Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 27th, 2016

►Công an- Cảnh sát giao thông, nạn đứng đường mãi lộ: Ông Trần Sơn Hà và tư duy “sứ quân”?

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2016

Giao thông: Hỗn loạn và bất an

Thực trạng giao thông Việt Nam chắc không cần nói nhiều, người dân Việt Nam và du khách quốc tế vẫn hiểu sự kinh hoàng của nó. Chỉ riêng con số thống kê được, cả nước ghi nhận 22.827 vụ tai nạn giao thông, hơn 8.700 người chết và hơn 21.000 người bị thương, đó là con số trong năm 2015. Trung bình, năm 2015 có 23 người chết mỗi ngày vì tai nạn giao thông.

Đó là con số thống kê, còn thực tế thì con số còn khủng khiếp hơn nhiều. Ông Nguyễn Ngọc Tường, Phó trưởng ban chuyên trách Ban ATGT TPHCM cho biết, về số liệu báo cáo TNGT có nhiều nguồn khác nhau và rất chênh lệch.“Theo quy định ngành dọc, mình đang lấy nguồn TNGT từ công an, chứ không phải từ nguồn y tế. Mà nguồn của y tế và công an thì hiện nay chênh lệch, rất khác nhau”. Như vậy, con số thống kê trên, chỉ là một phần của sự thật. Mà phần đó chắc chắn là phần nhỏ, bởi nó ảnh hưởng đến thành tích của ngành công an.

Ở Việt Nam, tai nạn giao thông là “chuyện thường ngày” đến mức người dân không thấy giật mình với những con số người chết, bị thương cũng như những thiệt hại do TNGT gây ra đối với xã hội.

Thế nhưng, thử làm phép so sánh để hiểu sự khủng khiếp của nó:

Trong 10 năm tại cuộc chiến Iraq, Mỹ khoảng gần 4.500 lính Mỹ đã bị chết và 32.000 lính bị thương. Có nghĩa là mỗi năm, trong một cuộc chiến đẫm máu, khốc liệt… thì chỉ có 450 lính Mỹ bị chết, 3.200 người bị thương – số lượng này chỉ bằng 1/20 số người chết và 1/7 số người bị thương vì tai nạn giao thông ở Việt Nam.

Cảnh sát giao thông: Để làm gì?

Hẳn nhiên, ai cũng có thể trả lời rất đơn giản: CSGT có chức năng nghiên cứu, đề xuất và trực tiếp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm luật giao thông, các hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật khác trên các tuyến đường, địa bàn giao thông công cộng theo quy định của pháp luật.

Trong tất cả các chức năng nêu trên, chức năng chính là “bảo đảm trật tự, an toàn giao thông”.

Vậy thì với một lực lượng quân số, tướng tá hùng hậu với đầy đủ các loại trang thiết bị được mua sắm bằng tiền thuế của dân mà để giao thông hỗn loạn, số lượng người chết vì TNGT gấp 20 lần một cuộc chiến tranh khốc liệt, nhất là văn hóa giao thông không được thiết lập theo hướng văn minh, hiện đại… thì hẳn nhiên là lực lượng này hết sức yếu kém dù biện bạch bằng bất cứ lý do nào.

Vậy thì vì sao CSGT là lực lượng yếu kém?
Lực lượng vũ trang Việt Nam có hai lực lượng chính là quân đội và công an. Tất cả đều được “đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng CSVN”.

Nếu như quân đội, một số đơn vị được giao làm kinh tế, tạo ra những tập đoàn, những ông chủ lớn trong quân đội với những đặc quyền đặc lợi to lớn, thì hẳn nhiên việc luyện tập, đánh đấm sẽ bị lơ là và quân đội yếu kém sức chiến đấu. Bởi về tinh thần, mục đích là kiếm tiền, kỷ luật quân đội là kỷ luật sắt sẽ biến thành kỷ luật mềm dẻo kinh doanh, người lãnh đạo quân đội sẽ trở thành những ông chủ, những đại gia…

Hậu quả rất dễ nhìn thấy, là trước bọn giặc đang xâm chiếm lãnh thổ của Tổ Quốc, trước những ngư dân bị hà hiếp, bị bắt và bắn giết trên biển cũng như giặc đang lăm le bờ cõi, người đứng đầu quân đội Việt Nam chỉ một mực xoa tay:“Chúng tôi chỉ có hòa bình, hữu nghị…” “tư tưởng ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc…”

Vậy thì tư tưởng sợ ra trận là bình thường. Còn nếu phải ra trận trong tinh thần và tư thế đó, thì không vỡ mặt cũng tan xương không là chuyện lạ.

Thế nên, Quân đội nhân dân chuyển nghề từ bảo vệ Tổ Quốc sang nhiệm vụ “chống diễn biến hòa bình” trong nhân dân.

Điều khá hài hước, là với giặc, Quân đội VN chỉ thích hòa bình, hữu nghị, còn với dân, quân đội kiên quyết chống diễn biến hòa bình.

Cùng một thầy một thợ, lực lượng công an, cảnh sát, nhất là CSGT cũng trong tình trạng đó.

Mãi lộ: Ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu

Khác với lực lượng cảnh sát ở các nước khác, ngành công an Việt Nam thực thi nhiệm vụ theo quy trình “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Hiến pháp quy định là một chuyện, luật là một chuyện, còn thực thi thì công an chỉ căn cứ Thông Tư của chính Bộ Công an ban hành. Thậm chí có những Thông tư, thông báo đi ngược với Hiến pháp và luật pháp. Chẳng sao, người dân Việt Nam vốn đã quen khái niệm thời công an trị: “Luật là công an, công an là luật”.

Một lực lượng vũ trang, để có sức mạnh, phải bảo đảm nhiều yếu tố, trong đó có tinh thần, kỷ luật của binh lính và người lãnh đạo là những yếu tố quan trọng.

Trong trào lưu thực dụng và tham nhũng, hối lộ ở Việt Nam ngày càng phát triển “năm sau cao hơn năm trước”, tinh thần chiến sĩ, sĩ quan Công an cũng không nằm ngoài quy luật đó khi mà “thoái hóa, biến chất…” trong đảng là một bộ phận ‘không nhỏ”.

Điển hình cho thực tế này, là hình ảnh và hành động của CSGT trên toàn quốc. Họ đã làm gì và người dân nghĩ về họ ra sao, chỉ cần lên mạng xã hội xem phản ứng của người dân khi nghe ông Trần Đại Quang với vai Bộ Trưởng Công an nói rằng “tuyệt đại đa số CSGT không nhận hối lộ”.

Câu nói đó đã tạo ra những trận cười nghiêng ngả và là đề tài bàn tán ở mọi nơi, mọi lúc như một câu chuyện hài hước ăn khách trong mục chuyện bịa như thật.

Còn trong thực tế, có lẽ trừ khi đi bộ, còn nếu ai đã tham gia giao thông hẳn nhiên không thể không biết nạn mãi lộ, tham nhũng là vấn nạn chưa bao giờ giảm trên đất nước này. Báo chí đã có nhiều bài viết công phu, mạng xã hội liên tục đưa các hình ảnh, tài liệu về nạn này. Người ta đã phải kêu nạn mãi lộ “Ghê hơn cả cướp cạn“.

Thế nhưng, nạn mãi lộ thì “ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu” ==>Bộ trưởng Công an.

Nạn mãi lộ, trấn lột tiền người tham gia giao thông với bất cứ hình thức nào, đều gây nên những hậu quả hết sức khủng khiếp và tai hại.

Vì mãi lộ việc chấp hành luật lệ giao thông không nghiêm chỉnh, dẫn đến tai nạn giao thông ngày càng nghiêm trọng, tính mạng người dân luôn bị đe dọa.

Vì mãi lộ, trọng tải xe vượt quy định cho phép nhiều lần, đây là cách tốt nhất  để phá hoại đường sá, tài sản công cộng được xây dựng bằng tiền thuế của người dân. Đặc biệt là không thể đảm bảo cho việc tham gia giao thông an toàn.

Vì mãi lộ, xe kém chất lượng được lưu hành không cần các điều kiện kỹ thuật bắt buộc cho phép, điều này dẫn đến việc mất an toàn trong lưu thông và tai nạn là điều dễ hiểu.

Vì mãi lộ việc chém, chặt, nêm khách vô tội vạ, chạy vượt ẩu, phóng nhanh… diễn ra thường xuyên, là nguyên nhân dẫn đến những tai nạn khủng khiếp.

Và tất cả những hậu quả của nạn mãi lộ, những chi phí đó sẽ bổ vào giá thành vận chuyển, giá vé, phí đường… người hứng chịu là người dân.

Ai ai cũng biết điều đó, thế nhưng vì sao nạn mãi lộ vẫn không giảm xuống?

Tư duy “sứ quân” của ông cục trưởng

Không phải đến bây giờ, người ta mới nói đến nạn mãi lộ. Cả xã hội kêu la, báo chí lên án. Thậm chí từ thời ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng cách đây hơn 20 năm, khi báo chí và xã hội phản ứng dữ dội, ông tuyên bố: “Chiến sĩ CSGT nào cầm của dân 5 ngàn đồng thì sẽ bị đuổi việc”.

Chắc vì sợ đuổi việc, nên từ đó đến nay, chưa bao giờ CSGT cầm 5 ngàn, mà chí ít thì đó phải là con số chục, trăm ngàn cho đến tiền triệu.

Sở dĩ, nạn mãi lộ không được ngăn chặn, trước hết phải khắng định rằng đây là một lợi ích có tính chất phe nhóm. Không ai lại không ngạc nhiên khi biết rằng 70% số tiền phạt của CSGT đối với việc vi phạm luật lệ giao thông, được giao cho Công an. Đây là một con số khủng khiếp. Chỉ một tỉnh bé như Sóc Trăng, công an đã trích tiền phạt của CSGT để mua 4 ôtô Lexus LX570 (giá thị trường mỗi chiếc trên 5 tỷ đồng) đủ biết số tiền phạt lớn đến chừng nào.

Chính vì vậy, lực lượng CSGT không chăm lo đến việc đảm bảo an toàn trật tự giao thông cho bằng nhăm nhăm việc “phạt”. Họ nghĩ ra đủ chiêu, đủ trò để ăn chặn, mãi lộ và bắt phạt. Nào là rình, núp, đuổi, chặn…. đủ cả, miễn là người dân phải nôn tiền ra.

Và người dân, với tư duy vô cảm và vô sự, họ sẵn sàng chia đôi tiền phạt để được bỏ qua lỗi và tiếp tục vi phạm.

Việc mãi lộ trở thành bình thường đến nỗi một vị tai to mặt lớn còn phát biểu như không rằng: “Kể cả lái xe hối lộ cảnh sát 50-50 vẫn có tác dụng” hoặc ngay chính ông Thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục CSGT Đường bộ – đường sắt, Bộ Công An năm 2012 tuyên bố một định nghĩa xanh rờn: ” CSGT nhận dăm ba chục” sao gọi là tham nhũng”.

Chắc là với ông này, thì cả va ly tiền triệu đô la như Dương Chí Dũng khai đã đưa ông Phạm Quý Ngọ – Thứ trưởng Bộ Công an – mà vẫn còn chưa coi là tham nhũng thì dăm ba chục ngàn đã là gì?

Họ muốn tạo ra một vùng đặc quyền, đặc lợi dựa trên sự cướp bóc, bất chính và dung túng, che giấu cho những hành động tham nhũng và hối lộ của cán bộ, chiến sĩ công an, nhất là CSGT.

Điển hình cho lối tư duy này, là Thiếu tướng Trần Sơn Hà, hiện là Cục trưởng Cục CSGT Đường bộ – đường sắt, Bộ Công An.

Nghe nói đến tên ông Trần Sơn Hà, người ta nhớ ngay đến những câu nói để đời và những văn bản do chính ông ký, mục đích là ngăn chặn sự giám sát của người dân và mặc nhiên cho lực lượng quân lính của ông lộng hành ngoài đường mặc sức bóp nặn người dân.

Người ta còn nhớ đến văn bản thông báo ngày 26/4/2013 do chính ông ta ký khi còn là Đại tá Cục phó, cấm người dân quay phim chụp ảnh CSGT nhằm che giấu việc phát hiện hối lộ, mãi lộ. Văn bản này đã lập tức bị xã hội lên án và phải rút lại bởi vi phạm luật pháp.

Thế rồi, với những “thành tích” đó, ông vẫn thăng quan, tiến chức lên Thiếu tướng, cục trưởng Cục CSGT.

Người ta cũng nhớ đến đề nghị của ông ta ở chức vụ Cục trưởng rằng phải trang bị vũ khí cho CSGT. Bởi ông cho rằng lái xe tông vào CSGT là sự xuống cấp đạo đức nghiêm trọng. Trong khi ông không hiểu rằng, CSGT bóp nặn người dân từng đồng bỏ túi hoặc đưa về vì lợi ích phe nhóm của ông, mặc cho tính mạng người dân cứ chết, cứ bị thương… thì không chỉ là xuống cấp đạo đức mà là sự phi nhân tính. Việc ông đề nghị cung cấp vũ khí cho CSGT với nhiệm vụ bảo đảm an toàn, trật tự giao thông, chính là suy nghĩ coi người dân là kẻ thù.

Mới đây, ông hùng hồn rằng: “Chúng ta (CSGT) không phải xuất trình gì cả, vì việc ra đường xử lý vi phạm đã được các cấp có thẩm quyền cho phép. Trên ngực CSGT có bảng tên, biển hiệu đàng hoàng nên người dân không được yêu cầu. Họ không có quyền đó”.

Lời phát biểu ngay lập tức bị các luật sư, những người am hiểu luật pháp và cả xã hội phản ứng dữ dội bởi ông đã tước quyền giám sát của người dân đã được hiến định, người ta khẳng định ông đã lạm quyền, không đúng quy định..

Thế nhưng, ông vẫn nhơn nhơn rằng: Đó là quan điểm của tôi.

Nhìn lại các hành động và phát ngôn của ông Cục trưởng có lịch sử từ khi còn là Cục phó đến nay, người ta thấy rõ ông tìm mọi cách để khoanh vùng cấm và tạo điều kiện tốt nhất cho nạn lén lút, trấn áp để nạn mãi lộ ngày càng phát triển.

Đó là tư duy bao che, lấp liếm của các lãnh đạo cục CSGT Đường bộ – Đường sắt, Bộ Công an.

Thực chất ông ta đang muốn xây dựng một “sứ quân” trong lòng đất nước cho chính nhóm lợi ích của ông ta.

 Hà Nội, ngày 25/8/2016

J.B Nguyễn Hữu Vinh

P/s: Mời xem video luật sư  nói về quy định mới của ông Trần Sơn Hà”

Một cảnh CSGT dọc đường dừng xe:

Posted in Công An, Chinh Tri Xa Hoi, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Ông Trịnh Xuân Thanh xin nghỉ phép, hay đã bị bắt giam

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2016


Ông Trịnh Xuân Thanh xin nghỉ phép

Bổ sung lúc 13h45′,

từ FB của nhà báo Ngọc Vinh: “Bị khám nhà chưa phải là bị bắt. Bị câu lưu cũng chưa phải là bị bắt. Bị bắt nhưng công an chưa xác nhận thì … chưa bị bắt. Mà chưa bị bắt thì ko thể đưa tin là… bị bắt. Nếu đưa tin chưa bị bắt thì… kỳ cục quá vì nó chưa phải là tin. Vậy phải làm sao đây? Thôi đành lủi thủi ra về chứ sao. Hôm nay chưa được, ngày mai ta phục tiếp, khi nào “bị bắt chính thức” thì ta đưa tin. Làm báo lề phải khổ bỏ mẹ chứ có sướng đâu mà nhiều thằng nói bậy là sướng. Nhiều khi cực như con chó ghẻ để kiếm tin mà đăng cho đám phây nó có cái mà bình… noạn. Thế mà thỉnh thoảng cứ bị cái bọn xấu xí trên phây đem cái… lờ, quên, cái lề ra mà rủa xả nà sao?

_____

Dân Việt

Hữu Danh

27-8-2016

Ông Trịnh Xuân Thanh. Nguồn: internet

Ông Trịnh Xuân Thanh. Nguồn: internet

 

 

 

 

 

 

 

Mời xem lại: Ông Trịnh Xuân Thanh đã bị bắt?

Ngày 27.8, ông Trần Công Chánh – Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang – cho biết, ông Trịnh Xuân Thanh vẫn đang là cán bộ của Hậu Giang. Do Trung ương chưa kết luận sai phạm nên ông Thanh chưa bị xử lý.

“Ông Thanh có đơn xin nghỉ phép. Chúng tôi chưa nghe thông báo gì liên quan đến ông Thanh” – ông Chánh nói.

Một lãnh đạo UBND tỉnh Hậu Giang cho biết, nhiều ngày qua không thấy ông Thanh xuất hiện, cũng không rõ ông Thanh đi đâu.

Trước đó, ngày 16.6, HĐND tỉnh Hậu Giang khóa IX (nhiệm kỳ 2016-2021) họp lần thứ nhất với 50 đại biểu vừa trúng cử tham dự. Tại cuộc họp này, ông Thanh nói bệnh và xin vắng mặt. Trước đó, ngày 15.6, ông Thanh đã chủ động nộp đơn lên Tỉnh ủy và HĐND tỉnh Hậu Giang xin không tái cử chức danh Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, nhiệm kỳ 2016-2021.

Như Dân Việt đã thông tin, ông Thanh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang trong cuộc họp HĐND bất thường hồi tháng 5.2015 khi đang giữ cương vị Chánh văn phòng Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương. Về địa phương một năm, ông Thanh được đánh giá là “cán bộ có năng lực”. Kỳ bầu đại biểu Quốc hội vừa qua, ông trúng cử với tỷ lệ phiếu cao nhất tỉnh Hậu Giang, 75%.

Trong bản tin “Xế hộp tư nhưng lại gắn biển xanh” đăng trên Dân Việt chiều 30.5, ông Thanh bắt đầu “nổi tiếng” vì dùng chiếc xe sang, gắn biển xanh trái pháp luật. Nhiều tờ báo cùng vào cuộc và làm rõ sai phạm của ông Thanh.

Đến ngày 9.6, Văn phòng Trung ương Đảng có công văn truyền đạt ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giao 9 cơ quan kiểm tra, xem xét, kết luận những nội dung báo chí nêu liên quan đến Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh. Có 3 vấn đề được đề cập, thứ nhất ông Trịnh Xuân Thanh được đưa đón bằng xe Lexus LX570 là xe tư, nhưng gắn biển xanh; thứ hai là tình trạng thua lỗ nặng ở Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), nơi ông Thanh giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ năm 2007 đến năm 2013 và cuối cùng dù lãnh đạo doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ông Thanh vẫn được luân chuyển nhiều vị trí quan trọng ở Bộ Công Thương rồi được bổ nhiệm Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ông Trịnh Xuân Thanh được Tỉnh ủy Hậu Giang “xin” đích danh từ ngày 17.10.2013. Theo Công văn 766-CV/TU do Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Huỳnh Minh Chắc ký gửi Bộ Công Thương, ông Thanh được xin về nhằm giúp tỉnh này thực hiện dự án Nhà máy điện Sông Hậu trị giá 1,5 tỷ USD. Thời điểm đó, ông Thanh là Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương. Sau đó 18 tháng, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng ký quyết định cho ông Thanh chuyển công tác về Hậu Giang như mong muốn của Tỉnh ủy Hậu Giang.

_______

Quan trường và chuyện “nằm gai, nếm mật”

Tác giả: theo FB Mạnh Quân

 

 

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Thực hư quan điểm của ông Nguyễn Cơ Thạch về Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2016

30 năm đổi mới nhìn từ ngành ngoại giao:

Thực hư quan điểm của ông Nguyễn Cơ Thạch về Trung Quốc

25-8-2016

Một Thế Giới

  “Va chạm của Trung Quốc với ông Thạch diễn ra trong một thời gian dài, chủ yếu liên quan tới lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Nhưng Đại sứ Trung Quốc Lý Gia Trung, một người biết tiếng Việt rất giỏi, đã nói rằng quan điểm cho rằng ông Thạch chống Trung Quốc là hoàn toàn sai lầm“.

Đây là phần 2 cuộc trò chuyện của PGS-TS Vũ Dương Huân với tư cách là một nhà sử học bàn về 30 năm ĐỔI MỚI nhìn từ ngành ngoại giao với Vietnamnet. Ông Huân nguyên là Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao, cựu Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan và Ucraine.  

“Cứ để các ông ấy va đầu vào đá…”

– Hội nghị Trung ương 3 của Đại hội 7 được coi là bước ngoặt lịch sử đối với đối ngoại Việt Nam, đối với chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ. Ông còn nhớ, hồi đó, để đạt được bước ngoặt này thì các vị đứng đầu ngành ngoại giao, đặc biệt là Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã làm những gì để thuyết phục được những người luôn đề cao, coi trọng quan hệ với các nước XHCN và phong trào công nhân trên thế giới?

– PGS-TS Vũ Dương Huân: Trong một quốc gia, việc có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường. Trong thời ông Nguyễn Cơ Thạch là bộ trưởng, nhất là giai đoạn liên quan đến Đại hội 6 và Đại hội 7 cũng có những vấn đề thuộc về ý thức hệ nổi lên, và gây ra tranh luận mạnh mẽ.

Việt Nam đã bắt đầu chuyển biến từ Đại hội 6, mặc dù lúc đấy đối ngoại chưa được coi là quan trọng, chưa được quan tâm. Lúc đó, trọng tâm là đổi mới về tư duy kinh tế. Nhưng mà đối ngoại và đối nội là những vấn đề luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, nếu không có đổi mới về đối nội thì không thể đổi mới đối ngoại.

Tại Đại hội 6, về đối ngoại chỉ mới nêu ra những tư tưởng rất lớn, chưa bàn cụ thể. Chẳng hạn “Kết hợp sức mạnh; Thêm bạn bớt thù; Kết hợp sức mạnh với giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và Đông Dương…” hay “Chuyển đấu tranh sang cùng tồn tại”… Nội bộ ta khi đó, như tôi đã nói ở trên, là vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Phần đông anh em vẫn ủng hộ tư tưởng ý thức hệ. Nhân đây, tôi xin kể một ví dụ về ngoại giao ý thức hệ. Năm 1989 là năm kỷ niệm 40 năm của Cộng hòa Dân chủ Đức, họ mời tất cả các lãnh đạo đảng anh em sang tham dự. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến dự với mục đích, ngoài dự lễ kỷ niệm, là thông báo với các đảng Cộng sản khác về sáng kiến của Đảng Cộng sản Việt Nam đăng cai tổ chức một cuộc họp bàn để phối hợp các đảng Cộng sản nhằm cứu CNXH, vì lúc đó CNXH đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, ở Đông Âu và Liên Xô. Ông Linh đã thành công với một số đảng Cộng sản như Romania, Mông Cổ, Cuba, hay Tây Đức, nhưng lại không được Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev ủng hộ do nội bộ Liên Xô lúc bấy giờ đang có nhiều thay đổi lớn.

Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là người cổ súy và tích cực thúc đẩy đa dạng hóa, đa phương hóa. Bộ trưởng Thạch có một đội ngũ nghiên cứu đã kịp nhìn ra xu thế phát triển của thế giới giờ không thể đi theo lối tư duy sáo cũ được nữa, mà phải đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, phải chú trọng phát triển kinh tế, chú trọng những vấn đề khác để mà thúc đẩy sự phát triển đất nước, và phải giải quyết vấn đề Campuchia.

Nguyễn Cơ Thạch, 30 năm đổi mới, Đại hội Đảng VI, Campuchia, Bình thường hóa Việt - Mỹ, ASEAN, Gỡ bỏ cấm vận, Trung Quốc
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gặp gỡ nhà đồng sáng lập đảng Xã hội Pháp Jean-Pierre Chevènement năm 1982 – Ảnh: Le Monde

Đáng mừng là tại Đại hội 7, xu hướng ủng hộ đổi mới đã manh nha thắng thế mặc dù không hoàn toàn. Trong Nghị quyết Đại hội 7 vẫn còn thấp thoáng tư tưởng ngoại giao ý thức hệ lẫn vào chính sách đa phương hóa quan hệ.

Tôi từng trực tiếp nghe ông Thạch nói rằng “Cứ để các ông ấy va đầu vào đá rồi các ông ấy sẽ thấy”. Tôi vẫn nhớ rất rõ, bản tham luận tại Đại hội 7 của ông Thạch rất hay. Ông ấy đã đánh giá về xu hướng phát triển của thế giới, cách mạng khoa học công nghệ, của toàn cầu hóa, xu hướng liên kết kinh tế nhau, và quả quyết Việt Nam không thể đi theo ngoại giao ý thức hệ được, bởi thực tế ở Đông Âu lúc đó là những minh chứng rõ ràng.

Những cơ hội bị bõ lỡ

– Nhân ông đang nói về chuyện cũ, chúng tôi xin hỏi một câu chuyện từng nghe phong thanh đâu đó. Có phải đã có những ý kiến khuyên Việt Nam nên bình thường hóa quan hệ với ASEAN và Mỹ, đặc biệt là ASEAN, trước khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc?

– Đúng là có ý kiến đó. Đáng nhẽ ra trong bối cảnh như thế, Việt Nam cần nhanh chóng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, và điều thúc đẩy đầu tiên chính là cái tăng cường quan hệ với ASEAN và gia nhập ASEAN, vì ASEAN là các nước láng giềng quanh ta.

Tại sao lại khuyên bình thường hóa quan hệ với Mỹ trước là bởi Mỹ là siêu cường, có thể chi phối các mối quan hệ quốc tế. Hơn nữa, trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc cực kỳ khó khăn, và Trung Quốc không muốn bình thường hóa quan hệ sớm, họ đã dùng vấn đề Campuchia để ngăn chặn Việt Nam.

Nếu như Việt Nam bình thường hóa quan hệ với ASEAN, chắc chắn mối quan hệ với Trung Quốc sẽ không phức tạp như sau này vì quan hệ quốc tế là những vấn đề dằng díu với nhau. Quan hệ với ASEAN sẽ thúc đẩy việc bình thường hóa với Trung Quốc.

Thật đáng tiếc, cả hai cái việc đó mình đều đã bỏ lỡ.

– Hồi đó chúng ta đã có cơ hội tốt để có thể chớp lấy cả 2 cơ hội này, phải không ạ?

– Hồi cuối thập niên 1970, Mỹ đánh tiếng sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhưng phía ta đã kiên quyết đòi Mỹ phải bồi thường chiến tranh 3,25 tỉ USD, ghi trong Phụ lục Hiệp định, như một điều kiện tiên quyết để bình thường hóa.

Cái đấy chính quyền Mỹ bảo không được vì quyết định bồi thường thuộc về quốc hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hội chứng chiến tranh Việt Nam còn sâu nặng, quốc hội làm sao mà chi. Việt Nam đã không tìm hiểu thấu đáo hệ thống chính trị Mỹ.

Đến tận tháng 4.1978, Việt Nam mới chấp nhận bỏ không đòi bồi thường chiến tranh, thì Mỹ đang chuẩn bị bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, cộng thêm chuyện ta đưa quân vào Campuchia và điều thứ 3 quan trọng nhất là Việt Nam đã ký Hiệp ước Hữu nghị Xô – Việt, trong đó có điều 6 về phối hợp hợp tác quân sự.

Còn đối với ASEAN, cơ hội để bình thường hóa quan hệ với ASEAN là có. Ngày 5.7.1976 Việt Nam đưa ra chính sách 4 điểm được các nước ASEAN rất hoan nghênh. Nhưng tại điểm thứ 4, ta lại kèm theo cái đuôi là tăng cường hợp tác với khu vực ASEAN để khu vực này có hòa bình trung lập thực sự. Vì thế một số nước ASEAN cho rằng Việt Nam muốn kêu gọi nhân dân lật đổ chính phủ họ. Hãy nhớ, lúc này các nước ASEAN đều phụ thuộc ở các mức độ khác nhau vào Mỹ. Khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, lực lượng các nước xung quanh đã về hùa với Trung Quốc và phương Tây bao vây cấm vận Việt Nam.

Nguyễn Cơ Thạch, 30 năm đổi mới, Đại hội Đảng VI, Campuchia, Bình thường hóa Việt - Mỹ, ASEAN, Gỡ bỏ cấm vận, Trung Quốc
Tháng 11.2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm Việt Nam đầu tiên. Ông cũng là tổng thống Mỹ đầu tiên tới Việt Nam, 25 năm sau khi chiến tranh kết thúc. Trong ảnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương (trái) và Tổng thống Clinton trong buổi lễ tiếp đón tại thủ đô Hà Nội. Ảnh: Reuters/ Zing.vn

Cho rằng ông Nguyễn Cơ Thạch chống Trung Quốc là sai lầm

– Theo chúng tôi được biết, trong tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, kênh ngoại giao đảng với ngoại giao quốc phòng đã đóng vai trò hết sức quan trọng. Tại sao lại có hiện tượng như thế và bài học cho hậu thế rút ra là gì?   

– Qua Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy đã gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tại Hà Nội. Tại đó ông Linh bàn với Trương Đức Duy về kế hoạch đi thăm Trung Quốc, và dẫn đến Hội nghị Thành Đô.

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là người coi trọng ý thức hệ, đặc biệt trong quan hệ giữa các nước XHCN và trong quan hệ giữa các đảng Cộng sản. Ông Linh tin rằng ý thức hệ là con đường quan trọng, có thể hóa giải các mối quan hệ đối ngoại căng thẳng, phức tạp. Ông ấy đã có niềm tin kiên định như vậy.

Trong nhiệm kỳ Tổng bí thư của mình, ông Nguyễn Văn Linh đã rất nỗ lực tạo dấu ấn lịch sử bằng việc bình thường hóa với Trung Quốc. Đại diện ngoại giao nhà nước tham dự Hội nghị Thành Đô là Thứ trưởng Đinh Nho Liêm chứ không phải Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

– Tôi không hiểu, tại sao qua kênh ngoại giao nhà nước lại lâu bình thường hóa hơn? Tôi nghe kể Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, do ông Thạch góp sức chủ yếu, có yêu cầu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc?

– Ông Lê Duẩn có giao cho Quốc vụ khanh Võ Đông Giang chuẩn bị một bài phát biểu tại một cuộc mít tinh. Ông Giang viết rằng trong quan hệ với Trung Quốc phải mềm mỏng hơn, và tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đó là quan điểm của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Nhưng đoạn này đã không được duyệt.

Liên quan đến việc góp ý vào Dự thảo Hiến pháp 1980, chính nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, tại Hội nghị tổng kết công tác nối ngoại năm 2007, đã kể lại rằng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã giao cho ông Niên chuyển bản góp ý của Bộ Ngoại giao tới các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Theo quan điểm của Bộ Ngoại giao, trong Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp 1980 không nên đưa câu “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm”. Nhưng ý kiến này cũng lại bị gạt đi.

Khoảng 2-3 tháng trước Đại hội 7 (6.1991), trong một buổi họp giao ban, đến phần đọc tin A, có một đoạn tin nói Trung Quốc đang tìm cách hạ bệ ông Thạch. Khi mọi người ra về, tôi nghe thấy ông Thạch lẩm bẩm một mình: Mình là người chủ trì Nghị quyết 13, mà một trong những nội dung quan trọng là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, thế mà… họ cứ hiểu ngược lại.

– Thế còn chuyện Trung Quốc không ưa ông Thạch thực hư như thế nào, ông có biết không?

– Tôi cho rằng Trung Quốc không ưa ông Thạch nhiều như thế vì họ vừa hiểu lầm, vừa không thích ông ấy.

Va chạm của Trung Quốc với ông Thạch diễn ra trong một thời gian dài, chủ yếu liên quan tới lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Hơn nữa, chính ông Thạch đã chỉ đạo ông Thứ trưởng Trần Quang Cơ đàm phán với Từ Đôn Tín ngay từ buổi đầu đã cực kỳ căng thẳng. Quan điểm của ông Thạch là không phụ thuộc vào ý thức hệ mà lợi ích quốc gia là chính. Còn Trung Quốc cũng vì lợi ích quốc gia nên họ cho rằng làm việc với ông Thạch sẽ rất khó, và vướng nhiều thứ. Họ muốn đàm phán với người khác, theo ý thức hệ, dễ hơn.

Đại sứ Trung Quốc sau này là ông Lý Gia Trung, một người biết tiếng Việt rất giỏi, đã nói rằng quan điểm cho rằng ông Thạch chống Trung Quốc là hoàn toàn sai lầm. 

– Còn việc ông Nguyễn Cơ Thạch không được bầu chọn ở Đại hội 7 có phải do sức ép đến từ bên ngoài không?

– Không đúng. Nguyên do hồi đó vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, ví dụ như chuyện ngoại giao ý thức hệ và ngoại giao vì lợi ích quốc gia dân tộc. Và ông Thạch không được Bộ Chính trị và Trung ương khóa 6 giới thiệu ứng cử tiếp tục.

Xin cảm ơn ông!

Theo Huỳnh Phan – Lan Anh/ VietNamNet

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »