Trần Hoàng Blog

►Kinh tế,Tài chánh, thuế năm 2015–Ngân sách 2016 và kế hoạch phát triển cho giai đoạn tới (Loạt bài quan trọng)

Posted by hoangtran204 trên 26/01/2016

Ông Vương Đình Huệ: “Phải tiến tới KT thị trường hiện đại”

21-1-2016

The Saigontimes

(TBKTSG) – Nhân dịp năm mới 2016, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Đảng Vương Đình Huệ trao đổi với TBKTSG về những vấn đề phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.

TBKTSG: Nhìn vào cơ cấu kinh tế hiện nay, đâu là những điểm ông lưu tâm nhất?

Ông Vương Đình Huệ: Một trong những vấn đề tôi còn băn khoăn là động lực tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực có tỷ trọng xuất khẩu chiếm 65-70% tổng xuất khẩu của cả nước. Mà bản thân khu vực này chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ giá trị gia tăng rất thấp, và tác động lan tỏa của ứng dụng công nghệ và quản trị với nền kinh tế còn yếu.

Trong khi đó khu vực kinh tế trong nước, gồm doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh… còn gặp rất nhiều khó khăn. Ngành nông nghiệp tăng trưởng vẫn thấp, xuất khẩu thì giảm cả về lượng và giá trị.

Chúng ta phải suy nghĩ, tại sao trong một quốc gia mà lại có sự lệch pha giữa hai khu vực kinh tế là doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, mà tôi muốn gọi là doanh nghiệp dân tộc? Thậm chí có một số chuyên gia còn nói với tôi là họ lo ngại có rủi ro “hai nền kinh tế trong một quốc gia”. Chúng ta phải làm như thế nào để khu vực doanh nghiệp trong nước mạnh lên? Đó là câu hỏi lớn, tôi cho đó là trọng tâm của 2016 mà chúng ta nên làm…

(Vương Đình Huệ,  là cựu Bộ trưởng Bộ Tài Chánh, . Xuất thân là Kế Toán.)

——–

Thị Trường Chứng Khoán: Đã tháo chạy và rút vốn khỏi Việt Nam 2013, 2014, và 2015. Kết quả, các doanh nghiệp VN coi như không thể thu hút vốn từ các quỹ đầu tư của nước ngoài.

 

Khi ETFs “khóc”

Năm 2016 sẽ rất khó lòng cho VN mời gọi nước ngoài vào đầu tư ở VN vì ETF đều lỗ nặng trong 5 năm qua và năm 2015:

Theo hãng tin Bloomberg, Market Vectors Vietnam ETF có mức âm giá trị tài sản ròng nặng nề nhất, tới -18,56%, kế đó là DB X-Trackers FTSE Vietnam -14,38%, nhẹ hơn cả là MSCI Vietnam -5,38%. Tính trong vòng năm năm trở lại đây, NAV của Market Vectors Vietnam ETF âm 33,65%; của DB X-Trackers FTSE Vietnam âm 39,85% và của MSCI Vietnam  âm 21,28%.

Những con số này chắc chắn không thể nào là động lực để các ETFs gọi thêm vốn mới, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế đang bị rút ra khỏi các thị trường mới nổi và thị trường cận biên trong chiều hướng sự mạnh lên ngày càng rõ nét của đồng đô la Mỹ và kinh tế châu Âu bắt đầu có dấu hiệu phục hồi, đánh dấu bằng sự tăng trưởng 1,7% năm ngoái của đầu tàu Đức.

Những con số này chắc chắn không thể nào là động lực để các ETFs gọi thêm vốn mới, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế đang bị rút ra khỏi các thị trường mới nổi và thị trường cận biên trong chiều hướng sự mạnh lên ngày càng rõ nét của đồng đô la Mỹ và kinh tế châu Âu bắt đầu có dấu hiệu phục hồi, đánh dấu bằng sự tăng trưởng 1,7% năm ngoái của đầu tàu Đức.  

Nỗi lòng trăn trở

Nguyên nhân nào khiến các ETFs “khóc” ròng? Về mặt kỹ thuật, giao dịch của các quỹ ETFs đều theo đuổi chỉ số riêng, dựa trên một danh mục cổ phiếu được lựa chọn theo tiêu chí của họ. Danh mục này bao gồm những chứng khoán có thanh khoản, giá trị vốn hóa lớn, tiêu biểu cho ngành nghề và có thể giúp ETFs bám sát biến động của VN-Index.

Tuy nhiên năm 2015 thị giá một số cổ phiếu vốn hóa lớn biến động vượt xa sự dự đoán của giới đầu tư và khi xu hướng của chúng trở nên rõ ràng, nhiều tổ chức đầu tư nội đã bắt buộc đưa chúng vào danh mục như VNM, BID. Các ETFs đã không thể đưa VNM hay BID vào danh mục do tiêu chí về tỷ trọng cổ phiếu có thể giao dịch hay room đã hết.

Đã thế, những cổ phiếu tiêu biểu mà ETFs có thể đưa vào và duy trì trong danh mục lại có một năm gây thất vọng như dầu khí (PVD, PVS, PVT), nông nghiệp (HAG), bất động sản (ITA, FLC, KBC, VCG), tổng hợp (MSN), ngân hàng (STB, SHB). Nếu giá dầu thô thế giới tiếp tục giảm và đứng ở mức thấp, không loại trừ khả năng các ETFs sẽ “đẩy” cổ phiếu dầu khí ra khỏi danh mục hoặc hạ thấp tỷ trọng để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực lên NAV.

Một lý do khác khiến NAV của các quỹ ETFs lao đao là sự yếu đi đáng kể của tiền đồng so với đô la Mỹ năm vừa qua so với các năm trước đó. Sự mất giá 5,2% của tiền đồng là một dấu trừ cho giá trị tài sản ròng của tất cả các quỹ ngoại. Điều này là một trong những nhân tố làm cho sức hấp dẫn của cổ phiếu Việt Nam kém đi.

Ở một số thời điểm, lo ngại về tỷ giá và áp lực cạnh tranh từ các thị trường khác, nhà đầu tư đã rút vốn khỏi ETFs nhiều ngày liền. Trong tháng 12-2015, Market Vectors Vietnam ETF bị rút vốn tới 41 triệu đô la Mỹ, tức bình quân mức rút ra khoảng 2 triệu đô la Mỹ/phiên. Để có tiền trả cho nhà đầu tư suốt tháng, Market Vectors Vietnam ETF đã bán ròng những cổ phiếu thanh khoản và có thị giá cao như VCB, PVD, BVH, MSN, VIC…

Market Vectors Vietnam ETF không phải là tổ chức duy nhất bán ròng. Một số ETFs khác cũng bị rút vốn ở mức độ nhẹ hơn. Cộng hưởng vào đó là sự rút vốn vào cuối năm theo kế hoạch đóng quỹ của một số quỹ đóng, nên trong tháng cuối cùng của năm ngoái, nước ngoài đã bán ròng 89 triệu đô la Mỹ, mức cao nhất của một tháng trong vòng bốn năm kể từ đầu năm 2012.

Thị trường sụt sùi vì ETFs

Sự rút vốn của ETFs và khối ngoại đang góp sức làm VN-Index “sụt sùi, cảm cúm”. Thêm một lần mốc 500 điểm lại đang ở rất gần. Theo Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI), từ năm 2013 đến nay, giá trị mua ròng của nước ngoài giảm dần, năm 2013 là 6.769 tỉ đồng; năm 2014 là 3.990 tỉ đồng và năm 2015 mức mua ròng chỉ còn 2.833 tỉ đồng. Sang năm 2016 mới được hơn hai tuần, nhưng khối ngoại đã bán ròng mỗi tuần khoảng 15-17 triệu đô la Mỹ. Cứ đà này, các cổ phiếu vốn hóa lớn như BVH, VCB, BID, CTG… có nguy cơ về lại mức giá thấp của 52 tuần.

Tổng giá trị danh mục của ba quỹ ETFs đầu tư vào Việt Nam có thời điểm đã chạm 1 tỉ đô la Mỹ, riêng Market Vectors Vietnam ETF có lúc vượt 500 triệu đô la Mỹ. Số vốn lớn như vậy hẳn nhiên có sức tác động không nhỏ đến giao dịch hàng ngày của cả thị trường. Thậm chí chỉ cần ETFs mua ròng hay bán ròng BVH và VCB là có thể làm nhóm cổ phiếu tài chính chạy lên/chạy xuống, gây sức lan toả đến những nhóm khác và ngay lập tức VN-Index thay đổi.

Thông thường theo chu kỳ, quí 1 là thời gian các ETFs được rót vốn và mua vào nhiều nhất, nhưng năm nay tính chu kỳ có lẽ đang bị phá vỡ dưới ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài như “chiến tranh” tiền tệ và kinh tế Trung Quốc. Những kỳ vọng liên quan đến nới room và thoái hết vốn nhà nước khỏi tám công ty niêm yết đang chìm nghỉm do vẫn chưa thống nhất được định nghĩa về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ áp dụng ra sao với thị trường chứng khoán.

Thu hút và giữ chân các ETFs chưa bao giờ là chuyện dễ dàng và cũng chưa bao giờ được các nhà hoạch định chính sách đưa vào tầm ngắm với vai trò đúng nghĩa của nó. Dòng tiền ETFs vào Việt Nam vì thế, mang tính tự nhiên, vào hay ở hay ra đều phụ thuộc các nhà đầu tư bên ngoài. Sự tự nhiên ẩn chứa bấp bênh, và thị trường chứng khoán khó phát triển ổn định, bền vững nếu sự bấp bênh không được kiểm soát bằng các quy định hợp lý và chuyển hóa nó thành yếu tố tích cực.

 

ETF nghĩa là gì và hoạt động như thế nào: mời các bạn đọc để gia tăng kiến thức 

———–

PVN đã từng tự hào đóng góp 40% cho ngân sách nhà nước 2008…, nay Tập đoàn Dầu Khí

Năm 2015, “Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn năm 2015 đạt 115,1 nghìn tỉ đồng”, khoảng 5,3 tỷ đô la. 

PVN Tổng kết năm 2014: tổng doanh thu toàn Tập đoàn đạt 745,5 nghìn tỷ đồng, vượt 11,8% kế hoạch năm Chính phủ giao, nộp NSNN đạt 178,1 nghìn tỷ đồng., (Nguồn PVN)

Năm 2013, Tổng doanh thu của toàn bộ các đơn vị trong Tập đoàn PVN đạt 762,86 nghìn tỷ đồng,……. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn đạt 195,4 nghìn tỷ đồng (Nguồn)

Năm 2014, các tập đoàn, tổng công ty thuộc Khối DNTW (tức DNNN) đã đóng góp cho ngân sách quốc gia 297 nghìn tỉ đồng, tương đương với gần 40% GDP cả nước…PetroTimes 20-1-2014

Thu ngân sách Việt Nam từ dầu thô xuống dưới 1% GDP

23-1-2014

Thu ngân sách từ dầu thô đã giảm từ mức bình quân 5,2% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn dưới 1% hiện nay, dự toán 2016 là 0,9% GDP.

Đây là thông tin được Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn nêu tại tham luận về tái cơ cấu ngân sách Nhà nước, tại Đại hội Đảng lần thứ 12.

(Thu từ dầu thô chỉ chiếm 6% ngân sáchĐó là khẳng định của Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn khi trả lời trên Đài Truyền hình Việt Nam, tối 13/12/2015)

Ngân sách tiếp tục khó
 
Thời gian qua, tốc độ thu ngân sách tăng đến 11% nhưng có chậm so với 5 năm trước (20%), theo ông Tuấn có nguyên nhân do tỷ trọng thu từ dầu thô và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm mạnh.

Thu ngân sách từ dầu thô do giảm mạnh do sản lượng và giá không tăng, thậm chí giảm, còn thu từ xuất nhập khẩu giảm là do phải liên tục cắt giảm thuế để hội nhập.

Con số cụ thể được nêu tại tham luận là, giai đoạn 2006-2010, thu từ dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 11,1% GDP, giai đoạn 2011-2015 giảm còn khoảng 7% GDP, năm 2015 còn 5,3% GDP và dự toán 2016 là 4,3% GDP.

Trong đó, thu dầu thô giảm từ mức bình quân 5,2% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn dưới 1% hiện nay (dự toán 2016 là 0,9% GDP). Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm từ mức bình quân 5,9% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn 3,4% năm 2016.

Với giai đoạn 2016 – 2020, ông Tuấn nói, cân đối ngân sách Nhà nước tiếp tục khó khăn, khả năng thu tăng không lớn, trong khi áp lực chi ngày càng tăng. Để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, cần thiết phải tái cơ cấu ngân sách.
 
Cụ  thể, phấn đấu tỷ lệ huy động vào ngân sách trên GDP bình quân khoảng 20-21% GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 19-20% GDP; tỷ trọng thu nội địa đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách Nhà nước.

Ông Tuấn cũng cho biết, trong giai đoạn tới, dự kiến sẽ điều chỉnh chính sách thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, xuất nhập khẩu… theo hướng khuyến khích doanh nghiệp, người dân tích tụ để đầu tư cho phát triển, bảo hộ hợp lý sản xuất – kinh doanh trong nước và phù hợp với cam kết quốc tế; tăng cường quản lý và điều tiết hợp lý đối với tài nguyên, khoáng sản, đất đai.

Đồng thời, phấn đấu đến hết năm 2018 cơ bản hoàn thành quá trình sắp xếp, tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này, tăng mức đóng góp cho ngân sách. Sử dụng một phần nguồn thu từ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp cho đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục…

Giảm 10% chi thường xuyên

 
Về tái cơ cấu chi ngân sách, Thứ trưởng Tuấn nêu mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng chi thường xuyên giảm khoảng 10% so với dự toán năm 2015. Qua đó góp phần tăng chi đầu tư phát triển từ mức 17% dự toán chi ngân sách năm 2015 lên trên 20%, đảm bảo các nghĩa vụ chi trả nợ đến hạn.

Để giảm chi thường xuyên, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế; chỉ tuyển dụng mới không quá 50% số biên chế đã thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định, ông Tuấn diễn giải.

Liên quan đến bội chi và nợ công, ông Tuấn cho biết sẽ giảm dần bội chi, tỷ lệ bội chi so với GDP giai đoạn 2016-2020 theo quy định của Luật Ngân sách hiện hành bình quân khoảng 4,9% GDP. Tính theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (năm 2015) thì bình quân khoảng 4% GDP.

Việc cơ cấu lại ngân sách còn nhằm bảo đảm dư nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định. Đến năm 2020, nợ công không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Ông Tuấn nêu rõ, để giải quyết một cách căn bản các vấn đề nợ Chính phủ cần có các giải pháp tổng thể, tiếp tục điều chỉnh cơ cấu ngân sách nhà nước theo hướng tăng thu, tiết kiệm chi, giảm bội chi.  

Đồng thời cần tái cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vay trung hạn và dài hạn với lãi suất phù hợp, rà soát để tái cơ cấu danh mục nợ nhằm kéo dài kỳ hạn nợ, giảm nghĩa vụ trả nợ lãi… kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh Chính phủ, các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng.

Bên cạnh đó là thống nhất công tác quản lý nợ nước ngoài, các khoản vay của Chính phủ vào một đầu mối nhằm theo dõi, quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đúng quy định.

———

Bức tranh ngân sách

22-1-2016

Đỗ Thiên Anh Tuấn (*)

Thứ Sáu,  22/1/2016

Nền kinh tế đang trên đà hồi phục một cách mạnh mẽ và rõ nét là một tín hiệu tích cực giúp làm dịu áp lực lên cán cân ngân sách của Chính phủ trong năm 2016 cũng như những năm sắp tới.Tuy nhiên những khó khăn về ngân sách nổi lên trong năm 2015 của Việt Nam chưa hề được giải quyết tận gốc và trong ngắn hạn thì ngân sách vẫn còn đối mặt với rất nhiều khó khăn do một số nguồn thu chính bị suy giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, gánh nặng chi ngân sách vẫn còn quá lớn và chúng ta vẫn chưa thấy triển vọng lạc quan cho vấn đề này. Bài này sẽ khái lược về bức tranh ngân sách của Việt Nam năm 2015 và đánh giá triển vọng năm 2016.

Khái lược bức tranh ngân sách 2015

Thu ngân sách cải thiện nhưng lộ rõ những bất cập và sự xói mòn nhanh của cơ sở thuế

Tính đến 15-12-2015, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 884.800 tỉ đồng, bằng 97,1% dự toán và bằng 95,4% so với số ước tính trước đó của Bộ Tài chính báo cáo Quốc hội trong kỳ họp vào nửa cuối tháng 10-2015. Tất nhiên, đây mới chỉ là số sơ bộ trong khi số thực tế có thể cao hơn do khuynh hướng người nộp thuế thường lựa chọn thời điểm cuối năm để nộp. Mặc dù vậy, điều này không làm cho bức tranh ngân sách trở nên khác biệt.

Trong cơ cấu thu ngân sách, thu nội địa ước đạt 657.000 tỉ đồng, vượt 2,9% dự toán. Có nhiều khoản thu vượt dự toán, trong đó đáng chú ý là thuế bảo vệ môi trường (vượt dự toán trên 186%), thuế sử dụng đất nông nghiệp (155%), các khoản thu về nhà và đất đai (145%). Mặc dù có mức tăng cao nhưng do tỷ trọng các nguồn thu này không nhiều nên mức độ đóng góp vào tăng trưởng nguồn thu chung là không lớn, chưa kể một số nguồn thu mang tính lũy thoái như thuế sử dụng đất nông nghiệp lại có mức tăng trưởng cao thể hiện sự bất cập lớn.

Trong khi đó, nguồn thu từ dầu thô chỉ đạt 62.400 tỉ đồng, chỉ bằng 67,1% dự toán. Mặc dù Việt Nam đã tích cực tăng sản lượng khai thác nhưng vẫn không bù đắp được cho mức giảm sâu về giá khiến cho nguồn thu từ dầu thô vẫn đóng góp rất hạn chế, chỉ tương đương 7% ngân sách năm 2015, rất thấp so với thời hoàng kim khoảng 20% trước đây, trở thành một nguồn thu bấp bênh và rất thiếu bền vững.

Một báo cáo của PVN cho thấy năm 2015 tập đoàn này đã khai thác đạt mức kỷ lục 29,2 triệu tấn dầu khí, trong đó, dầu thô đạt trên 18 triệu tấn và khí đạt trên 10,6 tỉ mét khối. Trong khi đó, giá dầu thô bình quân năm 2015 đã giảm xuống thấp chỉ còn 40 đô la Mỹ/thùng, thấp hơn nhiều so với giá dự toán 98 đô la Mỹ/thùng. Đây là một nghịch lý, bởi nếu tính theo bài toán kinh tế thì khi giá dầu giảm lẽ ra PVN phải cắt giảm sản lượng, nhưng thực tế do chịu áp lực phải nộp ngân sách nên lựa chọn bất lợi cho PVN là tăng sản lượng khai thác để bù vào.

Không chỉ dầu thô, thu từ hoạt động ngoại thương cũng không mấy triển vọng, ước đạt 160.000 tỉ đồng, bằng 91,4% dự toán. Điều này cho thấy cơ sở thuế ngoại thương đang ngày càng suy giảm một cách nhanh chóng trước bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam.

Gánh nặng bội chi quá lớn và vấn đề kỷ luật ngân sách lỏng lẻo

Hơn 1 triệu tỉ đồng ngân sách, chưa bao gồm chi trả nợ gốc, đã được chi tiêu trong năm 2015. Con số này chiếm xấp xỉ hơn một phần tư tổng sản lượng cuối cùng mà nền kinh tế sản xuất ra trong năm. Mức chi tiêu này là quá cao so với các nước trong khu vực cũng như nhiều nước đang phát triển khác.

Điều đáng nói là, so với nhiều nước có tỷ lệ chi tiêu ngân sách cao hơn Việt Nam nhưng nguồn thu ngân sách của họ dồi dào hơn, ngay cả những nước có tỷ lệ chi ngân sách thấp hơn thì nguồn thu xét về mặt tỷ lệ vẫn dồi dào hơn Việt Nam. Nói khác đi là Việt Nam đang có hiện tượng “vung tay quá trán” trong chi tiêu ngân sách. Tình trạng này đang nổi lên một cách rõ nét ở cấp ngân sách địa phương – nơi được phân cấp một nửa ngân sách quốc gia nhưng tính kỷ cương, kỷ luật tài khóa hết sức lỏng lẻo và có nhiều bất cập.
Xét theo cơ cấu chi tiêu, tỷ lệ chi thường xuyên đã lên đến 80% tổng chi ngân sách, phần còn lại chưa tới 20% dành cho đầu tư phát triển (chưa kể chi trả nợ). Một cấu trúc ngân sách thiên về “tiêu dùng” hơn “đầu tư” như vậy là hết sức rủi ro.

Xét về giá trị tuyệt đối, số chi dự toán được Quốc hội phê duyệt là 767.000 tỉ đồng nhưng số ước thực hiện đã vượt 112.000 tỉ đồng, lên mức 879.000 tỉ đồng, tức vượt 15% dự toán. Trong khi đó, chi cho đầu tư phát triển ước thực hiện năm 2015 là 203.000 tỉ đồng, vượt 4,2% dự toán. Tổng chi ngân sách cho hai khoản này đã lên đến gần 1,1 triệu tỉ đồng, vượt xa so với tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước và các khoản thu viện trợ theo báo cáo của Bộ Tài chính là 927.500 tỉ đồng.

Như vậy ngân sách đã bị mất cân đối cơ bản (primary imbalance) là 154.500 tỉ đồng, tương đương 3,45% GDP. Lưu ý rằng, con số này vẫn chưa bao gồm khoản chi trả nợ và viện trợ dự kiến trong năm 2015 là 150.000 tỉ đồng. Điều này có nghĩa là nếu cộng gộp cả phần chi trả nợ này thì tổng thâm hụt ngân sách sẽ lên đến 304.500 tỉ đồng, chưa kể chi dự phòng và một số khoản chi khác. Sau khi điều chỉnh, thâm hụt ngân sách theo ước tính của năm 2015 có thể sẽ lên đến 6,8% GDP chứ không phải 5% GDP mà Quốc hội dự toán và càng không phải 3,45% GDP thâm hụt cơ bản.

Hơn nữa, theo kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ thì trong năm 2015, Chính phủ sẽ vay khoảng 436.000 tỉ đồng, trong đó ngoài 226.000 tỉ đồng dùng để bù đắp bội chi ngân sách trong dự toán thì còn 125.000 tỉ đồng để đảo nợ và 85.000 tỉ đồng để tài trợ cho các chương trình đầu tư trái phiếu của Chính phủ. Như vậy, nếu tính cả các khoản vay để tài trợ ngoài ngân sách – mà lẽ ra chúng có thể được đưa vào cân đối trong ngân sách – thì mức bội chi ngân sách thực tế thậm chí còn cao hơn.

Triển vọng ngân sách 2016

Dự toán ngân sách 2016 của Chính phủ cho thấy có sự dè dặt trong việc huy động nguồn thu cũng như việc thực hiện kế hoạch chi tiêu ngân sách nhà nước ngay cả trong bối cảnh nền kinh tế đang ấm dần lên. Theo đó, tổng thu ngân sách dự toán cho năm 2016 là khoảng hơn 1 triệu tỉ đồng, tăng 11% so với dự toán và 14% ước thực hiện của năm 2015. Đây là lần đầu tiên thu ngân sách của Việt Nam vượt con số 1 triệu tỉ đồng, tương đương 20% GDP dự báo của năm 2016.

Nguồn thu từ dầu thô sẽ không còn dồi dào như trước nếu như không muốn nói còn khó khăn hơn khi giá dầu dự báo sẽ chỉ xoay quanh từ 30-35 đô la Mỹ/thùng (một số dự báo bi quan có thể xuống dưới 20 đô la/thùng). Chính vì vậy, việc dự toán nguồn thu từ dầu thô chỉ 54.500 tỉ đồng (chiếm 5,4% ngân sách), thấp hơn mức thu năm 2015 và chỉ bằng 60% mức dự toán năm 2015 là tương đối hợp lý.

Tương tự, thu từ xuất nhập khẩu cũng khó cải thiện khi rất nhiều dòng thuế nhập khẩu phải cắt giảm ngay cả khi kim ngạch thương mại của Việt Nam dự báo vẫn tiếp tục tăng trưởng trên hai con số. Do đó, việc dự toán nguồn thu xuất nhập khẩu giảm nhẹ hoặc tương đương năm 2015 là phù hợp. Tuy nhiên, việc dự toán thu nội địa lên đến 785.000 tỉ đồng, tăng đến 23% so với dự toán và 20% so với thực hiện năm 2015 vừa là một dấu hiệu tích cực nhưng cũng đồng thời báo trước những khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế.

Một mặt, thu nội địa tăng cho thấy cơ sở thuế nội địa đang được cải thiện – là một chỉ báo tích cực về tăng trưởng kinh tế, song điều này cũng có thể là do thuế suất hiệu dụng của nền kinh tế sẽ tăng lên đi cùng với các cải cách thuế khóa trong nước nhằm bù lại nguồn thu bị giảm đi từ dầu thô và do cam kết hội nhập kinh tế.

Trong khi đó, chi ngân sách vẫn tiếp tục được dự toán ở mức khá cao, trên 1,27 triệu tỉ đồng, tăng 11% so với dự toán nhưng vượt đến 16% so với thực hiện 2015. Điều tích cực là Chính phủ đã chủ động tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển từ 20% năm 2015 lên xấp xỉ 24% năm 2016, đồng thời giảm tỷ trọng chi thường xuyên từ 80% xuống còn 76% trong tổng chi cân đối ngân sách (chưa bao gồm chi trả nợ). Khoản chi trả nợ và viện trợ cũng tương đương năm 2015, tức 155.100 tỉ đồng, song đây vẫn là mức khá cao trong điều kiện cân đối ngân sách hiện nay. Một điểm tích cực khác là Chính phủ còn dành một phần ngân sách khoảng 13.055 tỉ đồng, tăng so với mức 10.000 tỉ đồng năm 2015, để cải cách tiền lương và tinh giản biên chế.

Như vậy, bội chi ngân sách năm nay theo dự toán là 4,95% GDP, giảm 0,05 điểm phần trăm so với dự toán 2015, tương đương 254.000 tỉ đồng. Dù mức giảm không nhiều nhưng rõ ràng đây là một nỗ lực lớn của chính phủ nhằm cắt giảm thâm hụt ngân sách và duy trì nợ công ở mức bền vững.

Tuy nhiên, trục trặc muôn thuở của ngân sách Việt Nam chính là tính kỷ luật và minh bạch rất kém.

Chẳng hạn, nếu thâm hụt 254.000 tỉ đồng thì lẽ ra Chính phủ chỉ được phép vay thêm bằng con số này để bù đắp, song thực tế vẫn còn rất nhiều khoản vay để đầu tư được bỏ ra ngoài ngân sách mà nếu tính gộp cả vào thì thâm hụt ngân sách đương nhiên sẽ tăng lên.

Chẳng hạn theo kế hoạch vay và trả nợ 2016, Chính phủ dự kiến sẽ huy động thêm 409.000 tỉ đồng, trong đó 254.000 tỉ để bù thâm hụt ngân sách (trong đó đã bao gồm phần chi trả nợ) nhưng lại dành thêm 95.000 tỉ đồng để đảo nợ ngoài ngân sách, phần còn lại 60.000 tỉ để tài trợ cho các chương trình đầu tư trái phiếu chính phủ.

Đây chính là điển hình cho tính kỷ luật lỏng lẻo và minh bạch kém của ngân sách Việt Nam. Điều này hàm ý rằng, những cải cách ngân sách trong năm 2016 mà Việt Nam nên tập trung thực hiện là tăng cường tính kỷ luật ngân sách, thúc đẩy minh bạch hóa cùng với trách nhiệm giải trình độc lập của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

——–

Tín dụng ngoại tệ được dự báo tiếp tục giảm (25-1-2016)

Phần lớn quỹ bảo hiểm xã hội là cho nhà nước vay (25-1-2016)

 

VEPR: Thâm hụt ngân sách có thể tới 7% GDP trong năm 2015

(25-1-2016)

Tỷ giá: một năm khó định (25-1-2016)

thâm hụt thương mại của Việt Nam tiếp tục kéo dài và dự trữ ngoại hối của Việt Nam tiếp tục ở mức thấp (như con số được nói đến gần đây nhất, khoảng chín tuần nhập khẩu)”.

——–

 

——–

Tổng số lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài đã lên trên 500.000 người... (24/1/2016)

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyển trình bày tham luận ở Đại hội Đảng lần thứ 12.

Năm 2015, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt mức kỷ lục, 115 nghìn người, đưa tổng số lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài lên trên 500.000 người.
Thông tin này được Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho biết tại tham luận ở Đại hội Đảng lần thứ 12, sáng 23/1.

Thất nghiệp ở mức thấp
 

Bộ trưởng khái quát, năm 2015, cả nước có 52,9 triệu người có việc làm.

Chuyển dịch cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế có chuyển biến tích cực, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm, năm 2015 còn 44,3% (giảm 4,4% so với năm 2010).

Đến cuối năm 2014, cả nước có trên 19 triệu lao động làm công ăn lương, chiếm trên 36% tổng số việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động vẫn luôn duy trì ở mức thấp, năm 2015 là 2,31%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,29%.

Cùng thời điểm cuối năm 2015, cả nước có trên 12,07 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, chiếm trên 23% lực lượng lao động.

Trong đó, tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên 11,85 triệu người, tăng trên 2,25 triệu người so với cuối năm 2010; tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên 223 nghìn người, tăng trên 148 nghìn người so với cuối năm 2010.

Nhiều con số khác cũng được Bộ trưởng đề cập, như cả nước hiện có gần 2,6 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội. Có trên 9,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 3,6 triệu người so với cuối năm 2010.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã phát huy tác dụng trong bối cảnh kinh tế khó khăn vừa qua: từ tháng 1/2011 đến cuối năm 2015 có trên 2,07 triệu lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp; trên 1,7 triệu lượt người tư vấn, giới thiệu việc làm; trên 122 nghìn lượt người được hỗ trợ học nghề…, Bộ trưởng khái quát.
Chất lượng lao động thấp

Bên cạnh kết quả, Bộ trưỡng cũng nhìn nhận một số thách thức của việc đảm bảo an sinh xã hội hiện nay.
Đó là, chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động.
Hay, đa số lao động phi chính thức chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

Bộ trưởng cũng đánh giá, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, năm 2015 là 44,3%.

Chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở lên (có bằng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%.

http://vneconomy.vn/thoi-su/lao-dong-viet-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-dat-muc-ky-luc-20160123083358145.htm

Advertisements

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: