Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 1st, 2015

►Việt Nam chỉ còn chọn một trong hai con đường

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2015

Thiện Tùng

29-06-2015

Để đến nước nầy mà thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói tỉnh bơ: “Càng căng thì phải càng độc lập tự chủ”. “Càng căng thì không bao giờ để bị kéo vào những liên minh với nước nầy để chống lại nước khác”. Một câu nói buông xuôi, xa rời thực tế, chỉ có giá trị an ủi.

Nhìn thực trạng, VN có “độc lập, tự chủ” đâu mà giữ?! Nếu đã độc lập tự chủ sao thời gian qua phải khổ công tính chuyện “thoát Trung”?

Hãy nhìn trên đất liền, biển, đảo Việt Nam, như tầm ăn dâu, Trung Quốc đang gậm nhấm cùng khắp. Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Họ luôn giở giọng kẻ cả, xem Việt Nam như thuộc địa hay chư hầu của họ – thật tủi hổ.

Nếu chỉ nói “không liên minh liên kết với nước nầy để chống nước khác” là sự khờ khiệu, Trung Quốc đang cười hiếp mắt về câu nói nầy. Không thể nói thế, phài nói “Không liên minh với nước nầy để chống nước khác với điều kiện nước khác đừng ỷ mạnh ăn hiếp tôi”. Trung Quốc đang ỷ mạnh ăn hiếp tôi thì tôi không chỉ liên minh với một nước – mà nhiều nước, để tự vệ, chớ chẳng lẽ ở đó chịu chết? phải phản ứng sinh tồn.

Xâm lược mềm trên đất liền !?

Xin lãnh đạo Việt Nam nói chung, thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói riêng, hãy nhìn trong đất liền và biển đảo xem, đất nước Việt Nam có độc lập được với Trung Quốc không, đừng nói để an ủi nữa ?!

Trung Quốc đang gây sự ở Biển Đông, Nga đang gậy sự ở Ukraine, cả hai đang bị thế giới cô lập, buộc họ phải liên minh liên kết với nhau. Cho dầu đó là sự liên minh ma quỷ, nhưng khi ma quỷ liên kết với nhau thì người đời cũng khó yên với chúng.

Ngoài cài cấm người trên đất liền, TQ tuyên bố: trừ hải phận của mỗi quốc gia, phần còn lại của Biển Đông thuộc TQ. Vì muốn đủ mạnh chống Mỹ, Nga mặc nhận với TQ về đường lưỡi bò ấy, ngược lại TQ mặc nhận với Nga về Ukraine. Trung Quốc và Nga chuẩn bị cùng tập trận ở biển Đông để thị uy với các nước Asean có nguồn lợi ở Biển Đông nói chung, với Mỹ nói riêng.

“Đơn thương độc mã” Trung quốc không dám làm liều, chớ có Nga hậu thuẫn thì TQ không còn ngán ai, kể cả Mỹ.

Về phía Mỹ và đồng minh của họ, dầu mạnh tới đâu, Mỹ cũng phải thận trọng hơn khi Nga và Trung Quốc liên kết với nhau. Hơn nữa, Mỹ cũng đã từng nói: họ không can dự vào việc tranh chấp hải đảo của các nước trong khu vực biển Đông mà họ chỉ quyết duy trì đường hàng hải quốc tế ở đây thôi. Vậy thì nếu TQ cưỡng chiếm thêm quần đảo Trường Sa của Việt Nam nữa thì chắc gì Mỹ can thiệp? Việt Nam bao giờ cũng coi TQ là bạn, là đồng chí thì Mỹ can thiệp làm gì cho thêm rắc rối.

Để đến nước nầy, Việt Nam không còn đu dây được nữa, chỉ phải chọn một trong hai phương án:

1/ Tiếp tục chơi thân với Trung quốc để mong họ “thương nhờ ghét chịu”, dầu mất luôn Trường Sa hay cả đất nước VN trở thành thuộc địa của Trung Quốc cũng đành cam phận.

2/ Liên minh hay liên kết với Mỹ và các nước để từng bước “thoát Trung”, ngăn chặn hành vi xâm lược mềm của Trung Quốc – “mềm nắn, rắn buông” là bản chất cố hữu của giới cầm quyền Trung Cộng. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay tương tợ như Việt Nam Cộng hòa trước kia, nếu không khéo về mặt ngoại giao, Việt Nam sẽ là “sân thi đấu” của các cường quốc – chết nữa ?!

Đất nước đang bị Trung Quốc xâm lấn, kinh tế lâm nguy, xã hội bất an…, lãnh đạo chia bè chia cánh tranh giành quyền lực, đang chúi mũi tính chuyện chia ghế ở đại hội 12 .v.v… Thử hỏi còn bất hạnh nào hơn đối với dân tộc Việt Nam ?!

Nguon:     anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4221-viẹt-nam-chi-con-chon-mot-trong-hai-con-duong/#more-148690

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Ông Nguyễn Văn Linh: công trạng với đảng và với dân

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

30-06-2015

Nguyễn Văn Linh

Hôm còn ở Sài Gòn, đi trên đường thỉnh thoảng thấy hình ông Nguyễn Văn Linh (NVL) được treo khá ư trang trọng. Bây giờ mới biết là ngày mai là ngày lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Nói đến tên ông này, rất nhiều người (trong đó có tôi) nghĩ rằng ông là người rất cấp tiến, người chủ xướng phong trào “Đổi mới” cứu Việt Nam khỏi sự suy sụp về kinh tế, người cởi trói văn nghệ, v.v. Nhưng sau này biết thêm chút thì thấy tất cả những hiểu biết đó đều … sai, vì trong thực tế ông là một người rất bảo thủ.

Chẳng cần tìm chứng cứ đâu xa về tính bảo thủ của ông. Ví dụ như hôm nay, có bài “Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” trên Vietnamnet (1), và “người” ở đây chẳng ai khác hơn là ngài NVL! Tôi hết sức ngạc nhiên khi người ta chạy cái tít hết sức bảo thủ như thế trên báo, giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó cũng là một phát biểu của vài người đang lãnh đạo đất nước hiện nay.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết được tính bảo thủ của ông NVL. Theo Hồi kí “Hồi ức và Suy nghĩ” của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ (ông mới qua đời tuần này) thì ngay từ thập niên 1980s khi thế giới XHCN sụp đổ, ông NVL đã triệu tập Bộ Chính trị là nói rằng: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!” (2) Nói là làm. Sau đó, ông sang Tàu kí kết hiệp định Thành Đô mà cho đến nay chẳng ai biết nội dung là gì, chỉ biết ông Trần Quang Cơ nhận định rằng “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải háp Đỏ”. Còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận định rằng “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta” và ông cảnh báo rằng một thời Bắc thuộc thứ IV đã bắt đầu.

Trong cuốn sách “Bên thắng cuộc”, Huy Đức thuật lại rằng năm 1989, khi mà thế giới XHCN đang sụp đổ liên hoàn, thì ông NVL có một chuyến công du sang Đông Đức với mục tiêu chính là cứu vãn chủ nghĩa xã hội. Ông định nhân dịp này triệu tập một hội nghị các đảng cộng sản để cứu phong trào cộng sản quốc tế. Trong buổi họp, ông NVL gọi Gorbachev là “kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Chẳng hiểu sao lời nói đó đến tai Gorbachev, và như là một trả đũa Gorbachev tỏ thái độ khinh miệt NVL ra mặt. Khi NVL xin được tiếp kiến Gorbachev (lúc đó cũng đang có mặt ở Đông Đức) để bàn việc cứu vãn tình thế, Gorbachev cố tình cho NVL “leo cây” vài lần. Nhưng cuối cùng thì Gorbachev cũng ban cho ông Linh một ân huệ: được diện kiến ông ấy. Huy Đức viết về buổi tiếp kiến như sau:

“Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. […]

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: ‘Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh’.”

Đúng là một lời mỉa mai chẳng cần dấu giếm gì cả. Nhưng đọc đoạn Gorbachev đối xử với ông NVL mới thấy chua chát. Trong khi ông NVL nhiệt tình trình bày đại kế hoạch nhằm cứu phong trào cộng sản thì Gorbachev tỏ ra thờ ơ và lãnh đạm, và khinh thị ra mặt. Ý kiến nào của ông NVL cũng được Gorbachev phê là “rất tốt”, mà không buồn tình nói gì thêm. Khi NVL đề nghị Gorbachev đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản quốc tế, thì “Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: ‘Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!’.” Vui nhất là khi ông NVL mời Gorbachev đến thăm Việt Nam, thì “Gorbachev lại kêu lên: ‘Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước’.” Khi ông NVL đề cập xin viện trợ thì “Gorbachev xua tay, không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: ‘Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi’.” Ấy thế mà ngày hôm sau báo Nhân Dân đưa tin “cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Câu chuyện trên cho thấy ông NVL hình như không biết những diễn biến trên thế giới, nên ông vẫn nghĩ rằng có thể cứu vãn chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản. Ông không hề biết kẻ ông phê phán là “cơ hội” lại chính là kiến trúc sư đang giật sập bức tường Bá Linh. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi hội kiến với ông NVL trong nỗ cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn ở Romania.

Trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức qua lời kể của những người trong cuộc mô tả ông NVL có tính hơi nhỏ mọn (3). Ít ai biết rằng ông NVL không ưa ông Võ Văn Kiệt. Khi ông NVL mất chức trong Bộ Chính trị và về sống ở Sài Gòn, ông phàn nàn rằng “Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi.” Đó là một trong những lí do ông Linh không chọn ông Kiệt làm thủ tướng. Ông NVL từng nhận xét ông Kiệt như sau: “Dốt mà không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng” (3). Chẳng những không ưa ông Kiệt, ông NVL còn làm hại đàn em của ông Kiệt, như cụ thể việc ông ra lệnh bắt giam ông Dương Văn Ba (4), một người từng giúp ông Kiệt trong thời chiến và sau này điều hành một công ti khai thác gỗ với Lào.

Báo chí chính thống ngày nay viết rằng ông NVL là người có công Đổi mới. Nhưng hình như ông Trường Chinh (chứ không phải NVL) mới là người đề xướng chủ trương này. Mà thật ra, cũng chẳng có gì hay ho trong việc “Đổi mới” vì đó là điều tất yếu trong bất cứ xã hội nào. Nhưng tôi nghĩ báo chí đánh giá đúng là ông NVL có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng” (5), vì rõ ràng là ông đã thành công duy trì sự lãnh đạo của đảng CS ở VN trong khi các đảng CS khác bên Đông Âu đều tiêu tan. Còn công trạng của ông NVL đối với đất nước và nhân dân — nếu có — thì nên để cho các nhà sử học sau này đánh giá công minh hơn, nhất là đến ngày mà sự kiện “Thành Đô” sẽ được bạch hoá.

____

(1) Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng (VNN).

(2) Hậu họa “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh (viet-studies).

(3) Bên Thắng Cuộc – Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt (vinadia).

(4) Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ (viet-studies).

(5) Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam (VOA).

Nguon: 

GS Nguyễn Văn Tuấn

anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4225-ong-nguyen-van-linh-cong-trang-voi-dang-va-voi-dan/#more-148702 

——–

Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam

VOA

Trần Phan

28-06-2015


Bài viết này nhằm thảo luận về “đóng góp to lớn của ông Nguyễn Văn Linh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đất nước và của miền Nam”, không đề cập tới sự đóng góp của ông Linh đối với đảng của ông. Bài viết xin nói về 1) giai đoạn kháng chiến cứu nước thời kì 1954-1975 (chống Mỹ) và 2) giai đoạn xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 tới khi ông Linh mất.     
Ngày 22/6/2015, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh ông Nguyễn Văn Linh, cố tổng bí thư đảng CSVN, tại Tp HCM, thành ủy đảng CSVN, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam Tp HCM tổ chức cuộc hội thảo có tên là “Đồng Chí Nguyễn Văn Linh với Cách Mang Miền Nam, với Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Tp HCM” nhằm “khẳng định và tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, của dân tộc, đất nước và của miền Nam”. Nhiều tham luận tại hội thảo có cùng nhận định: cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với thời kì đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến cứu nước và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1).

Phần 1: Giai Đoạn Kháng Chiến Cứu Nước (chống Mỹ) thời kì 1954-1975

Quả thật, ông Linh có vai trò rất lớn trong cuộc cuộc “kháng chiến Chống Mỹ Cứu Nước”, cuộc chiến thường được các nhà quan sát chính trị nước ngoài gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Ông là một trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất tại miền Nam thời gian đó.

Cuộc kháng chiến đã đi tới thắng lợi hoàn toàn: đánh bại chế độ Miền Nam ngày 30-4-1975, thống nhất toàn bộ đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ đó.

Để xem các đóng góp của ông cho Miền Nam, cho Dân tộc lớn như thế nào, ta cần nhìn mục tiêu của cuộc chiến.

Nếu mục tiêu là Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và chế độ Miền Nam thua trận, thì quả thật ông Linh đã lập công rất lớn và rất đẹp cho Miền Nam, cho Dân tộc.

Nếu mục tiêu là dân chúng Miền Nam ấm no và hạnh phúc, đất nước Việt Nam phát triển thì chúng ta đánh giá kết quả việc làm của ông như thế nào?

Hai mươi năm nội chiến từng ngày, nhiều tác giả, nhiều tài liệu đã nêu lên các con số kinh hoàng về người chết, về làng mạc, thành phố bị tàn phá, người viết không lặp lại đây. Chỉ biết bom đạn ngày đêm tàn phá khắp Miền Nam suốt 20 năm dài, người Việt giết người Việt với “lòng hận thù ngất trời”, rất rất nhiều gia đình có người thân ở hai bên nổ súng vào nhau. Cuộc thảm sát Huế – Mậu Thân mà tới bây giờ chính quyền còn giấu giếm cho thấy mức độ vô nhân đạo kinh hoàng của người giết người, người có súng giết người tay không, anh em, bằng hữu, xóm giềng giết nhau. Tại Huế, các chiến binh của ông Linh đã giết khoảng năm ngàn người tay không, nghe mà tưởng chuyện của thời quân Mông Cổ chiếm thành của một dân tộc khác tám thế kỉ trước! Đạo lí nào, truyền thống nào của dân tộc cho phép con dân nước Việt làm như thế? Các chính ủy của ông Linh đã tuyên truyền thế nào mà người Việt có thể căm thù người Việt tới vậy?        

Trước khi cuộc chiến mà ông Linh góp phần quan trọng lãnh đạo bùng lên, Miền Nam đang giàu có, dân chúng đang sống thanh bình no ấm. Năm 1960, GDP/người của Miền Nam tự do là 223 USD, cao gấp 3 lần con số 74 USD của Miền Bắc cộng sản.

Lúc ấy chiến tranh vừa chấm dứt vài năm, hai miền Nam Bắc vừa khắc phục hậu quả chiến tranh và bắt tay tạo dựng cuộc sống thanh bình. Thay vì dốc sức xây dựng Miền Bắc cho đời sống dân chúng khá lên, ông Linh và các đồng chí ông lại đưa cán binh Cộng sản từ Miền Bắc nghèo kém vào đánh phá Miền Nam sung túc. Hậu quả của cuộc chiến đó là kinh tế Miền Nam ngày càng tuột dốc nhanh. Miền Nam càng tuột dốc, càng tan nát, ông và các đồng chí càng phấn khởi, vui mừng. Càng gia tăng đánh phá, đào mô, phá cầu, giựt mìn, pháo kích, ám sát…

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí ông có yêu thương dân chúng Miền Nam không? Có yêu thương dân chúng Miền Bắc không? Có tấm lòng ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển Dân tộc không? Nếu nói rằng có, ắt chúng ta cũng nên làm một cuộc thăm dò xem dân chúng Miền Nam có thích được yêu thương như vậy không.

Cuộc chiến tàn khốc mà ông lãnh đạo giương cao ngọn cờ “Chống Mỹ Cứu Nước”, bởi vì “Mỹ là giặc cướp nước”. Bây giờ, ai cũng thấy Mỹ không cướp nước Việt Nam. Nếu ông và các đồng chí không đánh Miền Nam từ cuối những năm 1950, Mỹ đã không đổ quân vào Việt Nam năm 1965. Ông Linh lo sợ Mỹ khai thác tài nguyên của Miền Nam, bóc lột dân chúng? Không biết ông có cặp mắt nhìn gần quá không, nhưng thời đại đã khác xa rồi. Mỹ là nước giàu mạnh nhất thế giới, tổ chức xã hội hữu hiệu nhất thế giới, là nước dẫn đầu Thế giới Tự do. Quyền lợi của Mỹ nằm ở chỗ bảo vệ Thế giới Tự do chống lại làn sóng đỏ Cộng sản. Để yên cho Miền Nam thanh bình xây dựng kinh tế và làm đồng minh của Mỹ có lợi biết bao: kinh nghiệm xây dựng xã hội Tự do Dân chủ, thiết lập các giá trị sống tiến bộ, hệ thống luật pháp, trình độ quản lý, đầu tư, khoa học, công nghệ… bao nhiêu là tri thức trao đổi và chuyển giao cho Miền Nam. Thời đại đó, kích thước và tính chất dân số đó, tài nguyên đó… bao nhiên là điều kiện cho Miền Nam phát triển, đến nỗi ông Lý Quang Diệu bên Singapore phải thèm thuồng, mơ ước!

Miền Nam phát triển mạnh cũng có nghĩa là tổ quốc Việt Nam của dân tộc Việt Nam mạnh. Năm 1960, xã hội Miền Nam văn minh, chất lượng cuộc sống dân Miền Nam tươi đẹp và đầy triển vọng. Tốt đẹp hơn Miền Bắc, và tốt đẹp hơn Trung Công rất nhiều. Thay vì gìn giữ hòa bình cho dân tộc, tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hai miền để Nam và Bắc Việt Nam cùng giàu mạnh, thì chiến binh Miền Bắc mang vũ khí Trung Cộng trùng trùng lớp lớp tiến công Miền Nam gây thảm cảnh nồi da xáo thịt, đất nước tan tành!     

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí của ông có nhìn được cục diện chính trị, khuynh hướng phát triển của thế giới không? Có thấy được dã tâm Trung Cộng thúc đẩy hai Miền Việt Nam chém giết nhau để tự hao mòn nguyên khí không?

Cần biết rằng lúc đó Việt Nam đã có những nhà trí thức, nhà hoạt động chính trị nhìn sự việc rõ như ban ngày, đã phân tích và đưa ra các tiên đoán tình hình thế giới và quan hệ Trung Quốc-Việt Nam mà ba mươi năm sau thực tế cho thấy rất chính xác. Ông Ngô Đình Nhu, trong tác phẩm Chính Đề Việt Nam, từ năm 1960 đã nói: Nếu các nhà lãnh đạo Miền Bắc không thoát khỏi chủ nghĩa Cộng Sản thì: a) sự phát triển của dân tộc sẽ bế tắc, và b) mở cửa đưa các thế hệ sau này vào vòng lệ thuộc rồi bị xâm chiếm bởi Trung Cộng.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Ông Linh và các đồng chí ông có đủ tầm nhìn của một “nhà lãnh đạo tài năng, một tư duy sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam”, như ông Lê Thanh Hải ca tụng (2), để thấu hiểu các lời tiên đoán chính trị rất đúng đắn của ông Nhu không? Và nếu ông Linh có tầm nhìn đó, thì ông có mục tiêu gì khi lãnh đạo cuộc chiến “Chống Mỹ Cứu Nước” tàn phá Miền Nam? Mục tiêu đó có đồng hành với mục tiêu phát triển đất nước lâu dài không?

Phần 2: Giai Đoạn Xây Dựng, Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Từ Sau Năm 1975

Sau khi Việt Nam được thống nhất bằng bạo lực và đặt dưới quyền toàn trị của đảng CSVN, toàn bộ đất nước suy sụp nhanh chóng.

Sự suy sụp bắt đầu từ việc chính quyền thắng trận, bằng các thủ đoạn mang tính lừa gạt, lùa viên chức chính quyền và quân đội chế độ Miền Nam vào các trại cải tạo, thực chất là các nhà tù, giam cầm và đày ải họ suốt những năm dài sau đó. Trong khi đó, bên ngoài trại cải tạo, dân chúng bị tước đoạt tài sản qua các chiến dịch đánh Tư sản mại bản, cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ…      

Những chứng nhân thời cuộc những năm 1975-1985 còn nhớ cảnh tượng kinh hoàng của một xã hội từ Tự do và Công bằng trở thành Toàn trị và Phân biệt đối xử, từ có cơm ăn áo mặc trở thành ăn độn, rách rưới, từ nề nếp và đạo đức trở thành xô bồ với mọi giá trị đảo lộn… chỉ trong vòng vài năm!

Khi xã hội suy thoái cùng cực, tên tuổi ông Linh được gắn với bút danh NVL kí dưới các bài báo “Những Việc Cần Làm Ngay” nêu lên những sự kiện trong xã hội và yêu cầu sửa đổi.

Thực ra các bài báo ngắn với bút danh NVL đó chỉ để giải quyết một vài cách làm quá tệ hại của đảng CSVN đang cầm quyền. Những việc nêu lên nhỏ quá so với tầm của một nhà lãnh đạo cỡ ông. Các bức xúc mà chúng đề cập chỉ như những chiếc lá nhỏ ngoài đầu cành con, không hề động tới các nhánh bên trong, tới thân cây hay gốc cây.

Việc tham gia giải quyết thiếu lương thực… cho thành phố cũng vậy. Nó chỉ giúp cho lòng dân tạm dịu cơn bất bình và đảng của ông kéo dài thời gian thống trị trên đất nước bị kìm hãm mà giàu tiềm năng này.

Buổi đầu, ông được mọi người nhìn như một nhà đổi mới. Nhưng khi các vấn đề xã hội và đất nước bắt đầu cần các thay đổi căn bản hơn một chút thì ông dần dần bộc lộ là một người bảo thủ, rất bảo thủ. Bảo thủ với ý nghĩa ông là một nhà lãnh đạo “luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng”, luôn kiên định lập trường “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (3).

Trước hết ông chống lại tất cả các chính sách cởi mở hơn, nới rộng hơn quyền tự do cho dân chúng. Ông chống lại Tự do báo chí và quyền ra báo tư nhân.

Ông chống lại các khuynh hướng đổi mới tư tưởng trong nội bộ đảng của ông. Ông chống tất cả những yêu cầu mang lại Tự do hơn cho dân chúng, chống tất cả những yêu cầu giảm tính toàn trị trong sự thống trị của đảng ông trên đất nước này. Ông là nhân vật quan trọng tham gia hạ bệ ông Trần Xuân Bách, người đồng chí trong Bộ Chính trị có tư tưởng hướng về đa nguyên.

Bởi vì ông biết chắc chắn rằng, khi người dân có quyền tự do hơn, có kiến thức hơn về cách tổ chức xã hội, về quyền con người của đa số các quốc gia trên thế giới, thì cái mặt nạ “của dân, do dân và vì dân” của chính quyền do đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt hoàn toàn bị lột ra trước công chúng. Những điều gian trá đảng ông đã làm trong quá khứ sẽ bị phơi bày. Điều này được một hậu duệ của ông tuyên bố thật thà: “Bỏ điều 4 Hiến pháp nghĩa là chúng ta tự sát”. Do đó, ông rất kiên định trong việc tăng cường tính lãnh đạo của đảng, đồng nghĩa với việc không cho dân chúng hưởng bất cứ một quyền tự do căn bản nào. Quả thực, ông rất kiên định với mục tiêu không gì lay chuyển được cho “đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi lãnh đạo nước Việt Nam” như ông đã từng tuyên bố.         

Khi hệ thống Cộng sản thế giới rung rinh và sắp sụp đổ cuối thập niên 1980, ông Linh càng thể hiện là người mong muốn cứu vãn hệ thống ấy trên thế giới. Những vận động cuống cuồng và nháo nhào của ông trong thế cờ tàn của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở mức độ toàn cầu cho thấy tầm vóc tri thức, tư tưởng thảm hại của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đau đớn thay cho Việt Nam, vào thời điểm rất quan trọng của lịch sử thì lại có một người lãnh đạo thiếu kiến thức như thế! Vậy là, trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô, những nước Cộng sản hùng hậu và tiêu biểu nhất thế giới, quyết định từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản để mà tổ chức xã hội theo mô hình Tự do Dân chủ, Tam quyền phân lập và từ đó đưa đất nước họ ngày càng ổn định và giàu mạnh, ấm no hơn, thì Việt Nam, sẵn lợi thế có một Miền Nam nhiều kinh nghiệm của thế giới Tự do, lại bị đẩy sâu hơn vào thể chế toàn trị Cộng sản. Trong việc này, ông Nguyễn Văn Linh có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng”. Nhưng với Nhân dân, với Miền Nam thì ông Linh đã mang lại những tác hại to lớn lâu dài cho tương lai dân tộc.

Bởi vì, để giữ thể chế toàn trị Cộng sản lỗi thời trên tổ quốc Việt Nam, ông đã cùng với dàn lãnh đạo cao nhất nước sang Thành Đô phủ phục trước đảng Cộng sản và chính quyền Trung Quốc. Tác hại của Hội nghị Thành Đô đó khủng khiếp tới mức ông Nguyễn Cơ Thạch, một đồng chí trong Bộ Chính trị của ông phải thốt lên: “Một thời kì Bắc Thuộc mới đã bắt đầu!”

Trước Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc đã tiến đánh Việt Nam. Cuộc chiến biên giới giết chết mười vạn quân dân Việt Nam, san bằng các thành phố họ đi qua. Sau đó là cuộc chiến ngoài biển giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, chiếm của Việt Nam một số đảo mà hiện nay là căn cứ quan trọng để Trung Quốc uy hiếp toàn bộ lãnh thổ nước ta. Dư âm các cuộc chiến còn vang vọng, máu của dân ta còn nhỏ tươi dòng, lòng dân ta còn căm phẫn, chỉ vì ích kỉ bảo vệ đảng Cộng sản lỗi thời của riêng mình, ông Linh nỡ tròng cái ách nô thuộc của Trung Hoa lên đầu dân tộc!

Trước Hội nghị Thành Đô, dù tiến đánh Việt Nam, Trung Hoa chỉ là người hàng xóm hung hăng ngoài cửa. Sau Hội nghị Thành Đô, họ là thầy, là cha chú của Việt Nam. Nhìn họ cười ngạo nghễ trước giới cầm quyền Việt Nam khúm núm, nhìn họ hung hăng lấn chiếm và chính quyền Việt Nam hèn yếu cúi đầu, nhìn họ ra lịnh và chính quyền Việt nam vâng lời đàn áp dân chúng… lòng người Việt Nam nào không đau? Họ đã bước vào bên trong Việt Nam qua các vùng lãnh thổ Tây Nguyên, các tỉnh địa đầu biên giới, các vùng đất hiểm yếu của Việt Nam. Người dân tin rằng họ đã nằm trong giới cầm quyền cao cấp của đất nước…

Các tham luận cùng nhận định cho rằng ông Linh đã cống hiến, đóng góp to lớn vào sự nghiệp “xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Tôi không hoài nghi và cũng không thảo luận nhận định này.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Trong khi “xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ông Linh có làm hại cho việc xây dựng và bảo vệ “tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta” không?

“Tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta”, ý của người viết muốn nói tổ quốc Việt Nam từ thủa bình minh của những bộ tộc Việt trên châu thổ sông Hồng, qua hai ngàn năm lớn lên, tiếp theo một ngàn năm Bắc thuộc, rồi giành lại độc lập tới giờ hơn một ngàn năm nữa. Tổ quốc đó, được bảo vệ và phát triển qua bao đời, từ xa xưa tới nay, thành một dãy đất hình chữ S kéo dài từ ải Nam Quang tới mũi Cà Mau, ngoài khơi có các đảo Cát Bà, Cái Bàn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… Trên dải đất đó, dân tộc Việt Nam thấm nhuần truyền thống lòng hiếu thảo, tình đồng bào, tình làng nghĩa xóm và tinh thần chống ngoại xâm, cái họa ngoại xâm thường trực đến từ láng giềng phương Bắc. Hai chữ Tổ quốc đó, vài dòng không diễn hết ý, mà ngàn trang cũng không đủ, chỉ biết đối với những người Việt nặng lòng với đất nước tổ tiên thì tâm tình Tổ quốc luôn rào rạt trong từng mạch máu, và réo sôi khi vận nước nguy nan.

_____

Tài liệu tham khảo:

1) HỒNG HIỆP. Bài Học Về Tư Duy Đổi Mới Và Gắn Bó Với Dân. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 2.

2), 3) LÊ THANH HẢI. Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Nhà lãnh đạo tài năng, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 3.

———

Ông Trần Quang Cơ qua đời

BBC

28-06-2015

 Ông Trần Quang Cơ trong một cuộc tiếp xúc với chuyên gia Liên Xô (ảnh của báo Quân đội Nhân dân)

Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.

Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7.

Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.

Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986.

Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia.

Ông cũng tham gia tiến trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

‘Hồi ức và Suy nghĩ’

Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ‘ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

“Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

“Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

“Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, theo Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường.

Ông Trường nói với BBC: “Cuốn hồi ký thể hiện tính khách quan, không phải là chống Tàu, mà là ‘thân Việt’”.

“Chính vì vậy mà nhân dân biết đến ông và tôn trọng ông.”

____

Mời xem lại hồi ký Trần Quang Cơ: Hồi ức và Suy nghĩ (Ba Sàm).

Nguon:  anhbasam.wordpress.com/2015/06/28/4210-ong-tran-quang-co-qua-doi/#more-148654

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »