Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 23rd, 2015

► Hồ Chí Minh và pháp lệnh “Trừng trị các tội phản cách mạng”

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

21-06-2015

Các điều luật 78, 79, 88, 258 của bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đang được chính quyền sử dụng làm cơ sở pháp lý để, trong một số trường hợp, biến những người vô tội thành có tội; đó là trường hợp của những người yêu nước và những người đấu tranh cho dân chủ bị biến thành tội phạm.

Mục đích của tôi ở bài này không phải là nhằm chỉ ra sự vô lý hay tính chất phản dân chủ của các điều luật nêu trên đây. Mục đích của tôi ở đây là giới thiệu với quý độc giả văn bản pháp lý đầu tiên, cơ sở cho các điều luật ấy.

Văn bản đó là pháp lệnh « Trừng trị các tội phản cách mạng” do Hồ Chí Minh ký và ban hành tháng 11 năm 1967. Mặc dù pháp lệnh này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, và do Trường Chinh ký trước khi trình lên chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh là người ký và ban hành trên toàn quốc, nên Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong văn bản.

Có thể tìm thấy văn bản này trên website của chính phủ. Tuy nhiên, văn bản trên website của chính phủ là văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Trường Chinh ký ngày 30/10/1967. Văn bản này được đệ trình lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành ngày 10/11/1967. Pháp lệnh này được công bố trên báo Nhân dân ngày 21/3/1968. Những thông tin này dẫn theo nguồn của Céline Marangé, trong cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991) ». Vì sao website của chính phủ đăng bản đệ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không đăng Pháp lệnh chính thức do Hồ Chí Minh ban hành ? Điều này có lẽ chỉ có Bộ Chính trị mới trả lời được.

 Văn bản của Hồ Chí Minh không còn hiệu lực, bởi nó đã được luật hóa bằng các điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, do Nông Đức Mạnh ký và ban hành năm 1999. Dĩ nhiên trước đó còn có những Bộ luật hình sự khác, nhưng chúng tôi không đề cập đến ở đây. Bộ luật hình sự 1999 là bộ luật hiện hành.

Ở đây tôi chỉ trích dẫn một số điều khoản tiêu biểu trong Pháp lệnh của Hồ Chí Minh, và đem so sánh với các điều khoản đã nêu ở trên, trong Bộ luật Hình sự.

 “Điều 1.

Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng, phá hoại sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. »

Nội dung điều 1 của Pháp lệnh Hồ Chí Minh về cơ bản được chuyển vào trong nội dung điều 78 của Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc 

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Ngay ở điều 1 của Pháp lệnh, ta thấy rằng: để định nghĩa “tội phản cách mạng”, Hồ Chí Minh đã đồng nhất tội danh này với tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tuy nhiên không định nghĩa rõ như thế nào thì bị xem là « chống ».

Mặc nhiên, “cách mạng” ở đây phải được hiểu là “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, vì sao có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc? Thời điểm này tôi chưa có câu trả lời. Thời điểm này tôi chưa hiểu được vì sao Hồ Chí Minh có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc.

Vì sao đem một thứ chủ nghĩa ngoại lai về du nhập vào Việt Nam rồi đem nó đồng nhất với Tổ quốc? Và vì sao biến những người bày tỏ sự phản đối chủ nghĩa đó thành tội phạm chống lại Tổ quốc ? Tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu để có một câu trả lời khả dĩ.

 “Điều 4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân

Kẻ nào thành lập hoặc tham gia tổ chức phản cách mạng nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, phá bỏ chế độ chính trị, kinh tế và xã hội đã được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định thì bị xử phạt như sau:

a) Bọn chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, bọn hoạt động đắc lực thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình;

b) Bọn tham gia thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì kẻ phạm tội bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. »

Điều 4 này chính là điều 79 trong Bộ luật Hình sự của Nông Đức Mạnh:

Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Dưới thời Hồ Chí Minh, chính quyền được gọi là “chính quyền dân chủ nhân dân”; đến thời Nông Đức Mạnh, “dân chủ” đã biến mất, chỉ còn là “chính quyền nhân dân” (dĩ nhiên chữ “nhân dân” được dùng với chức năng gì thì cần được làm sáng tỏ vào một dịp khác). Ngoài ra có thể thấy ngôn ngữ văn bản hành chính dưới thời Hồ Chí Minh mang tính khẩu ngữ, thiếu chuẩn mực của văn phong hành chính, ví dụ sử dụng từ “bọn”.

Điều 15. Tội tuyên truyền phản cách mạng

Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà phạm tội như sau:

1. Tuyên truyền, cổ động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

2. Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý của địch; xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, phao đồn tin nhảm, gây hoang mang trong nhân dân;

3. Tuyên truyền cho chính sách nô dịch và cho văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc;

4. Viết, in, lưu hành, cất giấu sách, báo, phim, tranh, ảnh hoặc mọi tài liệu khác có nội dung và mục đích phản cách mạng;

thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm. »

Điều 15 này của Pháp lệnh, khi đi vào Bộ luật hình sự, đã trở thành điều 88:

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Ở đây có thể thấy: “Phản cách mạng” ở điều 15 Pháp lệnh của Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa thành “Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ở điều 88 trong Bộ luật hình sự của Nông Đức Mạnh. Mặc dù thế, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần chuyên chế của cả Pháp lệnh lẫn Bộ luật hình sự, chẳng ảnh hưởng gì đến bản chất của sự việc: dưới thời Hồ Chí Minh cũng như dưới thời Nông Đức Mạnh và cho đến hiện nay, luật pháp được sử dụng như một công cụ để bảo vệ chế độ, chứ không phải để bảo vệ con người.

Như vậy, pháp lệnh “Trừng trị tội phản cách mạng”, do Hồ Chí Minh ban hành hai năm trước khi ông mất, chính là nguồn gốc của mọi sự đàn áp mà những người yêu nước không theo cách của chính quyền và những người bất đồng chính kiến hiện nay đang phải gánh chịu, trong đó có tôi (những đe dọa đối với cá nhân tôi và những người khác vẫn tồn tại trên các website mang tên và chức danh những lãnh đạo đương nhiệm thuộc hàng cao cấp nhất).

Khi đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc có lẽ Hồ Chí Minh không hình dung được rằng, Việt Nam sẽ nhanh chóng đi tới một giai đoạn mà những người kế nhiệm của ông sẽ phải đối diện với nan đề của lịch sử: muốn bảo vệ chủ nghĩa xã hội thì không thể nào bảo vệ được Tổ quốc, hay nói cách khác là sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội sẽ đẩy quốc gia tới chỗ mất độc lập. Tuy nhiên, chính quyền đương nhiệm, bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, bộ máy quốc hội, đang bộc lộ ý chí mạnh mẽ bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ. Vì thế nhân dân không thể biết được số phận của Tổ quốc Việt Nam tới đây sẽ như thế nào. Trừ phi chính nhân dân tự thức tỉnh và tự giành cho mình quyền quyết định số phận của Tổ quốc.

Ngoài số phận mù mịt của Tổ quốc thì vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời : Vì sao Pháp lệnh này được ban hành năm 1967 ? Trong điều kiện cụ thể nào ? Vì sao phải đặt ra « tội phản cách mạng » ? Và vì sao phải đồng nhất tội phản cách mạng với tội phản bội Tổ quốc ? Vì sao đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc?

Paris, 21/6/2015

anhbasam.WordPress.com

Posted in Luật Pháp | Leave a Comment »

►Cho thắng thầu, DN Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng ‘tiền tươi’

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

(VTC News) – TS Lê Đăng Doanh nói về con số lại quả khổng lồ bằng ‘tiền tươi’ của ‘bậc thầy đút lót’ Trung Quốc cho đối tác ở nhiều dự án thắng thầu. 

Vì sao các doanh nghiệp Việt Nam “thích chơi” với Trung Quốc, sẵn sàng phụ thuộc vào thị trường này trong khi đây là thị trường chứa đựng khá nhiều rủi ro?  
 
Chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh đã trả lời phỏng vấn VTC News xung quanh vấn đề này.
 

– Ông từng nói “Trung Quốc là bậc thầy của đút lót”. Vậy nghĩa là sẽ có những “bậc thầy nhận đút lót”? 

TS Lê Đăng Doanh
Đúng là tình trạng nhận đút lót của doanh nghiệp Trung Quốc rất phổ biến và nghiêm trọng. 
 
Việc Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD, tương đương 130.000 tỷ hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc theo số liệu của Hải Quan Trung Quốc công bố thực sự rất nghiêm trọng. 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng. 
 
Việc thắng thầu cũng vậy, nguồn tin am hiểu nội bộ giấu tên cho biết Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng “tiền tươi”. 
 
Việc cho thuê rừng, đất rừng 50 năm trên diện tích rất lớn tại những vị trí chiến lược cũng có quá nhiều sự mờ ám. 
 
 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng.
 

Nhiều đài địa phương đua nhau chiếu phim Trung Quốc để nhà đài được Trung Quốc mời đi “nghiên cứu” cũng cần phải được xem xét.

 
– Như vậy rõ ràng có vấn đề lợi ích nhóm chi phối trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc?
 

Đúng là như thế.Rõ ràng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.

 
Vì vậy, muốn giảm sự phụ thuộc vô lý, rất có hại cho lợi ích quốc gia vào Trung Quốc thì phải cải cách thể chế của nước ta. 
 
Vừa qua, Chính phủ họp có thể thấy các tỉnh phía Nam rất bức xúc trước tình trạng phụ thuộc nguy hiểm này nhưng các tỉnh biên giới lại rất nhẹ nhàng cho ta thấy tính phức tạp của tình hình và không dễ khắc phục.
 
– “Đừng than phiền vì là hàng xóm của Trung Quốc, mà phải biết tận dụng lợi thế đó để tự chủ hơn trong kinh tế”, là vấn đề được ông nêu ra tại hội thảo mới đây. Theo ông, để tận dụng lợi thế đó, Việt Nam phải làm gì?
 
Trên thế giới có Phần Lan bên cạnh nước Nga, Canada bên cạnh nước Mỹ, các nước đó chịu nhiều sức ép, rất bất bình trước cách ứng xử áp đặt, thậm chí bắt nạt của nước lớn láng giềng nhưng họ có đối sách tốt và tận dụng vị trí đó để đi lên. 
 
Đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, một trong những dự án lớn của nước ta mà doanh nghiệp Trung Quốc thắng thầu   (Ảnh: Thế Kha)
Họ có chính sách kinh tế, cơ cấu kinh tế khác và bổ sung cho kinh tế nước lớn láng giềng, họ thoát hẳn khỏi tư duy chính sách của nước láng giềng. Sản phẩm của Phần Lan hoàn toàn khác Nga, hệ thống ngân hàng Canada có hiệu quả và ít bị khủng hoảng hơn Mỹ. 
 
Việt Nam cần học tập các nước đó để tận dụng được lợi thế gần Trung Quốc mà không bị phụ thuộc vào Trung Quốc. 
 
 
 
Vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.
 

Chúng ta phải có tư duy chính sách độc lập với Trung Quốc, lợi dụng các nước bạn ủng hộ ta, phát triển kinh tế bổ sung cho kinh tế Trung Quốc, làm cho kinh tế Trung Quốc cần ta chứ không lợi dụng và bắt nạt ta. 

 

Muốn thế phải có bộ máy trong sạch, không bị Trung Quốc mua chuộc hay bắt bí được.Bộ máy phải hiểu Trung Quốc để phát hiện ra mặt yếu của họ để làm khác đi.

Chúng ta phải học tiếng Hoa, nghiên cứu sâu sắc về Trung Quốc để không bị họ lừa, họ cho ta vào bẫy của họ.

 
– Đặt giả dụ Trung Quốc đột nhiên đóng hàng loạt cửa khẩu với Việt Nam như thông tin mà Bộ NN&PTNN đưa ra tuần trước, điều gì sẽ xảy ra với Việt Nam, thưa ông?
 
Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo, luôn sẵn sàng nuốt lời hứa, xé hiệp định cam kết họ vừa ký, cho nên, cần đề phòng tình huống xấu nhất là rất cần thiết. 
 

Ngay bây giờ Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất-nhập khẩu, nếu vẫn phải tạm thời tiếp tục nhập từ Trung Quốc thì phải tìm cách nhập những linh kiện cần thiết qua một nước thứ ba.Ngành dệt may, da giày phải có ngay phương án để khỏi bị động.

Cần xây dựng những chuỗi giá trị, bán hàng giao sau để có thị trường ổn định cho nông sản.

 

vtc.vn/dn-trung-quoc-san-sang-lai-qua-toi-thieu-30-bang-tien-tuoi.1.495426.htm#sthash.6M2G0x4d.dpuf

 

BỘ TRƯỞNG THĂNG MUỐN ‘TRẢM’ NHÀ THẦU TRUNG QUỐC YẾU KÉM NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC

Việc nhà thầu TQ rất yếu kém, tôi đã nhiều lần muốn thay họ nhưng không thể thay được, bởi đó là điều kiện trong Hiệp định ký kết… – Bộ trưởng Thăng nói.

Bộ trưởng Thăng không thể trảm các nhà thầu Trung Quốc đang thi công dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dù rất muốn. ảnh Văn Duẩn

 

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã phân trần như vậy trong buổi gặp gỡ báo chí ngày 9-6 tại Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) về những vấn đề liên quan đến dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông.

Tại cuộc gặp gỡ này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã lí giải vì sao Việt Nam phải mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông mà không phải là của các nước khác, đồng thời tại sao lại không thể “đuổi” nhà thầu Trung Quốc yếu kém về năng lực.

Theo Tư lệnh ngành giao thông, việc mua các đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhân dân cũng như các cơ quan truyền thông.

“Vì mua đoàn tàu của Trung Quốc mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn, đe dọa có, khuyên giải cũng có mà đề nghị cũng có. Thâm chí có người còn bảo: ông Thăng ơi, ông đừng mua các đoàn tàu của Trung Quốc. Tại sao lại mua, ông có vấn đề gì với với Trung Quốc không” – Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết.

“Dự án được thực hiện theo Hiệp định được ký giữa Chính phủ 2 nước Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2008”- Bộ trưởng Thăng nói.

Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn. Các nhà thầu thi công, giám sát, cung cấp thiết bị cũng là của Trung Quốc. Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết đây là các điều kiện trong Hiệp định đã được ký giữa hai Chính phủ, là việc rất khó khăn nên không thể muốn thay đổi là có thể thay đổi được.

  “Ngay cả các nhà thầu Trung Quốc thi công dự án này rất yếu kém, tôi đã rất nhiều lần muốn thay các nhà thầu nhưng cũng không thể thay được, bởi tất cả các điều kiện họ đều đưa vào trong Hiệp định”- Bộ trưởng Đinh La Thăng nói.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Thăng cũng chia sẻ: Thực ra cũng không chỉ riêng đối với Trung Quốc, các dự án ODA của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc: Nhà tài trợ vốn thì đồng thời họ được đưa các nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công, cung cấp vật liệu thiết bị chủ yếu cũng phải là nhà thầu của các nước tài trợ vốn. “Điều này là rất khó khăn”- ông Thăng bày tỏ.

Trước đó, Ban quản lý dự án Đường sắt trình Bộ Giao thông vận tải 6 phương án thiết kế đoàn tàu cho tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Hà Nội – tuyến Cát Linh – Hà Đông. Ban quản lý sẽ mua 13 đoàn tàu loại B1 của Trung Quốc với cấu hình mỗi đoàn tàu gồm 4 toa xe, thân tàu sử dụng vật liệu thép không gỉ. Nhà sản xuất đoàn tàu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh (Beijing Rolling Stock Equipment Co., Ltd). Tổng chi phí mua tàu cho tuyến Cát Linh – Hà Đông là hơn 63,2 triệu USD. Mỗi đoàn tàu có 4 toa xe, thân làm bằng thép không gỉ. Trong đó, chi phí sản xuất đoàn tàu (giá thành, bảo hiểm và cước tại cảng Hải Phòng) là 59,2 triệu USD. Chi phí bảo hiểm, vận chuyển tài sản về tới chân công trình tạm tính là 4 triệu USD.

Dự án Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt (Trung Quốc) làm tổng thầu EPC. Dự án gồm 12 nhà ga trên cao, tổng chiều dài 13 km khổ 1.435 mm, tốc độ đoàn tàu 80 km/giờ, sử dụng vốn ODA Trung Quốc và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Dự án trang bị 13 đoàn tàu, mỗi tàu có 4 toa xe, công suất khoảng 1.200 người, tần suất chạy 2 phút/chuyến. Toàn tuyến đường sắt đi trên cao và chủ yếu chạy trên dải phân cách giữa 2 làn đường bộ thuộc trục đường Hào Nam và Nguyễn Trãi; điểm khởi đầu là ga Cát Linh (quận Đống Đa), kết thúc tại ga Yên Nghĩa (quận Hà Đông), gồm 12 ga đón/tiễn khách và khu depo (trung tâm điều hành tuyến).

Dự án được chính thức phát lệnh khởi công từ ngày 10-10-2011 và dự kiến sẽ hoàn thành cuối năm 2014 để đưa vào khai thác sử dụng từ quý II/2015. Sau hàng loạt lý do dẫn đến sự chậm trễ, dự án được chuyển sang cuối năm 2015 mới xong và đưa vào chạy thử vào đầu năm 2016. Ngoài chậm tiến độ, sau 5 năm thi công, tổng mức đầu tư dự án này đã phải điều chỉnh từ 552 triệu USD lên 868 triệu USD, tăng 316 triệu USD so với ban đầu.

Dự kiến, Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác thương mại vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, do thực tế có rất nhiều khó khăn từ năng lực nhà thầu nên Bộ GTVT cũng đặt ra khả năng đến quý I-2016 dự án mới có thể kết thúc.

Văn Duẩn

Theo nld.com.vn

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Sở tư pháp đang chỉ đạo Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

LS Võ An Đôn

22-6-2015

Theo Fb LS Võ An Đôn

Ông Nguyễn Thái Học – Trưởng ban nội chính Tỉnh ủy Phú Yên, nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi với hình thức nặng và sau đó sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi. 

 

Ban nội chính Tỉnh ủy là cơ quan Đảng, thuộc một trong năm ban của Đảng (Ban tổ chức, Ban kiểm tra, Ban tuyên giáo, Ban dân vận, Ban nội chính), có chức năng tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác nội chính. Ban nội chính phụ trách lãnh đạo các cơ quan nội chính gồm: Quân sự, Biên phòng, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Tư pháp, Kiểm lâm. 

Theo quy định của pháp luật và điều lệ Đảng thì Ban nội chính Tỉnh ủy không có quyền can thiệp vào công việc của Đoàn luật sư, vì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập, kinh phí hoạt động do các thành viên luật sư tự đóng góp, hoạt g theo luật doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Thái Học thừa biết điều này, nhưng vì quá cay cú trước thất bại nặng nề trong việc chỉ đạo Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử nhẹ và cho các bị cáo trong vụ án “Năm công an đánh chết dân” được hưởng án treo, gây ra sự phẩn nộ của dư luận cả nước. Thất bại này không biết đổ cho ai, nên ông Nguyễn Thái Học đã quyết liệt chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi.
Vì sợ báo chí và dư luận biết, nên việc chỉ đạo này của ông Nguyễn Thái Học hết sức bí mật, chỉ có lãnh đạo các Cơ quan nội chính, lãnh đạo Sở tư pháp và Chủ nhiệm Đoàn luật sư biết, nên việc thu thập bằng chứng cụ thể cho từng lần chỉ đạo là hết sức khó khăn. Hơn nữa, Ông này rất ranh ma, nếu chỉ đạo việc gì đúng pháp luật thì ra văn bản đóng dấu, ký tên đàng hoàng; còn việc gì thấy không đúng pháp luật thì chỉ đạo bằng miệng, nếu cấp dưới không làm theo thì khó mà sống nổi, còn nếu nghe theo thì khi xảy ra sự việc gây hậu quả xấu thì người ghe đó chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Việc ông Nguyễn Thái Học nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi là chỉ đạo bằng miệng, không có bất kỳ một văn bản giấy tờ nào nhưng Sở tư pháp vẫn tuân lệnh làm theo, còn Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nhiều lần yêu cầu Ban nội chính ra văn bản chỉ đạo kỷ luật tôi để làm cơ sở giải quyết thì ông Nguyễn Thái Học không dám ra. Do đó, đến nay Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên vẫn chưa kỷ luật tôi vì biết việc làm này là sai trái, nếu xảy ra hậu quả không tốt thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm, chứ ông Nguyễn Thái Học đâu có chịu trách nhiệm gì đâu.

Rất may mắn là tối hôm qua, có một anh cán bộ đang làm việc tại Sở tư pháp tỉnh Phú Yên cung cấp cho tôi Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung ông Nguyễn Công Danh – Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Phú Yên nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện. 

Ngoài công văn nêu trên, tôi còn giữ một file nghi âm rất quý giá do một người quen đang làm việc ở Tỉnh ủy Phú Yên cung cấp, nội dung file ghi âm này ghi âm “Cuộc họp giao ban nội chính” thành phần dự họp gồm có ông Nguyễn Thái Học, lãnh đạo các cơ quan nội chính, chỉ đạo kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi (File ghi âm này tôi sẽ công bố cho công luận biết vào “Phút cuối”).
“Ông trời con” này là một trong hai người quyền lực nhất tỉnh Phú Yên hiện nay, có quyền chỉ đạo Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quân sự, Biên phòng, Kiểm lâm, Thanh tra, Tư pháp làm theo lệnh của mình nên nghe danh Ông này ai cũng phải khiếp sợ. Không biết là qua sự kiện này, tôi có còn sống để tiếp tục bào chữa miễn phí cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội hay không.
Từ giây phút này, tính mạng của tôi còn hay mất là do cộng đồng mạng và dư luận xã hội quyết định, chứ tôi không còn biết trông chờ vào ai. Mong cộng đồng mạng hãy bảo vệ tôi và bảo vệ công lý của xã hội.
LS Võ An Đôn

Dưới đây là Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung: Sở tư pháp nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

► Vuột mất đơn hàng 2 tỉ USD rất vô lý!

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

 

Lê Thanh Phong,

22-6-2015

 

Doanh nghiệp Việt mất hợp đồng 2 tỉ USD 7may quân trang cho quân đội Mỹ. Hay tin này ai cũng thấy tiếc đứt ruột, 2 tỉ USD quá lớn, nhưng lại để vuột mất. Nhiều người cứ tưởng như DN may Việt Nam yếu kém, không đáp ứng yêu cầu chất lượng của đối tác nên hỏng ăn. Ai ngờ, chuyện hỏng ăn lại không vì doanh nghiệp bất tài, mà vì bất lực trước cơ chế.

Hiểu ra chuyện càng thấy đứt ruột, mà còn tức anh ách nữa, bởi vì một số DN dệt may trong nước được chào hàng gồm quần áo, cờ, giày dép, quân trang cho quân đội Mỹ, đã thỏa thuận xong nhưng hàng mẫu về lại bị ách ở hải quan vì là hàng cấm nhập theo quy định của Bộ Quốc phòng. DN xoay chạy cho xong thủ tục thì đã muộn, đối tác không thể ngồi chờ cơ chế của VN.

Quy định của Bộ Quốc phòng là căn cứ vào Quyết định số 80/2006/QĐ-BQP ngày 9.5.2006, cấm nhập khẩu mặt hàng quân trang, quân dụng. Hàng mẫu của đối tác gửi vào cho các DN sản xuất bị xem là hàng quân trang nhập khẩu, thế là bị ách.

Không hiểu tại sao các cơ quan chức năng lại áp dụng quy định máy móc đến mức vô lý như vậy. Ở đây không phải là nhập khẩu quân trang, quân dụng, mà nhận hàng mẫu để sản xuất theo đơn hàng. Các DN dệt may có quyền tìm kiếm đối tác nước ngoài, đấu thầu gia công hàng hóa. Quân trang, quân dụng của quân đội các nước đặt may cũng giống như các loại sản phẩm may mặc khác, cần linh động để DN làm ăn. Chỉ vì áp dụng quy định máy móc, đã khiến cho một số DN mất cơ hội vàng.

2 tỉ USD hợp đồng sẽ tạo ra nhiều việc làm cho NLĐ ngành dệt may, kéo theo các ngành nghề kinh doanh khác như vận tải, sản xuất nguyên phụ liệu. Với đơn hàng “khủng” này, DN có lãi, đóng thuế cho Nhà nước. Nhìn xa hơn, khi DN dệt may VN thực hiện tốt các hợp đồng cho quân đội Mỹ, họ sẽ có uy tín thương hiệu để tiếp tục nhận các hợp đồng may quân trang tiếp theo, không chỉ riêng của Mỹ mà còn nhiều nước khác như Australia, Romania, Italia…

Các hợp đồng may quân trang cho lực lượng vũ trang thường rất lớn, các DN dệt may xem đó là thị trường béo bở cần nỗ lực cạnh tranh. Thế nhưng, họ đã thất bại hoặc mất ưu thế chỉ vì hàng rào do chính nước mình đặt ra.

Chúng ta nói quá nhiều đến việc tạo điều kiện thuận lợi, tháo bỏ các rào cản cho DN phát triển, xây dựng các chính sách thông minh cho DN hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhưng trên thực tế còn tồn tại quá nhiều những điều ngược lại.

Chuyện các hợp đồng may quân trang cho quân đội Mỹ bị vuột mất chỉ là một ví dụ.

laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/vuot-mat-don-hang-2-ti-usd-rat-vo-ly-344241.bld

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »