Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 17th, 2015

► Doanh nghiệp Trung Quốc rầm rộ xây dựng dự án không phép tại tỉnh Quảng Ninh

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2015

16-7-2015

dantri.com.vn

Giải phóng mặt bằng chưa xong, chưa có quyết định bàn giao đất, nhưng doanh nghiệp Trung Quốc vẫn rầm rộ xây dựng tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Đại công trường trên đất chưa được bàn giao

Được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 tại QĐ số 1928 ngày 2/8/2012, dự án xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Cảng biển Hải Hà có tổng diện tích 4.988ha.

Xã Quảng Điền, huyện Hải Hà là một trong những xã thuộc diện giải phóng mặt bằng với diện tích đất thu hồi là 133,4ha, trong đó 98,4ha là đất nông nghiệp, còn lại là đầm bãi nuôi trồng thủy hải sản. Có mặt tại dự án ngày 30/6, phóng viên Tiền Phong ghi nhận đại công trường đang rầm rộ hoạt động, trong khi dự án này vẫn đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng.

Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, ông Bùi Văn Lánh – Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Quảng Điền nói, về thủ tục pháp lý dự án này còn nhiều thiếu sót. Theo chỉ đạo của UBND huyện Hải Hà, Quảng Điền đã tiến hành thu hồi toàn bộ diện tích đất nông nghiệp nằm trong dự án, di dời 26/105 hộ nằm trong diện giải tỏa. Tuy nhiên, đến nay gần 10ha diện tích đất đầm bãi đang nuôi trồng thủy hải sản của 9 hộ dân vẫn chưa thu hồi xong, do chưa thống nhất được phương án đền bù. Ngoài ra, tại KCN còn có 2 hộ dân khác có đơn thư kiến nghị, khiếu nại về phương án đền bù đối với đất đai, tài sản trên đất bị thu hồi.

Cũng theo ông Lánh, điều lo ngại nhất là người dân sau khi bị thu hồi hết đất ruộng sẽ không biết làm gì, đặc biệt đối với trường hợp đã hết tuổi lao động. Ông Lánh cũng cho biết, dù chưa có được quỹ đất sạch, Quảng Điền đã như một đại công trường. Một doanh nghiệp Trung Quốc đã tiến hành xây dựng nhà xưởng từ hơn 1 năm nay trên đất giải phóng mặt bằng nham nhở.

Được biết, đơn vị xây dựng là Cty TNHH Đầu tư Texhong Ngân Hà có trụ sở tại 979 King’s Road, Quarry Bay, Hong Kong (Trung Quốc), lĩnh vực đầu tư tại Hải Hà là xây dựng nhà máy sản xuất và nhuộm hấp sợi. Ông Lánh cho biết thêm, một quả đồi với diện tích hơn 30ha là   cao điểm 381 của đơn vị Quốc phòng cũng đang bị đơn vị thi công san gạt để lấy đất lấp mặt bằng.

Đường sá bụi mù mịt khiến người dân nghẹt thở. Ảnh: Minh Đức.
Đường sá bụi mù mịt khiến người dân nghẹt thở. Ảnh: Minh Đức.

Người dân lo ngại

Là một trong những hộ dân bị thu hồi đất phục vụ dự án, gia đình ông Nguyễn Văn Sơn – bà Ngô Thị Yên và gia đình ông Bùi Văn Nhan – bà Bế Thị Bé (cùng ở tổ 6, xã Quảng Điền) từ nhiều tháng qua đã có đơn thư gửi UBND xã, UBND huyện cho rằng phương án đền bù chưa thỏa đáng. Cả hai gia đình trên bị thu hồi gần 4.000m2 đất trồng lúa. Đất ở của hai hộ gia đình cũng bị thu hồi để làm đường 18 kéo dài phục vụ cho KCN Hải Hà.

Trỏ tay sang con đường bụi mù mịt, bà Yên than, mỗi ngày có cả ngàn lượt xe tải chở nguyên liệu vào công trường bất kể sớm trưa chiều tối bụi mù mịt khiến người dân ngột ngạt mỗi khi ra đường. “Chúng tôi gọi cho đơn vị thi công, nhưng họ đưa xe tưới nước một, hai lần rồi đâu lại vào đó”. Điều mà những người dân lo ngại hơn cả, đó là nhà máy sản xuất sợi – nhuộm hấp nằm sát bờ biển, khi đi vào hoạt động sẽ ảnh hưởng tới môi trường, nguồn nước, không khí và sức khỏe người dân.

Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Trung Kiên – Phó trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh (cơ quan chủ quản, đơn vị cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Cty Texhong), thừa nhận Quảng Ninh vẫn chưa có quyết định giao đất cho chủ đầu tư do công tác giải phóng mặt bằng vẫn chưa xong. Tỉnh đang cố gắng để trong thời gian sớm nhất hoàn tất thủ tục này.

Lý giải về việc chủ dự án nước ngoài chưa có được quyết định giao đất nhưng đã thi công, ông Kiên nói: “Đây là đối tác chiến lược, đơn vị này đang triển khai giai đoạn 1 của dự án. Họ thi công theo kiểu “cuốn chiếu”, có nghĩa là giải phóng mặt bằng đến đâu, tiến hành xây dựng đến đó”.

Ông Kiên cũng cung cấp 2 giấy chứng nhận đầu tư do BQL Khu Kinh tế Quảng Ninh cấp cho Cty TNHH Texhong Ngân Hà và Cty TNHH Đầu tư Quốc tế Hải Hà (đều là các Cty của Hong Kong). Các văn bản đều thể hiện, KCN Hải Hà được mang tên gọi KCN Texhong.

 Ông Hoàng Trung Kiên – Phó trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh cho biết: Texhong xin thuê 4.988ha đất (bằng toàn bộ diện tích của dự án KCN – cảng biển Hải Hà, Quảng Ninh) với thời gian 50 năm. Giai đoạn 1 Cty này mới được chấp thuận 660ha đất dự án. Ngoài việc xây dựng nhà máy sản xuất – nhuộm hấp sợi, Cty Texhong cũng đang đề xuất xây dựng nhà máy nhiệt điện với công suất 2.000MW nhưng mới chỉ là ý tưởng, chưa được chấp thuận.

Theo Minh Đức
Tiền Phong

4.988ha đất:  =  50 km vuong

►DỰ ÁN CHO CÁC NƯỚC NGOÀI THUÊ ĐẤT TỪ 50-210 NĂM CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

Đất đai- Bất Động Sản:

►18 tỉnh VN cho các nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1

Bí thư Thành ủy Quảng Ninh đề xuất cho đối tượng nước ngoài thuê đất 120 năm khi trả tiền một lần!

►Móng Cái: vùng Biên Giới phía Bắc đã lọt dần dần vào tay Trung Quốc

►Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng- Đông đô đại phố ở Bình Dương do Quân Đội Nhân Dân VN xây dựng cho Trung Quốc…Nhân ngày kỷ niệm thành lập QĐNDVN 22-12-2013

►“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 1/9

,

Thư Viện các bài được đọc nhiều nhất

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

► Báo Động: Các tổ chức XHDS Việt Nam cần cấp thời lên tiếng

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2015

Chính quyền Việt Nam đang muốn chứng tỏ cho quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, rằng họ thay đổi khung luật để đáp ứng những quan tâm về nhân quyền. Một mũi nhọn nhân quyền mà chúng tôi thúc đẩy ở ngoài này là Việt Nam phải luật hoá các cam kết về nhân quyền cũng như phải xoá bỏ các điều khoản vi phạm nhân quyền trong luật và các văn bản dưới luật hiện hành. Xét vậy, đây là một nhượng bộ đáng kể của Đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ này sẽ chỉ là hình thức nếu như nội dung luật vẫn không thay đổi gì so với hiện trạng. Chẳng hạn, dự thảo của “Luật Về Hội” báo hiệu một thái độ “ăn gian”.   ”

Thực chất hay chỉ là hình thức khi Quốc Hội Việt Nam cải tổ khung luật?

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 16 tháng 7, 2015

http://machsongmedia.com

Trong khoá họp tới đây, từ 20 tháng 10 đến 25 tháng 11, Quốc Hội Việt Nam sẽ bàn thảo hay biểu quyết một số luật quan trọng như luật báo chí, tiếp cận thông tin, hội đoàn, tôn giáo,  hình sự, thủ tục hình sự… Đây là lúc các tổ chức xã hội dân sự, các chuyên gia và người dân ở trong nước nói chung cần lên tiếng để chỉ ra những bất cập và ảnh hưởng nội dung của các luật này. Khi thông qua rồi, chúng sẽ đóng khung toàn xã hội trong nhiều năm tới mà khó thay đổi được.

Chính quyền Việt Nam đang muốn chứng tỏ cho quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, rằng họ thay đổi khung luật để đáp ứng những quan tâm về nhân quyền. Một mũi nhọn nhân quyền mà chúng tôi thúc đẩy ở ngoài này là Việt Nam phải luật hoá các cam kết về nhân quyền cũng như phải xoá bỏ các điều khoản vi phạm nhân quyền trong luật và các văn bản dưới luật hiện hành. Xét vậy, đây là một nhượng bộ đáng kể của Đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ này sẽ chỉ là hình thức nếu như nội dung luật vẫn không thay đổi gì so với hiện trạng. Chẳng hạn, dự thảo của “Luật Về Hội” báo hiệu một thái độ “ăn gian”.

Phái đoàn đa tôn giáo người Việt đã nêu quan ngại về Dự Thảo Luật Tôn Giáo của Việt Nam tại buổi họp với Uỷ Hội Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo, ngày 19/06/2015

Chương II, Điều 9.3 của dự thảo quy định rằng một hội mới muốn chỉ được đăng ký hoạt động khi “lĩnh vực hoạt động chính không trùng lắp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trong cùng phạm vi hoạt động”. Trong suốt 40 năm ở miền Nam và 60 năm ở miền Bắc, người dân không có quyền lập hội; trong khi đó Đảng Cộng Sản đã dàn dựng các tổ chức quần chúng bao trùm cả xã hội trong mọi lĩnh vực, ở mọi địa bàn, dưới tán dù của Mặt Trận Tổ Quốc. Như thế, với Điều 9.3 thì còn không gian nào cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập để được công nhận và hoạt động công khai?

Dự thảo luật, ngay phần mở đầu, đã khẳng định tính cách “siêu hội” của Mặt Trận Tổ Quốc và những tổ chức kiểm soát quần chúng do Đảng Cộng Sản lập ra và điều động: “Luật không áp dụng với Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Công Đoàn Việt Nam, Hội Nông Dân Việt Nam, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Thành Phố Hồ Chính Minh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam, Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam.” Có nghĩa là các tổ chức này nằm trên luật.

Không những thế, Chương IV, Điều 25 của dự thảo quy định rằng “Hội hoạt động thuộc lĩnh vực nào phải chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực đó”. Nghĩa là ngay khi được chấp nhận hoạt động, hội phi chính phủ sẽ lập tức mất tính độc lập vì bị chính phủ quản lý.

Trên đây chỉ là những điểm làm ví dụ để cho thấy các tổ chức xã hội dân sự, những chuyên gia về luật, và những người dân quan tâm trong nước phải lên tiếng và lên tiếng cấp thời đối với hàng loạt các dự thảo luật được xem xét hay biểu quyết trong khoá họp sắp đến của Quốc Hội Việt Nam.

Đầu năm nay, BPSOS đã báo động về bản thảo luật tôn giáo với các tổ chức tôn giáo ở trong nước, hỗ trợ phần dịch thuật các quan điểm phản hồi rồi chuyển chúng đến cơ quan LHQ hữu trách, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Uỷ Hội Hoa Kỳ về Tự Do Gôn Giáo Quốc Tế, Văn Phòng Cho Tự Do Tôn Giáo của Bộ Ngoại Giao Canada, và nhiều tổ chức quốc tế chuyên về tự do tôn giáo. Qua đó, chúng tôi vận động quốc tế kêu gọi Việt Nam chỉnh sửa nội dung cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Tại buổi đối thoại nhân quyền với Việt Nam ở Hà Nội vừa rồi, phái đoàn Hoa Kỳ đã chính thức nêu quan ngại về nội dung của dự thảo luật này với phía Việt Nam. Chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi diễn tiến về dự thảo luật tôn giáo.

Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sự lên tiếng về các dự thảo luật nói đến ở trên. Hiện nay, một số tổ chức nhân quyền quốc tế có uy tín đã đồng ý cùng lên tiếng về các luật này. Vấn đề còn lại là sự lên tiếng phải xuất phát từ chính xã hội dân sự Việt Nam. Và sự lên tiếng này phải thực hiện gấp rút vì không còn nhiều thời gian để ảnh hưởng đến những thay đổi luật pháp với tác động lâu dài đến cuộc tranh đấu đòi nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam.

Bài và tài liệu liên quan:

Bản thảo Luật Về Hội:
http://dvov.org/wp-content/uploads/2013/11/DRAFT-Law-on-Associations-2015-VN.pdf
http://dvov.org/wp-content/uploads/2013/11/DRAFT-Law-on-Associations-2015-EN.pdf

Các Tổ Chức Tôn Giáo Trong Nước Cần Lên Tiếng
http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=3025

Vận động tự do tôn giáo cho Việt Nam
http://www.machsongmedia.com/chinhtri/vandechinhsach/992-van-ong-t-do-ton-giao-cho-viet-nam.html

Các ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo:
http://dvov.org/religious-freedom/

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Dân Chủ và Nhân Quyền, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Vụ án (Vinashin) Giang Kim Đạt: lỗ hổng khủng khiếp của “ông” cơ chế?

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2015

Hà Văn Thịnh, cộng tác viên Dân Luận

Tác giả gửi tới Dân Luận

Trước hết, dư luận ghi nhận nỗ lực phá án của cơ quan điều tra sau 1.825 ngày đêm truy đuổi, đã bắt được Giang Kim Đạt, nguyên Quyền trưởng phòng kinh doanh của Vinashinlines (nay là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy), đã kê biên được gần 40 căn hộ, biệt thự của đối tượng bị truy nã, và bước đầu đã xác định được tổng số tiền mà Đạt đã lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm để chiếm đoạt bất hợp pháp là 18,6 triệu USD (Tuổi Trẻ, 14.7.2015, 19:25 GMT+7)…

Cơ chế nào đã giúp quyền trưởng phòng kinh doanh xơi tái 18,5 triệu USD một cách dễ dàng như vậy?

Cái làm cho dư luận bàng hoàng không hiểu nổi là cái ông cơ chế của ta – cả một hệ thống quản lý nhiều tầng, nhiều lớp; kèm theo cả một quy trình thanh tra, kiểm soát đẹp và đong đưa như hoa ngày tết, cùng với cơ cấu tổ chức bộn bề nhất nhì thế giới như công đoàn, đoàn thanh niên, cục này, vụ nọ…; sao lại có thể để cho một gã trai 28 tuổi đời (tính ở thời điểm 2006), chức vụ chỉ vào hàng nhơ nhỡ (nếu không muốn nói là rất nhỏ), lại có thể khuynh đảo hệ thống một cách quá ư dễ dàng – thậm chí, chỉ cần một thương vụ, có thể bỏ túi tư lợi… 1 triệu USD!

Thử để cho trí tưởng tượng bay là là thôi, một tư duy trung bình cũng ngay lập tức đặt câu hỏi là nếu có chức quyền cao hơn nữa, thì số lượng tiền dân, của nước thất thoát sẽ bị đe dọa và nghiêm trọng đến mức nào? Cứ nhìn vào Giang Kim Đạt, biết ngay lý do vì sao đất nước xơ xác, nghèo hèn.

Trên đời này, chẳng có gì “thoải mái” hơn là có quyền mua vô tội vạ bất kể cái gì bằng tiền của người khác! “Người khác” ở đây là hàng triệu người lao động ngày đêm ky cóp được chút tiền mồ hôi, xương máu rồi ký thác cho những kẻ như Đạt (nhiều Đạt nữa) mà ngay cả cha đẻ – ông tổ của khế ước xã hội là Jean Jaques Rousseau (1712-1778) cũng chả tài nào lý giải nổi, bởi người dân chẳng dại gì để ủy thác cho Đạt quản lý tài sản của mình(!)

Rõ ràng, sự vận hành của cơ chế có vô vàn khiếm khuyết, đã mở đường, mời gọi những kẻ mới chập chững bước vào cái nấc thang thứ nhất của quyền… được tham nhũng, đã ngay lập tức biết cách “biến hóa” tài sản công thành của riêng.

Câu hỏi đặt ra là: tại sao khắp nơi, mọi lúc, ai cũng phàn nàn về cơ chế, ai cũng thấy cũng biết nhưng nhìn mà nỏ chộ những nguyên tắc sơ đẳng nhất của quản lý kinh – tài như: Cần phải thay đổi tầng, lớp A, B; gia cố điểm yếu C, hay loại bỏ sự phiền hà, kém hiểu quả N, X…?

“Ông cơ chế”, dù có to lớn, kềnh càng đến đâu cũng là do con người tạo dựng nên. Một khi sản phảm ấy bất cập, bất lực trước mọi thủ đoạn tham nhũng tinh vi, tàn độc; tại sao không kiên quyết sửa chữa dứt khoát, triệt để?

Phải chăng có một sự biết mà chưa nói, vì “chưa đủ cơ sở”, đó là: sau lưng Giang Kim Đạt còn có không ít Đạt’, Đạt”, Đạt N phẩy… ngày càng to hơn, uy lực thao túng ngày càng lớn hơn? “Nhóm lợi ích” trong trường hợp liên quan đến hệ thống thì chỉ còn có giá trị bọt bèo: kiếm 1 triệu USD trơn tru và xuôi luột hơn cả bác xe thồ kiếm mươi ngàn một cuốc xe dưới trời nắng nóng 40 độ!

Rõ ràng, bài học đắt nhất của vụ án này là cần phải có sự đổi mới – thay toàn bộ quy trình chi tiêu, kiểm soát của cơ chế quản lý hiện hành. Không thể nào chiến thắng được tham nhũng một khi kẽ hở cứ muốn tìm là có, hình phạt muốn thi hành là “rút kinh nghiệm”, còn thay đổi, đồng nghĩa với các làn điệu tình tính tang, tang tính tình diết da của Quan họ!

Viết đến đây, nói như ‘đồng bào’ (từ dùng để nói về đồng bào dân tộc Ê đê ở Đắc Lắc), bỗng giất mình (giật mình): Người dân, báo chí đòi phải thay ông cơ chế nhưng làm sao thay? Cái lẽ giản dị nhất là ông cơ chế A muốn B cùng tồn tại với cơ chế C, D…, để nhìn nhau mà vét, liếc nhau mà vơ. Càng rườm rà, nhiêu khê về thủ tục thì các cách thức kiếm tiền từ cái tổ mối khổng lồ có tên gọi là ‘cơ chế’ lại càng có nhiều cửa, lắm đường. Ông ‘cơ chế’ diệu tuyệt như thế, gắn liền với cuộc sống của các quan như chân, như tay. Trên đời này có ai khùng đến mức bỗng dưng một ngày đẹp trời nào đó, có kẻ vác dao nhè chân mình mà chặt hay không?

Chỉ trong vòng hai năm giữ chức quyền trưởng phòng, Giang Kim Đạt mua được tới 40 bất động sản (theo con số chính thức thông báo ở thời điểm này) – kể cả bất động sản trị giá 3,6 triệu USD tại Singapore! Có lẽ, dưới gầm trời này, chẳng có thiên đường vui chơi nào mà “đầy tớ” của dân chưa đầy 30 tuổi mà lại có thể “lừa” bao nhiêu quan chức có thâm niên cơ cấu hàng thập kỷ, có cái miệng dối lừa lấp lánh hơn mọi tấm gương, lại biết cách để kiếm tiền dễ và”ngon” như thế!

Buôn Ma Thuột, 16.7.2015

danluan.org

Posted in Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Đất nước sắp có thay đổi lớn? (Nguyễn Gia Kiểng)

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2015

Trần Quang Thành

16-07-2015

Sau 4 ngày hoạt động ở Washington DC, New York, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đên 10/7/2015, theo lời mời của chính quyền Tổng thống Obama.

Trong dư luận có những đánh giá khác nhau về chuyến thăm này. Có người nhận định đây chỉ là một biểu tượng lớn, có người cho rằng đó là một sự xích lại gần Mỹ hơn đáng khích lệ ; cũng có người phân tích cái được và mất của ông Trọng qua chuyến đi này. Trong cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Quang Thành, người đang giữ vai trò thường trực tổ chức Tập hợp đa nguyên là ông Nguyễn Gia Kiểng có điều suy tư Đất nước sắp có thay đổi lớn?

Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện. Mời quí vị cùng nghe:

Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành

TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, như vậy là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chuyến đi thăm nước Mỹ. Cuộc đi thăm được chuẩn bị khá lâu và khá ầm ĩ. Dư luận tróng, ngoài nước cũng có sự quan tâm về chuyến đi này.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng có đánh giá ra sao về chuyến đi thăm nước Mỹ của ông Tổng bí thư lần này ạ?

NGK: Theo tôi chuyến thăm viếng này nó đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong bối cảnh chính trị ở Việt Nam. Đây là lần thứ hai một vị lãnh đạo Đảng Cộng sản sang thăm nước Mỹ thay vì cho một vị lãnh đạo đại diện cho chính phủ. Trước đây ông Phạm Quang Nghị, môt ủy viên trong Bộ Chính trị cũng đã đột ngột, bất ngờ thay thế ông Phạm Bình Minh đi thăm nước Mỹ. Chúng ta có cảm tưởng Bộ Chính trị muốn giữ thế chủ động. Ông Nguyễn Phú Trọng đã tới nước Mỹ với một phái đoàn hùng hậu. Nếu tôi đếm không sai ông đên với phái đoàn 11 Ủy viên Trưng ương Đảng, trong đó có 2 vị ở trong Bộ Chính trị, 1 vị trong Ban bí thư là Chánh văn phòng Ban bí thư. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản dành thế chủ động trong việc tăng cường mối bang giao với Hoa Kỳ. Trước đây trong việc tiếp xúc giữa chính phủ với chính phủ nó là chính thức. Nhưng mà chúng ta chú ý người ta đưa những người cấp cao có quyền lưc nhưng không chính thức. Nó có một cái gì đó thay đổi trong chiều sâu. Ho muốn có sự thây đổi thực trong quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ. Tôi nghĩ sự kiện diễn ra kỳ này nó không có hình thức. Hai bên muốn nói thực sự, muốn thảo luận để đến những thỏa thuận trong thực tế, chứ không còn trong xã giao.

TQT: Có người nói về hình thức cuộc đón tiếp kỳ này khá rầm rộ nó thể hiện sự trọng thị của ông Tổng thống Obama cũng như những người lãnh đạo nước Mỹ. Nhưng đi sâu và thực tiến nó có được thể hiện như vậy không hay là nó vẫn chỉ mang tính chất biểu tượng. Ông nghĩ sao?

NGK: Theo tôi đây là một sự việc Đảng Cộng sản Việt Nam muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ là họ có đồng thuận, có thỏa hiệp trong nội bộ của họ. Bằng cớ như tôi vừa nói họ mang theo một lưc lượng Đảng rất hùng hậu. Điều quan trọng là nhắm vào nội dung. Còn về hình thức có lẽ nó cũng không quan trọng lắm đâu. Tôi cũng không có lưu ý nhiều đến hình thức.

Về hình thức tôi muốn nói chúng ta đừng quên theo Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì ông Trọng chứ không phải ông Sang là người lãnh đạo Việt Nam. Bởi vì trong Hiến pháp, điều 4 nói rất rõ Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Ông Trọng là người lãnh đạo Đảng tức là người lãnh đạo đất nước Việt Nam. Đây là một điều rất chính thức, rất hợp pháp. Không có gì hợp pháp hơn là hiến pháp. Chúng ta phải hiểu theo Hiến pháp ông Trọng mới là người nguyên thủ quốc gia thực sự. Nếu chúng ta hiểu như vậy, kỳ này điều Đảng Cộng sản Việt Nam muốn không phải là hình thức, là trọng thị mà là đi đến sự thỏa thuận thực sự.

Riêng tôi thấy về phần hình thức nó rất là nhẹ. Trở lại 36 năm trước đây, vào năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình tới thăm nước Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Cater. Lúc đó ông Đặng Tiểu Bình chỉ là một phó thủ tướng, ông cũng không phải là Tổng bí thư,nhưng ai cũng biết ông ấy là người lãnh đạo Đảng Cộng sẩn Trung Quốc nên đã được Tổng thống Jimmy Cater ra tận phi trường đón tiếp. Ông Đặng Tiểu Bình đã được đón tiếp linh đình với tất cả nghi thức như một nguyên thủ quốc gia thực sự với tất cả sự ân cần. Nhưng kỳ này ông Trọng đến mặc dâu ông là Tổng bí thư thực sự, mặc dầu ông mang theo một phái đoàn hùng hậu như tôi vừa nói nhưng mà theo danh sách báo chí tường thuật – có thiếu sót hay không thì tôi không biết – người ra đón chỉ là môt trợ lý ngoại trưởng, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, 1 giám đốc nghi lễ của Bộ Ngoại giao. Như vậy họ không đặt nặng vấn đề về hình thức. Như vậy nói kỳ này ông Trọng được đón một cách trọng thị là không đúng. Mặc đầu sau đó ông cũng có được một cuộc tiếp xúc tại Nhà Trắng, cũng được khoản đãi một bữa cơm trưa với Phó Tổng thống Joe Biden và ông Ngoại trưởng John Kery. Nhưng tôi nghĩ chúng ta nên chú ý đến nội dung các cuộc thảo luận hơn là vấn đề nghi thức. Tôi nghĩ kỳ này có những thỏa hiệp rất là quan trọng.

TQT: Theo ông kỳ này có thỏa hiệp nào là quan trọng mà ông quan tâm?

NGK: Tôi nghĩ trong tình thế hiện nay giả xử chế độ cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn sáp lại với Mỹ ; muốn tách xa ra môt chút đối với Trung Quốc – Họ không thể nói công khai điều này được – Cho nên chúng ta phải dựa vào những chỉ dấu khác.

Qua theo dõi phim ảnh về cuộc gặp gỡ này tôi thấy một điều có khác với lần gặp gỡ ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Tấn Sang trước đây. Phía Mỹ và Việt Nam có vẻ thoải mái,vui vẻ như họ vừa mới thỏa thuận vói nhau một cái gì. Chứ không phải nói để mà nói. Qua không khí, qua ngôn ngữ chúng ta cảm thấy đây là những người đã thỏa thuận với nhau và đã hài lòng với cuộc gặp gỡ của mình.

Bây giờ dựa vào những gì họ đã nói chúng ta cũng phải phân tích, cũng nên chú ý. Ông Obama nói hai bên đã thảo luận trên rất nhiều vấn đề. Cuộc thảo luận nửa giờ trên nhiều vẫn đề tôi nghĩ là chỉ lặp lại những điều gì đã thỏa thuận từ trước thôi. Họ nói họ đã thảo luận với nhau về nhiều vấn đề rồi. Vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, về an ninh quốc phòng. Đó là những điều mới. Về nhân quyền và tự do tôn giáo cũng nói tới. Ông Obama và ông Nguyễn Phú Trọng đều nói vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo nhưng cũng khá rõ đó là coosmootj quốc gia (ý nói Trung Quốc) đâng hoạt động bất hợp pháp, bất chấp luât pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt giữa 2 nước về nhân quyền, về tự do tôn giáo. Ông Trọng và ông Obama đều nói đến vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo, nhưng tương đối khá rõ như đang có một quốc gia (ám chỉ Trung Quốc) đang có hành động bất chấp luật pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt quan điểm giữa hai nước về vấn đề nhân quyền và vấn đề tự do tôn giáo. Nhưng mà tôi tin tưởng rằng hai quốc gia sẽ sáp lại gần nhau, sẽ giải tỏa khác biệt đó. Cài khác biệt đó như thế nào thì chúng ta đêu biết không có việc Mỹ bắt chước Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Nếu đạt được đồng thuận về vấn đề đó thỉ chỉ có việc Việt Nam sáp gần lại Hoa Kỳ mà thôi.

Tôi nghĩ so với cách nói như vậy chúng ta phải hiểu rằng phía Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước nhượng bộ – cụ thể như thế nào thì chúng ta chưa biết – nhưng có bước nhượng bộ quan trọng về nhân quyền.

Nhân quyền là một cách nói khác của dân chủ. Nên tôi nói đây là mọt sự nhượng bộ rất quan trọng chúng ta phải chờ đợi. Trong buổi nói chuyện với ông Trọng, ông Joe Bidan còn nói rõ hơn nữa là qua cuộc thảo luận còn dài khác biệt, nhưng ông ấy tin tưởng là Việt Nam sẽ là một nước phát triển.

Dựa vào đó chúng ta có thể thấy ró Việt Nam đã có những cam kết. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những cam kết về tự do, về nhân quyền rất là lớn

Nhân quyền có nhiều quyền tự do, nhưng mà chúng ta nhấn mạnh 3 quyền tự do :

       – Tự do ngôn luận và báo chí

       – Tự do ứng cử và bàu cử

       – Tự do tham gia và thiết lập các tổ chức..

Ba quyền tự do đó nó định nghĩa chế độ dân chủ.

Tôi không rõ họ hứa hẹn thời hạn với Hoa Kỳ thực hiện 3 quyền tự do ấy là bao lâu.. Nhưng mà họ đã chấp nhận.Trên nguyên tắc đây là một điểm rất quan trọng. Chế độ cộng sản hiện nay nó không chấp nhận 3 quyền căn bản này.

Trong 3 quyền có quyền tự do ứng cử và bàu cử. Chấp nhận quyền này trên nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận đa nguyên, đa đảng. Họ chấp nhận vào thơi gian nào đó là một chuyện. Nhưng về chính trị đây là một dự đoán. Làm chính trị chúng ta bắt buộc phải dự đoán. Ngay cả dự đoán đó nó có sai, cũng phải dự đoán. Nhưng tôi có niềm tin chắc chắn qua cuộc gặp gỡ này với hình thức của nó, với nội dung chúng ta được biết thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhượng bộ – Nhượng bộ lịch sử – Trên nguyên tắc sẽ chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng.

Người dân Việt Nam ai cũng biết người cộng sản luôn lưỡng lự giữa 2 chọn lựa : Đi với Tàu thì mất nước ; Đi với Mỹ thì mất Đảng. Nhưng kỳ này họ chấp nhận đi với Mỹ nghĩa là có một cái gì đó.

Đảng Cộng sản từ trước đến nay vẫn chó rằng nếu sáp gần các nước dân chủ, sáp với Hoa Kỳ và hội nhập với.các nước dân chủ sẽ mất Đảng, mất chế độ độc tài.

Một khi có bầu cử tự do thì với thành tích trong quá khứ tôi không nghĩ Đảng Cộng sản có một cái may mắn, một cái hy vọng nào. Cho nên chấp nhận chế độ dân chủ cũng là chấp nhận sự tan vỡ. Trong tương lai có thể tiên liệu những gì thấy đươc của Đảng Cộng sản. Đây là một sự nhượng bộ của Đảng Cộng sản. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản đẫ bị đẩy đến sự nhượng bộ này. Họ biết đây là sự nhượng bộ đau đớn mà không muốn làm. Như ông Nguyễn Minh Triết đã từng nói “Bỏ điều 4 là tự sát” . Thế nhưng họ phải làm bởi vì họ đang ở trong tình thế tuyệt vọng.

TQT: Thế nhưng chúng ta đang ở gần một nước khổng lồ là Trung Quốc, một ông láng giềng rất khổng lồ. Nước Mỹ thì ở xa nước ta. Thế thì sự đối phó của cộng sản Việt Nam như thế nào để không bị ảnh hưởng trong cuộc giao lưu gần gũi với Mỹ thị bị Trung Quốc tìm cách triệt hạ họ được thưa ông?

NGK : Theo tôi nghĩ sắp có thay đổi rất lớn khiến những quan tâm của chúng ta trong quá khứ nó không đúng nữa. Quan tâm cho đến hiện nay là làm thế nào để sống bình yên với Trung Quốc. Bời vì có một láng giềng quá lớn, qúa hung hang. Tôi nghĩ mối quan tâm ấy chúng ta cũng không cần đặt nặng ra nữa. Vì có một cái gì đó, vì có một sự thay đổi lớn đang xảy ra. Đó là sự suy sụp của Trung Quốc. Cách đây 2 tháng rưỡi tôi có viết một bài báo Khi chân trời sụp đổ và lịch sử sang trang. Trong đó với tất cả những dữ liệu không thể chối cãi được do chính quyền Trung Quốc cung cấp hoặc thừa nhận. Qua đó chúng ta thấy Trung Quốc đang đứng trên bờ một cuộc khủng hoảng lớn. Và ngay cả khẳ năng Trung Quốc tồn tại với một lãnh thổ này, dân số này cũng không có gì bảo đảm. Cho nên những ưu tư của Trung Quốc trong những ngày sắp tới sẽ tập trung lo giải quyết những khó khan nội bộ. Chứ không còn hơi sức đau mà đi khiêu khích bên ngoài nữa. Chúng ta không nên quá lo âu đối với Trung Quốc; đối với sự khiêu khích xâm lấn của Trung Quốc. Những điều sắp xảy ra ở Trung Quốc là một thảm kịch. Mà thảm kịch đối với ¼ nhân loại Trung Quốc là một thế giới nhỏ trong thế giới này. Tôi nghĩ trong những ngầy sắp tới Trung Quốc sẽ khốn đốn và sẽ không còn hung hăng trong chính sách đối ngoại nữa. Về điều này tôi cũng lưu ý là nếu chúng ta quan sát lịch sử của Trung Quốc, cũng như lịch sử đê quốc. Chúng ta nên nhìn Trung Quốc như một đế quốc. Một đế quốc nó hung hăng khi nó mạnh chứ nó không hung hăng khi nó có vấn đề nội bộ. Trái lại một chế độ hay một nước nó hay gây hấn với bên ngoài để làm quên đi những khó khăn nội bộ như chế độ Hit-le, chế độ quân phiệt Nhật, chế độ phát-xít Ý. Nhưng mà một đế quốc thì ngược lại. Nó hung hăng khi nó mạnh. Khi nó có vấn đề nội bộ nó lo giải quyết vấn đề nội bộ. Chúng ta thấy điều này cũng được kiểm chứng trong lịch sử Trung Quốc. Những lúc Trung Quốc hung hăng đối với bên ngoài là lúc Trung Quốc cực thịnh, không có vấn đề bên trong. Nhưng khi có vấn đề bên trong nó lại rất mềm đối với bên ngoài. Có lúc Trung Quốc đã phải cống các quí phi của mình cho các nươc chư hầu để cầu an như Chiêu quân cống Hồ.

Tôi nghĩ Trung Quốc đang khốn đốn họ sẽ ứng xử theo cách truyền thống của họ là.mềm yếu với bên ngoài.

Ông vừa hỏi Hòa Kỳ ở xa có bảo vệ được chúng ta hay không? Tôi nghĩ nhu cầu bảo vệ nó cũng không quan trọng. Thế nhưng mà nếu có thì chúng ta cũng đừng quên vai trò của Nhật Bản.

Một yếu tố mới ở châu Á là sự đổi mói của Nhật Bản. Sau thế chiến, Nhật Bản là nước tiến bộ nhanh chóng. Trong thế chiến thứ H.ai, Nhật đã qúa tự tin gáy chiến nhưng sau đó đã thảm bại. Sau thế chiến thứ Hai Nhật vươn lên. Nhưng cách vươn lên của Nhật là cách vươn của một nước châu Á, theo cách văn minh châu Á, nhưng sử dung khoa học và ký thuật hiện đại. Ba thập niên gần đây nước Nhật chuyển hóa về văn hóa để thật sự là một nước Nhật hiện đaị: Hiện đại trong nếp sống ; hiện đại trong quan hệ xã hội ; hiện đại trong quan hệ công nhân, trong cách thức sản xuất. Ngày nay nước Nhật đã làm xong một cuộc cách mạng văn hóa lớn. Nước Nhật rất tự tin. Nhật là một liên minh thiết yếu của Mỹ là người đại diện cho liên minh Mỹ – Nhật ở Thái Bình Dương.

Tôi nghĩ điều thứ nhất chúng ta không nên quá lo âu về Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không gấy hấn.

Điều thứ hai là khối dân chủ hiện diện rất là mạnh ở châu Á qua Mỹ và Nhật.

Ở đây tôi cũng muốn nhắc lại một điều là cũng nên tương đối hóa nguy cơ gây hấn của các nước độc tài. Vì hiện nay nếu chúng ta so sánh thì sẽ thấy khối dân chủ nó mạnh hơn hẳn khối độc tài về vũ khí cũng như ngân sách quốc phòng. Mạnh hơn hẳn khối Nga, Trung Quốc và một vài nước độc tài còn lại. Trọng lượng kinh tế các nước độc tại cộng lại cũng chỉ bằng 15% kinh tế thế giới thôi.

Điều căn bản ngày nay chúng ta không nên quên trong những suy nghĩ là các nước dân chủ không cần và cũng không sợ các nước độc tài

TQT: Lâu này người ta có quan niệm ở Việt Nam có 2 phe. Môt phe là phe bảo thủ – phe Đảng và một phe là phe cấp tiến – phe Chính phủ. Đứng đầu 2 pphe này là ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng. Qua chuyến đi Mỹ lần này người ta đánh giá uy tín của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được nâng lên.

Vậy thì trong gian sắp tới đây phe bảo thù và phe cấp tiến, tức là phe Đảng Và phe Chính phủ họ có nhích lại gần nhau không hay là đến một lúc nào đó uy tín của ông Trọng sẽ lấn át phe cấp tiến của ông Nguyễn Tấn Dũng thưa ông?

NGK: Tôi không tin có 2 phe là phe thủ cựu và phe cấp tiến. Nhất là khi người ta coi ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì tôi càng không tin.

Phải nói ông Nguyễn Tấn Dũng có thực quyền hơn 10 năm nay từ năm 2002 khi ông là phó Thủ tướng thường trực cho một ông Thủ tướng rất mờ nhạt là ông Phạn Văn Khải, rồi sau đó ông làm Thủ tướng. Dưới thời ông sự đàn áp nó gia tăng, quan hệ kinh tế nó khép lại chứ nó không mở ra. Có những tiến bộ bộ về internet, về mạng xã hội là do ông không chống cự được với sự bùng phát của các phương tiện truyền thông, của văn ninh mạng mà thôi.

Tôi không tin ó 2 phe đó và tôi càng không tin ông Nguyễn Tấn Dũng là phe cấp tiến. Đối với tôi ông ấy là người thủ cựu hung hăng nhất. Trong thâm tâm, những lãnh tụ cộng sản người ta đều nghĩ như nhau cả. Nhưng ông Dũng là người nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, nhắc lại một cách quả quyết, một cách hung hăng nhất là kiên quyết không để nhen nhóm các tổ chức đối lập. Tôi nghĩ bảo ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì hãy xét lại. Theo nhận xét của tôi trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản họ có sự đồng thuận về mặt lập trường, về mặt chính sách. Tức là họ đều đồng ý Trung Quốc là một nước bá quyền, một thế lực bá quyền xâm lược. Giao thiệp với Trung Quốc là có hại. Ngược lại họ cũng đều nghĩ rằng liên hệ, hợp tác với Hoa Kỳ là có lợi cho đất nước. Nhưng họ cũng đồng ý với nhau không nên quan hệ với Hoa Kỳ mà nên quan hệ với Trung Quốc để giữ nguyên chế độ. Về điểm này vẫn chưa có gì khác biệt cả.

Đến ngày hôm nay tôi nghĩ là họ cũng đồng thuận trên một vấn đề mới là sự nguy ngập của chế độ, của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay Thế giới đang xôn xao về đất nước Hy Lạp. Nhưng tình trạng kinh tế Hy Lạp nó chưa đến nỗi tuyệt vọng như ở Việt Nam. Hiện nay Việt Nam cần phải dựa vào Trung Quốc để mà sống. Số chi ngân sách của Việt Nam là trên 50 tỷ USD một năm. Số thu ngân sách của Việt Nam là dưới 30 tỷ USD một năm. Như vậy nó hụt hẫng 20 tỷ USD một năm. Trung Quốc cho Việt Nam vay 100 tỷ USD với lãi xuất thấp chia ra 5 năm. Nghĩa là số thâm thủng ngân sách đó do Trung Quốc bơm vào Nếu không có thì hầu như chế độ phá sản ngay lập tức. Nhưng hiện nay Trung Quốc không còn là chỗ dựa nữa. Vì Trung Quốc cũng đang rất khốn đốn. Trong những ngày qua các thị trường chứng khoán ở Thượng Hải, ở Thấm Quyến đều sụt giảm 30%. Theo số liệu người ta ước tính trong vòng 1 tháng qua sự mất mát trên thị trường chứng khoán là 2.000 tỷ USD. Khi chúng ta nhìn thấy Trung Quốc bơm tiền vô để cứu vãn thị trường chứng khoán gần 20 tỷ USD, tức là Trung Quốc cũng không còn tiền và lộ ra sự yếu kém đó. Cho nên họ mới bơm tiền vô để cứu thị trường chứng khoán thì hậu quả nó không phải là cứu được thị trường chứng khoán mà nó gây ra mất lòng tin. Thị trường chứng khoán trong ngày tụt 7% và đi đến chỗ họ phải ngưng yết bảng

Trung Quốc không thể giúp cho Việt Nam về mặt tài chính vì Việt Nam đang đứng bên bỏ vực thẳm có nguy cơ phá sản ngay lập tức.. Cho nên họ bắt buộc phải đổi chính sách kinh tế chính trị. Biết giao thiệp với Trung Quốc là có hại về Đảng, nhưng nó có lợi cho chính quyền. Nó như bầu sữa giúp cho chính quyền cộng sản Việt Nam. Bầu sữa ấy không còn nữa họ phải tìm cách khác, dựa vào đâu? Phải gia nhập TPP. Phải tìm một khả năng đầu tư mới tức là gia tăng hợp tác để nhận được một khối lượng đầu tư mới bù đắp vào sự thâm thủng, thiếu hụt ngân sách. Những điều ấy không thể tìm thấy nới nào khác hơn là Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Cho nên họ bắt buộc phải nhượng bộ. Họ ở trong thế tuyệt vọng nên họ phải nhượng bộ cái điều mà họ biết là sự sa sút của chế độ.

TQT: Quay lại phong trào dân chủ, nhân quyền, và các tổ chức xã hội dân sự. Nếu quan hệ giữa hai nhà nước ấm lên. Mỹ sẽ giúp cho nhà nước Việt Nam mạnh lên liệu nó có tác dụng tích cực hay tác dụng tiêu cực đến đấu tranh của những người dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam thưa ông?

NGK : Cái này không chỉ là tốt mà là rất tốt. Chúng ta đều biết đặc tính của các nước dân chủ là họ có thể bỏ tiền ra để đầu tư vào những thị trường mới tạo ra khả năng trao đổi hợp tác và có lợi. Nó phải trải qua một thời gian. Đằng nào chế độ cũng phải trải qua một giai đoạn lúng túng. Ngay cả nếu chế độ được giải thoát về mặt kinh tế thì cũng rất khó mà tồn tại.

Kinh nghiệm cho thấy ở các nước Đông Âu trừ Rumani nó cai trị trong bạo lực và chấm dứt trong bạo lực. Tất cả các chế độ ấy không mang nhiều ân oán, không mang nhiều thù hận, với dân chúng nước họ bằng chế độ cộng sản Việt Nam nào là cải cách ruộng đất, nào là đánh tư sản, nào là tập trung cải tạo. Trong những năm gần đây thì tham nhũng bành trướng chóng mặt, bắt người trái phép, cướp bóc, tước đoạt đất đai . Nếu so sánh với các nước Đông Âu vào đầu thập niên những năm 1990, mặc dầu những chế độ cộng sản ấy họ không có nhiều thù oán với nhân dân của họ, nhưng tất cả các chế độ cộng sản ấy đã bị quét sạch. Nếu có việc Việt Nam đi sáp lại với Hoa Kỳ, các nước dân chủ, chấp nhận luật chơi dân chủ chúng ta có thể đánh cuộc Đảng Cộng sản có thể bị xóa bỏ ngay trong cuộc bàu cử đầu tiên.

Có điều một số người lo ngai, tôi không lo ngại là một số lớn người cộng sản sẽ thành lập ra một lực lượng dưới một cái tên gọi khác và với khả năng tổ chức nhân sự cũng như tài chính của họ , họ có thể thăng lợi trong cuộc bàu cử. Nhưng khả năng này nó cũng khó xảy ra. Nếu nó có xảy ra gthif nó cũng không phải là một thảm kịch cho đất nước là bởi vì nó cũng là một chế độ khác. Khi dân chủ được thiết lập, có một cái gì đó đã kết thúc vĩnh viễn ở Việt Nam : Đó là chủ nghĩa cộng sản.

Đảng Cộng sản có thể tồn tại dưới một danh xưng khác cũng không đáng lo ngại. Tôi nghĩ có thể sẽ có 2 trường hợp xảy ra :

  • Nếu từ nay đến đó – Theo tôi là một tương lai gần chứ không có thể xa được – nếu các lực lượng dân chủ có thể kết hợp với nhau được, ngoài Đảng Cộng sản thành một lực lượng, xây dựng được một lực lượng tương đối có tầm vóc thì thắng lợi là chắc chắn. Đó là một dấu hỏi lớn. Có vẻ lúc này lực lượng dân chủ đi sau sự chin muồi của xã hội.
  • Xã hội Việt Nam mặc dầu đã có sự chín muồi cho một cuộc chuyển hóa về dân chủ, nhưng mà lực lượng đối lập còn kém. Số người nhập cuộc còn ít. Không những thế còn có sự phân tán.

Hy vọng trong những ngày tháng sắp tời tình hình sẽ sôi nổi. Những thay đổi sẽ dồn dập.

Những thay đổi đó có tác dụng thức tỉnh những người dân chủ Việt Nam, những người từ trước đến giờ chưa dấn thân cũng dấn thân. Những người đã dấn thân sẽ nhìn ra cách dấn thân hợp lý, có ích hơn. Tức là kết họp với nhau thành một tổ chức dân chủ, một lực lượng dân chủ.

Anh em trong Tập hợp đa nguyên chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp.

Để chuẩn bị cho tình thế mới đó, chúng ôi vừa phổ biến dự án chính trị dân chủ đa nguyên 2015 lấy tên là Khai sáng kỷ nguyên thứ hai.

Đó là tài liệu tóm lược những vấn đề chính của đất nước. Những định hướng nêu rõ để xây dựng một nước Việt Nam tương lai. Những phương thức đấu tranh cần có để giành thắng lợi cho phe dân chủ. Những nét chính để quản lý giai đoạn chuyển tiếp.

Điều tất cả mọi người Việt Nam hôm nay đều phải đồng ý là chuyển hóa đất nước từ độc tài đang cộng sản trong trình tự dân tộc một cách hòa bình trong tinh thần hòa giải dân tộc.

Trong cuộc chuyển hóa này phải gắn bó mọi người Việt Nam với nhau không để gây ra những đổ vỡ mới

TQT: Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguon anhbasam.wordpress.com


Clinton nói về ảnh hưởng của Hoa Kỳ sau 20 năm quan hệ Việt – Mỹ 

3-7-2015

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt

Clinton nhận định như vậy trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ mừng Độc Lập Hoa Kỳ ở Hà Nội và cũng nhân dịp 20 năm  bình thường hóa bang giao Mỹ – Việt. 

 

Cựu Tổng Thống Bill Clinton, diễn giả danh dự trong buổi tiệc ở khách sạn JW Marriot Hà Nội, hôm Thứ Năm 2 tháng 7,  mừng 239 năm ngày Hoa Kỳ  độc lập và 20 năm Hoa Kỳ tái lập quan hệ bình thường với Việt Nam. (Hình: AP/Trần Văn Minh)

Tổng Thống Bill Clinton quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam năm 1994, bình thường hóa quan hệ ngoại giao ngày 11 tháng 7 năm 1995, và là nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến tranh vào năm 2000. Lần này là lần thứ năm ông trở lại Việt Nam, hầu hết cho hoạt động của tổ chức Clinton Foundation chống HIV/AIDS, bệnh lao và sốt rét.

Buổi tiếp tân do tòa đại sứ Hoa Kỳ tổ chức tối Thứ Năm tại Hà Nội có hơn 1,000 quan khách tham dự và giới chức cao cấp nhất bên phía Việt Nam là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Đại sứ Ted Osius và các cựu đại sứ Pete Peterson, Michael Michalak, đại biện Desaix Anderson, cùng ngoại giao đoàn các nước hiện diện trong buổi lễ.

Cựu Tổng Thống Clinton hồi tưởng lại tiến trình tái lập quan hệ bình thường giữa hai nước trải qua vô vàn trở lực, từ tâm lý ám ảnh bởi dĩ vãng ở cả hai phía, cho đến những nghi kỵ và những vấn đề khó khăn phức tạp còn tồn tại. Ông nói: “Bình thường hóa bang giao đối với tôi, về mặt cá nhân, chính trị và giá trị địa lý chiến lược là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình. Nó giúp hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quan hệ hữu nghị và chứng tỏ cho thế giới ngày càng phân hóa rằng hợp tác vẫn là tốt đẹp hơn xung đột rất nhiều.”

Ông Bill Clinton vẫn nổi tiếng là người có tài nói năng khéo léo, không quên khen ngợi đại sứ Ted Osius. Ông nói: “Ông phó thủ tướng (Phạm Bình Minh) nói với tôi rằng đại sứ nói tiếng Việt rất giỏi khi giới thiệu tôi cho quan khách.” Cựu Tổng Thống cũng ca ngợi cựu đại sứ Pete Peterson là một biểu tượng để ông hành động đúng: “Quý vị đều biết đấy, ông ta đã hơn 6 năm là khách của chính quyền Việt Nam trong thời chiến tranh. Về Mỹ ông ứng cử thành Dân Biểu quốc hội, và trở thành đại sứ đầu tiên của chúng tôi ở Việt Nam. Tôi tin rằng bổ nhiệm ông là một trong những sự chỉ định tốt nhất mà tôi đã làm được. Rồi ông ta lập gia đình và qua sống ở Australia, mỗi tháng vẫn về thăm Việt Nam.” Pete Peterson là phi công máy bay chiến đấu F-4 Phantom, bị bắn rớt ở Bắc Việt tháng 10 năm 1966 và được phóng thích trong cuộc trao trả tù binh tháng 3 năm 1973. Bà vợ ông lấy năm 2002 khi đang làm đại sứ ở Hà Nội là một phụ nữ Úc gốc Việt, viên chức mậu dịch cao cấp của Australia.

Trong bài nói chuyện tại Hà Nội hôm Thứ Năm, ông Clinton ca ngợi 4 Thượng Nghị Sĩ Charles Robb, Max Cleland, John Kerry, John McCain – tất cả đều là cựu chiến binh Việt Nam –  trong số rất nhiều người đã góp phần vào tiến trình bình thường hóa bang giao Mỹ-Việt, mà ông chỉ là người quyết định sau cùng.

Đầu năm 1977, ngay khi trở thành Tổng Thống, Jimmy Carter đã chú trọng đến việc này. Tháng Ba năm ấy ông cử một phái đoàn đến Hà Nội, tuy nhiên hãy còn quá sớm để có thể đi tới một thỏa hiệp gì. Dù sao, tới tháng Năm, Hoa Kỳ đồng ý để Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Tiếp đó, cuộc đàm phán chính thức đầu tiên về tái lập quan hệ ngoại giao diễn ra tại Paris, cầm đầu phái đoàn Mỹ là thứ trưởng ngoại giao đặc trách Đông Á – Thái Bình Dương, Richard Holbrooke, và phái đoàn Việt Nam là thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền. Lúc đó Hoa Kỳ đề ra lộ trình ba bước, trong đó trước hết là được cung cấp thông tin về quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh và trao trả hài cốt những người đã chết. Phía Việt Nam đặt điều kiện bồi thường chiến tranh như thỏa thuận ở hòa đàm Paris.

Cuộc đàm phán ở Paris và những trao đổi giữa hai bên kéo dài không kết quả suốt thập niên 1990. Vấn đề bồi thường chiến tranh là vô nghĩa khi phía Việt Nam không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973, và trong một thời gian rất lâu Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ còn một số quân nhân Mỹ sống sót bị Việt Nam giam giữ ở nơi bí mật.

Năm 1990, thời Tổng Thống George H.W. Bush, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ngoại trưởng James Baker và chuyến thăm này được coi là đã tạo ra một vài bước định hướng cho việc thương thuyết. Ông Thạch nhìn nhận rằng điều kiện về bồi thường chiến tranh là giải pháp không khả thi nên từ bỏ, không đặt vấn đề này nữa. Trọng tâm của Việt Nam ở thời điểm ấy là Hoa Kỳ giải tỏa lệnh cấm vận. Một người góp phần thêm cho nỗ lực của Việt Nam và mở lối cho Hoa Kỳ là Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu tù binh chiến tranh nổi tiếng.

Cuối năm 1991, một bước tiến quan trọng đạt được khi phái đoàn Việt Nam do thứ trưởng ngoại giao Lê Mai cầm đầu tới New York và hai bên đồng ý thành lập nhóm chuyên viên giải quyết các bế tắc trong tiến tình đi đến bình thường hóa. Chương trình POW/MIA tìm kiếm hài cốt và lính Mỹ mất tích được thành hình sau đó.

Tháng Tư, 1992, Tổng Thống George H.W. Bush ký sắc lệnh nới lỏng cấm vận, cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng đại diện ở Việt Nam và cho phép bán một số dược phẩm và nhu yếu phẩm.

Chiều hướng bãi bỏ cấm vận ngày càng được đẩy mạnh ở Hoa Kỳ, mặc dầu cũng có những chống đối mạnh mẽ từ một số tổ chức trong cộng đồng người Việt tị nạn. Thượng Nghị Sĩ John Kerry, cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, thuộc trong số những người tích cực vận động cho bước tiến này. Ông đã từng đề cao thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có đóng góp đặc biệt vào chương trình tìm kiếm tù binh và người mất tích trong nỗ lực tiến tới bình thường hóa bang giao.

Năm 1994, dự luật đề nghị gỡ bỏ cấm vận Việt Nam do hai Thượng Nghị Sĩ John Kerry và John McCain bảo trợ được Thượng Viện thông qua. Trước đó, Tổng Thống Bill Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối việc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tài trợ cho Việt Nam và khẳng định sẽ nới lỏng thêm lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Sau khi dự luật Kerry – McCain  thông qua Thượng Viện, Tổng Thống Bill Clinton chính thức chấm dứt cấm vận Việt Nam và cho mở văn phòng liên lạc ngoại giao giữa hai nước – đại diện ngoại giao Desaix Anderson là viên chức Mỹ đầu tiên  làm việc tại Hà Nội cho tới tháng 11 năm 1995 mở tòa đại sứ.

Cựu Tổng Thống Bill Clnton trong bài nói chuyện ở Hà Nội tất nhiên muốn đề cao những thành quả của 20 năm bình thường hóa quan hệ trên nhiều bình diện kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và chiến lược.

Theo lời ông, quốc gia 20 năm trước chỉ có thu nhập mỗi người 1 dollar một ngày, bây giờ đang phát triển kinh tế vượt bực và dành  20% ngân sách cho giáo dục, tỷ lệ cao hàng thứ 12 trên thế giới. Hiện nay có 17,000 du học sinh Việt Nam ở các trường đại học Mỹ, con số cao hơn hai nước láng giềng Hoa Kỳ là Canada và Mexico.

20 năm trước quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ chỉ $500 triệu. Ngày nay Việt Nam vượt Thái Lan và Malaysia trở thành nước ASEAN đứng đầu về hàng hóa xuất cảng qua Hoa Kỳ, mỗi ngày 1,700 containers. Ông hy vọng sẽ còn thêm nhiều thành tựu khác nếu các cuộc thương lượng về thỏa hiệp mậu dịch TPP của Tổng Thống Obama có đủ sự ủng hộ lưỡng đảng, và nếu các tiêu chuẩn trong sáng, nhân quyền, quyền lao động, môi trường được giải quyết thỏa đáng.

Ông Clinton cho biết chương trình giáo dục kinh tế Fulbright sẽ được đưa vào Fulbright University of Vietnam, trường đại học tư nhân, bất vụ lợi đầu tiên ở Việt Nam. Theo lời ông, phó thủ tướng Phạm Bình Minh là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam thụ hưởng chương trình này, lấy bằng Master’s degree về luật quốc tế và ngoại giao tại Tufts University.

Nói đến Fulbright, cựu Tổng Thống Clinton cho rằng nhiều người không biết hay còn nhớ Thượng Nghị Sĩ Fulbright từng là nhân vật mạnh mẽ phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam. Dẫn lời ông: “Có thể làm cho xã hội chúng ta là mẫu mực cho hạnh phúc con người, chúng ta là bạn của những chuyển biến xã hội và có đủ khoan nhượng để hòa giải với thế giới đối nghịch bên ngoài. Điều ấy do từ quyết định mở rộng vòng tay hay xiết chặt nắm đấm.” Ông Clinton kết luận rằng chân lý ấy đúng vào thời đại của Fulbright, đúng cho thời đại của chúng ta, và “20 năm là lúc để chúng ta nhìn lại mình đã đi xa quá khứ để tiến lên thế nào và tới đâu.”

Tới Hà Nội trong dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao, dù cố ý hay  tình cờ, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã nêu bật lên ý nghĩa của một động thái tương đồng mà chính quyền Tổng Thống Obama đang tiến hành ở Cuba. Giá trị chiến lược của hai hành động cách nhau 20 năm này sẽ được chứng tỏ và hỗ trợ cho nhau trong tương lai. (HC)

Nguoi-viet.com

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Ai bảo vệ ngư dân?

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2015

Nguyễn Tuấn

14-7-2015

Lại thêm một tàu đánh cá của ngư dân bị Tàu cộng uy hiếp và ăn cướp. Cứ mỗi lần ngư dân bị Tàu cộng tấn công và ăn cướp thì câu hỏi đầu tiên cớ lởn vởn trong tâm tưởng là: Hải quân Việt Nam đâu? Cảnh sát biển đâu? Không có câu trả lời cụ thể. Nhưng sự thật dần dần hé lộ thì rất bẽ bàng. Hải quân và cảnh sát biển không đủ khả năng bảo vệ ngư dân đã đành, nhưng một bộ phận của lực lượng biên phòng còn tỏ ra tham nhũng.

Không rõ vì lí do gì mà đề tài về ngư dân bị Tàu cộng ăn cướp và ức hiếp chưa được báo chí VN khai thác một cách thích đáng. Báo chí có đưa tin tàu đánh cá VN bị Tàu cộng tấn công, rồi hình như chỉ dừng ở đó. Họ thậm chí không dám viết tên của tàu cướp mà chỉ bâng quơ viết là “tàu lạ”. Họ không dám đặt câu hỏi trực tiếp và bức xúc như trong khi hàng loạt tàu của ngư dân VN bị đánh cướp thì hải quân và hải cảnh VN ở đâu.

Nhưng cũng may là trong khi báo chí VN không lên tiếng thì có đài của “địch” như BBC, RFA và RFI lên tiếng dùm. Cha nó lú thì cũng có chú nó khôn. Qua những thông tin từ các đài vừa kể chúng ta dần dần có thể hình dung ra hoàn cảnh của ngư dân Việt Nam trước sự lấn áp của Tàu.

Trả lời câu hỏi hải quân VN ở đâu khi ngư dân Việt bị Tàu cộng ăn cướp, một ngư dân cho biết: “[…] các tàu Hải quân Việt Nam chủ yếu tập trung ở 110 độ kinh đông vào đất liền, phía bắc thì từ 16 độ vĩ bắc trở xuống, ngoài phạm vi đó thì tàu Hải quân Việt Nam ít xuất hiện” (1). Nhưng những vụ Tàu cộng uy hiếp và ăn cướp tàu cá của VN thì thường xảy ra ở Hoàng Sa. Nói cách khác, những chỗ Hải quân tuần tra thì tàu cá VN không hoạt động, còn những vùng tàu cá VN hoạt động thì không có Hải quân VN mà chỉ có Hải quân Tàu.

Thế nhưng các quan chức Chính phủ hứa hẹn rằng ngư dân sẽ được bảo vệ khi ra đánh cá. Nhưng trong thực tế thì không hẳn như thế. Một ngư dân trả lời phỏng vấn nói một cách thật thà: “Bảo vệ gì đâu! ra đó làm sao mà đụng được với Trung Quốc mà bảo vệ? Chỗ đó đâu có ra được chỉ có dân ra chứ bên quân sự đâu có ra được. Khu vực đó thằng Trung Quốc nó quản lí hết làm sao mà ra. Đánh cá thì đánh chui ở Hoàng Sa chớ cảnh sát biển không tới mép nước nữa” (2). Mà không chỉ anh ngư dân nói như thế, một quan chức của lực lượng Cảnh sát biển VN cũng thú nhận rằng “Phải nói thật với nhau là lực lượng ta còn yếu, thứ hai nữa đã yếu rồi nhưng phối hợp với nhau chưa phải là tốt lắm. Mặc dù so với xưa ta đã có nhiều tiến bộ” (2). Thành ra, báo chí phải thốt lên là Cảnh sát biển có mà cũng … như không!

Như vậy thì đã khá rõ: ngoài miệng thì nói Hoàng Sa là của VN nhưng hải quân của VN không có mặt ở đó. Có thể hiểu ngầm rằng VN đã mặc nhiên công nhận Tàu cộng có chủ quyền hoàn toàn ở Hoàng Sa, và một phần nào đó, ở Trường Sa. Tôi nghĩ điều này rất quan trọng trên thực tế, bởi vì Tàu cộng có lí do để nói đó là vùng biển của chúng — một cách hợp pháp. Từ cách hiểu đó, bất cứ ngư thuyền nào của VN hay nước khác vào đánh cá ở Hoàng Sa là bất hợp pháp, và Tàu cộng có quyền bắt bớ, giam cầm, thậm chí tịch thu ngư cụ. Họ chỉ đơn giản viện dẫn rằng đây là vùng biển của họ. Nếu cãi lại, họ sẽ hỏi “vậy chứ hải quân và hải cảnh của anh có mặt ở đây không.”

Sự hợp thức hoá của Tàu cộng còn thâm hiểm hơn nữa. Chúng đặt ra cái gọi là “Thông hành hải”, tức giấy phép cho đánh bắt cá trong vùng biển mà chúng chiếm đóng từ VN. Theo lời kể của ngư dân thì họ phải mua cái “Thông hành hải” mới được đánh bắt ở Hoàng Sa. Mỗi giấy phép như thế lên đến 2000 USD (khoảng 40 triệu đồng) và chỉ có giá trị 1 năm. Không có cách nào khác, ngư dân VN phải mua Thông hành hải của Tàu cộng. Nhưng chính việc mua đó cũng là một chứng từ phía VN chấp nhận rằng Hoàng Sa là của họ và do họ quản lí.

Mới đây, một tin động trời do báo Lao Động phát hiện là các lực lượng tuần tra biển ở Quảng Trị lập hồ sơ khống để “ăn” (3). Nói cách khác, họ không đi tuần tra trên biển nhưng họ báo cáo là có đi để lấy tiền. Số tiền lên đến hàng tỉ đồng. Thật khó tưởng tượng nổi khi một lực lượng có nhiệm vụ bảo vệ ngư dân mà lại tham nhũng. Đúng như một bài bình luận trên Lao Động viết “Mỗi dòng tin ngư dân Việt Nam bị tấn công trên biển, bị tàu Trung Quốc bắt giữ hay đuổi đánh là một nỗi đau xót tận cùng gan ruột. Vậy mà những người có trách nhiệm trực tiếp bảo vệ chủ quyền và bảo vệ ngư dân lại có thể ‘ăn bớt’ chính nhiệm vụ của mình” (4). Sự việc gây bức xúc trong dư luận, đến nỗi một tờ báo khác phải lên tiếng. Báo GDVN, sắp thành một Hoàn cầu thời báo của VN, viết như sau: “Nhưng có lẽ nỗi sợ hãi từ sự vô cảm của một bộ phận cán bộ thực thi nhiệm vụ còn nguy hiểm hơn nhiều so với sự đe dọa của thiên nhiên, tàu lạ uy hiếp. Họ chính là những ‘kẻ’ đã quay lưng bỏ mặc ngư dân ‘sống chết mặc bay’; bỏ mặc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng vì đồng tiền và sự vụ lợi của bản thân“ (5). Đúng quá.

Sự việc còn làm cho công chúng đặt câu hỏi trước phát biểu mới đây của ông Phó Chủ tịch QH, thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn. Khi được hỏi quân đội có tham nhũng không, ông trả lời rất thuyết phục và rất khẳng định rằng “Quân đội có cái gì đâu mà tham nhũng” (5). Nhưng nay thì chúng ta biết rằng câu phát biểu đó không hẳn đúng hoàn toàn. Công bằng mà nói sự tham nhũng của một bộ phận biên phòng như thế chưa đủ để nói rằng quân đội tham nhũng. Nhưng “con sâu làm rầu nồi canh”, chỉ cần một vụ nhỏ bị khui ra cũng đủ để người dân đặt câu hỏi nhức nhối cho cả một hệ thống.

Quay lại câu hỏi nhức nhối “Ai bảo vệ ngư dân”, có lẽ câu trả lời hiện nay là chẳng ai cả. Ở ngư trường truyền thống Hoàng Sa, rõ ràng là chẳng ai bảo vệ ngư dân cả. Không có hải quân, không có biên phòng, và chẳng có hải cảnh. Nhưng khi họ bị nạn và về đến bờ thì chúng ta thấy có khá nhiều người mặc quân phục chỉnh chu, với hai vai đầy sao lấp lánh, họ đến để chụp hình, ghi chép, và … “làm rõ”. Trong điều kiện như thế mà ngư dân Quảng Ngãi và Quảng Nam vẫn bám biển, phải ghi nhận rằng họ mới đích thực là những anh hùng – những anh hùng vô danh.

====

(1) http://www.ijavn.org/2015/05/tau-hai-quan-viet-nam-o-au-khi-ngu-dan.html

(2) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/pres-visit-fishm-04162013064032.html

(3) http://laodong.com.vn/phap-luat/quang-tri-tuan-tra-bien-khong-rut-ruot-nha-nuoc-hang-ti-dong-350067.bld

(4) http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/loi-dung-bao-ve-ngu-dan-de-truc-loi-350889.bld

(5) http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:mwRb2DBM54UJ:giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Bo-mac-ngu-dan-la-vo-trach-nhiem-vo-cam-va-khong-the-tha-thu-post159923.gd+&cd=2&hl=vi&ct=clnk&gl=ph

(6) http://phapluattp.vn/thoi-su/quan-doi-co-tham-nhung-khong-565605.html

https://m.facebook.com/drtuanvnguyen/posts/1466892986957156?__mref=message_bubble

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »