Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 9th, 2016

►Tết tây, Tết ta — Hàng chục máy bay chở tiền in từ nước ngoài về Venezuela- giúp nhớ lại VN thời 1990…

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2016

TẾT TÂY VÀ TẾT TA

Nguyễn Hưng Quốc

8-2-2016

Cũng giống mọi người Việt Nam sinh sống ở hải ngoại, mỗi năm tôi có đến hai cái tết: Tết Tây và Tết ta.

Tết Tây thì long trọng hơn hẳn. Thường, tôi được nghỉ đến hơn một tuần. Trước Tết, bạn bè, đồng nghiệp gửi thiệp chúc mừng năm mới và tặng quà cho nhau. Đêm giao thừa, người ta ùn ùn kéo đến khu vực trung tâm thành phố để xem pháo hoa. Sau Tết, trong trường có những cuộc họp để bàn về kế hoạch cho năm mới. Bởi vậy, dù không nghĩ đến, không khí Tết vẫn bàng bạc ở mọi nơi và mọi lúc. Vậy mà, lạ, đối với Tết Tây, tôi vẫn ơ hờ. Nghỉ, ừ, thì nghỉ. Chúc Tết, ừ, thì chúc Tết. Nhưng tự thâm tâm, tôi vẫn có cảm giác đó là cái Tết của người khác. Chứ không có gì liên hệ với mình.

Tết ta thì khác. Năm nay ngày mồng một Tết rơi vào thứ Hai, tôi vẫn đi làm và đi họp bình thường. Nếu không đến các khu chợ Việt Nam và không dự các buổi hội chợ Tết được tổ chức rải rác đây đó, người ta sẽ không thấy tết đâu cả. Gia đình tôi lại không có bàn thờ, không có thói quen cúng kiếng và không đến chùa hái lộc đón giao thừa nên càng không có không khí Tết. Ở nhà không có cành mai hay chậu cúc. Bà xã tôi chỉ làm một vài món ăn ngày Tết và mua một hai cái bánh chưng, bánh tét gọi là… Vậy mà, không hiểu sao, Tết ta vẫn cứ ám ảnh tôi mãi. Gần đến Tết, trong lòng vẫn xôn xao. Đến Tết, làm việc thì làm việc, nhưng sâu tận trong tâm khảm, vẫn có chút gì nao nao, bâng khuâng, và đặc biệt, có chút gì thật hiu hắt.

Tại sao lại hiu hắt?

Hiu hắt, tôi nghĩ, trước hết, là vì nhớ quê hương. Tôi tin tất cả mọi người hiện đang sống ở hải ngoại, với những mức độ khác nhau, đều nhớ quê hương, nhất là trong những ngày Tết, lúc, theo truyền thống, mọi người trở về quê quán để tụ tập với đại gia đình, bà con, hàng xóm. Theo giới nghiên cứu về Lưu vong học (Diaspora Studies), một trong những đặc điểm chung nhất và nổi bật của các cộng đồng lưu vong trên thế giới là lúc nào cũng đau đáu với một số ký ức tập thể về quê gốc để, dù thành công đến mấy, người ta vẫn thấy ít nhiều lạc lõng trên miền đất mới. Với người Việt Nam, vốn có truyền thống gắn bó với quê quán, những nỗi nhớ ấy càng phổ quát và càng da diết. Cứ mở các tờ báo xuân bằng tiếng Việt ở khắp nơi thì thấy. Ở đâu cũng tràn đầy nỗi nhớ. Nhớ những phong tục cũ. Những hình ảnh cũ. Những tâm tình cũ. Người ta nhớ cả những truyền thuyết và truyện cổ tích xa xưa về bánh dày, bánh chưng và dưa hấu.

Bản thân tôi, đã hơn mười một năm rồi, không được về lại Việt Nam, đến Tết, lại càng nhớ. Khái niệm quê hương, trong nỗi nhớ của tôi, rất cụ thể. Đó là ba tôi, anh em tôi, bạn bè tôi. Đó là không khí với những mùi hương và những tiếng động, từ tiếng cười đến tiếng nói, từ tiếng rao hàng đến tiếng động cơ qua lại trên đường phố. Nỗi nhớ, bình thường mênh mang và man mác, đến ngày Tết, trở thành nặng trĩu, có lúc dường như rưng rưng.
Hiu hắt còn là vì nhớ quá khứ. Hầu hết những nỗi nhớ ngọt ngào nhất của tôi liên quan đến ngày Tết là những kỷ niệm ngày thơ ấu. Gần Tết, tiếng heo kêu eng éc từ đầu thôn đến cuối xóm. Mang thịt về, mẹ tôi bày nấu đủ thứ, từ thịt kho, thịt hầm, thịt luộc đến các loại bánh nhân thịt như bánh tét và bánh ít. Có lẽ chỉ có ngày Tết là mọi người được ăn thịt thoả thuê. Nhưng trong các thứ bánh, không hiểu sao, đọng lại trong ký ức tôi nhiều nhất là bánh tổ. Đó là loại bánh cực giản dị, chỉ có bột nếp và đường, để được rất lâu. Lâu đến độ có khi bánh bị mốc. Nhưng không sao cả. Người ta chỉ cần lạn cắt lớp mốc ấy đi và bỏ bánh lên chão dầu chiên cho giòn. Là ăn được. Ngon vô cùng.

Mẹ tôi mất vào rằm tháng giêng. Rất gần Tết. Nên Tết nào tôi cũng nhớ mẹ. Nhớ bàn tay thoăn thoắt của bà những lúc chuẩn bị thức ăn ngày Tết. Nhớ cồn cào những món bà nấu. Sau này, tôi có dịp thưởng thức nhiều món ăn nổi tiếng trên thế giới, nhưng hình như không có món nào ngon như những món mẹ tôi nấu. Tôi biết, cách đánh giá ấy rất chủ quan. Nhưng việc ăn uống nào mà lại không chủ quan? Ăn, chúng ta đâu phải chỉ ăn thực phẩm. Trong cái ăn còn biết bao nhiêu là kỷ niệm. Kỷ niệm lúc càng nhỏ tuổi lại càng sâu đậm.

Nhưng cảm giác hiu hắt xuất phát nhiều hơn, nếu không muốn nói là nhiều nhất, từ nỗi bế tắc khi nghĩ đến tương lai của Việt Nam. Đại hội thứ XII vừa kết thúc. Thường, trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, các đại hội mỗi năm năm ấy là một dấu mốc lớn. Nhưng đại hội vừa qua lại không có chút hứa hẹn thay đổi nào cả. Ông Nguyễn Phú Trọng đã từng làm tổng bí thư năm năm; suốt năm năm ấy, ông không có chút cải cách. Thêm năm năm nữa, chắc chắn ông cũng vẫn vậy. Vẫn rất giáo điều và bảo thủ. Ông vẫn quyết tâm dẫn dắt cả nước vào cuộc phiêu lưu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ông biết chắc, như có lần ông thừa nhận, còn rất đỗi xa vời, đến tận cuối thế kỷ, chưa chắc đã thành hiện thực. Để đánh đổi cho cuộc phiêu lưu ấy, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục trì trệ; giáo dục và đạo đức vẫn tiếp tục suy đồi; tham nhũng vẫn tiếp tục tràn lan; người dân vẫn tiếp tục khốn khổ; và, quan trọng hơn, Việt Nam vẫn đối diện với nguy cơ xâm lấn từ Trung Quốc.

Một chế độ độc tài chỉ có thể cáo chung với một trong hai nguyên nhân: tự thay đổi hoặc bị đánh đổ.

Với bộ máy lãnh đạo hiện nay, viễn ảnh thứ nhất hoàn toàn bất khả. Không hy vọng gì những người như ông Nguyễn Phú Trọng sẽ theo gót các nhà lãnh đạo ở Miến Điện để chấp nhận trao quyền lực lại cho những chính khách được dân bầu trong một cuộc bầu cử thực sự tự do và minh bạch. Mà Việt Nam cũng chưa có những nhà đối lập có tầm vóc quốc tế để có thể tập hợp lực lượng đông đảo hầu đối đầu với nhà cầm quyền.

Còn viễn tượng bị lật đổ? Tôi nghĩ khả năng này, nếu có, cũng còn xa. Lý do, giống như trên, lực lượng đối lập vẫn còn nhỏ và yếu. Dĩ nhiên, vẫn có khả năng bùng nổ cách mạng. Các cuộc cách mạng ở các nước Ả Rập vào đầu năm 2011 cũng rất bất ngờ, không ai, kể cả giới chính khách và giới tình báo Tây phương, có thể tiên đoán được.

Người Việt Nam có thói quen nuôi một số hy vọng nào đó khi đón Tết. Riêng đối với tình hình chính trị tại Việt Nam trong năm Bính Thân này, tôi chưa thấy có chút hy vọng gì cả.

Nên càng nghĩ càng thấy hiu hắt.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA

***

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

————

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

vneconomy

5-2-2016

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ…

 

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

Người dân ở thủ đô Caracas của Venezuela xếp hàng chờ mua thực phẩm – Ảnh: WSJ/EPA.

An Huy

Mấy tháng gần đây, gần 40 máy bay chở hàng loại Boeing 747 xuất phát từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã đáp xuống Venezuela, mang theo một thứ để phục vụ cho nền kinh tế đang khốn đốn của nước này.

Nguồn tin thân cận tiết lộ với tờ Wall Street Journal rằng, thứ mà những chiếc máy bay đó chở tới Venezuela không phải thực phẩm hay thuốc men, mà là một thứ khác nước này cũng đang rất thiếu: tiền mặt – loại đồng nội tệ Bolivar.

Lạm phát “vô địch”

Những chuyến hàng này là một phần trong kế hoạch nhập khẩu ít nhất 5 tỷ tờ tiền mà chính quyền Tổng thống Nicolas Maduro đặt sản xuất ở nước ngoài trong nửa cuối năm 2015. Mục tiêu của kế hoạch là tăng nguồn cung đồng Bolivar vốn đang ngày càng mất giá trầm trọng – nguồn tin cho biết.

Mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đó. Tháng 12/2015, Ngân hàng Trung ương Venezuela bắt đầu đàm phán bí mật để đặt in thêm 10 tỷ tờ tiền nữa – nguồn tin cho hay. Số lượng tiền này sẽ tăng gấp đôi lượng tiền lưu thông ở Venezuela, đồng thời lớn hơn số 8 tỷ tờ tiền mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) in mỗi năm.

Chưa kể, điểm khác biệt giữa đồng Bolivar với hai đồng USD và Euro là Bolivar chỉ được sử dụng ở Venezuela còn hai đồng tiền kia là đồng tiền mạnh, được dùng trên toàn thế giới.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc Venezuela ồ ạt in tiền có thể khiến nền kinh tế nước này suy sụp nhanh hơn: bơm một lượng tiền khổng lồ ra lưu thông nhiều khả năng sẽ đẩy lạm phát tăng vọt. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát của Venezuela có thể lên tới 720% trong năm nay, “vô địch” thế giới.

Số liệu của Ngân hàng Trung ương Venezuela cho thấy năm 2015, lượng tiền trong lưu thông ở nước này đã tăng gấp đôi.

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD.

Bộ trưởng Bộ Thương mại và Đầu tư Venezuela Jesus Faria ngày 3/2 cho biết nước này sắp cải tổ chính sách quản lý tỷ giá. “Rõ ràng, hệ thống tỷ giá hiện tại đã kiệt sức”, ông Faria nói.

30 người triệu người dân Venezuela có vẻ như không thể kiếm tiền tới mức đủ nhanh. “Người dân khát tiền mặt, vì họ muốn tiêu tiền nhanh nhất có thể”, ông Steve H. Hanke, một chuyên gia về tiền tệ thuộc Đại học Johns Hopkins, Mỹ, nhận định.

Ngân sách kiệt quệ

Việc mạnh tay in tiền tiêu tốn của Chính phủ cánh tả đang kẹt ngân sách của Venezuela hàng trăm triệu USD, nguồn tin cho hay. Chi phí in tiền tốn kém trở thành gánh nặng đặc biệt lớn trong bối cảnh Venezuela đối mặt với tình trạng giá dầu giảm sâu.

 

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thuê các công ty tư nhân in tiền, bởi các nhà thầu này có thể đáp ứng các công nghệ chống giả tinh vi. Nhưng đối với Venezuela, việc thuê nước ngoài in tiền xuất phát từ khối lượng tiền “khủng” cần in gấp. Nhà máy in tiền của Ngân hàng Trung ương Venezuela ở Maracy chỉ có đủ giấy và kim loại để in một lượng tiền nhỏ mà nước này cần, theo nguồn tin.

Điều này đồng nghĩa với việc Venezuela phải mua đồng Bolivar từ nước ngoài bằng bất kỳ giá nào.

Nguồn tin cũng nói rằng, không một công ty in tiền nào đáp ứng được đơn hàng 10 tỷ tờ tiền, nên Venezuela đã chia đơn  hàng ra cho nhiều công ty khác nhau, bao gồm De La Rue của Anh, Canadian Bank Note của Canada, Oberthur Fiduciare của Pháp, và Giesecke & Devrient của Đức.

Giesecke & Devrient chính là công ty đã in tiền cho nước Đức thời những năm 1920, khi người dân phải chở hàng xe bò tiền đi mua bánh mỳ. Gần đây hơn, công ty này là nguồn cung cấp tiền giấy cho Zimbabwe trong thời gian nước này đối đầu siêu lạm phát, với giá cả tăng gấp đôi mỗi ngày vào năm 2008.

“Những tờ tiền mệnh giá lớn không gây ra lạm phát, mà chúng là kết quả của lạm phát”, ông Owen W. Linzmayer, một chuyên gia về tiền ở San Francisco, Mỹ, phát biểu. “Những tờ tiền mệnh giá lớn thực ra có thể tiết kiệm chi phí cho Ngân hàng Trung ương Venezuela, bởi thay vì phải thay thế 10 tờ tiền cũ, người ta chỉ cần 5 tờ, thậm chí là một tờ”.

Nguồn tin nói rằng, đơn đặt in tiền mới nhất của Ngân hàng Trung ương Venezuela chỉ đặt các tờ 100 và 50 Bolivar, bởi các tờ 20, 10, 5 và 2 Bolivar hiện có giá trị dưới chi phí sản xuất.

Trong một bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội của Venezuela gần đây, đầu bếp trong một nhà hàng dùng một tờ tiền mệnh giá 2 Bolivar để lót tay khi cầm cán chảo, vì tờ tiền này không đủ để mua một tờ giấy ăn!

——–

Venezuela vẫn còn thua VN xa. Kỷ luật mà VN đã từng đạt được dưới thời Lê Duẫn và Nguyễn Văn Linh và cho đến năm 2016, vẫn chưa có nước nào theo kịp.

Lạm phát của VN trong giai đoạn 1986-1989 (theo tài liệu của LHQ) lên đến 900%. Đó là lý do sụp đổ của nền kinh tế XHCN mà đảng cộng sản VN từng huênh hoang ca ngợi. Đó cũng là lý do đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN phải tuân lệnh của Mỹ và Liên Hiệp Quốc rút khỏi Kampuchia trong thời hạn 36 tháng, chấm dứt vào tháng 9/1989. Giấc mơ thành lập Liên Bang Đông Dương gồm 3 nước Việt Miên Lào đã không còn nữa. Và cũng là lý do mà Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên phải bí mật qua TQ ký hiệp định Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9/1990, xin đặt VN dưới sự cai trị của TQ, và bán luôn hai quần đảo HS và TS, dẫn đến cuộc ký kết nhường đất tại biên giới Việt Trung  qua Hiệp định Biên giới Trên Bộ ký ngày 31-12-1999. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Đất, nhiều vùng ở Móng Cái…đều lọt vào tay Trung Quốc. 

Tỷ giá đồng bạc VN trong tháng 2/2016 là 1 USD = 22 560 đồng, làm cho đồng tiền VN thuộc loại vô giá trị nhất thế giới trong suốt 25 năm qua, và chưa nước nào đuổi kịp!

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD…”

Advertisements

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »