Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 5th, 2016

►Cựu Bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh Hà Tỉnh, Võ Kim Cự cho Formosa của Tàu thuê 3300 mẫu đất, trong 70 năm, giá 96 tỷ đồng VN- dưới sự chuẩn thuận của cựu TT Nguyễn Tấn Dũng

Posted by hoangtran204 trên 05/07/2016

Ông Võ Kim Cự chỉ nói 3 câu khi bị chất vấn về việc cấp phép đầu tư 70 năm cho Fomorsa

 

04/07/2016

Về việc cấp phép đầu tư 70 năm cho Formosa, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh cho biết, Thủ tướng đã có kết luận và không sai.

Tại họp báo chính phủ mới đây, Người phát ngôn Chính phủ, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng chính thức thông báo:

Sau quá trình làm việc cẩn trọng, khoa học, khách quan, bài bản, ngày 28/6/2016, Formosa Hà Tĩnh đã thừa nhận trách nhiệm gây ra sự cố môi trường trên làm cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung, gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

Liên quan đến thông tin này, trao đổi với chúng tôi vào sáng nay (4/7), ông Võ Kim Cự, hiện là Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh (đến tháng 10/2015) cho biết, kết luận của các cơ quan chức năng đã rất rõ ràng, ông không có ý kiến gì.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ công bố vào tháng 3/2015, dự án nhà máy Formosa được Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng (nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh) cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là vượt quá thẩm quyền, có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Về thông tin này, ông Võ Kim Cự nêu rõ: “Không, Thủ tướng kết luận rồi, đồng chí xem lại hồ sơ, Thủ tướng có văn bản kết luận rồi. Đúng thôi. Trước đây, Thanh tra làm 2 – 3 đợt“.

Ông Cự cũng cho biết đang bận họp nên không thể trả lời thêm các thông tin có liên quan.

.

Ông Võ Kim Cự (áo xanh, thứ 2 từ trái sang, hàng trước) khi còn là Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh đang kiểm tra dự án Formosa. Ảnh: Báo Hà Tĩnh.

Trước đó, tại buổi công bố kết luận Thanh tra của Thanh tra Chính phủ về dự án Formosa, theo Thanh tra Chính phủ, căn cứ Điều 52, luật Đầu tư năm 2005, thời gian hoạt động của dự án có vốn đầu tư nước ngoài phải phù hợp với yêu cầu hoạt động của dự án và không quá 50 năm.

Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với dự án nhưng không được quá 70 năm.

Đối chiếu với hồ sơ tại thời điểm thanh tra, theo Thanh tra Chính phủ, Chính phủ chưa có ý kiến cho phép thời hạn hoạt động của dự án trên 50 năm.

Đáng chú ý, đây là dự án FDI nằm trong khu vực khá nhạy cảm (cảng biển khu vực liên quan đến an ninh quốc phòng) nên cần phải được xác định rõ để tạo ra sự đồng thuận cũng như trong quá trình triển khai và quản lý hoạt động dự án sau đầu tư.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Võ Kim Cự, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, thừa nhận việc Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là không phù hợp.

UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản báo cáo giải trình Thủ tướng Chính phủ và Thanh tra Chính phủ.

“Sau khi xem xét báo cáo và giải trình của tỉnh Hà Tĩnh, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép tiếp tục giữ nguyên quy định thời hạn là 70 năm trong giấy chứng nhận đầu tư đã cấp cho dự án”, ông Cự, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh nói.

Trong kết luật thanh tra lúc đó, Thanh tra Chính phủ cũng nêu rõ, Hà Tĩnh đã mắc một số khuyết điểm trong việc quy hoạch, chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra thực hiện tiến độ dự án tại “dự án cấp thoát nước cho khu kinh tế Vũng Áng”.

Ngoài ra, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ, tại một số dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt và việc quản lý, sử dụng đất đai ở một số dự án đầu tư khác trên địa bàn, Hà Tĩnh cũng mắc phải một số hạn chế, thiếu sót trong công tác bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng.

Liên quan đến những nội dung này, ông Võ Kim Cự và các lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã thừa nhận kết luận của Thanh tra Chính phủ là khách quan và cam kết sẽ nghiêm túc tiếp thu, khắc phục, chấn chỉnh những sai phạm.

Ông Cự cho biết: “Có cái đã xử lý, có cái đang xử lý và sẽ xử lý một cách nghiêm túc những khuyết điểm trên”.

Người được coi là đã có dấu ấn rất lớn trong quá trình triển khai xây dựng khu kinh tế Vũng Áng cũng như tổ hợp của Formosa chính là ông Võ Kim Cự. Ông từng là Trưởng ban Quản lý khu kinh tế Vũng Áng, sau đó là Chủ tịch UBND tỉnh rồi Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh

Trong “đại chiến dịch” giải phóng mặt bằng cho dự án khu liên hợp Formosa, rất nhiều câu chuyện thú vị và cả kịch tính đã được các cấp lãnh đạo Hà Tĩnh, trong đó có hình ảnh ông Cự, khi đó là Chủ tịch UBND tỉnh thường xuyên có mặt trong những điểm nóng để chỉ đạo trực tiếp.

Sau này, như chính thừa nhận của một đại diện Formosa, nếu không có cách vào cuộc quyết liệt của các cấp lãnh đạo, việc giải phóng mặt bằng khó lòng đạt được kết quả như kỳ vọng.

Theo Hoàng Đan
Trí thức trẻ/Sohanews

Hà Tĩnh cấp phép đầu tư 70 năm cho Formosa khi chưa được Chính phủ đồng ý

25/03/2015 Thanh Niên Online

Đó là một trong những nội dung kết luận của Thanh tra Chính phủ về việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý, sử dụng đất đai đối với một số dự án tại Hà Tĩnh vào chiều 25-3-2016.

Hà Tĩnh cấp phép đầu tư 70 năm cho Formosa khi chưa được Chính phủ đồng ý - ảnh 1

Ông Võ Kim Cự, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nói rằng Hà Tĩnh nghiêm túc tiếp thu, khắc phục những sai phạm trong kết luận của Thanh tra Chính phủ – Ảnh: Nguyên Dũng

Kết luận của Thanh tra Chính phủ nêu rõ, dự án đầu tư và xây dựng Nhà máy liên hợp luyện gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương (dự án Formosa) do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Đài Loan làm chủ đầu tư, đã được Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng (nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh) cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là vượt quá thẩm quyền, có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Theo Thanh tra Chính phủ, căn cứ Điều 52, luật Đầu tư năm 2005, thời gian hoạt động của dự án có vốn đầu tư nước ngoài phải phù hợp với yêu cầu hoạt động của dự án và không quá 50 năm. Trong trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với dự án nhưng không được quá 70 năm.
Đối chiếu với hồ sơ tại thời điểm thanh tra, theo Thanh tra Chính phủ, Chính phủ chưa có ý kiến cho phép thời hạn hoạt động của dự án trên 50 năm.
Đáng chú ý, đây là dự án FDI nằm trong khu vực khá nhạy cảm (cảng biển khu vực liên quan đến an ninh quốc phòng) nên cần phải được xác định rõ để tạo ra sự đồng thuận cũng như trong quá trình triển khai và quản lý hoạt động dự án sau đầu tư.
Nhung, Phát biểu tại buổi công bố kết luận thanh tra, ông Võ Kim Cự, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, thừa nhận việc Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là không phù hợp. UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản báo cáo giải trình Thủ tướng Chính phủ và Thanh tra Chính phủ.
“Sau khi xem xét báo cáo và giải trình của tỉnh Hà Tĩnh, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép tiếp tục giữ nguyên quy định thời hạn là 70 năm trong giấy chứng nhận đầu tư đã cấp cho dự án”, ông Cự nói.
Trong kết luật thanh tra, Thanh tra Chính phủ cũng nêu rõ, Hà Tĩnh đã mắc một số khuyết điểm trong việc quy hoạch, chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra thực hiện tiến độ dự án tại “dự án cấp thoát nước cho khu kinh tế Vũng Áng”.
Ngoài ra, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ, tại một số dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt và việc quản lý, sử dụng đất đai ở một số dự án đầu tư khác trên địa bàn, Hà Tĩnh cũng mắc phải một số hạn chế, thiếu sót trong công tác bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng.
Liên quan đến những nội dung này, ông Võ Kim Cự và các lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đã thừa nhận kết luận của Thanh tra Chính phủ là khách quan và cam kết sẽ nghiêm túc tiếp thu, khắc phục, chấn chỉnh những sai phạm.
Ông Cự cho biết: “Có cái đã xử lý, có cái đang xử lý và sẽ xử lý một cách nghiêm túc những khuyết điểm trên”.

Nguyên Dũng

_______

Lộ diện người cấp phép đầu tư 70 năm cho Formosa khi chưa được Chính phủ đồng ý: Giờ thì chúng ta hưởng “thành quả”

Giờ thì chúng ta (nói đúng hơn là người dân) đang được nhận “thành quả” mà lãnh đạo Hà Tĩnh để lại đây.

Lộ diện người cấp phép đầu tư 70 năm cho Formosa khi chưa được Chính phủ đồng ý: Giờ thì chúng ta hưởng

Formosa đã cam kết sẽ huy động tối đa nguồn lực, phấn đấu đến năm 2015 sẽ hoàn thành 3 lò cao với công suất 10,5 triệu tấn thép/năm, có 13 cầu cảng đi vào hoạt động và năm 2017 sẽ hoàn chỉnh 32 cầu cảng, đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xuất khẩu thành phẩm của nhà máy gang thép này.

Dự án có tổng diện tích hơn 3.300 ha, bao gồm cả diện tích mặt đất và mặt biển (cảng Sơn Dương), tổng số tiền cho thuê đất, mặt nước trong thời gian 70 năm là khoảng hơn 96 tỉ đồng.

Để phục vụ cho dự án, tỉnh Hà Tĩnh đã phải thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng gần 2.000 ha đất, với gần 3.000 hộ thuộc 9 xã của huyện Kỳ Anh.

Tính đến tháng 12.2014, có tổng cộng khoảng 40.000 lao động đang làm việc tại dự án Formosa, trong đó có gần 7.000 người nước ngoài đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tạm trú, chủ yếu là lao động Trung Quốc với 5.659 người.

Kết luận của Thanh tra Chính phủ nêu rõ, dự án đầu tư và xây dựng Nhà máy liên hợp luyện gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương (dự án Formosa) do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Đài Loan làm chủ đầu tư, đã được Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng (nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh) cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là vượt quá thẩm quyền, có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Phát biểu tại buổi công bố kết luận thanh tra, ông Võ Kim Cự, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, thừa nhận việc Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng cấp phép đầu tư với thời hạn 70 năm khi chưa được Chính phủ đồng ý là không phù hợp. UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản báo cáo giải trình Thủ tướng Chính phủ và Thanh tra Chính phủ.

http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Xa-h…m-cho-formosa-khi-chua-duoc-chinh-phu-dong-y-

_______

Formosa đã đầu tư kinh doanh tại Việt Nam như thế nào

Khu liên hợp sản xuất gang thép của Formosa gây ô nhiễm tại Hà Tĩnh chỉ là một trong số nhiều dự án quy mô lớn mà Tập đoàn Formosa (Đài Loan) đã rót vốn đầu tư tại Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng, điều tra tìm hiểu, kết luận về nguyên nhân gây rà hiện tượng hải sản chết bất thường tại miền Trung vừa được cơ quan chức năng công bố chiều nay (30/6). Theo đó, việc xả thải của nhà máy của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (FHS) tại Khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) được xác định là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, gây ra hiện tượng hải sản chết hàng loạt. Đây không phải lần đầu dự án này gây chú ý sau gần 8 năm triển khai tại Việt Nam.

formosa-da-dau-tu-kinh-doanh-tai-viet-nam-nhu-the-nao

Dự án gang thép Formosa Hà Tĩnh đã trải qua nhiều tai tiếng từ khi được công bố triển khai.

Siêu dự án FDI hàng chục tỷ USD

Năm 2008, Tập đoàn Formosa (Đài Loan, Trung Quốc) công bố việc rót vốn đầu tư dự án tại Khu kinh tế Vũng Áng thông qua việc thành một công ty con – Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa (FHS – Formosa Hà Tĩnh).

Với mô hình sản xuất – xuất khẩu liên hợp, dự án được lên kế hoạch với tổng đầu tư 28,5 tỷ USD (giai đoạn I trên 10,5 tỷ USD) trên diện tích hơn 3.300 ha, bao gồm cả diện tích mặt biển (cảng Sơn Dương), thời gian thuê đất là 70 năm. Khi hoàn thành, công trình dự kiến tạo việc làm cho trên 35.000 lao động.

Dự án tại Hà Tĩnh tập trung vào các hạng mục như nhà máy luyện gang thép, cảng nước sâu có năng lực cập tàu 30.000 tấn, nhà máy nhiệt điện công suất 2.100 MW… Trong đó, riêng quy mô nhà máy thép giai đoạn một đạt trên 7 triệu tấn phôi thép một năm.

Lý do được Formosa đưa ra khi chọn Vũng Áng là vì cảng nước sâu Sơn Dương phù hợp cho mô hình tổ hợp công nghiệp và tỷ suất đầu tư tại đây cũng rẻ hơn nhiều so với các địa điểm khác. Ban đầu Formosa Hà Tĩnh do 9 cổ đông góp vốn, trong đó có 7 cổ đông là các đơn vị thành viên của Formosa Group, nắm gần 95% cổ phần. Ở thời điểm đó và cho tới nay, đây là dự án gang thép, nhiệt điện có vốn đầu tư nước ngoài “khủng” nhất cả nước.

Trước khi tới Hà Tĩnh, tên tuổi của Formosa đã được biết tới tại Việt Nam với nhiều công ty lớn, đáng kể nhất là Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (Formosa Đồng Nai) thành lập năm 2001. Công ty này đã thuê gần hết diện tích 300ha của khu công nghiệp Nhơn Trạch 3 (Đồng Nai) để đầu tư dự án khu liên hợp nhà máy sản xuất sợi, nhuộm, hạt nhựa và nhiệt điện.

Thời điểm đầu những năm 2000, đây là dự án liên hợp đình đám và gây chú ý bởi số vốn mà “ông chủ” người Đài Loan đã rót vào gần một tỷ USD. Năm 2014, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của Formosa Đồng Nai đạt lần lượt là 17.400 tỷ và 13.300 tỷ đồng. Cùng năm, công ty này cũng đạt doanh thu hơn 17.100 tỷ đồng.

Cái tên Formosa tại Việt Nam được biết và nhắc tới nhiều trong lĩnh vực gang thép, nhiệt điện song lĩnh vực chính của tập đoàn này lại là sản xuất nhựa. Doanh nghiệp này do 2 anh em ông Vương Vĩnh Khánh, Vương Vĩnh Tại khởi nghiệp năm 1954 tại Đài Bắc, nhanh chóng phát triển và trở thành một trong những nhà sản xuất nhựa lớn nhất châu Á. Tập đoàn Formosa (Formosa Plastic Group – FPG) được thành lập sau đó ít lâu, nhanh chóng mở rộng quy mô vốn, sản xuất và đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác ngoài ngành nghề kinh doanh chính như thép, điện, chất bán dẫn… trở thành tập đoàn có tiếng tại Đài Loan và khu vực châu Á, với mạng lưới hàng trăm công ty con.

Nổi tiếng nhất trong hệ thống của FPG phải kể tới 4 công ty: Formosa Plastics Corp, Nan Ya Plastics (sản xuất nhựa), Formosa Petrochemical (hóa dầu) và Formosa Chemicals & Fibre (sợi nhựa, vải) với doanh thu hàng năm lên tới hàng trăm triệu USD. Năm 2015 cả 4 công ty con này của FPG đều được Tạp chí Forbes ghi danh trong Top 1.000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới, với giá trị vốn hoá trên thị trường lên tới 70 tỷ USD.

Những ưu đãi trong mơ và yêu cầu chưa có tiền lệ

Do có quy mô đầu tư lớn nên khi Formosa có ý định đầu tư siêu dự án tại Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh đã sớm “gật đầu”. Tỉnh này còn đưa ra nhiều ưu đãi về hạ tầng kỹ thuật, thuế… để “trải thảm đỏ” đón nhà đầu tư ngoại này. Để có đất sạch cho tập đoàn Đài Loan triển khai xây dựng dự án liên hợp gang – thép, Hà Tĩnh đã phải thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng gần 2.000 ha đất với gần 3.000 hộ dân thuộc 9 xã vùng huyện Nam Kỳ Anh.

Về thuế, FHS được hưởng hàng loạt ưu đãi với thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, thuế thuê đất và sử dụng đất… FHS được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo; thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động kinh doanh. Trong quá trình sản xuất, sau khi quyết toán với cơ quan thuế mà bị lỗ, doanh nghiệp được chuyển khoản lỗ sang những năm sau để trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm.

formosa-da-dau-tu-kinh-doanh-tai-viet-nam-nhu-the-nao-1

Dự án đến nay chưa thể đi vào vận hành chính thức, song đã gây ra bê bối lớn về môi trường.

Công ty đồng thời cũng được miễn thuế nhập khẩu trong 5 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất đối với nguyên liệu sản xuất, vật tư, linh kiện và bán thành phẩm phải nhập khẩu do trong nước chưa sản xuất được.

Dự án đầu tư của FHS tại Vũng Áng được xét là dự án xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ chung nên không phải nộp tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất; miễn tiền thuê đất, sử dụng đất đối với đất xây dựng nhà chung cư cho công nhân, người lao động; miễn tiền thuê đất, tiền sử dụng đất 11 năm hoặc 15 năm tùy theo dự án. Thời gian cho thuê đất tối đa là 70 năm. Diện tích cho thuê theo nhu cầu thực tế của dự án. Ngoài ra, FHS cũng được hưởng những chính sách hỗ trợ tối đa của tỉnh Hà Tĩnh về đảm bảo nguồn lao động, chỗ ở cho người lao động… đối với dự án khu liên hợp gang – thép, cảng nước sâu tại Khu kinh tế Vũng Áng.

Có vẻ như với FHS, những siêu ưu đãi nhận được vẫn chưa đủ nên năm 2014, doanh nghiệp này đã có kiến nghị gửi lên Chính phủ về việc thành lập Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng. Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn; miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu… Tuy nhiên, ở thời điểm đó đề xuất này của Formosa đã bị bác bỏ vì không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

Bê bối “để đời”

Đã gần 6 năm trôi qua kể từ khi dự án của FHS tại Vũng Áng, Hà Tĩnh được triển khai xây dựng, nhưng tới giờ dự án này chưa thể đưa vào hoạt động khai thác chính thức hạng mục nào.

Năm 2014, công trình này từng gây nhiều nghi ngại với việc sử dụng hơn 3.000 lao động “chui” người Trung Quốc. Khi cơ quan chức năng kiểm tra, Khu kinh tế Vũng Áng có 6.121 lao động nước ngoài nhưng số lao động được cấp phép chỉ có 3.261 người. Trong số đó, chỉ có 1.400 trên tổng số 4.154 lao động người Trung Quốc được cấp phép.

Kế đến là vụ sập giàn giáo công trường đúc bê tông thùng chìm, dự án đê chắn sóng cảng Sơn Dương hồi tháng 3/2015 làm 13 người chết, 29 người bị thương. Chính quyền Hà Tĩnh sau đó đã có những động thái tích cực, kịp thời hỗ trợ gia đình người bị nạn; vào cuộc điều tra, khởi tố người gây ra tai nạn dẫn tới hậu quả đau lòng.

Hơn một năm sau sự cố sập giàn giáo đau lòng, đầu tháng 6/2016, cái tên Formosa lại được dư luận nhắc tới và vừa phải nhận trách nhiệm vì việc xả thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, khiến hải sản chết hàng loạt ở biển miền Trung thời gian qua.

Tới 25/4/2016, 60 tấn cá chết dạt lên bờ, chủ yếu là cá sống ở tầng đáy.

Sau sự việc này, lãnh đạo Formosa (30/6/2016) đã phải công khai xin lỗi Chính phủ, người dân Việt Nam vì để xảy ra sự cố nêu trên, thực hiện bồi thường thiệt hại kinh tế cho người dân, bồi thường xử lý môi trường biển với số tiền 11.500 tỷ đồng (tương đương 500 triệu USD). Doanh nghiệp cũng phải khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế của hệ thống xử lý chất thải, đảm bảo xử lý triệt để chất thải độc trước khi thải ra môi trường, không để tái diễn sự cố môi trường như vừa qua.

Trước đó, theo dự kiến ngày 25/6 nhà máy thép (lò cao số 1) của FHS tại Vũng Áng, Hà Tĩnh được khánh thành, nhưng sau sự cố nêu trên, lãnh đạo FHS đã thông báo hoãn và chưa xác định thời gian sẽ chính thức đưa nhà máy này đi vào hoạt động…

 

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?

Posted by hoangtran204 trên 05/07/2016

Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?

7-2-2016

(PLO) – Theo Viện Nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR), một số chính sách của ngành lúa gạo như: thu mua tạm trữ, xây dựng kho dự trữ, chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo… được thiết kế chỉ mới hướng tới giải quyết  lợi ích trực tiếp của một chủ thể mà chưa tính toán đến lợi ích toàn cục của ngành này. 

Cải cách chính sách thị trường lúa gạo: Nông dân “đứng” ở đâu?
Người nông dân làm ra hạt lúa chưa được hưởng lợi từ những chính sách lớn của ngành.

Không rõ ràng
Theo Viện VEPR, chính sách thu mua tạm trữ được thực hiện song hành với chính sách đảm bảo người nông dân có lãi ít nhất 30%. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách này không thực sự rõ ràng, thậm chí người nông dân không được hưởng lợi trực tiếp. 
Một nghiên cứu của Viện VEPR chỉ ra, khác với các chính sách thu mua tạm trữ của Thái Lan và Ấn Độ, nơi các doanh nghiệp nhà nước thu mua lúa ở mức giá tối thiểu trực tiếp từ nông dân, ở Việt Nam các doanh nghiệp thu mua lúa gạo tạm trữ từ thương lái. Vì thế, chính sách chỉ mang lại lợi ích gián tiếp cho người nông dân nếu như giá lúa gạo tăng trở lại. 
Ngoài ra, trợ cấp dưới hình thức hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thu mua tạm trữ trong khoảng thời gian 3 tháng thực chất là trợ cấp miễn phí chi phí lưu kho cho doanh nghiệp (bởi bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng phải lưu kho một lượng gạo nhất định). Thêm nữa, doanh nghiệp lại có lựa chọn là có thể bán luôn cả phần lưu kho trong quỹ dự trữ và chấp nhận không hưởng lãi suất. 
TS. Nguyễn Đức Thành, chuyên gia của Viện VEPR cho rằng, với chính sách này, lượng lúa thu mua gia tăng thêm từ chính sách dữ trự, thực chất không nhiều. Giá thu mua vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng ký được hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp. Và đó chính là lý do tại sao trong bốn lần thu mua tạm trữ từ năm 2009 đến năm 2012 thì có đến 2 lần thất bại, giá lúa thu mua tiếp tục giảm thay vì tăng trở lại. 
Để chính sách thu mua tạm trữ mang lại lợi ích cho nông dân, ông Thành đề nghị Chính phủ, thông qua hệ thống kho trữ lúa gạo của các công ty lương thực nhà nước cần thu mua lúa tạm trữ trực tiếp từ nông dân khi giá lúa trên thị trường xuống thấp hơn giá lúa sàn do Ủy ban Lúa gạo công bố. 
“Trong trường hợp hệ thống kho trữ lúa gạo của các công ty lương thực nhà nước chưa sẵn sàng đảm nhận chức năng này, Nhà nước nên cho phép các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp vay tiền theo khối lượng lúa của các xã viên đang tạm trữ được ứng trước một số tiền để đáp ứng cho các nhu cầu cấp bách của nông hộ. Đến khi giá lúa tăng trở lại thì họ sẽ bán lúa và trả tiền tạm ứng của Nhà nước. Số lượng lúa tạm trữ sẽ được hỗ trợ 100% lãi suất cho HTX nông nghiệp”- TS. Thành khuyến nghị.    
Lợi cho lực lượng thu gom
Ngày 4/11/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo.
Theo đó, thương nhân Việt thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. 
Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải đảm bảo ít nhất hai điều kiện cần: Một, có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ tối thiểu 5000 tấn lúa. Hai, sở hữu ít nhất 1 cơ sở xay xát thóc với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ tại tỉnh, thành phố có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển xuất khẩu thóc, gạo. 
Theo chuyên gia Thành, mục tiêu của chính sách này là giảm bớt các đầu mối xuất khẩu (mà nhiều doanh nghiệp chỉ thuần túy môi giới) nhằm tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán. Hậu quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên.
Chính sách này cũng không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân. Vô hình trung tạo ra thêm một tầng lớp giữa nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu. Đó là các doanh nghiệp thu gom cho các doanh nghiệp xuất khẩu. 
Ngoài ra, cũng theo ông Thành, việc tập trung xuất khẩu vào một số ít doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp lớn này có xu hướng tìm các thị trường xuất khẩu các lô lớn các loại gạo chất lượng thấp với giá rẻ, thay vì tìm kiếm xuất khẩu tại các thị trường các loại gạo có chất lượng cao, với giá bán cao hơn.
“Chính sách này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ có liên kết với nông dân để sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, đặc sản địa phương, có thị trường đầu ra ổn định, lợi nhuận cao và tính cạnh tranh cao, nhưng lại không thể trực tiếp xuất khẩu do không đủ điều kiện về kho chứa, hệ thống xay xát, chủ yếu vì quy mô không cho phép sỡ hữu các công đoạn đó”- TS. Thành nêu vấn đề. 
Đại diện Viện VEPR khuyến nghị Chính phủ cần phải đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa Vinafood và các công ty thành viên, công ty lương thực nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản trị của các doanh nghiệp này, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp. Tổ chức lại Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) để đảm bảo hiệp hội phải có đại diện đầy đủ của doanh nghiệp tư nhân, chính quyền địa phương và nông dân trong thương mại lúa gạo./. (Phi Hùng)
——-

@sự sụt giảm sản lượng lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây do tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, đặt ra nguy cơ cho cả Việt Nam và thế giới về an ninh lương thực. Hiện, Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất đến 50% tổng sản lượng lúc gạo của Việt Nam và 70% sản lượng thủy sản của cả nước.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) nêu tại Diễn đàn, hạn hán và xâm nhập mặn năm 2016 đã tác động mạnh tới nông nghiệp và sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Hơn 208.000ha lúa, 9.400ha cây ăn quả bị mất trắng, sản lượng lúa vụ đông xuân toàn vùng giảm gần 1 triệu tấn, sản xuất thủy sản, chăn nuôi gặp khó khăn. Hạn hán đã qua, bắt đầu xuất hiện lo ngại về mưa lớn và lụt lội.  (Nâng cao vị thế của Đồng bằng sông Cửu Long
(30/06/2016)

——–

Nông dân hưởng lợi gì từ thu mua tạm trữ 4 triệu tấn lúa?

27-1-2016

Pháp Luật

Kho chứa 4 triệu tấn chủ yếu làm chức năng trữ gạo cho doanh nghiệp thay vì trữ thóc cho nông dân?
Kho chứa 4 triệu tấn chủ yếu làm chức năng trữ gạo cho doanh nghiệp thay vì trữ thóc cho nông dân?
(PLO) – Hàng loạt ưu đãi của Nhà nước trong chương trình thu mua tạm trữ, kế hoạch xây dựng hệ thống kho chứa 4 triệu tấn lúa, gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long là nhằm tới phòng vệ quyền lợi cho người nông dân, nhưng trên thực tế đối tượng này lại chưa thực sự được hưởng lợi từ chính sách này.
 
Dân bán hết lúa, mua tạm trữ mới triển khai?
Khi nông dân trồng lúa bị thiệt thòi vì giá lúa xuống quá thấp, Chính phủ đã can thiệp trực tiếp vào thị trường thông qua các chương trình thu mua tạm trữ để tránh tình trạng giảm giá lúa quá sâu, nhất là những thời điểm được mùa thu hoạch.

Theo chương trình thu mua tạm trữ, Chính phủ sẽ tiến hành hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ từ khi mua gạo vào đến khi bán ra (khoảng 3-4 tháng). Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ vay vốn ưu đãi với lãi suất tối đa 7%/năm.

Khối lượng thu mua mỗi đợt là khoảng 2 triệu tấn lúa (tương đương 1 triệu tấn gạo), được thực hiện trong khoảng 1 tháng để phục vụ dự trữ quốc gia, tạm trữ lưu thông (ngoài lượng dự trữ lưu thông của doanh nghiệp), phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Ngoài ra, mức giá mà doanh nghiệp thực hiện thu mua không được thấp hơn giá thu mua lúa gạo tối thiểu.

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đức Thành, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), sau nhiều năm tiến hành các chương trình thu mua tạm trữ, hiệu quả chính sách này không rõ ràng.

“Mặc dù chính sách hướng đến hỗ trợ những người trồng lúa nhưng đối tượng được hưởng lợi trực tiếp là doanh nghiệp, tác động đến người sản xuất là gián tiếp, khó định lượng và không phải ai cũng được hưởng lợi.

Phỏng vấn các nông dân ở huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ cho thấy họ có nghe nói đến chương trình thu mua tạm trữ của Chính phủ, nhưng khi họ thu hoạch xong và bán lúa rồi mới thấy triển khai và không thấy ai đến thu mua theo chương trình này cả”- ông Thành cho biết.

Không dành cho nông dân?
Ngoài chính sách thu mua tạm trữ, chính sách đi kèm với nó là xây dựng hệ thống kho chứa lúa, gạo cũng gây tranh cãi về quyền lợi người nông dân không được đảm bảo.

Tìm hiểu của PLVN, đầu năm 2009, để tránh áp lực khi nông dân trồng lúa bị thiệt thòi vì giá lúa xuống quá thấp, để thực hiện hiệu quả chính sách thu mua tạm trữ, Chính phủ cũng chính thức phê duyệt kế hoạch xây dựng hệ thống kho chứa 4 triệu tấn lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Trong đó kho cũ có trữ lượng 1,5 triệu tấn và cần phải xây thêm 2,5 triệu tấn kho chứa mới.

Theo TS. Thành, để đạt được mục tiêu này, Chính phủ thực hiện hai giải pháp. Thứ nhất, thiết lập điều kiện đối với doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải có 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5000 tấn lúa và có ít nhất 1 cơ sở xay xát lúa, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn lúa/giờ.

Thứ hai là, Chính phủ thực hiện việc hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp đầu tư vào kho chứa như miễn tiền thuê đất (theo Quyết định số 57 ngày 17/9/2010), hỗ trợ 20% kinh phí giải phóng mặt bằng, 30% kinh phí hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu đi vào hoạt động và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo.

Theo TS. Thành, về cơ bản mục tiêu này đã hoàn thành vượt mức nếu xét theo mục tiêu kho chứa cả lúa và gạo. Tuy nhiên, thống kê cho thấy đến năm 2013, hệ thống kho chứa của ĐBSCL vẫn chủ yếu là kho trữ gạo thay vì trữ lúa.

Cụ thể, tích lượng kho chứa lúa gạo cả nước đã đạt 5,38 triệu tấn. Trong đó, tích lượng kho chứa gạo chiếm phần áp đảo với 4,36 triệu tấn, tích lượng kho chứa lứa chỉ ở mức khiêm tốn 1,02 triệu tấn.

“Điều này hàm ý rằng các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu gạo là tác nhân được hưởng lợi lớn nhất từ chính sách ưu đãi của Chính phủ, trong khi nông dân vẫn chưa thực sự được hưởng lợi từ chính sách này. Nông dân đa phần vẫn phải bán lúa trực tiếp cho thương lái ngay sau thu hoạch dẫn đến bị chèn ép giá cả trong giao thương”- chuyên gia Thành phân tích.

Trong nghiên cứu “Thị trường lúa gạo Việt Nam cải cách để hội nhập: Cách tiếp cận cấu trúc thị trường”, Viện VEPR cho rằng, để chính sách xây dựng hệ thống kho tạm trữ lúa, gạo thực sự mang lại lợi ích cho người nông dân, Chính phủ chỉ nên hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp xây dựng kho trữ lúa có các hợp đồng liên kết với một số lượng hộ nông dân nhất định.

Theo đó các hộ nông dân có quyền tạm trữ lúa của mình tại kho của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định thay vì phải bán ngay.

Ngoài ra, Chính phủ cũng nên có chính sách hỗ trợ lãi suất cho các hợp tác xã nông nghiệp có nhu cầu vay tiền để xây kho lưu trữ thóc tạm trữ cho các xã viên của mình. Theo đó, chính sách này sẽ kết hợp với chính sách thu mua tạm trữ trong thời gian giá lúa giảm xuống dưới mức giá lúa sàn do Ủy ban Giá lúa gạo công bố.
Hệ thống kho chứa 4 triệu tấn được xây dựng tại 52 địa điểm thuộc 13 tỉnh, thành phố, trong đó hệ thống kho tại các tỉnh: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang chiếm 70% sức chứa; 30% còn lại là hệ thống kho thuộc các tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và TP Hồ Chí Minh. (Phi Hùng)

________

Sản xuất lúa gạo: Tối ưu, không tối đa

4-7-2016

Vấn đề đặt ra từ nhiều năm nay trong sản xuất gạo không phải là tối đa sản lượng mà là tối ưu trong sản xuất. Quốc hội vừa quyết định điều chỉnh giảm diện tích đất trồng lúa giai đoạn 2016-2020, từ 3,812 triệu hécta xuống còn 3,76 triệu hécta, giảm hơn 52.000 hécta, trong đó, đất chuyên trồng lúa nước giảm gần 93.000 hécta cũng nằm trong dòng suy nghĩ này. Trong số 3,76 triệu hécta đất trồng lúa được giữ lại, có khoảng 400.000 hécta được quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng…

Một báo cáo tổng kết của Cục Trồng trọt cho biết, năm 2016 sẽ có 30.0000 hécta trồng lúa chuyển sang cây trồng khác, và do đó, sản lượng lúa cả năm 2016 dự kiến vào khoảng 45,19 triệu tấn, giảm 70.000 tấn so với năm 2015

 

Giải pháp gỡ khó cho xuất khẩu lúa gạo
 

Giải pháp gỡ khó cho xuất khẩu lúa gạo

Sau một thời gian dài tận dụng lợi thế cạnh tranh cũng như dựa vào một vài thị trường chủ lực, hiện nay xuất khẩu gạo của Việt Nam đang ở mức báo động.

Số liệu do các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp cho thấy giá chào bán gạo xuất khẩu của chúng ta hiện chỉ còn từ 355 đến 365 USD/tấn với loại gạo 5% tấm.

Mức giá này thấp hơn 15 USD/tấn so với gạo Ấn Độ, 25 USD/tấn so với gạo Pakistan và 40 USD/tấn so với gạo của Thái Lan. Đây cũng là mức giá bán thấp nhất trong vòng năm năm qua của gạo Việt Nam.

Dù giá thấp như vậy nhưng vẫn rất ít giao dịch được thực hiện trong thời gian qua, trong khi các doanh nghiệp đã tồn kho khá lớn do mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo (tương đương 2 triệu tấn lúa) theo chủ trương của Chính phủ, chưa kể đến lượng gạo doanh nghiệp tự mua để kinh doanh.

Theo dự kiến, vài tháng tới áp lực tiêu thụ gạo vào thời điểm cuối năm càng thêm khó khăn.

Mất dần thị trường

Ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho biết áp lực về bán hàng hiện nay là rất lớn vì các doanh nghiệp thiếu những hợp đồng xuất khẩu. Dù giá gạo toàn cầu đang suy giảm đáng kể do cung đã vượt cầu, nhưng việc giá gạo của chúng ta giảm mạnh và xuống mức thấp nhất thế giới là điều rất đáng lo.

Xuất khẩu gạo của chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường chính, nay các thị trường này thay đổi cách thức nhập khẩu gạo hay giảm nhập khẩu là gạo Việt Nam có vấn đề. Trong tình hình như vậy thì hoạt động tiếp thị của chúng ta quá kém.

Từ vài ba năm trở lại đây, Việt Nam chủ yếu bán gạo cho các thị trường châu Á gồm Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, trong khi việc mở rộng thị trường mới diễn ra rất chậm. Trong khi Trung Quốc – thị trường tiêu thụ 40 – 50% tổng lượng gạo xuất khẩu năm vừa qua của chúng ta – chưa mở cửa cho gạo Việt Nam thì khó khăn lại chồng chất.

Không những vậy, trước đây Việt Nam có thị phần lớn ở châu Phi thường tiêu thụ gạo chất lượng thấp, vậy mà nay chúng ta cũng không cạnh tranh nổi với gạo cùng chủng loại của Ấn Độ và Pakistan.

Theo VFA, từ đầu năm đến giữa tháng 4/2015, chúng ta mới chỉ xuất khẩu được 1.144 triệu tấn gạo các loại với giá trị 472,8 triệu USD, thấp nhất trong sáu nước xuất khẩu gạo hàng đầu châu Á và cũng là mức xuất khẩu thấp nhất của gạo Việt Nam trong cùng khoảng thời gian tính từ năm 2008 đến nay.

Hiện Việt Nam đã mất vị trí nhà xuất khẩu lớn thứ ba thế giới vào tay Pakistan, chỉ đứng trên Myanmar và Campuchia. Một điều mà chúng ta không ngờ đã xảy ra là Pakistan, sau khi cùng Ấn Độ và Thái Lan chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam tại châu Phi, vừa vươn tay đến Philippines. Với cách tiếp cận thị trường năng động, rất có thể họ sẽ đạt được các thỏa thuận cung cấp gạo, đồng nghĩa với việc chúng ta bị đánh bật ra khỏi thị trường này.

Chưa hết, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar và Campuchia cũng đang tích cực tiếp xúc với các thị trường chính còn lại của Việt Nam.

Không có thương hiệu, không đa dạng hóa thị trường chính là hai điểm yếu kém cơ bản của gạo Việt Nam. Đây cũng là câu chuyện cũ kể từ khi chúng ta tham gia vào thị trường gạo mà đến nay vẫn chưa khắc phục được.

Chất lượng gạo thấp

Giá gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế thấp, tất nhiên sẽ tác động trực tiếp tới giá mua tạm trữ hằng năm. Ở nước ta, Tổng công ty Lương thực là doanh nghiệp Nhà nước chi phối hoạt động kinh doanh lúa gạo mà nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực qua việc mua dự trữ.

Thế nhưng hiện nay các doanh nghiệp tham gia mua tạm trữ chủ yếu là để dành cho xuất khẩu, việc tiêu thụ nội địa chiếm tỷ trọng rất thấp. Giá mua tạm trữ phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, khi tình hình xuất khẩu kém thì nông dân bị ép giá.

Thực tế hiện nay chúng ta đang sản xuất thừa và điều này đang tạo ra áp lực lớn cho thị trường và càng làm cho giá gạo sụt giảm. Gạo Việt Nam bị đánh giá thấp là do giống sử dụng canh tác là giống ngắn ngày (ba tháng/vụ).

Xuất phát từ tập quán canh tác của người nông dân và cũng từ một số yêu cầu nên chúng ta sản xuất từ hai đến ba vụ một năm. Thời gian sinh trưởng ngắn đã khiến gạo bị bạc bụng, không trong suốt như gạo của các đối thủ cạnh tranh.

Như Thái Lan chẳng hạn, ở vùng Đông Bắc nước này có đến trên 60% diện tích chỉ trồng một vụ/năm theo mùa mưa, ở miền Trung tuy có hồ chứa nước nhưng cũng chỉ trồng tối đa hai vụ/năm, nhờ thời gian sinh trưởng kéo dài nên chất lượng hạt gạo rất cao, được thị trường ưa chuộng. Ở Ấn Độ hiện nay trồng chủ yếu là giống gạo trắng IR64, ở Pakistan trồng giống I6 nên chất lượng gạo cao.

Trong khi hạt gạo xuất khẩu đang mất dần lợi thế trên thị trường thì Hiệp hội Lương thực Việt Nam không trực tiếp đi đàm phán mà chỉ tư vấn và cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp tự bươn chải.

Hiện nay chúng ta có hai kênh bán hàng, một là theo các hợp đồng Chính phủ, hai là bán theo các hợp đồng thương mại. Từ 2012 trở về trước thì hợp đồng Chính phủ có vai trò chủ lực, thường chiếm 50% hợp đồng xuất khẩu, phát sinh tâm lý ỷ lại trong các doanh nghiệp xuất khẩu mà Tổng công ty Lương thực là đầu tàu.

Tuy nhiên từ năm 2012 trở lại đây, tỷ lệ này giảm dần do các hợp đồng Chính phủ bị cắt khá mạnh, giá gạo Việt Nam tụt xuống thấp, kéo theo những khó khăn cho người nông dân.

Số liệu trên báo chí cho biết, kết thúc năm 2014, gạo Việt Nam đã có mặt ở 135 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hongkong, Singapore. Theo Bộ Công thương, năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu được 6,5 triệu tấn gạo, trị giá theo FOB là 2,84 tỉ USD.

Nhìn vào số liệu trên chắc nhiều người cho rằng người nông dân Việt Nam đã “đổi đời”, nhưng thực tế cho thấy điều ngược lại. Cũng theo số liệu được công bố năm 2012, Việt Nam xuất khẩu được 7,7 triệu tấn gạo nhưng thu nhập của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là 500.000 đồng/người/tháng. Mức thu nhập này chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo chút ít.

Cần điều chỉnh chính sách

Nông nghiệp là một trong các trụ đỡ quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhưng lâu nay không phát triển đúng với tiềm năng là do một vài chính sách chưa phù hợp.

Trước tiên là chính sách độc quyền tiêu thụ và xuất khẩu. Giáo sư Võ Tòng Xuân, nhà nông học có uy tín, cho rằng dù chúng ta có chính sách tự do mậu dịch, nhưng trong thực tế lại giao tất cả quyền hành xuất khẩu cho VFA.

Chủ tịch của VFA lại đồng thời là Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2). Trong VFA, hai Tổng Công ty Lương thực Nhà nước – Vinafood 1 và Vinafood 2 – chiếm lĩnh 60% tới 70% thị phần xuất khẩu gạo của cả nước. Các tổng công ty này luôn luôn có lời vì xuất khẩu gạo giá thấp thì mua vào thấp hơn và hưởng chênh lệch.

Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương), nhận định rằng chính sách hỗ trợ thu mua tạm trữ gạo đang góp phần làm giá gạo Việt Nam rẻ nhất thế giới, danh nghĩa là hỗ trợ nông dân nhưng thực tế doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi lớn, còn người nông dân chỉ được chút ít lợi ích gián tiếp.

Có thể dẫn chứng cụ thể: Chính phủ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp xuất khẩu giúp giảm chi phí thu mua gạo, tức là mua được giá rẻ và đương nhiên doanh nghiệp cũng sẵn sàng xuất khẩu với giá rẻ mà lợi nhuận không suy giảm.

Chính sách hỗ trợ tạm trữ gạo lại vô tình đẩy giá xuất khẩu gạo Việt Nam xuống thấp. Với mức giá đó, lợi ích nhà xuất khẩu không hề suy giảm, còn người nông dân chịu mọi thua thiệt, càng làm càng lỗ.

Thứ hai là chính sách chia đều ruộng đất, vô hình trung lại là một trong những nguyên nhân cản trở sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa. Về điều này, Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nói rằng: “Nếu người nông dân Việt Nam với quy mô 0,6 hécta mà lại chia thành năm tới 15 mảnh ruộng nhỏ và chia nhỏ thành hơn 10 triệu hộ riêng lẻ như hiện nay thì không sao có thể tập hợp lại, có thể đưa ra khối lượng sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao và ổn định, đưa đến tay khách hàng đúng hạn và đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn. Cũng như không có cách gì mà các ngân hàng, các tổ chức khuyến nông có thể bù đắp nổi chi phí để đưa những dịch vụ phục vụ đến tận làng bản xa xôi cho từng người nông dân nhỏ lẻ như thế cả. Đấy không thể là kết cấu của một nền sản xuất hàng hóa lớn”.

Giải quyết được hai bài toán vừa nêu, cộng thêm với việc xây dựng thương hiệu gạo quốc gia, may ra chúng ta mới có thể lấy lại vị trí trên bản đồ xuất khẩu gạo và nông dân mới có thêm điều kiện cải thiện cuộc sống.

Posted in Nong Dan Viet Nam, Thực Phẩm và sức khỏe, Đời Sống | Leave a Comment »