Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Sáu 2016
    C H B T N S B
    « Th5   Th7 »
     1234
    567891011
    12131415161718
    19202122232425
    2627282930  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Sáu 15th, 2016

►Lịch sử không thể quên (… láng giềng tiết lộ Tôn Nữ Thị Ninh đã làm gì trong mấy hôm trước ngày 30-4-1975)

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2016

Lịch sử không thể quên

Nguyễn Thị Cỏ May

12-6-2016

Đàn Chim Việt

anh-Ton-nu-thi-ninh-1-1820-1400044981

 

Tổng thống Obama tới viếng thăm chánh thức Việt Nam 22-5-2016, không đặt những vấn đề “dân chủ hóa chế độ “, phải tôn trọng ” nhân quyền ” như Hà nội đã cam kết, mà khi ra về còn để lại hai món quà quí giá, ngoài ước mơ của Hà nội . Nói món quà vì ông Obama không đòi hỏi phải “có lại” ở phía Việt nam . Món thứ nhứt là tháo gỡ sự cấm vận bán võ khí cho Việt nam .

Dĩ nhiên, muốn có võ khí để bảo vệ đất nước, Việt Nam phải mua. Lệnh cấm vận cực kỳ quan trọng vì khi bị cấm, Việt Nam có tiền cũng không mua được võ khí . Không phải chỉ không mua của Mỹ, mà các loại võ khí có liên hệ với Mỹ, cả nước sản xuất có liên hệ với Mỹ, cũng đều bị luật cấm chi phối . Hơn ai hết, Hà nội đã có kinh nghiệm về lệnh cấm vận của Mỹ rồi . Trước đây, khi khai thác dầu hỏa ở biển sâu, Liên-xô không đủ khả năng, Hà Nội nghĩ có thể mua dụng cụ hay hợp tác với các nước khác ngoài Mỹ nhưng rốt cuộc, đều không thoát ra khỏi vòng cấm vận . Như mua mũi khoan Mitsubishi của Nhựt bổn cũng không được vì hảng có vốn đầu tư và kỹ thuật của Mỹ và đồng thời là đồng minh của Mỹ.

Món quà thừ nhì là giúp Việt nam xây dựng và phát triển giáo dục đào tạo nhằm đầu tư nhơn lực vào việc phát triển kinh tế xã hôi, cụ thể là thành lập Đại học chuyên nghiệp Fulbright ở Sài gòn, với kinh phí dự trù lên tới hằng trăm triệu đô-la Mỹ. Món quà này, Việt nam chỉ hưởng chớ không phải mua. Có lẽ vì vậy mà nảy sanh ra sự phản đối quyết liệt một người Mỹ được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị thay vì một người Vìệt nam .

Lập luận cho rằng ông Bob Kerry vốn là ” tội phạm chiến tranh” . Đứng đầu một cơ quan giáo dục phải là người trong sạch, có đạo đức .

Sự phản đối không phát xuất mạnh mẽ từ phia dân chúng, càng không phải từ phía gia đình nạn nhân ở Thạnh Phong, (Bến Tre, 1969), mà từ đảng cộng sản, như báo chí của đảng cộng sản, của bà cựu phát ngôn Phan Thanh Thúy, bà cựu Chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, bà cựu Đại sứ Tôn nữ thị Ninh, …Trái lại, quan điểm bênh vực, dựa theo chánh sách cũng của đảng cộng sản chủ trương “xóa bỏ hận thù, quên quá khứ để hướng về tương lai”, đồng ý sự đề cử ông Bob Kerrey lại phát xuất từ nhiều cá nhơn tư nhân có tư cách .

Chống ông Bob Kerrey

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Hà Nội khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, tỉnh Bến Tre . Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh .

Nhà nước cộng sản ở Việt Nam hài ra 5 tội của ông Bob Kerrey để bênh vực lập luận chống đối ông Kerrey được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Fulbright ở Sài Gòn vừa được phép thành lập .

Sau khi đã đọc một số ý kiến về việc ông Bob Kerrey làm Chủ tịch trường Đại học Fulbright, bà cựu Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình chia sẻ ý kiến của một số người trong đó có ý kiến của Tôn nữ thị Ninh không ủng hộ việc bổ nhiệm ông Bob.

Theo bà, đây không phải chỉ là vấn đề ngoại giao, hay chính trị, mà chủ yếu về giáo dục văn hóa và tâm lý. Ông Bob được giao việc này là không thích hợp . Nói như vậy không phải là không đánh giá cao sự đóng góp của ông và nhiều người vào quá trình vận động và hình thành nhà trường .

Riêng bà Tôn nữ thị Ninh lớn tiếng công kích ông Bob Kerrey hung hăn hơn hết . Để yểm trợ lý do chống ông Bob Kerrey, bà Ninh khoe thành tích thời đi học ở Paris từng tưng bừng tham gia phong trào phản chiến chống «chiến tranh Việt Nam», thật ra chỉ chống Miền nam và Huê kỳ để yểm trợ Hà nội . Khi làm ngoại giao, bà xây dựng được mối quan hệ với thành phần phản chiến ở Mỹ và Âu châu, tức những thành phần chống lại chánh phủ của họ . Rất tiếc bà lại quên kể thêm năm 1972, bà nghỉ dạy Anh văn Trung học ở Paris vì đã gặp được bác sĩ Đại tá công an Nguyễn Ngọc Hà sẽ đưa bà về Sài gòn nằm vùng Ban Anh văn của trưòng Đại Học Sư Phạm .

Sự chọn lựa của bà Ninh cho thấy bà quả thật là người phụ nữ thông minh vì bà thấy xa . Với cộng sản, chỉ có nghề công an mới giúp làm nên sự nghiệp lớn. Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, .. Xa hơn là Hồ Chí Minh cũng bắt đầu bằng nghề chỉ điểm, rồi xách động-tuyên truyền (agit-prop) . Lẽ ra bà Ninh phải làm Chủ tịch Quốc Hội hay Thủ tướng. Phải chăng vì bà không hợp nhản ổng Tổng Bí thư Trọng nên đã không được « cơ cấu »?

Bà nóí bà sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai, là người ủng hộ mọi chủ trương hợp tác xây dựng và phát triển quan hệ giữa hai nước Huê kỳ và Việt nam . Nhưng khi biết rằng cựu Thượng Nghị sĩ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Đại học Fulbright, bà lại vô cùng bàng hoàng và không thể hiểu nổi .

Vì, theo bà, ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969. Điều này, chính ông Kerrey cũng thừa nhận . Sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó . Vì, vẫn theo bà Ninh, việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong, bà nói bà không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết . Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ .

Bà Ninh còn hỏi ông còn chần chừ gì nữa mà không rời vị trí ngay bây giờ như ông tuyên bố “sẵn sàng” . Bà cho rằng cử chỉ đó là cử chỉ tự trọng và sẽ được người Việt Nam đánh giá cao. Và cả nhiều người Mỹ sẽ đồng tình với quyết định đó của ông .

Trả lời những người liên quan trực tiếp đến dự án công khai khẳng định rằng Bob Kerrey là người “hoàn toàn phù hợp” để giữ vị trí lãnh đạo đó, bà Ninh hỏi lẽ nào nước Mỹ không còn ai có thể vận động vốn cho trường Fulbright Việt Nam ngoài Bob Kerrey?

Ủng hộ ông Bob Kerrey

Sau những lời chống ông Bob Kerrey ở vị trí lãnh đạo Đại học Fulbright, không ít người ở Việt Nam lên tiếng đả kích tác giả của những lời đó . Họ là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, từng chiến đấu trên chiến trường, cả người trẻ, …Những người không giử vai trò cốt cán của chế độ . Họ chống không phải là vì họ không được hưởng bổng lộc, mà chống vì họ không thể chịu nổi những lập luận nặc mùi công an tư tưởng, làm nhớ lại ý hệ “ai thắng ai” của thời còn Liên-xô . Họ chống bà Tôn nữ thị Ninh mạnh hơn hết cũng vì bà này hung hăng nhứt, oang oang bằng lưỡi gỗ.

TỄU Blog nhắc lại một trong những câu phát biểu “nổi tiếng” của bà Tôn Nữ Thị Ninh tại buổi họp báo ở Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2004 khi Việt nam bị chỉ trích vi phạm thường xuyên nhân quyền, đàn áp người dân. Bà Ninh nói : “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi” .

Minh Phương Nguyên bình luận “ khi bà Ninh muốn ông Bob Kerrey “không chần chừ gì nữa” rời bỏ vị trí này, phải chăng chỉ vì động cơ hoàn toàn cá nhơn thúc đẩy?

Theo Minh Phương Nguyên, bà Ninh không sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai cùng với nhân dân hai nước vì lợi ích chung”, như bà nói . Trái lại, rỏ ràng bà đã xách động tạo dư luận chống lại Bob Kerrey và FUV.

Cũng nên nhớ bà Ninh đã sang California để tìm sự ủng hộ, đầu tư cho trường Trí Việt của bà, và bà đã bị tẩy chay . Hơn nữa, bà Ninh không hội đủ điều kiện pháp lý vì chưa có «Văn bằng Tiến sĩ xây dựng đảng» .

Ông Trân Trương đốp chát bà Ninh rất cân xứng, tuy lời lẽ có quá nặng, chẳng hạn như « bà Ninh là thứ ăn cháo, đá bát …. » . Ông nhắc lại khi phóng viên BBC hỏi : “Bà đã từng tham gia hoạt động đấu tranh cho dân chủ khi còn là thanh niên đi du học bên Pháp, vậy bà có biết các tổ chức thanh niên ngày nay đang hoạt động dân chủ ở Việt Nam không?” thì bà trả lời một cách khinh mạn rằng : “Tôi rất bận rộn nên ít có thời giờ quan tâm đến các việc này nên cũng không rành lắm…”.

Thật ra bà Ninh lúc còn sinh viên ở Paris chạy theo UNEF, (

Liên Đoàn Sinh viên Pháp, tổ chức khuynh tả, ngoại vi của đảng cộng sản pháp), có « bồ » người ma-rốc, cán bộ UNEF, biểu tình chống Chánh phủ Sài gòn và chống Mỹ cứu nước, chớ có tranh đấu dân chủ gì đâu .

Thị Ninh làm phản chiến để chạy theo VC . Thị được Gs Trần văn Tấn đem về làm Assistante (Giảng nghiệm viên) ở Ban Anh văn Đại Học Sư phạm Sài gòn, chớ không phải Phó Ban (Không đủ bằng cấp và trình độ – chỉ có Maîtrise d’anglais, tức Tú Tài +4 – Cài « Luận án » mà Thị nói, chính là Tiểu luận – Mémoire de Maitrise ). Ngày 1/5.75, Thị Ninh mang băng đỏ, tiếp quản Đai Học Sư phạm, làm Trưởng Ban, quyết định nhân viên ai đi, ai ở, ai làm việc gì, …vì liên tiếp mấy hôm trước 30/04, Thị chạy đi chạy về phi trường Tân Sơn Nhứt vì vẫn không leo lên được máy bay đi Mỹ trốn VC, về nhà, Thị Ninh khóc hơn bố chết (Kim Chi, nữ sinh viên Ban Sử Địa, láng giềng của Thị Ninh kể lại) . Con người thật của Thị bắt đầu từ đây .

Tưởng cũng nên nói thêm Thị Ninh phản chiến ở Paris như vậy, mà tại sao được về Sài gòn làm việc? Đó là khuyết điểm cơ bản của Sài gòn . Riêng Gs Trần văn Tấn « có tiếng theo VC » nhưng nhiều người bạn thân lâu năm với ông thì quả quyết ông « không phải VC » . Ông chỉ là người có họ hàng với « Bà Tư Phải » và thường thích nước chanh thêm chút đường !

Giáo sư Chu Hảo, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Xuân Thành, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà báo Nguyên Ngọc, … đều bày tỏ lập trường ủng hộ ông Bob Kerrey ở chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Fulbright, theo chủ trương « xóa bỏ hận thù, cùng hướng về tương lai » của nhà cầm quyền ở Việt Nam .

Riêng nhà báo Nguyên Ngọc không ngần ngại nói rõ lý do ông ủng hộ ông Bob Kerrey . Ông nhận thấy ông Bob Kerrey thật lòng tự kiểm thảo, lương thiện hơn ai hết . Ông không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời, bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường (tát nước để bắt cá) . Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó, về căn bản, là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân. Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân . Nhận ra mâu thuẫn ở chiến thuật ấy, nhưng ông không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và lựa chọn của FUV là thật nhân văn .

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao ? Chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che chở chúng tôi? …

Những người cộng sản, đặc biệt là Thị Ninh, lên án ông Kerrey lại chưa từng chiến đấu trên chiến trường . Họ đặt vấn đề không thể quên lịch sử nhưng họ ngụy tạo lịch sử, có khi xóa lịch sử cho phù hợp xu thế đồng chí . Còn lịch sử tội ác của họ có nên quên không ?

Nay, sau hơn sáu mươi năm, họ có một lời « nói phải » với hơn nửa triệu nạn nhơn cải cách ruộng đất do họ vâng lời Trung cộng tiến hành trên đất nước của họ chưa ? Rồi cũng theo Trung cộng, họ tiếp tục gây tội ác Nhân văn Giai phẩm, cải tạo Công Thương nghiệp, đánh Tư sản mại bản, Kinh tế mới, Học tập cải tạo, …Và với những phụ nữ, trẻ con đã chết để che chở họ, ngày nay, nắm trọn chánh quyền, họ có một lần nhớ tới không ? Đó là những tội ác chống nhơn loại . Bởi họ không giết người trong lúc đang giao chiến hay hành quân . Họ vẫn chưa từng nhìn nhận, trái lại, còn triển lảm thành tích giết người này . Cả những dụng cụ như cái búa với lời ghi chú « đã đập được bao nhiêu cái đầu » của những người không theo cộng sản .

Chúng ta đừng bao giờ quên …bởi vì « đó là cộng sản ! » .

Hồ chí Minh đã viết (báo Thanh Niên Quảng Châu, 20-12-1926) « Cái danh từ Tổ quốc là do các chánh trị gia đặt ra để đè đấu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của của giai cấp tư sản . Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có bìên giới » .

Trong gần đây, để bày tỏ lập trường cộng sản kiên cường, Gs Ts, Hiệu trưởng Đại học Quốc Gia Hà nội, Vũ Minh Giang, tuyên bố « Đào mồ, cuốc mả tổ tiên của tôi thì được . Chớ đập bỏ tượng Lenin là vô văn hóa » .

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Lưu manh đỏ, Nhan Vat Chinh tri | 2 Comments »

►Tôn Nữ Thị Ninh, đại biểu xuất sắc của “trí thức xã hội chủ nghĩa” ( Trần Trung Đạo)

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2016

nguoivietboston

Trần Trung Đạo

5-6-2016

Khi phê bình đảng CS, có người mạnh miệng nhận xét “Đảng CS thực tế chỉ là một đảng Mafia”. Ý nói đảng CS chỉ là tổ chức tội ác giết người cướp của trên một tầm vóc quốc gia chứ chẳng còn ý thức hệ CS như thời Liên Xô chưa tan rã. Thật ra, nói vậy không đúng và nếu có cũng chỉ một góc cạnh “giết người cướp của”. Nếu đảng CS là đảng Mafia thì đã sụp đổ lâu rồi.

Định nghĩa đúng nhất cho trường hợp chế độ CS Trung Cộng và Việt Nam là định nghĩa của giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard khi ông gọi rằng chủ nghĩa CS hiện nay là một loại chủ nghĩa Lenin không có Marx.

Chủ nghĩa Lenin do hai bộ phận cấu thành (1) một nhà nước chuyên chính sắt máu và (2) tuyên truyền lý luận tư tưởng tinh vi.

Bộ phận nhà nước chuyên chính rất rõ nét và gần như ai cũng thấy, nhưng đảng CS không tồn tại chỉ bằng nhà tù sân bắn mà còn được che chở bằng một hàng rào lý luận tuyên truyền vô cùng tinh vi thâm độc.

Tuyên truyền là cột xương sống của chế độ CS. Như người viết đã có dịp trình bày trong những bài trước, sau cách mạng CS Nga 1917, công việc đầu tiên Lenin là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính ông ta đích thân lãnh đạo.

Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.

(Trong Bộ Chính Trị của Đảng CSVN luôn luôn có 5-6 ủy viên xuất thân từ ban tuyên truyền; Trọng, Dũng, Huynh, Lê Hồng Anh,…)

Tầng lớp “trí thức xã hội chủ nghĩa”

Bộ máy tuyên truyền sẽ không chạy được nếu thiếu đi một tầng lớp có học, có địa vị xã hội tự nguyện làm xăng nhớt. Thành phần đó gọi chung là “trí thức xã hội chủ nghĩa”.

Trước khi viết tiếp, người viết xin dừng lại ở đây để bày tỏ lòng biết ơn dành cho những trí thức chân chính và xứng đáng được kính trọng. Họ là những người có trình độ văn hóa giáo dục cao, những văn nghệ sĩ đang công khai hay âm thầm tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, tốt đẹp, tự do và dân chủ trong điều kiện và hoàn cảnh riêng của họ. Họ không thuộc thành phần mà người viết sắp bàn.

Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” chia sẻ ba đặc điểm chung: (1) có học, khoa bảng (2) chủ nghĩa cơ hội, (3) bồi bút, uốn lưỡi bảo vệ đảng trung thành.

Một đại biểu xuất sắc trong tầng lớp này và có đủ ba đặc điểm vừa nêu là bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh thỏa mãn đặc điểm thứ nhất dễ dàng vì bà thuộc thành phần khoa bảng. Phần lớn thời tuổi trẻ của bà lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và được đi du học tại các trường nổi tiếng tại Pháp, Anh. Bà về nước dạy đại học Sư Phạm Sài Gòn và từng là Phó Ban Anh Ngữ của trường.

(Ghi chú: Bà Ninh sinh tháng 10/1947, có nghĩa là bà sẽ nhập học lớp 1 chung với lứa tuổi sinh 1948. Đến năm 1971, bà 24 tuổi, quay trở về VN làm phó ban Anh văn trường ĐH Sư Phạm Sài Gòn 1972. Như vậy, bà chỉ có bằng cao học Anh văn. Nguyễn Khoa Thái Anh (2006) viết một bài báo đăng trên trang mạng talawas.org, và ca tụng bà này lên tận mây xanh, đọc mà phát ngượng cho thói nịnh bợ của ông ta. Ông ta cũng viết rằng bà Ninh dạy Anh văn tại 4 đại học nổi tiếng hàng đầu của Pháp (lúc bà mới 23 hay 24 tuổi!? Làm như Pháp không ai nói được tiếng Anh. Bà Ninh có việc làm ở đại hoc Pháp,  lương chắc chắn cao hơn ở VN, vậy tại sao bà về VN làm gì.) 

Trong thời gian ở Pháp, bà Ninh quen biết các thành viên của phái đoàn CS “Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” và phụ giúp công việc phiên dịch (1969) tại những buổi gặp gỡ không chính thức của họ. Như bà kể lại trong bài báo Paris: ‘Vườn ươm’ lực lượng, bà “không được chứng kiến các cuộc đàm phán chính thức”, phần lớn những gặp gỡ đều qua trung gian của các “hội yêu nước” và được bà Nguyễn Thị Chơn, vợ ông Trần Bạch Đằng, “bồi dưỡng chính trị”. Thành phần có học nhưng bị lá bùa “độc lập, tự do” của CS mê hoặc tại Pháp thời đó rất nhiều như bà thừa nhận với phóng viên Hoàng Thi trên báo Nhân Dân “tại Pháp, tôi đã tham gia phong trào phản chiến đang diễn ra rất sôi nổi nơi đây”.

Sau 30-4-1975, bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng chỉ sinh hoạt trong “Hội trí thức yêu nước” như phần lớn các nhà giáo, văn nghệ sĩ thuộc “thành phần thứ ba” ở Sài Gòn.Thành phần này, trong đó có bà, được đảng thưởng công bằng chuyến “tham quan” các nước CS như Lý Quí Chung kể lại trong hồi ký của ông ta.

Đường công danh dưới chế độ CS của bà Ninh chỉ thật sự bắt đầu khi tình cờ gặp ông Xuân Thủy năm 1978. Từ đó, trong giai đoạn giao thời đảng đang cần người có khả năng giao tiếp với thế giới mà họ chưa từng biết qua, và bà nắm lấy cơ hội. Không giống như những người CS theo đuổi mục đích CS, vào tù ra khám hiến thân cho canh bạc của cuộc đời họ, bà chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa.

Hai đặc điểm, khoa bảng và chủ nghĩa cơ hội nói trên, dù không mấy tốt đẹp, cũng chỉ có tính cách cá nhân và không phải là tội ác, đặc điểm bồi bút trung thành và uốn cong ba tấc lưỡi để bảo vệ đảng CS của bà Ninh mới thật sự là một tội ác trí thức vì đã gây tác hại đến nhiều người. Dưới đây là vài ví dụ chứng minh bà Ninh bẻ cong ngòi bút.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh và nguyên tắc dân chủ kiểm soát và cân bằng (checks and balances)

Trong Tạp Chí Cộng Sản số tháng 6, 2007, bà Tôn Nữ Thị Ninh viết về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam: “Cần có một cơ chế “đối trọng” (phương Tây gọi cơ chế này là checks and balances). Đối trọng của ta là trong phạm vi chế độ, là sự kiểm tra giám sát của các đoàn thể quần chúng, chứ không phải là đối trọng về chính trị. Quốc hội có vai trò, tư pháp cũng phải độc lập, đoàn thể phải vào cuộc, nếu không hệ thống chính trị của ta sẽ không có cơ chế tự điều tiết.”

Hẳn nhiên, với trình độ giáo dục cao và tiếp cận nhiều với sinh hoạt chính trị dân chủ Âu Châu trước đây, bà Ninh biết rõ khái niệm kiểm soát và cân bằng (checks and balances) nhằm sự kiểm soát lẫn nhau để giữ sự cân bằng và công bằng giữa các ngành trong các chế độ dân chủ pháp trị. Nguyên tắc này ra đời nhằm giới hạn quyền hành của chính phủ (hành pháp) thường rất dễ bị lạm dụng. Sự đối trọng giữa các ngành trong cơ chế chính trị chỉ hữu hiệu khi các ngành đó có được sự độc lập về quyền hạn và trách nhiệm. Một sinh viên lấy lớp chính trị học nhập môn cũng nắm vững định nghĩa căn bản đó.

Thế nhưng bà uốn cong định nghĩa “checks and balances” giữa các ngành trong chế độ dân chủ pháp trị thành một khái niệm giữa quần chúng (không có tiếng nói) và nhà nước (nắm hết quyền lực). Tại Việt Nam ai đối trọng với ai, ai kiểm soát ai và ai cho phép tạo nên sự cân bằng quyền lực trong hệ thống chính trị bị chỉ đạo bởi một đảng duy nhất là đảng Cộng sản?

Một người có hiểu biết căn bản nào cũng trả lời được, dưới chế độ CS không ai, không một tập thể, không một thành phần nhân dân nào đứng trên quyền lực của đảng CS. Thời gian 2006 bà Ninh là “Đại biểu Quốc hội” đơn vị Vũng Tàu và hơn ai hết bà biết chức “Đại biểu Quốc hội” của bà chẳng phải do người dân Vũng Tàu nào tự nguyện bầu bà lên mà chỉ là hư danh do đảng CS trả công cho bà.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh chống đối Bob Kerrey

Theo phóng sự điều tra của Gregory L. Vistica trên New York Times phát hành ngày 25 tháng Tư, 2001, vào đêm 25 tháng Hai, 1969, đội SEALs (đơn vị đột kích tinh nhuệ của hải quân Mỹ viết tắt của chữ Sea, Air and Land Teams) dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Bob Kerrey, 25 tuổi, tiến vào làng Thạnh Phong với mục đích tiêu diệt một phiên họp của Việt Cộng với sự tham gia của một lãnh đạo quân sự. Sau khi thanh toán mục tiêu thứ nhất bằng dao để khỏi lộ mục tiêu, đơn vị SEALs bị trong làng bắn ra. Với tin tức tình báo nhận được, đội SEALs đinh ninh một phiên họp của lãnh đạo CS cao cấp đang diễn ra và đã bắn trả quyết liệt. Đừng quên, lúc đó đã sau 9 giờ tối trong một đêm không trăng tại ngôi một làng hẻo lánh tối tăm chứ không phải trưa ban ngày giữa đồng rộng hay đường lớn để có thể nhận diện dễ dàng. Bob Kerrey kể lại ông ta không thấy ai hết. Khi phản công chấm dứt, toán SEALs tiến vào các chòi lá và hình ảnh mà Bob Kerrey sẽ nhớ đến giờ chết là không có một chỉ huy Việt Cộng nào mà chỉ toàn là thường dân, đàn bà và trẻ con bị giết. Tuy nhiên, Gerhard Klann, một đội viên SEALs dưới quyền Kerrey kể khác rằng trong chòi lá thứ nhất không chỉ có đàn ông mà còn có đàn bà và trẻ em, và chính Bob Kerrey không những ra lịnh mà còn tham gia vào việc giết những người trong chòi lá thứ nhất. Lời kể của Klann trùng hợp với kể của nhân chứng Việt Nam Pham Tri Lanh. Bob Kerrey không đồng ý với Klann nhưng nhận lỗi lầm với tư cách chỉ huy. Các đội viên khác có người ủng hộ lời kể của Bob Kerrey và có người từ chối trả lời. Nói chung các lời kể rất rời rạc, trước sau không thống nhất. Kerrey nhắc lại nhiệm vụ chính của các toán SEALs là tiêu diệt một mục tiêu được giao phó và nhiệm vụ của đội SEALs vào làng Thạnh Phong đêm đó là tiêu diệt chứ không phải bắt tù binh.

Sau khi bị thương và giải ngũ về nhà, Kerrey kể lại thảm sát Thạnh Phong cho mẹ nghe và mẹ ông ta khóc.

Với nhiều người khác, biến cố là một tai nạn giết lầm, đổ thừa cho tình báo, cho cấp chỉ huy, cho chiến tranh và rồi ăn ngon ngủ kỷ. Nhưng với Bob Kerrey, lương tâm ông bị cắn rứt và đã làm rất nhiều trong lãnh vực giáo dục để xoa dịu vết thương giữa hai dân tộc cũng như đau đớn tinh thần của riêng ông. Với kinh nghiệm chín năm làm chủ tịch của New School University ở New York, ông hy vọng sẽ áp dụng những vốn liếng đó vào việc lãnh đạo Fulbright University Vietnam và nâng trường lên đẳng cấp quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng nhấn mạnh yếu tố chuyên môn kết hợp với tình cảm cá nhân trong diễn văn đầy tinh thần hòa giải của ông khi giới thiệu Fulbright Vietnam. Bob Kerrey với kinh nghiệm lâu năm trong ngành giáo dục, một cựu Thượng Nghị Sĩ, cựu ứng cử viên tổng thống, nhà chính trị có quan hệ rộng rãi với chính giới Hoa Kỳ và gắn bó tinh thần với Việt Nam xứng đáng để lãnh đạo Fulbright University Vietnam.
Thay vì thuận theo tinh thần hòa giải được khơi dậy trong diễn văn của Ngoại trưởng John Kerry và mở rộng hơn cánh cửa giáo dục cho các thế hệ Việt Nam, máu cơ hội ”chống Mỹ cứu nước” trong bà Tôn Nữ Thị Ninh sôi sục lên và bà phán: “Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969. Điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận. Có thể nhìn nhận vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau, cả phía Việt Nam và phía Mỹ. Nhưng một điều chắc chắn, sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó. “

Khi nhắc đến câu “không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật”, không biết bà có nhìn quanh thử mình đang sống ở đâu không. Bà đang sống trong một đất nước mà nơi đó sự thật chỉ là chiếc bánh tuyên truyền rẻ tiền và hư thối đến nỗi một đứa bé đói khát cũng không thèm cầm lấy. Chắc bà không lạ gì những nhãn hiệu “Nhà Xuất bản Sự Thật”, “Báo Sự thật” v.v.

Nếu bà thật sự quan tâm đến sự thật và căm ghét những kẻ đã giết dân vô tội, hãy về Huế một lần trong dịp Tết để hỏi thăm đồng bào Huế của bà những ai là kẻ giết người và những ai là người có thân nhân bị giết (vào dịp Tết Mậu Thân 1968), không phải 24 người mà nhiều ngàn người. Những kẻ chôn sống nhiều ngàn dân Huế không nói tiếng Anh như Bob Kerrey mà có một giọng nói rất giống bà. 

Nếu bà quan tâm đến sự thật hãy tìm đến các “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân” và hỏi họ đã giết bao nhiêu “Mỹ Ngụy” còn mặc tả ở nhà hàng Mỹ Cảnh, bao nhiêu mái đầu xanh ở rạp hát Kinh Đô, bao nhiêu em bé chết trong tay còn ôm cặp ở trường Tiểu học Cai Lậy (9-3-1974) v.v.. Hàng ngàn cuộc thảm sát do CS gây ra trên đất nước Việt Nam đang cần được đưa ra dưới ánh sáng, sự thật và công lý.

Bob Kerrey có lỗi với ai?

Bà Ninh phát biểu bằng một giọng trịch thượng và hằn học “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”. Việc bà “không thể biết” là tại bà kém thông tin nhưng cựu TNS Bob Kerrey hay Ngoại trưởng John Kerry không cần phải báo cho bà biết.

Người viết không binh vực cho Bob Kerrey. Bob Kerrey dù trực tiếp ra tay, ra lịnh hay không vẫn là người có lỗi. Nhưng ông ta chỉ có lỗi với nhân dân Việt Nam, với thân nhân những người bị toán SEALs của ông giết chứ không có lỗi gì với đảng CS và nhà nước CS mà bà Ninh đang cung phụng. Dưới các chế độ dân chủ, vai trò, chức năng và sự phân định giữa nhân dân và chính phủ rõ ràng chứ không đánh lận con đen đảng cũng chính là dân tộc, đảng cũng chính là tổ quốc như dưới chế độ CS.

Một lỗi lầm của Bob Kerrey trong chiến tranh không làm cuộc chiến bảo vệ tự do của miền Nam mất đi chính nghĩa và cũng không giúp đảng CSVN có chính nghĩa.

Hôm 27 tháng Năm 2016 vừa qua, trong chuyến viếng thăm Hiroshima, Nhật Bản, TT Barack Obama bày tỏ lòng thương tiếc đối với nạn nhân bom nguyên tử của Mỹ và cảm tình đối những người sống sót nhưng ông không xin lỗi. Cuộc chiến chống Phát Xít Nhật là cuộc chiến chính nghĩa. Những kẻ phải chịu trách nhiệm cho điêu tàn của nước Nhật và chết chóc của nhân dân Nhật là lãnh đạo chế độ quân phiệt Phát Xít Nhật thời đó chứ không phải Mỹ.

Tương tự, trong lúc không thể so sánh nỗi đau bằng một nỗi đau, thảm sát Thạnh Phong cũng phải được nhìn từ nguyên nhân đến hậu quả của cả cuộc chiến Việt Nam.

Cái chết của 24 người dân làng Thạnh Phong, phân tích cho cùng, cũng không khác gì cái chết của năm ngàn người dân Huế, của 32 học sinh trường tiểu học Cai Lậy, của 13 cô gái Thanh niên Xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc, của Nguyễn Văn Thạc, của Đặng Thùy Trâm, của bao nhiêu thế hệ thanh niên miền Bắc và nói rộng hơn của ba triệu người dân Việt khắp hai miền do âm mưu Bolshevik hóa Việt Nam bằng bạo lực của đảng CSVN.

Chủ trương CS hóa Việt Nam đã được in đậm trong cương lĩnh đầu tiên của đảng CS từ 1930 chứ không phải sau khi Mỹ đổ bộ xuống Đà Nẵng 1965. Dù Mỹ có đến hay không thì mục tiêu tối hậu của đảng CSVN vẫn không thay đổi. Bà Ninh hãy trả lời giùm câu hỏi “Nếu đảng CSVN không chủ trương thôn tính miền Nam bằng võ lực thì thảm sát Thạnh Phong có xảy ra không?”

Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” như bà Tôn Nữ Thị Ninh chẳng những không đóng góp được gì vào việc làm thăng tiến xã hội, thúc đẩy nhanh hơn cuộc cách mạng tự do và nhân bản đất nước, giúp đưa dân tộc chúng ta vượt qua những bế tắc tư tưởng và chính trị để hội nhập vào dòng thác tiến bộ của nhân loại, mà với khả năng bồi bút, uốn cong ba tấc lưỡi, thành phần này đã trở thành bức tường chắn ngang tiến trình khai phóng đất nước và đó là một tội ác.

Trần Trung Đạo

 

(Ghi chú: chữ màu đen, in nghiêng trong bài là của TH.)

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Giao Duc, Lưu manh đỏ, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »