Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 10th, 2015

►Nhà văn Trang Hạ: “Ngoài chén rượu, đàn ông chẳng có gì hơn”

Posted by hoangtran204 trên 10/12/2015

Đàn ông VN bị đảng csvn cấm không cho bàn bạc về chính trị, không được họp mặt thảo luận về tình hình đất nước, không được thảo luận về nhân quyền, không được quyền tự do phát biểu ý kiến về các vấn nạn và thực trạng xã hội, không được chỉ trích phê bình các nhân viên đang làm trong chính quyền các cấp, không được tự do ứng cử các chức vụ trong chính quyền các cấp…nói tóm lại, họ chỉ được quyền ăn nhậu rượu chè gái gú.

Nhà văn Trang Hạ: “Ngoài chén rượu, đàn ông chẳng có gì hơn”

9-12-2015

“Lúc đầu tôi nghĩ họ say sưa chè chén, coi rượu như một cách để xã giao. Sau đó tôi mới phát hiện ra một sự thật rằng, ngoài chén rượu ra thì dường như cánh đàn ông không có gì để giao đãi cùng nhau”…

iều người bảo rằng không nơi nào có nhiều quán bia, quán nhậu như ở Việt Nam. Quán thì tấp nập đàn ông, từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, từ thứ 2 đến chủ nhật, không ngày nào vắng. Không ít người đặt câu hỏi: “Không hiểu đàn ông tìm thấy điều gì ở quán nhậu mà đi uống nhiều thế?”. Xin gửi câu hỏi này tới Trang Hạ.

Cách đây mười mấy năm, dường như tháng nào tôi cũng phải đi công tác tỉnh xa với tư cách là một phóng viên. Chỉ có mấy năm mà tôi đi đến hơn 30 tỉnh. Hầu hết những chuyến đi công tác đó của tôi đều kết thúc một ngày làm việc bằng một bữa rượu.

Bữa rượu đó có bí thư đoàn xã, có đại diện các cơ quan địa phương, có sở giáo dục… Đi tỉnh cũng uống, xuống huyện cũng uống rượu, đi về bản cũng uống rượu bất kể là người dân tộc hay người Kinh…

Ban đầu tôi nghĩ họ say sưa chè chén, rồi tôi lại nghĩ “à, họ coi rượu như một cách để xã giao”. Sau tôi mới phát hiện ra một sự thật rằng, ngoài rượu ra thì tất cả các anh cán bộ mà tôi đã gặp, họ không có gì vui thú giải trí, không có bất cứ một thứ gì hơn để mang ra đãi khách.

Họ không có những câu chuyện về văn hóa, tập tục để mang ra mà kể, họ cũng không có những món quà địa phương hoặc có cách giải trí gì khác. Cách đây mười mấy năm thì iPhone chưa từng xuất hiện, internet thì cực kỳ hiếm.

Hầu như những người đàn ông tôi gặp đều không có email, kể cả họ là cán bộ tỉnh đi chăng nữa. Vì thế họ uống rượu rất nhiều và coi đó như là cách duy nhất để tiếp khách. Thế nhưng ngày đó thì tôi thông cảm. Tôi thường thoái thác bằng cách nói là tôi có bầu.

Nhà văn Trang Hạ, rượu chè, đàn ông, con lợn, sống lạ, vietnamnet, vnn, tin nong, tin moi, vietnamnet.vn; doc bao

Trang Hạ: “Ngoài chai rượu thì chẳng có câu chuyện nào khác để người ta chia sẻ với nhau”.

Năm sau tôi đi các tỉnh Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang…tôi vẫn chỉ có mỗi một bài đó để né uống rượu. Thỉnh thoảng gặp lại một vài vị, họ vẫn còn nhớ tôi và họ phát hiện ra tôi nói dối nên họ giả vờ ngạc nhiên hỏi “ơ, năm ngoái có bầu, năm nay lại có tiếp à?”.

Đó là câu chuyện của mười mấy năm về trước chúng ta có thể thông cảm được. Đặc biệt là các cán bộ ở các tỉnh xa nghèo khó, nhất là các cán bộ đoàn. Thế nhưng sau một thời gian khá tôi đi nước ngoài về vào năm 2010, và 5 năm nay tôi thấy cũng chẳng có gì thay đổi.

Nghĩa là ngoài chai rượu ra thì chẳng có câu chuyện nào khác để người ta chia sẻ với nhau, để có thể giao đãi, để có thể có tiếng nói chung, để có thể tìm ra sự đồng cảm, gắn kết đồng nghiệp, thậm chí để tạo ra hoặc để thể hiện là mình hiếu khách. Ngay tại thủ đô chứ không nói xa xôi gì ở các vùng quê.

Họ, những người đàn ông uống rượu, ngoài rượu ra thì hầu như không có gì nhiều hơn. Sự thật đó làm tôi nhiều khi phải thốt lên trong đầu mình rằng: Trời ơi, hầu như cái thế giới phụ nữ nó phong phú và đầy màu sắc hơn hẳn. Bởi vì thế giới phụ nữ họ không cần phải nâng chén lên vẫn có cả thế giới đồng minh. Chúng ta có đối tác, chúng ta có bạn bè, chúng ta có sự đồng cảm thấu hiểu, thậm chí chúng ta có cả những hợp đồng. Bởi tôi cũng làm kinh tế nên tôi rất rõ điều đó.

Hình như với đàn ông, năng lực thể hiện bản thân bị bỏ rơi đâu đó mất rồi!

Nhà văn Trang Hạ, rượu chè, đàn ông, con lợn, sống lạ, vietnamnet, vnn, tin nong, tin moi, vietnamnet.vn; doc bao
Nữ nhà văn cá tính này từng gây sốc khi ví đàn ông với… lợn.

Có một hiện tượng phổ biến tại các quán bia rượu mà bất cứ ai bước vào cũng nhìn thấy đó là cách uống rượu ồn ã, zô hò inh ỏi, bắt tay, ép uống, cợt nhả với bạn nữ, với tiếp viên… Phải chăng người Việt không có văn hóa uống rượu?

Trên đời này làm gì có cái gọi là văn hóa uống rượu. Cũng như vậy, làm gì có văn hóa đánh ghen, văn hóa cặp bồ, văn hóa văng bậy…Chúng ta đừng nên mang cái thứ gọi là văn hóa để chụp mũ lên mọi thứ trên đời.

Chúng ta cũng đừng mang thứ văn hóa ra để đòi hỏi những thứ không tưởng trong đời sống. Vậy nên tôi muốn khẳng định lại một lần nữa rằng, không có cái gọi là văn hóa uống rượu. Nó chỉ có giá trị văn hóa trong xã hội và bản lĩnh văn hóa của mỗi cá nhân.

Việc họ say sưa suốt ngày, sáng ra làm một bát phở phải tộng ngay một cốc rượu, buổi trưa đi ăn lòng lợn lại làm nửa chai, chiều tối. Hay buổi tối khi đơi con đi học về thì cũng phải chén chú chén anh…hay những thứ như chị nói, nó thuộc về bản lĩnh văn hóa của mỗi cá nhân.

Những thứ đó đến từ giáo dục, đến việc anh ta có được mẹ anh ta dạy dỗ tốt hay không. Nếu người đàn ông mà mẹ họ dạy không ra gì thì tất nhiên họ vẫn coi uống rượu là thú vui, là một thứ để chứng tỏ bản lĩnh.

Đề cập đến câu chuyện văn hóa, tôi xin lấy một ví dụ, ở Pháp có lớp học uống rượu vang thì ở mình cũng có một lớp học như thế ở Tràng Tiền, Hà Nội. Thế nhưng trong mỗi gia đình thì những người đàn ông không được mẹ anh ta dạy điều đó.

Đa số người Việt khi uống rượu, rượu gạo hay bất cứ loại bia rượu nào thì cũng “Một, hai, ba …zô” hết.

Vậy cách uống rượu phổ biến như Trang Hạ nói là có văn hóa hay không có văn hóa?

Tôi đang cố hình dung rằng, một số đàn ông sau khi uống rượu họ tự cho phép mình hư hỏng như chị nói chẳng hạn, tôi chỉ có thể nói một câu thôi: đó là Thật tội nghiệp bất hạnh cho các bà vợ của họ.

Còn nếu cứ cố tình gọi đó là văn hóa uống rượu, là “chuẩn” văn hóa của họ, thì tôi đành phải nói rằng đó là những kẻ vô lại.

Tôi cũng là người uống khá nhiều rượu, có năm tôi uống tổng cộng đến 50 – 60 chai vodka. Nhưng tôi thường uống một mình, có khi uống với bạn bè, thầy giáo, bạn thân. Và tôi uống ở nhà. Tôi không mang cơn say của mình ra ngoài xã hội. bởi vì tôi biết: Thứ nhất mình lựa chọn cách mình say, mình không vớ người khác để giã rượu.

Cái thứ hai cũng rất quan trọng là mình uống với người mình cảm thấy thấy an toàn, thân thiết (thật sự thân), nói những câu chuyện thật kín đáo nhẹ nhàng, ở trong phòng ấm chẳng hạn chứ không phải ở những chỗ phải hét lên vào tai nhau và uống bất kỳ loại cốc nào đặt ra trước mặt.

Tôi thấy rất buồn cười là gần đây có một phong trào khoe hóa đơn đi bar. Không chỉ có giới trẻ đâu ạ. Rất nhiều bác sồn sồn khoe đập phá hết mười mấy triệu cho một cuộc rượu, 15 triệu tiền mồi này, 10 triệu tiền rượu chẳng hạn…Tôi cho rằng giá trị ấy nó chẳng nói gì đến cái văn hóa của anh ta cả.

Và nó như thế nào nhỉ? Nó liên quan đến việc nhìn nhận cuộc sống này ra sao chứ không liên quan đến việc mình nghiện rượu hay không hay vì mình không uống rượu mà chê các bác uống rượu. Mỗi người uống sẽ có một cách lựa chọn, và cách lựa chọn đó nó làm cho cuộc đời chúng ta khác nhau chứ không phải chúng ta ở đẳng cấp nào thì chúng ta sẽ uống theo đẳng cấp ấy.

(Theo Gia đình & Xã hội)

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »

►Vì sao chính sách đối ngoại của Việt Nam sẽ không thay đổi sau Đại hội Đảng?

Posted by hoangtran204 trên 10/12/2015

Diplomat

Tác giả: Carl Thayer

Dịch giả: Trần Văn Minh

anhbasam

08-12-2015

Nguồn ảnh: Wikimedia Commons

Nguồn ảnh: Wikimedia Commons

Đi tìm những huyền thoại và quan niệm sai lầm về cách tiếp cận của Việt Nam đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang sẵn sàng tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 13 trong tháng này. Theo nguồn tin nội bộ, đây sẽ là thời điểm quan trọng để lựa chọn ứng cử viên cho các chức vụ lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam – Tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội.

Một khi toàn ban trung ương kết luận, sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, dự kiến sẽ xảy ra từ ngày 7 – 9 tháng Giêng, sẽ nhanh chóng tiến hành. Có một số lượng lớn chưa từng thấy những cá nhân đang cạnh tranh cho các chức vụ hàng đầu. Mặc dù vẫn chưa biết chắc chắn ai sẽ là lãnh đạo đảng kế tiếp, nguồn tin chính trị nội bộ dự đoán sẽ không có thay đổi quan trọng trong chính sách và quan hệ đối ngoại của Việt Nam đối với các cường quốc lớn.

Hai bài nghiên cứu gần đây đưa ra các quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm tới.

 Bài đầu tiên, do Joshua Kurlantzick viết cho Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ, mang tên “Cuộc Xung đột Việt-Trung”. Bài nghiên cứu này được tóm lược trên báoThe Diplomat.

Bản nghiên cứu thứ hai do cựu nhà báo của BBC, Bill Hayton, viết cho Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Quan hệ đối tác An ninh Cận đại của Mỹ trong dự án Đông Nam Á thuộc Đại học Sydney. Bài viết mang tên, “Việt Nam và Hoa Kỳ: Một Quan hệ Đối tác An ninh mới nổi”.

Theo Kurlantzick: Nguy cơ của một cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đang gia tăng … các nguyên nhân va chạm gia tăng có thể dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự nghiêm trọng giữa hai nước trong khoảng 12 – 18 tháng tới, với hậu quả nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ.

Ngược lại, Hayton lưu ý rằng, mặc dù mối quan hệ song phương bị trầy trụa do các tranh chấp ở Biển Đông, các nhà lãnh đạo của cả Việt Nam và Trung Quốc đã “khoanh vùng” các tranh chấp ra khỏi mối quan hệ tổng thể của họ. Hayton kết luận bằng cách ghi nhận rằng vào năm 2015, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam khá bình lặng, với cả hai bên điều chỉnh luồng dư luận. Ngoài ra “thương mại tiếp tục bùng nổ và khách du lịch [Trung Quốc] bị đình trệ trong cuộc khủng hoảng năm 2014, đang quay trở lại”.

Nghiên cứu của Kurlantzick khảo sát ba kịch bản tiềm năng có thể dẫn đến một cuộc đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam – leo thang căng thẳng ở Biển Đông, một vụ nổ súng dọc biên giới đất liền, và sự tương tác không quân hay hải quân không chủ ý phát sinh từ các cuộc thao diễn quân sự giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới.

Trong khi tiềm năng về một cuộc đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam không thể hoàn toàn bỏ qua, các bằng chứng được Kurlantzick đưa ra không thuyết phục.

Ví dụ, trong kịch bản đầu tiên, Kurlantzick chỉ ra, việc triển khai giàn khoan dầu trong vùng biển tranh chấp, các sự kiện đâm tàu,và việc “bồi đắp đảo” của hai bên là các nguy cơ tiềm ẩn cho cuộc xung đột.

Chỉ có hai sự kiện lớn liên quan đến việc triển khai các giàn khoan dầu, một vào cuối thập niên 1990 và một trong năm 2014. Việt Nam đã điều động tàu quân sự trong vụ đầu tiên nhưng cả hai bên nhanh chóng xoa dịu tình hình. Vụ đối đầu năm 2014 chứng tỏ sự kiềm chế của cả hai bên. Việt Nam công khai cho biết họ sẽ không triển khai tàu quân sự và Trung Quốc cũng giữ tàu hải quân ở đàng sau.

Hayton cho rằng, nếu Trung Quốc đặt một giàn khoan dầu hoặc cấu trúc bán quân sự trên Bãi cạn Tư Chính (Vanguard Bank), “Việt Nam có thể sẽ bị bắt buộc phải có hành động quyết liệt”. Trái ngược với Kurlantzick, Hayton kết luận rằng kịch bản giả định này “rất khó đưa tới hình thức đối đầu quân sự. Mục tiêu là ép buộc Trung Quốc phải rút lui mà không làm tan vỡ mối quan hệ”.

Đâm tàu và sử dụng súng nước nhanh chóng trở thành một kiểu đối đầu giúp giữ tình hình trong vòng kiểm soát cho cả hai bên trong năm 2014. Hơn nửa thập niên qua đã có một số báo cáo rằng tàu chấp pháp dân sự của Việt Nam có thể đã đâm tàu đánh cá của Trung Quốc (và ngược lại).  Báo chí Việt Nam gần đây đã tường thuật về một số sự kiện Trung Quốc sách nhiễu tàu dân sự Việt Nam mang đồ tiếp liệu cho nhân viên ở đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây. Biến cố nghiêm trọng nhất diễn ra vào ngày 13 tháng 11 khi một tàu chiến Trung Quốc mở bao che của súng 37 ly ra và chĩa vào tàu tiếp liệu Việt Nam cùng với mười nhân viên mặc đồng phục giương súng trường nhắm hướng tàu Việt Nam. Tàu tiếp liệu Việt Nam đã phải rút lui.

Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng “Việt Nam cực lực phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại tàu Việt Nam”. Kurlantzick lập luận rằng loại họp báo này “nên được xem như một dấu hiệu của sự gia tăng căng thẳng giữa hai nước”. Tuy nhiên, những sự kiện này tương đối riêng lẻ và phát biểu của các quan chức Việt Nam nên được xem như là một phản ứng nghi lễ thường lệ.

Kurlantzick khẳng định rằng “Việt Nam đã phản ứng mạnh mẽ” trước việc “bồi đắp đảo” của Trung Quốc bằng cách “bồi đắp đảo” của riêng mình là không chính xác. Theo Mira Rapp-Hooper, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Á Hàng hải, Việt Nam có lẽ đã bắt đầu việc bồi đắp đảo trước khi Trung Quốc bắt đầu các dự án của riêng họ vào năm ngoái. Việc “bồi đắp đảo” của Việt Nam thực sự rất khiêm tốn và không mang dấu hiệu là một phần của chu kỳ hành động và phản ứng.

Kịch bản thứ hai của Kurlantzick cũng có nghi vấn tương tự. Ông cho rằng, “biên giới đất liền Trung – Việt ngày càng trở nên căng thẳng khi các lực lượng an ninh của cả hai bên đã bắn qua lại ít nhất hai lần trong năm 2014 và 2015”. Ông nhanh chóng thừa nhận rằng “lý do của các sự kiện này vẫn chưa rõ ràng”. Đúng thế. Trong suốt vụ đối đầu tháng 5 về việc Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu HD 981 trong vùng biển tranh chấp, hàng dài những khu khuân vác mang vải chín mùa sang các chợ ở bên Trung Quốc hình thành ở biên giới Trung – Việt. Biên giới Trung – Việt hiện đang yên ổn và chưa có dấu hiệu của loại căng thẳng gần đây mà Kurlantzick đề xuất.

Kịch bản thứ ba của Kurlantzick – tương tác ngoài ý muốn liên quan đến các cuộc thao diễn quân sự giữa Việt Nam và các đối tác chiến lược mới của họ – diễn tả sai tình hình thực tế. Việt Nam chưa từng và không có dấu hiệu tham gia vào các cuộc tập trận quân sự – được định nghĩa như cuộc trao đổi kỹ năng chiến đấu – với các đối tác chiến lược. (Đúng. Đảng csvn rất sợ TQ dựa vào cớ này để tung ra các tài liệu mật đã ký kết (về biển, đảo, biên giới, và lý lịch của HCM…) giữa 2 đảng từ 1950-nay, và nếu TQ đưa chuyện này ra, đảng csvn sẽ mất mặt, sụp đổ, không thể nắm quyền được nữa.)

Việc sử dụng thuật ngữ “đối tác chiến lược” của Kurlantzick đã làm lệch ý nghĩa ra khỏi những gì Việt Nam và các đối tác chiến lược của họ hiểu về thuật ngữ này.

Kurlantzick cũng gom chung các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam vào trong bốn chỉ dấu cảnh báo về một cuộc xung đột có khả năng xảy ra. Ví dụ, ông nói rằng thông báo của Việt Nam về một quan hệ đối tác chiến lược với một quốc gia châu Á “nên được xem như một dấu hiệu tiềm năng của sự gia tăng căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội”.

Quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam không phải là thỏa thuận quốc phòng hay quân sự. Các thỏa thuận này là những tài liệu bao hàm nhiều khía cạnh và toàn diện, bao gồm sự hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, và giữa người dân hai nước. Tất cả đều có một đoạn văn ngắn về hợp tác quốc phòng và an ninh liên quan đến các chuyến thăm cấp cao, trao đổi thông tin, thăm viếng cảng biển, và những loại tương tự.

Cả Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết những thỏa thuận đối tác chiến lược với cùng một số nước. Indonesia là một ví dụ điển hình.

Việt Nam tiến hành các hoạt động hải quân phi quân sự – ngược với thao diễn quân sự – với Hoa Kỳ, chẳng hạn như thực thi Luật tự nguyện về các Cuộc Tiếp cận bất ngờ trên Biển. Việt Nam cũng tiến hành các cuộc thực tập tìm kiếm và cứu hộ ở mức độ thấp với các quốc gia khác. Đồng thời, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành tuần tra hải quân chung ở Vịnh Bắc Bộ mỗi 6 tháng. Các cuộc tuần tra này bao gồm các bài tập tìm kiếm và cứu hộ.

Chuyên khảo của Hayton cung cấp một bản tóm lược hữu dụng về quan hệ hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hayton trích dẫn Đại tá Trần Đăng Thanh, một giảng viên tại Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng Việt Nam, khi lập luận rằng cách duy nhất để duy trì hòa bình và ổn định với Trung Quốc “là tránh đối đầu và giữ gìn tình cảm đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và Trung Quốc”.

Tóm lại, sự cân bằng về bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc và Việt Nam đã từng vô cùng cẩn thận để giảm thiểu nguy cơ đụng độ bất ngờ giữa các lực lượng quân sự. Trung Quốc và Việt Nam đã và sẽ tiếp tục quản lý các điểm nóng có khả năng xảy ra. Thật vậy, để tìm hiểu, nên tham khảo dữ liệu trong chuyên khảo của Bill Hayton, cung cấp chi tiết về 15 cuộc họp và sự trao đổi giữa các quan chức quân đội Trung Quốc và Việt Nam từ cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu năm 2014.

Hayton cũng đề cập đến các vấn đề về quan hệ đối tác chiến lược trong phân tích của ông về quan hệ Mỹ – Việt. Nhưng cũng ở đây, quá nhiều sự hiểu lầm đã len lỏi vào. Ví dụ, Hayton nói rằng “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” là “mức cao nhất trong ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam” và Việt Nam đã chỉ chuẩn thuận trạng thái đó cho Trung Quốc và Nga. Trong thực tế, quan hệ với Trung Quốc được chỉ định là “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” – mức cao nhất trong vốn ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam. Nga vẫn còn là đối tác chiến lược toàn diện.

Hayton cũng lưu ý rằng cả hai nước Úc và Hoa Kỳ đang ở hàng dưới cùng của hệ thống phân cấp các đối tác toàn diện. Trong thực tế, chính Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton là người đầu tiên đề xuất một đối tác chiến lược với Việt Nam. Điều này ám chỉ mối quan hệ quốc phòng và quân sự gần gũi hơn là Việt Nam muốn chấp nhận. Vào năm 2013 cả hai bên lui lại không thảo luận về quan hệ đối tác chiến lược và thay vào đó đồng ý trở thành đối tác toàn diện.

Trước đó, cựu Thủ tướng Kevin Rudd của Úc từ chối đề nghị của Việt Nam về quan hệ đối tác chiến lược với lý do đề nghị chủ yếu mang tính biểu tượng và quan hệ quốc phòng với Việt Nam thiếu sự thân mật của quan hệ quốc phòng của Úc với các “đối tác chiến lược” khác.

Hayton kết luận phân tích của ông với việc khảo sát muộn màng về các đối tác chiến lược khác của Việt Nam – Ấn Độ, Nhật Bản và Nga – và hàm ý rằng chính sách đa phương hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam là một sự phát triển gần đây.

Hồi tháng 6 năm 1991, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của ĐCSVN phê chuẩn một chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế của Việt Nam với tất cả các nước và nói rằng “Việt Nam muốn trở thành bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới… bất kể chế độ chính trị-xã hội khác nhau”. Việt Nam đặt ưu tiên cho quan hệ với Liên Xô, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Cuba và (đáng chú ý là) “những người bạn mới ” – Đông Nam Á, Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Một thập niên sau đó, vào tháng 4 năm 2001, Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 9 của Việt Nam khẳng định rằng: “Việt Nam muốn làm bạn và là đối tác đáng tin cậy với tất cả các nước” bằng cách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế. Trong một thập niên rưỡi qua Việt Nam đã theo đuổi mục tiêu này như là khung chính sách nền tảng cho chiến lược đối ngoại.

Kurlantzick kết thúc nghiên cứu với 7 đề nghị về làm thế nào Hoa Kỳ có thể giảm thiểu các mối đe dọa xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Việt Nam. Hayton kết luận bằng cách gợi ý rằng Hoa Kỳ có thể thúc đẩy Việt Nam trở thành đối tác chiến lược năng động hơn bằng cách tôn trọng hệ thống chính trị độc đảng của Việt Nam hơn. Cả hai tác giả đều không nắm bắt được khung cảnh đa phương rộng lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam bao gồm (ngoài Trung Quốc và Hoa Kỳ) Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Âu Châu, và Hiệp hội các nước Đông Nam Á.

Tóm lại, Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi một chính sách cân bằng đa cực – quan hệ đa dạng hoá, đa phương hoá – chứ không phải là một chính sách thu hẹp hơn trong cân bằng quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong những năm sau đại hội đảng lần thứ 12.

 

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Đã tỏ tường chưa? Thà để TQ lấn chiếm, còn hơn để TQ tung ra các tài liệu mật…

Posted by hoangtran204 trên 10/12/2015

các bằng chứng về các tài liệu mật mà 2 đảng csvn và TQ đã thỏa hiệp với nhau từ 1950 đến Hội Nghị Thành Đô, 3-9-1990

Đã tỏ tường chưa?

9-12-2015

Lê Dủ Chân (Danlambao) – Từ lâu nay, bành trướng Bắc Kinh đã luôn hung hăng xâm lấn Việt Nam. Ngoài biển thì chúng chiếm các đảo Hoàng Sa, Gạc Ma, một phần Trường Sa, vẽ ra đường lưỡi bò chiếm trọn cả Biển Đông, đánh, bắt, cướp, giết ngư dân Việt. Trên đất liền thì chúng vượt biên giới tấn công, cướp của, giết người, phá tan hoang làng mạc, chiếm đất đai, đồi núi của 6 tỉnh phía Bắc. Thế nhưng, đảng và nhà nước CSVN vẫn cứ một lòng đời đời nhớ ơn Trung Quốc, vẫn cứ một lòng 16 chữ vàng 4 tốt, đồng chí anh em, núi liền núi sông liền sông, tình hữu nghị Việt-Trung muôn đời bền vững… Chóp bu Ba Đình vẫn “trải thảm đỏ đón đầu sỏ xâm lăng” để sau đó lãnh đạo Tàu cộng phán cho một câu như “đổ cứt trên đầu bầy sâu thái thú”: Biển Nam Trung Hoa là của người Trung Quốc kể từ thời cổ đại…
Tại sao đảng và nhà nước CSVN lại có thái độ ngược đời, hèn hạ như vậy? Đó là câu hỏi mà trên 90 triệu người Việt Nam (không là đảng viên đảng cộng sản) qua thực tế, dưới ánh sáng mặt trời, dưới sự đưa đường chỉ lối của Internet đã có câu trả lời. Nhưng riêng đảng và nhà nước cộng sản thì vẫn mặt trơ mày tráo, ngậm miệng ăn tiền, hể ai động đến “nỗi lòng mùa thu chết” – mùa thu cách mạng tháng 8 – của đảng thì đảng dùng ngay côn an, côn đồ xã hội chủ nghĩa, còng số 8, nhà tù trấn áp, bịt miệng ngay.
Nhưng – lại cũng chữ nhưng quái ác – hoàng thiên hữu nhãn, thiện ác đối đầu chung hữu báo, hồn thiêng sông núi, anh linh của anh hùng liệt sĩ đã xui khiến vào sáng ngày 08/12/2015 tại Hà Nội trong khi tiếp xúc với dân, đảng trưởng đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng, mỹ danh là Trọng Lú, bất thần hết lú buột miệng tiết lộ với dân rằng:
“Chuyện Biển Đông, càng ngày càng thấy tính đúng đắn của hướng giải quyết, vẫn đảm bảo được môi trường ổn định, hòa bình để phát triển. Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức Đại hội Đảng được không!?” (1)
Hỡi các đảng viên, dự bị đảng viên, cảm tình viên, dư luận viên… đảng cộng sản, câu trên là do Nguyễn Phú Trọng, đương kim đảng trưởng đảng cộng sản nói chứ không phải do tôi hoặc một người vô danh tiểu tốt hay do “bọn phản động” nói đâu nghe, có giá trị tuyệt đối (đối với người cọng sản) đấy.
Qua câu nói này, đảng trưởng cộng sản Nguyễn Phú Trọng đã khai báo rõ ràng trước toàn dân Việt Nam rằng:
Ta, đảng cộng sản Việt Nam để cho Trung Quốc chiếm các đảo Hoàng Sa, Gạc Ma, một phần Trường Sa, Biển Đông cũng như núi Lão Sơn, ải Nam Quan, thác Bản Giốc… là để có được cái đại hội đảng cộng sản ngày hôm nay (sẽ được tổ chức trong tháng 1/2016). Có ai thắc mắc gì không?
09/12/2015

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Singapore and Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 10/12/2015

‌ khắc, từ ngày 7 đến 14 tháng 12, 2015. Trước đây các chiếc P8 thường xuất phát từ Nhật Bản và Philippines (1).

Hoa Kỳ và Singapore là hai nước có quan hệ quốc phòng lâu đời. Từ năm 1990, Sing đã đồng ý mở cửa một phần các căn cứ của mình để cho đồng minh Mỹ sử dụng, mà cụ thể là mở quân cảng Changi cho chiến hạm Mỹ, kể cả hàng không mẫu hạm. Để chiêu dụ Mỹ chôn chân ở Sing họ đã chấp nhận tốn kém, ra công xây dựng Changi thành quân cảng lý tưởng cho hải quân Mỹ. Trong toàn vùng Đông Nam Á, Changi là cảng duy nhất có khả năng đón tiếp tàu sân bay Hoa Kỳ (2).
Với dân số 5.5 triệu, diện tích chỉ 697 km2, nhưng Sing có GDP $307 tỷ đôla (2014), gần gấp đôi GDP Việt Nam và một quân đội hùng mạnh đứng hàng 26 trên thế giới với 262 máy bay quân sự, 40 tàu chiến mà trong đó có 6 tàu ngầm, ngân sách quốc phòng khoảng gần $10 tỷ đôla/năm (3).
Việt Nam có sức mạnh quân sự đứng hàng 21 trên thế giới với 404 máy bay quân sự, 65 tàu chiến trong đó có 3 tàu ngầm, ngân sách quốc phòng cũng khoảng gần $10 tỷ đôla/năm. Tuy nhiên trang thiết bị của VN cũ kỹ hơn và phần lớn là mua của Nga (4).
Sing không có tranh chấp ở Biển Đông. Nhưng có thể nói đảo quốc nhỏ bé này có sức mạnh không và hải quân vượt trội trong vùng. Các máy bay và tàu chiến đều đời mới và đều mua của tây phương.
Cũng như Do Thái, Qatar, Nam Hàn… Sing biết tận dụng sức mạnh quân sự và sự giàu thịnh của Mỹ để giữ an ninh và buôn bán làm ăn, tạo sự giàu thịnh cho đất nước mình. Sự khôn ngoan của Sing là trung kiên duy trì vững chắc mối quan hệ với siêu cường số một của thế giới, tạo mọi điều kiện dễ dàng và quyến rũ để siêu cường đến với mình và không thể bỏ rơi mình.
Hôm 8/12/2015 ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của CSVN nói rằng “…đa phương hóa, đa dạng hóa, chơi với tất cả nhưng giữ độc lập chủ quyền, không phụ thuộc vào ai…”, ông chủ trương VN có nhiều bạn nhưng không có ai là bạn chí thân để giúp mình khi sa cơ thất thế. Tục ngữ có câu “khi anh muốn làm hài lòng với tất cả mọi người thì cuối cùng anh sẽ không làm hài lòng ai cả”.
Trong thực tế, đảng CSVN gần 1/4 thế kỷ nay đã bị sập hầm Trung Quốc, do tin vào chủ nghĩa cộng sản, vào nghĩa vụ quốc tế mà coi nhẹ chủ quyền quốc gia. Họ tin vào đảng cộng sản đàn anh mà quên rằng TQ chỉ có hướng nam để phát triển cho nên VN phải yếu và thần phục họ, vì vậy sử dụng đảng cộng sản đàn em như một tay sai gọi dạ bảo vâng cho phong trào nam tiến của TQ.
Hãy phân tích những gì ông Trọng nói “Giữ được độc lập chủ quyền, đồng thời giữ môi trường hòa bình ổn định để đất nước phát triển. Nếu xảy ra rối loạn gì ở Biển Đông, thử hình dung ra liệu chúng ta có còn ngồi đây để chuẩn bị Đại hội Đảng được không?”(5).
Khi hai chủ trương đối nghịch với nhau như nước (giữ độc lập chủ quyền) với lửa (giữ hòa bình ổn định) mà lại trộn chung với nhau để nói tức là anh nói láo, ngụy biện.
Khi anh cương quyết giữ độc lập chủ quyền thì anh phải bảo vệ khi nó bị ai đó xâm phạm, anh phải ngồi xuống giải quyết với họ, nếu không được thì anh phải thưa kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines đã làm, hay anh phải bảo vệ bằng vũ lực. Anh PHẢI làm ít nhất là một trong ba cái đó, còn không làm gì cả tức là anh nói láo để gạt dân.
Khi anh cương quyết giữ hòa bình ổn định thì đương nhiên anh cứ phải liên tục nhường nhịn cho dù biển đảo đang ra đi về tay người khác ngay trước mắt anh. Vì anh đã bị sập hầm của kẻ xâm lăng sau Hội Nghị Thành Đô năm 1990, nên anh đã chấp nhận làm tay sai cho họ để duy trì quyền lực ở VN, anh sợ bị sụp đổ như ở Đông Âu, điều này được thấy qua cách thể hiện rất hốt hoảng của TBT Nguyễn Văn Linh lúc đó. Anh đã trở thành một thứ Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà. Ông Trọng đã thú nhận hành động bán nước này qua câu “Nếu xảy ra rối loạn gì ở Biển Đông, thử hình dung ra liệu chúng ta có còn ngồi đây để chuẩn bị Đại hội Đảng được không?”
Ông Trọng cương quyết “…giữ cho được chế độ này, Đảng này, giữ cho được hòa bình ổn định…” thì có nghĩa là làm thinh nhịn nhục Trung Quốc, để họ muốn làm gì thì làm ở Biển Đông, việc mất biển đảo là việc của dân tộc Việt Nam chứ không phải là việc của đảng CSVN, việc nắm quyền là việc Đảng lo, việc biển đảo là việc của con cháu và các thế hệ tương lai lo, lo không được là lỗi của đám trẻ chưa sinh chứ không phải của Đảng (6).
Ông Trọng thù ghét những tư tưởng tiến bộ trong Đảng, ông cho đó là “…sự hư hỏng, suy thoái của một bộ phận cán bộ. Không khéo là phá từ trong phá ra chứ không phải bên ngoài đâu”, ông cố tình gộp những người có tư tưởng tiến bộ vô chung với nhóm lợi ích, với tham nhũng và gọi đó là hiện tượng tự diễn biến. Ông còn lo rằng thế tay sai của Đảng đang bị đe dọa do “…bên ngoài âm mưu vẫn có, thường xuyên, ngày càng thâm độc, bằng nhiều cách, từ phía này, từ phía khác…”. Với ông, việc sập bẫy Trung Quốc là chuyện nhỏ, việc Đảng nắm quyền bằng mọi giá mới là chuyện phải lo.
Việt Nam có cảng Cam Ranh nước sâu và thoáng, lý tưởng cho chiến hạm hay mẫu hạm hơn cảng Changi rất nhiều, có vị trí địa chiến lược như Times Square của New York, có dân tộc thông minh dũng cảm, nhưng có đảng CSVN trù dập hãm tài. Xưa nay Philippines có biệt danh là “người bệnh ở Á Châu” và biệt danh này, sau vụ kiện Trung Quốc, hình như Phi đang trao lại cho Việt Nam.
So với Singapore thì thập niên 1965-1975 ta ngẩng mặt, nhưng hôm nay ta chỉ biết gục đầu!
9/12/2015
________________________________________________
Chú thích:

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »