Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám 16th, 2016

►Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

1-11-2010

Diễn Đàn Thế Kỷ 
Tác giả Trần Ðông Phong
(Tiếp theo)

Bộ Trưởng Kiến Thiết Hoàng Hùng trùng tu ngôi mộ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
Trước năm 1975, trừ một số người sống trong vùng Sa Ðéc và Cao Lãnh, đa số người ở miền Nam đều gần như không biết gì về việc thân phụ của ông Hồ Chí Minh, Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, đã được an táng tại vùng Cái Tôm thuộc Cao Lãnh, được cải danh thành tỉnh Kiến Phong dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ có ít người biết là vì thân phụ của ông Hồ đã từ trần và được chôn cất tại vùng đất này từ năm 1929, dưới thời Pháp thuộc.

Ông Phó Bảng được an táng tại một nơi đất khách quê người, không bà con thân thích, rồi sau đó những người có quen biết ông tại vùng Cao Lãnh cũng lần lượt qua đời và ngôi mộ của ông trở thành vô chủ. Khoảng hơn một phần tư thế kỷ sau, ngôi mộ này được trùng tu lại mà người ra lệnh làm việc này cũng không hề có bà con thân thích gì với ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy.

Một vị cựu giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, không muốn tiết lộ danh tánh, có tiết lộ với người viết về một chuyện mà thân phụ của ông có kể lại cho ông hồi năm 1956. Thân phụ của ông là một vị kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội và là bạn của kiến trúc sư Hoàng Hùng, lúc đó đang giữ chức vụ Bộ Trưởng Kiến Thiết. Thân phụ của ông hồi đó giữ chức vụ Giám Ðốc Nha Thiết Kế Thị Thôn thuộc Bộ Kiến Thiết nên vẫn thường xuyên đi công tác nhiều nơi trên toàn quốc.

Thân phụ của ông kể lại rằng vào năm 1956, TT Ngô Ðình Diệm đã ra lệnh cho Kiến trúc sư Hoàng Hùng, Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết hướng dẫn một phái đoàn gồm nhiều chuyên viên của Bộ Kiến Thiết xuống vùng Cao Lãnh để giám sát và đôn đốc việc chỉnh trang hai tỉnh mới là Kiến Phong và Kiến Tường. Ngoài mục đích này, một nhiệm vụ khác nữa của phái đoàn là trùng tu lại Tháp Mười, một di tích lịch sử đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ từ thời Cần Vương chống giặc Pháp hồi thế kỷ thứ 19. Việc chính phủ cử một phái đoàn do một ông bộ trưởng cầm đầu xuống công tác tại hai tỉnh tân lập trong vùng Ðồng Tháp Mười hồi đó đã được dân chúng hai tỉnh này hoan nghênh nhiệt liệt vì điều đó chứng tỏ sự quan tâm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đối với việc phát triển hai tỉnh này.

Vị giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ này nói rằng thân phụ của ông là một nhân viên trong phái đoàn đó và ông đã tiết lộ với người con trai rằng trong thời gian công tác ở vùng Ðồng Tháp, ông còn được Bộ Trưởng Hoàng Hùng chỉ thị phải làm thêm một nhiệm vụ nữa, đó là hướng dẫn một số nhân công, dường như là quân nhân chứ không phải là người địa phương vì họ nói giọng miền Trung và miền Bắc, lo việc trùng tu lại một ngôi mộ không được ai săn sóc trong một thời gian rất lâu, có thể nói đó là một nấm mồ vô chủ ở Cái Tôm, Cao Lãnh. Thân phụ của ông nói rằng khi trùng tu lại ngôi mộ này, ông được chỉ thị là chỉ sửa sang lại cho “đàng hoàng tươm tất” nhưng không được dùng vật liệu nặng như xây tường, dựng bia v.v. Ngôi mộ này không có mộ chí, tuy nhiên về sau, khi nói chuyện với một vài vị thân hào và bô lão địa phương thì ông mới biết đó là mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy. Vị kiến trúc sư này nói rằng lúc đó ông không hiểu lý do tại sao ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng lại chỉ thị cho trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, nhưng sau này khi ông về công tác ở Huế và nghe việc gia đình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cải táng mộ của ông Ngô Ðình Khôi thì ông mới hiểu đó là sự trả ơn của ông Diệm.

Việc Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra chỉ thị cho ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy sau đó không hề được tiết lộ vì có lẽ Tổng Thống Diệm không muốn để cho những người khác biết về mối liên hệ cũng như là mối “ân tình” giữa gia đình của ông với người lãnh đạo chế độ Cộng sản Hà Nội, một điều rất bất lợi cho tư thế chính trị của ông tại miền Nam. Kiến trúc sư Hoàng Hùng là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong những ngày đầu kháng chiến chống lại quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1945. Người Pháp hồi đó đã thù hận ông cho nên đã tịch thu ngôi nhà của ông (gần Tổng Nha Cảnh sát sau này) để làm một đồn cảnh sát, hồi đó được dân Sài Gòn gọi là “bót Hoàng Hùng.” Ông Hoàng Hùng là bạn thân của Kiến Trúc sư Huỳnh Tấn Phát, ông này là một trong những nhân vật đầu não của giới trí thức Miền Nam thân Cộng sản ngay từ sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết và dĩ nhiên là việc này đã được báo cáo về Hà Nội. Trước năm 1975, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là thủ tướng cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

Người viết có nghe được một câu chuyện lý thú về các nhân vật này sau năm 1975. Sau khi đất nước đã được “thống nhất,” nhóm bạn cũ như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, thân phụ của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh v.v. và Kiến trúc sư Hoàng Hùng có họp mặt với nhau. Những người theo Cộng sản có hỏi ông Hoàng Hùng, cựu anh hùng kháng chiến Nam Bộ, cựu Bộ Trưởng Kiến Thiết thời Ðệ Nhất Cộng Hòa rằng nếu được trở lại thời trước năm 1954 thì ông có thay đổi lập trường và có theo Cộng sản hay không? Kiến Trúc sư Hoàng Hùng đã bình thản trả lời rằng “bây giờ dù rằng Cộng sản đã thắng, nhưng nếu có trở lại hồi đó thì ông cũng vẫn không theo Cộng sản và ông không hề hối tiếc đã phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng như là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm…”

Con trai của ông Hoàng Hùng, hình như tên là Hoàng Hy, được đi du học tại Pháp nhưng đã tự ý trở về Việt Nam và tình nguyện gia nhập vào quân đội, rồi anh tình nguyện về phục vụ trong Tiểu Ðoàn Cọp Ba Ðầu Rằn thuộc binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã tử trận hồi 1965-1966. Kiến trúc sư Hoàng Hùng sau đó vẫn được Cộng sản cho phép sang sinh sống tại Pháp và ông mới qua đời cách đây vài năm.

Ông Ngô Ðình Diệm bị cầm giữ ngay tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945
Gần đây, trong một cuốn “hồi ký chính trị” xuất bản vào năm 1997, ông Vũ Thư Hiên có tiết lộ một chuyện mà ông nói rằng đó là “một mẩu lịch sử ít người biết.” Thực ra, đối với người dân miền Nam thì sự tiết lộ của ông Vũ Thư Hiên không phải chỉ là “một mẩu lịch sử ít người biết” như ông nói mà đó là một sự tiết lộ “động trời.”

Vũ Thư Hiên là con trai của ông Vũ Ðình Huỳnh, một người trí thức thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, đã tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội từ năm 1925, gia nhập đảng Cộng sản Ðông Dương từ năm 1930 và đã giữ chức vụ bí thư cho Hồ Chí Minh khi còn ở chiến khu Tân Trào từ năm 1945 cho đến sau năm 1954, người được xem như là một trong những người rất gần gũi Hồ Chí Minh và được ông Hồ rất tin cậy. Tuy nhiên sau khi về hưu, ông Vũ Ðình Huỳnh đã bị phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ còng tay đưa về tống giam vào nhà tù Hỏa Lò ngày 18 tháng 10 năm 1967, hai năm trước khi ông Hồ Chí Minh từ trần, vì có tội trong cái mà phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ gọi là “Vụ Án Tổ Chức Chống Ðảng, Chống Nhà Nước Ta, Ði theo Chủ Nghĩa Xét Lại Hiện Ðại và Làm Tình Báo Cho Nước Ngoài.”

Theo tác giả Vũ Thư Hiên thì thân phụ của ông là Vũ Ðình Huỳnh đã cho ông biết về chuyện ông Ngô Ðình Diệm bị Hồ Chí Minh giam giữ ở Hà Nội như sau:
“Nhân chuyện thống nhất đất nước, tôi xin nói tới một mẩu chuyện lịch sử ít người biết. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Ngô Ðình Diệm bị bắt. Tại Hà Nội, ông Diệm bị giam không phải ở (nhà tù) Hoả Lò mà ngay trong Bắc Bộ Phủ. Theo ông Chu Ðình Xương, nguyên Giám đốc Sở Liêm Phóng (Công an) Hà Nội, thì việc ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ là do ông chính Hồ Chí Minh quyết định.

“Tại sao ông Hồ lại có quyết định đó thì ông Chu Ðình Xương không hiểu. Rất có thể do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ mà ông Hồ Chí Minh lo cho số phận của Ngô Ðình Diệm, không muốn để mặc tính mạng con người nổi tiếng chống Cộng này nằm trong tay những đồng chí nóng tính. Cha tôi là người giữ chìa khóa phòng giam. Ðến bữa, cảnh vệ lên lấy chìa khóa cho Ngô Ðình Diệm ăn xong thì nộp lại.

“Một hôm, ông Hồ bảo cha tôi: ‘Chú Huỳnh ạ, tôi tính nên thả ông Diệm. Mình làm ân cho người ta tốt hơn là làm oán.’ Cha tôi bàn với Lê Giản (lúc bấy giờ được Hồ Chí Minh cử làm Tổng Giám Ðốc Nha Công an Việt Nam) thì hai ông cho rằng để ngăn ngừa những hành động chống cách mạng của ông Diệm, cách tốt nhất là để cho ông ta được hưởng chế độ câu lưu tại Việt Bắc (tức là vùng thượng du mạn ngược, nơi thực dân Pháp đã từng đày ải những nhà cách mạng dưới thời Pháp thuộc,) ông ta sẽ sống như dân thường, chỉ bị hạn chế tự do đi lại mà thôi.

“Ông Hồ Chí Minh bỏ ngoài tai ý kiến phản bác, ông đã định thả là ông thả. Ông nói: “Các chú không ở Huế các chú không biết, chớ dân Huế có câu: ‘Ðày vua không Khả, đào mả không Bài’ là nói về cụ thân sinh ông Diệm đấy. Vị người cha thả người con là điều nên làm lắm chứ. Các chú không nên hẹp hòi!”

“Nhiều người nhận xét khi ở cương vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Ðình Diệm không bao giờ có những lời khiếm nhã với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những nguyên nhân, theo tôi nghĩ, có thể là do ông Diệm không quên ơn ông Hồ đã tha mạng mình, là điều không phải khó hiểu.” (1)
Như vậy, qua sự tiết lộ của ông Vũ Ðình Huỳnh thì Hồ Chí Minh đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt: tất cả những người làm cách mạng nhưng theo những đảng chính trị không phải là Cộng sản như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, Dân Xã Ðảng và nhóm Ðệ Tứ v.v. khi bị Việt Minh bắt vào năm 1945 đều bị giết một cách dã man vô nhân đạo như chôn sống, chặt đầu, thả trôi sông, cho đi mò tôm v.v. thế mà ông Ngô Ðình Diệm thì không bị giết.

Ngay sau ngày Cách Mạng Tháng Tám tức là ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhà cách mạng Tạ Thu Thâu bị bắt và bị xử tử ngay trong tháng 9 tại Mỹ Khê ở tỉnh Quảng Ngãi, ông Phan Văn Hùm bị chôn sống tại Bình Thuận vào ngày 8 tháng 10 , ông Trần Văn Thạch cũng bị bắt cùng ngày và bị chôn sống cùng với 62 người khác, ông Bùi Quang Chiêu lúc đó đã trên 70 tuổi mà cũng bị thủ tiêu cùng với bốn người con vào tháng 9, Phan Văn Chánh bị giết chết ở Sông Mao tỉnh Phan Thiết, ông Hồ Văn Ngà bị đâm chết rồi thả trôi sông ở Rạch Giá, hai vợ chồng ông Hồ Vĩnh Ký và Bác sĩ Nguyễn Thị Sương bị giết ở Dĩ An tỉnh Biên Hòa, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học trò của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ Chí Minh, cũng bị thủ tiêu ở Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một v.v.

Ông Ngô Ðình Diệm cũng bị Việt Minh bắt trong khoảng thời gian đó tại Quảng Ngãi nhưng dường như Tỉnh Bộ Việt Minh Quảng Ngãi đã được Hồ Chí Minh ra lệnh phải đưa ông Diệm ra Hà Nội, nhờ đó mà ông Ngô Ðình Diệm may mắn được sống sót.

Ngoài chuyện đó, Hồ Chí Minh còn dành cho ông Diệm một sự đối xử đặc biệt khác, đó là đã không cho giam giữ ông Diệm như một người tù trong nhà ngục Hỏa Lò như những người chống lại Việt Minh khác mà chỉ giữ tại Bắc Bộ Phủ tức là Dinh Chủ Tịch của Hồ Chí Minh. Ông Hồ cũng không nghe lời của bí thư của ông là Vũ Ðình Huỳnh cũng như là Tổng Giám Ðốc Công an Lê Giản đề nghị đưa đi câu lưu trên vùng mạn ngược mà lại trả tự do cho ông Diệm, một việc mà sau này nhiều người trong phía Cộng sản Hà Nội đã gọi là “thả hổ về rừng” vì chỉ mười năm sau thì người lãnh đạo Miền Nam chống lại Hồ Chí Minh và Cộng sản Bắc Việt lại chính là ông Ngô Ðình Diệm.

Việc Hồ Chí Minh trả tự do cho ông Ngô Ðình Diệm vào năm 1945 hay 1946 có lẽ có nhiều nguyên do mà may ra chỉ có ông Hồ mới biết rõ, cũng có thể một trong những nguyên do đó là “do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ” như lời của ôngỳ Vũ Ðình Huỳnh, cũng có thể là ông Nguyễn Sinh Huy sau khi ông thi đậu phó bảng dưới thời Vua Thành Thái có được quen biết hay liên hệ gì đó với Thượng Thư Ngô Ðình Khả hay là một vài bạn đồng liêu của ông vì vào thời đó ông Khả còn làm quan tại triều, cũng có thể là vì Hồ Chí Minh có theo học ở trường Quốc Học Huế, ngôi trường mà Thượng Thư Ngô Ðình Khả sáng lập và cũng là nơi mà nghe nói ông Ngô Ðình Diệm cũng có theo học thời niên thiếu, như vậy thì giữa Hồ Chí Minh với Ngô Ðình Diệm còn có tình đồng môn. Ðối với người xưa, kể cả thời thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20, người ta còn coi trọng “tình đồng môn hay nghĩa đồng môn” hơn sau này, do đó yếu tố này cũng có thể giải thích được nguyên nhân mà ông Hồ đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt nào đó, nếu có.

Người viết có liên lạc với nhà văn Vũ Thư Hiên vào tháng 11 năm 2003 để tìm hiểu thêm về điều ông tiết lộ là Hồ Chí Minh đã giam giữ Ngô Ðình Diệm tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945. Ông Vũ Thư Hiên đã trả lời như sau:
“Tôi không biết gì nhiều về thời gian ông Ngô Ðình Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ. Tuy có ra vào Bắc Bộ Phủ, nhưng tôi chưa từng gặp mặt ông ấy. Những gì tôi được nghe cha tôi kể lại, tôi đã ghi trong “Ðêm Giữa Ban Ngày.” Người có thể nói thêm là Cụ Lê Giản (giám đốc Nha Công An Việt Nam thời kỳ đó) thì lại vừa mới mất. Trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ Chí Minh thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ, theo các cụ suy luận, trên cơ sở những dữ kiện mà chỉ các cụ biết.” (2)

Giòng họ Hồ Sĩ mà ông Vũ Thư Hiên nói đến ở đây là giòng họ ông Hồ Sĩ Tạo.

Một học giả miền Bắc là Giáo Sư Trần Quốc Vượng có viết một bài báo nhan đề “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật” vào đầu thập niên 1990 tại Hà Nội trong đó ông nói rằng sau nhiều ngày đi du khảo trong vùng Nghệ-Tĩnh thì ông được nghe dân chúng trong vùng quê quán của Hồ Chí Minh truyền kể lại rằng ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy) là con ngoại hôn của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo với cô Ðèn (Hà Thị Hy.) Người viết không đi sâu vào vấn đề này, tuy nhiên nếu quả thật Hồ Chí Minh là cháu nội của Tiến Sĩ Hồ Sĩ Tạo hay Hồ Sĩ Tảo thì rất có thể ông Tiến sĩ này có một vài liên hệ nào đó với ông Ngô Ðình Khả, thân phụ của ông Ngô Ðình Diệm vào thời thế kỷ thứ 19, do đó ông Vũ Thư Hiên đã nói rằng “trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ.” Ðây cũng có thể là một nguyên nhân để giải thích cho việc tại sao ông Hồ Chí Minh đã trả tự do cho ông Diệm hồi năm 1945, nhất là khi ông Hồ nói rằng “vị người cha mà thả người con.”

Một điều thật đáng tiếc là hai người biết rõ về việc ông Hồ giam giữ ông Diệm tại Bắc Bộ Phủ và những chuyện có liên quan đến mối liên hệ giữa hai người này là ông Vũ Ðình Huỳnh đã từ trần cách đây đã lâu, nhưng ông Lê Giản thì còn sống cho đến tháng 10 năm 2003, nếu khi ông còn sống mà có cơ hội hỏi ông về việc này thì có lẽ ông có thể đã cho biết thêm nhiều chi tiết mà rất ít người biết đến. Tuy nhiên sự tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên đã làm sáng tỏ thêm một vấn đề, đó là việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ đề nghị của hai ông Vũ Ðình Huỳnh và Lê Giản cho ông Ngô Ðình Diệm được “hưởng chế độ câu lưu” tại Việt Bắc, điều đó có nghĩa là những tin đồn nói rằng ông Diệm bị đưa đi an trí ở Thái Nguyên có thể là không đúng lắm.

Như vậy thì từ cảm tình đặc biệt và sự đối xử đặc biệt này đến việc hơn một thập niên sau Hồ Chí Minh lại cung cấp cho gia đình ông Ngô Ðình Diệm những tin tức để đi tìm ngôi mộ nơi hai người thân nhân ruột thịt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị đàn em của Hồ Chí Minh thủ tiêu, người ta thấy rằng đó là những sự kiện có thể tin được. Khi thả ông Diệm vào năm 1945, Hồ Chí Minh nói rằng “vị người cha” là Cụ Thượng Thư Ngô Ðình Khả, thì khi cho ông Diệm biết về nơi chôn vùi ông Tổng Ðốc Ngô Ðình Khôi, đối với ông Hồ, đó cũng là một việc đáng làm đối với một người đồng môn, hơn nữa ông Ngô Ðình Khôi cũng là con của vị “đày vua không Khả,” cũng là một nhân vật yêu nước, có tinh thần chống Pháp cho nên đã bị thực dân Pháp bắt phải về hưu trí vào năm 1943, có lẽ đối với ông Hồ thì đó là một việc phải làm, nhất là người đồng môn của ông lúc đó cũng đang giữ địa vị quốc trưởng tại miền Nam thì về phương diện chính trị lại rất có lợi cho ông.

(Còn tiếp)

*Các bạn có thể xem thêm chi tiết về việc này tại :
http://www.diendantheky.net/2010/11/vai-moi-lien-he-giua-hai-ong-ho-chi_01.html
Theo đó thì ông Hồ đã cho ông Diệm biết chỗ chôn ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh.
Ngược lại ông Diệm cho tu bổ mộ phần cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Người viết bài này là anh họ tôi, Trần Đông Phong (Trần Đức Thắng).
Còn người tu bổ phần mộ cụ Sắc chính là thân phụ tôi. Cụ không bao giờ nói việc này ra, chỉ có anh tôi là vị giáo sư kể trong bài được nghe cụ kể
________

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

Phạm Tuân

Phạm Tôn’blog 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, hiện định cư tại Mỹ.

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.
__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 vàViệt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).
__________
Ghi chú: Ở Huế có đường Phạm Quỳnh từ thời ông Diệm. Trần Hoàng đã từng đọc tên đường này trong tác phẩm…(quên tên, sẽ bổ sung sau)
Ý kiến

Vậy các bác có biết tại sao cụ Phạm Quỳnh mất sớm thế không?

Trả lời

  1. Tác giả P.T không có gì phải tủi hổ về sự khác biệt và về thế thái nhân tình.Như tác giả đã nói,cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi là 2 người thù địch không đội trời chung,vậy mà chính quyền cụ Diệm vẫn cử 1 viên chức đến phân ưu và cử 2 quân nhân mặc lễ phục uy nghiêm đứng bên quan tài.

    Trả lời

     
     
  2. Cũng còn một chút may mắn cho gia tộc cụ Pham Quỳnh, rằng cụ bị giết ở Huế, chứ nếu bị giết ở bắc vĩ tuyến 17 thì có lẽ xương không còn. Cứ xem con cháu cụ Nguyễn Thị Năm bị giết ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên đã phải vất vả như thế nào khi tìm mộ cụ sau khi đã xin được đủ các giấy tờ xác nhận cụ là “địa chủ yêu nước”, thì biết.

    Trả lời

     
     
  3. Trích: ” Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.”….
    Và: “… Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.”. Trích tiếp: “…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?”. Rồi kết: “Ôi, thế thái nhân tình…”.
    Cụ Phạm Quỳnh bị Việt Minh Cộng Sản giết (có người nói là bị chôn sống), thế mà trong bài viết không nghe tác giả con trai cụ Phạm Quỳnh có một lời than trách hay kết án nào. Trái lại, tác giả đã phê phán cách ứng sử không “công bằng” trong việc cải táng cụ Phạm Quỳnh và cụ Huân cùng con trai.
    Tôi thật không thể hiểu nổi. Quả là “sống sao cho vừa lòng người” thực rất khó, trường hợp này thì gần giống như kiểu “làm ơn mắc oán”. Thật ra, chính quyền Ngô Đình Diệm không hề có trách nhiệm gì trong việc giết hại cụ Phạm Quỳnh. Chính quyền này cũng chẳng có “nghĩa vụ” phải cải táng cho cụ Phạm. Đây hoàn toàn là vấn đề nhân nghĩa, đạo lý, tình người và tình đồng bào… huống chi như tác giả đã viết: ” Cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi đã “là kẻ thù không đội trời chung”, thì được như vậy cũng quí lắm rồi. Lẽ ra con trai ông Phạm Quỳnh (tác giả bài viết) không nên so bì như thế nếu không có được một tiếng cám ơn để chứng tỏ là người tử tế.
    Ông Phạm Tuyên có bài “Như có Bác…”, còn ông Phạm Tuân thì có bài này: Anh em họ thật hợp nhau lắm!
    Cụ Phạm Quỳnh không biết vui hay buồn bên kia thế giới đây!?

    Đối với NS Phạm Tuyên, đảng- bác là trên hết. Hơn cả cha mẹ, tổ tiên, ông bà. Có nịnh nọt tốt như vậy, thì từ con của một viên quan Thượng thư của một triều đình bị cho là làm tay sai cho ngoại xâm, mà cách mạng gọi là trùm phản quốc, phản cách mạng, Phạm Tuyên mới “leo” lên được chức vụ Phó Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, khi mà xã hội thời đó coi chủ nghĩa lí lịch là trên hết.Trong sách giáo khoa về Văn và Sử của miền Bắc những năm sáu mươi của thế kỷ trước, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là hai nhân vật được cách mạng dùng những ngôn từ xấu xa nhất để nói về họ, nào là tên bồi bút đê tiện, tên phản động nguy hiểm nhất về lĩnh vực văn hóa, vì họ đã “đầu độc” bao thế hệ trẻ với những tư tưởng xấu xa..vv.
    Với nhà nước CSVN, Phạm Tuyên được cho là “một trong những nhạc sĩ có nhiều sáng tác thành công nhất viết về đảng và Bác”. Trong đó, nổi bật nhất là hai bài: “ Đảng đã cho ta Mùa Xuân” và bài “ Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”. Hãy nghe con vẹt Phạm Tuyên “hót” ca ngợi đảng, bác của ông ta như thế nào nhé.
    Bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” có những câu như sau:
    “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Trước như tuổi thơ tôi nào biết đường
    Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước
    Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông
    Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Đảng ta ơi, cám ơn người dạy dỗ
    Từ đây lòng tôi sướng vui đau khổ
    Và tình yêu căm giận hóa lời ca
    Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà
    Đảng của tôi ơn, người đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

    Bài “ Đảng đã cho ta mùa xuân” có những đoạn như sau:
    “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
    Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
    Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non
    Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời
    Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân
    Cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm
    Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng
    Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang
    Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới”

    Một khi đã tôn thờ đảng-bác trên hết mọi sự, thì phải từ bỏ quá khứ của mình thì mới làm đẹp lòng đảng được. Và để phấn đấu được nhận các giải thưởng, như Giải thưởng Nhà nước năm 2001, và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012, thì Phạm Tuyên phải có một “thành tích chói lọi”. Mà một trong những việc để lập thành tích và để được đảng tin tưởng và ghi công, thì không gì bằng đoạn tuyệt quá khứ, đoạn tuyệt với cha ông mình.
    Chắc không bao giờ Phạm Tuyên muốn nhắc đến tên người cha quá cố của ông- Phạm Quỳnh. Vì như vậy sẽ làm phật lòng đảng.
    Không biết ở dưới suối vàng, Thượng thư Phạm Quỳnh có biết con mình là một đảng viên của cái đảng đã giết và vứt xác mình xuống cái mương và lấp lại vị sợ hôi thối? Và “ đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”, có nghĩa là Phạm Tuyên đã đồng lõa cùng kết tội những “tội ác” của Phạm Quỳnh mà đảng đã tuyên khi giết Phạm Quỳnh?

    Đối với nhân dân Việt Nam, thì đảng CSVN là “ căn bệnh dịch hạch” đã làm ô nhiễm môi trường đạo đức văn hóa và truyền thống tốt đẹp bao đời của cha ông ta. Nhưng đối với Phạm Tuyên, thì đảng “ đã đem về tuổi xuân cho nước non”, và đảng” là ánh dương soi đời mới”. Có lẽ đây là tột đỉnh của sự lố bịch. Và với hai câu này, Phạm Tuyên xứng đáng là VUA của các loài vẹt.

    Nguồn:

xuandienhannom

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Giáo phận Vinh: Hàng chục ngàn giáo dân xuống đường ngày 15-8-2016 yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Giáo phận Vinh: Hàng chục ngàn giáo dân tham dự thánh lễ cầu cho quốc thái dân an

GNsP
Đăng ngày 15.08.2016 – 12:57pm

GNsP (15.08.2016) – Theo lời mời gọi của Đức Giám mục Giáo phận Vinh hơn 30.000 giáo dân đến từ nhiều Giáo hạt như Cầu Rầm, Nhân Hòa, Cửa Lò, Đông Tháp… tham dự thánh lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Trước khi thánh lễ trọng thể diễn ra, hàng ngàn giáo dân thuộc nhiều giáo xứ dưới sự hướng dẫn của các Linh mục Quản xứ như Giáo xứ Nhân Hòa đã tuần hành một cách ôn hòa từ nhà thờ đến Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài với thông điệp: yêu cầu nhà cầm quyền đóng cửa vĩnh viễn Formosa, Chính quyền bao che Formosa là một tội ác, Yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa…

Bà con Giáo hạt Nhân Hòa cùng với linh mục Quản xứ Giuse Nguyễn Xuân Phương và một số vị linh mục khác đã đi bộ hơn 5km để phản đối Formosa đã gây ra vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển Miền Trung.

Hơn 500 bà con giáo dân giáo xứ Phú Yên cùng với linh mục Quản xứ Antôn Đặng Hữu Nam đã vượt hơn 70km quy tụ về Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, hưởng ứng lời kêu gọi của Đức cha Giáo phận cầu nguyện cho quốc thái dân an.

Tại bến đỗ xe, cách Nhà thờ Chính tòa khoảng 600m, linh mục Quản xứ giáo xứ Phú Yên cùng với hơn 500 bà con giáo dân tuần hành, hô vang các khẩu hiệu bảo vệ con dân nước Việt và tiến về phía nhà thờ.

Tại sân Nhà thờ Chính tòa có nhiều băng rôn biểu ngữ thể hiện nỗi lo lắng của bà con giáo dân với thảm họa môi trường như: Dung túng Formosa là một tội ác, Sự thật sẽ giải phóng anh em… 

Bà con Giáo hạt Nhân Hòa cùng với linh mục Quản xứ Giuse Nguyễn Xuân Phương và một số vị linh mục khác đã đi bộ hơn 5km để phản đối Formosa đã gây ra vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển Miền Trung.

Các Linh mục Quản xứ như Giáo xứ Nhân Hòa đã tuần hành một cách ôn hòa từ nhà thờ đến Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài với thông điệp: yêu cầu nhà cầm quyền đóng cửa vĩnh viễn Formosa, Chính quyền bao che Formosa là một tội ác, Yêu cầu chính phủ đóng cửa Formosa…

Tại bến đỗ xe, cách Nhà thờ Chính tòa khoảng 600m, linh mục Quản xứ giáo xứ Phú Yên, Antôn Đặng Hữu Nam cùng với hơn 500 bà con giáo dân tuần hành, hô vang các khẩu hiệu bảo vệ con dân nước Việt và tiến về phía nhà thờ.

Giới trẻ Giáo phận Vinh hưởng ứng bảo vệ môi trường một cách nhiệt tình.

Hơn 30.000 giáo dân đến từ nhiều Giáo hạt như Cầu Rầm, Nhân Hòa, Cửa Lò, Đông Tháp… đáp trả lại lời mời gọi của Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, tham dự thánh lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Tại sân Nhà thờ Chính tòa có nhiều băng rôn biểu ngữ thể hiện nỗi lo lắng của bà con giáo dân với thảm họa môi trường như: Dung túng Formosa là một tội ác, Sự thật sẽ giải phóng anh em… 

Hàng chục ngàn giáo dân giáo phận Vinh tham dự thánh lễ cầu cho quốc thái dân an theo lời kêu gọi của Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong ngày lễ Đại trào Đức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời, tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài, vào sáng ngày 15.08.2016.

Trong bài giảng thánh lễ Đại trào, Đức cha Phaolô kêu gọi cộng đoàn: “Hơn bao giờ hết, chúng ta phải tha thiết xin Đức Maria giúp chúng ta giữ vững căn tính Kitô hữu của mình, có trách nhiệm với quê hương đất nước và với các thế hệ tương lai nhất quyết bảo vệ môi trường, đồng thời hiệp thông với những người đang là nạn nhân của thảm họa môi trường biển, cũng như nạn nhân của rất nhiều thảm họa khác. Xin Đức Maria cho chúng ta can đảm thực hiện quyền công dân được Hiếp pháp VN và các Công ước Quốc tế quy định, thể hiện một cách ôn hòa quyền đòi sự minh bạch trong việc điều khiển đất nước, cũng như xử lý các thảm họa môi trường và buộc những người gây ra thảm họa phải bị xét xử một cách công minh và các nạn nhân được đền bù xứng đáng.”

Pv.GNsP tại Nghệ An 
 
Chùm ảnh tại Giáo phận VInh sáng nay, 15.8.2016:

….

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Nhà thầu Trung Quốc thi công gian dối tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Nhà thầu Trung Quốc thi công gian dối tại dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi

LĐ – 187 PHÓNG SỰ THANH HẢI 06:52 ngày 12/08/2016
 

Xe tải chở đất bùn khai thác trái phép tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc để đôn nền đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Xe tải chở đất bùn khai thác trái phép tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc để đôn nền đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Chỉ thi công 10,6km (thuộc gói thầu A3) của dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, nhưng nhà thầu Giang Tô (Trung Quốc) đã luôn “làm nóng” hiện trường bởi liên tục có biểu hiện làm ăn gian dối, bị người dân địa phương phản ứng. Thế nhưng, bất chấp tai mắt giám sát, đơn thư tố cáo của người dân, trên công trường cao tốc, đơn vị thi công vẫn ngang nhiên làm ẩu, tiếp tục lấy đất bẩn, bùn lầy từ nguồn khai thác trái phép để đắp nền đường, làm giả, nhưng quyết toán thật…

Dự án cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi là một phần của đường bộ cao tốc Bắc – Nam, có chiều dài gần 140km, tổng kinh phí gần 28.000 tỉ đồng, được đánh giá sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội khu vực miền Trung. Tuy việc xây dựng chủ yếu từ nguồn vốn vay, dự án cũng sẽ là “gánh nợ” nặng cho con cháu. Vì ngay từ lúc thi công, nhà thầu đã có biểu hiện làm ăn gian dối, cảnh báo kém chất lượng. Đáng nói, sai phạm được dân tố cáo liên tục, song không được xử lý triệt để. Đơn vị thi công tiếp tục làm trái quy trình một cách công nhiên, như thách thức người dân…

Công khai múc đất bùn, đôn nền đường cao tốc

Sau nhiều lần tố cáo hiện tượng làm ăn gian dối của nhà thầu Giang Tô, Trung Quốc tại gói thầu 3A trên đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi – đoạn qua huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi – không mang lại kết quả, người dân đã cầu cứu đến báo chí.

Mấy ngày qua, liên tiếp phát hiện đơn vị thi công tiếp tục múc bùn đất tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, huyện Bình Sơn để đổ trực tiếp, đôn nền đường cao tốc.

Sáng 9.8, người dân địa phương đã mật báo, chúng tôi lập tức có mặt tại hiện trường. Không quá khó để ghi hình trực tiếp những đoàn xe đào bùn đất tại lòng hồ Hố Dọc, thuộc xã Bình Nguyên, rồi nối đuôi nhau chở đến đổ nền đường cao tốc tại vị trí Bàu Sen – xã Bình Trung, huyện Bình Sơn – Km 101 + 445 – km101 + 800-102+240.

 Hình ảnh đất đá không đúng quy chuẩn được nhà thầu Giang Tô (Trung Quốc) đôn nền đường cao tốc (ảnh do người dân chụp lại).

Từ điểm cuối – nơi các xe tải nặng đang đổ bùn đất xuống công trình đường cao tốc, chúng tôi bám theo đuôi xe trong vai người đi buôn đồng nát. Có lẽ bởi chúng tôi bề ngoài quần áo xộc xệch, xe máy cà tàng, nên đoàn xe cứ vô tư đưa chúng tôi đến tận điểm đầu – nơi lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, xã Bình Nguyên, cách đó chừng 4km. Tại đây, có 3 xe đào đang xả hết công suất để múc bùn, đất ngay lòng hồ, cung ứng cho đoàn xe khoảng chục chiếc vận chuyển đến khu vực Bàu Sen để đôn nền đường.

Công trường hoạt động ầm ào, khẩn trương, tiếng máy vang dội cả một góc núi. Thế nhưng, khi phát hiện có nhóm người lạ ghi hình, lập tức mọi phương tiện dừng đột ngột. Cánh lái xe tứ tán, lảng tránh tiếp xúc với chúng tôi. Ngay đoàn xe tải nặng đang công khai chở đất đôn đường cao tốc cũng bỗng dưng dừng chạy. Một số xe bỏ hẳn công trường để sơ tán đi nơi khác.

Gói thầu A3 do Cty Giang Tô (Trung Quốc) thi công có tổng giá trị khoảng 1.360 tỉ đồng, thực hiện từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB). Một dự án trọng điểm của ngành GTVT Việt Nam, được Chính phủ đặc biệt quan tâm, tại sao lại có hiện tượng lén lút, lo sợ mơ hồ, và dừng hẳn thi công khi có người ghi hình?

Ông Trần – một nhà thầu phụ từng cung ứng vật tư để xây dựng tại dự án đường cao tốc này cho biết:

“Không cần điều tra, chẳng phải mất công để xác minh cũng có thể khẳng định ngay hoạt động múc đất, bùn tại lòng hồ thủy lợi để đổ trên đường cao tốc là hành vi vi phạm pháp luật, trái quy trình xây dựng một công trình lớn như đường cao tốc Bắc – Nam”.

Theo ông Trần, mọi vật tư cung ứng cho công trình đều được giám sát chặt chẽ, thông qua quá trình kiểm soát nghiêm ngặt. Nếu là đất đôn nền, phải có giấy phép khai thác mỏ khoáng sản, chất lượng đất – cát phải được kiểm định, được đơn vị tư vấn, giám sát cấp chứng thư công nhận… mới được phép đưa vào công trình. Đất bùn tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc không nằm trong danh mục mỏ khoáng sản do UBND tỉnh Quảng Ngãi hoặc Bộ TNMT cấp, đang bị khai thác trái phép, nhưng cung ứng để đổ vào công trình đường cao tốc như vậy là hoàn toàn vi phạm quy trình.

Ông Trần giải thích thêm, sở dĩ có việc ăn cắp đất ở lòng hồ thủy lợi để đổ đường cao tốc là vì nguồn cung đất gần công trình, và là đất đào trộm nên trốn được thuế tài nguyên. Vì lợi nhuận, nhà thầu gian dối, làm ẩu. Nhưng vấn đề cốt lõi là nếu không có sự bắt tay, thông đồng của đơn vị tư vấn, giám sát thì sự gian dối này khó trót lọt.

Đắp nền đường trên túi bùn

Theo đuôi những xe tải nặng đào đất trộm tại lòng hồ thủy lợi Hố Dọc, chúng tôi đến công trường XD đường cao tốc tại khu vực Bàu Sen, thuộc xã Bình Trung, huyện Bình Sơn – nơi nhà thầu Giang Tô, Trung Quốc đang thi công – lại phát hiện thêm một sự gian dối khác.

Quy trình theo hồ sơ thiết kế, đơn vị thi công phải bóc lớp đất phong hóa, bùn lầy trên mặt hồ, chở đến các bãi thải (đã quy hoạch gần đó) trước khi đôn đất, cát đủ quy chuẩn làm nền đường. Tuy nhiên, thực tế đơn vị thi công chỉ đôn từ cọc cát, trải vải địa rồi đổ đất lên lu lèn khi chưa nạo vét bùn.

 Ông Phám Tấn Lực – người dân địa phương đã viết đơn tố giác hành vi gian dối của nhà thầu Trung Quốc tại dự án xây dựng đường cao tốc. Ảnh: Thanh Hải

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên “Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc”. Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
 
Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam.
Bản tuyên bố được viết bằng tiếng Anh trên trang web Bộ ngoại giao Trung Quốc, sau đó lập tức được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI chuyển sang tiếng Việt.
 
Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.
 
“Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc”, bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.
 
Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:
 
Bằng chứng số 1:
 
Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ:“Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”. Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: “Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống”.
 
Bằng chứng số 2:
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: “Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa”. Ngày 6/9, trên trang nhất của “Báo Nhân Dân”-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: “Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này”.
 
Bằng chứng số 3:
 
Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: “Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đây là đe dọa trực tiếp “đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng”.
 
Bằng chứng số 4:
 
 
Tập “Bản đồ Thế giới” do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.
Bằng chứng số 5:
 
Trong sách giáo khoa “Địa lý” lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” viết: “Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn…, các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức ‘Trường Thành’ bảo vệ Trung Quốc đại lục”.
*
Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam “đã nuốt lời cam kết của mình” khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.

Một sự im lặng nhục nhã đối với tập đoàn Việt gian bán nước.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

…..

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Nghệ An: một luật sư kêu cứu vì đang ở trong tình trạng bị công an đe dọa hành hung!

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

FB Ngọc Minh Châu

15-8-2016

LS Ngọc Minh Châu

Tác giả Ngọc Minh Châu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi đang tham gia phiên toà xét xử công khai vụ án Đặng Thị Thuấn vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Án xử công khai nhưng cổng toà bị khoá, một xe cam nhông CSCĐ đứng chắn cổng toà không cho bất cứ người dân nào vào phòng xử án.

Đến giờ xử án Cảnh sát ngồi chật phòng xử. Tôi có ý kiến đề nghị đứng lên trả chỗ cho dân vào dự phiên toà. Nhưng mấy cậu công an trẻ hơn cả con tôi đã chỉ tay vào mặt tôi quát là “Luật sư nói láo, luật sư không có quyền !”.

Toà chưa khai mạc, tôi đứng lên tuyên bố chụp ảnh những cảnh sát ngồi tranh chỗ dân trong phòng xử để gửi chánh án và bộ trưởng bộ công an.

Một tên côn đồ mặc áo thường dân sừng sộ đe đập máy của tôi. Tôi bỏ về vì toà vi phạm Hiến pháp khoá cổng toà không cho dân dự phiên toà.

Ra khỏi cổng toà có 2 thanh niên theo sát bảo vệ tôi vì cậu này có nói là cậu ta chứng kiến công an bàn nhau định bố trí cho 2 nữ cảnh sát khống chế cướp điện thoại của tôi nhằm phá hủy các bằng chứng mà tôi đã lưu trong máy. Và có rất nhiều lời xúc phạm đe dọa tôi từ phía những kẻ lạ mặt này. Con tôi đang rất lo lắng về sự an toàn của tôi.

Hiện nay tôi đang một mình trên đường về Hà Nội. Tôi đưa sự kiện này lên đây để báo cáo bà con được biết. Để rồi xem họ sẽ làm gì cái bà luật sư già này đây ?

_________

Luật sư Nguyễn Văn Chức và bị cáo Trần Văn Đang (21-6-1965)

Mời các bạn đọc bài viết dưới đây của Luật Sư Nguyễn Văn Chức, người được luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định biện hộ cho ông Trần Văn Đang. Qua bài viết của Ls Nguyễn Văn Chức, chúng ta có thể biết thêm về “Anh hùng Nguyễn Văn Trổi” của việt cộng “anh hùng” như thế nào. Để biết đảng cộng sản Việt Nam đã lợi dụng những người dân quê miền Nam để thi hành chính sách khủng bố ở Miền Nam như thế nào trong thập niên 1960s.

“Phạm Thắng Vũ xin chép lại (trích trong báo Con Ong số 84) để quý bạn đọc thấy trong số các nạn nhân của Việt Cộng, cũng có cả các liệt sĩ của chúng như trường hợp Trần Văn Đang ở trong bài viết này.

Ls Nguyễn Văn Chức viết:

“Tôi về đến nhà, đã thấy chiếc xe mô tô đen của trung sĩ Ân đỗ trong sân. Ân giơ tay chào, đưa cho tôi một phong thư mầu vàng của tòa án Mặt Trận, và yêu cầu tôi đọc ngay. Phong thư đóng dấu ” tối mật “. Tôi xé ra. Bức thư bên trong chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy, nhưng tôi đọc rất lâu. Tôi ký sổ biên nhận, rồi bước vào trong nhà.

Ân có chào tôi hay không, và chiếc mô tô rồ máy bỏ đi lúc nào, tôi cũng không để ý. Tôi đang bận nghĩ đến hắn…

Cách đây khoảng 3 tháng, luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định tôi biện hộ cho hắn trước tòa án Mặt Trận Vùng Ba Chiến Thuật. Hắn là tên đặc công bị bắt trong khi đặt chất nổ trên đường Tự Do. Hắn bị truy tố về hai tội phản nghịch và mưu sát; hắn có thể bị tử hình. Sau khi xem xong hồ sơ, tôi vào nhà lao để gặp hắn. Đây là một thói quen nghề nghiệp, và cũng là một cái thú. Nói chuyện với tử tù, thường phạm hay chính trị, đôi khi hấp dẫn hơn đọc một cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất.

Tôi ngồi trong phòng đợi, nhìn ra vạt sân nắng bên kia chấn song sắt, rồi chợt nhớ đến Nguyễn Văn Trỗi. Trước đây, Trỗi cũng đã ngồi nói chuyện với tôi trong căn phòng này. Trỗi khóc như một đứa con nít, thỉnh thoảng đưa hai tay lên vắt nước mũi rồi quẹt xuống gầm bàn. Trỗi còn trẻ, mới 26 tuổi, nhưng trông già như người 40.

Hắn trẻ hơn Trỗi. Khi nhân viên nhà lao dẫn hắn đến gặp luật sư, miệng hắn đang còn nhai nhóp nhép, hình như là khô mực. Người hắn sặc mùi dầu khuynh diệp. Hắn khép nép ngồi xuống một cái ghế trước mặt, rồi chăm chú nhìn tôi. Lúc đó tôi mới để ý đến cái đầu húi cua và khuôn mặt non nớt của hắn. Khác hẳn với tấm hình đăng trên các báo: tóc dài bù xù, và mặt nhăn nheo như mang đầy thẹo. Tôi mỉm cười hỏi: “Em vừa húi tóc?” Hắn gật. Tôi lại hỏi: ” Em là Trần Văn Đang? “Hắn gật.

– Em có bí danh Sáu Nhỏ, Hai Gà, Năm Lựu Đạn, có phải vậy không? Hắn gật.

– Em bị bắt khi đặt chất nổ trên đường Tự Do, có phải vậy không? Hắn gật.

Tôi nói cho hắn biết: tôi là luật sư sẽ cãi cho hắn trước tòa, hôm nay tôi vào nhà lao gặp hắn để tìm hiểu thêm về tội trạng của hắn. Và tôi yêu cầu hắn kể lại tất cả sự việc từ đầu đến cuối, để giúp tôi phối kiểm lại hồ sơ.

Hắn nhìn tập hồ sơ trên bàn, rồi nhìn ra ngoài sân rất lâu, như đang suy nghĩ lung về một vấn đề. Tôi cũng nhìn hắn và chợt thấy hắn dễ thương. Hắn vẫn ngồi im. Tôi hỏi: ” Khi lấy cung, người ta có tra tấn và hăm dọa em không? “. Hắn mở to mắt nhìn tôi. Tôi lại dục: ” Em nên kể lại tất cả sự việc, từ lúc được móc nối cho đến khi bị bắt, bị hỏi cung. Em kể lại hay không, đó là quyền của em. Em cũng có thể từ chối không nhận tôi là luật sư của em và chọn một luật sư khác. Đó là quyền của em “.

Hình như tôi còn nói nhiều nữa. Tôi muốn đến gần hắn, tôi muốn được ” hân hạnh ” nói chuyện với hắn.

Hắn nhìn tôi, tỏ vẻ dè dặt. Tôi đợi một lúc khá lâu, rồi lại hỏi: ” Tất cả những điều em khai trong hồ sơ đều là sự thật, có phải vậy không? “. Hắn gật đầu một cách thản nhiên.

Bên ngoài vạt nắng đã thu hẹp lại ở góc tường bao quanh cái sân nhỏ. Tiếng người gọi đi thăm nuôi, tiếng quát tháo, tiếng chửi thề… đã bắt đầu thưa thớt. Tôi không đeo đồng hồ, và trong phòng cũng không có đồng hồ, nhưng tôi đoán lúc đó khoảng 4 giờ chiều, nghĩa là gần hết giờ thăm nuôi phạm nhân. Riêng tôi, vì là luật sư, tôi có thể nói chuyện với thân chủ cho đến 5 giờ chiều. Khổ một nỗi, thân chủ lại không muốn nói chuyện với luật sư. Tôi đành phải làm cái công việc bất đắc dĩ của nghề nghiệp, là tóm tắt hồ sơ và đọc những điểm quan trọng cho thân chủ nghe, để thân chủ hoặc xác nhận, hoặc phủ nhận.

Hồ sơ hắn dầy gần trăm trang đánh máy, gồm phúc trình của Công An và An Ninh Quân Đội. Cô thư ký của tôi đã chép độ 20 trang quan trọng nhất. Riêng tôi đã lận đận trọn một ngày ở tòa án Mặt Trận để đọc lại toàn bộ hồ sơ và ghi chú thêm. Lận đận như vậy, vì lương tâm nghề nghiệp, và cũng vì tò mò nghề nghiệp. Trong những vụ án chính trị lớn tại miền Nam, tôi từng tiêu hoang thì giờ tại tòa án, để đọc và suy nghĩ về những lời khai của các bị can. Nhờ đó, tôi đã biết được cái lý do sâu xa đã khiến văn hào Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vận, một ngày trước khi tòa xử.

Tôi giở hồ sơ hắn ra và bắt đầu đọc:

Hắn sinh tại Gò Dầu Hạ, bố vô danh. Mười lăm tuổi, hắn mồ côi mẹ và được người chú mang lên làm công cho một tiệm sửa xe Vespa tại đường Trương Minh Giảng-Sài Gòn. Trong thời gian sống ở Sài Gòn hắn làm quen với một tên Tư. Tên này ” xây dựng ” hắn, và gửi hắn vào bưng học tập. Bốn tháng sau, hắn trở về Sài Gòn hoạt động trong tổ đặc công của tên Tư.

Một ngày trước khi bị bắt, hắn được tên Tư cho đi ăn uống tại một con hẻm đường Nguyễn Huệ. Sau bữa ăn, cả hai thả bộ ra đường Tự Do để quan sát địa điểm hành động. Đó là một cái ” bar ” Mỹ mà hắn đã từng đi ngang qua nhiều lần. Chiều hôm sau, một buổi chiều thứ Bẩy, tên Tư đem về hai cái bọc, mỗi cái đựng 10 kg thuốc nổ và bộ phận nổ chậm.

Tên Tư gài bộ phận nổ chậm, rồi đặt cái bọc thứ nhất trong thùng một chiếc Vespa mầu xanh. Cái bọc thứ hai được đặt trong thùng một chiếc Vespa mầu trắng. Rồi cả hai cùng đi tới địa điểm hành động. Lúc đó, đồng hồ nhà tên Tư chỉ đúng 5 giờ 15 phút. Hắn cưỡi chiếc xe Vespa mầu xanh, tên Tư cưỡi chiếc xe mầu trắng, hai xe cách nhau khoảng 200 thước.

Hắn có nhiệm vụ phá cái bar Mỹ đã quan sát chiều hôm trước. Còn tên Tư có nhiệm vụ phá cái bar khác gần khách sạn Eden Rock ở cuối đường Tự Do. Khoảng 15 phút sau, hắn tới cái bar Mỹ. Hắn ngừng xe lại, còn tên Tư tiếp tục đi về phía cuối đường Tự Do. Hắn xuống xe, nhấc chiếc Vespa lên lề đường, rồi dắt chiếc xe về phía cái bar Mỹ. Theo chỉ thị của tên Tư, hắn có nhiệm vụ đỗ chiếc xe Vespa trước cửa cái bar Mỹ rồi bỏ đi. Tên Tư cũng cho hắn biết: quả mìn sẽ nổ đúng 6 giờ. Hắn không đeo đồng hồ. Hắn biết chắc hắn còn nhiều thì giờ, ít nhất là 15 phút để thi hành phận sự. Hắn lấy chân đạp vào chiếc cần sắt của chiếc Vespa, kéo ngược chiếc Vespa lên và dựng chiếc Vespa ngay trước cửa bar. Hắn chưa kịp bỏ đi, thì người cảnh sát đứng bên kia đường thổi còi và ngoắc tay làm hiệu cho hắn phải dắt chiếc xe đi chỗ khác.

Hắn đâm ra lúng túng, và trong lúc hạ cần xe xuống, hắn làm đổ chiếc Vespa. Hắn hì hục dựng chiếc Vespa lên. Người cảnh sát bên kia đường lại thổi còi. Hắn đâm ra hốt hoảng. Chiếc Vespa trở nên quá nặng đối với hắn. Hắn sẽ phải dựng chiếc xe lên. Hắn sẽ phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Và hắn chợt nhớ tới quả mìn. Quả mìn sẽ nổ banh xác hắn.

Hắn không kịp nghĩ thêm gì nữa. Hắn rầm chạy. Hắn chạy ngược về phía tiệm sơn mài Thành Lễ. Mấy người cảnh sát bên kia đường rút súng, huýt còi đuổi theo. Và hắn đã bị bắt. Khoảng 20 phút sau, nhân viên cảnh sát lục soát chiếc xe Vespa và đã tìm thấy quả mìn. Theo phúc trình của cảnh sát, thì bộ phận nổ chậm bị hư, nếu không, quả mìn đã nổ vào lúc 5 giờ 50 phút, nghĩa là lúc hắn đang lúng túng với chiếc xe Vespa. Theo hồ sơ, hắn nhận hết tội, tại Công An cũng như tại An Ninh Quân Đội, và không một lần nào phản cung. Hắn có vợ và một đứa con trai 10 tháng.

Tôi đọc hồ sơ rất chậm, chờ đợi ở hắn một phản ứng, một cử chỉ, một lời nói. Nhưng tôi đã đọc hết dòng chót, mà hắn vẫn ngồi im, mặt cúi gầm xuống đất. Có lẽ hắn không nghe tôi đọc.

Tôi muốn hỏi hắn về những điểm trong hồ sơ, nhất là về tên Tư nào đó. Nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào cho tôi biết chỉ còn đúng 5 phút với hắn. Tôi nhìn ra ngoài, thở dài. Vạt sân đã hết nắng. Khi xốc hồ sơ bỏ vô cặp, tôi vô ý làm rớt tấm ảnh của thằng con trai tôi mới được 8 tháng. Tôi chợt nhớ ra: hắn cũng có một đứa con trai trạc tuổi đó. Tôi liền hỏi: ” Từ ngày em bị bắt, em đã gặp con chưa? “. Hắn nhìn tôi rất nhanh, đôi mắt vụt trở nên khẩn thiết. Tôi lại hỏi: ” Em có muốn gặp vợ con em không? “.

Hắn túm tím miệng, nuốt nước bọt cái ực, rồi nói một cách vội vàng: ” Ông có giúp tôi được không? “. Tôi gật. Lúc đó hắn mới cho tôi biết: theo lời khuyên của tên Tư, một tuần trước khi đặt chất nổ, hắn đã cho vợ con về sống với quê ngoại ở Mỏ Cày. Hắn hy vọng vợ hắn đọc báo đã biết tin hắn bị bắt và đã đem con lên Sài Gòn ở với người chú. Hắn cho tôi hai địa chỉ ở miệt Cầu Ông Lãnh, và xin tôi làm mọi cách để vợ con hắn vào thăm hắn trong tù. Hình như hắn muốn nói nhiều nữa, nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào đem hắn đi. Hắn bỗng nắm chặt bàn tay tôi, cánh tay run run. Hắn nhìn tôi, và tôi thấy mắt hắn ướt.

Chiều hôm ấy, khi ra khỏi nhà lao, tôi lái xe thẳng đến khuôn viên nhà thờ Đức Bà, gửi xe cho một đứa bé, rồi thuê xích lô đạp về chợ Cầu Ông Lãnh. Tối mịt, tôi mới ra về. Tôi không tìm thấy vợ con hắn.

Trưa hôm sau, tôi viết hai lá thư, một cho người chú, một cho vợ hắn, báo tin ngày tòa xử và nhắn vợ hắn đến văn phòng tôi để làm thủ tục xin giấy đi thăm nuôi chồng. Ký xong bức thư, tôi vào nhà lao báo cho hắn biết về cuộc tìm kiếm của tôi. Nhưng tôi không được gặp hắn: hắn đã bị trả về An Ninh Quân Đội để bổ túc hồ sơ. Từ hôm đó đến ngày xử, tôi không có dịp gặp hắn nữa.

Hôm tòa xử, tôi đi rất sớm. Mới 8 giờ sáng tôi đã có mặt ở bến Bạch Đằng. Khi lái xe vào cổng tòa án Mặt Trận, tôi thấy một thiếu phụ ôm con ngồi nép ở lối đi, bên cạnh một cái lẵng mây. Không hiểu sao tôi nghĩ đó là vợ hắn. Tôi đỗ xe trong sân tòa án, rồi đi bộ ra cổng gặp người thiếu phụ. Tôi hỏi ngay: ” Chị là vợ anh Đang? “. Thiếu phụ gật. Tôi hỏi: ” Chị được tin hôm nào? “.

Thiếu phụ cho biết: khi đọc báo biết tin chồng bị bắt, chị muốn lên Sài Gòn ngay, nhưng vì đứa con đau nặng, nên ông bà già không cho đi. Cách đây bốn hôm, chị nhận được thư của người chú báo tin ngày tòa xử, vả lại đứa con cũng đã gần hết bịnh, nên ông bà già cho đi.

Tôi nhìn đứa bé nằm ngủ trong lòng mẹ. Da nó xanh mét. Thỉnh thoảng nó cựa mình rên khe khẽ, người mẹ lại vỗ nhẹ lên người nó để ru. Chị ta hỏi tôi: ” Thưa ông, liệu ảnh có việc gì không? “. Tôi không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn đứa bé rồi hỏi: ” Cháu được mấy tháng? “. Chị ta trả lời: ” Con sanh cháu được 10 tháng thì ảnh bị bắt “.

Bỗng có tiếng còi hụ và tiếng người nhốn nháo. Tôi nhìn về phía đường Bạch Đằng. Một chiếc xe nhà binh đang trờ tới. Đó là xe chở tội nhân. Những người đứng dưới đường vội vàng dạt ra hai bên để cho xe quẹo vào cổng tòa án. Khi chiếc xe đi ngang qua, tôi nhìn thấy hắn, và người vợ cũng nhìn thấy chồng. Chị ta vội vã đứng lên, một tay xách chiếc lẵng mây, một tay ôm con, lễ mễ chạy vào trong sân tòa.

Đoàn tội nhân đã xuống khỏi xe, đứng xếp hàng giữa sân tòa. Hắn đứng ở hàng chót, ngơ ngác nhìn quanh như tìm kiếm. Vợ hắn gọi lớn: ” Anh hai, em và con đây nè “. Hắn quay mặt về phía tiếng gọi, và khi trông thấy vợ hắn, hắn giơ hai tay bị còng lên như muốn ôm ghì một hình bóng. Vợ hắn đứng cách xa hắn chỉ một khoảng sân nhỏ.

Chị ta bỏ chiếc lẵng mây xuống đất, ôm con xăm xăm chạy về phía hắn. Nhưng người lính đã ngăn chị ta lại, rồi ra lệnh cho đoàn tội nhân đi vào hành lang. Đây là một lối đi lộ thiên, nằm giữa hai bức tường của hai dãy nhà quay lưng vào nhau. Người ta dùng chỗ đó để tạm giữ tội nhân, trong khi chờ tòa gọi tội nhân ra trước vành móng ngựa.

Hắn ngồi hàng chót, nép vào chân tường. Tay hắn đã được mở còng. Vợ hắn lễ mễ ôm con lại gần. Người lính định cản lại, nhưng thấy tội nghiệp, nên đã để cho đi qua.

Tôi chỉ kịp trông thấy người đàn bà ngồi thụp xuống đất bên cạnh người chồng rồi khóc nức nở. Hắn không khóc, mở to mắt nhìn về trước mặt, một tay để lên vai vợ, một tay vuốt tóc con. Lúc sau người vợ lấy vạt áo lau nước mắt, rồi lấy ở trong lẵng ra một xị nước ngọt đựng trong túi nylon đưa cho chồng: ” Anh uống đi cho đã khát, em có mua cho anh ổ bánh mì thịt ở trong lẵng “.

Hắn rời tay khỏi vai vợ, đỡ lấy túi nước ngọt đưa lên môi, nhưng tay kia vẫn sờ trên mình đứa con, đôi mắt dịu hẳn xuống. Trong một lúc tình cờ, hắn ngẩng đầu lên. Hắn nhìn thấy tôi đứng bên kia tường. Tôi giơ tay làm hiệu chào hắn.

Chỉ còn độ một hai giờ nữa, tòa sẽ kêu đến vụ hắn. Tôi muốn nói chuyện với hắn. Nhưng tôi không nỡ làm bận rộn cuộc xum họp mà tôi linh cảm là cuộc xum họp lần chót. Tôi thở dài ái ngại, rồi bỏ đi ra phía sân tòa. Thời gian như chậm lại. Hắn, con hắn, vợ hắn, lởn vởn trong đầu tôi. Làm thế nào để cứu hắn khỏi chết? Làm thế nào để tòa án hiểu rằng: hắn, cũng như Nguyễn Văn Trỗi, cũng như bao thanh thiếu niên khác, chỉ là nạn nhân đáng thương của một hệ thống đểu cáng và vô nhân đạo nhất lịch sử loài người.

Mãi mười một giờ trưa, tòa mới kêu đến tên hắn. Hắn từ hành lang đi ra, bên cạnh hai người lính. Vợ hắn lễ mễ ôm con theo từ đằng xa, rồi ngồi xuống một chiếc ghế cuối phòng xử. Phòng xử hôm đó đông nghẹt dân chúng. Bên ngoài, trời oi ả như sắp có cơn giông.

Trước vành móng ngựa, hắn nhỏ bé và non nớt hơn cái hôm tôi gặp hắn trong nhà lao. Da hắn xanh mướt, và nét mặt thản nhiên. Tôi đến bên hắn, hắn quay lại nhìn tôi một thoáng rồi lại nhìn thẳng đàng trước mặt. Không khí nặng nề. Cả phòng xử im lặng. Ông chánh thẩm hỏi lý lịch, rồi truyền cho hắn trở về ghế bị can để nghe bản cáo trạng.

Tôi cũng từ vành móng ngựa đi theo xuống ngồi bên cạnh hắn. Hắn xích lại gần, như để tỏ lòng biết ơn. Viên lục sự bắt đầu đọc bản cáo trạng, tiếng ông ta vang lên đều đều. Cả tòa, từ ông chánh thẩm, ủy viên chính phủ, đến công chúng ngồi dưới, đều lắng tai nghe. Chỉ có hắn là không. Hắn nhìn đăm đăm đàng trước mặt, như đang suy nghĩ. Có lẽ hắn nghĩ tới vợ con hắn. Một lần, tôi chợt thấy hắn quay đầu lại nhìn xuống cuối phòng xử, như muốn tìm xem vợ con hắn ngồi ở đâu. Bỗng nhiên, mặt hắn biến sắc, tay hắn run run, đầu cúi rầm xuống.

Viên lục sự đã đọc xong bản cáo trạng. Hắn rời ghế bị can, rồi cùng tôi bước lên vành móng ngựa.

Ông chánh thẩm hỏi: ” Anh đã nghe bản cáo trạng. Anh bị cáo về tội phản nghịch và mưu sát. Anh có nhận tội không? “. Hắn gật đầu.

– Anh có thể kể lại cho tòa nghe tất cả sự việc từ đầu đến cuối không?

Hắn nhìn ông chánh thẩm, nhìn bồi thẩm đoàn, nhìn ủy viên chính phủ, nhìn tôi, rồi lắc đầu.

Ông chánh thẩm lại hỏi: ” Có phải anh đã đỗ chiếc Vespa trước cái bar Mỹ? “. Hắn gật.

– Anh có biết chiếc Vespa có chất nổ không?

Hắn gật.

– Anh đỗ chiếc Vespa trước cửa bar, để phá cái bar đó, có phải không?

Hắn gật.

– Tên Tư bao nhiêu tuổi, vóc dáng như thế nào?

Hắn đứng im không trả lời.

Ông chánh thẩm nhìn tôi, tôi nhìn ông ta. Một bên ở vào cái thế khó xử, một bên ở cái thế khó cãi. Đại tá Ủy viên Chính Phủ bỗng quát lớn: ” Tại sao bị can không trả lời? “. Hắn ngước mắt nhìn ủy viên chính phủ, rồi đứng im như pho tượng.

Khi tòa trao lời cho ủy viên chính Phủ chính thức đặt câu hỏi, thì ủy viên chính phủ nhún vai, như muốn nói với tòa rằng ông không có gì để hỏi một bị can chỉ biết gật với lắc đầu. Nhưng chỉ một vài giây sau, ông nói như hét: ” Thằng Tư, tên thật nó là gì. Địa chỉ nó ở đâu? “. Hắn lại nhìn ủy viên chính phủ rồi im lặng. Một lần nữa, ủy viên chính phủ lại nhún vai và làm cái cử chi quen thuộc để tòa hiểu rằng ông ta không còn gì để hỏi nữa.

Đến lượt tôi đặt câu hỏi. Tôi hỏi hắn: ” Khi bị lấy cung tại Công An và An Ninh Quân Đội, em có bị tra tấn hoặc bị hăm dọa không? “. Hắn lắc đầu. Tôi lại hỏi: ” Em có hối hận vì đã trót nghe lời dụ dỗ của tên Tư không? “. Hắn cúi gầm mặt xuống lắc đầu.

Tôi đã đưa ra hai cây sào để cứu hắn. Không ngờ hắn đã từ chối không nắm lấy và hình như còn thích thú để cho nước cuốn trôi đi. Nước mắt người vợ và tình thương con đã không làm hắn thay đổi. Một đời luật sư, tôi từng ngang dọc trong những vụ kiện lớn của chế độ, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bất lực như hôm nay.

Ủy viên Chính Phủ đứng lên buộc tội. Trong 15 phút hùng biện, ông gay gắt lên án bị can. Ông nhấn mạnh đến trường hợp quả tang phạm pháp, đến bản chất của tội trạng (phản nghịch và mưu sát) và sự ngoan cố của bị can. Ông kết luận: ” Trong cuộc đấu tranh chống lại bọn cộng sản ” kẻ thù của dân tộc ” chúng ta cần phải nghiêm trị những bọn phá hoại, những tên cán bộ nằm vùng, những tên đặc công khủng bố giết người không gớm tay.

Nếu hôm đó quả mìn nổ, bao nhiêu dân chúng qua đường đã bị chết thảm, bao nhiêu người dân vô tội đã bị què cụt đui mù… “. Ông yêu cầu tòa lên án tử hình. Tòa trao lời cho tôi. Trách nhiệm của tôi quá lớn, và nhiệm vụ của tôi quá khó khăn. Tôi biện hộ cho một bị can phạm tội phản nghịch và mưu sát với trường hợp gia trọng. Bị can ấy nhận tội tại Công An, tại An Ninh Quân Đội, và trước tòa án.

Bị can ấy từ đầu đến cuối không lúc nào phản cung. Bị can ấy từ chối không trả lời tòa án, không trả lời ủy viên chính phủ, không trả lời luật sư. Bị can ấy im lặng tuyệt đối, như để bảo mật cái tổ đặc công giết người của hắn, theo một mệnh lệnh… Giọng tôi trầm trầm. Tôi nói, hình như không phải cho tòa nghe, mà cho chính tôi nghe. Tôi nói, để cố trả lời cho những câu hỏi mà chính tôi đang thắc mắc.

Tại sao hắn không có một lời để tự bào chữa? Tại sao hắn đã nhận tội một cách thản nhiên, và không một lần nào phản cung, trong hồ sơ cũng như trước tòa án? Hắn là một tên đặc công bị bắt quả tang trong khi đặt chất nổ, chắc chắn hắn đã bị tra tấn của công an trong khi lấy cung. Tại sao hắn không nói điều ấy ra trước tòa? Và tên Tư? Tên Tư là ai? Tại sao hắn lại im lặng không chịu cung khai về tên Tư? Tại sao hắn lại từ chối không trả lời những câu hỏi có lợi cho hắn?

Không ai muốn chết. Không ai muốn bị hành hình. Không ai muốn bị đập chết như một con chó ở góc tường, như những nhân vật trong tiểu thuyết Kafka. Huống chi, hắn mới 21 tuổi, có vợ, có con, và thương vợ thương con. Thế thì tại sao hắn lại im lặng? Chỉ có một câu trả lời. Hắn bị quyến rũ phạm tội ác, và sau khi bị bắt, hắn vẫn bị theo rõi. Hắn sợ vợ con hắn bị trả thù, hắn đã phải im lặng, tuyệt đối im lặng.

Biết đâu trong phòng xử hôm nay, lại không có tên Tư nào đó đang ngồi theo rõi hắn. Hướng về phía ông Ủy viên Chính Phủ, tôi nói như tâm sự: ” Tôi đồng ý với ông là chúng ta, những người quốc gia, phải thẳng tay trừng trị, nếu cần, phải giết những tên đặc công gian manh, những tên cán bộ khát máu, những tên đặc công giết người không gớm tay. Nhưng trong hiện vụ, tôi không nghĩ bị can là một tên cộng sản gian manh, một tên cán bộ khát máu, một tên giết người không gớm tay. Và đây là điểm cực kỳ quan trọng: quả mìn hôm ấy đã không nổ “.

Kết luận, tôi yêu cầu tòa khoan hồng. Bị can mới hai mươi mốt tuổi, chưa hề can án, có vợ còn trẻ và con còn nhỏ, vì vậy đáng được hưởng sự khoan hồng của luật pháp.

Sau lời biện hộ của tôi, tòa hỏi hắn: ” Luật sư đã biện hộ cho anh rồi. Anh có quyền nói lời chót. Anh muốn nói gì không? “. Hắn lắc đầu. Tòa ngưng xử, bước vào phòng để nghị án.

Khoảng một giờ sau, tòa trở lại tuyên án: tử hình. Lập tức, hắn bị còng tay mang đi. Lúc đó, đã quá trưa, những đám mây đen từ đâu kéo về bao kín cả một góc trời đã mất ánh sáng. Dân chúng kéo nhau ra về. Tôi xách cặp đi ra xe như người mất hồn. Khi lái xe qua cổng tòa án, tôi thấy vợ hắn ôm con ngồi khóc. Tôi về văn phòng, viết đơn xin ân xá cho hắn. Đây chỉ là thủ tục tòa án, nhưng tôi đã làm với tất cả sự cẩn trọng của một lễ nghi tôn giáo. Tôi muốn cứu hắn khỏi chết. Vì nhân đạo. Vì nghề nghiệp. Và cũng vì trường hợp cá biệt của hắn.

Hắn khác Nguyễn Văn Trỗi. Nguyễn Văn Trỗi khóc lóc van xin trước tòa, và sau khi bị tòa lên án tử hình, Trỗi đã hô lớn ” Hồ Chí Minh muôn năm “. Hô xong lại khóc, lại van xin. Còn hắn, hắn nín thinh. Không khóc lóc, không van xin, không hô khẩu hiệu.

Hắn khác Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Thọ huênh hoang và cao ngạo trước tòa. Hắn chịu đựng, nhẫn nhục, đến độ gần như khắc kỷ. Tôi nghĩ đến con chó sói trong bài thơ ” La Mort du Loup ” của thi hào Vigny.

Ba tháng đã trôi qua. Bức thư của tòa án Mặt Trận mà trung sĩ Ân đưa cho tôi chiều hôm nay chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy: ” Trân trọng báo để luật sư tường: đơn xin ân xá của Trần Văn Đang đã bị bác. Ngày mai, hồi 5 giờ sáng, bản án tử hình sẽ được thi hành. Nếu luật sư muốn hiện diện nơi hành quyết, thì xin có mặt tại khám Chí Hòa vào lúc 4 giờ sáng. Trân trọng “.

Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ, đầu óc lởn vởn khuôn mặt của hắn, và hình ảnh của hắn ngồi trong hành lang tòa án, một tay để lên vai vợ, một tay sờ lên mình đứa con. Chưa đầy 3 giờ sáng, tôi đã thức dậy, đi vào khám Chí Hòa. Tôi bước vào phòng đợi, đã thấy một nhà sư gầy gò mặc nâu sòng đang ngồi lần chuỗi hạt.

Viên quản đốc nhà lao cho tôi biết: nhà sư đã đến trước tôi cả nửa giờ. Lát sau, một linh mục béo tốt bước vào, trong bộ quân phục thiếu tá tuyên úy. Bốn giờ ba mươi phút, ủy viên chính phủ đến. Rồi đoàn người, gồm viên quản đốc nhà lao, ủy viên chính phủ, luật sư, và hai vị tuyên úy, lặng lẽ đi vào một căn phòng rộng. Thường nhật, đây là chỗ điểm danh tội nhân. Hắn đã ngồi đó từ bao giờ, bên cạnh cái bọc quần áo. Ánh sáng vàng bệch của ngọn đèn cáu bụi trên trần nhà phả xuống bốn bức tường trắng xóa.

Tôi chợt có ý nghĩ kỳ lạ là đang bước vào căn nhà xác của bệnh viện. Đoàn người tiến lại gần hắn. Hắn đứng dậy, đôi mắt như dò hỏi. Một phút im lặng, dài như một ngày. Đại tá ủy viên chính phủ trịnh trọng nói với hắn: ” Anh hãy cam đảm lên, và nghe tôi đọc “.

Rồi ông lớn tiếng đọc bản án tử hình và bản quyết định bác đơn xin ân xá của hắn. Hắn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà, đôi mắt mở to. Người hắn run lên. Nhưng chỉ giây lát, hắn lấy lại bình tĩnh. Hắn hỏi: ” Bao giờ người ta xử tôi? “. Viên quản đốc nhà lao để tay lên vai hắn: ” Ngay sáng hôm nay, trước khi mặt trời mọc “. Rồi ông thân mật nói với hắn: ” Bây giờ em muốn ăn uống gì không, khám đường sẽ chu tất cho em ? “. Hắn lắc đầu.

Lúc đó, không ai bảo ai, mỗi người nói với hắn một vài câu an ủi. Không khí trở nên thân mật và âu yếm như trong một cuộc tiễn đưa. Riêng tôi chỉ nhìn hắn, tôi muốn nói chuyện riêng với hắn; đó là quyền của tôi, quyền của luật sư biện hộ. Ủy viên chính phủ đồng ý, và cho tôi biết: tôi có 5 phút. Rồi đoàn người bước ra khỏi phòng, để một mình tôi với hắn. Người cuối cùng đã bước ra khỏi phòng. Hắn nắm lấy tay tôi, và nhìn tôi rất lâu, đôi mắt ướt sũng. Tôi hỏi: ” Em có muốn nói nhắn với vợ em điều gì không? “.

Hắn suy nghĩ giây lát, rồi nói: ” Em bị chúng nó lừa. Luật sư có gặp vợ em, thì bảo đừng ở dưới vườn nữa, và nuôi lấy con “. Tôi hỏi: ” Em chết, có điều gì oán hận không? “. Hắn không trả lời. Tôi an ủi hắn: ” Người ta, ai cũng phải chết một lần, đời sau mới là quan hệ. Em theo đạo nào? “. Tôi là người Công giáo. Tôi ước ao hắn dành một vài phút để nghĩ đến Thượng Đế và tình thương bao la của Người.

Nhưng ủy viên chính phủ đã bước vào nói nhỏ: ” Luật sư hết giờ rồi “. Rồi ông thân mật hỏi hắn: ” Ở đây có hai vị tuyên úy em muốn nói chuyện với ai? “. Hắn nhìn nhà sư mặc áo tu hành, hắn nhìn vị linh mục mặc quân phục thiếu tá, rồi xin được nói chuyện với nhà sư.

Tôi cúi đầu theo ủy viên chính phủ và vị linh mục đi ra một góc phòng. Nhìn về phía hắn, tôi thấy nhà sư cúi đầu tụng kinh, và hắn cũng cúi đầu như lắng tai nghe kinh. Khoảng khắc, nhà sư ngẩng đầu lên, đặt tay lên vai hắn, trong một cử chỉ vỗ về bao dung. Lúc đó, đồng hồ trên tường chỉ đúng 5 giờ sáng, giờ khởi hành. Người ta xúm lại chung quanh hắn, mỗi người nói với hắn một câu chân tình.

Hắn như chợt nhớ ra, xin phép được thay quần áo. Một cảnh sát viên chạy lại cầm cái bọc quần áo đưa cho hắn. Hắn mở bọc, lấy ra một chiếc sơ mi cụt mầu xám, và một chiếc quần vải dragon đen đã bạc mầu.

Thay xong quần áo, hắn xin một điếu thuốc. Viên quản đốc nhà lao mỉm cười, rút trong túi ra một bao thuốc lá Ách Chuồn. Ông ta trịnh trọng lấy ra một điếu, dộng dộng trên ngón tay cái, rồi đưa cho hắn. Hắn ngậm điếu thuốc, và được viên quản đốc châm lửa. Lúc đó, nhân viên an ninh đến. Hắn ngoan ngoãn đưa hai tay chụm ra đằng trước để người ta còng.

Rồi đoàn người lặng lẽ đi ra. Hắn đi đầu, thản nhiên bước qua từng đợt cửa, thỉnh thoảng dùng hai tay còng đưa điếu thuốc lên môi. Khi đoàn người ra tới sân nhà lao, điếu thuốc gần lụi, và hắn buông rơi xuống đất. Hắn bước lên chiếc xe bít bùng, đầu hơi cúi xuống. Cửa xe đóng sập lại. Tôi lên xe riêng, lái thật nhanh ra khỏi nhà lao.

Chiếc xe của tôi lầm lũi đi trong đêm, ánh đèn pha chiếu dài cả con đường Hòa Hưng, rồi đường Lê Văn Duyệt. Thành phố Sài Gòn đang trở mình thức giấc, một vài gánh hàng đi nép bên lề đường. Và đó đây, có tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc xe Lam dậy sớm.

Tới bùng binh chợ Bến Thành, tôi đã thấy một đám đông bu quanh vùng ánh sáng của pháp trường cát. Những phóng viên ngoại quốc chạy nhốn nháo, với máy ảnh và máy quay phim. Cảnh sát chận xe tôi lại. Khi nhìn thấy chiếc áo đen của tôi, họ dẹp đám đông cho xe tôi tiến vào. Tôi đỗ xe sát chân tường Nha Hỏa Xa, cách pháp trường cát độ 30 thước. Những ngọn đèn pha cực mạnh đã được đặt tại đó chiều hôm trước. Tất cả đều chiếu vào pháp trường cát, tạo nên một vùng ánh sáng rợn người. Một chiếc cọc đen đứng cô đơn, đằng sau là những bao cát chất thành vòng cung. Cách đó 3 thước, là chiếc quan tài đậy nắp, trên nắp có một tấm vải trắng. Xa nữa là chiếc xe chữa lửa.

Tôi đứng trong vòng ánh sáng chưa được 10 phút thì nghe tiếng còi hụ. Người ta chạy nhốn nháo. Tôi háy mắt nhìn về phía tiếng còi hụ, thì thấy đoàn xe chở tội nhân đang tiến tới. Chiếc xe bít bùng đỗ lại bên lề đường. Lát sau hắn bước xuống khỏi xe. Tôi vội choàng lên người chiếc áo đen, chạy ra với hắn. Hắn và tôi đi đầu, theo sau là đoàn áp giải. Hắn bước đều đều, mặt cúi xuống đất. Dân chúng bu nghẹt chung quanh, chỉ chừa một lối đi được ngăn giữ bằng hàng rào an ninh. Bây giờ chúng tôi đã bước vào vùng ánh sáng.

Hắn bỗng ngửng đầu lên, và đứng khựng lại. Người lính đằng sau lấy tay đẩy nhẹ vào lưng hắn, hắn lại tiếp tục bước đi. Tôi đoán chiếc quan tài và chiếc khăn liệm đã làm hắn khựng lại. Hình ảnh trung thực của chiến tranh không được tìm thấy ở chiến trường ” da ngựa bọc thây “, mà được tìm thấy trong các bệnh viện, nơi đó có những hình hài cụt chân cụt tay, những đống thịt bầy nhầy, những hố mắt sâu thẳm, những cuốn băng bê bết máu, và những tiếng rên rỉ đau đớn. Và hình ảnh trung thực của cái chết vẫn là chiếc quan tài, tấm khăn liệm và những người thân yêu tiễn đưa.

Bây giờ, hắn và tôi đã bước vào trong vòng những bao cát. Người ta mở còng, rồi giữ ghì lấy hai cánh tay hắn, đẩy hắn dựa lưng vào chiếc cọc sắt. Hai cổ chân hắn bị cột chặt vào thân cọc, hai cánh tay hắn bị kéo ngược ra đằng sau, cột ngược vào một cái cọc ngang. Chiếc cọc ngang này hơi cao, hắn phải kiễng chân lên. Hắn nhăn mặt kêu đau. Tôi nói với viên sĩ quan: ” Đằng nào tội nhân cũng sắp chết, ông nên cho hạ thấp chiếc cọc ngang xuống, kẻo máu bị ngừng ở nơi nách, tội nghiệp”. Viên sĩ quan gật đầu, hạ thấp chiếc cọc ngang xuống.

Hắn nhìn tôi, và lần đầu tiên hắn nói: “Cám ơn luật sư “. Lúc đó, đội hành quyết đã sắp hàng chỉnh tề, chỉ còn đợi sĩ quan Quân Trấn Trưởng của Quân khu Sài Gòn đến là khởi sự. Một phút, hai phút, rồi ba phút… Cả pháp trường im lặng, trong sự đợi chờ và trong ánh sáng chói chang.

Chỉ còn mình tôi đứng bên cạnh hắn. Hắn bỗng trăn trối: “Em đã bị chúng nó lừa. Luật sư nhớ bảo vợ em đừng ở dưới vườn, đừng nghe theo chúng nó và gắng nuôi con“. Tôi gật đầu. Hắn nấc lên: ” Con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi “. Tiếng nấc của hắn làm tôi mủi lòng.

Tôi để tay lên vai hắn, định an ủi, nhưng cổ họng bị tắc nghẽn. Tôi chợt nghĩ đến linh hồn hắn. Tôi thì thầm bên tai hắn: ” Em hãy ăn năn hối cải, và cầu xin Chúa giúp em chết lành. Em chết, nhớ phù hộ cho vợ con em “. Hắn lại nấc lên: ” Con ơi, con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi “. Lúc đó, có tiếng còi hụ. Quân Trấn Trưởng đến. Đội hành quyết đứng nghiêm.

Người ta bịt mắt hắn. Hắn vẫn nấc, vẫn gọi tên con. Có tiếng lên đạn đàng sau lưng tôi. Ủy viên chính phủ nói lớn: ” Xin ông luật sư đứng tránh xa ra một bên “. Tôi đi giật lùi ngang về phía bên trái, mắt không rời hắn. Miệng hắn vẫn lắp bắp gọi tên con. Một tiếng hô. Một loịat đạn nổ. Đầu hắn ngoẹo xuống, gục về bên trái. Máu từ trong người hắn chảy róc xuống đùi, xuống chân, rồi bò ngoằn ngoèo trên lề đường.

Viên đội trưởng hành quyết tiến lại, nắm tóc kéo ngược đầu hắn về phía sau, dí khẩu súng lục vào màng tang bên trái của hắn, bắn phát súng ân huệ. Một tiếng ” đẹt ” khô khan. Người ta vội vàng liệm xác hắn, và chiếc vòi nước của chiếc xe chữa lửa vội vã phụt sạch những vết máu trên lề đường. Phương Đông, chân trời đã bắt đầu hừng đỏ.

Tối hôm đó, đài phát thanh Hà Nội mặc niệm hắn, hết lời ca tụng cái chết anh hùng của hắn. Đài phát thanh Hà Nội nói rõ ràng: từ lúc bị trói vào cọc cho đến lúc bị hành quyết, hắn đã noi gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, không ngớt đả đảo Mỹ Ngụy và hô to khẩu hiệu ” Hồ Chí Minh muôn năm “.

Nguyễn Văn Chức

Chú thích (của luật sư Nguyễn Văn Chức):

Dưới đây là những chi tiết liên quan đến vụ Trần Văn Đang. Bị can sinh năm 1942 tại Vĩnh Long, bị bắt ngày 30 tháng 3 năm 1965 trong khi đặt chất nổ, bị đem ra tòa án Mặt Trận hai tuần sau, và bị bắn tại pháp trường cát bùng binh chợ Bến Thành sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965.

Chánh thẩm xử án là đại tá Phan Đình Thứ (tức Lam Sơn), linh mục tuyên úy Công giáo tên Thông, nhà sư tuyên úy Phật giáo là đại đức Sĩ. Quân Trấn Trưởng là đại tá Giám.

Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ngày 9 tháng 5 năm 1964, trong lúc đặt bom ở gầm cầu Công Lý, chờ ám sát phái đoàn của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mc Namara. Y bị toà án Vùng 3 Chiến Thuật xử tử hình. Trước toà, y khóc lóc, chửi bọn xúi y đi ôm bom là bọn ” chó đẻ “, và xin toà tha tội. Khi toà tuyên án tử hình, y hô to Hồ Chí Minh muôn năm. Hô xong y lại khóc và xin toà tha.

****Năm 1993, tôi (luật sư Nguyễn Văn Chức) có đọc cuốn ” Chung Một Bóng Cờ ” do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia (Hà Nội) ấn hành, gồm những bài viết của Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng… Cuốn sách đã dành một trang để nói về cái chết của Anh Hùng Trần Văn Đang. Xin trích một vài dòng cuối:

“Sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965 lúc 5 giờ 52 phút, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đem anh ra xử bắn tại pháp trường cát, với hy vọng có thể khủng bố được tinh thần nhân dân Sài Gòn. Nhưng chúng đã lầm. Trước đông đảo đồng bào và phóng viên trong và ngoài nước đang tụ tập dọc đường Hàm Nghi và chợ Bến Thành, vừa bước xuống xe, Trần Văn Đang dõng dạc nói lớn: Hỡi đồng bào chợ Bến Thành, hỡi đồng bào Sài Gòn thân yêu, tôi là Trần Văn Đang đây, chiến sĩ giải phóng, tôi đánh Mỹ để giải phóng dân tộc… Đả đảo đế quốc Mỹ… đả đảo tập đoàn tay sai bán nước. Ngay sau khi súng đã nổ, anh vẫn không ngừng hô to Hồ chủ tịch muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ ” (trích trong Chung Một Bóng Cờ, trang 886-887).

phamthangvu  (
Đăng trên website: khaiphong.org
____.
Tiết lộ của Trần Văn Đang cho thấy sự gia nhập vào hoạt động khủng bố kiểu cộng sản của anh 1960s cũng không khác gì với sự gia nhập vào Bọn khủng bố ISIS thời nay:
__

Sự thật ‘té ngửa’ về các tân binh IS

03:00 | 17/08/2016

Một loạt tài liệu về Nhà nước Hồi giáo (IS) vừa rò rỉ cho thấy, hầu hết các tân binh của tổ chức khủng bố này không hề biết đến đạo Hồi hay luật Sharriah.

Hàng nghìn tài liệu đã hé mở sự thật về hơn 4.000 người tìm đường vào Syria để đầu quân cho IS.

IS, Nhà nước Hồi giáo, Hồi giáo, tân binh, sự thật
Một nghi phạm IS bị đưa ra tòa ở Phần Lan ngày 11/12/2015. (Ảnh: AP)

Những tài liệu này – được hãng tin AP tiến hành phân tích – cho thấy khoảng 70% số tân binh IS hiểu “thấp tận đáy” về luật Shariah, trong khi 24% biết “vừa vừa” và chỉ 5% hiểu “sâu”.

Theo AP, tài liệu rò rỉ cho thấy những người có kiến thức hạn hẹp về đức tin Hồi giáo thường dễ bị tổn thương và nghe theo lời dụ dỗ của kẻ tuyển dụng IS. Họ đông hơn nhiều so với những thành phần hiểu sâu và “rõ ngọn nguồn” về đạo Hồi.

Giả thuyết này được củng cố không chỉ bởi các tài liệu rò rỉ mà AP có được, mà còn trong cả những lời khai của các tân binh IS đào tẩu khỏi tổ chức tàn ác này.

“Tôi nhận ra mình đã đến không đúng nơi khi chúng hỏi tôi các kiểu như “khi bạn chết thì chúng ta sẽ gọi ai?” – một người châu Âu 32 tuổi kể lại. Anh này cho biết, bản thân cứ nghĩ mình đang gia nhập quân nổi dậy Syria chống lại Tổng thống Bashar al-Assad.

Chiến binh IS giấu tên còn kể lại quá trình bị “tẩy não” bởi các video tuyên truyền, các chuyến ghé thăm của các imam (lãnh tụ đạo Hồi) khuyến khích tử vì đạo, bị ép phải cắt đứt quan hệ với gia đình và phải từ bỏ tất cả các thiết bị điện tử của mình.

Trong số các tài liệu bị rò rỉ còn nhắc đến một trong những tân binh, tên là Karim Mohammad-Aggad. Người này được xác định có kiến thức cơ bản về luật Shariah và được một tân binh IS “thủ thỉ rủ rê”.

Sau khi đến Syria, nhận ra mọi thứ không “như mơ” và bị đối xử như một “kẻ bội giáo”, Karim đã đào tẩu khỏi IS và trở về Pháp năm 2013. Người đàn ông này cùng nhiều đồng phạm đã bị bắt giữ.

Tuy nhiên, các nhà chức trách Pháp đã bỏ sót một nghi phạm chính. Đó là anh trai của Karim, một trong 3 kẻ đã tấn công Bataclan ngày 13/11 năm ngoái làm 130 người chết.

Thanh Hảo

http://m.vietnamnet.vn/vn/the-gioi/321441/su-that-te-ngua-ve-cac-tan-binh-is.html

Posted in Công An, Luật Pháp | Leave a Comment »