Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Sáu 2015
    C H B T N S B
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    282930  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Sáu, 2015

►Bùi Tín – Bàn về hai chữ: Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế !”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài ) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người – gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS , về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp …, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng :” Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công ! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng ” kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật. Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm:”Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm. Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”. Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư! Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi :” Chú văn hay chữ tốt nhỉ !” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền. Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Thế lưỡng nan của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Lê Diễn Đức

Tàu nạo vét của Trung Quốc đang xây dựng một hòn đảo ở vùng biển xung quanh Đá Vành Khăn ở Quần đảo Trường Sa – Ảnh: US Navy

Tiếp theo sự kiện giàn khoan HD 981 năm 2014 được lắp đặt trong khu vực chủ quyền của Việt Nam, từ một năm qua, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các đảo trên các bãi đá tại Biển Đông và bồi đắp trái phép hơn 800 héc ta. Trong tháng 4, quân đội Trung Quốc đã hoàn tất một đường băng có thể tiếp nhận máy bay quân sự.

Âm mưu thôn tính Biển Đông của Trung Quốc đã có từ rất lâu với thuyết đường lưỡi bò 9 đoạn bao gồm 80% lãnh hải Biển Đông, xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa năm 1998.

Giấc mộng làm bá chủ, kiểm soát lưu thông hàng hải của Trong Quốc đang là thực tế hiển nhiên và nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không giấu giếm tham vọng của mình, tất nhiên, dưới một cái cớ khác là “dựa trên bằng chứng lịch sử”.

Sách trắng về Đường lối Quân sự Trung Quốc do Bộ Quốc Phòng Trung Quốc ban hành ngày 26 tháng 5, cho thấy những lợi ích của Trung Quốc gắn liền với sự bành trướng ảnh hưởng lên toàn cầu, lôi kéo Đài Loan, mở rộng sự kiểm soát quân sự đối với hai vùng biển là Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Tại cuộc Đối thoại Shangri-La mới đây, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã kêu gọi Trung Quốc chấm dứt hoạt động cải tạo các hòn đảo, bãi đá trên Biển Đông cũng như hành động vi phạm “các chuẩn mực và luật pháp quốc tế vốn đang làm tổn hại tới cấu trúc an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương, và những đồng thuận trong khu vực về sử dụng biện pháp ngoại giao, phản đối sự ép buộc”.

Trước phát biểu của ông Ashton Carter, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã tuyên bố rằng, “hoạt động xây dựng trên Biển Đông của Trung Quốc nằm trong quyền chủ quyền của Trung Quốc và các hoạt động này là hợp pháp, hợp lý và phù hợp”.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, thậm chí còn tuyên bố, bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ hòng ngăn cản Trung Quốc xây dựng trên khu vực Biển Đông thì kết cục không thể tránh khỏi sẽ là chiến tranh.

“Nếu mục tiêu cuối cùng của Mỹ đó là Trung Quốc phải ngừng các hoạt động của mình, thì chiến tranh Mỹ – Trung trên Biển Đông là không thể tránh khỏi”. “Cường độ của cuộc xung đột sẽ lớn hơn nhiều những gì người ta thường nghĩ tới về một vụ va chạm”, tờ báo viết.

Rõ ràng, trên mặt trận ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đang thực hiện những cuộc đấu khẩu, thách thức nhau và đồng thời cũng tiến hành một số động tác diễu võ giương oai như việc Trung Quốc mang vũ khí tới các đảo đang xây dựng, đuổi máy bay do thám của Mỹ trong khu vực 12 hải lý, hay Mỹ sẵn sàng điều động máy bay, chiến hạm tới Biển Đông.

Về thực chất, tôi cho rằng, khó có khả năng đụng độ quân sự trên Biển Đông giữa Mỹ và Trung Quốc, ít nhất trong nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama.

Mỹ là một cường quốc kinh tế và quân sự, đồng thời công nghệ quốc phòng vẫn vượt trội so với Trung Quốc, nhưng Mỹ sẽ không mở một cuộc chiến tranh chống lại Trung Quốc vào thời điểm hiện nay, với cái giá phải trả sẽ quá đắt. Thứ nhất, tiềm lực quân sự của Trung Quốc có khả năng đối đầu và gây thiệt hại. Thứ nhì, các lợi ích kinh tế đang ràng buộc hai quốc gia này quá lớn để có thể dẫn đến sụp đổ và gây ảnh hưởng tiêu cực lên toàn thế giới.

Mặt khác nếu Trung Quốc khai hoả mở chiến tranh với Mỹ thì sẽ là một hành động tự sát. Tất cả mọi phương tiện, kể cả 250 dầu đạn hạt nhân của Trung Quốc, chưa phải là đối thủ của Mỹ. Kinh tế của Trung Quốc sẽ suy sụp nếu chiến tranh Trung-Mỹ xảy ra và sự nổi loạn của xã hội Trung Quốc là khó tránh khỏi.

Cho nên cả hai bên sẽ cùng thách đố nhau nhưng việc anh anh cứ làm, việc tôi tôi cứ làm, dù cường độ có thể gia giảm tuỳ mức độ căng thẳng của tình hình.

Mỹ lên tiếng và có hành động đe doạ là cốt kìm hãm sự tiếp tục của Trung Quốc trong vấn đề xây dựng đảo để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, gây nguy hại cho tự do hàng hải trong một vùng chiếm tới 40% vận chuyển thương mại thế giới từ trước đến nay. Thế nhưng Bắc Kinh sẽ không từ bỏ mưu đồ của mình và đang đặt Mỹ vào thế lưỡng nan.

Theo Richard Fisher, thành viên cấp cao của Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Quốc tế, Mỹ còn rất ít thời gian để đối phó. Ông nói rằng, Mỹ chỉ có một khung thời gian ngắn để hành động.

“Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục phớt lờ chúng ta, tiếp tục xây dựng nhiều căn cứ hơn, và tiếp tục kiểm soát khu vực này khi họ có điều kiện để làm điều đó”, Fisher nhận định.

Mặc dù ông Fisher cho rằng “đây là chuỗi sự kiện phải ngăn chặn ngay lập tức”, nhưng Mỹ sẽ chẳng làm gì khác ngoài việc duy trì sự hiện diện và các hành động mang tính răn đe, sẽ tiếp tục tuần tra Biển Đông, từ trên không phận cũng như vùng biển chung quanh các khu vực quần đảo Trường Sa và hợp tác quân sự mạnh mẽ hơn với các đồng minh Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Indonesia…

Lời phát biểu ngày 01 tháng 06/2015 tại Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Obama trong lúc tiếp kiến những nhà lãnh đạo trẻ vùng Đông Nam Á, khá mềm mỏng trước những sự kiện được cho là nóng bỏng.

Barack Obama nói hoà bình và ổn định, trong đó có tự do hàng hải ở Biển Đông, đã giúp cho khu vực này được thịnh vượng trong mấy mươi năm qua. Ông cũng cảnh cảnh báo sự thịnh vượng của vùng Đông Nam Á có thể gặp rủi ro vì các nước trong khu vực thực hiện những hoạt động lấp biển để lấy đất và tìm cách khẳng định chủ quyền đối với những khu vực ở Biển Đông có tranh chấp.

“Và, sự thật là, Trung Quốc sẽ thành công. Họ lớn, họ mạnh. Dân họ có tài và họ làm việc chăm chỉ, và có thể một số yêu sách của họ là chính đáng. Nhưng, họ không nên tìm cách xác lập điều đó bằng cách hiếp đáp, xua đuổi người khác. Nếu quả thật là những yêu sách của họ là chính đáng, các nước sẽ công nhận” – Barack Obama nói.

Bài viết “China’s Island Building Poses Dilemma for U.S.” trên tờ Wall Street Journal ngày 31 tháng 5 đề cập tới mâu thuẫn nội bộ trong Chính phủ Obama, có nhiều ý kiến trái ngược về cách đối phó với Trung Quốc. Có phe cho rằng Mỹ phải cương quyết cứng rắn với Trung Quốc, nhưng cũng có phe ngả theo ý không nên quá cứng rắn mà nên chia vùng ảnh hưởng với Trung Quốc!

Việt Nam nằm trong áp lực của cả hai phía về tranh chấp Biển Đông. Về quân sự, Việt Nam chưa đủ tiềm lực và cũng không muốn đối đầu với Trung Quốc trên biển, về kinh tế hoàn toàn lệ thuộc và gắn bó lợi ích. Cho nên Hà Nội chỉ khoa trương trên mặt trận ngoại giao, phản đối mồm về hành động của Trung Quốc và ra vẻ ủng hộ lập trường các nước khác liên quan đến vấn đề an ninh Biển Đông. Hà Nội thật sự bất lực trước sự chiếm đóng thực tế và vĩnh viễn Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc.

Hà Nội, bám lấy Trung Quốc để duy trì hệ thống chính trị và lợi ích, nhưng trong tư thế làm điếm mà lại không muốn bị hiếp đáp quá nên phải đu dây với Mỹ mà thôi.

Những ai cho rằng nếu chiến tranh Trung-Mỹ, vấn nạn độc tài cộng sản sẽ được giải quyết, là ngộ nhận. Trong lịch sử không đặt ra chữ “nếu”.

© Lê Diễn Đức – RFA

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

 

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam, sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là « tư tưởng Marx-Lê nin » và « tư tưởng Hồ Chí Minh » mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị « không có lịch sử ».

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10 năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc. Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử « Le communiste vietnamien (1919-1991) » của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

I. Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư:

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho « Nước Việt Nam của Bảo Đại » và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức « không chính thức ». Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi (Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nuớc CHND Trung Hoa) tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951). Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta « về phần mình, đánh giá Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt ». Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ « cố vấn tinh thần và ý thức hệ », đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội « khuynh tả cực đoan », vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho « tòa án giai cấp ».

(Trích từ cuốn « Le communiste vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

II. Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

Thư thứ nhất
Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với đồng chí.

Tôi gửi tới đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2. Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài ngườ trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn.

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không 37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2. Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communiste vietnamien (1919-1991) , Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

III. Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là « chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ », ở Pháp, kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù chế độ cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn Le communiste vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Thảm sát Thiên An Môn, 1989

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Ngọn Hải Đăng

Dù sự kiện thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn được cả thế giới biết đến, nhưng suốt 26 năm qua Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vẫn luôn phủ nhận cuộc đàn áp này.v26 năm trước vào ngày 4/6/1989, hàng ngàn sinh viên đã bị giết chết một cách man rợ tại quảng trường Thiên An Môn bởi quân đội của ĐCSTQ bằng súng và bánh xe tăng …

Bối cảnh

Năm 1989, kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, người dân đói khổ trong khi tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ các quan chức ĐCS Trung Quốc. ĐCSTQ vẫn luôn đánh bóng mình với ngôn từ “Đảng là quang vinh vĩ đại”, là “không bao giờ sai” và dập tắt tất cả các tiếng nói hay nguyện vọng của giới trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Điều này gây ra nhiều bất bình trong dân chúng.

Do đó vào tháng 4/1989, khi cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang qua đời, người dân Trung Quốc xuống đường dự lễ tang và thương tiếc cho một người luôn có xu hướng cải cách, đồng thời cũng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và độc đoán không dân chủ của chính quyền.

Diễn biến cuộc biểu tình

Cuộc biểu tình kéo dài khiến Bắc Kinh lúng túng, nhiều đảng viên cấp cao lại tỏ vẻ ủng hộ, thậm chí yểm trợ cho người dân biểu tình.

Lễ tang Hồ Diệu Bang đã biến thành cuộc biểu tình phản đối tham nhũng, yêu cầu dân chủ. Ảnh: GEO Epoche

Sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã thành lập “Liên hiệp Sinh viên Thống nhất”, với 7 lãnh đạo trẻ tuổi, trong đó có Vương Đan là một sinh viên khoa Sử 20 tuổi.

Vương Đan đang nêu lên nguyện vọng của sinh viên. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 22/4/1989, ngày diễn ra tang lễ của ông Hồ Diệu Bang. Khi bình minh chưa ló dạng, hơn 80.000 sinh viên của 20 trường đại học diễu hành tiến đến quảng trường Thiên An Môn.

Trong khi chỉ vì muốn đề xuất chính kiến của mình mà sinh viên bị tờ “Nhân dân Nhật báo” quy kết cho là các phần tử “bạo loạn”, “phản động” và “làm chính trị”. Sinh viên bỗng chốc trở thành tội phạm của quốc gia, thành những phần tử đối nghịch với Đảng.

Ngày 27/4/1989, đoàn người biểu tình kéo nhau đi khắp thành phố Bắc Kinh, giương cao những tấm biểu ngữ và hô vang “tự do dân chủ muôn năm.” Hàng trăm ngàn người đứng ngoài cũng cổ vũ và hô to theo đoàn người biểu tình, trong đó có nhiều người còn cẩn thận nhắc nhở cảnh sát đừng đánh sinh viên.

Sau cuộc diễu hành, họ tụ tập về quảng trường Thiên An Môn, lúc này con số đã lên đến 150.000 người.

Ngủ qua đêm tại Thiên An Môn, biểu tình kéo dài khiến lãnh đạo sinh viên gặp khó khăn trong việc cung cấp thức ăn nước uống, và điều kiện sinh hoạt. Ảnh: GEO Epoche

Nội bộ ĐCSTQ chia làm 2 phe rõ rệt, một phe theo Tổng Bí thư Triệu Tử Dương muốn thương lượng với sinh viên, và một phe theo Thủ tướng Lý Bằng muốn dập tắt cuộc biểu tình nhưng chưa tìm được biện pháp mạnh nào.

Ngày 4/5/1989 là ngày kỷ niệm phong trào ngũ tứ (biểu tình phản đối việc giao tỉnh Sơn Đông cho Nhật Bản), có đến nửa triệu người tập trung ở quảng trường Thiên An Môn tưởng niệm cuộc biểu tình này.

Ngày 17/5/1989, một triệu người đổ về Thiên An Môn bằng các phương tiện khác nhau, bao gồm sinh viên, công nhân, trí thức, nhân viên nhà nước, nhà báo của tờ “Nhân dân Nhật báo”, đài truyền hình nhà nước và cả những cảnh sát trẻ tuổi … Họ giơ cao biểu ngữ “Đặng, anh già rồi” hay ”Giá cả tăng, lương teo lại.”

Trong khi ông Triệu Tử Dương hoàn toàn không có ý định đàn áp sinh viên thì các vị lãnh đạo lão thành lại muốn tiến hành đàn áp. Ông Đặng Tiểu Bình nói “Chúng ta sẽ giết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”. Ý tưởng của ông Đặng Tiểu Bình phù hợp với mục đích căn bản của ĐCSTQ là nắm quyền cai trị độc tài, vì vậy nó đã được ĐCSTQ chấp thuận.

Ông Triệu Tử Dương muốn đàm phán với sinh viên và không đồng ý tiến hành đàn áp. Điều này không phù hợp với mục đích của Đảng. Do đó, ông bị cách chức, cách ly và bị giam lỏng tại gia cho đến ngày qua đời.

Biểu tình khắp Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche

Diễn biến cuộc thảm sát

Ngày 20/5/1989, Thủ tướng Lý Bằng huy động 22 sư đoàn với xe tăng và đại bác, tổng cộng 180.000 quân tiến vào thủ đô.

Các sinh viên trong doanh trại chỉ huy cuộc biểu tình tuyệt thực phân phát một tờ truyền đơn mà trong đó họ yêu cầu “chống lại cuộc tiến quân của quân đội”. Hơn 270 chiếc xe buýt được đẩy ra ngã tư và xì hơi lốp để làm chướng ngại vật.

Để chặn quân đội lại, tài xế xe buýt để xe của họ nằm ngang qua trên các đại lộ của Bắc Kinh và xì lốp xe. Ảnh: GEO Epoche

Đến lúc này vẫn còn 500 ngàn người tại quang trường Thiên An Môn, sinh viên vẫn đang kiểm soát quảng trường này.

Ngày 29/5/1989, cuộc biểu tình kéo dài làm nhiều sinh viên kiệt sức, không khí cuộc biểu tình đã giảm hẳn xuống. Nhiều sinh viên tin rằng mình đã chuyển tải được thông điệp đến các lãnh đạo Đảng và người dân toàn xã hội rồi.

Trong lúc tinh thần của sinh viên đang chùng xuống, thì lúc 22 giờ 30, sinh viên của Học viện Nghệ thuật Trung ương đẩy “Nữ thần tự do” ra Thiên An Môn. Đây là một bức tượng cao 10m bằng thạch cao được tạc theo bức tượng Nữ thần Tự do ở New York. Bức tượng được khai mạc vào sáng hôm sau và được đặt bên cạnh đài kỷ niệm của những người anh hùng. Điều này khiến cho tinh thần sinh viên phấn chấn hơn lên.

Thiên An Môn ngày 30 tháng 5 sinh viên đưa tượng nữ thần tự do cao 10m. Đối với nhiều người hiện giờ đã kiệt sức thì đấy là một biểu tượng mới của hy vọng – thế nhưng đối với giới lãnh đạo nhà nước thì đấy là một sự khiêu khích ngay giữa Bắc Kinh. Ảnh: GEO Epoche.

Ngày 2/6/1989, ông Đặng Tiểu Bình nói, “Tôi đề nghị để cho quân đội khẩn cấp thực hiện kế hoạch giải tỏa quảng trường vào tối nay và kết thúc trong vòng hai ngày.”

0 giờ ngày 3/6/1989, quân đội đang đóng ở ngoại ô được lệnh tiến vào thành phố. Những người lính này được thông báo rằng Bắc Kinh có một cuộc bạo động, nhiều người lính đã bị bắt cóc và giết chết. Quảng trường Thiên An Môn hiện đang bị chiếm giữ bởi những kẻ bạo loạn phản cách mạng và cần phải bị tiêu diệt.

Sau này những người lính mới hiểu rằng đấy chỉ là thông tin bịa đặt, nhiều người vì điều này mà cho đến ngày nay vẫn còn bị dằn vặt trong nước mắt.

Nhiệm vụ kiểm soát Thiên An Môn được giao cho sư đoàn 112 và 113, sư đoàn xe tăng số 6 của quân đoàn 38.

Quân lính mặc thường phục giả dạng người dân để dọn dẹp các chướng ngại trên đường phố cho xe quân sự và xe tăng tiến vào.

1 giờ sáng, sinh viên nhận được tin quân đội đang tiến vào, thông tin được loan báo nhanh chóng đến quảng trường Thiên An Môn và các trường đại học, nhiều người đã tụ tập tại các ngã tư đường để cản xe quân đội.

18h30 chính quyền thành phố Bắc Kinh ra thông báo: “Đừng ra đường phố và đến Thiên An Môn. Tất cả các công nhân phải ở lại nơi làm việc và tất cả các công dân phải ở trong nhà để bảo vệ cho tính mạng của mình.”.

21 giờ 00, nhiều sinh viên và người dân đã trở về nhà sau những lời cảnh báo, một số khác kéo đến các khu phố ngoại thành để chặn đường quân lính. Đại lộ Trường An vắng vẻ, chỉ còn khoảng 1.000 người biểu tình đứng ở đó. Nhưng vẫn còn vài chục ngàn người chiếm giữ Thiên An Môn.

22 giờ 30, gần cầu Mộc Tê Địa, khoảng 10.000 người chặn một đoàn xe tải quân đội lại. Những chiếc xe tải dừng lại cách đám đông 20 hay 30 mét. “Phát xít! Quân giết người!” tiếng người dân hô vang lên, người dân ném gạch đá và chai lọ vào binh lính.

Quân lính bất thình lình bắn vào đám đông, hàng trăm người dân và sinh viên đã gục xuống trong vũng máu.

23 giờ, xe tải chở quân đội tiến vào thành phố, để lại hàng trăm người chết và bị thương nằm la liệt, nhiều người dân cố gắng đẩy những chiếc xe buýt đang bị cháy lên cầu Mộc Tê Địa để chặn các đoàn xe chở quân tiếp theo.

Chủ nhật lúc 1 giờ sáng ngày 4/6/1989, quân đội được trang bị súng AK 47 cùng xe tải và xe tăng xông vào quảng trường Thiên An Môn từ mọi hướng. Những người lính đã bị lừa dối rằng, sinh viên trong quảng trường là bè lũ phản động, chống đối Đảng cần phải bị tiêu diệt.

Xe tăng tiến vào Thiên An Môn

4 giờ sáng bất thình lình trời tối sầm lại, đèn điện trong quảng trường Thiên An Môn bị tắt hết. Quân lính tiến vào quảng trường, người biểu tình không thấy do trời tối.

4h30 đèn điện lại vụt sáng trở lại, lúc này các sinh viên mới giật mình khi phát hiện mình đã bị quân lính bao vây chặt, gồm cả xe tăng cũng tiến vào.

Đối mặt

Thảm sát

Tiếng súng nổ… Nhiều người trúng đạn đổ vật xuống trong vũng máu, tiếng xe tăng gầm lên san bằng tất cả. Quảng trường Thiên An Môn ngập trong máu, hàng ngàn sinh viên đã bị giết hại.

Một số sinh viên chạy thoát được ra ngoài bị xe tăng bám theo. Phương Chính là một sinh viên của Đại học Thể dục Thể thao Bắc Kinh. Anh cũng có mặt ở Thiên An Môn lúc đó nói rằng: “Khoảng 6 giờ ngày 4/6, chúng tôi rút khỏi quảng trường. Sau khi đi qua quảng trường, những chiếc xe tăng đã vòng lại lao về phía các sinh viên và bao vây họ, những người đang trên đường trở về trường của mình. Tôi là một trong những nạn nhân. Xe tăng đã cán qua chân tôi. Nhiều sinh viên của Đại học Bắc Kinh đã bị xe tăng cán chết. Một số thậm chí còn bị nghiền nát.”

Sau đó ĐCSTQ lập hồ sơ tất cả các sinh viên tham gia biểu tình với quy kết họ đã “làm chính trị”, một số sinh viên chạy trốn được ra nước ngoài và kể lại cuộc đàn áp đẫm máu tại quảng trường Thiên An Môn.

Dòng nước mắt đã chảy đến khô cạn trên khuôn mặt của những bà mẹ có con trai bị giết chết, rất nhiều bà mẹ thậm chí còn không thể tìm được xác con do bị xe tăng nghiền nát đến biến dạng.

Đến nay ĐCSTQ vẫn che dấu và không thừa nhận cuộc đàn áp này với người dân Trung Quốc. Hàng năm cứ đến ngày 4/6, chính quyền lại kiểm soát chặt chẽ thông tin tưởng niệm cuộc biểu tình này, internet cũng được kiểm soát rất chặt.

Thế nhưng, nhiều người dân Trung Quốc vẫn không thể quên ký ức về một Thiên An Môn đẫm máu. Những người mẹ có con bị giết hại đã thành lập “Hội những người mẹ Thiên An Môn”. Hàng năm cứ đến ngày 4/6 cộng đồng người Hoa toàn thế giới đều có tưởng niệm những nạn nhân đã bị giết hại.

Chiều mùng 4/6/2014 ở công viên Victory, Hồng Kông, khoảng 180 nghìn người lặng lẽ thắp nến tưởng niệm các sinh viên thiệt mạng dưới bánh xe tăng trong vụ thảm sát đẫm máu năm 1989 ở Thiên An Môn.

Những người lính 26 năm trước từng giương súng bắn vào sinh viên, hay lái xe tăng nghiền nát thi thể họ, giờ đây đã nhận ra rằng mình bị Đảng lừa dối. Người mà họ giết chết không phải là những “kẻ phản động” hay “làm chính trị”, chống đối lại nhân dân, mà đó là những con người hoàn toàn vô tội.

Lý Hiểu Minh là một sỹ quan quân đội từng tham gia đàn áp sinh viên tại Thiên An Môn kể cho đài truyền hình NOW Hồng Kông về sự kiện này: “Chính quyền nói dối rằng nhiều binh lính của binh chủng giới nghiêm đã bị bắt cóc, giết hại; bị cướp vũ khí và một cuộc bạo loạn đã xảy ra ở Bắc Kinh. Vì thế họ cho rằng một cuộc bạo động phản đối cách mạng đã diễn ra.”

Không chỉ binh lính, mà ngày càng có nhiều người dân biết về sự thật này. Thế nhưng biết đến bao giờ ĐCS Trung Quốc mới thừa nhận và trả lời cho người dân Trung Hoa về tội ác mà Đảng đã gây ra tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989?

________________________

Một nhóm sinh viên đại học Trung Quốc du học ở nước ngoài đang phổ biến một bức thư ngỏ kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi tàn ác đã phạm cách đây đúng 26 năm, khi lực lượng Trung Quốc giải tán người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn.

Bức thư do sinh viên cao học trường Đại học Georgia viết và có chữ ký của 10 sinh viên khác, là cố gắng mới nhất để chống lại chiến dịch tuyên truyền ráo riết vây quanh vụ việc trong đó hàng trăm và có thể cả hàng ngàn người biểu tình ôn hòa đã bị sát hại.

Bắc Kinh không cho phép công khai bàn luận hay tưởng niệm vụ Quân đội Giải phóng Nhân dân thảm sát sinh viên biểu tình vào tháng 6 năm 1989. Các sinh viên này tụ tập ở trung tâm Bắc Kinh và các nơi khác khắp nước đòi cải cách dân chủ và chấm dứt nạn tham nhũng tràn làn trong các giới chức.

Kết quả là, nhiều người Trung Quốc trẻ tuổi không biết ngay cả các chi tiết cơ bản của sự kiện được coi như một trong những thời khắc quyết định nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người viết bức thư hy vọng nỗ lực của họ sẽ giúp gia tăng nhận thức quần chúng ở Trung Quốc.

Kẻ giết người phải bị xét xử

Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.

Bức thư viết, “Càng biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy chúng ta gánh một trách nhiệm nghiêm trọng trên vai. Hỡi các bạn sinh viên đại học trong nước, chúng tôi viết bức thư ngỏ này để chia sẻ sự thực với các bạn và phơi bày các tội ác đã phạm cho tới ngày hôm nay, liên quan đến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989.”

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi không yêu cầu đảng Cộng sản Trung Quốc đền bù lại những sự kiện đã xảy ra vào mùa xuân ấy, bởi vì chúng tôi không trông mong những kẻ giết người sẽ thanh minh cho những người đã chết, nhưng những kẻ giết người phải bị xét xử. Chúng ta không quên, cũng không tha thứ, cho đến khi nào đạt được công lý và cuộc đàn áp đang tiếp diễn phải chấm dứt.”

Bức thư đã được phổ biến bên trong Trung Quốc dưới dạng PDF, một hình thức hồ sơ đã giúp vượt qua dễ dàng những cơ quan kiểm duyệt gay gắt của Trung Quốc. Hồ sơ cũng đã nhiều người đọc hơn sau khi nhật báo Global Times của đảng Cộng sản viết một bài xã luận đả kích bức thư.

Báo Bắc Kinh đả kích ‘Các Lực lượng Thù địch Nước ngoài’

Báo Global Times, với các bài xã luận thường phản ánh các ý kiến chính thức, đả kích những “quan điểm cực đoan” về vụ Thiên An Môn. Bài báo viết, “Bức thư của sinh viên đả kích gay gắt chế độ đương thời của Trung Quốc, bóp méo các sự kiện cách đây 26 năm với những lời tường thuật của các lực lượng thù địch nước ngoài.”

Bài báo nói thêm, “Nếu bức thư thực sự do một vài sinh viên nước ngoài viết, chúng ta phải nói rằng những người trẻ tuổi ấy đã bị tẩy não ở các nước ngoài, bắt chước nhóm thiểu số nghi kỵ ở nước ngoài.”

Giới hữu trách kiểm duyệt Trung Quốc sau đó đã yêu cầu gỡ bỏ bài báo Global Times khỏi các cổng thông tin trên mạng, theo trang web của China Digital Times, có lẽ bởi vì bài báo lại có tác dụng ngược lại với ý đồ của nó.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi đề cập đến vụ Thiên An Môn, thường tìm cách biện minh cho vụ trấn át tàn bạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân bằng cách nêu bật tiến bộ ồ ạt về kinh tế mà giới lãnh đạo đảng Cộng sản đã đạt được trong những thập niên sau đó.

Cựu Phụ tá viết bài Xã luận nghiêm khắc

Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.

Một cố vấn lâu năm cho cựu thủ tướng Triệu Tử Dương tuần này đã chống đối lập luận đó. Trong một bài xã luận đăng trên báo New York Times, ông Bao Đồng nói, “nhiều người cầu mong giới lãnh đạo đảng tự nguyện thú thực sự bất công và tính phi pháp của những vụ giết hại đó.”

Ông nói, “Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, bởi vì cho đến giờ này, chưa có mấy dấu hiệu gợi ý là điều này sẽ xảy ra.”

Ông Bao cũng lên án điều ông gọi là “tình trạng tham nhũng từ trên xuống dưới” của đảng Cộng sản, mà ông cho là đã giúp các giới chức có thế lực cùng với thân nhân của họ làm giàu bất kể người khác.

Bắc Kinh đã phát động một chiến dịch mạnh để diệt trừ tình trạng tham nhũng trong các giới chức. Nhưng chiến dịch này sẽ không có hiệu quả, theo ông Bao, một phần vì các công dân độc lập bị đối xử như tội phạm nếu họ tố giác tham nhũng.

Ông nói, “Các phong trào chống tham nhũng của quần chúng đã bị đàn áp gay gắt, giống như hồi năm 1989.”

Ông Bao từng là phụ tá của cựu thủ tướng Triệu Tử Dương, người đã có một chủ trương hòa giải hơn đối với những người biểu tình Thiên An Môn và sau đó đã bị cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lật đổ.

Trong bài xã luận trên tờ New York Times, phát hành hôm qua, ông Bao nói trong tháng trước, ông đã bị ngăn không cho trả lời phỏng vấn. Truyền thông Hong Kong sau đó nói ông là một trong nhiều nhân vật bị buộc phải rời khỏi thủ đô Trung Quốc trước ngày kỷ niệm vụ thảm sát hôm nay.

Việc Bắc Kinh truy lùng và tạm thời làm biệt tích các nhân vật nhạy cảm đã trở thành lệ thường đối với Bắc Kinh trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

► Ý nghĩa tầm nhìn chung quốc phòng Việt – Mỹ 2015

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2015

BBC

04-06-2015

H1

Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ mới ký kết có ý nghĩa gì với an ninh trên Biển Đông và khu vực?

Đó là chủ đề mà BBC và các vị khách mời sẽ trao đổi trong cuộc Tọa đàm Trực tuyến Hangout thứ Năm tuần này, hôm 04/6/2015.

Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, nhà nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đang có mặt ở Singapore, cho rằng tuyên bố là ‘một bước tiến có ý nghĩa’ thể hiện quyết tâm cao hơn của hai bên trong hợp tác an ninh, quốc phòng ở khu vực.

Nhà nghiên cứu nói:

“Theo tôi, tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lần này là một bước thể hiện hai bên quyết tâm đưa quan hệ song phương vào một cấp độ cao hơn, đi vào chiều sâu hơn.

“Đặc biệt sau khi hai bên thiết lập được quan hệ đối tác toàn diện năm 2013, chúng ta thấy rằng đây là một phần để triển khai bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương Việt Nam – Hoa Kỳ ký năm 2011.

“Cho nên chúng ta thấy ở trong này, họ đề ra một số biện pháp hợp tác cụ thể hơn. Chúng ta thấy trong bối cảnh căng thẳng ở trên Biển Đông gia tăng, cũng như cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc cũng gia tăng trong thời gian gần đây, giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có nhiều lý do hơn để thúc đẩy mối quan hệ song phương của mình, đặc biệt vì các mục tiêu chiến lược.

“Đặc biệt chúng ta thấy bên cạnh các mục tiêu chiến lược khác, lĩnh vực hợp tác quốc phòng là một lĩnh vực then chốt và vẫn còn rất nhiều dư địa để hai bên thúc đẩy các hợp tác.

“Và chúng ta thấy trong bản tuyên bố tầm nhìn chung này, họ có đề ra một số lĩnh vực và một số hoạt động cụ thể để hai bên có thể tập trung vào trong thời gian tới, ví dụ như duy trì an ninh và ổn định ở mỗi nước, ở mỗi khu vực, rồi bảo vệ những nguyên tắc và luật pháp quốc tế, rồi hợp tác về an ninh hàng hải trên biển đông.

“Chính vì vậy tôi nghĩ rằng đây cũng là một diễn biến đáng chú ý, mặc dù vẫn còn rất nhiều điều cần phải làm để quan hệ song phương thực chất hơn.

“Nhưng dẫu sao đây cũng là một bước tiến có ý nghĩa đối với quan hệ giữa hai nước,” Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp nói.

‘Thẳng thắn và quyết tâm’

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và sử gia từ Đại học Maine, Hoa Kỳ nêu quan điểm:

“Tôi đồng ý với hết tẩt cả những gì mới vừa nói.

“Tôi nghĩ rằng kỳ này quan trọng bởi vì lý do hình thức.

“Là sau Hội nghị Shangri-La (Diễn đàn An ninh Khu vực lần thứ 14 tại Singapore) thì ông Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ sang gặp Bộ trưởng của Việt Nam liền cho thấy rằng Mỹ thẳng thắn và quyết tâm đối với Việt Nam.

“Vì đối với Mỹ, Việt Nam là một quốc gia rất quan trọng. Việt Nam có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất ở khu vực.

“Và nếu Việt Nam và Mỹ không tỏ ra rõ ràng, cứng rắn, thì các nước khác sẽ bị chùn chân,” nhà nghiên cứu nói.

Ngay sau khi bản tuyên bố Việt – Mỹ được công bố, Hoàn Cầu Thời Báo, một tờ báo mạng thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có bài lên tiếng trong đó kêu gọi Việt Nam nên có một ‘cái đầu lạnh’ và thận trọng trước toan tính của Mỹ mà tờ này cho là muốn đẩy Việt – Trung vào thế ‘đối địch’.

Bình luận về phản ứng này của Trung Quốc, Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói:

“Đối với Trung Quốc, đối thủ chính trong vấn đề này là Mỹ và Trung Quốc càng ngày càng gây hấn với Mỹ, để nếu mà Mỹ không trả lời Trung Quốc một cách rõ ràng,

“Thì Trung Quốc sẽ nói là Mỹ là ‘con hổ giấy’, và qua đó đe dọa các nước khác trong vùng.

“Mỹ thì muốn kéo Trung Quốc vào một hệ thống mà có thể tạo dựng được an ninh không những trong khu vực Đông Nam Á và khu vực Á Đông, mà cũng cả ở toàn cầu nữa.

“Trung Quốc thì không muốn như vậy. Trung Quốc có thể muốn chia quyền với Mỹ.

“Thành ra, mỗi khi mà có một hoạt động gì của Mỹ, thì Trung Quốc la thật lớn lên…

“Thành ra cái đó cũng là một lý do tại sao ví dụ, chẳng hạn Việt Nam nhiều khi cẩn thận sợ rằng nếu mà Trung Quốc không đánh thẳng vào Mỹ, thì cũng gây sự với Việt Nam.

“Mà rõ ràng chúng ta thấy nhiều lần là Trung Quốc cố ý gây sự với Việt Nam để răn đe các nước khác.

“Mà nếu Việt Nam không dám nói rõ ràng và không dám tranh thủ sự ủng hộ rõ ràng của Mỹ, thì đây là một sự làm cho các nước khác ở trong khu vực e dè.

“Là bởi vì Việt Nam là nước bị mất mát nhiều nhất, bị khó khăn nhiều nhất đối với Trung Quốc, thành ra Việt Nam phải cần chọn đối tác nào có thể giúp cho Việt Nam nhiều nhất.

“Đối tác đó theo tôi thấy đó là Mỹ. Tại sao? Bởi vì Mỹ là đồng minh của Nhật, Mỹ là đồng minh của Hàn Quốc, Mỹ là đồng minh của Phi-luật-tân (Philippines), Mỹ là đồng minh của Úc, và Mỹ có quan hệ rất tốt với tất cả các nước khác. Mỹ đóng vai trò chính.”

‘Không ràng buộc luật pháp’

Từ Bangkok, trước câu hỏi điều nào trong 5 điểm được đề ra trong Tuyên bố chung tầm nhìn quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ là có ý nghĩa nhất và khả thi nhất, phóng viên Hồng Nga của BBC, người trực tiếp theo dõi nhiều sự kiện Đối thoại Shangri-La trong nhiều năm gần đây, nói với Tọa đàm:

“Tuyên bố hay Tầm nhìn… không có tính ràng buộc gì về luật pháp, bởi vậy nó là Quy ước giữa hai bên để có thể hiểu nhau và có thể tiến tới những hợp tác thực chất hơn trong tương lai.

“Tất nhiên tôi cũng đồng ý với Giáo sư Ngô Vĩnh Long là nó cũng mang một ý nghĩa khá là đặc biệt, bởi vì là đây là lần đầu tiên mà Việt Nam và Hoa Kỳ có ký với nhau một văn bản như vậy.

“Nhưng mà để từ đó chuyển sang thành những hành động thực sự thì chúng ta cũng phải nhớ là còn một thời gian rất là dài.

“Khoản 18 triệu đô-la mà hai bên vừa mới thống nhất thực ra đã được ký với nhau từ lâu rồi, chứ không chỉ là lần này.

“Vì vậy cũng không gắn hai sự kiện này với nhau.

“Mà bây giờ dư luận ở các nơi cũng đặt ra một vấn đề là liệu có phải Việt Nam đang hướng vấn đề đối ngoại này để làm lu mờ những vẫn đề đối nội hay không?

“Cái này thì tôi cũng đặt một nghi vấn rất là lớn.

“Nhưng tựu chung lại, cũng cần phải cân nhắc mọi yếu tố để xem là cái tuyên bố này, sau này, sẽ được diễn dịch ra những hành động như thế nào?

“Và còn quá sớm để mà nói là cái gì khả thi thực hiện được một cách dễ dàng,” Hồng Nga nói với Tọa đàm.

Trả lời câu hỏi cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ có phản ứng ra sao trước việc hai quốc gia công bố Tuyên bố chung về Tầm nhìn nói trên, nhà báo Trần Nhật Phong, nhà quan sát cộng đồng từ California, nói:

“Cộng đồng Việt Nam cũng có hai khuynh hướng khi nghe được thông tin này, tức là hai bên có tầm nhìn chung.

“Khuynh hướng thứ nhất là khuynh hướng tương đối thoáng hơn, thì họ rất mong điều này và họ hoàn toàn ủng hộ điều tích cực này, và cho rằng Việt Nam đi gần với Mỹ thì tốt hơn là đi gần với Trung Quốc.

“Tuy nhiên còn một khuynh hướng thứ hai thì tương đối khó khăn hơn trong vấn đề thấy rằng Hoa Kỳ và Việt Nam càng lúc càng xích lại gần nhau.

“Bởi vì quan niệm về mặt trận chính trị của họ vẫn còn khá cứng rắn. Nhóm này họ nói rằng quyền lợi của Hoa Kỳ tại Biển Đông chưa đủ để cho Tổng thống và Quốc hội có thể bỏ qua hồ sơ mà Việt Nam đang vướng phải.

“Trong đó có hai hồ sơ chính là hồ sơ nhân quyền và hồ sơ môi sinh.

“Và do đó họ hoàn toàn không ủng hộ điều này, đó là hai khuynh hướng bên phía cộng đồng.

‘Vì thất bại đối ngoại?’

Theo nhà báo Trần Nhật Phong, ngoài hai quan điểm trên, còn một quan điểm nữa gợi ý rằng động thái của phía Mỹ có liên quan tới chính trị nội bộ của Đảng Dân chủ đang cầm quyền.

Ông nói:

“Riêng còn có một khuynh hướng thứ ba giống như chị Hồng Nga vừa nói, tức là cả ba quốc gia Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam đều có động thái làm nóng hồ sơ Biển Đông để mà làm lu mờ đi những cái biến động từ trong mỗi một quốc gia.

“Kể cả Trung Quốc, kể cả Việt Nam; kể cả Hoa Kỳ trước cuộc bầu cử 2016, ta cũng biết rằng Hoa Kỳ trong 8 năm qua là phía (Đảng) Dân Chủ cầm quyền.

“Do đó lần này bà Hillary Clinton đại diện cho phía Dân Chủ ra tranh cử, thì nó có thể ảnh hưởng tới mùa bầu cử của Hoa Kỳ.

“Và động thái này để lấy lại tư thế quân bình mà trong 8 năm phía Dân chủ cầm quyền bị cho, bị đánh giá là thất bại trong mặt trận đối ngoại quân sự.

“Và đây là một trong những động thái để phía Dân Chủ có thể lấy lại uy thế với công chúng Hoa Kỳ. Đó là những cái nhìn từ phía Hoa Kỳ,” nhà báo Trần Nhật Phong nói với BBC.

Chương trình Bàn tròn Thứ Năm như thường lệ được phát từ lúc 19h30-20h00 giờ Việt Nam (tức 13h30-14h00 giờ London).

Các khách mời tham dự cuộc Tọa đàm có:

– Giáo sư Ngô Vĩnh Long, từ Đại học Maine, Hoa Kỳ;

– Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, nhà nghiên cứu quốc tế thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, từ Singapore;

– Nhà báo Hồng Nga, BBC, từ Bangkok, Thái Lan;

– Nhà báo tự do Trần Nhật Phong, từ California, Hoa Kỳ.

– Nhà báo Quốc Phương, dẫn chương trình và điều hợp Tọa đàm.

Mời quý vị theo dõi toàn bộ cuộc tọa đàm tại đây

_____________________

Việt Nam nhảy múa thận trọng với các siêu cường

21-1-2015

East Asia Forum

Tác giả: Phuong Nguyen

Người dịch: Trần Văn Minh

21-01-2015

H1Quan hệ quân sự Việt – Mỹ đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, nhưng cuộc bàn luận về mối liên minh gắn bó hơn nữa giữa Washington và Hà Nội đã không nhận ra sự khác biệt tinh tế về địa chính trị và lịch sử. Quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã sang trang vào đầu thập niên 2000, khi cả hai nước bước ra khỏi những hệ lụy của cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai nước bắt đầu tích cực tìm kiếm những phương cách mới để làm việc với nhau.

Các quan chức quốc phòng và quân sự cao cấp của Mỹ bây giờ đến thăm Việt Nam thường xuyên hơn. Năm 2011, hai nước đã ký một bản ghi nhớ, thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương. Vào tháng 10 năm 2014, chính quyền Obama công bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Điều này có nghĩa là, từ nay Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí sát thương cho Việt Nam trên cơ sở từng trường hợp, một bước tiến gần như không thể tưởng tượng chỉ một vài năm trước đây. Với việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm, Hoa Kỳ và Việt Nam đã bắt đầu đặt nền móng cho mối quan hệ mua sắm quốc phòng song phương, dự kiến sẽ tiến triển trong vài năm tới.

Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cản trở mối quan hệ.

Trung Quốc luôn luôn ẩn hiện bao trùm lên tiến trình quyết định chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hà Nội lo lắng về việc Bắc Kinh sẽ phản ứng thế nào với việc quân sự Mỹ-Việt xích lại gần nhau.

Việt Nam đã nổi lên như một quốc gia ở tuyến đầu trong khối ASEAN có quyền lợi trong việc duy trì an ninh trên biển và tự do hàng hải trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Trong khi đón chào các lợi ích từ sự quan tâm trở lại của Mỹ, các nhà lãnh đạo của Việt Nam nhận thức rất rõ rằng Trung Quốc coi nhiều vấn đề trong việc tái cân bằng của Mỹ như một nỗ lực ngăn chặn [Trung Quốc]. Việt Nam muốn tránh bị mắc kẹt giữa hai cường quốc và nhiều quan chức tại Hà Nội kín đáo chỉ ra tình hình ở Ukraine như hệ quả của một chính sách đối ngoại bất cân đối.

Với mỗi bước tiến tới việc thúc đẩy quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, Việt Nam phải tìm cách trấn an Bắc Kinh.

Các mô hình phức tạp của quan hệ Việt Trung trở nên rõ ràng từ sự cố giàn khoan dầu vào giữa năm 2014, đã làm quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ.

Khi đối phó với Trung Quốc, Việt Nam thường chỉ kêu gọi sự giúp đỡ từ bên ngoài sau khi đã cạn kiệt mọi giải pháp. Nhiều tuần sau sự bế tắc, Hà Nội và Bắc Kinh đã phải xúc tiến nối lại quan hệ. Nhưng điều đó không ngăn Việt Nam đệ trình một tuyên bố vào cuối năm 2014 yêu cầu Tòa án Trọng tài Thường trực tại Hague xem xét quyền lợi của Việt Nam khi cứu xét vụ kiện pháp lý giữa Philippines và Trung Quốc. Để ứng phó, Bắc Kinh cố gắng vừa trấn an vừa gây áp lực lên Hà Nội, đã không lãng phí thời gian cử một thành viên cao cấp của Bộ Chính trị [Trung Quốc] sang Việt Nam. Ông tuyên bố trong chuyến đi rằng, quan hệ Việt – Trung nên đi vào ‘con đường đúng’ và phê phán việc sử dụng chính sách ‘ngoại giao la làng’.

Ngoài ra, cũng có sự bất đồng xung quanh ý định của Mỹ trong việc thúc đẩy hợp tác quân sự và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Việt Nam. Câu chuyện thông thường được giới chức Mỹ đưa ra là Hoa Kỳ không quan tâm đến việc khai thác các vết nứt trong vấn đề đối ngoại của Việt Nam vì lợi ích riêng của mình. Nhưng một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam bị bất ngờ bởi những gì họ mô tả như Hoa Kỳ mong muốn tiến nhanh trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng.

Với lợi ích chiến lược chung, hai bên tiếp tục cố gắng để xác định một mẫu số chung. Washington đã trở nên quen dần với sự kiên nhẫn cần thiết để mở rộng liên kết quân sự với Hà Nội, trong khi những tiếng nói tiến bộ hơn ở Hà Nội muốn thấy sự hợp tác nhiều hơn với Hoa Kỳ trong những năm tới.

Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam đang và sẽ lo lắng về việc lao vào bất kỳ loại cam kết nào trong tương lai. Sự không tin tưởng này bắt nguồn chủ yếu không phải từ các xung đột lịch sử, mà vì sự giải thích của Hà Nội về lịch sử tham gia vào Đông Nam Á của các siêu cường.

Ví dụ, nhiều người ở Việt Nam xem việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, khi đó thuộc về chính phủ Việt Nam Cộng hòa được Mỹ hỗ trợ, như là hệ quả việc rút quân của Mỹ khỏi chiến trường Việt Nam và tái lập quan hệ với Trung Quốc hai năm trước đó. Tương tự như vậy, các cuộc đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc ở bãi Đá Gạc Ma năm 1988 là hệ quả của những gợi ý của Liên Xô từ trước về việc rút khỏi vịnh Cam Ranh và, một lần nữa, Mỹ thuận theo. Cảm giác này sẽ khó sớm phai mờ.

Trong khi Việt Nam hiểu được nhược điểm của mình đối với Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn mơ hồ về chính sách an ninh chung của Mỹ trong khu vực. Điều này biểu hiện trong chính sách quốc phòng “Ba Không” của Việt Nam: không liên minh quân sự, không đặt căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, và không dựa vào bất cứ nước nào để chống lại những nước khác.

Quan hệ quốc phòng Việt Mỹ hiện có rất nhiều tiềm năng và có khả năng gia tăng trong năm nay khi hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Nhưng có một số thách thức mà hai bên cần phải tập trung trong tương lai không xa, chẳng hạn như sự khẳng định của Hà Nội về việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương và mong muốn có được thiết bị quân sự của Mỹ, các lời kêu gọi liên tục của Washington cho việc tham gia hoạt động lớn hơn giữa hải quân hai nước và gia tăng tiếp cận hàng năm cho các tàu hải quân Mỹ đến cảng Việt Nam.

Nhưng trong trường hợp thiếu vắng một viễn cảnh rộng lớn, Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ đi đến thỏa thuận trong vấn đề tăng cường hợp tác và đàm phán ở cấp chiến thuật trong tương lai trước mắt.

Phương Nguyễn là chuyên viên nghiên cứu tại Hội đồng Sumitro về Nghiên cứu Đông Nam Á, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington, DC.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Việt Nam – 70 năm dưới thể chế cướp bóc (Võ Thị Hảo)

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2015

 3-6-2015

Blog RFA

Võ Thị Hảo

02-06-2015

“Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng”…

(Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ – đại biểu QH Bến Tre)

Trên đời này có nhiều loại cướp bóc nhưng không loại cướp bóc nào có thể hủy hoại cả một đất nước như loại dùng thể chế chính trị và bộ máy chính quyền làm công cụ cướp đoạt của người dân. Bao đau thương khổ nạn của loài người cũng chủ yếu từ đó mà ra.

Cướp bóc theo kiểu nói trên là những cuộc cướp bóc tầm quốc gia, qua những Hiến pháp, luật, thông tư chỉ thị, bảo hộ độc quyền, các loại thuế và phí… nhằm cướp bóc của dân. Những tội ác này được cả hệ thống truyền thông nô lệ và bộ máy đàn áp che giấu, mỵ dân. Ai dám nói sự thật hoặc phản đối sẽ phải hứng chịu bạo lực dưới nhiều hình thức. Bạo lực của bộ máy cướp bóc này được tung ra từ tất cả các khâu từ Đảng cộng sản, nhà nước, cơ quan, hội đoàn tới lập pháp, tư pháp, hành pháp. Bạo lực cũng thể hiện rõ nhất ở hệ thống công an và bộ máy hành chính các cấp.

Việc “rút xương tủy” của dân dưới nhiều hình thức để tham nhũng dưới danh nghĩa công dân phải đóng góp xây dựng tổ quốc là chiêu bài cướp bóc mà bộ máy độc tài luôn tận dụng.

Tăng thuế, phí và lạm thu

Chỉ tính riêng giá xăng dầu, kể từ đầu năm 2015 đến nay, giá đã tăng 3 lần liên tiếp. Theo các chuyên gia thì nguyên do tăng không phải do giá xăng dầu thế giới mà bởi nhà nước vô cớ tăng thuế môi trường lên 300%. Dù là nước xuất khẩu dầu, nhưng giá xăng tại VN đắt hơn Mỹ. Trong khi đó Mỹ có mức thu nhập cao hơn Việt Nam (2011) lên tới 31,7 lần. Mỗi lần tăng giá xăng, điện, tăng thuế và phí, giá thị trường tăng theo và dân càng khốn cùng.

Theo báo Tuổi trẻ, nhiều khoản thuế và phí lạm thu đã khiến cho nhiều gia đình ở Hà Tĩnh ngập chìm trong nợ vì họ đã đói ăn mà vẫn phải vay để nộp. Trưởng phòng tài chính huyện Can Lộc thừa nhận, có rất nhiều khoản thuế và phí vô lý. Sự lạm thu đang khiến người dân bị bần cùng hóa, nhiều người phải tha phương cầu thực.

Tình trạng này đã xẩy ra từ nhiều năm trước nhưng không khắc phục mà ngày càng lạm thu vô tội vạ. Báo cáo tại Quốc hội cho biết, ngay từ năm 2002, qua khảo sát thấy rằng các cơ quan cấp TƯ và địa phương có  quyền đặt định thu của dân ít nhất 432 khoản phí và lệ phí ngoài thuế. Việc đặt mức thu hết sức tùy tiện, lộn xộn, không thể quản lý nổi.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho biết, mức thu từ thuế và phí tại VN ngày càng tăng vọt. Trong 5 năm vừa qua, nguồn thu từ thuế và phí của VN dẫn đầu khu vực, là 20% GDP. Báo cáo “Tổng quan môi trường thuế VN 2014” cho biết, tình trạng phí chồng lên phí và lạm thu đang khiến mỗi người dân phải gánh tỉ lệ chịu thuế, phí/GDP cao gấp 1,4-3 lần so với các nước trong khu vực, trong khi thu nhập bình quân đầu người VN vào hàng thấp nhất.

Thống kê của Bộ NNPTNT cũng cho biết nông dân phải gánh đến 131 khoản đóng góp, trong đó có 93 loại phí, lệ phí theo quy định và 38 khoản “đóng góp xã hội” khác.

Theo T.S Lê Đăng Doanh – nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM), thì chính “thói quen” chi tiêu ngân sách như hiện nay là căn nguyên khiến gia tăng các loại phí và lệ phí đối của người dân, DN. Theo lý giải của TS Doanh, năm 2015 xuất hiện nhiều hình thức thu phí, lệ phí là nhằm bù đắp thiếu hụt của thu ngân sách Nhà nước.

Chẳng hạn đoạn đường  cao tốc Pháp Vân – Ninh Bình (chỉ dài 20km) cũng đã được Bộ này ban hành mức thu phí xe container 400 feet cao nhất lên đến 5 triệu/tháng. Hay ngày 8/4 tại cầu Đồng Nai đã áp dụng mức thu phí 15.000 – 120.000/vé/phương tiện… Đây chỉ là một trong số các ví dụ của việc Nhà nước đang dùng nhiều cách để tăng thu, bù đắp cho thâm hụt ngân sách.

Cái chết hàng loạt trong nhiều năm của các doanh nghiệp VN và sự nghèo khó khốn cùng của người dân VN chính là hệ quả của những hành vi cướp bóc qua thuế, phí, qua các chính sách bảo hộ doanh nghiệp độc quyền như xăng dầu, điện…

Thắng lợi của Đảng: đổi bằng xương máu dân

Nhân dịp Đảng CS VN kể công rầm rộ nhân dịp kỷ niệm 85 năm thành lập, người VN không thể không nhìn lại lịch sử 70  năm của thể chế độc tài cộng sản VN.

Căn cứ các sự kiện lịch sử, thì thấy đúng là Đảng „đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác“, nhưng Đảng thắng là dân thua. Đảng chỉ có nghĩa là một nhóm người có quyền lực chiếm được quyền lãnh đạo. Mỗi thắng lợi của Đảng đều đổi bằng hoặc xương máu và nước mắt của dân VN.

„Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa“.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng“. Tội tham ô, tham nhũng mà không tử hình thì không hợp lòng dân, bởi tham nhũng không phải là những người nhỏ mà đều là người làm to có chức có quyền, đục khoét công quỹ, bóc lột nhân dân”.

(Phát biểu của thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, phó giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Bến Tre) Tuổi trẻ – 277572015)

Có thể thấy, hầu hết những thắng lợi của Đảng cộng sản và chính quyền VN ngay từ khi mới thành lập cho đến nay đã lấy phương châm „cướp“ làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

Chúng ta có thể thấy vô số từ „cướp“, „giết“… trong các văn bản trang trọng của nhà cầm quyền độc tài cộng sản VN: “cướp của người giàu chia cho người nghèo“, „cướp chính quyền“, cướp kho thóc của Nhật“, „Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ“…

Chính quyền cộng sản VN cũng do cướp mà có được và từ đó nhiều hành xử của nó đối với những người dân cũng theo „tôn chỉ cướp bóc“. Chẳng hạn việc quyền lực trong bộ máy đều trao cho các đảng viên. Chỉ một nhóm người trong đảng nhưng lại tự đoạt lấy quyền đại diện cho quyền lợi của công dân cả nước là  bất công và phản lại quyền con người.

Cải cách Ruộng đất là cuộc đại cướp bóc làm đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và công cụ sản xuất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó không khác gì một cuộc diệt chủng áp dụng lên chính đồng bào của mình.

Người VN sẽ không bao giờ quên những cuộc giết người rùng rợn, do chính người VN, mà trước đây có thể là bạn bè, hàng xóm sống yên vui đầm ấm. Để không bị chính quyền đoạt mạng, con tố oan cha, chồng vợ tố oan nhau. Nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban Cải cách ruộng đất là „Thà chết mười người oan còn hơn là để sót một địch“( Hồ sơ của Hội đồng CCRĐ –  Thư viện Pháp luật VN).

Theo con số thống kê chưa đầy đủ, sách Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, tập 2 xuất bản tại Hà Nội năm 2004, chỉ riêng cuộc CCRĐ đợt 5(1955- 1956) được thực hiện ở 3.563 xã, có khoảng 10 triệu dân và tổng số người bị sát hạt trong đợt này lên đến 172.008 người, trong đó có tới 123.266 người(71,66%) là giết oan!

Cải cách ruộng đất với hàng trăm ngàn cuộc đấu tố, giết lương dân vô tội đã khiến dân VN táng đởm kinh hồn, đành khuất thân làm nô lệ. Nông dân được chia đất từ chỗ cướp lại của địa chủ  nhưng sau đó thì việc tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp đã cướp tất cả đất đai của họ vào tay chính quyền và nông dân lại trở thành vô sản đến tận bây giờ vì Luật, Hiến pháp vẫn quy định „đất đai là sở hữu toàn dân“.

Một trong những hành động cướp bóc quyền của dân lớn nhất gần đây là vào năm 2013, khi sửa đổi Hiến pháp, điều 4 Hiến pháp này quy định Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo Việt Nam, trong khi ngay cả những Hiến pháp trước đó, mặc dù đã rất mất dân chủ, cũng không đủ can đảm để quy định một điều phi dân chủ và và vi phạm nhân quyền như vậy.

Xóa độc tài để giữ mạng Dân và mạng Nước

Chính vì sự lãnh đạo độc tài và theo phương châm cướp bóc đã khiến cho dân VN không những nghèo khó mà còn bị mất quyền làm người, có thể bị đoạt mạng sống bất kỳ lúc nào bởi nhân viên công quyền.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng công an là đối tượng chính phải chịu trách nhiệm về việc có tới hơn 260 người chết trong lúc bị tạm giam chỉ trong vòng 3 năm gần đây.

Làm chết người nhưng kẻ giết người lại được bao che bởi chính các đảng viên cộng sản cấp trên và đồng nghiệp cùng hệ thống tư pháp, hành pháp.

Sự bao che ấy thực sự là hành vi bật đèn xanh cho nhân viên công quyền tha hồ cướp bóc, đánh giết dân. Điều đó tung ra một thông điệp ngầm: cơ quan công quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là vua, là trời, để dân sống thì dân được sống, bắt dân chết là dân phải chết, bất cần pháp luật.

Sự bao  che ấy thể hiện quyền sinh sát của nhà cầm quyền trong việc đánh đập, giết dân hoặc giả dạng côn đồ để hãm hại, mạt sát, bỏ tù  những người đi kêu oan, người dám lên tiếng đòi nhân quyền và dân chủ…Sau khi đã làm cho dân khiếp sợ, biết rắng mình có kêu oan cũng vô vọng, nhà cầm quyền càng tha hồ cướp bóc. Và chính sự cướp bóc này đã khiến cho vận mạng VN, trước sự xâm lấn của TQ, trước sự tiếp tay của những kẻ bán nước, đang hết sức nguy ngập.

Ông là một người làm thơ được chính quyền vinh danh vì công lao trong việc tụng ca thể chế độc tài này và cho Đảng. Vì thế, ông  lên đến tận chức Phó Thủ tướng thường trực. Có lẽ con đường thành đạt của ông đã được xây bằng những bậc thang tụng ca mục đích tôn chỉ của nhà cầm quyền cướp bóc:

„Giết! Giết nữa, bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Stalin bất diệt“

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37- Nguồn: Truclamyentu.infor).

Bài thơ của ông mặc dù được nhiều người có uy tín đánh giá là „khát máu“, nhưng chỉ trong bốn câu văn vần này mà ông đã thâu tóm, khắc họa được phương thức hành xử của chính quyền độc tài này với nhân dân.và cũng cắt nghĩa được người VN khốn khổ vì đâu.

Rõ ràng là thể chế này cần phải xóa bỏ vì nó đã lỗi thời, mục ruỗng và càng vận hành càng gây nhiều hành vi cướp bóc. Thay đổi VN bằng một thể chế chính trị đa nguyên, dân chủ,  xóa bỏ sự độc quyền của Đảng cộng sản, liên kết với các nước dân chủ và văn minh là con đường để giữ mạng nước Việt và người Việt.

_———————–

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20150527/bo-tu-hinh-toi-tham-nhung-dan-khong-chiu-dau/752709.html

Bỏ tử hình tội tham nhũng, dân không chịu đâu

27-5-2015

 

TT – Tại phiên thảo luận ở tổ đại biểu Quốc hội về dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi) chiều 26-5, nhiều ĐBQH không đồng tình quan điểm bỏ hình phạt tử hình đối với nhóm tội phạm tham nhũng, vận chuyển ma túy.

 

 

Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa
Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ (phó giám đốc Học viện Quốc phòng, đại biểu Bến Tre)

“Liên quan đến các tội ma túy, tôi thấy tình hình vận chuyển ma túy hiện nay rất phức tạp, chúng thường tổ chức đường dây chặt chẽ, đối phó quyết liệt với lực lượng chức năng. Tôi đề nghị giữ nguyên quy định mức án cao nhất là tử hình. Chúng ta đấu tranh cỡ đó mà tội phạm ma túy vẫn chưa giảm, nếu giảm nhẹ hình phạt sẽ như thế nào?” – thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, phó giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Bến Tre), phân tích.

Đồng tình, thiếu tướng công an Bùi Mậu Quân (Hải Dương) bày tỏ: “Không nên bỏ tử hình đối với tội vận chuyển ma túy bởi đây là loại tội phạm rất nguy hiểm”.

Kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa

Liên quan đến nhóm tội phạm về tham nhũng, cũng như nhiều đại biểu không đồng tình bỏ mức án tử hình, thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ rất gay gắt: “Tội tham ô, tham nhũng mà không tử hình thì không hợp lòng dân, bởi tham nhũng không phải là những người nhỏ mà đều là người làm to có chức có quyền, đục khoét công quỹ, bóc lột nhân dân”.

Dẫn ví dụ từ cuộc chiến “đả hổ diệt ruồi” của Trung Quốc đã phát hiện nhiều con “hổ lớn” phải dùng xe vận chuyển cả tấn tiền, vàng, ngọc… ông Tỷ cho rằng: “Ở ta cũng có thể có những cỡ đó nhưng vì chưa tìm ra mà thôi. Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng.

Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa. Chúng ta quyết tâm chống tham nhũng nhưng chưa có chuyển biến gì nhiều. Tôi đề nghị giữ nguyên mức tử hình, nếu bỏ mức án này thì về không biết trả lời với cử tri thế nào”.

Không thể bỏ tù pháp nhân

Phiên thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM đã có một cuộc tranh luận thẳng thắn giữa đại biểu, thiếu tướng Lê Đông Phong (phó giám đốc Công an TP.HCM) và một số đại biểu khác về vấn đề nên hay không nên buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo ông Phong, không nên buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự. Lý do là không thể nào bắt bỏ tù công ty, một cơ quan được. Còn các hình phạt khác như tước quyền kinh doanh, phạt tiền thì luật khác đã quy định.

“Buộc pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự sẽ làm khó quá trình tố tụng” – ông Phong nói.

Đại biểu Đỗ Văn Đương, phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, lại cho rằng pháp nhân không phải con người nhưng pháp nhân có ý chí, có tài sản, hành vi… do đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ông Đương cho biết hiện đã có 119 nước trên thế giới và sáu nước ASEAN buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự. Ông cũng cho rằng quy định các hình phạt trong Luật hình sự sẽ nặng hơn nhiều so với các luật khác, có tính răn đe hơn.

Đồng ý với ông Đương, đại biểu Trần Du Lịch cũng nói không có pháp nhân nào không có người đại diện pháp luật, và pháp nhân làm sai thì trách nhiệm trước hết là của người đại diện đó.

Ông Lịch phân tích chính vì không buộc tội hình sự được với pháp nhân mà những vụ việc như Vedan xả thải không thể khởi tố hình sự được, không ai phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hơn nữa theo ông Lịch, hình phạt tiền trong Luật hình sự sẽ cao và có tính răn đe rất lớn. Còn phạt tiền đối với vi phạm hành chính chỉ là phạt vi cảnh, không thể phạt nhiều và có ngưỡng nhất định…

 

_______

 

Posted in Bị đảng và nhà nướcCướp Đất Đai r, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Nong Dan Viet Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►SỞ HỮU TOÀN DÂN THUA VẠN LẦN DÂN THUỘC ĐỊA!

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2015

SỞ HỮU TOÀN DÂN THUA VẠN LẦN DÂN THUỘC ĐỊA!

Ba Kiem Mai

1-6-2015

 

Sáng nay đọc status trên Face Mạnh Kim: “Sinh hoạt Sài Gòn tiếp tục bị xáo trộn. Một sự xáo trộn nữa lại bắt đầu từ một con hẻm nhỏ, rất nhỏ, và rất Sài Gòn – hẻm 71 Mạc Thị Bưởi, quận 1, khi một công văn lạnh lùng phán vội chiều nay dí vào từng mặt người dân, yêu cầu toàn bộ con hẻm phải bị giải tỏa trong… ba ngày nữa!” . Đây là ví dụ “điển hình tiên tiến” của nước XHCN tước đoạt quyền an cư lạc nghiệp của dân trên mãnh đất thuộc sở hữu toàn dân.

Tôi xin kể quyền sở hữu đất của dân cách đây 104 năm, tại Nhà Bè, dưới thời thuộc địa, để thấy thực dân Pháp có lòng “nhân bản” gấp vạn lần XHCN. Trước hết, nói về bối cảnh cho dễ hiểu. Sau khi chiếm trọn Nam kỳ, Pháp đặt chế độ thuộc Pháp, nên ban hành Dân luật Giản Yếu vào năm 1883, với các nguyên tắc học lý giống Dân luật Pháp quốc. (Sau đó, chiếm Bắc kỳ đặt chế độ bảo hộ, Pháp ban hành Dân luật Bắc kỳ năm 1931. Rồi, ký hòa ước với triều đình Huế để Trung kỳ tự trị, Pháp ban hành Dân luật Trung kỳ năm 1936). Nghĩa là, Dân luật Giản yếu công nhận xã hội dân sự và các quyền dân sự của người dân An Nam bị đô hộ, trong đó có quyền sở hữu đất.

Năm 1911, hãng Shell (tập đoàn Anh – Hà Lan) đến Nhà Bè đầu tư Cảng và kho chứa xăng dầu. Thực dân Pháp “ngu” hơn XHCN, vì không đứng ra đền bù đất, rồi giao cho Shell xây dựng, để kiếm tiền chênh lệch, mà Pháp tôn trọng quyền dân sự, để cho Shell thương lượng trực tiếp với 3 chủ đất tại đây, để thuê 100 mẫu, trong thời hạn 99 năm (Đến 30/4/1975, 3 HĐ này chưa đáo hạn, nhưng chủ hãng Shell bỏ của chạy lấy người, đất và cơ ngơi thành của Nhà nước). Lúc bấy giờ, 3 chủ đất đang cho cả trăm tá điền thuê tại địa điểm sẽ làm hãng (đong lúa 10 giạ/1.000m2/năm) nay Shell đàm phán giá thuê cao gấp 5 lần giá tá điền thuê, lại được lãnh tiền hàng tháng qua Cheque. Chủ đất sướng rên, nhưng Dân luật Giản yếu bảo vệ tá điền hiện hữu cho họ có quyền tiên mãi (được ưu tiên mua cùng giá, mà chủ đất định bán cho người khác hoặc được ưu tiên thuê cùng giá mà chủ đất định cho người khác thuê với giá cao hơn). Tuy tá điền không thuê nổi theo giá Shell thuê cao gấp 5 lần, nhưng họ có quyền không ký giấy khước từ thuê đất. Mà không có đủ giấy khước từ của tá điền, thì chủ đất không thể ký hợp đồng với Shell được. Do đó, chủ đất phải thương lượng cho tá điền được hưởng tiền thuê đất mấy năm đầu mà hãng Shell trả, để tá điền chịu ký tờ khước từ thuê đất. Bỗng nhiên, tá điền có một cục tiền, có nhiều tá điền đi vô vùng sâu mua ruộng để làm chủ. Có nhiều tá điền – như ông nội tôi (Mai Bá Điền sinh 1885 chết 1979) quyết bỏ nghề chân lấm tay bùn, xin vào hãng Shell làm cu – li (sai gì làm nấy), đổi đời, lãnh lương tháng, thay vì đến Tết mới gặt lúa, nộp chủ ruộng, còn bao nhiêu trả nợ. Ông nội bỗng dư tiền nuôi ba tôi học hết cấp sơ học (lớp ba), tiếng Tây nói bập bẹ, còn trẻ nên hãng Shell nhận vào đào tạo nghề xăng dầu. Đến năm 1975, tổng lương xồi (lương chính + phụ cấp thâm niên + phụ cấp đắt đỏ + phụ cấp vợ con) của ba tôi là 94.000 đ/tháng, đóng thuế lợi tức 40.000 đồng (dã man hôn?), thực lĩnh: 54.000 đ vẫn gấp 2 lần lương giáo sư đệ nhị cấp. Nhờ ông, cha làm làm hãng FDI xịn, tôi được học miễn phí ở Vườn trẻ Shell (ăn bánh Tây, uống sữa, múa hát). Con em công nhân học cấp 2 trở lên được Hãng Shell, Esso cho xe đưa rước đến các trường ở Sai Gòn (đến năm 1965, Nhà Bè mới có trường trung học). Nhờ là thợ cả, ba tôi được Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè lưu dụng để truyền nghề cho công nhân mới XHCN từ miền Bắc vào. Đến năm 1983, ba tôi về hưu không lãnh một cắt lương hưu. Nhưng, đến năm 2001, Hãng Shell gửi về cho ba tôi (và các nhân viên chưa tới tuổi hưu lúc giải phóng) 6.000 USD gọi là đền bù do hãng chưa kịp trả lương hưu. Vì, Hãng đã vi phạm HĐLĐ, do ngày 30/4/1975 đã từ bỏ không điều hành Hãng nữa, mà không thông báo cho công nhân biết trước một tháng! Sau Shell, ESSO và CALTEX đến tiếp tục thuê đất của địa chủ làm hãng dầu, mà bây giờ thành Tổng kho xăng dầu Nhà Bè. Nhờ thực dân Pháp, địa chủ cho thuê đất giá cao, nên nộp thuế hoa lợi cho Pháp cao hơn. Khoảng 400 tá điền đổi đời thành công nhân FDI, có tiền cho con ăn học làm BS, KS, giáo viên lứa đầu tiên ở Nhà Bè.

 

Bây giờ, nhớ lại năm 1991, UBND huyện Nhà Bè đứng ra làm “cò” giải tỏa 300 ha đất nông nghiệp để giao Đài Loan làm KCX Tân thuận. Với giá đền bù 11.000 đ/m2, nông dân bị giải tỏa trắng tay (đến ông Sáu Món – phó chủ tịch Hội nông dân huyện, cũng phản đối đếch nhận tiền đền bù), không đủ tiền vào vùng sâu mua ruộng canh tác, mà cũng không có tay nghề để được vào làm KCX, càng không có có tiền cho con học làm KS, BS để đổi đời.

Cách nhau 80 năm, cũng lần đầu có các hãng nước ngoài vào Nhà Bè đầu tư, tại sao nông dân Nhà Bè năm 1911 thì lên đời, mà nông dân Nhà Bè năm 1991 lại xuống đời? Khốn nạn quá!

_______________

Cập nhật:

Sự việc được nêu trong stt hôm qua (xin xem bên dưới) có một số chi tiết cần nói rõ thêm. Đây là chuyện thu hồi tài sản giữa công ty X với công ty Y. Nói cách khác, các hộ kinh doanh thuê mặt bằng từ công ty Y; và Y đang bị X đòi lại. Không phải chuyện giải tỏa của chính quyền đối với người dân. Tuy nhiên, việc thông báo di dời trong thời gian ngắn (vỏn vẹn ba ngày) là sai. Luật sư Võ Phước Hoàng đã chỉ ra như sau:

1) Việc thuê nhà giữa những người kinh doanh với công ty cho thuê trực tiếp được thực hiện trên nguyên tắc ký từng năm một và đã kéo dài liên tục 10 năm qua. Do đó, khi hợp đồng thuê nhà hết hạn mà hai bên vẫn im lặng thì hợp đồng thuê đó phải được hiểu là mặc nhiên tái tục thêm một hạn kỳ nữa, tức là hợp đồng thuê nhà được kéo dài thêm một năm kể từ ngày hết hạn hợp đồng ngày 01/4/2015. Vậy đến 01/4/2016 mới hết hạn thuê nhà.

2) Một nguyên tắc của luật pháp hiện hành về việc thu hồi mặt bằng trong trường hợp cho thuê nhà để kinh doanh, chủ nhà (ở đây là công ty cho thuê trực tiếp) phải thông báo cho người thuê một thời gian hợp lý, thường là 6 tháng đến một năm. Như vậy, trong trường hợp hợp đồng thuê nhà hết hạn ngày 01/4/2015, nếu công ty cho thuê không muốn tái tục hợp đồng thì phải thông báo cho bên thuê từ 6 tháng trước, tức từ ngày 01/10/2014, chứ không phải đột ngột thông báo và đưa ra thời hạn di dời vỏn vẹn ba ngày!

Trong thực tế hai chi tiết trên chỉ là hai điểm cần chú ý trong khi luật còn nhiều qui định khác cho thấy không thể có chuyện thông báo thu hồi trong thời gian vỏn vẹn ba ngày!

…………………

Manh Kim

June 1st, 2015

Sinh hoạt Sài Gòn tiếp tục bị xáo trộn. Một sự xáo trộn nữa lại bắt đầu từ một con hẻm nhỏ, rất nhỏ, và rất Sài Gòn – hẻm 71 Mạc Thị Bưởi, quận 1, khi một công văn lạnh lùng phán vội chiều nay dí vào từng mặt người dân, yêu cầu toàn bộ con hẻm phải bị giải tỏa trong… ba ngày nữa! Nhanh thế! Vội thế! Tại sao?

Khó có thể biết cặn kẽ tại sao nhưng có điều chắc chắn là người ta không muốn kéo dài thời gian để tránh bị phản ứng. Một con hẻm đặc sệt chất thị tứ Sài Gòn lại bị bức tử. Cùng chết với nó không chỉ là cư dân và quán xá mà còn cả một nét sinh hoạt độc đáo Sài Gòn – đã sống qua rất nhiều thế hệ nhưng bị lập sổ khai tử chỉ trong nháy mắt. Rồi sẽ có những con hẻm Sài Gòn khác bị biến mất, bằng những cái “công văn” vội vàng tương tự. Rồi sẽ có những nét văn hóa Sài Gòn bị xóa đi. Và Sài Gòn đang biến mất dần, trong chính nó…
……
Ảnh:
Quán café “Người Sài Gòn” trong con hẻm nhỏ 71 Mạc Thị Bưởi (trước 75 là đường Nguyễn Văn Thinh)

https://m.facebook.com/photo.php?fbid=10153550485299796&id=568139795&set=p.10153550485299796&source=47

5

 

Posted in Bị đảng và nhà nướcCướp Đất Đai r, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

► Vì Sao Trung Quốc Thách Thức Cả Thế Giới Trong Cuộc Tranh Chấp Trên Biển Đông Hiện Nay

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2015

Nguyễn Trọng Bình

Quy mô xây dựng của Trung Quốc tại bãi đá Huy Gơ – Ảnh: Võ Xuân Hiệp

1. Câu chuyện biển Đông lại một lần nữa nóng lên kể từ khi Mỹ điều máy bay do thám và công bố những hình ảnh bồi đắp, cải tạo xây dựng các đảo mà trước đây họ đã dùng vũ lực cướp từ tay Việt Nam. Việc làm này của Trung Quốc hiện đang bị dư luận và cộng đồng thế giới lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Tuy vậy, có thể thấy không riêng gì lần này, mỗi khi bị cộng đồng thế giới chỉ trích thì gần như ngay lập tức Trung Quốc phản ứng lại với một thái độ và tâm thế không hề nao núng (nếu không muốn nói là rất tự tin và đầy kiêu hãnh). Tại sao như vậy? Tại sao Trung Quốc dù nghe hết, biết hết những gì dư luận thế giới nói về mình nhưng họ vẫn cứ làm với thái độ bất chấp tất cả?

Đặt ra vấn đề trên để thấy rằng, lâu nay, trong cuộc tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, đa phần chúng ta chỉ xem xét vấn đề ở phương diện nào có lợi cho ta nhất mà thôi. Điều này là đương nhiên. Tuy vậy, nếu như thế có khi nào là chủ quan và duy ý chí vì như người xưa nói “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”?

Lịch sử và văn hóa Trung Quốc cho thấy họ là bậc thầy của chiêu thức “binh bất yếm trá”. Vì vậy một tinh thần cảnh giác thường trực và cao độ với Trung Quốc sẽ không bao giờ thừa. Đặc biệt, đừng bao giờ chủ quan cho rằng“không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam” hay như có người phát biểu“tôi không bất ngờ về việc làm của Trung Quốc hiện nay”. Thực ra, nói như thế là ngụy biện vì nếu đã hiểu rõ bộ mặt thật họ vậy sao cứ chơi và xem họ là “bạn thân”, là “đồng chí tốt”? “Bạn” và “bạn thân” là hai vấn đề, hai quan điểm, hai lập trường rất khác nhau chứ? Ai đời đã biết cái đứa năm lần bảy lượt đâm sau lưng mình mà vẫn kết thân với nó? Nói ra điều này chỉ càng làm cho người bên ngoài họ cười vào mặt mình mà thôi.

Nói cách khác, trong bất cứ mọi thời điểm mọi hoàn cảnh, cần thiết chúng ta phải tự đặt ra thật nhiều giả thiết và tự phản biện lại tất cả các giả thiết ấy để thấy rõ hơn đâu là điểm mạnh đâu là điểm yếu của mình. Có như vậy mới không bị động và may ra mới tìm được giải pháp tối ưu nhằm đối phó với sự ranh ma của Trung Quốc

2. Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông? Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:

– Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của Trung Quốc (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.

Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau: “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông – ngũ long nộ hải – thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.

– Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

– Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác. Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm 1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạn bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.

Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”…

– Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, mục tiêu của họ là kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu“tiên hạ thủ vi cường/ Hậu thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.

– Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung – Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung – Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.

3. Từ những phân tích trên có thể nói, hiện nay nhìn toàn cục Trung Quốc đang nắm thế chủ động hơn so với Việt Nam và các nước khác tuyên bố chủ quyền ở Biến Đông. Đó chính là lý do thời gian qua mặc cho Philipines kiện họ ra tòa quốc tế và mặc cho Bộ ngoại giao Việt Nam liên tiếp gửi các công hàm phản đối nhưng họ vẫn chẳng coi ra gì.

Từ đây, trên phương diện nhận thức chung, để đối phó và tạo ra ưu thế cho mình trong cuộc đối đầu này, Việt Nam, theo tôi nhất định phải tập trung vào các nhóm vấn đề quan trọng sau đây:

– Một, phải thay đổi tư duy trong cách tiếp cận vấn đề, tức là điều quan trọng bây giờ là phải hết sức cảnh giác đồng thời tập trung mọi nguồn lực nhằm giữ vững các đảo hiện tại đang nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác vấn đề bây giờ là không để mất thêm đảo nào nữa vào tay Trung Quốc chứ không phải nói như ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam dạo nào:“Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ đòi lại”.[1] Thử hỏi tại sao bây giờ không quyết liệt đòi, không tự tin sẽ đòi lại được mà nhắn gửi, dặn dò con cháu như thế? Nói như thế khác nào đã công khai thừa nhận sự thất bại của mình hiện nay đồng thời đẩy quả bóng trách nhiệm cho thế hệ mai sau? Và phải chăng thế hệ lãnh đạo trước đây cũng từng suy nghĩ như vậy, cũng từng “trăn trối” và nhắn gửi thế hệ lãnh đạo của ông Phó Thủ tướng hôm nay nhưng các ông cũng làm được gì đâu!?

– Hai, cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ thay Việt Nam “bảo vệ nguyên tắc luật pháp quốc tế trên biển Đông”[2] và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà họ đang kiểm soát. Điều đó cũng có nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay nếu còn chần chừ không thể hiện rõ ràng dứt khoát, lập trường quan điểm của mình chắc chắn Việt Nam mãi mãi chỉ là con tốt không hơn không kém trên bàn ngờ ngoại giao một khi Trung Quốc “bắt tay” với Mỹ bằng chiến thuật lùi một bước để tiến nhiều bước…

Và quan điểm và lập trường ở đây không phải là Việt Nam nên “theo ai” hay “ngã về bên nào” mà là cần nhanh chóng chấm dứt trò chơi “đu dây” đầy mạo hiểm với việc lấy cảng Cam Ranh ra để giữ thăng bằng. Hay tệ hơn nữa là tâm lý “tọa sơn quan hổ đấu”!

– Ba, về mặt đối nội Đảng, Quốc hội Việt Nam cần nhanh chóng ra Nghị quyết nhằm tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tình hình biển Đông hiện nay, đặc biệt nội dung bản Nghị quyết phải thể hiện rõ tinh thần hiệu triệu như lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Tức là “chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới vì họ muốn cướp đảo của ta lần nữa…” Theo tôi, mọi chuyện đã đến nước này thì không còn gì mà giấu giếm, úp mở với nhân dân hay ngụy biện vì là chuyện “nhạy cảm”, “tế nhị” nên Quốc hội chỉ “họp kín”. Nếu ra được Nghị quyết lúc này về trước mắt sẽ ổn định được lòng dân còn về lâu thế hệ con cháu mai sau còn có cái để mà “ăn nói” với Trung Quốc (hay nếu như muốn tiếp tục “đòi lại” các đảo bị Trung Quốc cướp mất như lời dặn dò của ông Phó Thủ tướng mà tôi vừa đề cập ở trên). Và nhất là để lịch sử mai sau còn viết vào đó lại vài dòng ghi nhận công lao của thế hệ lãnh đạo hôm nay chứ không phải là không là những lời nguyền rủa nhu nhược, hèn kém.

– Cuối cùng, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã làm. Cho dù Trung Quốc hiện nay không coi luật pháp quốc tế ra gì nhưng cần phải kiện họ vì chỉ có cách này cộng đồng quốc tế mới tin tưởng và ủng hộ Việt Nam nhiều hơn. Khi ấy Mỹ và các đồng minh Nhật, Úc… mới có “cơ hội” giúp Việt Nam ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc. Hiện nay, chính vì Việt Nam cứ ỡm ờ, không dám kiện nên cộng đồng quốc tế họ hoài nghi. Mình cứ nói “chính nghĩa” và “lẽ phải” thuộc về mình nhưng lại không cho thấy quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa” và “lẽ phải” đến cùng thì làm sao người ta tin những gì mình nói.

Ngoài ra, khởi kiện bây giờ cũng là phòng tránh một sự lật lọng của Trung Quốc về sau. Tức là trong trường hợp sau khi hoàn thành việc cải tạo các đảo hiện nay, với sức mạnh và sự ảnh của một “nước lớn” có thể họ sẽ kiện ngược lại Việt Nam. Khi ấy với tư cách là “bị đơn” lại là “nước nhỏ”, Việt Nam rất khó thoát ra khỏi sự điều khiển của họ.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Trương Duy Nhất: Chính nghĩa đứng về phía chúng ta kỳ 1,2, và 3

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2015

Huỳnh Ngọc Chênh

Blogger Trương Duy Nhất tại nhà riêng với tấm ảnh khi anh ra tòa

Vào ngày nhà báo blogger Trương Duy Nhất bị bắt cách đây tròn 2 năm, tôi tình cờ có mặt tại Đà Nẵng. Lúc một đoàn công an trên 20 người đang lục soát nhà và đọc lệnh bắt khẩn cấp anh thì tôi còn nghe một người quen ở Đà Nẵng khẳng định với tôi rằng Trương Duy Nhất là an ninh. Trước đó thì tôi nghe khá nhiều người nói đến tai tôi rằng TDN là người của tổng cục 2. Tôi không tin lắm vì biết chắc rằng cũng những người đó đi rỉ tai ở chỗ khác rằng tôi cũng là an ninh.

Khi TDN bị 17 nhân viên an ninh của cơ quan điều tra bộ công an áp giải lên máy bay ra Hà Nội thì một doanh nhân có cỡ ngồi cùng khoan hạng C với TDN, thấy anh ngồi cùng với một đám an ninh đã chào hỏi: “Nhất ra Hà Nội công tác à?” Nhất nghiêm nghị trả lời: “Ừ, đi công tác”. “Lâu không?” “Chưa biết, khi nào xong việc thì về”. Lúc ấy doanh nhân đó đã mở cờ trong bụng về phát hiện động trời của mình: Blogger nổi tiếng TDN là một an ninh gộc của bộ, đi công tác ra Hà Nội cùng với một đoàn an ninh bằng vé máy bay hạng C. Có lẽ doanh nhân nầy chưa kịp tiết lộ bí mật động trời nầy cho bạn bè thì tối đó vào mạng mới hay TDN bị bắt.

“Vì sao bị bắt dẫn độ ra Hà Nội mà được đi máy bay hạng C?” Tôi thắc mắc, Nhất nói: “Vì đi khẩn cấp làm gì có vé máy bay nếu không mua vé hạng C”. Thế đấy bộ công an khẩn cấp điều 17 nhân viên an ninh của cơ quan điều tra bay vào Đà Nẵng để áp giải TDN ra Hà Nội, vào ra toàn bằng vé hạng C trong khi lực lượng an ninh của thành phố Đà Nẵng cũng “đông như quân Nguyên” nhưng không dùng đến. Người ta xài tiền thuế của dân một cách vô tội vạ khi nhân danh lý do an ninh.

Nhất kể, họ ập vào nhà anh bằng một lực lượng hùng hậu trên 20 người gồm an ninh bộ, công an thành phố, công an quận và công an phường. Ghê gướm thật, một blogger với vũ khí chỉ là cái bàn phím nhựa mà được đối xử còn hơn một nghi phạm giết người có trang bị súng ống.

Buổi chiều, TDN bị áp giải ra sân bay Đà Nẵng, tay anh không bị còng. Phóng viên báo Tuổi Trẻ ngửi ra tin Nhất bị bắt sớm nhất, đã lên phục kích tại sân bay. Nhất thấy phóng viên đó, cũng quen với anh, lấp ló nấp sau hàng cột chĩa ống kính ra chụp, anh ngoắc tay nói, ra đây chụp chứ sợ gì. Báo Tuổi Trẻ đã có tấm ảnh đầu tiên của Nhất khi bị bắt. Trong tấm ảnh đó, Trương Duy Nhất hiên ngang ngẫng cao đầu bước đi giữa hai an ninh áp giải cúi gầm xuống mà nhìn như hai nhân viên đi theo bảo vệ yếu nhân.

Đây là đòn tiến công đầu tiên của nhà báo blogger Trương Duy Nhất. (Tấm hình do phóng viên báo Tuổi Trẻ chụp đăng lên báo TT, sau đó trang Nguyễn Tấn Dũng ăn cắp đăng lại và đóng dấu Nguyễn Tấn Dũng.org vào)

Hình ảnh đó là đòn tiến công đầu tiên của Nhất trong một trận chiến ác liệt mà anh phải đối mặt, một trận chiến kinh hồn suốt hai năm trời đối diện với hàng loạt sĩ quan điều tra có số má của bộ công an, đối diện với quan tòa chỉ biết nghe lệnh trên, đối diện với các quản giáo khe khắt của trại giam và đối diện với chính những người bạn tù được “cài cắm” nằm cùng phòng với anh. Một cuộc chiến kéo dài hơn như cuộc đua marathon mà anh phải đơn độc chiến đấu và không cho phép anh lơ là bất cứ phút giây nào, không cho phép anh gục ngã trước bao nhiêu áp lực của cường quyền, không cho phép anh sa chân lỡ bước trước bao nhiêu cái bẫy thâm độc giăng ra. Anh nói: “Tôi mà sa vào bẫy, tôi mà gục ngã, thì đời tôi bị vùi ngay xuống hố đen bùn nhơ, tôi sẽ sống kiếp con vật cho đến hết cuộc đời còn lại”. Anh đã phải chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng vào ngày anh được trả tự do như mọi người đã thấy, khi anh bị cưỡng chế bí mật đưa lên vùng núi rừng hoang vắng trên đường Hồ Chí Minh giữa một đám vừa công an vừa côn đồ. Anh nói, nếu anh không thắng được trận cuối đó thì chưa biết bây giờ anh đã ra sao.

“Anh chiến đấu trên nguyên tắc như thế nào?” tôi hỏi, Trương Duy Nhất nói: “Xuyên suốt trong hai năm, tôi phải chiến đấu để cho họ thấy rằng tôi không có tội mà tội phạm chính là những kẻ đã ra lệnh bắt tôi, đã giam tôi và đã xử tôi. Ngay cái hình ảnh báo Tuổi Trẻ đăng khi tôi bị đưa ra sân bay thì tôi cũng đã gởi đến mọi người một thông điệp: Tôi không có tội.”

Anh chỉ tấm hình lộng kiếng treo trên tường phòng khách và nói: Tôi đã qua được cuộc chiến khốc liệt đó vì tôi biết chính nghĩa đứng về phía chúng ta.

“Có loại tù làm người ta nhục nhã, nhưng có loại tù chỉ khiến họ vinh quang” – Nhà báo Trương Duy Nhất

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog Tu Zo

Trương Duy Nhất và mẹ hiền sau ngày anh ra tù

Tôi bay ra Đà Nẵng vì chuyện riêng gia đình, nhân tiện ghé thăm Trương Duy Nhất với tình cảm của một người ngưỡng mộ và cảm phục anh, đồng thời cũng mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm ở tù của anh để phòng cho bản thân sau nầy, bởi dưới thể chế ở cái thời đảo điên nầy bất cứ lúc nào mình cũng có thể vào tù.

Tôi cũng hoàn toàn không có ý định viết gì về Trương Duy Nhất, bởi trước một cây bút như anh, một blogger lừng lẫy, một người đấu tranh bất khuất đã qua lò luyện đan, thì mình chỉ múa rìu qua mắt thợ. Làm sao viết cho hay bằng chính TDN kể lại chuyện chính anh đã trãi nghiệm qua 2 năm nung nấu trong lao tù. Anh đã hun đúc những điều ấy trong 4 tập nhật ký dày cộm mà an ninh đã thô bạo đè anh xuống cướp mất đi khi anh vừa mới bước ra khỏi cửa phòng giam chưa kịp ra đến cổng nhà tù.

Nhưng những gì anh trao đổi với tôi trong vòng chưa đến một giờ, giữa sự cắt khúc của những cuộc điện thoại liên tục điện đến hỏi thăm mà anh không thể nào từ chối, đã thôi thúc tôi phải viết cái gì đó. Rất tiếc trí nhớ tôi không còn tốt để ghi ra hết những gì anh kể, và khi đó quá xúc động với anh, tôi đã quên rằng trong điện thoại cùi bắp của mình vẫn có chức năng ghi âm.

Nhưng không sao, nhớ ra cái gì tôi viết ra cái đó, còn những cái gì tôi không nhớ, chắc chắn anh sẽ viết.

Anh kể, suốt từ lúc anh bị bắt cho đến khi ra tù, anh tuyệt đối không viết, không ký bất cứ một văn bản nào có hai từ XIN và CHO. Tất tất mọi việc anh đều yêu cầu, yêu cầu nhân viên bắt khẩn cấp anh phải tuân thủ luật, yêu cầu nhân viên hỏi cung phải thế nầy thế khác, yêu cầu quản giáo phải đáp ứng các đòi hỏi cần thiết của anh…Anh nói: Công việc của các anh là phải phục vụ tôi đúng với pháp luật chứ không phải các anh ban cho tôi hay là tôi phải cầu xin các anh.

Áo quần anh bị buộc cởi ra để lại bên ngoài nơi tạm giam, anh yêu cầu phải đưa tất cả vào nơi giam anh vì “tôi không tin các ông các ông giữ chúng vệ sinh sạch sẽ” và “đề phòng khả năng các ông lén bỏ thứ gì đó vào trong áo quần tôi mà tôi không biết”. Chính vì vậy mà khi ra tù anh đã mặc lại chính cái áo thun đỏ vạch đen mà vào ngày bị bắt anh đã mặc. Cũng nhờ vào đó mà chị Phượng, vợ anh đã thoáng nhìn ra anh khi anh bị cưỡng bức lên xe cứu thương bí mật và lén lút chạy vù ra cổng để đưa anh lên vùng rừng núi hoang vu vào ngày anh được tự do. Biết chắc là chồng mình đang ngồi trên xe cứu thương dù chỉ thoáng qua, chị Phượng và con đã đuổi theo kịp thời đến nơi người ta thả anh ra giữa đám côn đồ.

Người ta dụ dỗ và khuyên anh đừng thuê luật sư, anh dứt khoát đòi luật sư, người ta bảo anh viết đơn xin gởi lên bộ công an sẽ xem xét giải quyết, anh nói “tôi không xin xỏ ai hết, không có bộ nào được quyền xem xét ban phát, đó là quyền lợi của tôi, tôi yêu cầu phải có luật sư” rồi anh viết giấy yêu cầu thuê luật sư Trần Vũ Hải gởi ra cho vợ. Giấy yêu cầu ấy không bao giờ đến tay chị Phượng, thay vào đó chị Phượng chỉ nghe nói anh không cần luật sư. Nhưng may quá, chị Phượng kể:

“Như có thần giao cách cảm giữa tôi và anh Nhất, tôi linh cảm rằng anh Nhất bảo tôi phải ra Hà Nội thuê luật sư chứ đừng thuê luật sư tại Đà Nẵng, tôi ra Hà Nội nhờ anh Phạm Xuân Nguyên, anh giới thiệu cho tôi thuê đúng luật sư Trần Vũ Hải”.

Nếu Lê Thị Phương Anh bị nhân viên hỏi cung của công an Đồng Nai hành hung, nắm đầu ghì xuống bàn, khủng bố bằng cách nhốt chung với tù hình sự đầu gấu để chúng hành hung chị như chị đã kể, thì Trương Duy Nhất cho biết anh không hề bị như vậy. Anh nói, anh được như vậy vì anh cứng rắn đấu tranh ngay từ đầu không để bị khuất phục.

Nhất kể, có một lần một viên chức hỏi cung hung hăng đập tay xuống bàn hăm dọa, anh nghiêm mặt nói: Anh khuyên tôi không được mất bình tỉnh mà chính anh đã mất bình tỉnh. Tôi phản đối cách hành xử thô bạo thiếu kiềm chế và vô văn hóa của anh. Tôi cho anh biết nếu anh còn tiếp tục làm việc tôi với thái độ đó tôi yêu cầu thay đổi điều tra viên. Còn chẳng may anh gây ra thương tích cho tôi lúc đập bàn, tôi kiện khởi tố anh. Sau đó thì điều tra viên ấy bỏ ra ngoài và được thay bằng một điều tra viên khác vào làm bộ vuốt ve xoa dịu anh theo kiểu ông ác ông thiện mà chúng ta hay nhìn thấy trên phim Mỹ. Trương Duy Nhất cho biết đó là cái đập bàn duy nhất trước mặt anh của điều tra viên trong suốt một năm làm cái gọi là điều tra anh.

Anh cũng cho biết, anh không hề bị khủng bố bằng cách giam chung với tù hình sự đầu gấu trong suốt quá trình tạm giam để điều tra. Họ không dám làm vậy với tôi vì sợ tôi sẽ tố cáo, anh nói, một khi mình nắm luật và cứng rắn không chịu khuất phục, không để cho họ phĩnh phờ dụ dỗ thì họ không dám hành xử bậy bạ với mình.

Nhất nhận tất cả những bài anh viết trên blog Trương Duy Nhất, thậm chí anh còn trưng ra những bài viết mà anh đã không đăng lên, nhưng xuyên suốt trong quá trình điều tra cũng như ra tòa anh kiên quyết không cho rằng nội dung những điều anh viết là sai phạm, anh viết đúng người đúng việc, những đối tượng bị anh viết mới chính là tội phạm của đất nước, những sự việc anh nêu lên là sai trái có thật cần phải thay đổi để cứu nguy đất nước.

Sau hai phiên tòa kết án, anh đưa về thi hành án tại trại giam ở Nghệ An. Ngày đầu tiên quản giáo buộc anh ra nghe quản giáo giảng dạy để cải tạo, anh phản ứng ngay. “Đây là trại giam chứ không phải là trại cải tạo, tôi không mắc gì phải cải tạo, kẻ cần cải tạo là những kẻ đưa tôi vào đây. Hơn nữa các anh chẳng có trình độ gì hơn tôi mà dạy tôi, chẳng ai dạy được ai ở đây”.

Trong trại giam, Nhất yêu cầu được đọc sách báo, được nhận sách báo cần thiết do người nhà gởi vào, được nhận bút giấy để ghi chép và viết lách, anh đã viết đến 4 tập nhật ký mà sau đó đã bị cướp như chúng ta đã biết. Tù nhân được xem tivi đến 9 giờ tối thì tắt, nhưng Nhất yêu cầu được xem đến khuya. Quản giáo nại nội quy của trại không cho, Nhất yêu cầu đưa ra nội quy và nói việc giam giữ tù nhân là phải thực hiện theo luật pháp quy định, không có cơ quan nào được quyền đưa ra nội quy kể cả bộ công an, mà pháp luật thì quy định rằng phải giam giữ tù nhân phù hợp với đặc điểm của mỗi người, tôi là người làm báo, người viết lách, cần có nhiều thông tin nên phải xem tivi nhiều hơn. Cuối cùng trại giam cũng để cho Nhất được xem tivi đến khuya miễn không làm phiền đến hai bạn tù cùng buồng.

Một lần Nhất bị thoát vị đĩa đệm không đứng và đi được phải đưa đến bệnh viện y học dân tộc của địa phương để chữa trị. Tại bệnh viện có phòng giam riêng cho tù nhân bị bệnh, mà theo Nhất là bẩn còn hơn chuồng súc vật, sau khi đưa lên khám bác sĩ, tù nhân phải đưa về đó nằm. Khi bác sĩ chẩn bệnh, Nhất nói với bác sĩ: Tôi bị bệnh nặng, không đứng dậy đi lại được, như bác sĩ đã chẩn đoán, cần nằm một chỗ để điều trị liên tục, tôi đề nghị bác sĩ hãy dùng quyền của mình ra y lệnh cho tôi nằm lại đây. Quản giáo đi theo phản đối tức khắc, Nhất và anh ta cãi cọ nhau kịch liệt, nhưng vị nữ bác sĩ ấy nói, tôi quyết định cho bệnh nhân được nằm lại đây để chữa trị. Quản giáo nháo nhào gọi điện thoại khắp nơi xin lệnh, cuối cùng phải để Nhất nằm lại, không đưa xuống phòng giam riêng của tù nhân, nhưng yêu cầu phải bố trí cho Nhất phòng riêng, không được nằm chung phòng với các bệnh nhân khác. Bác sĩ nói vậy thì có phòng riêng theo yêu cầu. Nhất được đưa lên phòng đặc biệt, có máy lạnh, ti vi. “

Tôi được hưởng 21 ngày trong điều kiện cao cấp như vậy mà không phải trả tiền, vì khi tôi yêu cầu gởi hóa đơn cho gia đình thanh toán thì họ không dám. Nguyên tắc khi tù nhân nhập viện thì người nhà được báo để đến chăm sóc, nhưng họ giấu nhẹm người nhà của tôi nên họ phải chịu”.

Vào ngày mồng một tết vừa rồi, một đoàn quản giáo trại giam do một đại tá công an dẫn đầu vào trại thăm và cho quà tết cho tù nhân. Tù nhân được đưa ra sân ngồi để nghe chúc tết và nhận quà. Sau màn nhận quà là màn các quản giáo đến từng chỗ bắt tay tù nhân. Nhất đứng lên ngoảnh đít đi vào trước khi các quản giáo kịp đến bắt tay. Quản giáo thấy vậy đến hoạnh họe Nhất tại sao mất lịch sự như vậy, anh nói: Đó không phải là những đối tượng tôi chìa tay ra bắt.

Huỳnh Ngọc Chênh

Trương Duy Nhất kể tuy ở trong tù nhưng anh cũng nắm thông tin khá sát. Anh nằm trong trại tạm giam một thời gian thì nghe tin blogger Phạm Viết Đào bị bắt. Anh nghĩ đang có một chiến dịch đàn áp các blogger. Anh dự đoán sau Phạm Viết Đào có lẽ sẽ bắt tới Ba Sàm, Huy Đức, Nguyễn Xuân Diện và Huỳnh Ngọc Chênh.

Đúng là sau đó, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Minh Thúy bị bắt. Rồi cuối năm ngoái trong một tháng, ba blogger bị “bắt quả tang”: Quê Choa Nguyễn Quang Lập, Người Lót Gạch Hồng Lê Thọ và Nguyễn Ngọc Già Dân Làm Báo. Anh thấy choáng váng vì quá bất ngờ, anh không hiểu nổi vì sao lại như vậy?

Tôi hỏi vì sao trong tù mà anh nắm được thông tin, anh nói, qua tivi, qua báo Nhân Dân và đặc biệt qua chị Phượng vợ anh. Vào tù anh tập ăn ít lại để đỡ tốn kém, để gia đình thăm nuôi đỡ vất vã mang nhiều thức ăn vào. Anh bảo vợ thay vì mang nhiều thực phẩm cho cái bụng của anh thì hãy mang thực phẩm cho cái đầu của anh. Thế là chị Phượng và con gái phải lo hằng ngày vào mạng theo dõi thông tin cả hai lề rồi cô đọng lại và hằng tháng đi thăm nuôi phải mang vào cho anh thật đầy đủ.

Khi vợ chồng, cha con gặp nhau, tâm sự chuyện gia đình rất ít để dành hầu hết thời gian truyền đạt lại thông tin thời sự trong tháng cho anh nghe. Do vậy mà anh vẫn bám sát thời cuộc. Anh biết biểu tình chống Tàu cộng đã nổ ra khi chúng mang giàn khoan trái phép vào vùng lãnh hải VN, anh biết cuộc biểu tình bạo động của công nhân Bình Dương và Đồng Nai…Anh cập nhật được nhiều chuyện dù có chậm hơn một tháng. Vợ và con anh là hai người đưa tin tuyệt vời. Khi Bọ Lập bị bắt anh đã khuyên vợ anh điện cho chị Hồng vợ Bọ Lập để động viên và chia sẻ.

Anh còn chỉ cho vợ nên mua những cuốn sách nào mang vào cho anh đọc. Ban đầu trại giam không cho gởi vào, nhưng anh đấu tranh quyết liệt, họ phải đồng ý. Anh quan tâm đến các sách luật, nhất là luật hình sự. Không những anh nghiên cứu kỹ mà anh còn khuyên vợ nên đọc kỹ các điều khoản trong bộ luật hình sự để mà biết đấu tranh lại những sai trái của trại giam, của cơ quan chức năng.

Như tôi đã viết trước đây, sau khi có kết luận điều tra về anh, rằng nếu kết luận điều tra như vậy thì cơ quan điều tra chỉ cần làm trong 3 ngày chứ không kéo dài đến cả năm. Anh cũng nói tương tự khi kể rằng một điều tra viên nói với anh kết luận điều tra ấy chỉ cần một tuần lễ thì hoàn tất vì cái gọi là tội trạng của anh thể hiện công khai tất tần tật trên blog chứ có giấu giếm vào đâu. Không những thế anh còn tự giác kê ra cả những bài anh viết mà không đăng.

“Thế anh nghĩ vì sao họ kéo dài điều tra anh cả năm?” tôi hỏi, anh trả lời: ” Thì họ muốn kéo dài ra để hành hạ mình, để đánh gục ý chí kháng cự của mình, họ muốn mình gục ngã và nhận cái tội mà mình không có và họ kéo dài để rình mình sơ sẩy trong lúc làm cung để đưa mình vào tròng”

Rồi anh nói tiếp ” Thật ra cái họ muốn tìm không phải là những cái lỗi của mình trên các bài viết mà họ muốn tìm thế lực nào đứng sau xúi giục mình viết những bài đó, thế lực nào đưa tiền cho mình viết những bài đó. Họ lầm to, họ cứ tưởng anh em ta ai cũng bị giật dây hoặc bị xúi giục mới viết. Họ không có cái tâm với đất nước nên họ cứ tưởng ai cũng có lòng dạ đen tối như họ”

Người có chút tấm lòng với đất nước với vận mệnh của dân tộc, trước thời cuộc đảo điên, nguy hiểm nầy không thể nào không lên tiếng. Biển đảo thì mất dần, ngư dân bị giết chóc, kinh tế càng ngày càng lệ thuộc vào Tàu cộng, tài nguyên môi trường bị vét cạn, nợ vay mượn nước ngoài càng ngày càng chồng chất mà hiệu quả đầu tư phát triển quá thấp, tham nhũng càng ngày càng lộng hành, tệ nạn xã hội gia tăng không có điểm dừng, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm hầu như không được kiểm soát, dân oan khắp nơi…làm sao mà nhắm mắt làm ngơ trước hiện trạng đất nước như thế nầy.

Khi đụng đến những vấn đề trên, những blogger, những người hoạt động nhân quyền, hoạt động xã hội sẽ biết mình phải đương đầu trước bao nhiêu thử thách. Họ sẽ đối mặt với tù đày hoặc sẽ bị hành hung, đàn áp, cô lập…Nhưng luôn luôn có những người đứng lên, hết lớp nầy đến lớp khác. Bắt bớ, đánh đập, đàn áp không làm cho họ run sợ.

Chính nghĩa đứng về phía chúng ta

 

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »