Trần Hoàng Blog

►Thủ bút Trần Trọng Kim – Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 8-5- 1947

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2015

Thủ bút Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Nguyễn Đức Toàn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
 
Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bảnNam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra.
Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện.
 
 

Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên. 

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt. 

Nội dung như sau :

 
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947 (1)
 
Ông Hãn (2),
 
Hôm ông Phan văn Giáo (3) đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài (4) xem.
 
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy (5), hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau (6) do ông D’argenlieu (7) sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làmđược (8).
 
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây (9), không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền (10) và Khiêm (11), họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1]cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài (12).
 
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau.
Tôi về đây chỉ gặp Thảo (13), Hoè (14) và Sâm (15). Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói: Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:


(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V. M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái tròng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh (18) bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân (19) gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt (21) đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)(22)
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ (23) bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương (24) đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam. 

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng. 

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167… 

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.” 

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”. 

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội. 

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim,Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi. 

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd). 

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bàTrần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà. 

_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:
. 
==============
Nhận xét của bạn đọc:

 

  1. Nặc danh15:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Từ năm 1947. Một tư liệu quý. Sao mà vẫn thời sự quá!
    Trả lờiXóa
  2. BALY16:32 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Một tư liệu quá quý,nó sẽ làm sáng tỏ nhiều điều mà những “ai” muốn bưng bít,tô vẽ lại lịch sử theo ý có lợi cho mình bị phanh phui rõ ràng.
    Trả lờiXóa
  3. CD Saigon16:49 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Rất mong những sách của học giả Trần Trọng Kim được trân trọng và tái bản .
    Trả lờiXóa
  4. Bùi Công Tự17:27 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi mới đọc cuốn VIỆT NAM SỬ LƯỢC của Trần Trọng Kim do Nhà xuất bản tổng hợp tp HCM xuất bản năm 2000 .Trước đây có tìm đọc tiểu sử của cụ Trần nhưng tác phẩm của cụ thì chưa được dù cũng rất yêu nueowcs và tài năngbiết .Nay đọc bài này ,thấy được tấm lòng ưu tư của cụ với Đất nước ,tôi thật sự cảm động.Đặc biệt tôi khâm phục sự sáng suốt ,tỉnh táo về chính trị của cụ ,hơn hẳn lớp đàn em ,dù cũng rất yêu nước và tài năng ,như các vị Nguyễn Văn Huyên ,Tạ Quang Bửu ,Nguyễn Mạnh Tường …TK20 nước ta đã có nhiều nhân tài ,trong đó về sử học là Trần Trọng Kim .
    Trả lờiXóa
  5. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Cu Tran Trong Kim la 1 dai hoc gia cua nuoc ta.
    Trả lờiXóa
  6. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    “Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
    Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.”Rõ ràng ngay từ thời cộng sản còn đang buổi hừng đông, vậy mà ông Trần Trọng Kim đã nhìn thấy bản chất lừa dối, xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm. Ông Trần Trọng Kim quả là đức độ hơn người và đã có những nhận xét vô cùng chính xác cái chủ nghĩa CS- quái thai của thế kỷ 20.
    Trả lờiXóa
  7. Nặc danh19:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Dù chỉ là một lá thư , với những nhận xét mang tính chất cá nhân , nhưng những gì mà học giả Trần Trọng Kim đã nói , và với những nhận xét của ông rất đáng để chúng ta quan tâm .Tôi đặc biệt ngạc nhiên về những gì mà ông đã nhận xét và đánh giá về V M ở trong lá thư này , nó chứng tỏ một nhãn quan và kiến thức rất sâu rộng của ông .Sẽ có một ngày không xa , các nhân vật và những sự kiện lịch sử trong quá khứ sẽ được gọi đúng tên và giá trị đích thực như vốn có của nó .

    Để gió cuốn đi
    Trả lờiXóa

  8. Nặc danh22:09 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã được đọc “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim, có thể nói đây là cuốn lịch sử chính xác nhất, khách quan nhất của nước ta, nhưng đáng tiếc là nhà xuất bản TP HCM đã lược bỏ đi một số nội dung cho phù hợp với ý đảng.
    Vì vậy tôi mong những ai có tâm huyết với lịch sử nước nhà, tôn trọng sự thật, hiểu được tiêu chuẩn sơ đẳng và tối thượng của lịch sử, thì hãy cho tái bản bản gốc của ông Trần Trọng Kim để hậu thế được biết.
    Cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng một tư liệu lịch sử quý giá của học giả Trần Trọng Kim.
    Trả lờiXóa
  9. Hoàng Long22:14 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Đúng là một bức thư quý giá!
    Trả lờiXóa
  10. Nặc danh23:59 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Có thể gói gọn về Trần Trọng Kim như sau: một học giả uyên bác, một nhà yêu nước, nhưng không thể là một nhà chính trị thành công. Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. 🙂
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh05:51 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
      “Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. :-)” Nhận xét của bạn nặc danh 23:59 là chưa chính xác, bởi nó chỉ đúng đối với những nhà chính trị CS mà thôi, thử hỏi Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, tổng thống Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản v.v… có phải là những nhà chính trị thành công không và họ có bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo không thì bạn sẽ phải xem lại nhận xét của mình.
      XóaTrả lời
  11. Lộ bản chất xấu ngay từ đầu05:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lịch sử rất công bằng, lịch sử sẽ đánh giá đúng và trả lại giá trị đích thực cho những cá nhân, từng sự kiện đã qua trong quá khứ.
    Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng, không thể tự nhiên, ngẫu nhiên mà lịch sử sẽ dễ dàng “trả lại cái này”, hay “đánh giá lại cái kia” … nếu không có những con người tuy thầm lặng, nhưng nặng lòng với lịch sử, với đất nước mà đã dày công lưu trữ, bảo vệ các tư liệu quý giá trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm. Nhờ có các nguồn tư liệu quý giá ấy mà tất thảy các sự việc dù vẫn đang u u minh minh, sẽ lần lượt được lôi ra ánh sáng.
    Cá nhân tôi xin chân thành biết ơn những bậc trí giả, ái quốc đã chung tay trong việc bảo vệ, gìn giữ cũng như công bố các tài liệu quan trọng như thế này ! Mong rằng các vị bảo trọng, an toàn trong một chế độ nguy hiểm bậc nhất thế giới này ! Xin cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, mong Tiến Sĩ bình an !
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Ba Cầu Muối, Saigon09:44 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Đọc cuốn ” Một cơn gió bụi ” còn nhiều chuyện hay hơn .
      Xóa
    2. Nặc danh02:37 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Đọc bức thư này mới hiểu được lịch sử Việt Nam, cảm ơn những người đã giữ lại được những tài liệu vô giá này. Thật tiếc, 1975 vì hoàn cảnh bị “đánh tư sản” nhiều gia đinh phải mà phải đốt hết sách vở quý giá.
      XóaTrả lời
  12. The Bell10:06 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Hay quá !
    Cụ Kim quả là một kẻ sĩ thông thái tinh lược nhưng còn thiếu mưu lược nên đã bị người ta cướp mất chức và đốt mất nhà. Cụ cũng vì quá đạo đức nên không thể ” bạo lực cách mạng” được . Đúng là chỉ có V.M ( dám) làm được điều này.
    Lịch sử sẽ vinh danh công trạng của cụ
    Trả lờiXóa
  13. Nặc danh10:48 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Trần Trọng Kim là một nhà trí thức chân chính,nhưng ai đã sát hại ông ta?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh12:02 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Khi bạn đặt câu hỏi ra, bạn cũng đã biết rỏ là ai rồi.
      Xóa
    2. Nặc danh11:28 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Ông Trần Trọng Kim mất tại Sài Gòn, thọ 71 tuổi, ông mất do tuổi cao sức yếu chứ không phải bị sát hại.
      XóaTrả lời
  14. Nguyễn Hiếu12:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Người Nghệ Tĩnh gọi Cộng là Cọng thưa tác giả
    Trả lờiXóa
  15. Lê Tri Điền16:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã đọc một cơn gió bụi của ông từ lâu, cái tâm của ông với quốc gia, dân tộc thật cảm động vô cùng. Một con người tài giỏi, tâm đức như ông đã không gặp thời…Xin thứ lỗi cho tôi đã có lúc nghĩ về ông như những gì mà người ta vẫn xuyên tạc lâu nay…Nhân dân sẽ luôn nhớ đến ông như một người con trung hiếu, một nhân tài của đất Việt…
    Trả lờiXóa
  16. HOANGGIAP TON16:49 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lúc còn là học sinh tôi được rao giảng không tốt về chính phủ Trần Trọng Kim. Sau này lớn lên vô tình được đọc Việt Nam Sử Lược của cụ (thời đó cuốn này chưa cho in ở Bắc VN đâu) tôi có suy nghĩ khác hẳn vì thấy cụ đúng là một trí thức lớn, rất lớn. Cụ có những nhận xét đúng mực về dân tộc VN mình. Nay đọc lá thư này càng được hiểu cụ hơn. Đúng là một bậc trí tuệ sáng suốt, thấy rất sớm, nhìn rất đúng về hoàn cảnh và tương lai phiá trước của đất nước. Tiếc thay “Trời chẳng chiều người”, nên cũng là một mất mát chung mà đám hậu thế chúng ta gánh chịu.
    Lịch sử sau này sẽ đánh giá và ghi nhận lại. Việt Nam còn, tên tuổi cụ còn tồn tại với non sông.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh02:59 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Nếu ngày xưa biết theo lời cụ Kim thì đất nước đâu đau thương hơn nữa thế kỷ qua ? ngày nay cũng thế, bỏ ngoài tai, làm càng, để rồi hậu thế 50 năm về sau gánh hậu quả đau thương như hôm nay thế hệ mình phải gánh.
      XóaTrả lời
  17. Nặc danh18:57 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Thực sự khâm phục Cụ TTK đã có cái nhìn rất sắc sảo và chính xác về bản chất của chủ nghĩa cọng sản:đó là sự dối lừa,nham hiểm,tàn bạo.Nó lý giải vì sao bao nhiêu người đã bị bắn giết,tù đày,bạc đãi mặc dầu đã có những đóng góp lớn lao về trí lực vật chất cho cách mạng.
    Trả lờiXóa
  18. Hà Tĩnh quê choa21:24 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Rôi đây lịch sử và Nhân dân sẽ minh oan cho Ông
    Trả lờiXóa
  19. Nặc danh21:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Môt tài liệu quý như thế này mà báo chí ko đăng thật đáng tiếc!
    Trả lờiXóa
  20. Yêu nước, thương dân trên hết23:17 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Chỉ cần đến khi trên mảnh đất Việt khổ đau này không còn sự độc tài của Đảng cộng sản nữa, chỉ cần đến khi có nhiều chính đảng khác cùng tồn tại, đối trọng, cạnh tranh công bằng với những người cộng sản, thì khi đó các tiếng nói của tự do, dân chủ sẽ được thể hiện. Các bậc trí giả, vĩ nhân đất Việt, cho dù mang hệ tư tưởng nào, miễn là có lòng yêu nước, thương dân, khi đó nhất định sẽ được lịch sử ghi nhận công trạng, cụ Trần Trọng Kim nhất định sẽ có ngày được lịch sử Việt Nam vinh danh.
    Trả lờiXóa
  21. con rồng Việt Nam21:43 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
    Hiện nay hàng triệu người Việt Nam nghe cái tên Trần Trọng Kim vẫn nghĩ đó là một tên phản động, bù nhìn, tay sai phát xít Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim luôn được sách báo gọi xách mé như thể đó là một chính phủ ác ôn có nợ máu với nhân dân.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Dao Lam06:22 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Người miền Nam vẫn quí trọng và mang ơn cụ TTK. Sách vở của cụ vẫn được trân trọng và tái bản nhiều lần . Trong khi ở miền Bắc, guồng máy tuyên truyền của Đ muốn triệt tiêu tên tuổi của cụ, chụp cho cụ những cái mũ ác ôn , thân Nhật . Phải nói rằng những người VN thế hệ sau cụ đều phải biết ơn cụ . Những người đã từng học chữ Quốc Ngữ, ai lại biết bộ VN GKT từ lớp đồng ấu . Ai lại không biết những câu chuyện rất ý nhị , bổ ích và đấy tính giáo dục . Ở miền Nam , học sinh Trung học đều có trong tay cuốn VNSL. Từ khi có cuốn VNSL của cụ TTK, kiến thức về sử VN của học sinh miền Nam tăng lên rất nhiều . Các SGK sử miền Nam đều dựạ vào VNSL để soạn chương trình từ tiểu học đến hết lớp PT . Còn những sách về Nho giáo của cụ các SVĐH Văn Khoa ai cũng phải có . Đặc biệt cụ không làm chính trị, chỉ sau sau cuộc đảo chính của Nhật 9/3/1945, HĐ Bảo Đạo vì quí trọng và nghe danh cụ đã lâu nên mời cụ ra lập Chính Phủ . Một con người viết lịch sử, yêu tổ quốc như cụ TTK không lẽ lại đem thân làm tay sai cho quân phiệt Nhật ? Rồi sẽ tới lúc lịch sử phê phán lại con người và sự nghiệp của cụ TTK để trả lại cho cụ những gì thực là của cụ.
      XóaTrả lời
  22. Nặc danh10:26 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tôi kính trọng tầm trí tuệ của cụ Trần khi Cụ đưa ra dự đoán “Cộng sản có công đầu và tội đầu”. Tại thời điểm ấy, những nhận xét của cụ Trần về CS chính xác đến khó tin và trường tồn. Cụ hơn hẳn và khác hẳn cánh Giáo sư ‘bảo vệ đảng’ đương thời.
    Trả lờiXóa
  23. Bôn Ba11:08 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Lịch sử rất Công bằng, Sự thật trước sau vẫn là sự thật!
    Trả lờiXóa
  24. Nặc danh12:58 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Một lá thư để quên gần 60 năm! Thật đúng là bút tích
    Trả lờiXóa
  25. abc13:00 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tại sao Lịch sử Nhà Trường gọi cụ là chính quyền ‘bù nhìn’….?
    Trả lờiXóa
  26. Nặc danh16:32 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Chú thích 24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương.Tôi muốn biết có phải là thân phụ của bà Trần thị lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm không ạ?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh16:41 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Thưa đúng như vậy,bác ND.ạ !
      Xóa
    2. Nặc danh03:14 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Bây giờ mới biết bà Trần thị lệ Xuân,phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm. Sàigòn năm xưa lấy ngày 1 tháng 11 (1963) làm ngày cách mạng, điều này thât bất công cho ông Diệm, Nhu và bà Xuân. Bà xuân là con cụ Kim, thì tôi không nghĩ bà Xuân là người “xấu”, lịch sử nên xét lại thời gian này.Tiện đây là bài vè, ai đó đã đặt ra trước khi lật đỗ ông Diệm:”nghe vẽ nghe ve
      nghe vè Nhu Diệm
      chín năm chấp chánh
      xây dựng họ Ngô
      học sinh nhàu vô
      phá tan nhà báo
      sài gòn nói láu,
      bợ đít bà Nhu

      lấm chuyện có bà Lệ Thu
      Tưng bừng có nàng Lệ Thủy
      Chừng nào cây trúc lộn đầu
      thì anh em Nhu Diệm đi chầu Diêm Dương”

      Ai đã ác tâm đặt ra bài này ?

      Xóa

    3. Nặc danh07:38 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Sửa sai câu sau:lắm chuyện có nàng Lệ Xuân,
      tưng bừng có nàng lệ Thủy.Bài vè này được đặt ra để chuẩn bị lật ông Diệm. Trong câu “chừng nào cây trúc lộn đầu” , phe đảo chánh đã cố tình làm đồng tiền cắc VNCH thời bấy giờ in hình cây trúc ngược đầu với hình ông Diệm, như điềm báo trước.
      Xóa
    4. Nặc danh06:26 Ngày 05 tháng 09 năm 2013
      Bác ND.3:14 ơi ! Bác lầm rồi.Bà Lệ Xuân là con của
      cụ Trần Văn Chương (bộ trưởng chính phủ TTKim),chứ
      không phải con của cụ TTKim.
      Việc con của cụ Kim hay của ai đó là ‘người xấu’ hay
      không thì phải xét chính kẻ đó,chứ đừng xét lý lịch
      như CS.mà oan cho người ta,bác ạ !
      XóaTrả lời
  27. Nặc danh08:53 Ngày 20 tháng 08 năm 2014
    Dưới bức ảnh ghi ông Kim sinh 1883 – mất 1953 nhưng ở bài viết thì ghi 1887 – 1953. Vậy năm sinh nào là đúng ?
    Trả lờiXóa
  28. Nặc danh11:10 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Xin cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng tải tài liệu quý giá nầy. Ông Trần Trọng Kim mới đích thực là người yêu nước và là một nhà viết sử chân chính , đáng kính phục.
    Trả lờiXóa
  29. Nặc danh11:38 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Trước đây, Tễu đã bài này rồi. Nhưng hôm nay có rất nhiều còm tâm huyết. Điều này chứng tỏ truyền thông ở VN ngày càng “lợi hại”…
    Sói sống lâu, sói đã già và sói rất tham ăn nên trong mình đã mang nhiều chứng bệnh nan y. Chỉ cần một thời gian nữa là sói tự chết thôi
    Trả lờiXóa
  30. Nặc danh11:54 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Việt Minh: “Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm”(TTK).
    Nhãn quan chính trị của cụ quá sáng suốt khi nhận định về CS. Cả dân tộc VN mấy nghìn năm văn hiến, có bề dầy lịch sử hào hùng về dựng nước và giữ nước đã bị mắc lừa một nhóm người. Cho đến bây giờ họ cũng không hề thay đổi bản chất. Nông dân và công nhân là lực lượng hy sinh xương máu giành chính quyền và giữ chính quyền cho họ giờ đây lại là đối tượng bị bóc lột thậm tệ nhất. 3 triệu đảng viên CSVN đang mạo danh Quốc gia, Dân tộc để nắm quyền sinh, quyền sát 87 triệu dân . Họ coi quyền lợi của họ trên hết cả Quốc gia, Dân tộc. Chỉ tiếc rằng những người bị phản bội nhất hiện nay là Nông dân và Công nhân vẫn chưa nhận ra chân tướng của CS.
    Nhờ bác Tễu mà hiểu cụ Trần Trọng Kim hơn qua trang này.
    Trả lờiXóa
  31. Nặc danh14:09 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Ông Trần Trọng Kim quả là một đại học giả trí tuệ hơn người , vì cho đến gần đây bản chất của CS mới được nhiều người biết đến. Có nhiều cách để dựng nước thành công , nhưng cs đã chọn bạo lực và lừa dối làm chủ yếu để giành CQ thì cũng dễ hiểu : nó tập hợp chủ yếu những tay vô học , vô lương tâm làm thủ lĩnh . Cũng có một số lãnh đạo là trí thức nhưng đã bị làm cho nhu nhược hoặc là mê muội đến mức không dám phê phán bản chất của cs (VNG, HCM… chẳng hạn-Trần Đĩnh đã bực mình thốt lên như thế trong hồi ký Đèn cù của ông). Tuy nhiên , như ai cũng biết (và việc gì cũng thế), lừa dối và bạo lực chỉ mau chóng giành được CQ thôi , nhưng để giữ được , xây dựng được, phát triển được CQ bền vững mãi mãi thì nhất quyết không thể được. Sở dĩ cs giữ được CQ từ 1945 đến nay là bởi liên miên có chiến tranh , nên dân ta không đủ điều kiện để hiểu biết về cs. Vì thế giờ họ vẫn giữ nguyên cách cai trị dân bằng bạo lực và lừa đảo nên việc phát triển xây dựng CQ sẽ rất khó khăn . Tất cả những cái mà ta nhìn thấy đang biểu thị hàng ngày (cầu đường , nhà cửa , xe cộ, TV điện thoại, mấy tính…) chỉ là tiền vay của thế giới . Rồi đến hạn cũng phải è lưng ra trả , mà ai phải è lưng ? Chính nhân dân lao động , chứ không phải các quan chức cs .
    Trả lờiXóa
  32. Nặc danh14:31 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Nếu đọc ” Một cơn gió bụi” hồi ký của cụ Trần Trọng Kim sẽ biết được sự thực của năm 1945 thế nào, khác hẳn sách báo cộng sản, ông có tả: tại các hòm bỏ phiếu có du kích đứng canh, người đứng bỏ phiếu sợ chết khiêp. Theo Việt Minh thì không sao, không theo hôm sau mất tích, cộng sản giết người như ngóe. Chính phủ của cụ Trần Trọng Kim còn, thì đất nước sẽ theo một hướng khác, rất tiếc cụ là một người yêu nước, một trí thức lớn, có nhân cách, rất tiếc cụ không phải là một nhà chính trị, khi Nhật đề nghị với cụ là tiêu diệt cộng sản lúc đó chỉ có khoảng 5000 người, cần một đêm là dọn sạch cụ không đồng ý, nên con cháu bây giờ mới khổ. Qua bức thư này, lại thấy là cụ rất hiểu cộng sản, nhưng cụ không hợp tác với Nhật để diệt cộng sản, bởi cụ cho rằng người trong nước dù có như thế nào cũng hơn người nước khác; còn cộng sản lại coi nước ngoài là bạn vàng, và nhân dân nào không theo cộng sản là thế lực thù định.  Tiếc cho cụ, tiếc cho nhân dân

thegioinguoiviet.net

———————-

GS. Lê Xuân Khoa: HUẾ 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Chính phủ Trần Trọng Kim và Chính phủ lâm thời 1945. (Tô Hải chú thích ảnh).

Lời dẫn của Basam: Nhân bài viết của cụ Tô Hải “mơ về một kiểu chính phủ Trần Trọng Kim”, xin chia sẻ bài viết của GS Lê Xuân Khoa “Huế 1945 và Chính phủ Trần Trọng Kim”, để thấy rằng một chính phủ còn non trẻ, chỉ trong vài tháng có thể thực hiện được nhiều điều mà những người dân hiện nay vẫn còn đang mơ tới.

Trích: “Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.

Bài đăng trên Văn hóa Nghệ An: 
Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim* 
(Trích)

 Xuân Khoa (1)
…Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỉ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu.

Sau khi nước Pháp bị Đức chiếm đóng vào tháng 6 – 1940 và toàn quyền Decoux phải nhường cho Nhật quyền làm chủ về quân sự ở Đông Dương vào tháng 9, thì uy tín và quyền thế của Pháp bị sụp đổ mau chóng đối với các xứ thuộc địa ở Đông Dương. Các đảng phái chính trị Việt Nam bỗng thấy có động lực mới và thời cơ hoạt động để đòi lại độc lập cho đất nước. Trừ những lãnh tụ chính trị đã lưu vong ở Trung Hoa hoặc đang hợp tác với chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật – kể cả Hồ Chí Minh – hầu hết các lãnh tụ chính trị và trí thức ở trong nước đều muốn dựa vào thế lực của Nhật để loại trừ Pháp ra khỏi Đông Dương. Tổ chức có triển vọng nhất lúc bấy giờ là Việt Nam phục quốc đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để thành lập ở Nhật (thường gọi là nhóm Phục quốc) đã từng tổ chức lực lượng quân sự mang tên là Việt Nam kiến quốc quân đi theo quân đội Thiên hoàng về đánh Pháp ở trận Lạng Sơn ngày 23 – 9 – 1940. Một số lãnh tụ, trong đó có Ngô Đình Diệm, từ lâu đã liên lạc với nhóm Phục quốc để mưu đồ chống Pháp, có nhiều hi vọng sẽ được Nhật ủng hộ thành lập chính quyền trong trường hợp Pháp bị lật đổ.

Tuy nhiên, vì còn bận chiến đấu với quân đội đồng minh, mục đích trước mắt của Nhật là sử dụng Đông Dương vào mục tiêu quân sự nên Nhật đã bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về mặt hành chính. Năm 1944, Nhật bắt đầu nghĩ đến việc loại bỏ Pháp để phòng ngừa việc Pháp có thể làm hậu thuẫn cho liên quân Anh – Mỹ vì mặt trận đã được mở rộng sang vùng Đông Nam á. Mặt khác, giải phóng cho các nước Đông Dương khỏi bị lệ thuộc vào nước Pháp cũng sẽ giúp cho Nhật củng cố được ảnh hưởng và thế lực của “khối Đại Đông á” mà Nhật muốn lãnh đạo để chống lại khối Tây phương. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương (9 – 3 – 1945), Nhật duy trì hoàng đế Bảo Đại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Bảo Đại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Để về nước cầm quyền. Ông đã hỏi Đại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải ngai vàng”. Nhưng Đại sứ Nhật đã trả lời: “Những người gieo mầm không phải là người gặt hái kết quả”. Điều đó cho thấy lý do Nhật không ủng hộ Cường Để vì không tiện lập một chính phủ Việt Nam tuy chống Pháp nhưng thân Nhật, trong khi Bảo Đại không phải là người của Nhật và có thể được dân chúng tin tưởng nếu ông chống lại mưu toan của Pháp trở lại Việt Nam. Người chuẩn bị cho Cường Để trở về thay thế Bảo Đại và cho Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là Trung tá tình báo Hayashi Hidezumi. Vào giữa năm 1944, tin đồn về chuyện này được lan truyền trong giới chính trị khá lộ liễu đến nỗi, để tránh cho Ngô Đình Diệm khỏi bị mật thám Pháp lùng bắt, Nhật phải cải trang cho ông Diệm thành một sĩ quan Nhật và đưa ông từ Huế vào Sài Gòn ẩn náu trong một nhà thương quân đội Nhật. Đến tháng Giêng 1945, hai tháng trước ngày đảo chính, Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuichi quyết định không dùng lá bài Cường Để nữa.

Đến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Đại. Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng đồng minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập”. Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai,” Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chính được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy”(1).

Những lý do trên cho thấy tại sao Nhật không mời Phạm Quỳnh cũng như không mời Ngô Đình Diệm là những người có kinh nghiệm về chính quyền mà lại mời Trần Trọng Kim, một trí thức không đảng phái, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng không phải là một người làm cách mạng. (Xem thêm Chương 10 về lý do Ngô Đình Diệm không được mời, hay được mời nhưng không nhận). Đối với Trần Trọng Kim, đây là một chuyện rất bất ngờ mà chỉ sau khi gặp Bảo Đại lần thứ hai, sau mười ngày trì hoãn, ông mới nhận trách nhiệm thành lập chính phủ. Bảo Đại thúc giục ông:

“Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.(2)

Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là “bù nhìn” do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền “độc lập bánh vẽ”. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.

Trần Trọng Kim thành lập chính phủ trong tình trạng độc lập nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nếu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội đồng minh. Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở” nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất”.(3)

Luật sư Thảo cũng cho biết một chuyện đáng lưu ý khác là Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” để có thể tồn tại của Thái Lan. Nhân vật này là Pridi Banomyong, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Thái Lan, vốn là bạn cùng lớp rất thân của luật sư Dương Văn Giáo tại Đại học Luật Paris và khi làm Bộ trưởng đã mời luật sư Giáo làm cố vấn chính trị. Khi đó chính phủ Thái Lan do Thống chế Phibul Songram cầm đầu, bắt buộc phải thân Nhật lúc đó đang có 50.000 quân trú đóng ở Thái Lan. Pridi Banomyong khi đó phải sang Sài Gòn để hoạt động cho vai trò trung lập của Thái Lan. Trong thời gian này ông được Dương Văn Giáo giới thiệu với Trịnh Đình Thảo. Pridi cho hay trong khi Phibul Songram đi với Nhật thì một số chính trị gia Thái ở Anh và Mỹ hợp tác với đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi chiến tranh chấm dứt. Những chính khách lưu vong này thành lập một chính phủ trù bị để khi cần thiết, sẵn sàng thay thế chính phủ Phibul Songram và được đồng minh thừa nhận. Lời khuyên của Pridi Banomyong cho Trần Trọng Kim là “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật”.(4)

Ngoài hoàn cảnh khó khăn về chính trị, đất nước lại đang gặp phải tình trạng nguy ngập về kinh tế: nạn đói đang hoành hành, các thành phố và trục lộ giao thông đường bộ, đường biển từ Nam ra Bắc bị phi cơ và hạm đội đồng minh oanh tạc hay thả mìn. Bộ trưởng Xã hội của chính phủ Kim, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bị thiệt mạng trong một vụ oanh tạc như thế. Các cơ sở chính quyền còn ở trong tình trạng giao thời, quân đội chưa thành lập, và guồng máy hành chính do Pháp để lại chỉ là những thuộc cấp mà hầu hết là “những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp, chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ”.(5)

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này. Kết quả có thể được tóm tắt như sau:

Cứu đói: Bộ Tiếp tế do bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc từ Nam ra Bắc. Lúc này, Pháp đã mất khả năng ngăn cấm việc tiếp tế gạo và, nhờ sự can thiệp của chính phủ Kim, giới quân phiệt Nhật cũng không còn thi hành chính sách độc đoán về sản xuất nông phẩm. Tuy nhiên, công việc chuyên chở gạo vô cùng khó khăn vì những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ nhằm cắt đứt trục giao thông và chuyển vận của Nhật. Không quân Mỹ oanh tạc thường xuyên đường xe lửa và đường bộ trong khi hải quân phong toả đường biển bằng thuỷ lôi. Nhiều đoàn thuyền buồm còn bị nạn hải tặc chặn cướp khiến cho gạo tiếp tế bị thiếu hụt trầm trọng. Nếu không nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc thì số người chết vì nạn đói còn cao hơn nữa.

Chủ quyền: Để biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu “Việt Nam” chính thức thay thế cho quốc hiệu “An Nam” đang được sử dụng. Mặc dù hứa hẹn cho Việt Nam độc lập, Nhật vẫn giữ lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là nhượng địa dành cho Pháp, và toàn thể Nam Bộ là thuộc địa của Pháp. Ngày 3 – 7, chính phủ Kim thâu hồi được ba thành phố nhượng địa, nhưng cuộc điều đình về vấn đề Nam Bộ không có kết quả. Ngày 1 – 8, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về phủ toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 – 8 và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp 4.000 khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân bảo an.

Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo(6) đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.

Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” và ngày 8 – 5 thành lập Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn(7). Ngoài ra, miễn hay giảm 13 hạng thuế được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.

Chính trị: Với chủ trương “hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội,”(8) chính phủ Kim đã động viên được tinh thần yêu nước của toàn dân qua việc tổ chức lần đầu tiên sau thời Pháp thuộc những buổi lễ vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và phá hủy những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp. Sôi nổi nhất là phong trào Thanh niên Tiền tuyến do Bộ trưởng Phan Anh phát động và khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hoá, xã hội. Những đoàn thể thanh niên này cũng như Tổng hội Sinh viên là những nơi Việt Minh len lỏi vào và lôi cuốn được nhiều người yêu nước đi theo. Ngoài ra, chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để các thanh niên bị bắt về tội theo Việt Minh chống Nhật cũng được phóng thích.

Những kết quả trên đây cho thấy nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, song đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ “còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay,”(9) nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn. Trước đó, trong chuyến đi ra Hà Nội để điều đình với Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuitsu để lấy lại Nam Kỳ và các cơ sở chủ quyền còn lại, Trần Trọng Kim đã tìm hiểu kỹ lưỡng về Mặt trận Việt Minh đang gây thanh thế ở miền Bắc. Ông nhận định rằng “Đảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái có chung mục tiêu giành lại độc lập cho nước nhà, vậy nên từ Bắc chí Nam ở đâu cũng có người theo… Đảng viên cộng sản lại biết giữ kỉ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như hội truyền bá quốc ngữ khi mới lập thành ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỉ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh”(10). Chính vị Khâm sai miền Bắc Phan Kế Toại và một số Bộ trưởng trong chính phủ Kim cũng bắt đầu có thiện cảm với Việt Minh.

So sánh một lực lượng cách mạng đã hoạt động lâu năm có ảnh hưởng trong quần chúng và đang có thời cơ với một chính phủ trí thức yêu nước nhưng mới ra đời được bốn tháng, chưa có đủ quyền hành, chưa kịp có quân đội, Trần Trọng Kim đã quyết định đúng khi ông không nhờ quân đội Nhật can thiệp, một quân đội lúc đó đã mất hết tinh thần đang chờ bị tước khí giới và giam giữ. Ông đã thực hiện phương châm “khả hành khả chỉ” trong chính trị học Khổng giáo để biết “lúc nào nên làm, lúc nào nên thôi”. Bởi vậy, sau khi giành được chính quyền, Mặt trận Việt Minh đã không những không bắt bớ hay trả thù một người nào trong chính phủ Kim mà còn lôi cuốn được một số Bộ trưởng gia nhập mặt trận kháng chiến chống Pháp, mặc dù trước đó đã lên án chính phủ này là “bù nhìn” và “Việt gian”. Chính phủ Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chính Pháp để nắm lấy quyền cai trị nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Đó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh, cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó. Khoảng tháng 6 – 1945, khi Thủ tướng Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật dứt khoát trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn bộ đất Nam Kỳ cho Việt Nam, ông đã nói: “Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui”(11). Chỉ tiếc rằng vài tháng sau, lúc gần đạt được mục tiêu thì Chính phủ Kim phải ra đi.

Nhiều người trách chính phủ Trần Trọng Kim là nhu nhược, không dám đối phó với Việt Minh sau ngày 19 – 8 – 1945 mặc dù nhà cầm quyền Nhật đã báo cho Thủ tướng Kim biết là “quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay”(12). Thật ra, quyết định của Bảo Đại và Trần Trọng Kim không nhờ Nhật can thiệp là đúng vì ba lý do chính:

1. Quân đội Nhật đã đầu hàng. Không có một lý do hay động lực nào khiến họ thấy cần phải chiến đấu để bảo vệ một chính phủ địa phương đang thất thế. Trách nhiệm “giữ trật tự” của quân đội Nhật sẽ chỉ có hiệu lực lúc đầu và họ sẽ phải nhượng bộ hoặc xung đột với cao trào đòi độc lập của những đoàn thể thanh niên, sinh viên và dân chúng do Việt Minh tổ chức. Thời gian “giữ trật tự” để chờ quân đội đồng minh lại rất ngắn (khoảng hai tuần lễ) và chính phủ Trần Trọng Kim sẽ không thể chối bỏ được trách nhiệm về những cuộc đổ máu của dân Việt Nam do quân Nhật gây ra.

2. Việt Minh đã thành công lớn trong chiến dịch tuyên truyền là được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Những lời tuyên bố của Tổng thống Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân của Pháp, sự thành lập “bộ đội Việt – Mỹ” từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan OSS, và tấm hình tướng “Cọp Bay” Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ. Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Kim, còn được tin là “đại uý Landsdale, phụ tá của thiếu tá Archimedes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam á… thay vì tiếp tế cho những nhóm quân của Pháp còn đang chiến đấu (chống Nhật) trong rừng miền biên giới, lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho một tiểu đoàn đầu tiên, và phái Aaron Bank tới huấn luyện cho bộ đội của Hồ Chí Minh”.

3. Việt Minh đã chiếm được các cơ sở chính quyền, Hồ Chí Minh đã thành lập Chính phủ lâm thời, Khâm sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại đã từ chức, đoàn Thanh niên Tiền tuyến và lính bảo an nhiều người đã đi theo Việt Minh. Thư của Bảo Đại gửi cho Truman và De Gaulle kêu gọi ủng hộ chính nghĩa quốc gia đều không được trả lời. Trong tình trạng thất thế và cô đơn trước khí thế sôi sục của “cách mạng”, Bảo Đại cùng Hoàng gia có thể bị lâm vào số phận của Louis XVI sau Cách mạng Pháp 1789 hay Nicholas II hồi Cách mạng Nga 1917. Quyết định thoái vị của Bảo Đại là một quyết định sáng suốt, thức thời, tránh được đổ máu vô ích của nhân dân nếu ông nhờ Nhật dẹp Việt Minh.

Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6 – 3 năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.

Sai lầm chính trị, đúng ra là một nhược điểm, đáng nói đến là Trần Trọng Kim đã không thực hiện được sách lược “bắt cá hai tay” của Thái Lan mà Pridi Banomyong đã chia sẻ. Điều đó có nghĩa là trong khi chính phủ Kim giữ thái độ trung lập chính trị đối với Nhật thì đáng lẽ đã phải có những nhân vật chính trị khác đi với Anh, Mỹ để chống Nhật và để thay thế chính phủ Kim khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng khác với Thái Lan, Việt Nam còn phải đối phó với Pháp, khi đó cũng là một thành phần của Đồng minh, đang quyết tâm trở lại Đông Dương. Công việc vận động Đồng minh lại rất khó khăn vì Anh là một đế quốc tất nhiên ủng hộ Pháp chinh phục lại các thuộc địa cũ trong khi mối quan tâm chính của Hoa Kỳ lúc đó là ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô Âu châu. Dù sao, đó cũng chính là lầm lỗi của các đảng phái quốc gia nói chung, không có một tầm nhìn rộng rãi về chính trị thế giới sau Thế chiến thứ hai, không hợp tác được với nhau để có một sách lược chung…

(Vì không liên lạc được với Giáo sư Lê Xuân Khoa nên chúng tôi chưa được ý kiến của giáo sư về đoạn trích này. Xin chân thành cáo lỗi và cảm tạ giáo sư (T.G). 

(*) Trích Việt Nam 1945 -1995, NXB Tiên Rồng, Hoa Kỳ, 2004.
(1) Lê Xuân Khoa, quốc tịch Mỹ, gốc Việt, nguyên Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, tiến sĩ triết học.
(2) CAOM, HCI – 101. Marc Masayuki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề“Mémoires personnels écrits en réponse au questionnaire des autorités franỗaises de Hué sur les évènements survenus en Indochine en Mars 1945” (Hồi ký cá nhân viết ra để trả lời bản câu hỏi của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự việc xảy ra ởĐông Dương vào tháng 3 – 1945). Marc Yokohama có vợ Pháp tên là Jeanne A. Vicart và một con trai tên Jean-Marie Masayumi Yokohama sinh tại Paris năm 1926. Ngày 13 – 12 – 1946, vợ và con của Marc được chính phủ Pháp cho phép hồi hương vì có công giúp đỡ kiều dân Pháp ở Hà Nội sau vụđảo chính. Không thấy nói gì tới biện pháp đối với Marc Masayuki Yokohama.
(3) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi(Sài Gòn: Vĩnh Sơn, 1969), tr. 51.
(4) Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Tðmoigne (Công cuộc giải thực dân của Việt Nam – Một luật sư, hồi ký) (Paris: L’Harmattan, 1994), 62. Tác giả cuốn hồi ký bằng Pháp văn này là luật sư Trịnh Đình Thảo, viết sau năm 1975 và trước khi ông mất năm 1986 nhưng tới năm 1994 mới được xuất bản ở Pháp, do trưởng nam của ông là luật sư Trịnh Đình Khải đứng tên tác giả.
(5)Sách đã dẫn, tr. 62 – 63.
(6) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, tr. 56.
(7) Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền (sưu tầm), La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hà Nội: NXB Giáo dục, 1998), tập I, tr. 775 – 850. Với sựđóng góp bài vở của 59 người quen biết cố học giả họ Hoàng, các tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn về Khoa học và Giáo dục được in lại trong tập I này, các tác phẩm về Lịch sửđược in trong tập II và về Văn học trong tập III.
(8)Đạo luật đầu tiên cho phép tổ chức nghiệp đoàn là do chính phủ Trần Trọng Kim soạn thảo và ban hành ngày 5 – 7 – 1945. Tổng Liên đoàn Lao động của Việt Minh tới tháng 7 – 1946 mới được thành lập. (Alice W. Shureliff, “Trade Union Movement in Vietnam” trong Monthly Labor Review, U.S. Departmen of Labor, Washington, D.C., January 1951, tr. 31).
(9) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, trong “Lời tuyên cáo của nội các Trần Trọng Kim”, phần Phụ lục, tr. 193.
(10)Sách đã dẫn, tr. 93. 
(11)Sách đã dẫn, 73 – 74.
(12)Sách đã dẫn, tr. 78 – 79.
(13)Sách đã dẫn, tr. 93. 

Nguồn: Văn hóa Nghệ An.

Trích:

” Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” :  Đây là một sai lầm chính trị. Vì nhờ dịp này mà hàng trăm ác quỹ cộng sản được sổ lồng ra khỏi nhà tù Sơn La, Côn Đảo…sau đó, chúng cướp chinh quyền, tổ chức ám sát thủ lĩnh các đảng phái quốc gia, giết chết hàng ngàn trí thức tinh hoa của VN như: cụ Phạm Quỳnh, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Bùi Quang Chiêu…Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo phải bỏ chạy qua Tàu…

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: