Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Sáu 2016
    C H B T N S B
    « Th5   Th7 »
     1234
    567891011
    12131415161718
    19202122232425
    2627282930  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Sáu 8th, 2016

►Đại học Fulbright VN (FUV) theo quan điểm của GS Nguyễn Mạnh Hùng

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

7-6-2016


Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến để nói về Đại học Fulbright trong một sự kiện tại Trung tâm Hoa Kỳ tại Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ngày 07 tháng tám năm 2015. Photo: AFP

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến để nói về Đại học Fulbright trong một sự kiện tại Trung tâm Hoa Kỳ tại Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ngày 07 tháng 8 năm 2015. Photo: AFP

Trong chuyến công du vừa qua của Tổng thống Obama (từ ngày 22 đến 25-5-2016), VN đã ký kết với Hoa Kỳ thành lập đại học Fulbright tại VN và động thái này được người Việt đón nhận với tâm trạng phấn khởi. Tuy nhiên cũng có những dư luận trái chiều về việc này.

Mặc Lâm phỏng vấn GS Nguyễn Mạnh Hùng về vấn đề này.

Món quà của Mỹ

Mặc Lâm: Thưa GS, đại học Fulbright đã chính thức mở tại VN, là người theo dõi dự án này từ lâu xin GS cho biết tầm quan trọng của nó đối với VN ra sao và liệu nó sẽ giúp gắn bó hơn nữa quan hệ giữa hai quốc gia hay không?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Đại học Fulbright Vietnam (FUV) bắt nguồn từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright do trường Đại học Harvard cộng tác với Trường Đại học kinh tế thành phố HCM. Sự hình thành của FUV là kết quả của các cố gắng từ hơn mười năm nay để thành lập môt trường đai học có đẳng cấp quốc tế, có sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Mỹ và Việt Nam.

Theo dự tính, đây sẽ là môt trường đại học tư, không lợi nhuận, tự trị, có đẳng cấp quốc tế, được thừa nhận (accredited) theo tiêu chuẩn giáo dục đại học Mỹ. Việt Nam từ lâu muốn thiết lập môt đại học có đẳng cấp quốc tế mà chưa làm đươc thì đây là một món quà của Mỹ đóng góp vào việc phát triển Việt Nam và xiết chặt quan hệ giữa hai nước, hai dân tôc, ít nhất là trên phương diện văn hóa, giáo dục.

Nhưng ý định tốt này có thực hiên được hay không tùy cách cư xử của hai chính phủ, nhất là nước chủ nhà.

Mặc Lâm: Tuy VN đón nhận nó như một tin vui nhưng một số trí thức đã công khai chống lại vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị của trường Fulbright là ông Bob Kerrey vì ông này từng tham gia vụ thảm sát tại Thạnh Phong. GS có chia sẻ gì về cá nhân ông Kerrey về những đóng góp của ông cho VN trong những năm qua?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Thái độ chống đối là điều dễ hiểu, nhất là đối với người ở Việt Nam. Có dư luận chống nhưng cũng có dư luận ủng hộ.  Chống đối hay ủng hộ tùy thuôc vào cách nhìn, cảm tính, kinh nghiệm cá nhân, và tính toán của mỗi người.

Trong một cuôc hội luận bàn tròn của BBC tuần trước, một chuyên viên truyền thông, cô Đỗ Thị Thủy, nói rằng cách đây hơn 10 năm cô đã phỏng vấn một nạn nhân vụ thảm sát Thanh Phong cho tuần báo Time là bà Phạm Thị Lành; bà này xác nhận không thấy tận mắt sự việc mà người ta quy tội cho ông Kerrey. Một phóng viên BBC, ông Nguyễn Hùng, mới gọi điện thoại phỏng vấn ông cựu Chủ tịch xã Thạnh Phong ông này trả lời vội rằng “chuyện cũ rồi nên bỏ qua.” Đó là quan điểm của người dân đia phương. Tranh cãi xảy ra giữa những người ở trung ương và không phải là nạn nhân trực tiếp của vụ thảm sát.

Tôi tôn trọng cả hai cách nhìn, nhưng tôi đồng cảm với bài viết của cựu đai biểu Quôc Hôi Nguyễn Minh Thuyết và tuyên bố của Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Bí Thư thành ủy TP HCM Đinh La Thăng. Cả hai đều chủ trương tha thứ. Tôi chỉ xin có thêm môt số nhận xét sau đây.

Thứ nhất, việc này đã xảy ra cách đây gần nửa thế kỷ, chính môt số nạn nhân và người ở đia phương đã tỏ ý muốn bỏ qua. Trong khi ấy thì ông Bob Kerrey đã tỏ lời ăn năn, xin lỗi với sư thành khẩn và ở mức độ chưa từng thấy, nhất là những lời ấy xuất phát từ một nhân vât đươc coi là can đảm, chính trực, và trọng danh dự. Về phương diên tâm lý, rõ ràng ông Kerrey muốn làm mọi việc tốt cho dân tộc Việt Nam để chuộc lỗi lầm của ông ấy. Các cụ ta thường nói “đánh kẻ chạy đi, ai đánh kẻ chạy lai.” Tại sao không để cho ông Kerry có cơ hội giúp VN?

Thứ hai, về khả năng chuyên môn thì ông Kerry có kinh nghiệm với hai trường đại học tân tiến của Mỹ không tổ chức theo lề lối cổ truyền, là New School ở New York và Dự Án Minerva ở San Francisco. Dự Án Minerva đưa ra một mô himh đại học mới, có phẩm chất của những đại học nổi tiếng tại Mỹ nhưng học phí lại rất rẻ. Để giảm phí tổn, sinh viên được khuyên khích học một số môn dễ học trên internet; trường không có giáo sư cơ hữu và chủ trương mời các học giả và chuyên viên nổi tiếng ở khắp nơi trên thế giới để dạy những khóa ngắn hay tiếp xúc với sinh viên qua không gian ảo (cyber space). Mô hình này có nhiếu khía cạnh giống như FUV, nhất là trong giai đoạn phôi thai.

Thứ ba, về phương diện tình cảm cá nhân, ba ông Kerry, McCain, và Kerrey mới viết chung một bài báo trên tờ New York Times ủng hộ và chống lưng cho ông Obama bỏ hoàn toàn viêc cấm bán vũ khi sát thương cho Việt Nam. Họ vừa là chiến hữu vừa là bạn thân, họ mến trọng và tin tưởng nhau. Cùng với ông Thomas Vallery, những người ấy đã đóng góp vào việc vận động thành lập trường FUV từ năm 1991. Ở Mỹ không còn bao nhiêu chính trị gia tha thiết với Việt Nam. Buộc những người có thiện cảm với Việt Nam như các ông Kerry, McCain và Vallely phải bỏ rơi bạn họ thì họ sẽ nghĩ gì về thiện chí và cái mà chính phủ VN rêu rao khi có lợi cho mình, là “gác quá khứ, hướng tơi tương lai.”

Theo thiển ý, việc chấp nhận ông Kerrey vừa phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tôc, vừa phù hợp với chính sách “gác quá khứ, hướng về tương lai” của chính phủ, vừa không làm nản lòng những người còn có thiện chí muốn giúp Việt Nam, vừa không thọc gậy vào bánh xe lòng tin chiến lược mới băt đầu quay giữa hai nước.

Mặc Lâm: Mới nhất là việc trả lời của Bộ ngoại giao VN, tuy không nói trắng ra nhưng người phát ngôn Lê Hải Bình gián tiếp cho rằng vai trò của ông Kerrey là không thích hợp. Theo GS với cái nhìn của một nhà chuyên môn và tích lũy nhiều kinh nghiệm cuộc chiến VN ông có ý kiến gì về quan điểm của Bộ Ngoại giao VN?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Phát biểu cá nhân thì hiểu được, nhưng phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoai Giao làm cho người ta phải thắc mắc. Ông Bình không thể phát biểu với tư cách cá nhân mà phát biểu với tư cách chính phủ hay ít nhất cũng với tư cách của một bộ trong chính phủ. Tôi không nghĩ đó là sáng kiến riêng của Bộ Ngoại giao, bác ý kiến của Ủy viên bộ CT Đinh La Thăng.

Nếu đây là ý kiến của chính phủ thì nó là môt vi phạm vụng về đến nguyên tắc tự trị đại học, nền tảng quan trong nhất của bất cứ một trường đại học có đẳng cấp quốc tế nào. Điều này cho thấy chính phủ Việt Nam có vẻ không mặn mà lắm với FUV với những tiêu chuẩn cao của nó.

Mặc Lâm: Theo ông, cửa Fulbright đã mở, trí thức VN nên có những thái độ nào nhằm thúc đẩy cho ngôi trường này phù hợp thật sự với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Không có mô thức suy nghĩ nào đúng cho mọi trí thức, mỗi người có lối suy luận và quyết định riêng. Trong ngành khoa học xã hội, tri thức và trí thức khó có thể phát triên đươc hết tiềm năng trong một đại học không được quyên tư trị và tự do học thuật (academic freedom). Nhưng người đã từng làm việc tại các trường đại học Tây phương, nhất là các học giả thượng thặng, khó có thể cảm thấy thoải mái làm việc trong khung cảnh ấy.

Mặc Lâm: Xin cám ơn GS.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Hòa Hợp Hòa Giải, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►So sánh Bob Kerrey và Tôn Nữ Thị Ninh (Thạch Đạt Lang)

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

  • Thạch Đạt Lang

7-6-2016

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, ông Bob Kerrey và bản tin thảm sát Tết Mậu Thân.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, ông Bob Kerrey và bản tin thảm sát Tết Mậu Thân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hơn một tuần lễ qua, lang thang ở California, Hoa Kỳ, tôi ít có dịp ngồi vào bàn với cái laptop, chỉ theo dõi tin tức ở Việt Nam qua cái smartphone cũ, thế hệ thứ 3 của cô con gái cho (mượn).

Đọc những bài báo nói về việc bổ nhiệm ông Bob Kerrey làm chủ tịch Hội Đồng Tín Thác (Board of Trustees – BOT) trường đại học Fulbright vừa được cấp giấy phép thành lập tại Việt Nam, gây ra nhiều tranh cãi, tôi đã muốn viết ra những điều suy nghĩ của mình, nhất là sau khi đọc lá thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh, nhưng không quen sử dụng bàn phím quá nhỏ như đám trẻ khi viết message, tôi đành chịu chết. Mãi tới hôm nay mới có dịp ngồi lại với cái laptop của mình, tôi viết vội vài dòng, nói lên nhận định của mình, so sánh 2 nhân vật nổi tiếng của Mỹ và Việt Nam trong cùng một vấn đề: Lương Tâm và Lòng Tự Trọng.

Bài viết sẽ không nói đến lịch sử thành lập, nguồn tài chánh hoạt động hay những chuyên khoa đào tạo của trường đại học Fullbright.

Xin được nói về Bob Kerrey trước.

Bob Kerrey là một sĩ quan của đơn vị SEAL (See Air Land – Đơn vị tác chiến đặc nhiệm Mỹ), sinh năm 1943. Ngày 25.02.1969, ông chỉ huy một toán quân, đột nhập vào làng Thạnh Phong, nơi theo tin tình báo có một số chỉ huy cao cấp của Việt Cộng đang có mặt trong làng Thạnh Phong, quận Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Làng Thạnh Phong là một địa điểm được đánh giá là vùng khai hỏa tự do (Free-Fire Zone).

Theo báo cáo của Kerrey, khi tiến vào làng, toán đặc nhiệm của Kerry bị du kíck núp trong nhà dân bắn ra nên họ khai hỏa xối xả vào làng. Sau khi ngưng tiếng súng, lục soát khắp làng, Kerry và toán quân chỉ thấy khoảng 14 xác của những thiếu niên trẻ chừng 18 tuổi và phụ nữ nằm rải rác trong làng.

Năm 1998 Kerrey đã nói: Thay vì thấy Việt Cộng với vũ khí, tôi chỉ thấy phụ nữ và trẻ em.

Một thành viên trong toán của Kerry, Gerhard Klann đã nói khác với những gì Kerry tuyên bố. Klann cho biết, toán của ông đã tập trung phụ nữ, trẻ em lại từ những căn nhà tranh rồi quyết định xả súng bắn họ, sau đó rời khỏi làng. Lời nói của Klann được xác nhận bởi một nhân chứng sống sót trong vụ tàn sát – bà Phạm Thị Lành.

Sau vụ Thạnh Phong, Kerrey được thưởng huy chương đồng vì đã tiêu diệt được một đơn vị VC, bắn hạ 21 địch quân, thu hai súng cá nhân.

Kerrey cũng bị thương, phải cắt mất một bàn chân trong một trận giao tranh ở gần Nha Trang năm 1969. Sau chiến tranh Việt Nam, năm 1982 Kerrey trở thành thống đốc tiểu bang Nebraska từ 1983 đến 1987.

Từ năm 1989 đến 2001 Bob Kerrey là thượng nghị sĩ của Nebraska trong quốc hội liên bang.

Bob Kerrey đã bày tỏ sự ân hận, sự đau đớn, dằn vặt của lương tâm về lỗi lầm của mình gây ra ở làng Thạnh Phong năm 1969. Ông đã nỗ lực tối đa trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh do mình gây ra bằng những hành động thúc đẩy, xây dựng quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt, xóa bỏ lệnh cấm vận…

Ông nói: “Bạn không bao giờ có thể quên được nó, nó sẽ ám ảnh bạn suốt đời cho đến khi chết. Tôi nghĩ rằng, đó là những ngày đen tối nhất của tối, chết cho đất nước của bạn là điều uổng phí vô cùng và điều đó có thể xẩy ra nhưng giết người cho đất nước của bạn còn tồi tệ hơn”.

Nhân vật thứ hai: Tôn Nữ Thị Ninh

Tôn Nữ Thị Ninh, sinh năm 1947, sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam, dòng họ hoàng tộc Huế. Du học ở Pháp và Anh. Tóm lại là một trí thức của miền Nam. Bà theo cộng sản, tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với vai trò chạy cờ cho hòa đàm Paris từ năm 1968 đến 1973 cũng như thông dịch tiếng Anh cho bà Nguyễn Thị Bình (đại diện MTGPMN) trong những cuộc gặp gỡ không chính thức với phái đoàn Mỹ.

Về nước năm 1972, làm phó khoa Anh Ngữ của Đại học Sư phạm Sàigòn (25 tuổi). Không hiểu vì chính sách chiêu hồi, vì tình báo VNCH làm ăn hạch đụi, hay chủ trương tôn trọng dân chủ và tự do mà chính phủ VNCH lại chấp thuận cho bà Ninh ở vào vị trí này.

Sau năm 1975, tình cờ gặp ông Xuân Thủy – Trưởng ban Đối ngoại của trung ương đảng CSVN, là người đã biết bà qua hòa đàm Paris – đưa bà về làm việc tại ban đối ngoại trung ương. Cuộc đời của bà Ninh lên hương từ đó.

Gạt bỏ qua một bên chính kiến của bà.

Khi phê phán, chỉ trích sự bổ nhiệm Bob Kerrey vào chức vụ chủ tịch Hội Đồng Tín Thác của đại học Fullbright, bà Ninh đã không thấy được sự thành tâm ăn năn, hối lỗi, dằn vặt, đau đớn của Bob Kerrey về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong.

Kerrey và toán đặc nhiệm của ông đã giết 21 người dân Thạnh Phong, nhưng đó là thời điểm chiến tranh. Trong cơn hoảng loạn giết hoặc bị giết, để có một sự chọn lựa, dễ có những quyết định sai lầm.

Vấn đề chính là sau đó, hồi tưởng lại, người ta phải làm gì, hành động, cư xử ra sao với lỗi lầm của mình?

Cá nhân người viết tin rằng, Bob Kerrey thật sự thành tâm hối lỗi với hành động sát hại người dân Thạnh Phong. Những lời nói đầy cảm xúc khi hồi tưởng biến cố, những hành động thiết thực, vận động với cương vị của mình để nối lại quan hệ Việt-Mỹ, xóa bỏ cấm vận đã chứng tỏ điều này.

Còn bà Tôn Nữ Thị Ninh, sinh ra ở Huế, nơi có cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng với hơn 4.000 người dân vô tội, từ trẻ em đến phụ nữ ở thôn Vĩ Dạ, Khe Đá Mài… với những chứng tích bị trói, cột vào nhau bằng dây kẽm gai. Nhưng từ 1968 cho đến nay, bà Ninh đã có lời nói nào lên án những kẻ chủ trương cuộc thảm sát này? Hoàn toàn không.

Cuộc thảm sát đó, đến ngày hôm nay vẫn được bà Ninh và chế độ bà phục vụ tìm cách lấp liếm, chạy tội, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Từ anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan đến Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương… vẫn tảng lờ, chối bay biến hay vô liêm sỉ hơn là đổ qua cho quân đội VNCH và Mỹ là thủ phạm.

Thú thật tôi phải bái phục sự trơ trẽn, gian dối, lì lợm của người CS mà điển hình là bà Tôn Nữ Thị Ninh.

Kerrey và toán đặc nhiệm giết 21 người Việt Nam, những người bị giết không phải là đồng bào của họ, tuy nhiên ông vẫn ân hận, hối lỗi bằng lời nói và bằng hành động thiết thực.

Chế độ cộng sản VN, những người đồng chí của bà Ninh, chế độ bà phục vụ không những chỉ giết hơn 4.000 người dân vô tội trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 mà còn hơn hàng trăm ngàn người (172.000 người) trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 ở miền Bắc, trong số đó có cả những người cùng chung chiến tuyến nhưng không cùng giai cấp với người cộng sản.

Những lãnh đạo, đồng chí của bà Tôn Nữ Thị Ninh, đứng đầu là Hồ Chí Minh, giết người một cách tỉnh táo, thản nhiên, không vì lòng căm thù, không phải vì hoảng loạn.

Ngày hôm nay, những kẻ gây ra tội ác với dân tộc, đất nước đó vẫn chưa có một lời ăn năn, hối hận. Đi xa hơn nữa, họ còn định tổ chức triển lãm thành tích tội ác của mình với viện bảo tàng Cải Cách Ruộng Đất (năm 2014), cũng may là người dân đã phản đối dữ dội nên họ phải dẹp tiệm sau vài ngày khai trương. Không thấy bà Ninh lên tiếng chỉ trích, phê bình việc CCRĐ này.

Một người trí thức thật sự, phải dùng sự hiểu biết, kiến thức, sở học của mình phục vụ dân tộc, đất nước, xã hội. Bà Tôn Nữ Thị Ninh đã làm ngược lại, bà chỉ phục vụ cho tội ác, cho tham vọng cá nhân. Con người trí thức, cái học, sự hiểu biết của bà thật đáng tởm, phỉ nhổ.

Viết đến đây, thú thật tôi thấy lợm giọng khi nhìn khuôn mặt kiêu ngạo, vô cảm của bà Tôn Nữ Thị Ninh trong những tấm hình trên tờ báo Infonet, trên các trang mạng đăng lá thư ngỏ của bà.

Xóa bỏ hận thù nhưng không được quyền xóa bỏ lịch sử. Đúng thế! Bob Kerrey đã thành tâm muốn xóa bỏ hận thù, ông không hề muốn xóa bỏ lịch sử.

Bẩy mươi mốt năm qua kể từ khi ĐCS VN cướp chính quyền đã chứng minh điều đó. Chỉ có bà Ninh, những người đồng chí của bà, đảng CSVN là không hề muốn xóa bỏ hận thù, chỉ muốn xóa bỏ lịch sử. Không xóa bỏ được lịch sử, bà Ninh, đảng và chế độ CSVN luôn luôn tìm cách bóp méo, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho tội ác của mình.

____

Huy Đức

BẢN CHẤT CUỘC CHIẾN

7-6-2016

“Tại sao ra đi từ Huế mà bà chưa từng một lần chất vấn chính quyền về cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế.” Việc nhiều Facebookers đặt câu hỏi này với bà Tôn Nữ Thị Ninh ngay sau khi bà lên tiếng phản đối quyết định bổ nhiệm cựu thượng nghị sỹ Bob Kerrey làm chủ tịch FUV cho thấy cuộc tranh luận vừa qua không còn nhắm vào cá nhân Bob Kerrey hay trường FUV nữa mà trở thành cuộc tranh luận về bản chất cuộc chiến tranh mà Bob Kerrey ở đó.

Không ai nói bà Ninh nói sai người ta chỉ đòi bà, nếu vẫn tự nhận là trí thức, thì cần phải công bằng.

Bà Ninh vốn vẫn từng ung dung nói những điều tương tự và bà vẫn được phần lớn công chúng “sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” thần tượng.

Nhưng người Việt Nam bây giờ không còn chỉ được bú mớm từ bầu sữa của hệ thống tuyên giáo. Không có gì bất ngờ khi vẫn còn có khá nhiều người ủng hộ bà và cũng càng không bất ngờ khi có rất nhiều người phản đối bà.

Cho dù ý kiến bạn thế nào cũng nên cám ơn Nguyen Thanh Tuan vì đã khơi mào cho cuộc tranh luận vô cùng hữu ích này.

PS: Tôi nghĩ là chúng ta không nên đặt vấn đề tha thứ cho những hành vi tội ác như Bob Kerrey đã làm nhưng nên đặt hành vi ấy trong hoàn cảnh chiến tranh. Điều quan trọng là đừng để chiến tranh xảy ra vì nó sẽ nhanh chóng biến những con người thành con thú.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Mậu Thân 1968, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Xin hỏi bà Ninh Tôn Nữ: Động cơ nào…

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

Xin hỏi bà Ninh Tôn Nữ: Động cơ nào…

Blog RFA

CanhCo

6-6-2016

Bà Tôn Nữ Thị Ninh. Nguồn: Tim Sloan/ AFP/ GettyBà Tôn Nữ Thị Ninh. Nguồn: Tim Sloan/ AFP/ Getty

Ông Obama đến Việt Nam mang theo hai món quà, thứ nhất là bỏ cấm vận vũ khí sát thương, thứ hai là Đại học Fulbright Việt Nam.

Món thứ nhất cần phải mua, còn món thứ hai hoàn toàn biếu không từ ngân sách của Quốc hội Mỹ và các nguồn tài trợ do vận động gây quỹ của các tổ chức hay tư nhân tại Mỹ. Trường được vận hành phi lợi nhuận, không có cổ đông và vì vậy không có việc chia lãi cho người góp vốn xây dựng ngôi trường này. Trường được huy động vốn hoạt động qua một quỹ tín thác và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Fulbright Việt Nam được giao cho ông Bob Kerrey.

Trên danh nghĩa ông Bob Kerrey là người trực tiếp vận động để quỹ này có tiền và có lẽ danh tiếng của ông mới là yếu tố quan trọng nhất để được chọn làm công việc khá nhiêu khê nhưng không lương này.

Nhìn tổng quát thì trường Đại học Fulbright Việt Nam là mô hình đáng ghi nhận thiện chí của người Mỹ và chính phủ Mỹ. Từ nhiều năm qua, chính phủ Mỹ đã đào tạo cho Việt Nam rất nhiều TS để trở về làm việc tại Việt Nam. Chữ Fulbright trên văn bằng của họ là niềm kiêu hãnh không cần che dấu. Những đóng góp của các chương trình Fulbright rất thiết thực cho hoàn cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hòa nhập vừa qua và không ai có thể nghi ngờ kết quả mà Fulbright mang lại cho Việt Nam.

Đó là những học bổng đơn lẻ và con số sinh viên Việt Nam được học bổng có thể nói đếm trên đầu ngón tay hằng năm. Trường Đại học Fulbright mở ra tại Việt Nam sẽ thu hút số sinh viên đáng kể và nó chính là làn sóng giáo dục mới thúc đẩy ước mơ cho giới trẻ Việt Nam và ngôi trường này sẽ nhanh chóng làm đối trọng cho những ngôi trường khác, công hay tư, phải xem xét lại chính mình.

Tuy nhiên sau một lúc phấn khởi, một vài nhân vật trí thức Việt Nam lại bày tỏ sự không hài lòng khi biết được rằng ông Bob Kerrey, người được đề cử làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Fulbright Việt Nam lại có tì vết trong cuộc chiến Việt Nam. Cụ thể ông đã chỉ huy một toán biệt kích hải quân tập kích vào Thạnh Phong, một ấp nhỏ thuộc tỉnh Bến Tre và giết chết 24 người trong đó có 14 phụ nữ, trẻ em và một người già.

Ông Kerrey xác nhận mình là người chỉ huy mặc dù ông không giết người nào trong số này. Thế nhưng trong bao năm qua ông đã nỗ lực làm mọi việc để giúp Việt Nam và hơn hết là giúp cho chính ông thoát được ám ảnh về cuộc hành quân đó.

Trong các trí thức chống lại ông, nổi cộm lên là phát biểu gay gắt hơn ai hết của bà Tôn Nữ Thị Ninh. Tuy cố chứng minh là bà quen biết khá nhiều người Mỹ và không hề thành kiến nhưng bà đặt câu hỏi về lòng hối hận của ông Kerrey và yêu cầu ông nên rút lui khỏi Fulbright.

Trả lời báo chí bà nói: “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”.

Hãy nhìn lại cách mà bà Ninh phán xét. Thứ nhất bà cho rằng không ai chứng nhận được sự hối hận vì nó nằm trong lòng của ông Kerrey. Như vậy là bà cực đoan và nguy hiểm. Cực đoan, vì là một trí thức, lại là “trí thức lớn”, trước khi phán xét bà phải biết thế nào là research, tham khảo mọi nguồn từ con người cho tới tài liệu xem người mà bà nghi ngờ có được chứng minh ngược lại hay không. Nguy hiểm, vì sự nghi ngờ xem ra có cơ sở ấy lại là mảnh đất màu mỡ cho lòng tị hiềm có cơ hội trồi lên trước khi niềm hy vọng về một nền giáo dục đầy tiềm năng đơm hoa kết trái.

Bà Ninh từng vận động thành lập ngôi trường mang tên Đại học Trí Việt nhưng sau nhiều năm xin hết đầu này tới đuôi nọ, nguồn tài chánh từ nước ngoài vẫn là giấc mơ, cùng lúc hồ sơ thành lập trường vẫn nằm trong ngăn kéo của các cơ quan trách nhiệm. Bà đã quá rõ vai trò của người vận động cho số tiền lớn và liên tục mỗi năm không phải là việc dễ dàng. Trong lập luận chống đối ông Bob Kerrey bà không ngại dùng hạ sách: “hôn nhân dị chủng”.  

Bà nói: “Nếu phía Mỹ khăng khăng giữ quyết định của mình, thì đối với tôi, không còn có thể coi đây là một dự án chung như nhóm sáng lập vẫn khẳng định. Vì rằng như trong một cuộc hôn nhân, hai bên cần phải lắng nghe, tôn trọng cảm xúc và suy nghĩ của nhau”

Cuộc hôn nhân đã thành hình, đã ký giấy hôn thú, đã nhận của hồi môn từ Mỹ, đã tiệc tùng liên tục tại Hà Nội lẫn Sài Gòn vậy mà bà Tôn Nữ Thị Ninh lại cho rằng không thể coi đó là dự án chung, và bà thất vọng.

Bà có quyền thất vọng, và có lẽ đó là cái quyền “hợp lý” nhất dành cho bà. Bởi lẽ khi bà nghi ngờ một con người ở phía bên kia cuộc chiến có thật tâm hối hận việc họ tàn sát người dân Việt Nam hay không, thì người Việt cũng có quyền đặt câu hỏi về sự hối hận của những người bà gọi là đồng chí, họ có hối hận về các vụ thảm sát người dân Việt trong cuộc chiến hay không.

Bà là người Huế, là danh gia vọng tộc, lại là một cán bộ ngoại giao, văn hóa cao cấp sao lại không biết vụ thảm sát Mậu thân với bao nhiêu cái chết oan khuất mà đến nay chưa một ai lên tiếng nhận trách nhiệm về mình như ông Bob Kerrey nhận tại Thạnh Phong?

Bà có biết trong trận chiến cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh vào sáng ngày 21-4-1975, tại ấp Phú Mỹ, xã Tân Lập, huyện Xuân Lộc (nay là ấp Phú Mỹ, xã Xuân Lập, thị xã Long Khánh), một cuộc tàn sát tập thể do các “anh lính cụ Hồ” gây ra làm hơn hai trăm thường dân thiệt mạng oan khốc. Cựu chiến binh Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 QĐNDVN đã là chứng nhân cho cuộc thảm sát này và quan trọng nhất: anh ta vẫn còn sống.

Giữa những cuộc thảm sát có mục đích ấy, theo bà ai cần sám hối hơn ai? Người chỉ huy trận đánh Xuân Lộc hay ông sĩ quan Bob Kerrey?

Chỉ cần hai câu chuyện này thôi bà nên nghiên cứu lại để lần sau có phát ngôn thì nên kiệm lời.

Nước Việt luôn có những bài học tươi rói hàng ngày, bởi khi bà vừa phát biểu xong thì VTV lại có chương trình “động cơ nào….” Để nói về vụ cá chết.

Giống như “chị” Tạ Bích Loan, tôi muốn hỏi nhỏ bà: Động cơ nào khiến bà gay gắt một cách khó hiểu đối với ông Bob Kerrey như vậy? Và động cơ nào khiến một người ham nói như bà lại im lặng trước hàng ngàn cái chết từ từ ngay tại quê hương Huế của bà sau khi vụ Vũng Áng xảy ra làm người dân lo tái mặt?

_________

 

BOB KERREY LÀ KHỞI ĐIỂM XẤU CHO TRƯỜNG ĐH FULBRIGHT

Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Tp.HCM

2-6-2016

Thời sinh viên, tôi từng tham gia biểu tình ở Paris chống chiến tranh VN trong những năm 1960-70. Mặt khác, luận án thạc sĩ của tôi là về nhà văn Mỹ William Faulkner. Và trong gần 30 năm hoạt động đối ngoại, tôi đã xây dựng được những mối quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau và bạn bè với đông đảo người Mỹ thuộc nhiều thành phần, từ các nhà ngoại giao như đại sứ Pete Peterson, những nhóm đã góp phần trực tiếp vào phong trào phản chiến như của John McAuliff và Sally Benson, đến những doanh nhân như Ernie Bower, những cựu chiến binh như Bobby Muller và Tom Vallely (người mang chương trình Fulbright đến VN), hay báo chí như Murray Hierbert, giới học thuật nghiên cứu như Walter Issacson. Do vậy, tôi không phải là người vì quá khứ mà “ghét” hay ác cảm với người Mỹ. Như hầu hết người VN, tôi sẵn sàng gạt quá khứ sang một bên để hướng tới tương lai cùng với nhân dân hai nước vì lợi ích chung.

Về phía VN, giáo dục là một lợi ích có ý nghĩa chiến lược. Do đó tôi ủng hộ và đã có mặt tại buổi trao giấy phép thành lập cho ĐH Fulbright ở TP HCM hôm 25-5. Và như mọi người, hy vọng rằng đây sẽ là một trường góp phần tạo động lực cho nền giáo dục đại học VN lành mạnh, chất lượng và hội nhập thế giới.

Tuy nhiên, khi biết rằng cựu thượng nghị sĩ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch HĐQT của trường ĐH mới, tôi vô cùng bàng hoàng và không thể hiểu nổi.

Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2-1969: điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận.

Có thể nhìn nhận vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau, cả phía Việt Nam và phía Mỹ. Nhưng một điều chắc chắn, sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí chủ tịch HĐQT Đại học Fulbright. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó. Vì rằng:

– Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ. Tôi biết nhiều trường hợp cựu chiến binh Hoa Kỳ không trực tiếp dính tới các vụ thảm sát hiện sống trên lãnh thổ VN và góp phần ở các địa phương để giảm thiểu hậu quả chiến tranh như Chuck Searcy với dự án tháo gỡ bom mìn ở Quảng Trị, hay hàng năm về tận nơi để tìm kiếm sự tha thứ của những nạn nhân Mỹ Lai như Billy Kelly (dù không hề tham gia thảm sát nào).

– Bob Kerrey quan niệm giữ vị trí lãnh đạo ĐH Fulbright góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên. Tuy nhiên, như ông đã trả lời Financial Times (Anh) cách đây 1-2 ngày, ông sẵn sàng từ chức, nếu sự tham gia của ông có thể tổn hại đến dự án. Tôi nghĩ, không cần chần chừ hơn nữa, nếu ông rời vị trí ngay bây giờ như ông tuyên bố “sẵn sàng” thì cử chỉ đó là cử chỉ tự trọng và sẽ được người Việt Nam đánh giá cao. Thiết nghĩ, nhiều người Mỹ sẽ đồng tình với quyết định đó của ông.

– Tôi biết rằng vài người liên quan trực tiếp đến dự án công khai khẳng định rằng Bob Kerrey là người “hoàn toàn phù hợp” để giữ vị trí lãnh đạo đó. Tôi xin hỏ,i lẽ nào nước Mỹ không còn ai có thể vận động vốn cho trường ĐH Fulbright ngoài Bob Kerrey? Nếu nhóm dự án thực hiện việc lựa chọn vị trí chủ tịch HĐQT với nhiều ứng viên một cách công khai, thì tôi tin chắc là đã có thể tìm được người phù hợp về mặt chuyên môn và kinh nghiệm, nhưng tên tuổi không bị mang tiếng như vị này. Sẽ là một vết đen không thể xoá sạch khỏi sự ra đời của trường đại học danh giá như ĐH Fulbright nếu đây là chủ tịch sáng lập của ĐH này. Những người bạn Mỹ mà tôi có trao đổi hai hôm nay cùng chia sẻ quan điểm như thế.

– Nếu phía Mỹ khăng khăng giữ quyết định của mình, thì đối với tôi, không còn có thể coi đây là một dự án chung như nhóm sáng lập vẫn khẳng định. Vì rằng như trong một cuộc hôn nhân, hai bên cần phải lắng nghe, tôn trọng cảm xúc và suy nghĩ của nhau. Nếu không như thế thì hoá ra dự án đại học Fulbright là dự án của người Mỹ, thành lập một ĐH Mỹ tại VN, trong đó ý kiến và sự đóng góp của người Việt hoàn toàn là thứ yếu.

Có thể nói, việc bố trí Bob Kerrey là chủ tịch HĐQT ĐH Fulbright thể hiện sự vô cảm đối với cảm xúc và suy nghĩ của không ít người Việt Nam, nếu không nói là xem thường phản ứng và lòng tự trọng của chúng ta.

Tôi tin rằng, sự điều chỉnh đó không những không ảnh hưởng đến quan hệ hai nước đang tiến triển tốt đẹp. Ngược lại, việc này sẽ đặt hợp tác Việt Mỹ trong khuôn khổ ĐH Fulbright trên một nền tảng, khởi điểm bình đẳng, lành mạnh và vững bền.”

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Hòa Hợp Hòa Giải, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh gửi người Việt Nam và các bạn Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

Thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh gửi người Việt Nam và các bạn Mỹ

Ngày 7/6, Infonet đã nhận được bức thư ngỏ của bà Tôn Nữ Thị Ninh – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại QH, nay là Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TPHCM nêu quan điểm về sự kiện Bob Kerrey và ĐH Fulbright VN đang được dư luận quan tâm.

Báo điện tử Infonet xin được đăng tải nguyên văn bức thư ngỏ này của bà Tôn Nữ Thị Ninh.

 

———————————————————

Tôn Nữ Thị Ninh

TPHCM, 6/6/2016

Thư ngỏ gửi người Việt Nam và các bạn Mỹ

1. Ngày 1 tháng 6, tôi đã bày tỏ cô đọng quan điểm về việc ông Bob Kerrey (BK) giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Tín Thác (Board of Trustees – BOT) Đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Nay tôi xin gửi thư ngỏ đến người Việt Nam và các bạn Mỹ quan tâm đến vấn đề này với mong muốn diễn giải rõ hơn, đầy đủ hơn quan điểm của tôi.

2. Trước hết, tôi xin nêu một số thông tin để làm rõ hơn về nguồn tài chính và vai trò Hội đồng Tín Thác của một đại học kiểu Mỹ như FUV:

2.1. 20 triệu USD vốn ban đầu cho việc xây dựng FUV được nhắc đến như đóng góp mới của chính phủ Mỹ. Thực tế là: đó là khoản 20 triệu USD còn lại từ chương trình VEF (Quỹ Giáo dục Việt Nam – đã được thực hiện từ năm 2000, trích 5 triệu USD/năm trên tổng số 100 triệu USD cho chương trình học bổng) là món tiền chính quyền Sài Gòn nợ chính quyền Hoa Kỳ trước 1975, mà nhà nước CHXHCN Việt Nam thống nhất nhận trả phía Mỹ theo thông lệ quốc tế. Nói cách khác, thực chất đây là việc chuyển một món tiền có sẵn – từ mục đích cấp học bổng hàng năm sang mục đích tài trợ ban đầu cho FUV – chứ không phải do Bob Kerrey mới gây quỹ đặc biệt cho FUV.

2.2. Đối với một đại học kiểu Mỹ như FUV, vai trò của một Hội đồng Tín Thác và người đứng đầu Hội đồng không đơn giản bó hẹp trong nhiệm vụ gây quỹ mà là quyết định định hướng chiến lược của trường, và đề ra chủ trương với hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan đến những bên có lợi ích khác nhau trong xã hội. Chính Hội đồng lựa chọn và bổ nhiệm Hiệu trưởng. Điều này để phủ định ý kiến cho rằng đây là vị trí với vai trò hạn hẹp, hàm ý không đáng để dư luận quan tâm, tranh cãi.

3. Tôi không đồng tình với ý kiến muốn trấn áp sự phản đối việc bổ nhiệm ông BK đứng đầu BOT/FUV bằng cách gắn việc này với chuyến thăm của Tổng thống Obama. Tôi không tin Tổng thống Obama sẽ đồng ý việc kết hợp này nếu biết trước việc bổ nhiệm BK sẽ gây tranh cãi, mở lại quá khứ đau buồn, đi ngược với định hướng chủ đạo của chuyến thăm là đồng thuận hướng về tương lai.

4. Tôi cũng không tán thành kiểu khép những người phản đối việc bổ nhiệm BK là bảo thủ không hướng về tương lai, “không ủng hộ hòa giải”. Ví dụ như, tôi theo quan điểm phản đối nhưng bạn bè Mỹ của tôi không hề kết luận là tôi không hướng về tương lai, “không ủng hộ hòa giải”. Ủng hộ hòa giải, hướng về tương lai không phải là độc quyền của những ai ủng hộ BK làm Chủ tịch BOT/FUV. Nếu BK không có quá khứ nặng nề đối với nhân dân Việt Nam, thì chắc không ai bình luận gì. Nếu người được bổ nhiệm là cựu chiến binh như cựu Hạ nghị sĩ, Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam Pete Peterson hoặc là chính ông Thomas Vallely, cũng là cựu chiến binh, là người có công lớn nhất trong việc thành lập FUV thì không ai sẽ có ý kiến gì.

5. Tôi không hiểu tại sao nhất thiết phải bổ nhiệm BK vào vị trí quan trọng của FUV trong giai đoạn mở đầu mang ý nghĩa biểu tượng cao? Những người Mỹ đã bày tỏ quan điểm với tôi (trong đó có cựu chiến binh) hoặc công khai trên báo chí và các mạng xã hội đều không tán thành, thậm chí phê phán thẳng thừng. 

Chẳng hạn như PGS. Jonathan London được BBC trích dẫn ngày 2/6: “…đó là một quyết định phải nói là vô trách nhiệm. Muốn thành lập một đại học mới ở Việt Nam thì ít nhất phải nhạy cảm với lịch sử của hai nước. Tôi nghĩ đây là một sai lầm hết sức buồn.” Hay là TS. Mark Ashwill, chuyên gia giáo dục, sống và làm việc lâu năm tại Việt Nam, trả lời báo điện tử Trí Thức Trẻ ngày 3/6, nhận xét đây là “một nỗi hổ thẹn (disgrace)”. BK nên “từ chức ngay lập tức. 

Chắc chắn Fulbright có thể tìm được lãnh đạo tốt hơn những người như BK, một biểu tượng của quá khứ đen tối”. Lẽ nào người Việt Nam chúng ta tỏ ra bình thản hơn cả người Mỹ đối với một biểu tượng của quá khứ đen tối?

6. Trước một số không nhỏ công dân mạng kêu gọi “hãy rộng lượng, bao dung, tha thứ, hãy hướng về tương lai, vì tương lai của Việt Nam…”, tôi muốn nói rõ như sau:

6.1. Việc tha thứ hay không tha thứ cho vai trò của BK trong vụ thảm sát ở thôn Thạnh Phong là quyền của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, có thể tha thứ nhưng đồng thời không tán thành việc BK giữ vị trí lãnh đạo một trường ĐH tại Việt Nam (việc ông lãnh đạo một ĐH của Mỹ bên Mỹ là chuyện khác).

6.2. Tôi cũng khẳng định chúng tôi phản đối không phải vì chỉ xuất phát từ cảm xúc, cảm tính, không phải vì thiếu “lý trí tỉnh táo và sáng suốt”. Ngược lại, vì tỉnh táo và sáng suốt mong muốn cho đại học Fulbright có một khởi điểm lành mạnh, đồng thuận, suôn sẻ và một con đường phát triển bền vững, chúng tôi mới lên tiếng. Lẽ ra những người quyết định mời BK đảm nhiệm vị trí lãnh đạo FUV nên “tiến lên phía trước ở Việt Nam nhưng ghi nhớ những bài học của Việt Nam” trong đó bài học thứ ba là “biết từ tốn khi nghĩ rằng đã hiểu biết văn hóa nước khác” (Bài xã luận trên New York Times ngày 23 tháng 5, 2016).

7. Chúng ta đang chứng kiến một dạng kêu gọi nhau thi đua bày tỏ “vị tha, cao thượng”. Nhân dân Việt Nam không còn phải chứng tỏ, chứng minh một lần nữa tính nhân văn của mình trong quan hệ với kẻ thù trước đây mà dư luận quốc tế, đặc biệt bản thân các cựu chiến binh Hoa Kỳ, đã công nhận từ lâu. 

Tôi ngạc nhiên về những tình cảm cảm thông sâu sắc dành đặc biệt cho sự khổ tâm của BK với “những lời thốt ra từ gan ruột”, ca ngợi ông “rất can đảm khi quyết định nhận cương vị hiện nay”! Trong khi đó, tôi nhớ đến lời của một người ở Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, nơi đang trưng bày chứng tích về vụ thảm sát ở Thạnh Phong, thương xót cho các nạn nhân chưa hề được người có tội trở về thắp cho họ một nén hương.  Người đó không thể tưởng tượng cảnh hàng trăm hàng ngàn sinh viên Việt Nam Đại học Fulbright sẽ gọi ông BK một cách tôn kính là “Thầy” theo phong tục Á Đông và đặc biệt ở Việt Nam. Và tôi lại nghĩ, đến một ngày nào đó, ảnh của ông BK sẽ được treo tại ĐH Fulbright ở vị trí trang trọng nhất dành cho các vị sáng lập của Trường!

8. Tôi nghĩ đến nay đã có thể kết luận là việc chọn ông BK làm Chủ tịch Hội đồng Tín Thác Đại học Fulbright Việt Nam đã thành một vấn đề gây tranh cãi thay vì tạo nên sự đồng thuận cần thiết cho dự án quan trọng này cất cánh thuận buồm xuôi gió.

Hiện giờ quả bóng đang nằm về phía nhóm sáng lập Đại học Fulbright. Vì đây là một dự án giáo dục với ý nghĩa và hệ lụy sâu rộng, tôi hi vọng nhóm sẽ nghĩ lại và cùng ông BK đưa ra giải pháp ổn thỏa: chọn một người khác đảm nhiệm vị trí lãnh đạo Hội đồng Tín Thác FUV.

Bản thân tôi sẵn sàng gặp lại Bob Kerrey, người cựu chiến binh Mỹ, để trao đổi về những việc góp phần thúc đẩy quan hệ Mỹ – Việt vì lợi ích nhân dân hai nước.

____________

Vai trò cựu binh Mỹ trong QH Mỹ – Việt

BBC

5-6-2016

(SPENCER PLAT TNEWSMAKERS GETTY IMAGES)
Ông Bob Kerrey đã nhận trách nhiệm liên quan vụ thảm sát nhiều phụ nữ và trẻ em thời chiến tranh Việt Nam

Nhiều vị Tổng thống Hoa Kỳ phải có được sự ủng hộ của các cựu chiến binh mới có các động thái tiến gần hơn với Việt Nam, theo một nhà phân tích về quan hệ quốc tế từ Đại học George Mason.

Nhận xét tại Bàn tròn thứ Năm hôm 2/6 của BBC Tiếng Việt về những tranh cãi xung quanh vụ việc cựu chiến binh Bob Kerrey và vai trò tại Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng nói:

“Ông Clinton phải nhờ mấy ông đã từng đánh nhau ở Việt Nam rồi ủng hộ mới dám làm chuyện đó [bình thường hóa quan hệ].

Kỳ này khi ông Obama sang Việt Nam, trước kia ông McCain muốn làm nghị quyết ở thượng viện ủng hộ không thành công, mà ông ấy sang ông ấy bỏ cấm vận.

“Nhưng sau đó thì ngày 23/5 vừa qua, trên tờ New York Times có bài bình luận do ba ông là John McCain, ông John Kerry và ông Bob Kerrey viết ủng hộ gỡ bỏ lệnh cấm vận đó, tức là bởi không có nghị quyết thì mấy ông đó đưa ra bài viết gần như là đồng thuận lưỡng đảng để giúp ông Obama khỏi bị chỉ trích bên này.

“Vì bên này cũng có nhiều người muốn chỉ trích lệnh cấm vận cũng như trường hợp ông Bob Kerrey. Tôi nghĩ ông Kerrey thành thật muốn giúp Việt Nam.

“Vấn đề chỉ đặt ra thôi đó là tùy từng người. Vấn đề là có nên tha thứ không? Thì tôi thấy là đa số những người hỏi ở Việt Nam họ đều nói là nên tha thứ,” Giáo sưNguyễn Mạnh Hùng nói với BBC từ Washington, D.C hôm thứ Năm.

Hôm 04/06, truyền thông Việt Nam trích lời Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng nói về vụ ông Bob Kerrey: “Vượt lên thù hận, chúng ta sẽ chỉ càng cho thấy chúng ta mạnh mẽ và cao lớn về tầm vóc văn hóa.”

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng trong một buổi thảo luận của BBC Tiếng Việt

Nguyên Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ Bob Kerrey đã nhận trách nhiệm liên quan tới vụ thảm sát nhiều phụ nữ và trẻ em ở làng Thạnh Phong, Bến Tre năm 1969, và nay nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng tín thác của FUV.

Đây là dự án do Việt Nam và Hoa Kỳ hợp tác thực hiện, và được Việt Nam trao quyết định thành lập hôm 25/05, với sự tham gia của Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry. Đây là trường đại học hoàn toàn có vốn nước ngoài, do Việt Nam đóng góp khu đất.

Ngoại trưởng John Kerry cũng là một cựu chiến binh tham chiến ở Việt Nam giai đoạn 1968 – 1969.

Chuyên gia truyền thông và thương hiệu từ Việt Nam, người từng đi học nước ngoài với học bổng Fulbright, bà Đỗ Minh Thùy cho rằng, ông Bob Kerrey “thiết thực đóng góp” cho quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù.

“Ông Bob Kerrey có sai lầm thời trẻ, nhưng đã xảy ra gần 50 năm rồi,” bà Thùy nói và cho rằng lời xin lỗi tới người dân Việt Nam của ông Kerrey là “chân thành”.

Ngoài ra, ông “không chỉ xin lỗi mà còn nỗ lực hơn khả năng của họ đề đền đáp, bù đắp vết thương chiến tranh, thiết thực đóng góp cho mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.”

Hòa giải

Trả lời câu hỏi của Hạnh Ly, BBC Tiếng Việt về cách nhìn nhận chiến tranh và câu chuyện hòa giải từ sự việc xung quanh chuyện ông Bob Kerrey, ông Phạm Hữu Thắng, cựu Đại tá quân đội Việt Nam nói, đây là vấn đề mà chính quyền Việt Nam quan tâm.

Bên cạnh quan hệ hai nước còn là vấn đề hòa giải với Việt Nam Cộng hòa, cựu đại tá đồng thời là nhà nghiên cứu từ viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, nói:

“Hậu quả chiến tranh còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết và vấn đề hòa giải dân tộc là vấn đề mà dư luận quan tâm, tất nhiên là cả hai phía, cả phía những người Việt Nam Cộng hòa ngày xưa và của chính thể, nhân dân ngày nay.

“… Việt Nam hiện nay rất mong muốn hòa giải giữa hai phía, những người còn lại của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước kia, rất muốn có sự đóng góp và xây của họ cho phát triển đất nước.”

PGS.TS Jonathan London phản đối vai trò của ông Bob Kerrey tại Việt Nam

Cuối chương trình, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng kết luận rằng, ông ‘chấp nhận’ ông Bob Kerrey dựa trên truyền thống của Việt Nam và quyền lợi của chính quyền.

“Từ xưa đến nay tôi chưa thấy một chính trị gia cỡ lớn nào mà nói những lời tuyên bố rõ ràng thẳng thắn và chi tiết như ông Kerrey.

“Điểm thứ hai, tranh cãi về ông Kerrey là vấn đề biểu tượng, mỗi người suy nghĩ biểu tượng của ông ấy là gì. Tôi nhìn thấy hai điều: thứ nhất là truyền thống dân tộc Việt Nam và thứ hai là quyền lợi của chính quyền Việt Nam, và khi nhìn vào hai điều đó, tôi đi đến kết luận là chấp nhận ông Kerrey.”

Tuy nhiên nhà quan sát xã hội, Phó Giáo sư Jonathan London cho rằng lựa chọn ông Bob Kerrey vào vai trò này ở Việt Nam là ‘rất đáng tiếc’.

“Chưa rõ là ông Kerrey có rút hay không, nhưng tôi nghĩ đó là giải pháp tốt nhất,” đặc biệt là sau chuyến đi để lại ấn tượng tốt của Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông London nói trong buổi thảo luận.

Ông giả thích thêm, “có một số nhà sử học, hoặc một số người làm việc ở Việt Nam đã lâu mà hiểu biết nhiều về Việt Nam đương đại có thể phù hợp hơn và hiệu quả hơn vào vị trí này.

“Tốt nhất là những người làm ở vị trí này không để mất tầm nhìn về tương lai.”

Xem lại toàn bộ thảo luận tại: http://bit.ly/282F8Lo

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Giao Duc, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Về trường hợp Bob Kerrey, (nhà văn Nguyên Ngọc)

Posted by hoangtran204 trên 08/06/2016

3-6-2016

Văn Việt

Nguyên Ngọc

Những ngày qua, trên các báo và các trang mạng, nhiều người đã lên tiếng tranh cãi về việc cựu chiến binh Mỹ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) mà chúng ta đều mong đợi với rất nhiều hy vọng, mới được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh cãi đến nay chưa xong.

Quả thật Bob Kerrey là một nhân vật không hề đơn giản. Và cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, trường hợp của ông là rất tiêu biểu cho việc, dù muốn hay không, thì ta vẫn còn phải nghĩ rất nhiều và cố mà thấu hiểu hơn nữa về cuộc chiến tranh đã qua. Về những con người, từng con người, đã đi qua cái lò lửa địa ngục ấy, bị nó đốt cháy và trui rèn. Số phận của họ, nỗi đau và trằn trọc không dễ nguôi của họ. Nhất là những người còn sống sót và đang đối mặt với cuộc sống hôm nay. Tôi, tôi cũng từng đi qua đó, và nay còn sống sót. Nên tôi cũng muốn hiểu. Tôi quan tâm đến Bob Kerrey, trường hợp kinh hoàng của ông ngày ấy, và cuộc đối mặt của ông hôm nay với thách thức ông đang đảm nhận. Và cũng muốn tự nghĩ cả về chính mình.

Nhiều người đã nói các chi tiết rồi, tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt: Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…

Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang (Nebraska), là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của  trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra.

Tôi chưa từng gặp Bob Kerrey, nhưng tôi may mắn có một người bạn thân, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam (the Trust for University Innovation in Vietnam – TUIV), đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV, cũng là người đã trực tiếp chọn Bob Kerry cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV. Thomas Vallely kể với tôi rằng, khi những người bạn cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam của Bob Kerrey là thượng nghị sĩ McCain và ngoại trưởng John Kerry đến gặp Bob để giúp ông trước nỗi ám ánh tội lỗi đeo đẳng, thì Bob đưa ra cho các bạn một yêu cầu buộc họ phải cam đoan: tuyệt đối không được bào chữa cho ông! Tôi nói với Thomas Vallely: “Vậy thì ông đã chọn rất đúng người lãnh đạo FUV!”.

Tôi cũng nói với Vallely rằng, nhưng phần tôi, là một người cũng từng có mặt trong suốt cuộc chiến tranh ấy, tôi thấy tôi cũng có bổn phận nói điều này khi tôi đọc được câu Bob Kerrey trả lời phóng viên Vietnamnet. Ông nói: “Hành động của tôi ở Việt Nam là kinh khủng và tôi tin đã được điều tra kĩ càng. Đó không phải là Mỹ Lai. Tuy nhiên, như bộ phim tài liệu sẽ sớm được phát của Ken Burns cho thấy: Chiến thuật của chúng tôi đã khiến ít nhất một triệu người vô tội thiệt mạng.” Bob Kerrey không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong cái mà ông gọi là “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường, ra khỏi “phụ nữ và trẻ con” (còn được gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”). Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó về căn bản là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con! Cho nên, cho phép tôi nói điều này: Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân. Nạn nhân bi thảm của cái “chiến thuật” nghe rất hay ho kia. Bob Kerrey nhận ra mâu thuẫn chết người ở chiến thuật ấy, nhưng không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao, chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi?*

Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi…

_____

Thật ra, từ 1954-1975, trong khi tấn công lấn chiếm Miền Nam, quân đội Việt Cộng xâm nhập vào các làng xóm, đô thị (như bọn khủng bố Alqueda hay ISIS hiện nay đang làm ở Afghanistan, Iraq, và Syria), và Việt Cộng thường núp trong nhà dân, hoặc đẩy dân ra phía trước, còn VC đứng sau lưng dân và bắn vào quân đội VNCH vì chúng biết rõ quân đội miền nam không dám bắn vào đàn bà, trẻ em, người già.

_____________

http://www.nytimes.com/2001/04/25/magazine/25KERREY.html?pagewanted=all

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Giao Duc, Nhan Vat | Leave a Comment »