.

Cũng hai tuần trước đại hội Công Giáo VN tại Đức kỳ thứ 40 tại Aschaffenburg từ 14 đến 16 tháng 5 năm 2016, ông phải nhập viện mổ tim lần thứ 3 chỉ trong vòng 4. Lần này ông không đến tham dự được năm sau này và nằm hôn mê trên giường bệnh cho đến khi lìa đời lúc 8 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi (1939-2016). Có những lúc ngón tay ông đã cử động, cũng có những lúc ông đã mở mắt nhìn vợ và con cháu mình và gật đầu khi được hỏi ông có muốn nghe nhạc Mozart không. Những niềm hy vọng chợt lóe lên trong sự mong đợi khát khao của gia đình, nhưng ai ngờ đâu đó chỉ như ngọn nến chợt bừng sáng trước khi thật sự lịm tắt. Ông đã thật sự vĩnh viễn ra đi.

Lễ mai táng ông được tổ chức âm thầm và giản dị trong gia đình và thân hữu vỏn vẹn chưa đến 30 người vào ngày 8 tháng 6 năm 2016. Quan tài dành cho ông là 6 miếng ván gỗ thô, không sơn màu, không chạm trổ, không hoa, không nến, nằm cô đơn dưới bậc thềm Cung Thánh trong ngôi nhà thờ nhỏ gần nhà ông. Con cái và thân nhân ông tự khiêng ông đến nơi an nghỉ cuối cùng trong một nghĩa địa nhỏ tại Troisdorf.

Người thân vĩnh biệt ông với từng nắm đất và những cánh hoa dại mọc bên đường. Giữ đúng lời hứa với bà Christel Neudeck trước kia, tôi kính cẩn đặt tượng đồng khắc đầu ông trên mộ.

H12

H13Nơi an nghỉ cuối cùng của một con người suốt đời xả thân cứu giúp đồng loại.

Một tuần sau, ngày 14 tháng 6 năm 2016, Toà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Koeln và tang quyến tổ chức Thánh Lễ tưởng niệm ông tại Vương Cung Thánh Đường St.Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ tế cùng với 12 Linh Mục Việt Nam (đa số đều được tàu Cap Anamur cứu sống trước đây). Gần 2.000 người tham dự, hầu hết là thuyền nhân Việt Nam đến từ các nơi trong nước Đức và các quốc gia lân cận.

Hầu hết các Chùa Việt Nam và các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam trên toàn nước Đức đồng loạt tổ chức lễ tưởng niệm và cầu hồn cho ông như một nghĩa cử cám ơn và thương tiếc vị ân nhân đã cứu sống họ và gia đình.

Ngày 25 tháng 6 năm 2016, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức cũng tổ chức Thánh Lễ cầu nguyện cho linh hồn ông tại Thánh Đường St. Hippolitus trong thành phố Troisdorf, nơi gia đình ông cư ngụ, với 9 Linh mục Việt Nam và hơn 500 giáo dân.

Không những người Việt tỵ nạn thương tiếc ông mà người dân Đức cũng bày tỏ lòng quý mến một con người đã thay đổi được bộ mặt của nước Đức qua nhiều hành động khác nhau. Trên một chuyến xe lửa trong thành phố Koeln ngay trong ngày lễ tưởng niệm ông (14.6.2016) có người đã viết trên 1 toa xe dòng chữ “R.I.P. Rupert Neudeck” (Rest In Peace – Rupert Neudeck – Yên Nghỉ Trong An Bình).

H14

Một tấm hình khác xuất hiện trên Internet cho thấy hình con tàu nhân đạo Cap Anamur được xâm trên đùi một thanh niên Việt Nam như một ghi nhớ con tàu này đã cứu sống anh.

H15

Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời….

Kính thưa ông Dr.Rupert Neudeck,

Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới.

Để tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck

Hamburg, tháng 7 năm 2016

_________

Tưởng niệm ân nhân Rupert Neudeck (1939-2016)

Lyhuong.net

 

Rupert Neudeck_html_m2c31bcb8

 

 

 

Dr. Rupert Neudeck sinh 14.5.1939 tại Danzig trong một gia đình có 4 anh chị em.

Ngày 30.01.1945 gia đình ông chạy trốn chiến tranh trong mùa đông lạnh lẽo với mẹ. Hồng quân Xô Viết tràn vào Balan, tàu quân y “Wilhelm Gustloff” sơ tán đưa người tỵ nạn ra khỏi cảng Danzig. Khoảng 10.300 người chạy tỵ nạn trên tàu nầy bị thủy lôi của Xô Viết đánh chìm. Hàng ngàn người trên tàu thiệt mạng. Gia đình ông Neudeck nhờ lỡ tàu mà sống sót. Chính biến cố lịch sử đau thương đó ảnh hưởng đến đời sống và việc làm nhân đạo của ông sau nầy.

Khi gia đình đến định cư tại Hagen, Dr Rupert Neudeck xong trung học vào đại học theo phân khoa thần học, triết học, xã hội học tại đại học Bonn, Münster và Salzburg. Năm 1961 ông gia nhập Dòng Tên, nhưng ít năm sau ông ra khỏi Dòng và tiếp tục học.

Năm 1972, ông đậu bằng tiến sĩ triết học và lập gia đình, vợ là bà Christel có 2 con gái 1 con trai là Yvonne, Milena , Marcel và 1 cháu ngoại. Ngoài đời ông còn có hàng trăm ngàn con cháu do bàn tay cứu vớt của ông.

Khởi đầu ông làm nhà báo cho đài phát thanh Công giáo ở Köln và từ năm 1976 làm nhà báo tự do.

Năm 1977, ông làm biên tập viên chính trị cho đài phát thanh Deutschlandfunk . Trước làng sóng người Việt vượt biển tìm tự do và nhiều thảm kịch về thuyền nhân ở Biển Đông gợi ông nhớ lại câu chuyện tỵ nạn của chính mình nhờ may mắn nên còn sống sót.

Rupert Neudeck_html_6b81bc2Năm 1979 vợ chồng Dr Rupert Neudeck, Christel. sáng lập Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e.V. (Ủy ban Cap Anamur/Bác sĩ cấp cứu Đức). Ủng hộ tổ chức này có các nhân vật nổi tiếng của Đức như: nhà văn đoạt giải Nobel Heinrich Böll, Helmut Schmidt, Alfred Biolek, Bruno Ganz, Norbert Blüm, Peter Scholl-Latour, Frank Alte. Cùng một nhóm thân hữu thành lập Ủy ban “Ein Schiff für Vietnam” và thuê tàu Cap Anamur có trọng tải 6600 tấn dài 118,7 m, rộng 17m, cao 9m, hầm tàu 7,3m làm nhiệm vụ cứu các thuyền nhân Việt Nam (chủ tàu ở Hamburg không lấy tiền thuê chỉ cho mượn).

Ngày 09.8.1979 lúc 15g23 do thuyền trưởng Klaus Buck tàu CAP ANAMUR khởi hành từ cảng Kobe của Nhật ra Biển Đông với lòng nhân đạo cứu vớt các thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ độc tài CS. Các bác sĩ, y tá phần lớn người Đức làm việc thiện nguyện, trên tàu có một trực thăng do cựu thiếu tá Pilot người Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam bay tìm, hướng dẫn các ghe thuyền lênh đênh, mất định hướng trên biển đến với tàu Cap Anamur. Thuỷ thủ đoàn là những người Phi, Cap Anamur I vớt những ghe vượt biển trong hoàn cảnh “thập tử nhất sinh”.

Tính đến tháng 5.1982, Cap Anamur I cứu được 9.507 thuyền nhân Việt Nam đưa vào các trại tị nạn Sem Bawang (Singapore), Palawan và Bataan (Phi luật Tân), Galang (Indonesia) tạm trú một thời gian ngắn chờ định cư Tây Ðức hoặc đến các đệ tam quốc gia trên thế giới.

Cap Anamur I hoạt động 22 tháng phải ngưng công tác nhân đạo, ngày 25. 6. 1982 trở về cảng Hamburg, mang theo 287 thuyền nhân VN. Ông Hans Voss chủ tàu không lấy tiền mướn, nhưng chi phí mỗi tháng cho Cap Anamur. khoảng 400.000DM.

Cap Anamur II. hoạt động từ tháng 3 đến tháng 6.1986 vớt 888 người, và mang 357 người về cảng Hamburg. Lần cuối cùng chính phủ Đức chỉ nhận 22 người của Cap Anamur III và từ đó chấm dứt không nhận thêm thuyền nhân Việt Nam.

Cap Amur IV và Cap Anamur V tiếp tục hoạt động, tiếp tế lương thực và nước uống, cứu người vượt biển thoát khỏi tay bọn hải tặc và đưa họ đến được bến bờ bình an.

Số người được Cap Anamur vớt trên 11 ngàn người, nhưng số người được đoàn tụ gia đình trên 30 ngàn người. Bất cứ nơi nào có tiếng khóc than, cầu xin là có ông tìm đến để giúp đỡ.

Hồi tưởng cuộc đời tỵ nạn sau 30.4.1975 người Việt bất chấp mọi hiểm nguy đổi cả mạng sống để vượt khỏi Việt Nam, nhiều nơi trên thế giới dựng bia, đánh dấu thời gian người Việt Nam bỏ nước ra đi tìm tự do.

Ngày 12 tháng 9 năm 2009, người Việt tại Đức dựng tượng đài bằng đồng với bia tri ân Cap Annamur và nhân dân Đức tại cảng Hamburg. Buổi lễ khánh thành và tri ân nước Đức được tổ chức trang trọng và có sự hiện diện của Bộ trưởng nội vụ Wolfgang Schäuble, chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) Franz Müntefering, cựu thống đốc tiểu bang Niedersachsen Ernst Albrecht (người đầu tiên nhận thuyền nhân vào Đức), ông Philipp Rösler bộ trưởng kinh tế và nhiều nhân vật khác cùng hơn 1200 người Việt

Sau khi hoàn thành sứ mạng nhân đạo cứu thuyền nhân Việt Nam, Uỷ Ban Cap Anamur vẫn tiếp tục giúp đỡ cho nhiều người tỵ nạn chiến tranh xây dựng lại nhà cửa, trường học … Tháng 4 năm 2003 ông là người đồng sáng lập tổ chức hòa bình quốc tế Grünhelme eV (Mũ bảo hiểm xanh lá cây) nhằm giúp xây dựng lại những trường học, làng mạc trong các vùng bị chiến tranh tàn phá tại Congo Kosovo, Sudan, Syria, Iraq, Afghanistan, Nordafrika, Colombia, Ethiopia Haiti, Macedonia Albania v.v… và cả Việt Nam

Ông đã nhiều lần tới thăm Israel và vùng lãnh thổ Palestine để tìm hiểu hàng rào ngăn cách mà Israel đã dựng lên, cùng hiện trạng sinh sống của người Palestine ở Bờ Tây. Năm 2005 ông đã xuất bản quyển “Ich will nicht mehr schweigen. Recht und Gerechtigkeit in Palästina” (Tôi sẽ không im lặng nữa. Luật pháp và Công lý ở Palestine) nhằm bênh vực những người Palestine và bị Hội hữu nghị Đức-Israel chỉ trích dữ dội.

Những thập niên qua, trong việc cứu trợ nhân đạo, ông còn xuất bản nhiều tác phẩm phát xuất từ sự rung động trái tim của ông bà Neudeck, như tác phẩm Die Menschenretter von Cap Anamur; ông luôn hãnh diện về vệc cứu vớt thuyền nhân VN hội nhập thành công tốt đẹp, thế hệ thứ II trở thành những công dân ưu tú của nước Đức luôn bảo tồn văn hoá và bản sắc dân tộc.

Rupert Neudeck_html_m782c647eNăm 2009 kỷ niệm 30 năm người Việt tại München, ông viết trong Đặc San Hồi tưởng đời Tỵ Nạn. „Người Đức chúng ta, giờ đây bao gồm cả 80.000 người Đức gốc Việt, hãy nhận như một lời nguyện suốt đời. Bất kỳ nơi đâu, trên mặt đất, dưới nước hay trên trời, nếu có người bị tra tấn, hành hạ, bị theo dõi, xua đuổi, bị đánh đập, ép buộc lao động, bị giam giữ dưới các chế độ độc tài, chúng ta phải can thiệp cho họ.“

Ngày 09.8.2014 tại Hamburg kỷ niệm 35 năm tỵ nạn của người VN và cũng là sinh nhật thứ 75 của ông, mọi người đều chúc tụng mong ông khoẻ mạnh sống lâu, để ông giúp những người chạy trốn chế độ độc tài, chiến tranh bớt khổ đau.

Ông bị bệnh tim được giải phẩu chửa trị nhiều lần, dù sức yếu nhưng ông thường bay đến nhiều nơi vận động giúp đỡ làn sóng người tỵ nạn Syrien và Phi châu bị chết đuối trên biển Điạ Trung Hải… nhưng cuộc đời không tránh khỏi quy luật của tạo hóa „sinh lão bệnh tử“. Ngày 31.5.2016 ông qua đời hưởngthọ 77 tuổi, trong sự thương tiếc của Cộng Đồng Người Việt tại Đức cũng như trên thế giới.

Ông Ulrich Kasparick, cũng là bạn của TS Rupert Neudeck, ngỏ ý trước sự ra đi của TS Neudeck“, trái tim của Rupert lớn đến nỗi không ai có thể mổ tim ông được, tim ông đủ chứa được toàn thế giới.

Tiến sĩ Wolfgang Thierse, cựu chủ tịch Quốc Hội Đức, đã phát biểu trong buổi lễ : „Ủy Ban CAP ANAMUR và HỘI MŨ XANH đều là hai tổ chức nhân đạo nhỏ bé có tính cách gia đình và không bị ràng buộc vào những thủ tục hành chánh rườm rà, nhưng là một ràng buộc liên kết vĩ đại của trách nhiệm dấn thân của từng cá nhân, lòng đam mê, sự căng thẳng, tính bền chí và nỗi hân hoan trong từng dự án nhân đạo. Ông nói tiếp: „Lòng đam mê hoạt động nhân đạo cứu người của ông bà Christel và Rupert Neudeck đã truyền nhiễm đến rất nhiều người, để từ đó họ tích cực trực tiếp hỗ trợ hoặc đóng góp tài chánh cho tổ chức nhân đạo của ông bà“. Ông cũng ngỏ lời khen ngợi: „Ông bà Neudeck đã đóng góp một phần nào đó để bộ mặt của nước Đức được tươi sáng hơn“.

Đài truyền hình WDR của Đức dùng một danh từ “Menschenfischer” – “Kẻ chài lưới người” để nhắc đến ông Dr. Rupert Neudeck, tờ báo khác lại nhắc đến ông Neudeck với một danh gọi khác trong Phúc Âm là người Samaritanô nhân hậu thương người. Người Việt Nam chúng ta gọi ông là một vị Thánh, một Bồ Tác, Tin ông qua đời nơi nào có Cộng Đồng Việt Nam dù Công Giáo hay Phật Giáo đều có Thánh lễ, cầu kinh trang trọng để tưởng niệm người đại ân nhân của chúng ta .

Thủ tướng Angela Merkel khen ngợi Dr. Rupert Neudeck: “Một gương mẫu thực sự của nhân loại đang sống. Đất nước mất đi một nhà hoạt động thế giới về nhân quyền và tình người. Rupert Neudeck không bao giờ dùng bản thân để lạm dụng; ông luôn luôn nhìn thấy nó như là nhiệm vụ của mình để đóng góp thiết thực nhằm giảm bớt đau khổ của con người.” Và chia buồn với bà quả phụ Christel Neudeck không quên công ơn bà „đã giúp vào việc làm nhân đạo của chồng”.

Tổng thống Đức Joachim Gauck khen ngợi Dr. Rupert Neudeck là một người chiến đấu cho con người gặp khó khăn. Số phận của những người nghèo ở các khu vực xung đột luôn ở trong trái tim của ông. “Ông Neudeck đã thấy và đã hành động – và kéo dài suốt đời.” Công việc của ông Neudeck là một “tấm gương sáng nhân hậu từ một cá nhân có thể làm được. Dr. Rupert luôn luôn là một tấm gương cho chúng ta.”

Rupert Neudeck_html_m7df51477Ngày14 tháng Sáu lễ tưởng niệm Dr. Neudeck tại Thánh đường St Aposteln do Tòa Tổng Giám Mục Giáo phận Köln tổ chức và Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ lễ, với 12 linh mục người Việt, có những LM ngày xưa được tàu Cap Anamur cứu vớt.

Lúc 10 giờ người con trai của ông Neudeck mang tấm hình lớn của thân phụ để trên giá cao bên phải Cung Thánh và một bó hoa của nhà thờ, tấm hình với đôi mắt nhìn xa như chờ đón những người con trở về, chính đôi mắt thiên thần đó từng nhìn thấy nỗi đau của những con người bất hạnh, bị đàn áp và chạy trốn. Nhiều người đến trước di ảnh tưởng niệm ông với những giọt nước mắc thương tiếc. Nếu ngày xa xưa ấy không được ông cứu giúp thì không thể có cuộc sống như ngày nay trên nước Đức. Trên thềm của Cung thánh nhiều tràn hoa đẹp, hai tràn hoa với biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH là những người Việt Nam yêu tự do và dân chủ phải rời bỏ Quê hương vì lý do chính trị.

Rupert Neudeck_html_m6bfc765Người Việt tại Munich cũng như Berlin ở xa Köln/ Cologne phải đi trước từ tối thứ Hai. Đoàn người từ München và vùng phụ cận thuê xe Bus 78 chỗ khởi hành lúc 22:30 tối ngày 13/6 đến Köln 6:30 sáng 14.6. Chúng tôi in hình Dr. Neudeck cũng như tàu Cap Anamur I để trước xe, khởi hành Sr. Hiền và những Kitô hữu cùng đọc kinh, Lạy Cha, Kinh kính mừng và kinh cầu hồn cho Dr. Neudeck, Cầu xin chúa ban bình an cho đoàn München đi đến nơi về đến chốn, chúng tôi có thêm tình thân đồng hương nổng ấm, nhiều anh chị sau 35 năm mới gặp nhau, ôn lại chuyện cũ của những ngày lênh đênh trên biển, may mắn được Cap Anamur vớt, lên tàu được 1 tiếng thì mưa bảo sóng to nếu không được Cap Anamur vớt thì ghe đã chìm xuống lòng đại dương làm mồi cho cá mập! Nhiều ghe thoát khỏi hải tặc Thái. Có những anh chị không được Cap Anamur vớt cũng cùng đồng hành với chúng tôi đi tham dự Thánh lễ góp lời cầu nguyện. Thể hiện tấm lòng biết ơn của người Việt với đại ân nhân, những người không xin được nghĩ phép và những người lớn tuổi điện thoại cho tôi xin đóng góp tiền thuê xe, tiền phúng điếu theo kiểu Việt Nam. Chúng tôi là những người quý trọng đại ân nhân Dr. Neudeck ở München tổ chức chuyến đi được đồng hương tin tưởng là một niềm vui khó quên. Chúng tôi không nhận tiền của người nào, ai đi có mặt trên xe thì tính theo đầu người chia đều nhau. (Riêng chi phí tràn bông 200 € được anh chị Trần Minh Ân ngay từ đầu chịu hết, nhưng có thêm gia đình Nguyễn Phước Thành và Hưng cũng muốn đóng góp, tôi đề nghị anh em Nguyễn Phước Thành đóng 100€, thật cảm động bác Phú 93 tuổi hưởng tiền già, Bác muốn đóng góp thêm 100€ tôi cảm ơn bác xin nhận 10€ danh dự góp vào tràn bông, tôi trả lại cho anh chị Ân 10€. Ngày cuối bác Nguyễn Kim Định, anh Mã Bé gọi xin đóng góp. Cám ơn tấm lòng của quý vị mạnh thường quân, tôi không nhận thêm tiền vì tràn bông đã đặt xong). Anh Thu nhận của người bạn 10€ phúng điếu, nếu trả lại thì người ta buồn, nên chúng tôi bỏ 10€ đó vào tiền lễ tại nhà Thờ. Tràn bông cũng héo tàn, nhưng lòng người là những cánh hoa tươi đẹp, nở mãi không tàn đó là lòng ngưỡng mộ và nhớ ơn đại ân nhân Dr. Neudeck.

Các cơ quan truyền thông Đức tường thuật khen ngợi về tình nghiã sau đậm của Thuyền nhân VN đối với Dr. Neudeck, trong nhà thờ không còn chỗ. Đoàn chúng tôi tới sớm có chỗ ngồi, phái đoàn Hamburg xe bus tới trể nhiều người phải đứng ngoài sân…Thánh lễ tưởng niệm cữ hành trang trọng, hơn một ngàn người Đức-Việt cùng hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn Dr. Rupert Neudeck sớm vào nước Chúa nghỉ ngơi. Chia buồn với gia đình bà Neudeck ông cựu chủ tịch Quốc hội, Cha xứ nhà thờ, đại diện người Việt là bác sĩ Nguyễn Đình Quang 38 tuổi là một thuyền nhân được con tàu CAP ANAMUR vớt năm 1981 từng mổ tim cho ông Neudeck. Dr. Quang nói „Trong trái tim chúng tôi vẫn sẽ mãi giữ hình ảnh Rupert Neudeck, suốt cuộc đời này sẽ không quên ông, vì chúng tôi mang ơn ông, vì tình yêu thương của chính ông và gia đình ông dành cho chúng tôi quá to lớn!…“

Trong những năm cuối sức khoẻ yếu kém ông Neudeck đi ít hơn trước, dù có quá nhiều dự án chưa được thực hiện. Cuối đời của ông vấn đề tỵ nạn vẫn là mối quan tâm lớn nhất trong trái tim của ông. Gia đình ông Neudeck không nhận tiền phúng điếu, nhưng dự án nhân đạo của ông còn tiếp tục nếu quý đồng hương có tấm lòng hãy tiếp tục hỗ trợ cho. Gruenhelme e.V

https://gruenhelme.de/spenden-blank/online-spendenformular-3

Chính quyền Troidorf sẽ có một địa điểm trong thành phố hay con đường mang tên Dr. Rupert Neudeck. Cộng Đồng Người Việt sẽ xin phép dựng tấm bia tưởng niệm để phần đầu bằng đồng đen của nhà điêu khắc đã làm từ nhiều năm trước. Chi phí đó nhờ quý đồng hương góp tay. Ban tổ chức sẽ thông báo số Konto để việc kiểm soát minh bạch tiền thu có chi phí.

Dr. Rupert Neudeck đã nhận nhiều giải thưởng cao quý

1978 – Cavaliere-Orden der Republik Somalia

1985 – Theodor-Heuss-Medaille

1991 – Bruno-Kreisky-Preis für Verdienste um die Menschenrechte- Giải Nhân quyền Bruno-Kreisky

1998 – Erich-Kästner-Preis des Presseclubs Dresden e.V.

1999 – Frankfurter Walter-Dirks-Preis

2003 – Marion Dönhoff Preis

2005 – Ehrendoktorwürde der Westfälischen Wilhelms-Universität Münster

2006 – Europäischer Sozialpreis

2007 – Steiger Award in Bochum

2007 – Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen

2011 – Ehrendoktorwürde der Universität Prizren

2012 – Ritter der Ehrenlegion

2014 Deutschlands Bürger des Jahres vom Bundesverband Deutscher Zeitungsverleger

2014 – Internationaler Menschenrechtspreis, Dr. Rainer Hildebrandt-Medaille

2015 – Bürgerpreis der deutschen Zeitungen

2016 – Erich-Fromm-Preis an das Ehepaar Neudeck

2016 – „Den Bornheimer“ der Europaschule Bornheim

Rupert Neudeck được bầu chọn vào danh sách Unsere Besten.

Hình đoàn München đến Köln

https://goo.gl/photos/t9uu5DvvMFuBZmru6

Mời độc giả nghe tường thuật Thánh Lễ Cầu Nguyện

http://bit.ly/28V9Qwu

http://bit.ly/28W8L89

http://bit.ly/28U6HvR

http://bit.ly/295QVRH

Nguyễn Quý Đại

KÖLN/ Cologne:

Câu nói từ thời La Mã cổ đại: “Chưa ghé Köln, có nghĩa là chưa đến nước Đức” là thành phố lớn thứ 4 và là một trong những thành phố cổ nhất của nước Đức.

Được xem là một trong những thành phố cổ kính nhất của châu Âu, Köln/Cologne giống như cuốn sách ba chiều về lịch sử và kiến trúc, mà nổi bật nhất là các kiến trúc nhà thờ được xây dựng từ thời trung cổ.

Nhà thờ lớn Kölner Dom được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1996. Kiến trúc Dom tổng hợp giữa hội họa và điêu khắc được xây dựng vào tháng 8/1248 và việc thi công dở dang suốt thời Trung cổ, đến năm 1880 mới hoàn thành. Nhà thờ lớn này là một trong những nhà thờ lớn nhất trên thế giới, được xây dựng theo kiến trúc Gotich thuần túy rộng 45m, dài 144,5m với hai tháp đôi khổng lồ cao 157m. Bên trong nhà thờ, chậm bước dọc lối đi chính và ngắm những mái vòm Gothic cao nhất thế giới cùng bốn bức tường được trang trí bằng các bức bích họa mô tả cảnh trong Kinh thánh, các cửa sổ đều được lắp kính đổi màu lộng lẫy, nhiều chi tiết trang trí, vật dụng được dát vàng.

Nhà thờ Kölner Dom còn lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật kiến trúc thế kỷ 12. Trong số các bảo vật được trưng bày trong 6 gian phòng trên tầng 3 của nhà thờ, nổi tiếng nhất là cỗ quan tài bằng đá mạ vàng chạm trổ rất đẹp. Tương truyền trong quan tài có thánh cốt của 3 nhà thông thái (ba Vua) trong sách Phúc Âm. Năm 1864, khi mở nắp quan tài, người ta đã tìm thấy các bộ xương và quần áo có niên đại 2.000 năm. Gần bên cỗ quan tài là cây thập tự lớn được chạm khắc trên gỗ sồi vẫn còn dấu sơn và mạ vàng. Nhà thờ có 11 quả chuông, nổi bật nhất là chiếc chuông rung tự do lớn nhất thế giới mang tên “Chuông của Thánh Peter”, nặng 24 tấn.

Thánh lễ cầu nguyện cho Dr. Rupert Neudeck tại Thánh đường St Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki (Tổng Giám Mục tổng giáo phận Köln) chủ lễ. Thánh đường St Aposteln cổ khởi đầu từ cuối thế kỷ thứ 9 về lịch sử văn hóa là 12 nhà thờ trong nội thành theo phong cách Kiến trúc Roman (tiếng Anh: Romanesque. Phần lớn các nhà thờ này đã hư hại nặng trong chiến tranh, mãi đến năm 1985 việc tái kiến thiết mới hoàn thành.

Ngày 18 tháng 9 năm 1965 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phong thánh đường nầy lên bậc Tiểu Vương Cung Thánh Đường.

Posted in Nhan Vat, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Hậu đại hội 12, tấn công vào Núi Pháo và MobiFone mua AVG, ‘hai trong một’

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2016

Lê Dung

Cuối tháng Bảy năm 2016, vụ việc MobiFone mua AVG đến gần 9,000 tỷ đồng đã chính thức được “Thường trực Ban Bí thư và Chính phủ giao cho Thanh tra chính phủ tổ chức thanh tra”.

Sau vụ “thanh tra môi trường dự án mỏ Núi Pháo”, một lần nữa cái tên Nguyễn Thanh Phượng được nêu ra như một “người đứng sau ông Lê Nam Trà ở MobiFone”.

Cần nhắc lại, ngay sau khi đại hội 12 của đảng cầm quyền kết thúc vào tháng Giêng năm 2016 với thất bại không thể ê chề hơn dành cho ông Nguyễn Tấn Dũng, một bàn tay bí mật đã tung đến từng chi tiết lên mạng xã hội vụ MobiFone mua AVG, và còn thông báo trước là “Thanh tra chính phủ sẽ vào cuộc”. Cho tới nay, “quy trình” đã diễn ra đúng như vậy. Hẳn tác giả của loạt bài viết về MobiFone mua AVG phải nắm được rất nhiều thông tin nội bộ và còn có thể chính là người trong nội bộ.

Cũng cần nhắc lại, một trong những địa chỉ gây ô nhiễm môi trường mà có lần phóng viên nhà nước đến điều tra đã bị côn đồ đánh bầm dập, nhưng Hội Nhà báo Việt Nam đã không làm bất kỳ động tác can đảm tối thiểu nào để bảo vệ hội viên của mình – mỏ Núi Pháo ở Thái Nguyên có trữ lượng vonfram thứ hai trên thế giới, đã bị Bộ Tài nguyên Môi trường thanh tra toàn diện theo một chỉ đạo của đảng. Chưa biết kết quả thanh tra sẽ ra sao. Nhưng ấn tượng lớn nhất liên quan đến vụ việc này, là Bộ tài nguyên Môi trường – cơ quan hầu như “cấm khẩu” sau vụ cá chết trắng biển 4 tỉnh miền Trung- nhưng nay lại đang trở thành một mũi tiên phong trong công cuộc “hồi tố” dự án Núi Pháo, mà đằng sau đó ai cũng biết là có bàn tay giao dịch đắc lực của bà Nguyễn Thanh Phượng – con gái cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. (Công ty cố vấn đầu tư Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng đã cấu kết với Masan của Malaysia đầu tư khai thác mỏ wolfram Núi Pháo 2008). 

“Hai trong một” dường như đang trở thành khẩu hiệu ứng với số phận gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng hậu đại hội 12. Núi Pháo và vụ MobiFone mua AVG đang là tâm điểm của một chiến dịch “chống tham nhũng” xuất phát từ “việc cần làm ngay” của Tổng bí thư Trọng.

Chiến dịch trên có vẻ càng được tăng tốc khi khối lợi ích đang lồ lộ hiện ra.

Ngay sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng mất chức thủ tướng vào tháng Giêng năm 2016, đã rậm rịch đồn đoán về một chiến dịch từ tranh giành đến thâu tóm doanh nghiệp và thị phần kinh doanh, xuất phát từ những nhóm lợi ích liên quan mật thiết đến những nhóm quyền lực mới. Lãnh địa của tay chân ông Nguyễn Tấn Dũng lại được coi là vô cùng lớn và vô cùng màu mỡ, bao gồm nhiều ngành nghề trải rộng ở nhiều tỉnh thành, đặc biệt là khối tài chính và ngân hàng đã có đủ thời gian phát triển thành một thế lực tài phiệt. Chúng có quyền năng chi phối, can thiệp đáng kể vào không chỉ các chỉ số kinh tế quốc gia, mà còn vào cả thế lên xuống chính trường Việt Nam.

Một cách đương nhiên, những lãnh địa đó là nơi hội tụ mọi con mắt thèm thuồng của những kẻ muốn thâu tóm, trong bối cảnh đất nước đang gần như cạn kiệt các nguồn tài nguyên.

Nếu trước đại hội 12, Thủ tướng Dũng từng phải giải trình cho Bộ chính trị về 12 điểm bị tố cáo, trong đó có nội dung liên quan đến cô Nguyễn Thanh Phượng, thì nay có vẻ là thời cơ để các đối thủ của ông Dũng “xử” loạt tố cáo ấy.

Hai khả năng có thể xảy ra trong thời gian tới: tập đoàn màu mỡ của bà Nguyễn Thanh Phượng sẽ lâm vào tình trạng nào? – “tiền mất”, hay “tiền mất tật mang”?

Cho tới giờ, một số người vẫn tiếc nuối cho bà Phượng: giá như bà biết điểm dừng mà không quá tham lam như thời cha của bà còn làm thủ tướng…

Nhưng hình như mọi chuyện đều đã trễ tràng. Thế giới của những con cá mập thường nuốt chửng nhau không một chút thương xót.

Lê Dung / đài SBTN

Hậu đại hội 12, Núi Pháo, MobiFone và ‘hai trong một’ | SBTN

Mời xem lại:

Kỳ 6: Cuộc điều tra tham nhũng AVG tại Mobifone đã thực sự bắt đầu (kỳ 6)

Kỳ 7: LÊ NAM TRÀ ĐANG PHÙ PHÉP VỤ AVG NHƯ THẾ NÀO? (kỳ 7)

Kỳ 8″ Đại án 8.900 tỷ tại Mobifone: hồi chuông đã gióng (kỳ 8) (5-8-2016)

________

Kỳ7: Lê Nam Trà đang phù phép vụ mua AVG với giá 8900 tỷ đồng như thế nào?

Nguyễn Văn Trung -gởi cho

anhbasàm


19-7-2016

Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà

Nguyễn Thanh Phượng và Lê Nam Trà

Tóm tắt các kỳ trước:

“Việc Tổng công ty MobiFone (một Tổng công ty Nhà nước) do Lê Nam Trà chỉ đạo, ký hợp đồng mua Đài truyền hình tư nhân AVG (của Phạm Nhật Vũ) là một vụ tham nhũng rất nghiêm trọng trong ngành viễn thông Việt Nam và gây nhức nhối, bức xúc trong toàn xã hội suốt thời gian qua.

Cuối 2015, Lê Nam Trà đã chỉ đạo và ký hợp đồng mua Đài truyền hình AVG với mức giá 8.900 tỷ đồng, đã gây thất thoát cho Nhà nước hơn 7.000 tỷ đồng (vì giá trị tài sản của công ty AVG – sau khi trừ khấu hao và lỗ lũy kế – chỉ ở mức 1.000 tỷ đồng, còn tài sản vô hình có giá trị lớn là 2 băng tần 700 Mhz của AVG sẽ phải trả lại Bộ Thông tin Truyền thông vào cuối năm 2017 để cấp phép cho các doanh nghiệp viễn thông theo quy trình công khai, minh bạch).

Quy trình MobiFone mua AVG đã vi phạm nghiêm trọng quy định đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước (không lập dự án nhóm A để trình thẩm định, việc mua bán dựa vào các văn bản đồng ý chủ trương chung chung)”.

Số tiền thất thoát hơn 7.000 tỷ đồng của MobiFone, trong vụ tham nhũng cấu kết mua lại AVG,  chính là mồ hôi nước mắt tích cóp của bao thế hệ cán bộ, nhân viên VMS/MobiFone trong suốt hơn 20 năm qua, và cũng là những đồng tiền thuế của người dân Việt Nam. Tiếc thay, số tiền mồ hôi nước mắt nói trên nay đã rơi vào túi Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ và một vài quan chức của Bộ Thông tin Truyền thông (Nguyễn Bắc Son, Phạm Đình Trọng…).

Số tiền 8.900 tỷ đồng MobiFone đã bỏ ra mua đài truyền hình AVG tương đương với gần 2/3 vốn điều lệ của Tổng công ty MobiFone. Để đánh giá được sự căng thẳng về luồng tiền và khả năng thanh khoản của MobiFone sau vụ mua bán AVG, chúng ta chỉ cần nhìn vào báo cáo tài chính của MobiFone cuối các quý (từ quý 3/2015 đến tháng 6/2016) là đủ hiểu.

Với số tiền 8.900 tỷ đồng nói trên, MobiFone đủ để mua 1 công ty truyền hình cáp có mạng lưới toàn quốc (cỡ như VTV Cab, SCTV) để MobiFone có thể nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng mạng truyền dẫn toàn quốc của mình. Hoặc phương án tệ nhất, Mobifone bỏ số tiền 8.900 tỷ đồng vào ngân hàng thì tiền lãi ngân hàng ở mức khoảng 450 tỷ đồng/1 năm.

Ngày 12/6, Lê Nam Trà đăng đàn tuyên bố trên báo Bưu điện Việt Nam về “tin vui” AVG đã có lãi 6.4 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm. Đối với những người am hiểu và theo dõi vụ việc thì con số này thật là nực cười! Rất nhiều cán bộ, nhân viên Tổng Công ty MobiFone biết rằng Lê Nam Trà đang tập trung phù phép “con nghiện” AVG để biến mức lỗ hơn 400 tỷ đồng (vào năm 2015) để thành có lợi nhuận và “rất hiệu quả” (trong năm 2016) bằng các biện pháp: tiết kiệm chi phí hoạt động (sa thải gần hết đội ngũ nhân viên bán hàng của AVG, bắt các công ty kinh doanh khu vực của Mobifone phải è cổ gánh doanh số bán đầu thu DHT, DTT của AVG), “treo” chi phí (đặc biệt là chi phí khấu hao và giá vốn hàng bán) qua các nghiệp vụ kế toán, đẩy doanh thu quảng cáo của MobiFone đi qua AVG (mặc dù thuê bao thực của AVG chỉ khoảng cỡ 500 nghìn và chủ yếu ở vùng nông thôn, tức là phạm vi quảng bá là rất hẹp), tập trung toàn lực đẩy rất nhiều dịch vụ giá trị gia tăng chạy qua cửa AVG (với mức chia doanh thu cho AVG cao hơn thông lệ từ 10% đến 15%).

Như vậy, cái gọi là “lãi” của AVG trong 6 tháng đầu năm (và cả năm 2016) thực ra chỉ là lãi rởm, bản chất là lãi của Mobifone chuyển sang bằng nhiều hình thức. Các thuê bao truyền hình AVG – còn gọi là MobiTV – đang được MobiFone khuyến mại không phải trả tiền 30 tháng thuê bao nên sẽ rất lâu nữa thì Mobifone mới có doanh thu thực từ thuê bao truyền hình AVG. Nếu muốn biết bức tranh thực về nguồn lợi nhuận của AVG, chỉ cần các cơ quan hữu quan như Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước… vào kiểm tra vài bước là sẽ rõ vấn đề ngay.

Hiện nay, tình hình tài chính của AVG đang ở tình trạng hiểm nghèo (mặc dù đã được MobiFone bảo lãnh cho vay gần 400 tỷ đồng để thanh toán khoản nợ đến hạn hơn 700 tỷ đồng vào giữa năm nay) và đang rất cần được tăng vốn điều lệ. Tuy vậy, với một công ty AVG quặt quẹo (và là vai chính của một vụ tham nhũng lớn) thì liệu Bộ Thông tin Truyền thông có nên báo cáo Chính phủ để “giải cứu” hay không?

Trong suốt gần 6 tháng qua, Lê Nam Trà đã vận dụng mọi mối quan hệ cấp cao và đổ hàng núi tiền để chạy cửa các bộ, ngành để mong thoát tội nhưng có vẻ như các cánh cửa đang dần dần khép lại. Dư luận xã hội hiện đang rất bức xúc, có nhiều ý kiến đề nghị khởi tố, điều tra đối với Lê Nam Trà và yêu cầu Phạm Nhật Vũ phải hoàn trả số tiền 8.900 tỷ đồng ngay cho Ngân sách Nhà nước.

Vụ tham nhũng AVG được đánh giá còn nghiêm trọng hơn nhiều so với vụ Trịnh Xuân Thanh (làm lỗ 3.000 tỷ đồng tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và sắp đến giai đoạn điều tra). Vụ AVG đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ (kể các các vị lãnh đạo lão thành đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ Thăng Long); đang được Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Thanh tra Chính phủ tập trung làm rõ. Sau kỳ họp Quốc hội khóa 1 vào cuối tháng 7 này, vụ tham nhũng AVG sẽ được chính thức lôi ra ánh sáng!

______

Đại án 8.900 tỷ tại Mobifone: hồi chuông đã gióng (kỳ 8)

Nguyễn Văn Tung gởi cho anhbasàm

5-8-2016

Ngay sau khi kỳ họp Quốc hội khóa 1 kết thúc, căn cứ chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã ký văn bản chỉ đạo Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra toàn diện dự án Tổng Công ty Mobifone mua 95% cổ phần của Đài truyền hình tư nhân AVG và “chuyển cơ quan điều tra xử lý nghiêm nếu có dấu hiệu vi phạm”.

Việc các lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ quyết tâm điều tra toàn diện, xử lý nghiêm vụ đại án tham nhũng AVG (ngay trong ngày làm việc đầu tiên của Chính phủ mới) đã làm thỏa lòng dư luận cả nước, thể hiện thái độ quyết liệt của Đảng, Chính phủ mới với căn bệnh tham nhũng – căn bệnh ung thư vốn đã rất trầm kha sau giai đoạn 10 năm cầm quyền của đồng chí X. Điều đó cũng thể hiện: tiếng nói của nhân dân đã được Đảng và Chính phủ mới lắng nghe, sự đồng thuận của các lề báo trong sự nghiệp chống tham nhũng của cả dân tộc!

“Tam giác ma quỷ” Nguyễn Bắc Son, Phạm Nhật Vũ, Lê Nam Trà là điển hình của lợi ích nhóm  giữa (mafia kinh tế – quan chức chính phủ – lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước).

Nguyễn Bắc Son (nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông) chính là người đã “ngoáy nát” cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự chủ chốt của Bộ Thông tin Truyền thông, VNPT, Vinaphone, Mobifone và tạo nên nạn chạy chức, chạy quyền rầm rộ (tổng giá trị lên đến hàng trăm triệu USD) trong ngành viễn thông suốt 3 năm qua.

Phạm Nhật Vũ (chủ tịch công ty AVG, em trai của tỷ phú Phạm Nhật Vượng) chính là “cánh tay bạch tuộc” của Vincom (tập đoàn này nổi tiếng cả nước vì luôn giành được quyền khai thác các lô đất vàng tại các tỉnh, thành phố lớn với mức giá rẻ mạt một cách rất khó hiểu).

Lê Nam Trà (chủ tịch Mobifone) nổi tiếng là giàu có nhất trong giới chủ tịch các tập đoàn tổng công ty nhà nước, nuôi gần một chục công ty sân sau đang ngày đêm hút máu Mobifone trong mọi lĩnh vực (dịch vụ kỹ thuật, cung cấp thiết bị, dịch vụ giá trị gia tăng…).

Trong đại án AVG, Nguyễn Bắc Son và Lê Nam Trà đã sử dụng chiêu trò “quân xanh, quân đỏ” với 4 công ty tư vấn “tung hứng” để định giá công ty AVG (đang thua lỗ ngập ngụa) thành mức giá cả tỷ USD. Cũng đừng quên rằng, mức giá mà các công ty tư vấn đưa ra chỉ là để tham khảo, Mobifone (với tư cách là chủ đầu tư) là chủ thể sẽ quyết định mức giá mua bán và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Pháp luật. Tham chiếu với SCTV, một công ty truyền hình cáp với 2.5 triệu thuê bao, mạng lưới truyền hình cáp bao phủ gần cả nước cũng chỉ được định giá cỡ khoảng 4.000 tỷ đồng. Vậy một công ty truyền hình DTH/DTT công nghệ lạc hậu như AVG với 400.000 thuê bao thực, hạ tầng truyền dẫn gần như bằng không đang lỗ hàng trăm tỷ đồng/năm, được định giá ở mức 9.300 tỷ đồng theo phương pháp “chiếu khấu dòng tiền” thì có phải là điều bình thường không? Một điều quan trọng nữa là hai băng tần vô tuyến 700 mhz của AVG là tài nguyên quốc gia, phải trả lại cho Nhà nước vào năm 2017 (để đấu giá lại) và không thể được coi là một tài sản để định giá theo phương pháp “tài sản ròng”.

Cơ sở để các công ty tư vấn “xanh đỏ” định giá AVG cao chót vót là kế hoạch kinh doanh “không tưởng, thậm chí là hoang đường” của Lê Nam Trà sau khi Mobifone mua lại AVG, cụ thể: trong 2016 thì doanh thu thuần của AVG đạt 1.251 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế là 91 tỷ đồng và đến năm 2020, dự kiến doanh thu thuần của AVG sẽ là trên 7.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế sẽ đạt 1.876 tỷ đồng. Thực tế, sau 6 tháng đầu năm 2016, Lê Nam Trà mạnh miêng tuyên bố AVG (Mobi TV) đã phát triển 168 nghìn thuê bao mới và có lợi nhuận 6,4 tỷ đồng.

Với những người trong cuộc, đây là những con số “đầy đau đớn” cho Mobifone. Một AVG “nát như tương” được mua về thậm chí còn không có tiền để mua đầu thu để phát triển thuê bao mới, Mobifone phải tự lập dự án mua hơn một triệu đầu thu bằng tiền của mình và “cho không” AVG để AVG phát triển thuê bao. Nhân viên cũ của AVG bị cho nghỉ việc hoặc chuyển sang ký hợp đồng cộng tác viên với Mobifone để cắt giảm Opex cho AVG. Nhân viên Mobifone, nhận lương Mobifone nhưng phải gồng mình đi kinh doanh, phát triển thuê bao và lắp đặt đầu thu cho AVG. Nhân viên Mobifone, vốn đã phải chịu đựng nhiều đợt giảm lương, thưởng do phải gánh thua lỗ từ AVG, nay phải cắn răng mua vài bộ đầu AVG về để xó nhà chỉ để đạt chỉ tiêu phát triển thuê bao mới mà cấp trên giao. Mobifone dồn rất nhiều dịch vụ VAS sang AVG với mức chia sẻ doanh thu cao hơn 10-15% so với các CP bên ngoài. Mobifone dồn toàn bộ nguồn lực để tẩy thua lỗ cho AVG, không phải vì mục tiêu phát triển, mà chỉ để trong ngắn hạn làm đẹp con số cho Lê Nam Trà báo cáo.

Phát luật nào cho phép Lê Nam Trà dùng tiền của Mobifone (cũng là tiền của Nhà nước) để tẩy lỗ cho công ty con? Đạo đức nào cho phép Lê Nam Trà ép buộc nhân viên của mình mua đầu thu AVG rồi xếp xó nhà chỉ để phát triển thuê bao “ảo”? Với 8.900 tỷ, nếu không mua AVG, Mobifone chỉ cần gửi tiết kiệm thì sau 6 tháng cũng có 450 tỷ tiền lãi. Còn giờ đây, sau khi bỏ 8.900 tỷ để mua AVG, Mobifone phải chấp nhận rủi ro, vi phạm pháp luật để chuyển lợi nhuận từ mảng di động của mình (mỗi tháng hơn 30 tỷ, sáu tháng gần 200 tỷ) sang AVG, như vậy AVG mới có thể báo lãi 6,4 tỷ đồng trong 6 tháng. Quả là một con số đầy đau đớn.

Việc Mobifone mua AVG đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Nhà nước: không lập dự án nhóm A để trình Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư thẩm định giá và trình Thủ tướng phê duyệt mức giá mua bán (việc mua bán chỉ dựa vào văn bản phê duyệt chủ trương chung chung của một vài cơ quan hữu quan), như vậy, Bộ Thông tin Truyền thông và Mobifone phải chịu trách nhiệm về việc này.

Điều nực cười là các văn bản Mobifone “xin ý kiến” một vài bộ ngành đều được đóng dấu “mật”. Có vẻ như Nguyễn Bắc Son, Lê Nam Trà đã quên một điều cơ bản: tiền vốn của Mobifone là tài sản của Nhà nước và việc mua bán tài sản Nhà nước cần công khai và minh bạch, đây không phải là tài sản của riêng họ (và họ muốn làm gì thì làm).

Lê Nam Trà cũng đang tâm ép buộc một loạt cán bộ Mobifone phải ký đồng thuận vào hồ sơ dự án AVG (một số Trưởng Ban, Ban Tổng Giám đốc và các thành viên của Hội đồng thành viên) với dã tâm “chết thì cùng chết” và “xử lý hết thì lấy ai làm việc”. Hơn lúc nào hết, các cán bộ này cần đồng loạt tố cáo Lê Nam Trà thì may ra họ mới thoát khỏi vòng lao lý.

Nguyễn Bắc Son, Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ đã liều lĩnh vượt qua các quy định của Nhà nước, cùng một số cá nhân khác bỏ túi chia nhau hơn 7.000 tỷ đồng từ vụ đại án AVG, chà đạp lên mồ hôi nước mắt của hơn 4.000 cán bộ nhân viên VMS/Mobifone bao thế hệ và tham ô những đồng tiền thuế của nhân dân. Với 7.000 tỷ đồng này có thể xây hàng nghìn trường học, trạm xá, bệnh viện cho người nghèo trên cả nước (đặc biệt là các khu vực miền núi khó khăn) hoặc có thể mang lại cho Nhà nước hàng tỷ USD khi cổ phần hóa Mobifone. Việc chia số tiền 7.000 tỷ đồng cho những quan chức nào, chỉ cần Thanh tra Chính phủ đề nghị Bộ Công an bắt khẩn cấp Phạm Nhật Vũ, Lê Nam Trà là sẽ điều tra ra ngay!

Cả nước đang trong giai đoạn chấn chỉnh kỷ cương, tổng tấn công nạn tham nhũng và nạn chạy chức chạy quyền. Việc Đảng, Nhà nước, Chính phủ nỗ lực xử lý nhanh chóng, nghiêm minh các vụ án điểm: “ô nhiễm môi trường Formosa, Trịnh Xuân Thanh PCV, Mobifone AVG, vỡ đường ống nước Vinaconex…” trong quý 3 năm 2016 sẽ lấy lại phần nào niềm tin của nhân dân.

_____

Mời xem thêm: Lãnh đạo MobiFone: Hồ sơ mua AVG là tài liệu mật(BizLive). – MobiFone được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ quy chế tài liệu mật ? (Tin tức). – Giá mua AVG: MobiFone có quyền không công bố?(HQ). – MobiFone “bí mật” mua AVG: không công khai là phạm luật (TT). –Ai mới có thể “giải mật” thương vụ MobiFone mua AVG? (VNReview).

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Hơn 5000 giáo dân đồng thời cũng là ngư dân cùng người dân của nhiều tỉnh biểu tình ngày 7-8-2016 đòi đóng cửa Formosa

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2016

Người dân nhiều tỉnh biểu tình đòi đóng cửa Formosa

VOA

An Tôn

8-8-2016

Hàng ngàn giáo dân giáo phận Vinh đồng loạt xuống đường phản đối Formosa, 7/8/2016. Ảnh: Facebook Hung Tran

Hàng ngàn giáo dân giáo phận Vinh đồng loạt xuống đường phản đối Formosa, 7/8/2016. Ảnh: Facebook Hung Tran

Hơn 5000 giáo dân đồng thời cũng là ngư dân từ các giáo xứ khác nhau thuộc giáo phận Vinh, tỉnh Nghệ An, hôm 7/8 đã biểu tình ôn hòa để tiếp tục bày tỏ sự bất bình về thảm họa môi trường biển do hãng Formosa của Đài Loan gây ra gần đây.

Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam, Quản xứ Giáo xứ Phú Yên, cho VOA Việt Ngữ biết rằng đa phần những người tham gia biểu tình đến từ giáo xứ Song Ngọc, Phú Yên và Mành Sơn. Ngoài ra, theo ông, còn có những đoàn đến từ một số giáo xứ khác cách Vinh hàng chục kilomet.

Về thông điệp chính của cuộc biểu tình, Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam nói:

“Thứ nhất là nói lên tiếng nói, nguyện vọng của người dân đối với thảm họa môi trường biển. Đó là yêu cầu đóng cửa Formosa, yêu cầu Formosa phải đền bù một cách thích hợp, và yêu cầu Formosa phải cải tạo môi trường, trả lại biển lành cho người dân. Rồi về phía nhà nước, chúng tôi yêu cầu khởi tố Formosa và khởi tố những người, những cá nhân, những tổ chức cộng tác và tiếp tay cho Formosa để sát hại môi trường và gây ra thảm họa tại đất nước này”.

Đoàn người biểu tình dài tới 1 kilomet đã tuần hành bằng xe máy đi qua nhiều xã ở khu vực Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Linh mục Đặng Hữu Nam cho hay, để chuẩn bị cho cuộc biểu tình, ông đã thông báo từ trước cho chính quyền địa phương về ngày giờ và hành trình, đề nghị họ giúp đỡ đảm bảo an ninh.

Theo linh mục, nhà chức trách đã điều hàng ngàn cảnh sát cơ động và hàng trăm nhân viên công an mặc thường phục tới giám sát cuộc biểu tình. Nhưng đã không có xung đột hay sự cố đáng tiếc nào. Ông nói:

“Cái không khí rất là căng thẳng trước giờ khởi hành, nhất là ngày và đêm trước khi biểu tình nổ ra, tức là từ ngày đến tối thứ Bảy thì rất là căng thẳng. Không khí rất là căng. Nó như một thùng thuốc súng. Nhưng mà vào buổi sáng mà chúng tôi làm thì người dân đi biểu tình rất là ôn hòa. Những người làm công quyền họ chứng kiến thôi chứ còn họ không có thái độ nào khác. Và cuộc tuần hành thành công và cũng không có đụng độ nào”.

Chính quyền Quỳnh Lưu, Nghệ An, chưa lên tiếng xác nhận về việc rầm rộ triển khai lực lượng an ninh.

Trong ngày 7/8, ngoài cuộc biểu tình lớn ở Nghệ An do Linh mục Đặng Hữu Nam tổ chức, còn có các cuộc biểu tình quy mô vài trăm người ở Quảng Bình và Hà Tĩnh. Mặc dù cảnh sát hiện diện đông đảo quanh các cuộc biểu tình đó, song cũng như ở Nghệ An, đã không có đụng độ nào.

Trong số những cuộc biểu tình nhỏ hơn, đáng chú ý là việc khoảng 700 ngư dân và cũng là giáo dân giáo xứ Đông Yên cũ đã tìm cách kéo đến trước cổng Formosa Hà Tĩnh để bày tỏ thái độ. Các ngư dân đã mặc đồng phục in hàng chữ “yêu cầu Formosa cút khỏi VN” và mang theo nhiều biểu ngữ đòi đóng cửa vĩnh viễn Formosa.

Tin cho hay, giới chức địa phương đã “gây khó khăn, ngăn cản người biểu tình” đến gần Khu công nghiệp Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, nhưng họ vẫn đi đến được khu công nghiệp này. Người biểu tình đã mô tả lại và đăng ảnh trên mạng xã hội cho thấy rất nhiều cảnh sát cơ động đứng trước cổng Formosa và đông đảo nhân viên công an mặc thường phục “để bảo vệ cho Formosa”.

Sau khi các cuộc biểu tình kết thúc và thông điệp đã được phát đi, liệu nhà chức trách và Formosa đã có hồi đáp gì với những người biểu tình? Linh mục Antôn Đặng Hữu Nam cho hay:

“Cho đến ngày hôm nay thì phía chính quyền cũng chưa có một vị nào liên hệ với tôi, còn đối với Formosa lại càng không nữa. Chưa có một cái cơ quan nào, một cấp chính quyền nào liên hệ trực tiếp hay gián tiếp để mà nói lên cách thức giải quyết nguyện vọng của người dân”.

Vụ Formosa xả chất thải độc ra biển đã xảy ra cách đây hơn 4 tháng, dẫn tới nhiều cuộc biểu tình. Tuy nhiên, dường như tiếng nói của những người dân bị ảnh hưởng vẫn chưa được lắng nghe.

Nhiều người trong đó có cả giới luật sư đã nêu ý kiến rằng những người bị ảnh hưởng có thể cân nhắc kiện Formosa. Đây là điều mà những ngư dân ở giáo phận Vinh cũng đang chuẩn bị. Linh mục Đặng Hữu Nam nói rõ hơn:

Chúng tôi đang hoàn tất hồ sơ để khởi kiện Formosa bởi vì chính người dân của chúng tôi đang bị thiệt hại về kinh tế một cách trầm trọng. Và khi đã hoàn thiện thì chúng tôi sẽ tổ chức đi khiếu kiện, yêu cầu nhà nước phải can thiệp”.

Hồi cuối tháng 6, Formosa đã nhận trách nhiệm về việc gây ra thảm họa ô nhiễm biển ở miền trung Việt Nam, đồng thời chấp nhận đền bù cho chính phủ Việt Nam 500 triệu đôla để khắc phục. Nhưng đến nay, chưa ngư dân nào ở vùng bị ảnh hưởng được nhận đền bù từ số tiền này.

Mới đây, trong một cuộc gặp gỡ cử tri, Thủ tướng Việt Nam đã nói nhà chức trách không khởi tố vụ Formosa vì “nếu khởi tố thì 30 năm sau chưa đền bù được, lấy được tiền đền bù của họ rất phức tạp”.

_____________

==> Thế đấy, nhà nước muốn tiền, trong khi ngư dân muốn biển sạch, và đuổi Formosa cút về nước.

Nhà nước muốn lấy 500 triệu đô la của Formosa đền bù để trả nợ. Năm nay, theo báo chí cho biết, nhà nước phải trả nợ 12 tỷ đô la 2016, và mượn thêm 20 tỷ đô la. Lý do vì đảng lãnh đạo làm kinh tế thất bại quá thê thảm, thu thuế phí rất nhiều, nhưng ngân sách tiếp tục thâm hụt do tham nhũng đục khoét, phải trả lương 11 triệu cán bộ, công an, an ninh, công nhân viên, xây dựng UBND cho đẹp ►Túng quẩn ngoại tệ để trả nợ, lấy trước 250 triệu đô của Formosa, phát tiền đồng VN cho ngư dân

________

 

Sáng 7/8: 5000 giáo dân biểu tình rất thành công Ngày Môi Trường tại Giáo Phận Vinh

Tổng hợp tin từ SBTN và một số trang mạng xã hội

Giáo xứ Đông Yên. Ảnh: Facebook Hung Tran

Thời tiết nóng nực, nhưng hàng ngàn giáo dân Đông Yên vẫn xuống đường vì môi trường trong sạch. Ảnh: Facebook Hung Tran

 

công an bố trí dầy đặc. Ảnh: FB Dũng Mai

Tại giáo xứ Yên Hoà, hàng chục chiếc xe tải chở cảnh sát cơ động cũng đã được điều động nhằm thị uy và đe doạ người dân.

Xe tải chở hàng ngàn cảnh sát cơ động đã được đổ xuống Vinh vào chiều ngày 6/8/2016

Bây giờ tại Nghệ An là 8:00 sáng ngày Chủ Nhật 7 tháng 8 2016. Đáp ứng lời kêu gọi của Đức Giám Mục Giáo Phận Vinh Nguyễn Thái Hợp , bà con đã bắt đầu xuống đường vì Ngày Môi Trường.

Những hình ảnh ghi nhận được đầu tiên trên các trang mạng xã hội là từng đoàn thanh thiếu niên lũ lượt kéo nhau ra đường, về nhà thờ với màu áo trắng chỉnh tề, trật tự, biểu ngữ trong tay (FB Hồ Huy Trường)

Được biết, nhà cầm quyền Nghệ An đã cho cúp điện khu vực nhà thờ. Hiện nay công an, mật vụ đã được điều động về rất đông. Giám Đốc công an Vinh đã nói với báo chí rằng ở “Nghệ An Việt Tân rất nhiều”, để chụp mũ cho các cuộc biểu tình vì môi trường của các linh mục, giáo dân ở đây là “do bị kích động”. Có thể chính quyền đang chuẩn bị đàn áp. Người Công Giáo khắp nơi đang kêu gọi hiệp thông với giáo phận Vinh. Tình hình hiện đang căng thẳng…

Trên FB Hiệp Hội Ngư Dân Miền Trung cho biết khoảng hơn 1000 ngư dân Giáo Xứ Song Ngọc thuộc hạt Thuận Nghĩa Nghệ An đã xuống đường tuần hành kêu gọi bảo vệ môi trường. Dự kiến đoàn sẽ tuần hành qua Giáo Xứ Phú Yên, qua Giáo xứ Mành Sơn, và cùng với các Giáo Xứ trên sẽ đồng tuần hành cùng nhau kêu gọi bảo vệ môi trường & đóng cửa nhà máy Formosa vì đã gây nên thảm hoạ trên. Đoạn đường dài nhất mà đoàn đi qua khoảng từ 15-20km.

Tin trên FB Tin Mừng Cho Người Nghèo: “…khoảng 5000 người dân từ nhiều giáo xứ ở giáo phận Vinh đã tuần hành bằng xe và tham dự thánh lễ cầu nguyện nhân ngày môi trường của giáo phận và phản đối formosa tại giáo xứ Mành Sơn. Cuộc tuần hành bằng xe kéo dài đến cả cây số với đầy đủ băng rôn, biểu ngữ với ước nguyện công lý cho người dân.

Ước tính có khoảng hơn 5000 người đã tham dự cuộc biểu tình lớn này, và đa phần đến từ giáo xứ Song Ngọc, Phú Yên và Mành Sơn, cũng như có đoàn từ xứ Ngọc Long và một số nơi khác.

Linh mục GB Nguyễn Đình Thục đã dẫn đầu đoàn xe diễu hành từ nhà thờ giáo xứ Song Ngọc sang giáo xứ Phú Yên. Trên đoạn đường hơn 7km, hàng ngàn người đã cầm cờ Hội Thánh tiến tới nhập đoàn với giáo xứ Phú Yên vào lúc 6:15 giờ sáng.

Già trẻ trai gái rất háo hức vì lần đầu tiên được tham dự một sự kiện lớn thế này.

Ông Nguyễn Văn Thung, Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ Phú Yên chia sẻ: ai cũng nhiệt tình tham gia với tinh thần trách nhiệm. Ở đây chúng tôi đã biểu tình nhiều lần rồi, nhưng lần này có quy mô và số lượng lớn nhất…”

 

Linh Mục Nguyễn Đình THục (phải) dẫn đầu đoàn tuần hành xe máy

 

Mặc dù thời tiết nóng nực, nhưng đoàn người vẫn tuần hành trong trật tự với các khẩu hiệu như:

– “Yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với công ty Formosa và những tổ chức cá nhân liên quan”

– “Đừng dửng dưng trước thảm hoạ môi trường đang phá huỷ biển miền Trung”

– “Yêu cầu đóng cửa vĩnh viễn Formosa để bảo đảm môi trường sống cho người dân”…

Video và hình ảnh phổ biến trên các mạng xã hội cho thấy, đoàn người tuần hành kéo dài cả cây số mang theo các khẩu hiệu bảo vệ môi trường đi dọc trên các tuyến đường nhằm nâng cao ý thức của cộng đồng.

Video: Thanh Niên Công Giáo

Theo facebook Hung Tran, tại giáo xứ Đông Yên – một trong những điểm nóng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sau sự kiện cá chết hàng loạt, hàng ngàn giáo dân đã tuần hành dọc theo quốc lộ 1A tiến xuống bờ biển.

Thời tiết nóng nực khiến cảnh sát cơ động và công an phải tìm chỗ tránh nắng, còn các giáo dân vẫn kiên trì tuần hành trên đường. Ảnh: Facebook Hung Tran

Ảnh: Blogger Vì Dân

Giữa lúc toàn bộ giáo phận Vinh đang chung tay xuống đường ôn hoà nhằm bảo vệ môi trường, nhà cầm quyền CSVN lại huy động hàng ngàn cảnh sát cơ động với khiên chắn, gậy gộc giàn quân để bảo vệ công ty Formosa.

Xem ra, số tiền 500 triệu đô-la tiền “bồi thường” của Formosa cũng chỉ đủ để chi trả cho các lực lượng công an của đảng.

Tác giả bức ảnh – blogger Vì Dân nhận xét:

“Công an đang tập trung bảo vệ Formosa. Nhìn tấm hình là biết đảng đứng về phía ai rồi!”

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

► Nhìn lại chính sách Đại Nhảy Vọt của Trung Quốc –Nạn Đói lớn thời Mao: Thảm họa có tính tàn phá lớn nhất trong Lịch sử Trung Quốc – tác giả Frank Dikötter

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2016

Frank Dikötter cắt nghĩa bằng cách nào sự mở cửa dần dần của các kho lưu trử tài liệu ở TQ đã hé lộ sự thật kinh hoàng về qui luật giết người hàng loạt của chủ tịch Mao Trạch Đông

Nạn Đói lớn thời Mao: Thảm họa có tính tàn phá lớn nhất trong Lịch sử Trung Quốc – công trình nghiên cứu của tác giả Frank Dikötter, phát hành năm 2010

Tội ác của Mao: Nhìn lại chính sách Đại Nhảy Vọt của Trung Quốc

History Today

Tác giả: Frank Dikötter

Dịch giả: Phạm Nguyên Trường

7-8-2016

Máu trên đường ray: Bức ảnh Mao trên đoàn tàu chạy qua tỉnh Sơn Tây, ngày 5 tháng 5 năm 1958

Máu trên đường ray: Bức ảnh Mao trên đoàn tàu chạy qua tỉnh Sơn Tây, ngày 5 tháng 5 năm 1958

Ở nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tài liệu lưu trữ không phải là của nhân dân mà là của Đảng Cộng sản. Tài liệu lưu trử thường nằm trong một tòa nhà đặc biệt trong khu văn phòng đảng ủy địa phương, tọa lạc giữa vườn cây xanh mướt và được cắt tỉa cẩn thận, có lính gác.

Trước đây khoảng chục năm, không ai có thể tưởng tượng là có thể tiếp cận được với những tài liệu loại này; nhưng trong vài năm gần đây, đã diễn ra một cuộc cách mạng thầm lặng, các nhà sử học chuyên nghiệp có giấy giới thiệu ngày càng được tiếp xúc với nhiều hơn với những tài liệu được soạn thảo cách đây hơn 30 năm. Quy mô và chất lượng của tài liệu mỗi nơi mỗi khác, nhưng cũng đủ để làm thay đổi nhận thức của chúng ta về thời kỳ cai trị của Mao.

Ví dụ, thời kỳ Đại Nhảy Vọt giai đoạn 1958-1962, khi Mao nghĩ rằng ông có thể đẩy đất nước của mình qua mặt các đối thủ (là Mỹ và Liên Xô) bằng cách xua nông dân trên khắp cả nước vào những công xã nhân dân có quy mô cực kì hoành tráng. Trong quá trình theo đuổi thiên đường không tưởng đó, tất cả mọi thứ đều được tập thể hóa. Công ăn việc làm, nhà cửa, đất đai, đồ đạc và sinh kế của người dân đều do công xã cung cấp. Trong các bếp ăn tập thể, thực phẩm – được phân phối bằng thìa, tùy theo đức hạnh của từng người – đã trở thành vũ khí được sử dụng để buộc người dân phải tuân theo mọi chỉ thị của đảng. Vì động cơ lao động đã không còn, thay vào đó, ép buộc và bạo lực được sử dụng để buộc người nông dân đói khát phải làm việc trên những công trình thủy lợi được quy hoạch chẳng ra làm sao, trong khi đồng ruộng bị bỏ hoang.

H1Hồ Chí Minh – Mao Trạch Đông. Ảnh: internet (Thánh Hồ vui vẻ, hứng khởi trò chuyện tương đắc với con quỉ Mao)

Thảm họa khủng khiếp đã xảy ra. Từ các số liệu thống kê dân số được công bố, các nhà sử học đã ngoại suy ra rằng, hàng mấy chục triệu người đã bị chết đói. Nhưng đến nay, nhờ những báo cáo tỉ mỉ của Đảng trong giai đoạn diễn ra nạn đói, người ta mới biết quy mô thật sự của thảm hoạ.

Công trình nghiên cứu của tôi nhan đề Mao’s Great Famine: The History of China’s Most Devastating Catastrophe (2010) (tạm dịch, Nạn đói lớn của Mao: Lịch sử của thảm họa có tính tàn phá lớn nhất Trung Quốc – 2010), dựa trên hàng trăm tài liệu lưu trữ của Đảng mà cho đến lúc đó vẫn chưa ai nhìn thấy, trong đó có: những báo cáo bí mật từ Bộ Công an; biên bản chi tiết các cuộc họp của các cán bộ cao cấp của Đảng; phiên bản chưa bị xóa của các bài phát biểu của lãnh đạo; những cuộc khảo sát điều kiện làm việc ở nông thôn; điều tra những vụ giết người hàng loạt; những lời thú tội của những người lãnh đạo chịu trách nhiệm cái chết của hàng triệu người; những câu hỏi do đội đặc biệt biên soạn để tìm hiểu mức độ của thảm họa trong những giai đoạn cuối cùng của Đại Nhảy Vọt; những báo cáo về sự phản kháng của nông dân trong chiến dịch tập thể hóa; các cuộc điều tra bí mật về dư luận do cảnh sát tiến hành; đơn thư khiếu nại do những người bình thường viết; và nhiều tài liệu khác.

Hồ sơ đồ sộ và chi tiết này kể cho ta nghe câu chuyện kinh dị, trong đó Mao xuất hiện như một trong những kẻ giết người hàng loạt lớn nhất trong lịch sử nhân loại, ông ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất 45 triệu người, đấy là mới nói trong giai đoạn từ năm 1958 đến 1962.

Đây không chỉ đơn thuần là mức độ của thảm họa mà các cuộc nghiên cứu có qui mô nhỏ hơn trước đó (đã) đánh giá, mà còn là cách thức mà nhiều người đã bị giết chết: có từ hai tới ba triệu nạn nhân bị tra tấn đến chết hoặc đơn giản là bị giết, thường chỉ do những vi phạm nhỏ nhặt. Trong một ngôi làng ở Hồ Nam, một cậu bé chỉ lấy trộm một ít gạo, nhưng người lãnh đạo ở địa phương, Xiong Dechang, đã bắt cha của đứa bé chôn sống nó. Vài ngày sau, người cha đã chết vì đau khổ. Vụ Wang Ziyou được báo cáo với lãnh đạo trung ương: xẻo một tai, hai chân bị trói bằng dây kẽm gai, rồi người ta thả hòn đá mười cân vào lưng anh ta, rồi sau đó lấy dụng cụ nóng đỏ khắc vào trán – chỉ vì anh ta đã đào trộm một củ khoai tây.

Cuồng sát

Giết hại có chọn lọc “những kẻ lười biếng”, “yếu ớt” hoặc những người làm việc không hiệu quả khác làm gia tăng số lương thực cung cấp cho những người dùng sức lao động của mình để đóng góp cho chế độ. Hết báo cáo này đến báo cáo khác cho thấy lương thực thực phẩm cũng đã được sử dụng như một loại vũ khí. Những người quá yếu, không làm việc được thường xuyên bị cắt khẩu phần. Người bệnh, người yếu và người già bị cấm lai vãng tới nhà ăn tập thể, vì cán bộ được câu châm ngôn của Lenin: “Ai không làm việc thì không được ăn” khích lệ.

Như biên bản các cuộc họp lãnh đạo cho thấy, Mao biết quy mô của nạn đói. Tại một cuộc họp bí mật ở Thượng Hải, ngày 25 Tháng Ba 1959, Mao ra lệnh đặc biệt cho Đảng là mua đến một phần ba thóc gạo. Ông ta tuyên bố: “Khi không có đủ thức ăn thì người ta chết đói. Tốt hơn hết là để cho một nửa người chết đi để nửa kia có thể ăn no”.

Nhờ những tài liệu lưu trữ của đảng mà những sự kiện quan trọng khác thời Mao cũng đang được xem xét – đa số, do các nhà sử học Trung Quốc làm. Yang Kuisong, một nhà sử học ở Thượng Hải, đã rọi ánh sáng mới lên vụ khủng bố sau “giải phóng” vào năm 1949. Ông chỉ ra rằng  cướp chính quyền bằng bạo lực thì cũng phải dùng bạo lực mới giữ được chính quyền. Gần một triệu người bị coi là kẻ thù của nhân dân, đã trở thành nạn nhân của những vụ cuồng sát, trong đó, người dân bình thường cũng được khuyến khích tham gia (giết người). Trong những bản làng hẻo lánh, người đứng xem đôi khi được cắt thịt người chết và đem về nhà. Đảng tự đưa ra hạn ngạch về số người bị giết, nhưng số người bị giết thường lớn hơn, đấy là khi các vụ giết người hàng loạt có động cơ cá nhân và thù hằn truyền kiếp. (So sánh với cuộc cải cách ruộng đất ở VN 1953-1956, đảng csvn cũng đưa ra hạn ngạch đấu tố theo chủ trương qui kết 5% số người trong mỗi xã là địa chủ. Và cán bộ đảng đưa ra danh sách những người sẽ bị đấu tố, họp nhau bàn bạc, và dạy trước cho các bần nông cách vu vạ, lên án nạn nhân…)

Những bằng chứng mới về cải cách ruộng đất, từng làm biến dạng khu vực nông thôn trong những năm 1950, cũng được xới lên. Nhiều làng không có “địa chủ” đối đầu với “bần cố nông”, mà đúng hơn, đấy là các cộng đồng cố kết với nhau nhằm bảo vệ đất đai khỏi con mắt của người bên ngoài – nhất là nhà nước. Bằng cách lôi tất cả mọi người “vào những cuộc đấu tố” – trong đó, những người lãnh đạo làng xã bị lăng mạ, bị tra tấn và bị giết, trong khi ruộng đất và tài sản khác của họ được đem chia cho những người ủng hộ đảng – những tên lưu manh và khốn khổ ở địa phương – cộng sản đã lộn cơ cấu quyền lực từ chân lên đầu.

Lưu Thiếu Kỳ, người đứng thứ hai trong đảng, phải vất vả lắm mới kiềm chế được bạo lực, như bức thư trong tài liệu lưu trữ ở Hà Bắc cho thấy: “Nói đến những biện pháp giết người, một số bị chôn sống, một số bị bắn, một số bị băm nhỏ, còn trong số những người bị bóp cổ hoặc bị tùng xẻo cho đến chết, thì cơ thể bị treo lên cây hoặc cửa ra vào”.

H1Chu Ân Lai – Hồ Chí Minh – Mao Trạch Đông (thánh Hồ đang nâng ly chúc mừng với hai con ác quỷ)

Còn lâu mới minh bạch

Nhờ những bằng chứng lưu trữ vừa được công khai hóa mà hầu như không có một chủ đề nào không được khảo sát, mặc dù Cách mạng Văn hóa, nói chung, vẫn nằm ngoài giới hạn tiếp xúc. Ngay cả khi một khối lượng lớn các tài liệu gốc của Đảng đang dần được giải mật, nhiều bằng chứng quan trọng, trong đó có hầu hết tài liệu lưu trữ của Trung ương Đảng ở Bắc Kinh, vẫn bị giữ chặt. Số lượng đồ sộ các tài liệu mà một ngày nào đó có thể được đưa ra công khai được trình bày trong cuốn tiểu sử của Chu Ân Lai – thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – do Gao Wenqian chấp bút. Gao [Wenqian], một nhà sử học của Đảng, từng làm việc với một nhóm người trong kho lưu trữ trung tâm ở Bắc Kinh để viết tiểu sử chính thức của Chu [Ân Lai] trong nhiều năm, đã đưa lén những ghi chép của mình ra khỏi kho lưu trữ trước khi trốn sang Hoa Kỳ sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Vị thủ tướng được miêu tả trong cuốn tiểu sử mang tính đột phá của Gao [Wenqian], được xuất bản sau đó, không phải là người dịu dàng, một nhà ngoại giao lịch sự, như chúng ta thường nghĩ, mà là một nhân vật rất thủ đoạn, lúc nào cũng sẵn sàng quay sang chống lại bạn bè để leo lên. Gao [Wenqian] mô tả ông này là “con chó trung thành” của Mao. Và Chu không chỉ là người độc đáo trong việc sẵn sàng chấp nhận cho chủ làm nhục, như một cách để sống sót về mặt chính trị sau nhiều cuộc thanh trừng do Mao phát động: ông ta chấp nhận, như Gao viết, cầm “con dao giết người của Mao”.

Tại sao những tài liệu lưu trữ nhạy cảm này được giải mật? Câu trả lời ngắn gọn là cảm giác chung về thiện chí và minh bạch xuất hiện trước kì tổ chức Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008. Từ đó đến nay đã bị thắt chặt đáng kể. Chúng ta cùng nhau hy vọng rằng thiện chí và minh bạch sẽ quay trở lại

____________

Mời các bạn vào đây xem một số tài liệu mật của thánh Hồ và đảng CSVN. 

Kho tài liệu Trung ương đảng

_______

Trung Tâm Lưu Trử X 

    • Khái quát về thành phần, khối lượng tài liệu bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ X

Hiện tại, Trung tâm Lưu trữ X đang trực tiếp quản lý khoảng 16km giá tài liệu lưu trữ có giá trị về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử,… được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức chính quyền nhà nước và các cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu trải qua các thời kỳ lịch sử ở khu vực phía Nam, bao gồm:

  • Sưu tập tài liệu Sổ bộ Hán Nôm với số lượng 25mét;
  • Khối tài liệu tiếng Pháp (1858-1945) với tổng số khoảng trên 4.000 mét, bao gồm tài liệu hành chính hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức của chính quyền thực dân Pháp ở miền Nam Việt Nam từ 1858 đến 1945, như: Phủ Thổng đốc Nam Kỳ, Hội đồng Tư mật Nam Kỳ, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, Sở Thương chánh Nam Kỳ, Tòa Đốc lý Sài Gòn; Văn phòng các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ,…
  • Tài liệu thời kỳ chính quyền Quốc gia Việt Nam (1949-1954)
  • Tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) với hơn 7.000 mét được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức của chính quyền Sài Gòn, bao gồm các phông: Phủ Tổng thống đệ nhất, đệ nhị cộng hòa; Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa và các cơ quan, tổ chức trực thuộc, các bộ ngành trung ương và cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ.
  • Tài liệu của các cơ quan trung ương thuộc chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1975-2005).
  • Khối tài liệu nghe – nhìn với hơn 70.000 tài liệu phim ảnh, hơn 200 giờ phát tài liệu ghi âm,… và các sưu tập tài liệu như: bản đồ (1860-1975) với khoảng 30.000 tấm. Ngoài ra còn 1.000 mét giá tư liệu, v.v…

Tài liệu lưu trữ đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ X tuyệt đại đa số là bản gốc, bản chính được ghi trên các loại chất liệu khác nhau, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, như: Pháp, Anh, Việt và viết bằng chữ Hán Nôm.

Có thể nói tài liệu lưu trữ đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ X hết sức đa dạng, phong phú cả về nội dung, hình thức và là một trong những nguồn sử liệu rất có giá trị cần phải được tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • Hoạt động khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ X

Ý thức được trách nhiệm của mình, trong những năm qua Trung tâm Lưu trữ X đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai các hoạt động nghiệp vụ nhằm giới thiệu rộng rãi các thông tin tài liệu lưu trữ đến công chúng. Nhờ những cố gắng đó mà số lượng độc giá đến khai thác tài liệu lưu trữ ngày càng gia tăng. Từ năm 2000 trở về trước, hàng năm Trung tâm chỉ phục vụ vài trăm lượt người đến khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ. Đến nay, đã lên tới con số hàng ngàn lượt người với hàng chục ngàn hồ sơ, tài liệu được đưa ra khai thác, sử dụng.

… 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm X còn nhiều hạn chế.

  • Kể từ năm 2000 đến nay, hàng năm chỉ có khoảng trên 1.500 người đến khai thác, sử dụng tài liệu. Trong đó, tỷ lệ độc giả là nghiên cứu sinh nghiên cứu tài liệu phục vụ cho luận án thạc sĩ và tiến sĩ là 50%, các nhà nghiên cứu là 35%, còn lại là phục vụ cho mục đích của cá nhân, gia đình, dòng họ và sinh viên. Qua số liệu trên đây cho thấy, còn nhiều người chưa biết đến tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ X. Đối tượng phục vụ chủ yếu tại Trung tâm là các nhà nghiên cứu. Trung tâm chưa thực sự chú trọng đầu tư, thu hút phục vụ công chúng đến với lưu trữ.
  • Số lượng hồ sơ tài liệu được đưa ra khai thác, sử dụng còn ít so với số lượng tài liệu đang được bảo quản.
  • Phần lớn độc giả phải trực tiếp đến phòng Đọc để khai thác, sử dụng tài liệu chưa thể khai thác tài liệu trên mạng diện rộng.

Trung Tâm Lưu Trử X 

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Thời Mao Trạch Đông, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »

►Đinh Trường Chinh cấu kết với chồng của ĐBQH Nguyễn Thị Nguyệt Hường rút ruột ngân hàng Maritime Bank 30.000 tỷ- TBT Nguyễn Phú Trọng ví von trường hợp bà Nguyệt Hường…

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2016

Đại gia Đinh Trường Chinh bị bắt do cấu kết với chồng bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường rút ruột hơn 30.000 tỷ?

6-8-2016

Ảnh của một độc giả cung cấp.

Đinh Trường Chinh và Diễm Hương- Ảnh của một độc giả cung cấp.

Tin chưa kiểm chứng: Đại gia Đinh Trường Chinh, chồng cũ hoa hậu Diễm Hương, bị bắt do cấu kết với ông Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Maritimes Bank, chồng của bà cựu ĐBQH Nguyễn Thị Nguyệt Hường, rút ruột hơn 30.000 tỷ.

anhbasam

____

FB Đại gia Thương trường

6-8-2016

Ảnh của một độc giả cung cấp.

Ảnh của một độc giả cung cấp.

Cực nóng: Nội bộ Việt Hân bùng phát khủng hoảng sau thông tin đại gia Đinh Trường Chinh bị bắt!

Sau khi suy nghĩ và cân nhắc kỹ, tôi quyết định phải nói ra những điều mà cấp trên đã cấm đoán chúng tôi không được nói.

Những bất đồng ngấm ngầm trong nội bộ Công ty địa ốc Việt Hân (Việt Hân Group) đã bùng phát thành khủng hoảng nghiêm trọng sau thông tin Chủ tịch Công ty là ông Đinh Trường Chinh vừa bị bắt.

Nguyên nhân trong nội bộ xì xào là do ông Đinh Trường Chinh đã cấu kết với ông Trần Anh Tuấn (Chủ tịch Ngân hàng Hàng Hải – Maritimes Bank, chồng của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường vừa bị bãi nhiệm tư cách đại biểu Quốc hội và HĐND TP Hà Nội do vi phạm liên quan đến quốc tịch và kê khai tài sản) để rút ruột hơn 30.000 tỷ của ngân hàng này, để thực hiện các phi vụ thâu tóm bất động sản. Vụ này còn lớn hơn gấp mấy lần vụ Phạm Công Danh và đám đàn em chân tay rút ruột Ngân hàng Xây dựng 9.000 tỷ mà tòa án đang xét xử.

Trước đó, ông chủ đã đột ngột sa thải một số nhân viên gây bức xúc cho nhiều người trong Công ty (những người hiểu rõ chuyện làm ăn phi pháp và con người tàn bạo của Đinh Trường Chinh, từng đánh đập dã man vợ cũ là Hoa hậu Diễm Hương). Bây giờ Đinh Trường Chinh bị bắt, không khí đang rất ngột ngạt và hoang mang trong nội bộ cao cấp của Công ty. Thậm chí, một số thành viên cấp cao đã nộp đơn xin thôi việc và rút khỏi một số vị trí quan trọng để tránh liên lụy.

Một số dự án lớn như Dự án Goldmark City (136 Hồ Tùng Mậu, Hà Nội), Khu phức hợp Skypark tại Bà Rịa Vũng Tàu; Khu Đô Thị Du lịch Sinh Tthái và Thể thao Tam Nông tại Phú Thọ,… đang bị đình trệ chẳng biết đến ngày nào là hình thức để thâu tóm đất nông nghiệp để đầu cơ. Chứ anh em ông Đinh Trường Chinh và bà Đinh Ngọc Châu Hương không hề chú trọng đến phát triển và xây dựng dự án như quảng bá (giống cách bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường thâu tóm đất nông nghiệp để làm Khu Công nghiệp). Điều này đã khiến các nhân viên Phòng Thiết kế và Kiến trúc nản lòng và bức xúc.

Hiện nay, nhiều nhân sự trong công ty (đặc biệt là Phòng Kế toán, Ban đối ngoại) đang rất hoang mang, không biết số phận mình sẽ ra sao, vì đã lỡ tiếp tay cho Đinh Trường Chinh cấu kết với ông chủ Maritime Bank Trần Anh Tuấn rút ruột ngân hàng với số lượng tiền khổng lồ (30.000 tỷ). Tuy không nói ra, nhưng ai cũng tự hỏi: Liệu mình có là người tiếp theo bị bắt không?

Nguyễn Thị Thanh (Nhân viên Phòng Quản lý và Phát triển Dự án của Việt Hân Group bị sa thải)

P/s: Trừ các nhân sự cấp cao, hiện nay các nhân sự cấp thấp trong công ty Việt Hân không còn liên lạc được với ông Đinh Trường Chinh (SĐT: 0933222232 – 0902222232 – 0988322222), bà Đinh Ngọc Châu Hương, em gái Đinh Trường Chinh, Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Việt Hân: 01222675012 và vợ chồng ông Trần Anh Tuấn: 0913206222 và bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường: 0913524777.

_____

Blue VN

Trùm bất động sản Đinh Trường Chinh vừa bị bắt do cấu kết với Chủ tịch Maritime Bank rút ruột ngân hàng hơn 30.000 tỷ

6-8-2016

Trên mạng xã hội Facebook đang lan truyền thông tin ông trùm bất động sản Đinh Trường Chinh vừa bị bắt do cấu kết với ông chủ của ngân hàng Maritime Bank Trần Anh Tuấn, rút ruột hơn 30.000 tỷ của ngân hàng này ! Theo những phản hồi trên mạng xã hội thì thông tin này xuất phát từ nội bộ Công ty địa ốc Việt Hân tiết lộ những thông tin khủng khiếp. 

H1Ông trùm bất động sản Đinh Trường Chinh, chồng cũ hoa hậu Diễm Hương vừa bị bắt

Sau khi suy nghĩ và cân nhắc kỹ, tôi quyết định phải nói ra những điều mà cấp trên đã cấm đoán chúng tôi không được nói. Những bất đồng ngấm ngầm trong nội bộ Công ty địa ốc Việt Hân đã bùng phát thành khủng hoảng nghiêm trọng sau thông tin Chủ tịch Công ty là ông Đinh Trường Chinh vừa bị bắt.

Nguyên nhân trong nội bộ xì xào là do ông Đinh Trường Chinh đã cấu kết với ông Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Ngân hàng Hàng Hải – Maritimes Bank, chồng của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường để rút ruột hơn 30.000 tỷ của ngân hàng này, làm bàn đạp thực hiện các phi vụ thâu tóm bất động sản. Vụ này còn lớn hơn gấp mấy lần vụ Phạm Công Danh và đám đàn em chân tay rút ruột Ngân hàng Xây dựng 9.000 tỷmà tòa án đang xét xử.

H1Vợ chồng ông Trần Anh Tuấn – bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường

Trước đó, ông chủ đã đột ngột sa thải một số nhân viên, những người hiểu rõ chuyện làm ăn phi pháp và con người tàn bạo của Đinh Trường Chinh. Bây giờ ông ta bị bắt, không khí đang rất ngột ngạt và hoang mang trong nội bộ cao cấp của Công ty. Thậm chí, một số thành viên cấp cao đã nộp đơn xin thôi việc và rút khỏi một số vị trí quan trọng để tránh liên lụy.

Hiện nay, nhiều nhân sự trong công ty, đặc biệt là Phòng Kế toán, Ban đối ngoại đang rất hoang mang, không biết số phận mình sẽ ra sao, vì đã lỡ tiếp tay cho Đinh Trường Chinh. Tuy không nói ra, nhưng ai cũng tự hỏi: Liệu mình có là người tiếp theo bị bắt không?

Nghe nói vợ chồng Trần Anh Tuấn – Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng sắp bị bắt.

H1Ngân hàng Hàng hải Việt Nam – Maritime Bank, nơi trùm bất động sản Đinh Trường Chinh cấu kết với ông Trần Anh Tuấn, rút ruột hơn 30.000 tỷ

H1Năm 2013 Maritimes Bank từng bị hoả hoạn, nay sẽ bị cháy túi vì hết tiền?

__________

 

Theo tác giả, trừ các nhân sự cấp cao, hiện nay các nhân sự cấp thấp trong công ty Việt Hân không còn liên lạc được với ông Đinh Trường Chinh, bà Đinh Ngọc Châu Hương, em gái Đinh Trường Chinh, Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Việt Hân và vợ chồng ông Trần Anh Tuấn cùng bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường.

Theo Đại gia thương trường FB

________

Về trường hợp của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Tổng Bí thư cho rằng, trước đây thì rất tốt khi bà Hường 2 khóa là ĐB HĐND thành phố, 2 khóa là ĐBQH.

“Vừa rồi, bà Hường cũng đã trúng ĐBQH, nhưng trong quá trình xem xét mới phát hiện ra sai phạm. Sát nút mới phát hiện ra nhưng kiên quyết, dù thời gian rất gấp cũng phải xem xét. Có thể hôm qua là anh hùng nhưng biết đâu hôm nay là tội phạm. Thái độ của chúng ta là xử lý nghiêm nếu có vi phạm”, Tổng Bí thư nói.

 

Posted in Tài Chánh-Thuế, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »