Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 18th, 2016

► Xung quanh chuyện hoàn thuế của Formosa

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Vũ Thành Tự Anh
Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Thứ Năm, 18/8/2016, 08:57 (GMT+7)

(TBKTSG) – Việc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa), doanh nghiệp gây ra thảm họa môi trường ở miền Trung hồi tháng 4, đã được hoàn thuế hơn 13.000 tỉ đồng(*) đang thu hút sự chú ý của dư luận. Sự thật về khoản tiền hoàn thuế này là như thế nào?

Theo Công văn 3475/TCT-KK ngày 4-8-2016 của Tổng cục Thuế, từ tháng 4-2014 đến tháng 5-2016, Cục Thuế Hà Tĩnh đã hoàn tổng cộng 13.483 tỉ đồng thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho Formosa. Việc này hợp pháp vì theo Thông tư 205/2009/TT-BTC, đối với các máy móc, thiết bị… trong nước chưa sản xuất được thì doanh nghiệp sẽ được hoàn thuế Giá Trị Gia Tăng hàng nhập khẩu. (Xem thêm box Cơ sở pháp lý để hoàn thuế GTGT cho Formosa).

Tuy nhiên, có một số khe hở từ các quy định của Việt Nam đã bị Formosa lợi dụng triệt để.

Thứ nhất, nếu Formosa giữ công nghệ xử lý cốc khô như ban đầu thì việc hoàn thuế GTGT để khuyến khích nhập khẩu công nghệ thân thiện với môi trường là điều nên làm. Tuy nhiên, khi Formosa tự tiện đổi sang công nghệ xử lý cốc ướt, với nguy cơ gây ô nhiễm rất cao, thì chẳng nhẽ Chính phủ vẫn phải hoàn thuế cho công nghệ lạc hậu, chỉ vì công nghệ lạc hậu này trong nước chưa sản xuất được?!

Rõ ràng quy định của Việt Nam hiện nay quá lỏng lẻo khi việc hoàn thuế chỉ dựa vào năng lực sản xuất trong nước (vốn rất yếu) chứ không dựa vào trình độ công nghệ, do vậy vô hình trung mở đường cho công nghệ thải ngang nhiên vào Việt Nam.

Thứ hai, lấy lý do bị tổn thất vì “sự kiện 14-5-2014”, Formosa khai vống số thiệt hại, lấy đó làm đòn bẩy để gây sức ép. Cụ thể là Formosa khai báo tổng thiệt hại lên tới 5.533 tỉ đồng, cao gấp 75 lần so với kết quả đánh giá thiệt hại của cơ quan bảo hiểm và cơ quan chức năng Hà Tĩnh.

Tại sao mức thiệt hại do Formosa ước lượng lại cao ngất ngưởng như vậy? 

 
(“Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Formosa sẽ tai qua nạn khỏi, tiếp tục gây ô nhiễm, không đời nào rút khỏi VN nhờ vào sự bao che của đảng- theo Trần Hoàng)
Lý do là công ty này tính cả các “thiệt hại trong tương lai”. Về mặt kinh tế, cách tính này hoàn toàn có lý. Song vô lý là ở chỗ khi Formosa trở thành thủ phạm thì họ lại không chấp nhận nguyên tắc do chính họ sử dụng, không đếm xỉa tới những thiệt hại gián tiếp và trong tương lai của người dân, doanh nghiệp, và môi trường mà họ đã làm tổn thương.

Đến nay Chính phủ chưa hề có một công bố chính thức nào về ước lượng tổng thiệt hại do Formosa gây ra, song nếu tính đúng, tính đủ những thiệt hại kể cả hiện tại và tương lai, cả trực tiếp và gián tiếp, chắc chắn con số thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều lần so với 500 triệu đô la Mỹ mà Formosa cam kết bồi thường.

Thứ ba, là trong hồ sơ nộp cho Cục Thuế và Hải quan Hà Tĩnh để nhận hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn do “sự kiện 14-5-2014”, Formosa đã kê khai sai, lập hợp đồng xây dựng bổ sung không đúng quy định, kê khai bổ sung khấu trừ và hoàn thuế GTGT của 19.497 hóa đơn, chứng từ, với tổng số tiền khai man lên tới hơn 1.730 tỉ đồng!

Thứ tư, lợi dụng tư cách “nạn nhân”, công ty này đã đòi miễn giảm, miễn phạt và hoàn lại số tiền phạt cho cả những vi phạm xảy ra trước “sự kiện 14-5”?! Tổng số tiền Formosa trục lợi từ hành vi này lên tới 281 tỉ đồng!

Khi cấp giấy phép đầu tư cho Formosa, chính quyền Hà Tĩnh kỳ vọng dự án này sẽ làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của tỉnh, sẽ đem tới thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế và lao động cho tỉnh. Tất cả những điều này đều đang xảy ra, chỉ có điều theo chiều ngược lại. Những bãi biển vắng hoe, ngư dân không thể bám biển, sống vất vưởng, còn diện mạo và môi trường kinh doanh – đầu tư của Hà Tĩnh thì xấu hơn bao giờ hết.

Khi cấp giấy phép đầu tư cho Formosa, chính quyền cũng nuôi hy vọng là dự án này sẽ trở thành động lực đột phá cho cả vùng Bắc Trung bộ. Giờ đây, người dân từ Nghệ An cho đến Huế chưa thấy quả ngọt đâu mà chỉ thấy trái đắng do vụ thảm sát môi trường mà Formosa gây ra. Không những thế, với 53 sai phạm lớn nhỏ, với chất thải rải khắp nơi, từ công viên cho tới trang trại hay rừng dự án, thậm chí vượt hơn 500 cây số ra tận Phú Thọ, Formosa đang trở thành một của nợ không ai muốn bị liên lụy. 

Chính phủ đã có chủ trương không thu hút đầu tư FDI bằng mọi giá. Chính phủ cũng không nên giữ chân FDI bẩn bằng mọi giá, nhất là khi cái giá phải trả là sinh kế của hàng vạn con người và sự tồn vong của hàng vạn héc ta hệ sinh thái ven biển.

(*) Các trích dẫn về thông tin và số liệu trong bài lấy từ Công văn 3475/TCT-KK 
ngày 4-8-2016 của Tổng cục Thuế.
LÊ KIÊN

 

 
 
______

Formosa tự ý thay đổi công nghệ luyện cốc từ khô sang ướt – Tuổi Trẻ Online – Báo Tuổi Trẻ

11-7-2016

TTO – Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 11-7, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường Trần Hồng Hà cho biết trong số 53 vi phạm bị phát hiện, nguy hiểm nhất là việc Formosa tự ý thay đổi công nghệ luyện cốc.

Hệ thống bến cảng của Formosa để nhập, xuất hàng hóa - Ảnh: VĂN ĐỊNH
Hệ thống bến cảng với 23 cầu cảng của Formosa để nhập, xuất hàng hóa – Ảnh: VĂN ĐỊNH

(Theo Tiến sĩ môi trường Mai Thanh Truyết, Formosa nhập chất thải từ khắp nơi trên thế giới, chở vào Hà Tỉnh, và thải ra biển. Vì không lý nào Formosa chỉ mới chạy thử, công suất chỉ bằng 1/4, nhưng có khả năng gây ô nhiễm trên một diện rộng, sâu, và kéo dài 200 km- theo Trần Hoàng.)

 

Ông Hà nói: “Qua kiểm tra, phát hiện trong giai đoạn hiện nay Formosa đang chạy thử nghiệm trước khi cơ quan nhà nước vào kiểm tra để cho phép hoạt động”.

“Formosa có 6 nhà thầu nước ngoài, liên quan việc chuyển giao công nghệ, lắp đặt thiết bị, cho đến vận hành hệ thống nước thải. Các nhà thầu này hầu hết là của Trung Quốc”.

“Qua kiểm tra đã phát hiện Formosa có 53 hành vi vi phạm về hành chính. Trong đó liên quan đến cả những quá trình như thiết kế, vận hành, xây dựng, thi công, kể cả những vấn đề qua thử nghiệm chúng ta phát hiện sự cố liên quan đến việc triển khai hệ thống xử lý chưa đúng quy chuẩn, quy định của pháp luật, của cơ quan quản lý”.

Vẫn theo bộ trưởng Hà, “trong 53 hành vi đó thì đặc biệt có một hành vi là tự ý thay đổi công nghệ nghệ xử lý cốc, từ công nghệ xử lý cốc khô (có nghĩa là công nghệ thân thiện) sang công nghệ xử lý cốc ướt (là công nghệ phát tán rất nhiều chất thải, đặc biệt là khí thải). Đây là việc họ tự ý điều chỉnh, tuy nhiên việc thay đổi công nghệ này không liên quan đến sự cố môi trường vừa rồi”.

“Hiện nay, Formosa đang trong quá trình chạy thử. Phải nói rằng nơi có nguồn thải nguy hiểm nhất đó là lò luyện cốc. Tại đấy nguồn nước thải ra được xử lý tại trạm sinh hóa. Cho đến nay mới chạy ¼ công suất”.

Ông Hà khẳng định: “Việc diễn ra ô nhiễm như vậy có thể khẳng định là do sự cố. Trên thực tế khi vận hành đầy đủ và đúng quy định, được kiểm tra chặt chẽ, thì chúng ta cho rằng nó hoàn toàn có thể đảm bảo được kiểm soát và xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường”.

Trình bày về công tác quản lý lao động nước ngoài (chủ yếu là lao động Trung Quốc) tại khu công nghiệp của Formosa, Thứ trưởng Bộ Lao động, thương binh và xã hội Phạm Minh Huân cho biết bộ đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra.

“Hiện nay khoảng 70% lao động ở Formosa đã được cấp giấy phép. Chúng tôi giao cho địa phương Hà Tĩnh cấp phép và việc cấp giấy phép đã diễn ra đúng quy định” – ông Huân nói.

LÊ KIÊN

 

 
 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Nghi phạm bắn chết Bí thư tỉnh ủy và Trưởng ban Tổ chức tỉnh Yên Bái, cũng đã chết, không khởi tố vụ án

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Nghi phạm bắn hai lãnh đạo Yên Bái đã chết, không khởi tố vụ án

18-8-2016  14:24

TTO – Ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc Công an tỉnh Yên Bái, cho biết do nghi phạm Đỗ Cường Minh đã chết nên cơ quan công an không khởi tố vụ án hình sự.

Bà Phạm Thị Thanh Trà, chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, chủ trì buổi họp báo thông tin về vụ việc – Ảnh: THÂN HOÀNG

14g20 chiều nay 18-8, tỉnh Yên Bái tổ chức họp báo vụ việc Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết. 

Buổi họp báo do Tỉnh ủy, UBND tỉnh ủy tổ chức thông tin về vụ việc nghiêm trọng này.

Buổi họp báo do bà Phạm Thị Thanh Trà, chủ tịch UBND, ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc Công an tỉnh, ông Hà Đức Hoan, trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy, chủ trì.

Khoảng 30 báo từ Hà Nội lên và thường trú tại Yên Bái quan tâm đến vụ việc đã có mặt tại hội trường tỉnh ủy.

14g35, bà Trà thay mặt tỉnh ủy, UBND tỉnh thông tin vụ việc. Theo đó, lúc hơn 7g sáng 18-8, ông Phạm Duy Cường – bí thư Tỉnh ủy Yên Bái và ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức bị bắn tại phòng làm việc.

Giọng nói run run, bà Trà cho biết hai lãnh đạo chủ chốt của tỉnh là bí thư tỉnh ủy, chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh ủy bị sát hại là mất mát, đau thương lớn đối với người dân, các đồng bào dân tộc của tỉnh Yên Bái.

Bà Trà thay mặt lãnh đạo tỉnh thông tin một số nội dung đầy đủ và chính xác về vụ việc. Theo chương trình làm việc sáng nay, HĐND tỉnh tổ chức kỳ họp thứ 2, dự kiến khai mạc lúc 8g nhưng riêng đại biểu HĐND tỉnh sẽ có mặt sớm hơn, lúc 7g45 để chuẩn bị cho việc khai mạc kỳ họp.

Trước lúc khai mạc, khoảng 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh, đi vào trụ sở tỉnh ủy, dùng súng K59 đi đến phòng làm việc bắn bí thư tỉnh ủy.

Tiếp đó ông Minh đi đến phòng làm việc của ông Tuấn cách đó 150m và bắn ông Tuấn. Ngay sau đó ông Minh dùng súng tự sát tại phòng làm việc của ông Tuấn.

Đại diện của khoảng 30 cơ quan truyền thông đã có mặt tại hội trường Tỉnh ủy Yên Bái chờ họp báo – Ảnh: THÂN HOÀNG

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, các bác sĩ của bệnh viện đa khoa tỉnh đã có mặt đưa những người bị bắn đi cấp cứu.

Bà Trà  trực tiếp liên lạc với Bệnh viện Bạch Mai để điều động những bác sĩ tốt nhất lên Yên Bái cứu chữa các nạn nhân.

Lãnh đạo tỉnh Yên Bái cũng đã báo cáo trung ương về vụ việc. Tỉnh đã tập trung huy động tối đa lực lượng tập trung cứu chữa.

Tỉnh cũng báo cáo Thủ tướng Chính phủ huy động các bác sĩ giỏi nhất của hai bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức lên Yên Bái để cứu chữa cho hai lãnh đạo tỉnh này.

Đồng thời chỉ đạo công an tỉnh phong tỏa hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại trụ sở tỉnh ủy, khám nghiệm hiện trường. An ninh tại một số khu vực được thắt chặt. Tỉnh ủy cũng triệu tập cuộc họp để lên phương án ổn định tình hình, không để người dân hoang mang.

Theo bà Trà, đây là sự việc gây rúng động dư luận. Các cơ quan chức năng đã tăng cường hỗ trợ Yên Bái điều tra nguyên nhân vụ việc.

Bộ Công an đã cử thượng tướng Nguyễn Văn Thành, thứ trưởng Bộ Công an, trực tiếp đến hiện trường thị sát, chỉ đạo công tác điều tra.

Bà Trà cũng cho biết Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã lên Yên Bái ngay trong buổi sáng để nắm bắt thông tin vụ việc, triệu tập cuộc họp với lãnh đạo tỉnh Yên Bái để chỉ đạo điều tra nguyên nhân, sớm ổn định tình hình trật tự trên địa bàn cũng như tư tưởng của người dân.

Đây là mất mát lớn lao, đau đớn vô cùng không chỉ của lãnh đạo mà của cả nhân dân tỉnh Yên Bái.

Tuổi Trẻ đặt câu hỏi đầu tiên và chia sẻ với mất mát của tỉnh Yên Bái: Xin được hỏi trực tiếp ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh: từ công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập thông tin, tài liệu, có thể cho biết nguyên nhân ban đầu dẫn đến việc ông Đỗ Cường Minh gây ra vụ việc rúng động bắn hai lãnh đạo chủ chốt của tỉnh?

Báo Nông nghiệp Việt Nam: Ông Minh có dấu hiệu bị tâm thần không? Nguyên nhân nào mà một cán bộ, đảng viên lại có hành động như vậy?

VTV hỏi trực tiếp ông Đặng Trần Chiêu: Xin cho biết động cơ gây án của nghi can?

Báo Tuổi Trẻ: Khẩu súng mà nghi can sử dụng để gây án lấy từ đâu? Khám nghiệm hiện trường, khám xét nhà của nghi can có phát hiện thư tuyệt mệnh, lời trăn trối gì để lại hay không? Được biết nghi can là con rể của một nguyên lãnh đạo tỉnh, xin cho biết động cơ gây án có liên quan gì đến công tác tổ chức cán bộ của tỉnh hay không?

Ông Đặng Trần Chiêu, giám đốc công an tỉnh, cho biết sự việc xảy ra rất mau lẹ. Chúng tôi tập trung ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn và cứu chữa nạn nhân, kể cả nghi phạm gây án.

Hiện nay ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đã tắt thở lúc 13g05.

Theo ông Chiêu, trong lúc này chưa có đủ căn cứ trả lời được, xin hẹn trả lời vào dịp khác

Việc khẩu súng của Đỗ Cường Minh, chúng tôi kiểm tra vũ khí do Bộ NN và PTNT cấp cho lực lượng kiểm lâm.

Theo quy định của Bộ Công an, khẩu súng này được cấp cho người sử dụng là Đỗ Cường Minh.

Khẩu súng là vũ khí quân dụng được trang bị cho chính nghi can.

Nội dung nghi phạm có thư trăng trối gì không, chúng tôi đang phối hợp với Tổng cục An ninh, Bộ Công an kiểm tra, khám xét nơi ở và nơi làm việc của nghi phạm nên chưa kết luận chính xác.

Trả lời tại cuộc họp báo, bà Trà cho biết giám đốc công an tỉnh đã nêu một số vấn đề mà các báo hỏi, tuy nhiên vụ việc đang trong quá trình điều tra nên chưa thể cung cấp nguyên nhân chính xác về vụ việc.

“Liên quan đến việc bổ nhiệm ông Minh, trước đây ông Minh là người rất hiền lành, luôn cố gắng hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ được giao. Trong đối nhân xử thế không có vấn đề gì. Theo suy nghĩ của tôi, có thể trong một phút không làm chủ được bản thân nên có hành vi hồ đồ gây ra hậu quả đau lòng” – bà Trà nói.

Cũng theo bà Trà, trước khi vụ việc xảy ra, tỉnh có chủ trương sáp nhập Chi cục kiểm lâm với một đơn vị khác, tuy nhiên chưa có quyết định gì cụ thể, lãnh đạo tỉnh đã gặp ông Minh để làm tư tưởng. Đến nay không có cơ sở để khẳng định nguyên nhân vụ việc do công tác tổ chức cán bộ.

Bà Trà cho biết sáng nay ông Minh vào trụ sở làm việc của tỉnh ủy có thông qua văn phòng tỉnh ủy và phiên họp HĐND sáng nay không có nội dung nào liên quan đến ông Minh. “Có thể nói đây là cơn bão lòng” – bà Trà nói.

Tuổi Trẻ tiếp tục đặt câu hỏi: Được biết những vụ việc phá rừng tại Yên Bái đã quy trách nhiệm cho ông Minh, đây có phải là một trong nhữnômg lý do gây án?

Bà Trà cho biết tại kỳ họp trước không nhắc đến trách nhiệm cụ thể ông Minh. Việc phá rừng thì trách nhiệm thuộc các đơn vị có trách nhiệm, tỉnh cũng đang yêu cầu xử lý. Tuy nhiên tỉnh chưa có quyết định cụ thể gì liên quan đến trách nhiệm của ông Minh.

Theo bà Trà, ngay sau khi vụ việc xảy ra, nghe tỉnh ủy báo cáo tình hình, Thủ tướng chính phủ đồng ý điều động một trực thăng lên để nếu có thể đưa hai lãnh đạo tỉnh về Hà Nội cấp cứu. Tuy nhiên rất đáng tiếc đến 13g05, cả hai ông đều đã tử vong.

Thủ tướng chính phủ chỉ đạo, Ban thường vụ tỉnh ủy đã thống nhất giao ông Dương Văn Thống, phó bí thư thường trực tỉnh ủy, chịu trách nhiệm chỉ đạo chung hoạt động Đảng bộ của tỉnh.

Khẩu súng K59 được bắn hết đạn

Ông Đặng Trần Chiêu cho biết do nghi phạm là người quá quen, khi đến trụ sở tỉnh ủy có đăng ký với văn phòng, được cán bộ dẫn lên. Vì ông Minh là cán bộ, người quen nên không kiểm tra người và không phát hiện nghi phạm mang súng.

Ông Chiêu cho biết lúc 15g26 chiều cùng ngày, nghi phạm Đỗ Cường Minh gây ra vụ án rúng động này đã tử vong.

Theo ông Chiêu do nghi phạm, người thực hiện hành vi giết người đã chết nên theo quy định của pháp luật nên cơ quan công an không khởi tố vụ án hình sự.

Ông Đặng Trần Chiêu cho biết vị trí phòng làm việc của ông Phạm Duy Cường cách vị trí phòng ông Ngô Ngọc Tuấn khoảng 150m. Tuy nhiên, khi nghi phạm nổ súng bắn ông Cường mà không ai phát hiện là do loại súng K59 có tiếng nổ không lớn.

(Cơ ngơi Tỉnh ủy quá lớn! Một số hình ảnh Phapluatplus.vn ghi nhận được tại hiện trường.

Khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái. Ảnh T.H
Khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái. Ảnh T.H
Rất nhiều người bất ngờ khi nhận được thông tin vụ án xảy ra.
Rất nhiều người bất ngờ khi nhận được thông tin vụ án xảy ra.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ban đầu, cơ quan công an xác định nghi phạm bắn ông Cường trước, rồi mới bắn ông Tuấn. Do phòng ông Cường cửa kín nên cán bộ làm việc tại trụ sở tỉnh ủy không nghe được tiếng súng.

Khi nghi phạm sang phòng làm việc của ông Tuấn, các cán bộ của Ban tổ chức tỉnh ủy cũng nhìn thấy, nhưng nghĩ là đến phòng ông Tuấn có việc. Chỉ sau khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phòng ông Tuấn, mọi người mới chạy sang, bàng hoàng phát hiện cả ông Tuấn và nghi phạm nằm dưới nền nhà.

Ông Chiêu cho biết thêm, khẩu súng K59 đối tượng sử dụng tại hiện trường đã bắn hết đạn, không có nòng giảm thanh. Công an thu được 4 vỏ đạn tại phòng làm việc của ông Tuấn và 4 vỏ đạn khác ở phòng làm việc của ông Cường. 

THÂN HOÀNG – ĐỨC BÌNH

*Bà Trà mô tả về nghi can Đỗ Cường Minh “là người rất lành hiền, cố gắng để hoàn thành nghĩa vụ”, bà cũng nói ông Minh là “con của nguyên lãnh đạo tỉnh”. Nhưng bà Trà cũng nói “có thể tâm lý gì diễn biến trong nội tâm không làm chủ được” và có “dấu hiệu của sự cực đoan”.

Trước câu hỏi của phóng viên báo tại Việt Nam là vụ bắn có liên quan đến tình ái hay làm ăn, bà Thanh Trà nói “chắc chắn không có liên quan đến công tác cán bộ” và ông Minh “được tín nhiệm giữ chức chi cục trưởng chi cục kiểm lâm”.

Ở Sở Nông nghiệp tỉnh này đã có sự thống nhất về chủ trương sáp nhập Chi cục Kiểm Lâm và Chi cục Lâm nghiệp.

Thông tin tiểu sử

Ông Phạm Duy Cường, sinh năm 1958, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái ngày 26/2/2015 tại hội nghị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái. Ông từng là Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Phó bí thư Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Trong khi đó, ông Ngô Ngọc Tuấn, sinh năm 1964, vừa được bầu giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Yên Bái vào tháng 6. Ông cũng kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái.

Người bắn, Đỗ Cường Minh, sinh năm 1963, từng giữ chức vụ Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, và giữ chức vụ Chi cục trưởng ngày 1/4/2014.

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái và Chủ tịch HĐND tỉnh bị bắn chết, nghi phạm là chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái tự tử

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Trích: Sáng nay 18-8, ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đến trụ sở tỉnh ủy từ sớm để chuẩn bị dự buổi khai mạc kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên trước khi kỳ họp diễn ra, khoảng ngoài 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đi vào trụ sở tỉnh ủy. Ông Minh vào phòng làm việc của ông Cường và rút súng bắn vào đầu bí thư tỉnh ủy. Sau đó ông Minh đóng cửa phòng của ông Cường lại rồi đi sang phòng ông Tuấn và tiếp tục bắn ông Tuấn.

Ngay sau khi bắn hai lãnh đạo của tỉnh Yên Bái, ông Minh dùng súng tự sát ngay tại phòng ông Tuấn.”

Bí thư và Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái bị bắn chết, nghi phạm tử vong

Tuổi Trẻ

18-8-2016

TTO- Một vụ án nghiêm trọng xảy ra sáng 18-8 tại Yên Bái. Bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm trưởng Ban tổ chức tỉnh ủy Yên Bái Ngô Ngọc Tuấn bị bắn đã tử vong vào trưa cùng ngày.

* Bí thư tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong tại BV Đa khoa Yên Bái. Nghi phạm Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, tự bắn vào đầu tự tử.

An ninh được thắt chặt ở khu vực bệnh viện, nơi đang cấp cứu cho các nạn nhân sau vụ nổ sưng - Ảnh THÂN HOÀNG
An ninh được thắt chặt ở khu vực bệnh viện, nơi đang cấp cứu cho các nạn nhân sau vụ nổ súng – Ảnh THÂN HOÀNG

 

Các nạn nhân đã được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Nghi phạm dùng súng bắn vào hai lãnh đạo tỉnh Yên Bái là Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái. 

Lúc 11g trưa nay, cả ba người đang nằm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái. Phía ngoài cổng bệnh viện, tình hình an ninh được thắt chặt, lực lượng công an, cảnh sát cơ động, kiểm soát quân sự thiết lập nhiều vòng bảo vệ. Liên tiếp các xe biển xanh của trung ương và của tỉnh Yên Bái ra vào bệnh viện. Người dân tập trung hai bên đường cũng rất đông…

Trước đó, trong sáng 18-8, ngay sau khi nhận được thông tin, Bộ Y tế đã điều kíp bác sĩ của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Việt Đức lên Yên Bái, do đánh giá tình hình không thể chuyển bệnh nhân về Hà Nội.

Khoảng 10g sáng, hai kíp bác sĩ này đã trực tiếp tham gia ca mổ cho các bệnh nhân. Nhưng tình hình được đánh giá là rất nguy kịch và không bắt được mạch.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Việt Đức do ông Trịnh Hồng Sơn, PGĐ bệnh viện chủ trì.

Kíp bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai bao gồm ông Nguyễn Đạt Anh, trưởng khoa cấp cứu A9.

Ngoài ra còn có ông Dương Đức Hùng trưởng đơn vị C4, Viện Tim mạch quốc gia.

Trưa cùng ngày, thượng tướng Nguyễn Văn Thành, thứ trưởng Bộ Công an, đã có mặt tại Yên Bái để trực tiếp chỉ đạo xử lý vụ việc.

Xác nhận với Tuổi Trẻ lúc 13g chiều cùng ngày, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết khoảng 12g30, ông Ngô Ngọc Tuấn đã tử vong vì vết thương quá nặng. Trước đó, ông Phạm Duy Cường cũng đã tử vong.

Theo nguồn tin riêng của Tuổi Trẻ, hai nạn nhân đều bị bắn 2-3 phát đạn. Một bị bắn vào ngực, bụng và đầu. Một bị bắn vào ngực xuyên lên cổ và vào đầu.

Riêng nghi phạm Đỗ Cường Minh tự sát bằng cách bắn vào đầu. Ông Cường và ông Tuấn tử vong trước khi đến bệnh viện. Kíp bác sĩ Hà Nội lên tích cực hồi sức nhưng không hiệu quả.

Tin từ cuộc họp báo chiều 18-8 tại Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh cũng đã tử vong sau đó.

Khu vực phòng làm việc của bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái đã được Công an phong toả, khám nghiệm điều tra nguyên nhân vụ việc - Ảnh: Thân Hoàng
Khu vực phòng làm việc của bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái đã được Công an phong tỏa, khám nghiệm điều tra nguyên nhân vụ việc – Ảnh: THÂN HOÀNG

 

 

Hủy kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh Yên Bái 

Theo dự kiến kỳ họp sẽ được khai mạc chính thức vào 8g sáng nay 18-8. Lý do hủy kỳ họp vào phút cuối theo một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết vì lý do trên.

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Phạm Duy Cường

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, vụ việc rúng động này vừa xảy ra vào sáng nay, ông Phạm Duy Cường – bí thư tỉnh ủy và ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức tỉnh Yên Bái bị chi cục trưởng chi cục kiểm lâm của tỉnh này dùng súng bắn.

Ngô Ngọc Tuấn - Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Ông Ngô Ngọc Tuấn – chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái 

Sáng nay, ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn đến trụ sở tỉnh ủy từ sớm để chuẩn bị dự buổi khai mạc kỳ họp HĐND.

Tuy nhiên trước khi kỳ họp diễn ra, khoảng ngoài 7g, ông Đỗ Cường Minh, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đi vào trụ sở tỉnh ủy. Ông Minh vào phòng làm việc của ông Cường và rút súng bắn vào đầu bí thư tỉnh ủy. Sau đó ông Minh đóng cửa phòng của ông Cường lại rồi đi sang phòng ông Tuấn và tiếp tục bắn ông Tuấn.

Ngay sau khi bắn hai lãnh đạo của tỉnh Yên Bái, ông Minh dùng súng tự sát ngay tại phòng ông Tuấn. Xác nhận vụ việc trên vớiTuổi Trẻ, một lãnh đạo tỉnh Yên Bái cho biết hiện cả ba ông đã được đưa vào bệnh viện tỉnh cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Vị lãnh đạo này cũng cho biết không thể di chuyển ba ông xuống Hà Nội cấp cứu được, các bác sĩ từ Hà Nội đang cấp tốc lên Yên Bái.

Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái Đỗ Cường Minh

Được biết, ông Minh được bổ nhiệm làm chi cục trưởng chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái từ tháng 3-2014. 

Hiện các cơ quan chức năng đã phong tỏa hiện trường để khám nghiệm, điều tra.

Dự kiến 14g30 chiều nay, 18-8, tỉnh Yên Bái sẽ tổ chức họp báo về vụ việc này. TTO sẽ chuyển tải nội dung cuộc họp báo, mong bạn đọc đón xem.

Ông Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVII tái đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Ông Phạm Duy Cường sinh ngày 9-12-1958 tại xã Ninh Sở, Thanh Trì, Hà Nội. 

Ông là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh; Kỹ sư Vật liệu xây dựng. Ông Cường từng giữ các chức vụ Giám đốc Nhà máy xi măng Yên Bái; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Ông Ngô Ngọc Tuấn – Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái sinh ngày 18-8-1964.  Quê quán: xã Tiên Tân, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Trình độ chuyên môn: Đại học Nông nghiệp chuyên ngành Kinh tế, Đại học Luật

Ông hiện là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 – 2021 kiêm Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

THÂN HOÀNG – ĐỨC BÌNH – LAN

___________

Thấy gì khi lãnh đạo đảng bị bắn ngay trong phòng họp UBND?

Nguyễn Tấn Thành

18-8-2016
Thấy áp bức mà ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái – ông Đỗ Cường Minh này nhận chỉ là nhỏ. Còn cả ngàn ông đang bị áp bức hơn thế, kể cả ông X đang bị dồn tới đường cùng …

Trong cả ngàn ông này cũng sẽ có hơn trăm ông làm theo Đỗ Cường Minh rút súng bắn lãnh đạo đảng nữa.

Thấy Mác, Lê, Mao, Hồ cũng có cái đúng là ở đâu có áp bức là ở đó có đấu tranh. Tình trạng áp bức nhau trong nội bộ đảng là thường xuyên, nhưng hôm nay còn cao hơn khi Đất nước giờ khánh kiệt khó còn chỗ vơ vét. Buộc đám mới lên phải áp bức, bóc lột, vơ vét đám cũ tạo ra những mâu thuẫn phải đấu tranh tới cùng.

Thấy thế là chưa thấy, phải thấy:

– Với một Đất nước tiêu điều, với một đội ngũ lãnh đạo dư sự ngu dốt để tìm một con đường ra, thừa lưu manh côn đồ để đàn áp Dân và đồng đảng với nhau như thế này, thì tất yếu sẽ có nhiều Đổ Cường Minh trong tương lai gần. Nhưng chắn chắn trong những Đổ Cường Minh đó không ai cũng chọn tự tử sau khi giết lãnh đạo đảng+. Mà họ còn sống để giết tiếp để giải phóng Dân tộc, để cho con cái của họ được sống trong một Đất nước không còn Cộng sản.

– Hôm nay chỉ một Đổ Cường Minh đơn lẻ, nhưng chắc chắn ngày mai trước khi làm họ ngồi lại với nhau, thành một nhóm Đổ Cường Minh để giết nhiều lãnh đạo đảng+ hơn. Để cuối cùng đảng+ sinh ra từ bạo lực rồi chết vì bạo lực của chính các thành viên của họ, là luôn luôn đúng.

Và như vậy mới thấy thế lực thù địch của đảng+ giờ không chỉ là Formosa, Ngư Dân đói khổ, cán bộ đảng viên ngu dốt tham tàn, bạn vàng Trung+ khốn nạn, nền kinh tế te tua bởi các Doanh nghiệp Nhà nước, Dân oan khắp nơi oán thán, tham nhũng từ CA Phường tới lãnh đạo cao cấp …. mà còn từ cả ngàn Đổ Cường Minh khắp trong đảng+

Và như vậy mới thấy ngoài cơn bão Cách mạng của những người Dân bị bóc lột, bị đàn áp, bị cướp đất cướp nhà kia, còn có một cơn bão khác bạo lực hơn của hàng ngàn Đổ Cường Minh cũng đang lù lù kéo tới.

Số phận của đảng Cộng sản như vậy thì theo quy luật sinh ra trong bạo lực thì sẽ chết trong bạo lực, nhưng chẳng lẽ số phận của Đất nước là phải thay đổi bằng cách như vậy chăng !?

_____

Kênh 13

Rúng động tại Yên Bái: Chi Cục trưởng Kiểm lâm dùng súng bắn Lãnh đạo tỉnh rồi tự sát

Long Nhất

18-8-2016

Tại cuộc họp HĐND tỉnh Yên Bái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm đã bất ngờ rút súng bắn thẳng về phía 2 lãnh đạo tỉnh Yên Bái.

Sự việc vừa xẩy ra vào khoảng hơn 8h sáng nay (18/8) tại một kỳ họp do Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái tổ chức.

Trao đổi với Phapluatplus.vn, một lãnh đạo nguyên là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái cho biết, vừa tiếp nhận thông tin một lãnh đạo tỉnh và một đồng chí Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy bị ông Đỗ Cường Minh dùng súng gây sát thương. Hiện cả hai đang được cấp cứu, điều trị tại bệnh viện.

H1

Theo thông tin ban đầu mà PV Phapluatplus.vn cập nhật được, ngay tại cuộc họp HĐND tỉnh Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm đã bất ngờ rút súng bắn thẳng về phía 2 lãnh đạo Tỉnh Yên Bái (xin không đưa tên cụ thể).

Sự việc xẩy ra rất bất ngờ khiến nhiều Lãnh đạo, cán bộ tham dự cuộc họp chứng kiến một phen thất kinh.

Ngay sau khi bắn về phía 2 lãnh đạo tỉnh Yên Bái, ông Đỗ Cường Minh đã cầm súng tự bắn thẳng vào đầu mình để tự sát.

Hiện chưa thể xác định được hung thủ dùng súng tự sát có bị tử vong hay không. Về diễn tiến sức khỏe của hai vị lãnh đạo tỉnh Yên Bái được xác định có một người đang có dấu hiệu nguy kịch.

Theo thông tin ngoài luồng cho biết 2 người bị bắn được cho là: Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái Phạm Duy Cường và Trưởng ban Tổ chức tỉnh uỷ.

Posted in Thời Sự, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Vài Sự Thật về Cách Mạng tháng 8, 1945 – Gs Nguyễn Đình Cống

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

GS. Nguyễn Đình Cống: VÀI SỰ THẬT VỀ CÁCH MẠNG THÁNG 8 – 1945

 
 


Nguyễn Đình Cống
16.08.2016VÀI ĐÁNH GIÁ NHẦM TRONG CM THÁNG 8Nhân dịp kỷ niệm CM tháng 8, ngoài những điều nhiều người đã biết, đã thuộc lòng, cũng nên nhìn vào vài đánh giá và tuyên truyền nhầm, sai sự thật để hiểu thêm lịch sử. Xin bắt đầu từ tháng 5- 1941, khi Đảng Cộng sản thành lập Mặt trận Việt Minh (VM) với mục tiêu : “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
Tuyên bố công khai là thế, mục tiêu trước mắt là như vậy, rất tốt đẹp, rất rõ ràng, nhưng xét ra việc thực tế đã làm được, mục tiêu chính và lâu dài không hoàn toàn đúng như thế.

Đêm 9 tháng 3- 1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất VN không còn một người Pháp cai trị.
Ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp.
(Ngày 17) Tháng 4- 1945, giải tán Triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng.
Ngày 15 – 8 Nhật đầu hàng Đồng minh.
Ngày 17 – 8 Chính quyền Hà nội tổ chức Mit tinh, treo Cờ Quẻ Ly để chào mừng nước Việt Nam độc lập. Cuộc mit tinh này đã bị người của VM cướp đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương Cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo VM.
Từ trước ngày 17-8 thủ tướng Trần Trọng Kim, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã 5 lần tiếp xúc, hội đàm với đại diiện của VM tại Hà nội ( Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang) với đề nghị mời người của VM tham gia Chính phủ hoặc hợp tác lập Chính phủ liên hiệp để chuẩn bị đón tiếp quân Đồng minh, nhường quyền kiểm soát phần lớn đất nước cho VM một cách hòa bình. Nhưng cả 5 lần đều bị đại diện VM từ chối với tuyên bố là VM đủ lực lượng để cướp toàn bộ chính quyền mà không cần sự hợp tác nào hết, chỉ có đấu tranh một mất một còn.

Để tỏ rõ thiện chí không dùng bạo lực, chính phủ ông Kim và Bảo Đại không thành lập quân đội, không có Bộ Quốc phòng.

Ngày 19-8-1945 Việt Minh cướp chính quyền ở Hà nội. Sau đó việc cướp chính quyền lan rộng ra toàn quốc. Việc cướp này diễn ra dễ dàng, nhanh chóng vì không gặp phải sự chống đối . Ngày 25-8 vua Bảo Đại thoái vị.

 

Về việc tuyên bố độc lập của Bảo Đại và sự hoạt động của Chính phủ Trần Trọng Kim hiện có 2 luồng nhận định rất khác nhau. Theo tuyên truyền của VM thì bọn ông Kim chỉ là một lũ bù nhìn, tay sai cho Nhật, là bọn Việt gian bán nước. Ngược lại, theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý, Chính phủ bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước, có trình độ cao, có tinh thần dân tộc mạnh và đã làm được nhiều điều có ích lợi cho dân tộc. Nếu như VM không kiên quyết tiêu diệt mà hợp tác với họ thì vận mệnh đất nước có lẽ đã khác nhiều. Việc này như thế nào xin để lịch sử phán xét.

Riêng chuyện CM tháng 8 đã đánh Pháp, đã đuổi Nhậtgiành độc lập mà trên 70 năm qua nhiều người Việt vẫn tin và khẳng định như vậy thì thực tế lịch sử đã chỉ ra rõ ràng là không đúng. Trong thời gian diễn ra CM tháng 8, Việt Minh không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật nào. VM quả thực đã lợi dụng được thời cơ và điều kiện rất thuận lợi để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim khi Pháp đã bị Nhật loại bỏ, Nhật đã đầu hàng, chính quyền hợp pháp không có quân đội, không chống lại.

Hơn nữa khi Cách Mạng sắp nổ ra, tổng chỉ huy quân Nhật tại VN có đề nghị với Bảo Đại và Trần Trọng Kim, rằng nếu phiá Việt Nam yêu cầu, thì quân đội Nhật sẽ giúp bảo vệ chính quyền và đánh tan Việt Minh. Nhưng các ông đã không đồng ý, nghĩ rằng như thế là huynh đệ tương tàn, là làm đổ máu của người Việt một cách không cần thiết. Ông Kim còn đòi Nhật thả nhiều thanh niên Việt Minh bị Nhật bắt giam trước đó. Nhật đã thả họ. Trong tuyên ngôn thoái vị, Bảo Đại nêu cao tình đoàn kết dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. VM cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần một thế kỷ đất nước bị đô hộ. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu lại chỉ ra rằng trước đó mấy tháng nước VN đã độc lập, đã thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Mặc dầu lúc đó trên lãnh thổ còn có quân Nhật, nhưng Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa, VN có chính phủ riêng, Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Nếu cứ khăng khăng cho rằng Bảo Đại và Trần Trọng Kim bị lệ thuộc vào Nhật thì sau khi Nhật đầu hàng họ cũng đã thoát khỏi sự lệ thuộc đó và độc lập của VN được bảo đảm. Như vậy thì CM tháng 8 đã không đánh Pháp, không đuổi Nhật, càng không giành độc lập cho đất nước. Từ tháng 4- 1945, và đặc biệt từ sau 15- 8 nước VN đã hoàn toàn độc lập. CM tháng 8 chỉ làm một việc duy nhất là cướp chính quyền để thay đổi chế độ và bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là tuyên ngôn lần thứ hai, sau tuyên ngôn của Bảo Đại.

Đảng Cộng sản đang trên đà thắng lợi thì ngày 01 tháng 11- 1945 tuyên bố tự giải tán. Một số người cho rằng đây là một nước cờ khá cao của Đảng, nhằm bảo toàn lực lượng trước sự phá hoại, khủng bố của các thế lực thù địch. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu không chấp nhận lời giải thích ấy, cho rằng đó là một sự dối trá, một nước cờ quá thấp, định dùng nó để đánh lừa chính phủ Mỹ, nhưng đã không qua mắt được tình báo của họ.

Nguyên do là Hồ Chí Minh biết Mỹ ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp. VM đã từng xem Mỹ là bạn, đã nhận nhiều viện trợ của họ. Hồ Chí Minh cũng rất biết Mỹ không ưa gì cộng sản, vậy muốn nhận được sự ủng hộ chân thành và tận tình của Mỹ thì phải xa rời cộng sản. Nhưng rồi mưu mô dối trá tự giải tán của CSVN đã không lừa được Mỹ, cho nên Tổng thống Mỹ Truman không trả lời những bức thư của Hồ Chí Minh liên tiếp gửi đến. Và Mỹ ủng hộ Pháp trở lại VN với mong muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng cộng sản. Thế rồi CS VN mắc mưu Mao Trạch Đông biến Mỹ từ bạn thành thù.

Khi vận động thành lập VM, Đảng CS kêu gọi liên hiệp các tầng lớp nhân dân yêu nước, các đảng phái cùng đánh đuổi Nhật Pháp, giành độc lập. Tham gia vào VM có các đảng như : VN Quốc dân đảng, đảng Cách mệnh VN, đảng Đại Việt, đảng Hưng Việt, đảng Việt cách. Khi VM cướp được chính quyền thì ban đầu cũng có nhường cho các đảng một số ghế trong Quốc hội, nhưng về sau các đảng khác đều bị cộng sản gắn nhãn việt gian, phản động, bị tiêu diệt công khai hoặc ngấm ngầm. Ngay Đảng Dân chủ, đại diện cho doanh nhân và Đảng Xã hội, đại diện cho trí thức được hoạt động một thời gian rồi cũng bị giải tán. Không những thế, sau này trong kháng chiến chống Pháp, trong cải cách ruộng đất, trong nhiều phong trào khác nhiều người yêu nước đã bị hãm hại chỉ vì họ là địa chủ, tư sản hoặc có vài ý kiến bất đồng. Làm như vậy phải chăng để CS thực hiện mục đích chính là độc chiếm vai trò thống trị.

Một số người lập luận rằng nếu không có đảng CS lãnh đạo làm CM tháng 8 thì đất nước VN không có được như ngày nay. Đó là một kiểu ngụy biện. Và ngày nay của VN như thế nào, có đáng mơ ước và tự hào không.

Nếu năm 1945 những người theo Đảng làm CM tháng 8 biết được tương lai của VN sau 70 năm sẽ như bây giờ, rất nhiều giá trị bị đảo ngược, nếu họ biết Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Văn Linh nói : “ Biết đi với Trung quốc thì mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng” thì liệu có bao nhiêu người hăng hái theo Đảng, hy sinh cho Đảng. Hà Sĩ Phu bình luận câu nói của ông Linh là rất dại, rất ngu, rất phản động. Thực ra rất đau xót và nhục nhã cho dân tộc vì con đường đi với Trung quốc đó đang được một số người có chức quyền ra sức thực hiện chỉ vì lợi ích nhóm của Đảng Cộng Sản, còn một số khá đông khác thuộc nhân dân thì vì sợ đủ mọi thứ mà chịu yên lặng, chịu hèn yếu chấp nhận sự hủy hoại, sự diệt chủng do Trung cộng gây ra cho dân Việt một cách từ thâm trầm đến ào ạt.

Nhân kỷ niệm lần thứ 71 của “Cách Mạng tháng 8”, viết ra vài sự thật đã từng ít được quan tâm để đóng góp vào việc hiểu thêm lịch sử.


Theo NT

Về Việt Minh. Đa số người đi theo VM không phải là cộng sản. Việt Nam Độc lập đồng Minh hội là cộng sản. Còn Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, thành lập 1942, là của 2 đảng phái quốc gia và của những người ái quốc không theo đảng phái nào cả. Lý Thụy bị Trung Hoa bắt, được VNCMĐMH bảo lãnh ra tù, thề nguyền phục vụ, nhưng khi được phái về VN cuối 1944, thì HCM phản bội, phục hoạt VNĐLĐMH … Một Cơn Gió Bụi, của Trần Trọng Kim, (Chương 4)  http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx… 

_____

đây là link trích lại lời nói của ông Hồ Chí Minh rỉ tai cho báo Nhân Dân biết rằng lực lượng cộng sản thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.

Nhận định quân đội Nhật tại Việt nam thời điểm đó rệu rã, hoảng loạn là thiếu chính xác. Ngay ngày 22/08/1945, kiều dân và binh lính Pháp ở khách sạn Metropol Hà Nội, đối diện Bắc Bộ Phủ nổ súng gây hấn, quân Nhật đã bao vây trọn khu vực, đảm bảo an ninh nhanh chóng.
Trong lần thăm Thái Nguyên năm 13/13/1960, ông Hồ Chí Minh rỉ tai phóng viên báo Nhân Dân đi cùng, rằng, thời điểm năm 1945 Việt Minh trong cả nước có chưa đến 500 đảng viên.
Thật sự Hà Nội khởi nghĩa thành công đã ba ngày mà Trung ương Đảng CSVN không hề biết, thậm chí còn cho đó là sự manh động, sẽ bị đàn áp như cuộc nổi dậy tại Warsaw (Ba Lan) thời điếm cuối Thế Chiến 2.
Ông Lê Trọng Nghĩa viết:
“Tinh thần dân chúng bốc cao, nhưng Hà Nội mới chỉ có các tổ tự vệ, tự vệ chiến đấu chưa tập trung và số vũ khí ít ỏi của quần chúng. Lực lượng bảo an, cảnh sát của chế độ cũ đã bị giải thể. Hà Nội chưa liên lạc được với Trung ương, còn phải đối mặt với hơn mội vạn quân các sư đoàn Nhật chưa hạ vũ khí, chờ quân Đồng Minh tới. Ủy ban nhân dân Bắc Bộ đã báo động ngầm dự phòng lúc nguy cấp sẽ có lệnh cho rút bớt cán bộ về an toàn khu ở ngoại thành, đánh du kích chờ lực lượng Trung ương về tiếp cứu.”
Thậm chí, đơn vị Giải Phóng quân từ Tân Trào về không được Nhật cho phép vào Thủ đô.”

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/02/160216_colonel_le_trong_nghia_life

_____

Hóa ra, đám đông trước Ba Đình ngày 2-9-1945 là giáo dân công giáo sau khi tan lễ đã tụ tập nhau ở đó. Cộng sản đã khéo lợi dụng nhà thờ trong ngày 2-9-1945.

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=500479790149436&id=100005622587091

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Đôi dòng về cuộc cách mạng tháng 8, 1945 và ngày 2/9

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

FB Hoang Bui

31-08-2015

Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân”, và trong sách giáo khoa lịch sử, ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 được ghi nhận:

– Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm.
– Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm.
– Đập tan ách phát-xít Nhật
– Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.

Để hiểu rõ cái sự giành này, và thử xem những gì viết trong sách giáo khoa lịch sử cho học sinh hiện nay có chính xác không,  hãy thử nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày tháng tám của năm 1945.

Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại.

Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước.

Như vậy vào thời điểm này, chế độ phong kiến quân chủ đã bị xóa bỏ trên đất nước Việt Nam, và sự đô hộ của Pháp cũng không còn, vì thế việc xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ không có công của Việt Minh, đồng thời, việc lật đổ sự đô hộ của Pháp cũng không có công của Việt Minh.

Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời dùng vũ lực cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Trong sách giáo khoa lịch sử còn ghi: “cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền”. Cho dù cướp hay giành, thì đó cũng là hành động chiếm lấy một cách bạo lực thứ vốn không phải của mình.

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Việc từ chối giúp đỡ từ lực lượng ngoại quốc bảo vệ quyền lực của mình, tránh gây đổ máu cho người Việt cho thấy vua Bảo Đại đã rất coi trọng tinh thần dân tộc, đồng bào, truyền thống “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Vì vậy, không thể nói Việt Minh đập tan ách phát xít Nhật, mà phải nói rằng vua Bảo Đại và chính phủ của ông đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình. Quả là “gặp thời một tốt cũng thành công”.

Sau khi cướp chính quyền, để củng cố tính chính danh của mình, Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao, và sau đó thì lựa thời cơ tống vua ra nước ngoài. Trong hồi ký của vua Bảo Đại, ông cũng kể về những điểm này.

Vậy sau khi giành được chính quyền, và chính quyền đó có về tay nhân dân không?


Có lẽ câu trả lời đã rõ sau 70 năm. Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam vẫn chẳng có một chút quyền gì, nhân dân Việt Nam không được bầu cử một cách thực sự, không được sở hữu đất đai, không được có quyền phúc quyết hiến pháp và những vấn đề hệ trọng của đất nước. Tất cả những thứ quyền căn bản đó không có, những điều khác chỉ là hão huyền.

Và vì vậy, cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân đó, 70 năm qua vẫn chưa xong.

———————-
Một số link tham khảo để kiếm chứng sự kiện được viết bên trên, được lấy từ báo lề phải và từ chính người trong cuộc nói, kẻo lại bảo xuyên tạc và bôi nhọ.

Lời người trong cuộc kể về diễn biến ngày 17 và 19 tháng 8.

Ký ức cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội(VNE).

Cách mạng tháng Tám (Wiki).

Vua Bảo Đại (Wiki).

anhbasàm.wordpress.com

________

Năm 2015, Tểu blog có nhiều nhận xét của bạn đọc rất thú vị, nay xin post lại ở đây.

13 nhận xét :

  1. Rất mong các nhà lý luận CS được trả lương ( thuế của dân ) hãy lịch sự, nhã nhặn, tương kính… trả lời bài viét này. Nếu không phản biện được một cách ” văn minh ” thì xin cúí mặt và trả lại thẻ đảng.

    Trả lời

  2. 70 năm vẫn chưa xong, thêm 100 năm nữa cũng chưa xong.

    Trả lời

  3. Với những người có tri thức, có trí tuệ, không thể hiểu khác đi được. Có muốn hiểu lệch đi, khác đi cũng không thể được. Lịch sử là lịch sử, sự thật vẫn là sự thật. Không thể tô đen thành trắng, tô trắng thành đen được. Không thể ăn cướp lại bắt phải hiểu đấy là chính danh được. Vậy mà … quá nhiều người tin (là nói thời bây giờ, giữa TK 21, chứ không kể cái thời mông muội vô minh). 😥

    Trả lời

  4. Bài viết với những sử liệu chính xác và rõ như ban ngày. Với thời đại internet, nếu còn tin vào những gì mà đảng gọi là “cách mạng tháng 8” thì rõ ràng chỉ là loài nhai lại!

    Trả lời

  5. Những điều “Bác” nói ngày 02/09/1945:

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Thì ra “Bác” còn là nhà tiên tri vĩ đại.

    Trả lời

  6. Bây giờ cứ trích nguyên văn những lời tố cáo của ông Hồ đối với bọn cướp nước và bán nước, thấy trúng 100% về bọn cướp chính quyền đang tồn tại hiện nay.

    Trả lời

  7. Nếu dân ta mà biết được việc CS “đuổi Phap đi” để “rước Tàu về” thì ai ủng hộ?

    Trả lời

  8. Chương trình của VM năm 1945. Sau khi lập chính quyền.

    A. Chính trị
    1. Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, ứng cử.
    2. Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương.
    3. Tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võ trang dân chúng để thẳng tay trừng trị bọn Việt gian phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng.
    4. Tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, Nhật và bọn Việt gian phản quốc.
    5. Toàn xá chính trị phạm và thường phạm.
    6. Nam nữ bình quyền.
    7. Tuyên bố các dân tộc được quyền tự quyết.
    8. Liên lạc mật thiết với các dân tộc thiểu số và nhất là Tàu, Ấn Độ, Cao Ly.
    B. Kinh tế
    1. Bỏ thuế thân và các thuế do Pháp, Nhật đặt ra, lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng.
    2. Quốc hữu hoá ngân hàng của đế quốc Pháp, Nhật, lập nên quốc gia ngân hàng thống nhất.
    3. Mở mang kỹ nghệ, giúp đỡ thủ công nghiệp làm cho nền kinh tế quốc gia được phát triển.
    4. Dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều làm cho nền nông nghiệp được phồn thịnh.
    5. Cho dân chúng tự do khai khẩn đất hoang có chính phủ giúp đỡ.
    6. Quan thuế độc lập.
    7. Mở các đường giao thông như đường sá, cầu cống, v.v..
    C. Vǎn hoá
    1. Huỷ bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bực sơ đẳng, cho các dân tộc được quyền dùng tiếng mẹ đẻ mình, phổ thông trong việc giáo dục mình.
    2. Lập các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài.
    3. Giúp đỡ và khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài nǎng của họ.
    D. Xã hội
    1. Thi hành ngày làm tám giờ.
    2. Giúp đỡ cho gia đình đông con.
    3. Lập ấu trĩ viện để chǎm nom trẻ con.
    4. Lập nhà diễn kịch, chớp bóng, câu lạc bộ để nâng cao trình độ tri thức của nhân dân.
    5. Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân.
    E. Ngoại giao
    1. Huỷ bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký bất kỳ với nước nào.
    2. Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hoà bình.
    3. Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam.
    4. Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới.
    F. Đối với các lớp nhân dân
    1. Công nhân: Ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, công việc như nhau thì tiền lương ngang nhau. Cứu tế thất nghiệp xã hội, bảo hiểm, cấm đánh dập, chửi mắng thợ, thủ tiêu giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí.
    2. Nông dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa.
    3. Binh nhân: Hậu đãi những người có công giữ gìn Tổ quốc phụ cấp cho gia đình họ được đầy đủ.
    4. Học sinh: Bỏ học phí, bỏ giấy khai sinh, hạn tuổi, giúp đỡ học sinh nghèo.
    5. Phụ nữ: Đàn bà được bình đẳng với đàn ông về mọi phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, vǎn hoá.
    6. Thương nhân: Bỏ ba tǎng môn bài và các thứ thuế khác do Pháp đặt ra.
    7. Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập.
    8. Những người già và tàn tật được chính phủ chǎm nom cấp dưỡng.
    9. Nhi đồng được chính phủ chǎm nom về trí dục và thể dục.
    10. Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Ghi chú:
    A5: Toàn xá thường phạm (tai sao toàn xá thường phạm, để làm gì);
    A8: Liên lạc mật thiết với Tàu, Cao ly.
    B1: Bỏ thuế thân của Pháp, Nhật. Lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng (thuế gì)
    C2: Lập trường quân sự chinh trị để đào tạo nhân tài( nhân tài gì)
    C3: Khuyến khích giúp đỡ các “hạng” trí thức!?
    D5: Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân (từ bệnh viện, bào sanh viên đã có dùng từ đầu thế kỷ 20)
    E4: Liên lạc mật thiết với các giai cấp vô sản trên thế giới
    F2: dân ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa tô, cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa. (có ruộng đất cấy cấy hay không, sau 1954)
    F7: Viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập (Sau 1954 tất cả các viên chức làm viẹc cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam bị di “cải tạo” trong các trại “cải tạo” khắp miến Bắc. Ước lượng không dưới 300.000 của các Uỷ Ban Nhân Quyền. Ước lượng 80-100,000 chết trong các trại giam).
    F10: Đối với Hoa kiều được chính phủ bảo đảm tài sản và coi như tối huệ quốc.

    Trả lời

  9. Cứ theo suy ngẫm thì CMT8 và Chiến dịch HCM là hư ảo.
    Năm 1975, bộ đội miền Bắc thoải mái tràn xuống vì quân VNCH chỉ chạy, không chống trả. Duy nhất ở Xuân Lộc có đụng độ thì bộ đội miền Bắc thua, phải đi vòng qua.

    Trả lời

  10. Thực ra dùng cụm từ “cướp chính quyền” mới lột tả được đúng bản chất của sự việc và mới có vẻ công nông chứ không có vẻ tiểu tư sản hơn là “giành chính quyền”.

    Trả lời

  11. “Giành/cướp chính quyền về tay nhân dân” là một cái bánh vẽ không thể to hơn.
    Đúng bản chất phải là “giành quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối về tay Việt Minh”
    Với bản chất của một toán cướp,lại thêm nắm đủ loại súng đạn trong tay,mấy “ông chủ” nhân dân chỉ còn biết è cổ ra đóng mấy trăm loại thuế,phí để bọn cướp cùng đám con cháu tha hồ phè phỡn,ăn chơi.

    Trả lời

  12. Năm 1945 Vua Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim không thể ngờ được rằng hai vị đã phạm phải một sai lầm rất lớn xuất phát từ lòng nhân đạo của mình. Nếu hai vị nhờ quân Nhật ra tay thì nước ta đã tránh được 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, bây giờ VN đã là nước phát triển huy hoàng bậc nhất châu Á.

    Trả lời

  13. Hồi ký Con Rồng Việt Nam:
    “Ngày 27-2-46, mới 7 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. ông H (HCM) gọi tôi:
    – Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ không?
    Nghe tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
    – Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ. Tình hình rất khó khăn, tôi biết chắc người Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
    – Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ cộng hòa…
    Ông ta nài nỉ:
    – Ngài thay chỗ cho tôi và tôi trở lại thành cố vấn thay Ngài …
    – Thế nhưng ai trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được quốc hội tấn phong, y như kiểu mọi chính phủ dân chủ thường làm.
    – Nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn lấy ai tùy Ngài.
    Ông ta trấn an tôi như vậy.”
    Cựu hoàng hỏi ý hai nhân vật là Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim. Cho rằng VM bị khó khăn và họ thành thực, Trần Trọng Kim khuyên cựu hoàng nên nhận lời. Bảo Đại bèn trả lời “đồng ý”.
    10 giờ, ông H gọi điện thoại thúc đưa danh sách chính phủ gấp để chuyển qua Quốc Hội.
    12 giờ, Bảo Đại trả lời đã sẵn sàng. Nhưng “đến 13 giờ thì chuông điện thoại reo. Ông H mời tôi đến gặp ông ta.
    – Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài trong lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng…” (12)

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Chinh Tri Viet Nam, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2016

Chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào ngày 17-4-1945 (Ảnh: Internet.)

 

Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?

Trần Văn Chánh
Đông tác giao lưu

“Một cơn gió bụi”* nổi lên bao trùm hoàn hải trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đến hồi quyết liệt đã làm cho cuộc đời nhà giáo-nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim không còn được êm ả cách tương đối như trước. Người Nhật, kéo vào Đông Dương từ những năm 1940, với nhiều ý đồ có sẵn trong mối quan hệ tranh quyền với Pháp, đã bắt đầu cho người ve vãn, tìm cách lui tới làm quen, lấy cớ để hỏi han ông những kiến thức liên quan các vấn đề văn hóa, lịch sử. Việc này Trần Trọng Kim đã thuật lại khá rõ trong tập hồi ký cuối đời, mà gần đây đã được đưa lên mạng Internet nên rất dễ tìm đọc. Ngay từ chương đầu, thái độ sống và lập trường chính trị của ông đã được bộc lộ khá rõ:

“Sau 31 năm làm việc trong giáo giới…, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển…

“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.

“Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị…

“Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình…

“Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ… Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.

“Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả” (Một cơn gió bụi, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr. 9-12).

Về lập trường chính trị như vừa nêu trên, nhất là đối với sự can thiệp ngày càng thô bạo của Nhật ở Đông Dương, chúng ta còn được biết rõ thêm qua vài đoạn nêu trong tập hồi ký của Bùi Diễm (sinh năm 1923, con trai Bùi Kỷ), một người cháu gọi vợ ông bằng cô ruột (gọi ông bằng chú, nói theo miền Nam là dượng rể): “Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi (tức Trần Trọng Kim-TVC), nơi ông cụ tôi (tức cụ Bùi Kỷ- TVC) và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật (tức hiến binh Nhật-TVC) đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá” (Gọng kềm lịch sử, Cơ sở Phạm Quang Khai, Paris, 2000).

Việc dàn cảnh bắt Trần Trọng Kim đưa đi giấu sẵn ở Chiêu Nam Đảo (tức Singapour do Nhật chiếm đóng) để chuẩn bị cho một mưu đồ tương lai, lấy cớ là để bảo vệ ông thoát khỏi sự rình rập bắt bớ của mật thám Pháp, cũng đã được kể rõ trong chương tiếp theo của tập hồi ký Một cơn gió bụi, nhưng để tóm tắt hơn và có phần khách quan hơn, xin trích dẫn thêm vài đoạn kể tiếp sau của Bùi Diễm:

“Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.

“Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới (…). Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác (…), chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác….Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào “Người Á, đất Á” và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt.

(…)

“Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.

“Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. “Chú phải lên đường đi xa,” mợ tôi tiếp tục cho thêm tin “vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi” (Gọng kềm lịch sử, sđd.).

Chuyến đi đó, khởi đầu từ ngày 27.10. 1943 và chính thức xuống tàu thủy ngày 1.1.1944, cùng với một người bạn nữa cũng cảnh ngộ bị “bắt cóc” vào chung chỗ hiến binh Nhật như ông là cụ Dương Bá Trạc (1884-1944), nằm trong dự mưu do người Nhật khéo tác động và dẫn dắt, đối với Trần Trọng Kim được coi là một chuyến đi định mệnh, hướng cuộc đời ông vào một ngả rẽ hoàn toàn không chủ động, nếu không muốn nói gần như trái hẳn với lập trường chính trị ban đầu của ông. Tuy nhiên, có nhiều khả năng trong quá trình tiếp xúc sau này với các đại diện Nhật Bản ở Chiêu Nam Đảo và những nơi khác, Trần Trọng Kim đã được người Nhật tìm cách rỉ tai vận động để gieo cho ông mầm mống hi vọng về tương lai độc lập-canh tân xứ sở dưới sự bảo trợ của họ, nhưng điều này thì Trần Trọng Kim vẫn kín miệng không thấy kể ra trong hồi ký. Dù sao, mưu đồ của Nhật cũng đã quá rõ, không mấy cần phải có thêm tài liệu để chứng minh.

Sau khoảng một năm trải qua cuộc sống chờ đợi buồn tẻ ở Chiêu Nam Đảo, Dương Bá Trạc đã mất tại đây vào ngày 11 tháng 12 năm 1944 (nhằm 26 tháng 10 năm Giáp Thân) vì bệnh ung thư phổi, thi hài được Nhật tổ chức hỏa táng đem về nước. Lúc này chỉ còn một mình Trần Trọng Kim ở lại với vài người khác do Nhật đã đưa qua sẵn trước đó, để đến ngày 16.1.1945 thì được bố trí đi Băng Cốc (Thái Lan) cùng với Đặng Văn Ký, một thành viên chủ chốt của đảng Phục Quốc thân Nhật.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, vào lúc 21 giờ, sau khi bị Toàn quyền Pháp Decoux tìm cách trì hoãn yêu sách do đại sứ Nhật tại Đông Dương Shunichi Matsumoto đưa ra trong một tối hậu thư đã trao chỉ trước đó 2 giờ, đòi Pháp phải đặt toàn bộ quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa dưới quyền điều khiển của mình, Tổng tư lịnh Nhật Yuichi Tsuchihashi đã ra lệnh mở màn cuộc đảo chánh lật đổ chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Bị tấn công bất ngờ vì chưa hề hay biết trước, quân pháp thất thế trên khắp cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc và chỉ chống trả một cách yếu ớt rồi đầu hàng ngay trong ngày hôm sau. Toàn thể quan chức đầu não của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux, một số khác cùng quân lính phải bỏ chạy thoát thân sang Lào hoặc Trung Quốc.

Việc đảo chánh, Nhật đã chuẩn bị kỹ sẵn trước, nên chỉ từ 9 giờ tối hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau, toàn cõi Việt Nam rơi vào tay Nhật, cả thực dân Pháp và thường dân, công chức đều bất ngờ. Tình cảnh của họ lúc đó lao đao, nhưng nhờ tính rộng lượng cố hữu của người dân Việt, nên cũng không đến đỗi quá bi thảm: “… Các nhà chuyên môn Pháp được tiếp tục làm việc… Một vài kĩ sư Pháp mon men tới sở, bị đánh… Sau tôi nghe nói một số người Pháp ở miền Tây trốn vào bưng, không bị dân chúng đánh đập, giam giữ, tố cáo; có người còn giúp đỡ lương thực, che chở cho họ nữa. Ở Nam này như vậy, mà có lẽ ở Bắc, Trung cũng không khác mấy…. Có người bảo người Việt nào cũng có một ông Phật ở trong lòng, câu ấy đúng” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 233-234).

Ngày 10.3.1945, lúc 11 giờ, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật.

Ngay hôm sau, ngày 11. 3.1945, triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập (dưới bản tuyên bố ký tên vua Bảo Đại cùng toàn thể Cơ mật viện, đứng đầu là Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh).

Tờ chiếu tuyên bố độc lập có đoạn viết: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia độc lập!”

Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một vài thành phố lớn, do sự sách động của các nhóm thân Nhật, một số người xuống đường rầm rộ để tri ân quân đội Nhật hoàng, nhưng quảng đại quần chúng thì đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào “độc lập” do Kempeitai (Hiến binh) và quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17.3.1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập tại các đình làng: “Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp” (Nguyễn Vỹ, Tuấn – chàng trai nước Việt, Quyển II, Sài Gòn, 1970, tr. 513).

Cũng trong ngày 17.3.1945, Bảo Đại ban bố Đạo dụ số 1 theo đó nhà vua sẽ đích thân cầm quyền và chế độ chính trị mới sẽ quản lý đất nước theo khẩu hiệu “Dân vi quý” (dân trên hết), chỉnh đốn lại quốc gia, đồng thời kêu gọi các bậc hiền tài ra giúp nước.

Ngày 18.3.1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng độc lập, cảm ơn Nhật, và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc đưa từ Chiêu Nam (Singapore) về (theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964-Việc từng ngày, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966, tr. 5).

Một ngày sau, giải tán Cơ mật viện gồm 6 quan chức tối cao của triều đình nhà Nguyễn do Phạm Quỳnh đứng đầu.

Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gởi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật cố ý ngăn chặn, nêu giả lý do Ngô Đình Diệm cáo bệnh không ra Huế được, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm (1901-1963) giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại-Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.

Ngày 30.3.1945, Nhật cho người bố trí đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc về Sài Gòn, lấy cớ Tư lệnh bộ ở Sài Gòn mời về để “hỏi việc gì về lịch sử” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 42). Đến nơi viên trung tướng tham mưu trưởng thuộc Bộ tư lệnh Nhật mới cho hay Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã từ chức, vua Bảo Đại mời ông cùng với các ông Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Cẩm về Huế hỏi ý kiến.

Thấy tên mình mà không có tên Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim hỏi viên trung tướng: “Tôi không có hoạt động gì, và không có phe đảng nào cả. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc”. Viên trung tướng trả lời: “Đó là ý của vua Bảo Đại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới, ông cứ ra Huế rồi sẽ biết” (sđd., tr. 43).

Ngày 2.4.1945, Nhật bố trí cho Trần Trọng Kim đáp xe lửa ra Huế. 19 giờ rưỡi ngày 5.4 xe lửa đến Huế, lát sau ông đã được gặp lại vợ con có sẵn ở đó, nói là đang trên đường ra Hà Nội định xin phép qua Xiêm tìm ông, nhưng sự tình cờ kỳ lạ này đã khiến có người suy diễn nhiều khả năng chính người Nhật đã sắp đặt sẵn sao đó.

Những thay đổi giai đoạn cuối trong sự sắp xếp nhân sự cho bộ máy cai trị mới này, cả Bảo Đại, Cường Để, Ngô Đình Diệm đều không hay biết. Duy Trần Trọng Kim có được người Nhật rỉ tai riêng cho biết hay không thì đây vẫn còn là một điểm nghi vấn, vì không thấy ông hé môi kể ra trong tập hồi ký, nhưng khả năng này là rất lớn, vì từ hôm ở Băng Cốc về Sài Gòn, chiều nào viên đại úy ở Bộ tư lệnh Nhật cũng mời ông đến ăn cơm và nói chuyện, có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. “Mấy ngày như thế, đến chiều hôm mùng hai tháng tư, đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 46).

Ngày 7.4.1945, Trần Trọng Kim vào yết kiến Bảo Đại. Theo như lời kể của ông trong tập hồi ký thì ông tìm cớ thoái thác việc đứng ra lập chính phủ, lấy lý do già yếu, không có đảng phái và không hoạt động chính trị, rồi đề nghị dùng “người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn” (sđd., tr. 49) nhưng Bảo Đại cho hay đã gọi mà không thấy Ngô Đình Diệm về. Nhà vua không ép, chỉ yêu cầu ông ở lại Huế nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Có lẽ lúc này vua vẫn còn tiếp tục ngóng tin Ngô Đình Diệm, đâu có dè rằng kịch bản Cường Để-Diệm đã bị cánh tướng lãnh Nhật bác bỏ, nên tìm cách ngăn chặn hai bức điện liên lạc của Bảo Đại, giữa lúc ông Diệm đang ở Sài Gòn trong một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm!

Đợi tin Ngô Đình Diệm lâu không được, Bảo Đại sốt ruột quyết định mời Trần Trọng Kim vào làm việc lần thứ hai, thuyết phục thành lập nội các. Xin trích tiếp đoạn hồi ký, qua đó vừa thấy được nội dung cuộc trao đổi giữa hai người, vừa luôn thể biết qua thành phần nội các do ông Trần đề nghị và được Bảo Đại chuẩn y ngay:

“Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.

“Ngài nói:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.

Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:

“Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.

Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục…

“Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.

Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau: 

  • Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội các Tổng trưởng
  • Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội vụ Bộ trưởng
  • Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại giao Bộ trưởng
  • Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư pháp Bộ trưởng
  • Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng
  • Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài chánh Bộ trưởng
  • Phan Anh, luật sư, Thanh niên Bộ trưởng
  • Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công chính Bộ trưởng
  • Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y tế Bộ trưởng
  • Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh tế Bộ trưởng
  • Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ, Tiếp tế Bộ trưởng.

“Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: “Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?”. Tôi nói: “Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y”.

“Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: “Ðược”. Khi ấy ông Yokohama nói: “Xin cho tôi xem là những ai”. Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: “Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn”. Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước” (sđd., tr. 50-53).

Ngoài các bộ trưởng đã nêu trong danh sách, bộ máy chính phủ Trần Trọng Kim còn lần lần được bổ sung, gồm có:

  • Phan Kế Toại (1892-1992), Tổng đốc, Khâm sai Bắc Bộ (sau giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Nguyễn Văn Sâm, Nhà báo, Khâm sai Nam Bộ (được cử theo Đạo dụ 108 ngày 14.8.1945, sau bị ám sát ngày 10.10. 1947)
  • Trần Văn Lai, Bác sĩ, Đốc lý Hà Nội (sau giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính TP Hà Nội)
  • Đặng Văn Hướng (1887-1954), Phó bảng, Tổng đốc Nghệ An (sau giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh-Tĩnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
  • Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Luật sư, Đốc lý Hải Phòng (sau giữ chức Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời)
  • Kha Vạng Cân (1908-1982), Kỹ sư, Đô trưởng Sài Gòn (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Được cái, cả họ và vua Bảo Đại đều không can thiệp sâu theo kiểu cơ cấu sẵn các thành phần nhân sự cấp bộ trưởng, như lối quy hoạch, cơ cấu nhân sự chặt chẽ bây giờ. Nhờ vậy Trần Trọng Kim đã có được sự chủ động trong việc tìm chọn nhân tài thích hợp theo quan niệm của mình.

Tuy nhiên, theo luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), một thành viên chủ chốt của Nội các, Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai xứ sở”, nhưng ông Trịnh đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ…, tuyên cáo Việt Nam độc lập và thống nhất”. Ngoài ra ông Thảo còn cho biết Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pridi Banomyong chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại như Thái Lan, đại khái bằng cách song song với phe thân Nhật, Thái Lan cần dự bị sẵn một lực lượng chính trị khác hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi Thế chiến II kết thúc. Vị chính khách này còn khuyên Trần Trọng Kim “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” (Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne, Paris, 1994, tr.62, dẫn lại theo Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, Tiên Rồng, USA, 2004, tr. 52-53).

Nói gì thì nói, về mặt lịch sử, vẫn phải công nhận Nội các vừa thành lập ngày 17.4.1945 là chính phủ đầu tiên của Việt Nam theo nghĩa hiện đại, và Trần Trọng Kim đã trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dù chỉ mới độc lập trên danh nghĩa. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức tên tuổi, có trình độ học vấn cao, nhiệt tâm, trong sạch và yêu nước, nhưng tất cả đều thiếu hẳn kinh nghiệm quản lý và nhất là sự lọc lõi chính trị trong thời loạn.

“Trừ Thủ tướng Trần Trọng Kim, chỉ có bằng cấp Trung học, chư quý vị bộ trưởng toàn có những bằng cấp to lớn: nào thạc sĩ bác sĩ, tiến sĩ luật khoa v.v. cả. Người dân Việt mừng thầm khi đọc danh sách nội các… Nhưng…” (Bùi Nhung, Thối nát, Sài Gòn, 1965, tr. 50).

Về thái độ của quần chúng trước việc thành lập nội các mới, nhìn chung các thành phần trí thức (gồm cả sinh viên học sinh) đều nao nức phấn khởi đón luồng gió mới, một số khác dè dặt chờ đợi, vì thấy vẫn còn lệ thuộc Nhật. Nhóm Thanh Nghị đứng đầu là Vũ Đình Hòe thậm chí từ ngày 20.4.1945 còn có hẳn một chương trình riêng gọi là TÂN VIỆT NAM HỘI để ủng hộ Chính phủ (xem Hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội Nhà Văn, 2004, tr. 166-167).

Phấn khởi tiếp đón luồng gió mới độc lập vừa vớ được, ông Nguyễn Duy Phương còn cho ra hẳn một tập sách mỏng chuyên đề lấy tên Lịch sử độc lập và Nội các đầu tiên Việt Nam, do Việt Đông Xuất Bản Cục xuất bản tại Hà Nội khoảng nửa tháng sau khi Nội các thành lập, để bày tỏ sự ủng hộ tích cực, bằng cách trích đăng khá đầy đủ và hệ thống những tin tức, bài phỏng vấn các vị bộ trưởng liên quan các mặt hoạt động cùng chủ trương mới của Nội các, với lời hô hào nêu rõ: “Chỉ hợp quần mới gây nên sức mạnh… Chúng ta hãy đem hết tài năng sĩ, nông, công, thương ra thực dụng. Để giải quyết những vấn đề quan trọng, để tiếp tế, cứu tế cho đỡ nỗi thống khổ đồng bào nghèo đói! Và để giữ vững đất đai thế nào là độc lập của Việt Nam một cách bất diệt”*.

Một số đảng phái quốc gia như Đại Việt (ở Hà Nội), Phục Quốc, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập (ở Sài Gòn), Tân Việt Nam (ở Huế) đều ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim và được Nhật khuyến khích.

Riêng dân chúng ở các vùng nông thôn thì vẫn thờ ơ với chính trị.

Thế rồi đến ngày 8.5.1945, Nội các Trần Trọng Kim mới chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân tại Dinh Tổng trưởng (tòa Khâm sứ Trung Kỳ cũ). Đầu tiên đọc bản Tuyên chiếu của Hoàng đế Bảo Đại về việc thành lập Nội các: “Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh nghiệm để đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt chẽ các giai từng xã hội và luôn luôn giữ một mối liên lạc giữa chính phủ và nhân dân (…)” (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr. 24).

Sau đó, Nội các đưa ra bản tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế, cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi quốc dân ra sức đoàn kết, gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, “tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia”; chăm lo việc cứu đói, định lại thuế khóa cho công bằng; đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết giữa chánh phủ với dân chúng; thống nhất pháp luật trong toàn quốc và tránh sự lạm quyền, tiệt trừ nạn tham nhũng; rèn luyện lớp thanh niên mới có khí khái có nghề nghiệp; chú trọng nâng cao trình độ sinh hoạt của dân chúng. “Chúng tôi xin tuyên thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cũng một lòng vì nước, giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật, để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt Nam ta muôn đời trường cửu” (nguyên văn bản tuyên cáo này có in trong phần phụ lục Một cơn gió bụi, sđd., tr. 192-195).

Kế hoạch đặt ra đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp quản bộ máy cai trị của Pháp, thông qua sự thu xếp bàn giao lại của Nhật, đã hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Theo nhà sử học Pháp Philippe Devillers, có hai điểm trở lực căn bản nhất, đó là sự thiếu chín muồi về chính trị của dân chúng và quyền ngăn cấm của người Nhật: “Quyền cấm cố của Nhật là rất nặng nề, cả về kế hoạch chính trị lẫn kế hoạch kinh tế và quân sự” (Histoire du Viêt Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil,1952, tr. 128). Ngoài ra, còn nhiều nỗi khó khăn cụ thể và trực tiếp khác: bộ máy quan lại thực dân nửa phong kiến đã thối nát quá lâu; nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc từ tháng 3.1945 vì mất mùa và một phần quan trọng vì chính sách nông nghiệp thời chiến do Pháp-Nhật gây ra làm cả triệu người chết, thây phơi đầy đường; bom đạn do quân Đồng minh Anh, Mỹ đổ xuống phá nát các cơ sở hạ tầng làm cho công tác cứu đói của Bộ Tiếp tế càng trở nên khó khăn trầy trật; Nhật ngày càng thua đậm trong trận Thế chiến (nhất là sau hai lần bị ném bom nguyên tử trong các ngày 6 và 8.8.1945); Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương bằng mọi giá; thiếu sự hậu thuẫn tinh thần của quảng đại quần chúng, trong khi đó, hoạt động của Việt Minh, được chuẩn bị từ lâu và một cách khéo léo, có sách lược hẳn hoi, đang ngày càng tăng mạnh với chủ trương đánh đổ cả Pháp-Nhật lẫn chính quyền phong kiến giành độc lập, được nhân dân nhiều nơi trên khắp cả ba miền đất nước hưởng ứng. Nội các Trần Trọng Kim lâm vào thế bị động và ngày càng lúng túng, phải chấp nhận từ chức, tiếp theo là việc thoái vị của cả vua Bảo Đại vì áp lực của cao trào cách mạng.

Liên quan việc Nội các Trần Trọng Kim từ chức, cả hai tài liệu Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim và Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe (NXB Hà Nội, 1983) đều phản ảnh những thông tin cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau về một số chi tiết và ngày tháng. Đại khái, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và xu hướng quần chúng-trí thức ngã theo Việt Minh, nội bộ Chính phủ Trần Trọng Kim đã bắt đầu có những dấu hiệu phân hóa về sự lựa chọn chủ trương, đường lối.

Được biết, trong khoảng thời gian này, Vũ Đình Hòe (1912-2011), người đứng đầu nhóm Thanh Nghị, cùng chí hướng với hai bộ trưởng Vũ Văn Hiền và Phan Anh (1912-1990), ban đầu rất tích cực ủng hộ Chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim, nay thấy không ổn, bắt đầu có những cuộc tiếp xúc với người của Việt Minh, thậm chí còn được đại diện của Việt Minh là Dương Đức Hiền (1916-1963) kết nạp vào Đảng Dân chủ. Trong tập Hồi ký Vũ Đình Hòe (NXB Hội Nhà Văn, 2004), ông cho biết: “Trước ngày 17 [tháng 6.1945] tôi đã gặp hai anh Phan Anh và Vũ Văn Hiền, trao đổi nhận định về tình hình. Tôi cho hai anh biết tâm trạng của anh em trí thức ngoài Bắc giảm sút lòng tin đối với Chính phủ [Trần Trọng Kim], một số coi như Chính phủ bất lực rồi, còn dân chúng thì số đông ở thành phố trước sau vẫn thờ ơ, một số dân quê ngày càng đông ngưỡng mộ Việt Minh. Tôi thành thực thổ lộ với hai anh có lẽ nên dự bị ‘một hướng suy nghĩ khác’ cho kịp thời chuyển” (tr. 183).

Trong một cuộc họp Nội các (Phạm Khắc Hòe nói ngày 3.8.1945) ở Dinh Tổng trưởng, cả ba bộ trưởng Hồ Tá Khanh (1908-1996), Trần Đình Nam (1896-1974), Nguyễn Hữu Thí đều đề nghị Nội các nên rút lui để nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh càng sớm càng tốt, may ra mới cứu được đất nước. Nội dung đề nghị này, cả ông Hòe lẫn ông Kim đều trình bày giống nhau trong tập hồi ký của mỗi người. Nhưng về phản ứng của Nội các Tổng trưởng trước đề nghị rút lui, mỗi người lại kể khác nhau.

Theo sự mô tả của Phạm Khắc Hòe thì ông Kim tỏ vẻ gay gắt, trách các bộ trưởng thiếu trách nhiệm, không khí buổi họp trở nên căng thẳng (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 45), còn Trần Trọng Kim trong tập hồi ký của mình chỉ nói: “Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay” (sđd., tr. 89).

Cuộc họp phải tạm dừng. Hai ngày sau, 5.8.1945, toàn thể Nội các dâng lên vua tờ phiến xin từ chức. Ngày 6.8.1945, Bảo Đại chấp nhận đơn từ chức, nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trần Trọng Kim tìm cách liên lạc với những người có đảng phái như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đặng Thai Mai… mời ra Huế lập nội các mới nhưng sau một tuần lễ không thấy ai hưởng ứng, mà theo ông Kim tâu lại với Bảo Đại là do những người ông mời đều rất cách mạng, rất tả, và vì điều này không làm vừa lòng người Nhật nên họ đã chặn điện lại. Trong khi chờ đợi, ngày 12.8.1945, Bảo Đại ra đạo dụ đổi nội các từ chức thành nội các lâm thời, làm việc chỉ được mấy ngày thì Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945). Tình thế bức bách, thế lực của Nhật coi như tan rã, Đồng minh mạnh lên, chủ trương vận động vua Bảo Đại thoái vị của Việt Minh thông qua đầu mối liên lạc của Tôn Quang Phiệt (1900-1973) được Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tích cực ủng hộ, và theo đề xuất của Trần Đình Nam, một cuộc họp khẩn cấp nội các đã được triệu tập sáng ngày 17.8.1945 do vua đích thân chủ tọa.

Nhóm Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh đề nghị Nội các rút lui, vua Bảo Đại thoái vị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ chung quanh tổ chức mạnh nhất, hăng hái nhất là Việt Minh để bảo vệ nền độc lập. Theo Phạm Khắc Hòe kể trong hồi ký thì Trần Trọng Kim phản ứng, một cuộc tranh luận sôi nổi dấy lên, cuối cùng thống nhất ý kiến với bộ trưởng Vũ Văn Hiền (1911-1963), đề nghị tạm thời vẫn giữ chính thể quân chủ với vua Bảo Đại nhưng giao cho Việt Minh tổ chức nội các, thể hiện trong Đạo dụ số 105 được Phạm Khắc Hòe soạn thảo ngay sau đó, trong giờ giải lao 15 phút.

Trước cuộc họp, Phạm Khắc Hòe được sự ủng hộ của Trần Đình Nam đã chuẩn bị sẵn một bản dự thảo theo đó khẳng định tư cách và ý chí độc lập của dân tộc, kêu gọi mọi người ái quốc ra phò vua giúp nước, và động viên tinh thần hi sinh của Hoàng đế. Khi bản dự thảo được vua Bảo Đại cho phép đọc lên, Trần Trọng Kim phản ứng về việc hi sinh của Hoàng đế, cho là ép vua quá, trong khi đó Phan Anh phát biểu dung hòa, nói để cho vua tự suy nghĩ quyết định. Bảo Đại yêu cầu đọc lại đoạn “hi sinh của Hoàng đế” nêu trong bản dự thảo để nghe cho rõ hơn, nghe xong vua đồng ý, giao cho Văn phòng (tức cho Phạm Khắc Hòe) làm văn bản để chiều ký. Văn bản này tạm gọi là “Chiếu động viên quốc dân” mà Bảo Đại đã ký ngay vào 4 giờ chiều hôm đó (17.8.1945) sau vài phút do dự và “một cái nhún vai nhè nhẹ”, trong có đoạn: “Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu… Trước tình thế quốc tế hiện thời, trẫm muốn mau có nội các mới… Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, trẫm sẵn sàn hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như trẫm” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 195-196; Phạm Khắc Hòe có dẫn lại trong Từ triều đình Huế…, tr. 58-59).

Trong một diễn biến khác, ngày 19.8.1945 khi thấy tình thế đã nguy ngập đến nơi, “chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả”, đến lượt Trần Trọng Kim cũng vào gặp vua, dẫn gương của vua Louis bên Pháp và vua Nicolas II bên Nga, đốc thúc Bảo Đại phải thoái vị ngay không nên chần chừ (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 92).

Đến giờ phút này, cả Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và phần lớn thành viên trong Nội các vẫn còn mơ hồ, chưa biết rõ lãnh tụ Việt Minh là ai.

Với vai trò đã bí mật nhận với Việt Minh (thông qua Tôn Quang Phiệt), Phạm Khắc Hòe tiếp tục tìm mọi phương tiện khéo léo vận động Bảo Đại thoái vị, bằng cách luôn báo cáo với vua về những cuộc biểu tình của quần chúng đả đảo phát-xít, ủng hộ Việt Minh, về huyền thoại dân gian “thánh Nguyễn Ái Quốc” ra đời ở đất Nam Đàn… để khuyên nhà vua nên rút lui. Cuối cùng Hoàng đế đồng ý nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là ‘Thánh Nguyễn Ái Quốc’ thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay” (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 62). Nghe xong Phạm Khắc Hòe khấp khởi vội vã lo soạn chiếu thoái vị, và hoàn tất ngay trong đêm 20.8.1945.

Gần trưa ngày 23.8.1945, Bảo Đại nhận được tối hậu thư của Việt Minh, dưới đóng dấu “Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương” nhưng không có ai ký tên, đòi nhà vua phải trả chính quyền cho nhân dân và hứa sẽ bảo đảm tính mạng, tài sản cho hoàng gia, hạn cho nhà vua phải trả lời trước 13 giờ 30 phút ngày 23.8.1945 và cử ông Phạm Khắc Hòe làm người liên lạc giữa nhà vua và Chính quyền cách mạng.

Theo đề nghị của Phạm Khắc Hòe, một cuộc họp nội các đã được triệu tập ngay lập tức vào đúng 12 giờ 25 phút cùng ngày để kịp trả lời Việt Minh đồng thời góp ý kiến cho dự thảo Chiếu thoái vị do chính ông Hòe khởi thảo. Cuộc họp do vua chủ tọa, có mặt Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương (1898-1986), Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Hữu Thí, Phạm Khắc Hòe. Mọi người đồng ý chấp nhận các điều kiện do Việt Minh đưa ra trong tối hậu thư, còn Chiếu thoái vị thì chỉ sửa có mấy chữ “nồi da xáo thịt” thành “Nam Bắc phân tranh”.

Tờ chiếu lịch sử đó của Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng triều Nguyễn sau 143 năm trị vì đất nước phong kiến mà hơn một nửa thời gian bị lệ thuộc Pháp, chính thức đề ngày 25.8.1945. Ông chấp nhận từ bỏ ngôi báu một cách khá mau lẹ một phần vì muốn đặt lợi ích của quốc dân lên trên, phần khác cũng do bị áp lực từ nhiều phía và cũng chẳng còn cách nào khác.

Chiều ngày 26.8.1945, trong không khí buồn tẻ chỉ hiện diện vài người thân cận, vua làm lễ cáo yết Liệt thánh về việc thoái vị ở Thế miếu là nơi thờ Gia Long và các vua nối tiếp. Các quan văn võ được thông báo trước nhưng đều không đến dự.

Chiều 30.8.1945, tại cuộc lễ thoái vị được cử hành long trọng trước Ngọ Môn, Bảo Đại mặc triều phục tuyên độc chính thức Chiếu thoái vị, lời lẽ chân thực cảm động, với sự có mặt của đại diện Việt Minh gồm các ông Trần Huy Liệu (Trưởng đoàn), Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận cùng sự chứng kiến của đám đông hàng vạn dân chúng:

“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh tất cả, và ước mong rằng sự hi sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.

Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.

Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta… (chép theo Con rồng Việt Nam của Bảo Đại, tr. 187-188, có một số câu chữ khác hơn so với văn bản chép trong Phụ lục hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim).

Đọc xong, vua Bảo Đại trao kiếm vàng và ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, biểu thị chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim, mà ba tuần lễ sau cùng đổi gọi Nội các Lâm thời, coi như cũng chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.

Trong hồi ký Con rồng Việt Nam (Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990), cựu hoàng Bảo Đại sau này nhớ lại: “Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi. Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu” (tr. 188).

Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Về phần Nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy 4 tháng (từ 17.4 đến 7.8.1945, nếu tính đến 23.8.1945 khi quyết định xong Chiếu thoái vị thì được 4 tháng 6 ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, Nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng đã làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận: 

Tháng 6 năm 1945, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, Annam); tạm duy trì bài quốc thiều “Đăng đàn cung”; đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long tinh bằng cờ quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm.Bộ Tiếp tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt.

Thanh trừng quan tham lại nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.

Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.

Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.

Can thiệp với Nhật để từ ngày 9.8.1945 tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản đã bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương trừng thanh quan lại và bài trừ tệ hối lộ.

Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20.7.1945.

Ngày 1.8.1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm Lính Khố xanh, Khố đỏ.

Ngày 14.8.1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.

Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

Về tư pháp, thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5.7.1945.

Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc Tiểu học và Trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.

Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa.Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên Tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.

Trong giai đoạn tồn tại cuối, nhận thức được trào lưu, tham gia dàn xếp êm và nhanh chóng việc thoái vị của Bảo Đại để trao quyền lãnh đạo cho chính quyền cách mạng, tránh một cuộc xung đột đổ máu rất có thể xảy ra nếu có sự kháng cự.

Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.

Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Nam vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!

Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.

“Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).

Nội các Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, “xây dựng khu vực thịnh vượng chung” của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trị mới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.

Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẫm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu âu tiêu cực, được chăng hay chớ.

Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.

Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạm nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.

Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!…” (sđd., tr. 99-100).

Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết…” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).

Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc, lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ hay dở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.

Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân). Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).

Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67).

Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.

Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng, .

Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).

Trần Văn Chánh, TS

____

* Một Cơn Gió Bụi, xuất bản 1949, tác giả Trần Trọng Kim là một học giả, Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam năm 1945. 

GIỚI THIỆU / REVIEW SÁCH

Một cơn gió bụi là cuốn Hồi ký do Trần Trọng Kim (1883–1953) xuất bản năm 1949, mang nội dung tóm lược quãng đời làm chính trị của ông (từ năm 1942 đến năm 1948). Trong cuốn hồi ký, ông có đề cập và nói lên suy nghĩ của mình về các sự kiện lớn xảy ra trong nước thời bấy giờ như sự thành lập chính phủ của Đế quốc Việt Nam do ông làm thủ tướng, sau đó là Cách mạng tháng Tám, sự cầm quyền của Việt Minh, cùng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất do Việt Minh phát động.

 

 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »