Trần Hoàng Blog

► Goodbye Việt cộng

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2016


Phạm Thị Hoài

Một lần đi cắt tóc trong khu buôn bán của người Việt hai mươi năm trước, tôi ngạc nhiên thấy thợ bỏ công chăm chút tỉ mỉ. Dùng kéo nhỏ, cắt thận trọng từng lọn, hơn ba mươi phút cho mái tóc luôn rất ngắn của tôi. Bình thường dịch vụ của người Việt bỗ bã, nhanh, ẩu và rẻ. Ngồi xuống là họ trùm cho một tấm choàng có lẽ đã mấy tháng không giặt, vung kéo lớn cắt xoèn xoẹt, thậm chí cho luôn tông đơ chạy vù vù rồi quét phù phù tóc dính trên mặt là xong. Tôi khen. Cô gái còn rất trẻ, có lẽ chưa kịp đánh mất sự tử tế. Cô bảo: “Thì cộng mình với nhau mà chị.”

Tôi lại ngạc nhiên nữa. Cô gái giải thích, thì chị em mình người Bắc, cộng cả, kiều đời nào vào đây.

Hai chữ vỏn vẹn Việt cộng đủ để giải thích lịch sử nhân loại nửa cuối thế kỷ XX. Người Việt đã hăng say lĩnh xướng cho buổi hòa nhạc đẫm bạo lực mà gậy chỉ huy chuyển từ tay kẻ này sang kẻ khác. Khi đi du học ở Đông Đức, tôi cũng dùng chữ cộng, nói tắt, như các sinh viên khác, để chỉ chính mình, phân biệt với Tây, dù đó là Tây cũng cộng sản. Dùng đơn giản như một từ đồng nghĩa, có chút xíu nghịch ngợm nhưng tuyệt không mang ẩn ý, không một chút vướng bận. Không hay biết rằng hai chữ ấy gắn với biết bao xung đột, biết bao lý tưởng thiêu đốt, một bên là hừng hực niềm tin và hi vọng, một bên là thù oán chất chồng. Rất lâu sau tôi mới biết đến thân cộng và chống cộng, cặp hộ pháp án ngữ lối vào bất kỳ câu chuyện Việt Nam nào, như ông Thiện ông Ác tùy điểm ngắm. Có những người bạn của tôi thà mang tiếng thân cộng hơn chung hàng ngũ chống cộng. Lại có những người khác thà mang tiếng chống cộng hơn sánh vai thân cộng. Có những người khuynh hữu, bảo thủ tận chân lông mà thân cộng. Có những người khuynh tả cấp tiến mà chống cộng mút mùa. Cuối cùng có những người cả thân cả chống lẫn lộn, tùy giai đoạn và hoàn cảnh cuộc đời.


Việt Cộng trên bìa tuần báo Time ngày 25/8/1967Song hơn bốn mươi năm hòa bình đã khiến cả cuộc hậu chiến thay xương máu trên cạn bằng hàng trăm ngàn xác chết dưới lòng biển cũng phải kết thúc. Bốn vị đứng đầu nhà nước Việt Nam hôm nay đều chưa từng cầm súng. Trong 19 ủy viên Bộ Chính trị, chỉ còn ba vị có chút tiểu sử trong quân ngũ những năm cuối cuộc chiến, có lẽ là lính chính trị hơn lính chiến hào. Kẻ thù không đội trời chung thuở nào, nay là đối tác toàn diện đáng săn đón nhất. Starbucks, McDonald’s, Coca-Cola và Pepsi, KFC, Hollywood, Forbes, Facebook, Google, Apple, Fulbright, Harvard, Bill Gates, Playboy, Victoria’s Secret, chỉ còn thiếu Goldman Sachs và Amazon. Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Con trai thuyền nhân cưới con gái Thủ tướng. Tổng Bí thư thăm Nhà Trắng. Số sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ vượt xa tổng số trong quá khứ tại Liên Xô. Kịch bản năm xưa, cố vấn Tàu giúp Việt Nam chống Mỹ, đang được chuẩn bị kỹ để tái cơ cấu, cố vấn Mỹ sẽ giúp người Việt chống Tàu. Không ở đâu trên toàn thế giới, Tổng thống Obama sẽ được đón chào nồng nhiệt như ở Việt Nam tháng tới. Thế giới đã thay đổi. Ở phương Tây bây giờ, người ta mơ một nền dân chủ pháp quyền phi tư bản. Ở Việt Nam, người ta muốn một chủ nghĩa tư bản phi dân chủ pháp quyền. Việt cộng, được coi là do Ngô Đình Diệm đề xuất để thay thế hai chữ Việt Minh vốn được cảm tình trong dân chúng, chậm nhất là bây giờ đã tuột khỏi văn cảnh của nó.

Hãy lấy trường hợp nhà văn Mỹ John Steinbeck làm ví dụ. Hai tác phẩm đỉnh cao, Chùm Nho của Uất Hận và Của Chuột và Người, cho thấy tác giả của chúng ít nhất phải khuynh tả. Song Steinbeck thậm ghét cộng sản.

Tháng 7/1966, giữa giai đoạn cuộc chiến ở cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam leo thang ác liệt, nhà thơ Xô-viết Yevtushenko đăng một bài thơ gửi Steinbeck trên tuần báo Literaturnaya Gazeta, bản dịch đăng trên New York Times. Nhà thơ Xô-viết và nhà văn Mỹ có chút quen biết từ trước. Yevtushenko từng đến Mỹ và Steinbeck từng đến Liên Xô. Trong bài thơ, thực ra là một bức thư ngỏ, Yevtushenko kêu gọi Steinbeck, chủ nhân của giải Nobel văn chương đầy uy tín đồng thời là bạn của Tổng thống Mỹ Johnson, lên tiếng phê phán cuộc chiến do Mỹ tiến hành ở Việt Nam và đứng về phía phong trào phản chiến. Steinbeck không để đợi lâu. Lời đáp của ông như sau (trích):

“Anh hẳn biết là tôi ghê tởm mọi cuộc chiến tranh, nhưng cuộc chiến này thì cá nhân tôi đặc biệt căm ghét. Tôi chống cuộc chiến do người Trung Quốc giật dây này. Tôi không quen bất kỳ một người Mỹ nào ủng hộ nó. Nhưng, bạn thân quý, anh yêu cầu tôi lên án một nửa cuộc chiến – nửa của chúng tôi. Tôi đề nghị anh hãy cùng tôi chống toàn bộ cuộc chiến đó.

Chắc anh cũng không tin rằng ‘phi công Mỹ ném bom xuống đầu trẻ em’, rằng chúng tôi đem bom và vũ khí hạng nặng đi giết thường dân vô tội? Đó đâu phải là Đông Berlin năm 1955, Budapest năm 1956 và Tibet năm 1959.

Anh cũng như tôi đều biết rằng chúng tôi ném bom những mục tiêu như kho dầu, phương tiện giao thông và những vũ khí tối tân hạng nặng mà họ dùng để giết các chàng trai Mỹ. Xăng dầu và vũ khí ấy từ đâu mà ra, chắc anh phải biết rõ hơn tôi. Chữ ghi trên đó là chữ tượng hình (tiếng Tàu) và bằng mẫu tự Kirin (tiếng Nga).

Tôi hi vọng rằng anh cũng biết, nếu những vũ khí ấy không được đem tới Việt Nam thì chúng tôi đã không có mặt ở đó. Nếu là một xung đột giữa người Việt với nhau thì chúng tôi đã không có mặt ở đó. Song thực tế không như vậy và chắc anh cũng biết rõ, vì chưa bao giờ tôi thấy anh là người ngây thơ.

Cuộc chiến này là của Chủ tịch Mao, do ông ta thiết kế và tổng điều hành từ xa, do Bắc Kinh chỉ đạo và được hỗ trợ tởm lợm bằng những vũ khí tàn bạo của các thế lực ngoại bang, những kẻ đã thổi bùng cuộc chiến. Vậy, bạn thân quý, chúng ta hãy lên án điều đó, nhưng ngoài ra chúng ta hãy cùng nhau lập một chương trình hành động hữu hiệu hơn một lời lên án.

Tôi đề nghị anh hãy dùng ảnh hưởng đáng kể của mình với nhân dân, với chính phủ nước anh và với tất cả những ai đang tuân lệnh Liên Xô, để chấm dứt việc tuồn những trang bị giết người này vào miền Bắc Việt Nam nhằm sử dụng chống miền Nam.

Về phần mình, tôi nguyện đem toàn bộ sức lực để thuyết phục chính phủ nước tôi rút hết quân lực và vũ khí khỏi miền Nam, chỉ để lại tiền và viện trợ tái thiết. Và anh biết đấy, khi phần anh đã thực hiện thì tôi sẽ tự động nối tiếp phần mình ngay tức khắc.”

(John Stenbeck: America and Americans and Selected Nonfiction, edited by Susan Shillinglaw and Jackson J. Benson, Penguin Classics 2003)


Phóng viên chiến trường John Steinbeck trên trực thăng Mỹ tại Việt Nam. Ảnh: Newsday

Lời đáp ấy bị coi là một cái tát vào mặt giới trí thức văn nghệ sĩ của “nhân loại tiến bộ toàn thế giới” với những đại diện nổi tiếng, từ Joan Baez đến Jane Fonda – hai nữ nghệ sĩ này rồi sẽ đay nghiến nhau hàng tháng trời trên truyền thông trong vấn đề thuyền nhân Việt Nam thời hậu chiến – từ John Lennon đến Martin Luther King, từ Noam Chomsky đến Jean-Paul Sartre, từ Bertrand Russell đến Heinrich Böll, Günter Grass… Chương trình hành động chung mà Steinbeck đề nghị với nhà thơ Xô-viết đóng băng trong chiến tranh lạnh.

Cuối năm 1966, Steinbeck đến Việt Nam trong tư cách phóng viên chiến trường. Trong những phóng sự dưới dạng những bức thư gửi từ Việt Nam, ông hân hoan tự hào đứng cùng hàng ngũ những người lính Mỹ; nâng niu những vỏ đạn bắn ra từ nòng súng Hoa Kỳ như kỷ vật thiêng liêng; ngợi ca đôi bàn tay của các phi công trực thăng là tinh tế như kéo đàn cello; chế nhạo những người phản chiến ở Mỹ – bị gọi là Vietniks – là cả đầu óc lẫn áo quần đều thối tha bẩn thỉu… Và bày tỏ một thái độ không thể quyết liệt hơn trước Việt cộng, VC, Charlie: Việt cộng là “son of a bitch”, đồ chó đẻ, là bọn khủng bố dân lành mà báo chí Mỹ không chịu đưa tin, là cái họa phải đào tận gốc. Ông nhắn người bạn tâm tình hư cấu: nghe đứa nào không biết gì mà nói mò khen Việt cộng thì vả vỡ mồm nó ra cho tôi nhé…


“Steinbeck tại Việt Nam: Gửi từ chiến trường”, Thomas E. Barden giới thiệu, Nhà xuất bản Đại học Virginia 2012

Những trang viết cuối đời này của Steinbeck – ông mất hơn một năm sau đó – mãi đến tháng Ba năm 2012 mới được xuất bản thành sách ở Mỹ. Và tôi không tin ở mắt mình: chỉ hai tháng sau, một trang mạng lớn ở Việt Nam, VnExpress, đăng ngay một bài ca ngợi đó là “những dòng chữ tâm huyết” và Steinbeck in Vietnam:

Dispatches from the War là “bức tranh đầy đủ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam qua con mắt của một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế giới”, là “một di cảo quý trong cuộc đời cầm bút của nhà văn”.

Báo chính thống ở Việt Nam ca ngợi tác phẩm “phản động” của nhà văn Mỹ chống cộng John Steinbeck? Các nhà báo ở Việt Nam hôm nay, may cho họ, đã từ bỏ gánh nặng của quá khứ hay không may, đã mù lịch sử? Việt Cộng đã già nua đến mất trí nhớ, hay Hà Nội đã xoay trục? Hay nó chỉ còn là một cách điệu của dĩ vãng, một cái nháy mắt với lịch sử, một thủ pháp gây sốc của văn hóa pop, một thủ thuật dựng thương hiệu, như ở tên của một băng nhạc post-punk Canada hay ở chuỗi hai chục quán cà phê sang chảnh tại Việt Nam?


Album của băng nhạc trước đây mang tên Viet Cong, nay đổi thành Preoccupations

s
Logo của chuỗi cửa hàng cà phê Cộng tại Việt Nam*
Cô thợ cắt tóc của tôi năm nào, nay có lẽ đã thành bà chủ một tiệm “USA Nails” ở Đông Berlin và sẽ quên “cộng mình với nhau” nếu tôi đến làm móng. Bây giờ, một thanh niên Nghệ An vừa vật vờ chờ khách trước siêu thị vừa ca vang những hành khúc chống Mỹ, một lần tôi hỏi, chỉ nhe răng cười: thấy người ta hát thế thì cháu hát thế. Cho vui ấy mà, đời bán thuốc buồn lắm. Việt cộng là thế nào hả cô? Cháu cố trả hết 500 triệu tiền vé, xong làm bộ giấy tờ để nước Đức nó lo cho mình, mình hưởng hết các chế độ chứ tội gì. Thế thì cháu là Việt kiều, hay cháu là người Đức cô nhỉ.

Tôi không đề nghị một đường lối hòa giải bằng cách nhét quá khứ vào môi trường chân không trong túi ni-lông cách ly với hiện tại. Song hai chữ Việt cộng quả thật đã hết hạn sử dụng. Hãy cho nó vào bảo tàng. Những vấn đề của Việt Nam hôm nay, hơn bốn mươi năm sau cuộc chiến tàn khốc của các hệ tư tưởng, cần được đặt trong văn cảnh thực của hôm nay. Goodbye, Việt cộng.

—————

* https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Phạm_Thị_Hoài

Enjoy another article by PTH.

Độc Tài Ngoại Lệ – Phạm Thị Hoài

clip_image002

Tháng trước, nhà độc tài của thành phố một triệu dân Đà Nẵng qua đời. Tháng này, đến lượt nhà độc tài của thành phố năm triệu dân Singapore. Cả hai để lại nhiều thương tiếc. Độc tài, nhưng mà tốt. Độc tài ngoại lệ. Thương hiệu “độc tài sáng suốt” ngày càng có giá. Không chỉ ở các nước Đông Á. Ở châu Âu tự do, nhu cầu thanh lý nền dân chủ loạn chức năng để mua gấp một nhà độc tài hiệu quả cũng đang nhen nhóm.

Họ được gọi là những nhà độc tài anh minh, dám nghĩ dám làm, giàu năng lực, đầy viễn kiến. Thậm chí là những nhà độc tài vì dân. Đã thế họ còn là những cá nhân hấp dẫn. Sức mê hoặc của ông Lý Quang Diệu hạ gục không chỉ người Singapore, mà cả giới tinh hoa kinh tế, chính trị và truyền thông toàn thế giới. Lãnh tụ các nước cũng độc tài tự hào được gọi ông là thầy đã đành, song lãnh tụ các nước dân chủ cũng hãnh diện được gọi ông là bạn, người nào có chút băn khoăn cho lập trường dân chủ thiếu vững vàng của mình thì gọi ông là một nhà “độc tài khai sáng”. Thế là tất cả đều ổn. Tất cả đều mê man trong cái charisma vô đối của ông, “người khổng lồ của lịch sử”, “thiên tài chính trị”, “nhà chiến lược kiệt xuất”, vừa là “chúa tể các giá trị châu Á” vừa là “đại diện đặc sắc nhất của Anh quốc ở phương Đông”…

Ông Thanh là một sự pha trộn lạ lùng của gian hùng và bộc trực, của một tay lâm biền hảo hớn và một chính ủy. Nghe ông diễn thuyết ta có thể cười ngất vì kiến thức của một chủ nhiệm hợp tác xã xốc vác được một ông vua tỉnh lẻ phát ngôn mạnh bạo.

Ông Nguyễn Bá Thanh không được chơi ở cúp ngoại hạng quốc tế đó, kiểu tóc vuốt từ mai trái qua mai phải rồi lại dồn tất cả ra sau gáy của ông đã nói rõ. Ngay ở trong nước, ông cũng không có cơ hội được thăng làm vĩ nhân. Trong thế giới cộng sản, “vĩ nhân” là danh hiệu chỉ cấp một lần, cho một nhân vật nhất định, và ở Việt Nam đó là Hồ Chủ tịch, không có cạnh tranh. Ông Thanh là một sự pha trộn lạ lùng của gian hùng và bộc trực, của một tay lâm biền hảo hớn và một chính ủy. Nghe ông diễn thuyết ta có thể cười ngất vì kiến thức của một chủ nhiệm hợp tác xã xốc vác được một ông vua tỉnh lẻ phát ngôn mạnh bạo. Nhưng dù không có hào quang của những Cha già dân tộc như Lý Quang Diệu và Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng lại có vẻ một Bố già kiểu Tony Soprano, nhưng so với các gương mặt còn lại ở cùng đẳng cấp, ông vẫn là một nhân vật gây cảm xúc. Thật khó cho những người ghét và chống độc tài, trong đó có tôi, khi cái Ác chẳng những làm được khá nhiều việc tốt mà trông lại ấn tượng, còn cái Thiện phần lớn có vẻ vô vị. Đã từ lâu chúng ta đối diện với hiện tượng The Banality of Good.

clip_image004

Ảnh bên: Nguyễn Bá Thanh. nguồn: DANANGPLUS.NET

Nhiều điều ông Lý chủ trương cho Singapore, nhìn bề ngoài không khác mấy thực tiễn chính trị ở Việt Nam, dù ông là một người chống cộng không khoan nhượng. Trong cuộc trả lời phỏng vấn nổi tiếng với Fareed Zakaria cho tạp chí Foreign Affairs năm 1994 ông cho biết, phần lớn các giá trị của nền dân chủ Mỹ hiện nay thì ông không thích thú lắm, nhưng ông luôn ngưỡng mộ nước Mỹ ở tinh thần quyết liệt chống hệ thống cộng sản; những trò gắn liền với các chính quyền cộng sản như khủng bố và giấu diếm trong bóng tối thì ông không bao giờ sờ vào. Song những người bất đồng chính kiến và đặc biệt các phần tử bị coi là cộng sản hoặc lãnh tụ công đoàn ở Singapore những thập niên trước cũng tàn đời trong ngục hàng chục năm trời không có án, như Chia Thye Poh: 23 năm, Lim Hock Siew: 19 năm 6 tháng, Said Zahari: 17 năm trong nhà tù Chương Nghi. Còn ngày nay, đối lập chính trị ở Singapore không bị cảnh sát xách nhiễu vô lối, không bị côn đồ hành hung giấu tay, không bị mật vụ trâng tráo theo dõi, chỉ bị đẩy vào chân tường của sạt nghiệp qua những vụ kiện dân sự hoàn toàn danh chính ngôn thuận mà ông Lý và Đảng Nhân dân Hành động (PAP) của ông trăm vụ trăm thắng. PAP không đơn thuần là một tổ chức chính trị của một bộ phận dân chúng, mà là một thiết chế quốc gia, đại diện cho dân tộc. Phê phán PAP đồng nghĩa với phê phán Singapore và chống chế độ, không khác gì cái đại tự sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Singapore cũng nằm gọn trong tay một gia đình, một tập đoàn, không khác cha truyền con nối ở Bắc Triều Tiên, anh truyền em nối ở Cuba và những vương triều quý tộc đỏ ở Trung Quốc và Việt Nam.

Ông Lý cũng không cần tham khảo ý kiến của nhân dân. Phát ngôn của ông, “nếu được tuyệt đối toàn quyền ở Singapore mà không phải hỏi dân chúng rằng họ có hài lòng không thì không có gì phải hoài nghi, tôi tin chắc rằng mình sẽ điều hành hiệu quả cho chính quyền lợi của họ hơn nhiều”, đã trở thành một trong những lời bất hủ, thường xuyên được chính những người tin hoặc tưởng mình tin vào thể chế dân chủ vừa khoái trá trích dẫn vừa lè lưỡi lắc đầu. Nhà cầm quyền ở Việt Nam cũng tin chắc ở sự sáng suốt của mình như thế.

Cũng như Việt Nam, chính quyền Singapore phản đối mọi sự thật khác ngoài sự thật chính thống. Năm 2006, ông Tạ Quốc Trung (Andy Xie), trưởng khu vực châu Á của Morgan Stanley, một chuyên gia xuất sắc từng được Bloomberg xếp vào danh sách 50 nhân vật giàu ảnh hưởng nhất trong giới tài chính quốc tế, cảnh báo trong một email nội bộ (http://www.asiasentinel.com/econ-business/a-banking-stars-inconvenient-singaporean-truth/) rằng phương Tây đã đánh giá quá cao Singapore, thực ra thành công của nước này chủ yếu nhờ vai trò làm trung tâm rửa tiền cho các doanh nghiệp và quan chức tham nhũng của Indonesia, các casino đang xây ở đây cũng nhằm hút tiền bẩn từ Trung Quốc. Bức thư bị rò rỉ. Ông Tạ lập tức bị Morgan Stanley đuổi việc, theo yêu cầu của chính quyền Singapore.

clip_image006

Ảnh bên: Lý Quang Diệu (1923-2015)

Cũng như Việt Nam, công đoàn ở Singapore nằm dưới sự lãnh đạo của chính quyền, mà chính quyền là Đảng PAP và Đảng PAP là chính quyền như ông Lý công khai tuyên bố (“I make no apologies that the PAP is the government and the government is the PAP”), liên tục từ 56 năm nay, điều quá đương nhiên, ông không thấy có gì để xin lỗi. Cuộc đình công duy nhất, rất nhỏ, và tất nhiên bất hợp pháp, trong vòng 30 năm gần đây ở Singapore diễn ra năm 2012. Những kẻ cầm đầu đều bị nghiêm trị.

Cũng như Việt Nam, Singapore luôn nằm ở cuối bảng xếp hạng tự do báo chí. Trong đánh giá mới nhất, ra ngày 12/2/2015, của tổ chức Phóng viên Không Biên giới, Singapore đứng ở vị trí 153/180, sau cả Nga, Thổ, thua xa Miến Điện, Campuchia, chỉ nhỉnh hơn hai nước duy nhất trong khu vực là Lào và Việt Nam, và xu hướng là ngày càng tụt hạng. Danh sách những nhà báo và blogger bị chính quyền Singapore gây áp lực hay truy tố, các thông tin và tác phẩm nghệ thuật bị ngăn cấm hay kiểm duyệt cũng chỉ ngắn hơn danh sách ở Việt Nam chút ít và vừa được bổ sung bằng Amos Yee, cậu bé 16 tuổi bị bắt và truy tố vì đoạn video 8 phút đăng trên YouTube nhan đề “Lee Kuan Yew is Finally Dead”, cuối cùng thì Lý Quang Diệu đã chết. Nhà nước bảo mẫu do ông Lý dựng nên thấy mình có bổn phận đánh đòn đứa con hư này.

Tất cả những tương đồng ấy có vẻ gây cảm hứng mạnh mẽ cho các nhà lãnh đạo Việt Nam và không riêng gì họ: một bộ phận đáng kể trong giới tinh hoa Việt Nam không buồn giấu khao khát được một bàn tay sắt và những biện pháp thực sự cứng rắn cai trị. Tất nhiên kẻ bị trị là lũ dân đen vô học, lười biếng, loạn tặc, mọi rợ, đần độn, vừa ngu vừa bướng. Lũ vịt. Lũ lừa. Người ta tiếc thương ông Nguyễn Bá Thanh, người đã biến Đà Nẵng thành Singapore của Việt Nam.

Song chuyên chính tư bản Singapore và chuyên chính hậu cộng sản Việt Nam chỉ chung nhau ở bề ngoài độc tài, sự khác nhau bên trong lớn chính xác bằng khoảng cách dường như vô tận giữa Brave New World, tân thế giới mỹ lệ Singapore đã hoàn thành và chân dung còn muôn phần nhếch nhác của một Việt Nam đang chuyển đổi. Ít nhất ba điểm sau đây khiến cuộc chạy theo mô hình Singapore ở Việt Nam không thể đến đích mà chỉ để lại rất nhiều tai nạn dọc đường:

Thứ hai, nền pháp trị, rule of law, thành tựu then chốt của thể chế dân chủ, ở Singapore tuy có phần bị lạm dụng để bảo vệ địa vị chính trị của đảng cầm quyền, song trước hết nó được sử dụng thành công để duy trì một bộ máy công quyền trong sạch và hiệu quả, điều hoàn toàn xa lạ với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ nhất, dù thiếu dân chủ, nhưng nền độc tài mềm của Singapore vẫn có những tự do tối thiểu vượt xa khả năng chịu đựng của nhà cầm quyền Việt Nam: đa đảng, cạnh tranh chính trị và tự do bầu cử.

Thứ hai, nền pháp trị, rule of law, thành tựu then chốt của thể chế dân chủ, ở Singapore tuy có phần bị lạm dụng để bảo vệ địa vị chính trị của đảng cầm quyền, song trước hết nó được sử dụng thành công để duy trì một bộ máy công quyền trong sạch và hiệu quả, điều hoàn toàn xa lạ với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ ba, chế độ meritocracy, nền tinh anh trị của Singapore, đặt cược tất cả vào một nhóm nhỏ các chuyên gia đỉnh cao và các nhà kỹ trị hảo hạng, những Alpha Plus mà năng lực thuộc hàng đầu thế giới. Ông Lý Quang Diệu từng phát biểu, nếu 300 nhà quản trị trụ cột của Singapore cùng rơi trong một chiếc Jumbo Jet thì quốc đảo này sụp đổ. Việt Nam không sợ một kịch bản như thế. Kho dự trữ cho sự tầm thường ở đây còn rất đầy.

P.T.H.

Nguồn: http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Le-Cheo/c-tai-ngoi-l.html

Advertisements

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: